intTypePromotion=1

Hóa học phức chất - Chương 6

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:15

0
415
lượt xem
146
download

Hóa học phức chất - Chương 6

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tổng hợp các phức chất là một phần quan trọng của hóa học nói chung và của hóa học các hợp chất phối trí nói riêng. Như đã biết, việc điều chế những phức chất đầu tiên và nghiên cứu về chúng đã dẫn đến sự phát triển những khái niệm và lý thuyết quan trọng trong hóa học của các phức chất. Khi sử dụng một phản ứng nào đó để tổng hợp phức chất thì điều kiện cần là phản ứng đó phải có khả năng tiến hành về mặt nhiệt động học. Khi đó biến thiên thế đẳng áp - đẳng nhiệt (năng...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hóa học phức chất - Chương 6

  1. Chương 6. Tổng hợp phức chất Lê Chí Kiên Hỗn hợp phức chất NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2006. Tr 167 – 181. Từ khoá: Phức chất, đồng phân cis-trans, plasma, Tổng hợp phức chất, trạng thái hơi. Tài liệu trong Thư viện điện tử ĐH Khoa học Tự nhiên có thể được sử dụng cho mục đích học tập và nghiên cứu cá nhân. Nghiêm cấm mọi hình thức sao chép, in ấn phục vụ các mục đích khác nếu không được sự chấp thuận của nhà xuất bản và tác giả. Mục lục Chương 6 TỔNG HỢP CÁC PHỨC CHẤT ......................................................................3 6.1 Những nguyên lý cơ bản của phép tổng hợp...........................................................3 6.2 Tổng hợp các phức chất dựa vào phản ứng thế .......................................................5 6.2.1 Phản ứng thế trong dung dịch nước....................................................................5 6.2.2 Phản ứng thế trong dung môi không nước..........................................................6 6.2.3 Sự phân ly nhiệt các phức chất rắn.....................................................................7 6.2.4 Tổng hợp các đồng phân cis-trans......................................................................7 6.3 Tổng hợp các phức chất dựa vào phản ứng oxi hoá - khử .......................................9 6.4 Phản ứng của các phối tử phối trí .........................................................................10 6.5 Tổng hợp các cacbonyl kim loạ i và hợp chất cơ kim ............................................12 6.5.1 Tổng hợp các cacbonyl kim loạ i ......................................................................13 6.5.2 Tổng hợp các phức chất của olefin với kim loại ...............................................14 6.5.3 Tổng hợp các phức chất Sandwich (hợp chất “bánh kẹp”) ................................15 6.6 Tổng hợp ở nhiệt độ cao ......................................................................................16 6.6.1 Tổng hợp ở trạng thái plasma...........................................................................16 6.6.2 Tổng hợp phức chất ở trạng thái hơi của kim loại.............................................16
  2. 3 Chương 6 TỔNG HỢP CÁC PHỨC CHẤT 6.1 Những nguyên lý cơ bản của phép tổng hợp Tổng hợp các phức chất là một phần quan trọng của hóa học nói chung và của hóa học các hợp chất phối trí nói riêng. Như đã biết, việc điều chế những phức chất đầu tiên và nghiên cứu về chúng đã dẫn đến sự phát triển những khái niệm và lý thuyết quan trọng trong hóa học của các phức chất. Khi sử dụng một phản ứng nào đó để tổng hợp phức chất thì điều kiện cần là phản ứng đó phải có khả năng tiến hành về mặt nhiệt động học. Khi đó biến thiên thế đẳng áp - đẳng nhiệt (năng lượng tự do Gibbs) DG phải âm, nghĩa là hằng số cân bằng phải lớn hơn đơn vị: DG = –RTlnK + RTSnilnai (6.1) ở đây K là hằng số cân bằng, ni là hệ số hợp thức, ai là hoạt độ của chất thứ i trong hệ. Khi tất cả các chất đều ở trạng thái chuẩn (ai = 1) thì DG = DGo = –RTlnK. Từ phương trình (6.1) thấy rằng có thể chọn điều kiện tổng hợp bằng cách thay đổ i nồng độ của các chất, cũng như thay đổ i điều kiện áp suất và nhiệt độ là những điều kiện quyết định hằng số cân bằng. Theo nguyên lý chuyển dịch cân bằng Lơ Satơliê (Le Chatelier) sự tăng nhiệt độ làm tăng hiệu suất sản phẩm của các phản ứng thu nhiệt, sự tăng áp suất làm tăng hiệu suất sản phẩm của những phản ứng khi tiến hành có sự giảm thể tích. Để làm giảm nồng độ của các sản phẩm người ta thường chuyển chúng vào pha dị thể (chất ít tan, chất dễ bay hơi hoặc chất ít điện ly). Ví dụ, để tiến hành phản ứng: H4C2 H4C2 NH3 NH3 - Pt Cl H2O Pt (1) + + Br Br Cl OH2 cần thêm ion Ag+ vào hệ để làm kết tủa ion Cl-: AgCl↓ Ag+ + Cl– (2) Khi đó có thể biết được chiều hướng của quá trình tổng hợp dựa vào phản ứng tổng cộng: H 4C 2 H4C2 NH3 NH3 + Pt H 2O Pt AgCl Ag + + + (3) Br Br Cl OH2 và hằng số cân bằng của nó. Vì cân bằng (3) là tổng của các cân bằng (1) và (2), nên K3 = K1.K2 và để thực hiện quá trình tổng hợp cần các điều kiện K3 >> 1 và K1>> 1/K2, nghĩa là tích số tan của AgCl phải nhỏ hơn đáng kể so với K1.
  3. 4 Nếu liên kết đồng thời cả chất đầu, cả sản phẩm phản ứng (ví dụ vào phức chất), thì sản phẩm phản ứng phải liên kết vào phức chất bền hơn. Ví dụ, dung dịch axetat Co2+ nằ m cân bằng với oxi không khí: Co2+ + O2 + 4H+ Co3+ + 2H2O (4) Cân bằng (4) có K4 < 1, dịch chuyển về trái, nghĩa là sự oxi hóa Co2+ bằng oxi không khí thực tế không xảy ra. Khi thêm ion nitrit vào hệ thì sẽ thiết lập cân bằng: Co3+ + 6NO2– [Co(NO2)6]3– (5) Co2+ + nNO2– [Co(NO2)n]2–n (6) Các hằng số cân bằng K5 và K6 đều lớn hơn 1 nên các cân bằng (5) và (6) đều dịch chuyển sang phải. Phản ứng tổng cộng: [Co(NO2)n]2–n + (6–n)NO2– + O2 + 4H+ [Co(NO2)6]3– + 2H2O (7) với hằng số cân bằng K7 được sử dụng để tổng hợp natri hexanitrocobantiat. Phản ứng (7) tiến hành với hiệu suất cao, nghĩa là Co2+ được làm bền ở dạng phức chất nitrit. Vì K7 = (K5/K6)K4 >> 1 nên K5 >> K6/K4, nghĩa là K5 >> 1/K4 và K5 >> K6. Điều kiện K5 > K6 nghĩa là phức chất nitrit của Co3+ phải bền hơn phức chất nitrit của Co2+. Khi tổng hợp, để làm bền hóa một tiểu phân kém bền cần phải chuyển nó vào phản ứng có hằng số cân bằng lớn, ở đó tiểu phân được làm bền hoá thường ở dạng kết tủa hoặc ở dạng phức chất ít tan. Điều kiện nhiệt động học (tức DG < 0) là quan trọng đối với các phức chất linh động cũng như các phức chất trơ. Nhưng khi làm việc với các phức chất trơ cần tính đến cả các yếu tố động học, đặc biệt là khi có mặt một cơ chế thích hợp của phản ứng. Trong tất cả các phương pháp tổng hợp các phức chất ta đều cần phải tinh chế sản phẩm, thu sản phẩm đồng nhất và phân tích nó. Việc chọn phương pháp tổng hợp phụ thuộc vào hệ nghiên cứu và không phải tất cả các phương pháp đều có thể được sử dụng để tổng hợp các phức chất. Cần phải tìm được phản ứng cho hiệu suất tổng hợp cao. Tiếp theo là tìm phương pháp thích hợp để tách được sản phẩm ra khỏi hỗn hợp phản ứng. Thông thường người ta sử dụng phương pháp kết tinh: – Làm bay hơi dung môi và làm lạnh hỗn hợp phản ứng đậm đặc bằng nước đá và muố i. Có thể phải thêm một vài tinh thể nhỏ của hợp chất để tạo mầm hoặc khuấy nhẹ để gây ra sự kết tinh. – Thêm từ từ dung môi trộn lẫn với dung môi của hỗn hợp phản ứng, nhưng không hòa tan hợp chất, để làm kết tủa sản phẩm từ hỗn hợp dung môi (cũng có thể sử dụng thêm các biện pháp như cách ở trên). – Nếu phức chất điều chế là anion (hoặc cation) thì có thể tách nó bằng cách thêm cation (hoặc anion) thích hợp để tạo thành hợp chất ít tan. Đối với các phức chất có chứa liên kết kim loại-cacbon, ví dụ các phức chất cơ kim, cacbonyl kim loại v.v… thì để tách chúng ngoài các phương pháp trên còn có thể tinh chế chúng bằng cách thăng hoa, chưng cất hoặc sắc ký.
  4. 5 6.2 Tổng hợp các phức chất dựa vào phản ứng thế Phản ứng thế được sử dụng để tổng hợp các phức chất linh động cũng như các phức chất trơ. Ở đây sự tổng hợp thường cho ra những sản phẩm mà cấu trúc của chúng có liên hệ chặt chẽ với cấu trúc của các chất đầu. Các phương pháp được sử dụng khi tổng hợp một phức chất từ một phức chất khác bằng cách thế phối tử trong dung dịch rất giống với các phương pháp tương tự trong hóa học hữu cơ. 6.2.1 Phản ứng thế trong dung dịch nước Đây là phương pháp thông thường nhất để tổng hợp các phức chất kim loại. Phương pháp dựa trên phản ứng của muố i kim loại trong dung dịch nước với tác nhân phố i trí. Ví dụ, phức chất [Cu(NH3)4]SO4 dễ dàng được điều chế bằng cách cho lượng dư amoniac tác dụng vớ i dung dịch nước của CuSO4: [Cu(H2O)4]2+ + 2NH3 → [Cu(NH3)4]2+ + 4H2O Các phân tử nước phố i trí bị thế nhanh bởi các phân tử NH3 ở nhiệt độ thường, có thể nhận thấy ngay bằng sự biến đổ i màu từ xanh lam sang xanh thẫm. Sau đó phức chất amoniacat Cu2+ được kết tinh từ hỗn hợp phản ứng bằng cách thêm ancol etylic vào. Phản ứng thế các phức chất kim loại có thể tiến hành khá chậm, đố i với những hệ như thế đòi hỏi những điều kiện thực nghiệm ngặt nghèo hơn. Ví dụ, để điều chế K3[Rh(C2O4)3] cần đun sôi dung dịch nước đậm đặc chứa K3[RhCl6] và K2C2O4 khoảng 2h, sau đó cô bay hơi cho đến khi phức chất được kết tinh ra từ dung dịch: 100o C K3[RhCl6] + 3K2C2O4 ⎯⎯⎯⎯ K3[Rh(C2O4)3] + 6KCl → Phản ứng có thể xảy ra khi cần thế nhiều hơn một loại phố i tử. Chẳng hạn, có thể điều chế [Co(En)3]Cl3 theo phản ứng: [Co(NH3)5Cl]Cl2 + 3En ⎯⎯ [Co(En)3]Cl3 + 5NH3 → Trên đây là những ví dụ về điều chế phức chất chỉ chứa một loại phố i tử trong cầu nội. Những phức chất như thế rất dễ điều chế, vì chỉ cần lấy dư phố i tử tạo phức để làm chuyển dịch cân bằng về phía tạo ra phức chất sản phẩm. Về lý thuyết có thể điều chế được cả các phức chất trung gian hỗn hợp phối tử, vì như đã biết phản ứng có thể diễn ra theo nấc. Nhưng trên thực tế thường khó tách trực tiếp hợp chất trung gian từ hỗn hợp phản ứng. Có thể tổng hợp được hợp chất trung gian bằng cách làm thay đổi nồng độ phối tử. Ví dụ, phức chất trung gian hỗn hợp phố i tử [Ni(Phen)2(H2O)2]Br2 có thể được tách ra từ hỗn hợp phản ứng chứa 2 mol 1,10-phenantrolin (Phen) và 1 mol NiBr2: [Ni(H2O)6]Br2 + 2Phen ⎯⎯ [Ni(Phen)2(H2O)2]Br2 + 4H2O → Ví dụ điển hình về phản ứng thế trong cầu nộ i của phức chất trơ là phản ứng hiđrat hóa: thế phố i tử bằng các phân tử nước. Phản ứng này xảy ra ngay khi hòa tan nhiều phức chất trong nước; các ion H+ và OH– xúc tiến cho phản ứng loại này. Chẳng hạn, khi tổng hợp [Co(NH3)5H2O]2(C2O4)3.4H2O người ta cho 10 g [Co(NH3)5Cl]Cl2 đã nghiền nhỏ vào bình nón và hoà tan trong 75 ml nước, vừa khuấy vừa thêm 50 ml dung dịch nước 10% của amoniac. Trong dung dịch kiềm yếu cloropentammin chuyển thành aquơpentammin: [Co(NH3)5Cl]2+ + H2O ⎯⎯ [Co(NH3)5H2O]3+ + Cl– →
  5. 6 Lọc dung dịch để tách bỏ các oxit coban, rồi trung hoà bằng axit oxalic, khi đó sẽ kết tủa [Co(NH3)5H2O]2(C2O4)3.4H2O. Như vậy, phản ứng tiến hành ở nhiệt độ thường, dùng oxalat là đối ion làm kết tủa. 6.2.2 Phản ứng thế trong dung môi không nước Các phản ứng điều chế phức chất kim loại trong dung môi không nước hoặc trong hỗn hợp nước-dung môi hữu cơ hiện nay được tiến hành rộng rãi. Có hai nguyên nhân chính để cần phải sử dụng dung môi không nước: 1) ion kim loại có ái lực lớn với nước; 2) phố i tử không tan trong nước. Các ion Fe3+, Al3+, Cr3+ có ái lực lớn với nước và tạo thành các liên kết mạnh kim loại-oxi. Thêm các phố i tử có tính bazơ vào dung dịch nước của các kim loại đó thường dẫn đến sự tạo thành kết tủa keo hiđroxit, chứ không phải là phức chất chứa phố i tử đã đưa vào. Liên kết kim lo ại-oxi không đổ i, còn liên kết oxi-hiđro bị đứt, ion kim loại bị hiđrat hoá thể hiện như là một axit Liuyt. Phản ứng trong dung dịch nước giữa muố i Cr(III) và En như sau: [Cr(H2O)6]3+ + 3En ⎯⎯⎯ [Cr(H2O)6(OH)3]↓ + 3EnH+ HO → 2 Nếu dùng muố i khan của crom (III) và dung môi không nước thì phản ứng sẽ diễn ra dễ dàng, tạo thành [Cr(En)3]3+: ete CrCl3 + 3En ⎯⎯⎯ [Cr(En)3]Cl3 → Mặc dù đã biết được một số lớn phức chất amin Cr(III), nhưng hầu như chưa bao giờ điều chế được chúng bằng phản ứng trực tiếp trong dung dịch nước. Để làm dung môi người ta thường dùng đimetylfomamit (DMF)-(CH3)2NCHO. Sử dụng dung môi này có thể điều chế được cis-[Cr(En)2Cl2]Cl trực tiếp theo phản ứng: DMF [Cr(DMF)3Cl3] + 2En ⎯⎯⎯→ cis-[Cr(En)2Cl2]Cl Nếu phân tử nước là chất cạnh tranh quá mạnh với phối tử thì phố i tử khó đẩy được nước ra khỏ i ion phức aquơ. Còn việc tiến hành phản ứng trong dung môi mà các phân tử của nó có ái lực nhỏ với ion kim loại sẽ cho phép điều chế được các phức chất với phố i tử đưa vào. Chẳng hạn, khi rót dung dịch rượu của NiBr2, CuBr2 hoặc Co(ClO4)2 vào dung dịch rượu của N-oxit pyridin (PyO) thì sẽ tách ra ngay kết tủa [Ni(PyO)6]Br2, [Cu(PyO)2Br2] và [Co(PyO)6](ClO4)2. Từ dung dịch nước không thể điều chế được các phức chất của Ni2+, Cu2+ và Co2+ với PyO. Khi cho (Me4N)NO3 tác dụng với Co(NO3)2.2H2O theo tỷ lệ mol 2:1 trong nitrometan thì điều chế được hợp chất (Me4N)2[Co(NO3)4] màu tím. Từ dung dịch nước các phức chất nitrat của Co2+ với số phối trí 4 không thể điều chế được. Trong một số trường hợp khác cần phải dùng dung môi không nước vì phố i tử không tan trong nước. Khi đó người ta thường hoà tan phố i tử trong một dung môi trộn lẫn được vớ i nước, rồi sau đó thêm dung dịch này vào dung dịch nước đậm đặc của ion kim loại. Các phức chất của ion kim loại với đipyridin (Dipy) và phenantrolin thường được điều chế bằng cách này. Chẳng hạn, khi thêm dung dịch rượu của Dipy vào dung dịch nước của FeCl2 thì tạo thành phức chất [Fe(Dipy)3]Cl2: H O−C H OH [Fe(H2O)6]Cl2 + 3Dipy ⎯⎯⎯⎯⎯⎯ [Fe(Dipy)3]Cl2 + 6H2O → 2 25 Trên thực tế có những trường hợp điều chế phức chất kim loại không cần thêm dung môi. Đó là những phản ứng trực tiếp giữa muố i khan và phố i tử lỏng. Trong trường hợp đó phối tử lỏ ng được lấy rất dư và phố i tử được coi như là dung môi. Ví dụ, để tổng hợp các amoniacat
  6. 7 của một số kim lo ại, ngoài việc cho dung dịch amoniac phản ứng với muố i kim loại, còn có thể cho muố i của kim loại vào amoniac lỏng, sau đó làm bay hơi amoniac lỏng ở nhiệt độ thường và sấy khô (ts, NH3 lỏng = –33oC). Bã rắn khô thu được chủ yếu là amoniacat kim loại: NiCl2 + 6NH3(l) ⎯⎯ [Ni(NH3)6]Cl2 → Đối với phức chất [Cr(NH3)6]Cl3 nhất thiết phải dùng amoniac lỏ ng để tránh sự thủy phân, tạo thành Cr(OH)3. Để điều chế phức chất [Pt(En)2]Cl2 hoặc [Pt(En)3]Cl4 người ta sử dụng phản ứng trực tiếp giữa etilenđiamin (En) và các muối tương ứng PtCl2, PtCl4. Quá trình tổng hợp được thực hiện bằng cách thêm chậm những muố i trên vào etilenđiamin lỏ ng. Phản ứng phát nhiệt mạnh tương tự sự thoát nhiệt xảy ra khi thêm axit mạnh vào bazơ mạnh. Theo quan điểm của Liuyt về axit và bazơ thì có thể coi sự tạo thành các phức chất trên là phản ứng axit-bazơ: các ion platin là axit, còn etilenđiamin là bazơ. 6.2.3 Sự phân ly nhiệt các phức chất rắn Sự phân ly nhiệt một phức chất ở trạng thái rắn dẫn đến phản ứng thế ở phức chất đó. Khi đun nóng, các phối tử phối trí dễ bay hơi bị tách ra và các ion từ bên ngoài sẽ thế vị trí của chúng trong cầu nội. Ở nhiệt độ cao các phân tử nước phố i trí thường bị tách khỏ i các phức chất aquơ ammin của kim loại. Tính chất này đôi khi được sử dụng để điều chế các phức chất halogenoammin. Ví dụ: 100o C [Rh(NH3)5H2O]I3 ⎯⎯⎯⎯ [Rh(NH3)5I]I2 + H2O ↑ → Tương tự, các phân tử amoniac đôi khi cũng bị tách khỏ i các phức chất ammin kim loại. Phương pháp này được sử dụng để điều chế các axiđoammin kim loại và là phương pháp chung để tổng hợp các phức chất kiểu trans-[PtA2X2]. Ví dụ: 250o C [Pt(NH3)4]Cl2 ⎯⎯⎯⎯ trans-[Pt(NH3)2Cl2] + 2NH3↑ → Đối với trans-[Cr(En)2(NCS)2]NCS phương pháp tổng hợp tốt nhất là đuổi etilenđiamin ra khỏi hợp chất rắn [Cr(En)3](NCS)3: o [Cr(En)3](NCS)3 ⎯⎯⎯⎯⎯ trans-[Cr(En)2(NCS)2]NCS + En↑ 130 C → NH SCN 4 Phản ứng này xảy ra dễ hơn, nếu chất đầu chứa một lượng nhỏ NH4SCN. Phản ứng phân ly nhiệt kiểu này không phải luôn luôn tạo thành đồng phân trans. Chẳng hạn, nếu đun nóng [Cr(En)3]Cl3 đến 210oC thì tạo thành cis-[Cr(En)2Cl2]Cl. 6.2.4 Tổng hợp các đồng phân cis-trans Có hai cách để tổng hợp các đồng phân cis-trans: thứ nhất là điều chế một hỗn hợp các đồng phân rồi sau đó tách riêng chúng ra và thứ hai là tổng hợp có định hướng một hợp chất. Khi điều chế các phức chất của Co(III) thường tạo thành một hỗn hợp các đồng phân cis- trans. Cách thứ hai được sử dụng có kết quả để tổng hợp các đồng phân của Pt(II) và Pt(IV) nhờ hiệu ứng ảnh hưởng trans (mục 4.3.3, chương IV).
  7. 8 Các đồng phân trans của phức chất Pt(IV) dễ điều chế, còn đồng phân cis khó điều chế hơn nhiều. Sự oxi hoá các phức chất vuông phẳng Pt(II) thường tạo ra các phức chất bát diện tương ứng của Pt(IV). Kết quả của quá trình là sự kết hợp chất oxi hóa vào phức chất đầu. Ví dụ, để điều chế trans-[Pt(NH3)4Cl2]2+ người ta dùng clo oxi hóa [Pt(NH3)4]2+: Cl 2+ 2+ H3N NH3 H3N NH3 H2O PtII PtIV Cl2 + HCl H3N NH3 H3N NH3 Cl Nếu dùng chất oxi hóa là Br2 hoặc H2O2 thì thu được các phức chất trans-đibromo hoặc trans-đihiđroxo tương ứng. Tổng hợp phức chất cis-[Pt(NH3)4Cl2]Cl2 phải nhiều thời gian hơn theo sơ đồ sau: Cl Cl + + 2+ H3N H3N Cl H3N Cl Cl NH3 Cl2 II PtIV IV Pt Pt HCl H 3N NH3 H 3N NH3 H 3N NH3 Cl NH3 I II III Vì ảnh hưởng trans của ion Cl– lớn hơn ảnh hưởng trans của NH3 nên NH3 dễ thế một trong hai ion Cl– nằm ở vị trí trans đố i với nhau ở (II) và thu được đồng phân cis- [Pt(NH3)4Cl2]2+ (III). Chính nhờ đồng phân (II) điều chế bằng cách dùng clo oxi hóa [Pt(NH3)3Cl]+ mà I. I. Tseniaep lần đầu tiên tổng hợp được cis-[Pt(NH3)4Cl2]2+. Để tổng hợp các đồng phân bằng phản ứng thế, người ta thường sử dụng chất đầu là các phức chất chứa phố i tử cacbonat, vì ion CO32– thường bị đẩy ra dưới dạng CO2 khi bị thế có mặt axit. Ví dụ, để điều chế [Co(En)3]Cl3 đầu tiên người ta tổng hợp natri tricacbonatocobantat (III) Na3[Co(CO3)3].3H2O bằng cách thêm từng giọt dung dịch chứa Co(NO3)2 và lượng dư H2O2 vào huyền phù NaHCO3 trong một lượng nhỏ nước. Các tinh thể màu vàng xanh thoát ra được rửa bằng nước, rượu và ete. Thêm lượng dư dung dịch đihiđroclorua etilenđiamin (En.2HCl) vào huyền phù Na3[Co(CO3)3].3H2O, đun cách thủ y hỗn hợp phản ứng sẽ thu được dung dịch rồi dùng rượu để làm kết tủa [Co(En)3]Cl3. Nếu một phối tử hai càng bị thế thì trong cầu phối trí các vị trí cis sẽ được giải phóng và sự kết hợp tiếp theo các phối tử một càng sẽ tạo ra đồng phân cis. Trong nhiều trường hợp, người ta thế phối tử hai càng là ion cacbonat trong cầu nộ i phức. Chẳng hạn, cis- điaquơtetraammincobantat (III) sunfat [Co(NH3)4(H2O)2]2(SO4)3.3H2O được điều chế bằng phản ứng hiđrat hóa [Co(NH3)4CO3]2(SO4)3.3H2O trong H2SO4 loãng. Trên đây là những ví dụ về phản ứng điều chế một phức chất có cấu trúc xác định. Trong trường hợp điều chế ra được một hỗn hợp các đồng phân, thì từ hỗn hợp đó phải tách riêng chúng bằng cách kết tinh phân đoạn, sắc ký trao đổi ion hoặc các phương pháp khác. Một ví dụ về sử dụng sự khác nhau về độ tan của các đồng phân để tách riêng chúng ra khỏi hỗn hợp là như sau. Nếu thêm chậm KOH vào dung dịch nước màu đỏ nho của RhCl3.3H2O và En.2HCl ở 100oC thì thu được dung dịch trong suốt màu vàng. Sau đó làm lạnh và thêm HNO3 vào hỗn hợp phản ứng thì sẽ thoát ra những tinh thể màu vàng óng ánh trans-
  8. 9 [Rh(En)2Cl2]NO3. Dung dịch còn lại chứa đồng phân cis, sau khi cô bay hơi sẽ kết tủa ra đồng phân dễ tan màu vàng nâu cis-[Rh(En)2Cl2]NO3. 6.3 Tổng hợp các phức chất dựa vào phản ứng oxi hoá - khử Quá trình điều chế nhiều phức chất kim loại thường kèm theo phản ứng oxi hóa-khử, nghĩa là chuyển sang trạng thái oxi hóa trong đó phức chất có tính bền cao hơn. Ví dụ trong dung dịch nước các ion Co2+ và Cr2+ thường tạo thành các phức chất linh động (phản ứng thế diễn ra nhanh), còn các ion Co3+ và Cr3+ thường tạo thành các phức chất trơ (phản ứng của chúng diễn ra rất chậm). Do đó, các phức chất của Co3+ và Cr3+ thường được điều chế bằng cách oxi hóa các phức chất tương ứng của Co2+ và Cr2+, cách này dễ hơn là cách tiến hành phản ứng thế xuất phát từ các phức chất khác của Co3+ và Cr3+. Chẳng hạn, phức chất [Co(NH3)6]Cl3 được điều chế bằng cách dùng O2 không khí (hoặc một chất oxi hóa khác) oxi hoá hỗn hợp muố i CoCl2 và NH3 khi có mặt muối amoni clorua: 4[Co(H2O)6]Cl2 + 4NH4Cl + 20NH3 + O2 → 4[Co(NH3)6]Cl3 + 26H2O Có thể cho rằng đầu tiên xảy ra phản ứng tạo thành [Co(NH3)6]2+: [Co(H2O)6]Cl2 + 6NH3 → [Co(NH3)6]Cl2 + 6H2O rồi tiếp đó phức chất này bị oxi hóa: 4[Co(NH3)6]Cl2 + 4NH4Cl + O2 → 4[Co(NH3)6]Cl3 + 4NH3 + 2H2O Còn phức chất [Cr(NH3)6]Cl3 được điều chế bằng cách cho dung dịch muố i CrCl2 tác dụng với dung dịch hỗn hợp đậm đặc NH3 + NH4Cl trong môi trường khí trơ ở nhiệt độ 0oC, cho đến khi ngừng thoát khí H2. Thêm C2H5OH 95% vào dung dịch sản phẩm màu đỏ (tỷ lệ thể tích 1:1). Sau vài giờ sẽ tách ra các tinh thể sản phẩm màu đỏ da cam. Cũng có thể cho rằng đầu tiên phản ứng tạo thành [Cr(NH3)6]2+ rồi phức chất này bị oxi hóa theo phản ứng: 2[Cr(NH3)6]2+ + 2H2O → 2[Cr(NH3)6]3+ + H2↑ + 2OH– Phương pháp tổng hợp trên đây chỉ được áp dụng khi phức chất đầu dễ điều chế. Trong nhiều trường hợp cần điều chế những phức chất với các số oxi hóa không đặc trưng của ion trung tâm, chẳng hạn điều chế các phức chất của Cro, Co+, Re+, Rho, Mn– v.v... Khi đó người ta khử các phức chất bằng các chất khử khác nhau, như hỗn hống kim loại, hiđrua, bo hiđrua, v.v... và tiến hành phản ứng trong môi trường trơ, không có hơi nước và oxi không khí. Một số phối tử như xianua, photphin, CO, ... thường có khả năng làm bền các mức oxi hóa thấp của kim loại chuyển tiếp. Với mục đích này người ta thường thực hiện phản ứng khử trong amoniac lỏng. Ví dụ: +2 NH láng K2[ Ni (CN)4] + 2K ⎯⎯⎯⎯⎯ K4[Ni(CN)4] → 3 Phức chất tạo thành dễ bị oxi hóa trong không khí và tương tác với nước cho thoát ra hiđro. Trong một số trường hợp còn có thể khử ion trung tâm kim loại trong phức chất đến số oxi hóa âm. Ví dụ: −2 o [Fe(CO)5 ] + 4KOH → K 2 [Fe(CO) 4 ] + K 2 CO 3 + H 2 O
  9. 10 Một ví dụ khác về điều chế phức chất trong đó kim loại có số oxi hóa âm là −1 Na[Mn(CO)5 ] . Phức chất này được điều chế bằng cách dùng hỗn hống natri khử dung dịch Mn2(CO)10 trong tetrahiđrofuran, sau đó tách sản phẩm bằng cách cho dung dịch bay hơ i trong chân không. Ở mục 6.2.4 đã nêu ra sự tổng hợp các phức chất bát diện của Pt(IV) với số phối trí 6 bằng cách kết hợp chất oxi hóa vào vị trí trans ở các phức chất vuông phẳng của Pt(II) với số phố i trí 4. Ở đây ta thấy các phức chất bát diện của Pt(IV) luôn tương ứng nghiêm ngặt vớ i các phức chất vuông phẳng của Pt(II) và điều này được áp dụng để xác định cấu trúc của các phức chất Pt(II) và Pt(IV). Ở các cation trung tâm khác quy tắc kết hợp trans này thường không được tuân theo. 6.4 Phản ứng của các phối tử phối trí Trong tổng hợp phức chất ta gặp trường hợp chỉ có phối tử tham gia phản ứng, khi đó nó không bị tách khỏ i ion trung tâm, nghĩa là không xảy ra sự đứt liên kết kim loại-phố i tử. Phản ứng kiểu này được gọi chung là phản ứng kết hợp. Tham gia loại phản ứng này có thể là các phố i tử vô cơ, cũng như các phố i tử hữu cơ. Ví dụ, khi điều chế [Co(NH3)5OH2]3+ từ [Co(NH3)5CO3]+ thì CO2 thoát ra là do có sự đứt liên kết cacbon-oxi, chứ liên kết kim loại-oxi vẫn được giữ nguyên. [(NH3)5Co–O–CO2]+ + 2H+ → [(NH3)5Co–OH2]+ + CO2 Điều này được xác nhận bằng cách tiến hành phản ứng trong nước đánh dấu bằng đồng vị 18 O. Cả hai sản phẩm của phản ứng trên đều chứa oxi với thành phần đồng vị bình thường (chứ không chứa đồng vị 18O), chứng tỏ dung môi nước không tham gia vào phản ứng và do đó chất phản ứng là chất cung cấp oxi. Một bằng chứng đơn giản nhưng không có tính chất quyết định về việc giữ nguyên liên kết Co–O là phản ứng diễn ra rất nhanh và hoàn toàn sau khi axit hóa phức chất cacbonat. Chúng ta biết rằng đối với đa số hợp chất coban phản ứng đứt liên kết Co–O diễn ra rất chậm, cho nên việc tiến hành nhanh phản ứng ở đây bắt ta phải đưa ra một cơ chế khác. Phản ứng kiểu trên đây là khá phổ biến: chúng được sử dụng để điều chế phức chất aquơ từ các phức chất cacbonat tương ứng. Phản ứng tương tự cũng xảy ra đối với các phức chất như [(NH3)5Co–OSO2]+, [(NH3)5Co–ONO]2+ khi tạo ra [(NH3)5Co–OH2]3+ và giả i phóng SO2, NO2 tương ứng. Một số lớn phản ứng khác cũng xảy ra mà không đứt liên kết kim loại-phố i tử, ví dụ phản ứng chuyển các phố i tử chứa nitơ thành NH3: oxi hóa NCS– và khử NO2–. Khi đó các phối tử phố i trí vẫn liên kết với ion trung tâm qua nguyên tử N: HO [(NH3)5Co–NCS]2+ ⎯⎯⎯→ [(NH3)5Co–NH3]3+ 22 HO 2 Zn [(NH3)3Pt–NO2]+ ⎯⎯⎯⎯⎯ [(NH3)3Pt–NH3]2+ → HCl −H O 2 PCl3 khi là phố i tử có thể bị thuỷ phân và bị flo hoá, nhưng vẫn giữ nguyên liên kết của nguyên tử P với ion trung tâm: [Cl2Pt(PCl3)2] + 6H2O → [Cl2Pt{P(OH)3}2] + 6HCl [Cl2Pt(PCl3)2] + 2SbF3 → [Cl2Pt(PF3)2] + SbCl3
  10. 11 Nhiều phản ứng kết hợp và thế ở các phố i tử hữu cơ cũng thuộc loại phản ứng không có sự đứt liên kết kim loại-phố i tử. Ví dụ, axetylaxeton (acac) tồn tại ở ba dạng sau đây nằm cân bằng với nhau: C CH3 + H+ CH3 CH3 CH3 C CC CH3 C C C CH3 C C H2 H H O- O O O O O H Hợp chất này tạo những phức chất vòng rất bền với nhiều kim loại. Phản ứng điều chế: [M(H2O)6]3+ + 3acac [M(acac)3] + 6H2O dịch chuyển hầu như hoàn toàn sang phải. Hai phức chất [Cr(acac)3] và [Co(acac)3] bền và trơ về mặt động học (phản ứng trao đổi [M(acac)3] + acac* [M(acac)2(acac*) + acac với M là Co3+ và Cr3+, diễn ra rất chậm). Thế nhưng phức chất [Cr(acac)3] lại tương tác rất nhanh với brom trong axit axetic băng, tạo ra các phức chất vòng của crom trong đó các nguyên tử hiđro ở mỗ i vòng axetylaxeton được thay thế bằng nguyên tử brom: CH3 CH3 O=C O=C Cr CH + 3Br2 Cr + 3HBr CBr O-C O-C CH3 CH3 3 3 Bằng cách thế này có thể điều chế được các phức chất iođo và nitro, cũng như các dẫn xuất tương tự của các kim loại khác. Từ các phối tử hữu cơ, có thể điều chế được nhiều phức chất vòng phức tạp hơn và chứa những vòng với số cạnh lớn hơn. Chẳng hạn phản ứng điều chế biferroxenyl từ iođoferroxen ở 60 ÷ 150oC tương tự phản ứng ngưng tụ các hiđrocacbon chứa iot nhờ Cu: I I Fe Fe Fe Fe + 2Cu + + C u 2I 2 Nếu phố i tử tự do là tổ hợp các dạng đồng phân hoặc cấu dạng, thì khi phố i trí phố i tử được gắn chặt ở một dạng xác định, dạng này có thể không đặc trưng cho phố i tử tự do. Các điện tích hiệu dụng trên các nguyên tử của nó bị thay đổ i dưới tác dụng của ion kim loại và của các phố i tử khác. Ảnh hưởng của sự phố i trí đến phản ứng của phố i tử được thể hiện ở dạng hai hiệu ứng độc lập: hiệu ứng electron làm thay đổ i hoạt tính tương đối của các tâm phản ứng và hiệu ứng hình học. Hiệu ứng hình học được thể hiện ở: a) khi phối trí một phần các tâm phản ứng có thể bị chắn, tránh tác dụng của các thuốc thử xâm nhập vào. b) một số nhóm chức của phố i tử có thể ở gần nhau, tạo điều kiện cho các phản ứng chuyển vị nộ i phân tử hoặc đóng vòng. b) sự định hướng tương hỗ chặt chẽ của các phối tử lân cận cho phép ngưng tụ chúng, người ta gọi đây là sự tổng hợp trên khuôn (từ tiếng Anh template - cái khuôn). Phản ứng trên
  11. 12 khuôn đóng vai trò quan trọng trong các hệ sinh học và trong tổng hợp hữu cơ hiện đại, trong đó ion kim loại hoặc hợp chất chứa kim loại tổ chức và định hướng cho phản ứng, dẫn tới việc tạo thành chất mới. Sự tổng hợp này đáng lưu ý ở chỗ nhờ nó có thể thu được các cấu trúc vòng lớn, mà nếu không có sự tham gia của kim loại thì xác suất để thu được các cấu trúc vòng này là rất nhỏ. Chẳng hạn phức chất vuông của Ni2+ với mercatoetylamin được ngưng tụ với axetylaxeton: CH2 - CH2 CH2 - CH2 CH3 CH3 C=O H2N C=N S S Ni CH2 + Ni CH2 + 2H2O C=O C=N S H2N S CH 3 CH 3 CH2 - CH2 CH2 - CH2 và sản phẩm của sự tổng hợp này lại ngưng tụ với đibromxilen, tạo thành CH2 - CH2 CH3 C=N S - CH2 Ni CH2 Br 2 C=N S - C H2 CH 3 CH2 - CH2 Phức chất của phối tử này là một vòng lớn 15 cạnh. Chất màu có vòng lớn ftaloxianin (H2Fx) được điều chế bằng cách ngưng tụ o-xianobenzamit khi có mặt RuCl3.3H2O trong naphtalen nóng chảy ở 290oC. Sau khi xử lý hỗn hợp phản ứng bằng pyridin, hợp chất RuFxPyz được kết tinh ra từ phần chiết. Hiệu ứng electron được thể hiện rõ ràng nhất trong các phức chất của axetylaxeton và các b-đixeton khác, các anion của chúng được làm bền ở dạng enol khi phố i trí. N Nhờ tác dụng phân cực của cation lên nguyên tử cacbon mà điện tích được tăng lên và nguyên tử hiđro ở cacbon dễ bị N NH thế bởi các halogen, nhóm nitro v.v... N N Phản ứng của phố i tử phối trí thường được sử dụng không chỉ để điều chế các phức chất mới, mà còn để t iến N HN hành sự tổng hợp hữu cơ. Khi đó, ion kim loại đóng vai trò chất xúc tác, còn hợp chất phố i trí đóng vai trò chất trung N gian. Chẳng hạn, 2,2’-đipyridin được tổng hợp bằng cách đun nóng pyridin với FeCl3 khan. Sự tạo thành phức chất pyridinat sắt là giai đoạn trung gian của quá Ftaloxianin trình. Ứng dụng rộng rãi nhất của các phức chất kim loại là làm chất xúc tác cho các phản ứng trùng hợp olefin. 6.5 Tổng hợp các cacbonyl kim loại và hợp chất cơ kim Các hợp chất chứa liên kết cacbon-kim loại chuyển tiếp đã được biết từ rất lâu. Ví dụ: xanh Berlin Fe4[Fe(CN)6]3, các cacbonyl kim lo ại Ni(CO)4, Fe(CO)5, v.v..., các hợp chất
  12. 13 ankyl (CO)5MnCH3, aryl [{P(C2H5)3}2Pt(C6H5)2], hợp chất chứa olefin [(C2H4)PtCl3]–, hợp chất Sandwich v.v... Các nguyên tử kim loại trong những hợp chất chứa liên kết cacbon-kim loại thường ở mức oxi hoá thấp, ví dụ trong phức chất cacbonyl kim loại có số oxi hoá bằng 0. Do đó, người ta thường điều chế các phức chất bằng sự khử và có thể phải tiến hành trong môi trường không nước. 6.5.1 Tổng hợp các cacbonyl kim loại Có thể điều chế các cacbonyl kim loại bằng nhiều cách: Kết hợp trực tiếp: xMe + yCO → Mex(CO)y Cho khí CO đi qua kim loại đã nghiền vụn ở nhiệt độ và áp suất thích hợp sẽ điều chế được Ni(CO)4, Fe(CO)5, [Co(CO)4]2, Mo(CO)6, W(CO)6, Ru(CO)5, [Rh(CO)4]2. Trong trường hợp niken, kim loại niken được điều chế bằng cách dùng hiđro khử oxit của nó ở 400oC hoặc khử oxalat ở 300oC. Ni(CO)4 có thể được tạo thành ở áp suất khí quyển, nhiệt độ từ 30 đến 100oC. Quá trình điều chế có thể được cải tiến bằng cách cho CO đi qua huyền phù niken trong những chất lỏng trơ, ví dụ dầu parafin. Đối với các cacbonyl kim loại còn lại đòi hỏ i phải có áp suất cao hơn áp suất khí quyển. Ví dụ, để điều chế sắt pentacacbonyl cần có áp suất từ 20 đến 200 atm và nhiệt độ 200oC. Tổng hợp ở áp suất cao: Hầu hết các cacbonyl kim loại được điều chế bằng phản ứng giữa halogenua, sunfua hoặc oxit kim loại với CO ở áp suất cao. Các phản ứng này đặc biệt thuận lợi khi hợp chất kim loạ i có tính chất cộng hoá trị rõ rệt. Chẳng hạn, CoS chuyển định lượng thành [Co(CO)4]2 ở 200oC và 200 atm, còn CoO ở các điều kiện đó không phản ứng. Thường cần phải có các kim loại tự do để làm chất khử. Ví dụ dùng Cu trong các phản ứng: 2CoS + 8CO + 4Cu → [Co(CO)4]2 + 2Cu2S hoặc: 2CoI2 + 8CO + 4Cu → [Co(CO)4]2 + 4CuI Bản chất của các kim loại dùng làm chất khử có ảnh hưởng đến độ hoàn toàn của phản ứng. Nếu đun nóng coban bromua với bạc, đồng, cađimi hoặc kẽm trong khí quyển khí trơ, thì độ hoàn toàn của việc thoát coban tự do tăng theo thứ tự Ag, Cu, Cd, Zn. Do đó, ta phải lưu ý khi chọn chất khử. Để làm chất khử, trong một số trường hợp người ta thường dùng các kim loại hoạt động, ví dụ nhôm, hoặc dùng hợp chất cơ kim, ví dụ C2H5MgBr và C6H5Li. Đôi khi người ta điều chế các cacbonyl bằng phản ứng khử một cacbonyl khác dễ điều chế, ví dụ Fe(CO)5: 90o C WCl6 + 3Fe(CO)5 ⎯⎯⎯→ W(CO)6 + 3FeCl2 + 9CO Bản thân CO là chất khử rất tốt, đôi khi nó vừa đóng vai trò chất khử, vừa đóng vai trò phố i tử: o t Re2O7 + 17CO ⎯⎯⎯⎯⎯ Re2(CO)10 + 7CO2 → ¸p suÊt cao Sử dụng các phản ứng dị phân:
  13. 14 Nếu chế hoá niken (I) xianua với CO thì tạo thành niken cacbonyl và niken (II) xianua: 2NiCN + 4CO → Ni(CN)2 + Ni(CO)4 Phản ứng tương tự xảy ra khi sử dụng phức chất của niken (I) và khi đó có thể tạo thành hợp chất trung gian: + CO → K2[Ni(CN)3CO] K2[Ni(CN)3] 2K2[Ni(CN)3CO] + 2CO → Ni(CO)4 + K2[Ni(CN)4] + 2KCN Ni(CO)4 còn được tạo thành khi cho CO đi qua hỗn hợp kiềm của muố i Ni(II) và etylmercaptan hoặc kali hiđrosunfua trong nước: khi đó sẽ tạo thành cacbonyl của Ni(I), tiếp theo đó là quá trình dị phân: 2Ni(SH)2 + 2nCO → 2Ni(SH)(CO)n + H2S2 (được kiềm hấp thụ) 2Ni(SH)(CO)n + (4–2n)CO → Ni(CO)4 + Ni(SH)2 Phản ứng dị phân còn được sử dụng để điều chế một số cacbonyl từ các dẫn xuất cacbonyl. Ví dụ: 3Fe(CO)3.CH3OH + 4H+ → Fe(CO)5 + 2Fe2+ + 3CH3OH + 2H2 + 4CO 3Cr(CO)3.Py3 + 15HCl + 2H2O → Cr(CO)6 + 2[CrCl5H2O](PyH)2 + 5PyHCl + 3CO + 3H2 6.5.2 Tổng hợp các phức chất của olefin với kim loại Phức chất olefin được điều chế bằng các cách khác nhau. Tương tác của olefin với các hợp chất kim loại: Phổ biến nhất thường là cho olefin phản ứng với các halogenua kim loại, ví dụ: Na2[PtCl6] + C2H5OH → H[PtC2H4Cl3] + NaCl + CH3CHO + HCl H[PtC2H4Cl3] + 2KCl → K[PtC2H4Cl3] + HCl Với một số halogenua phản ứng được tiến hành khi có mặt chất khử và đôi khi chất khử còn đóng vai trò phối tử, ví dụ: Cl I I SnCl2 III C8H12 + RhCl3 C H Rh RhC8H12 trong etanol 8 12 Cl xiclooctadien-1,5 SnCl2 2C8H12 + IrCl62- (C8H12)2IrSnCl3 trong etanol Phản ứng thế: – Thế nhóm benzonitril C6H5CN bằng phân tử olefin, ví dụ: [(C6H5CN)2PdCl2] + C7H8 → C7H8PdCl2 + 2C6H5CN – Thế phân tử etilen liên kết kém bền, ví dụ: [C2H4PtCl2]2 + C4H6 → 2C4H6PtCl2 + 2C2H4
  14. 15 – Thế nhóm CO trong cacbonyl kim loại, ví dụ: ®un s«i C7H8 + Mo(CO)6 C7H8Mo(CO)3 + 3CO xicloheptatrien 80oC C4H6 + Fe(CO)5 C4H6Fe(CO)3 + 2CO ¸p suÊt butadien Pd(CO)Cl2 + C8H12 → C8H12PdCl2 + CO 6.5.3 Tổng hợp các phức chất Sandwich (hợp chất “bánh kẹp”) Đây là những hợp chất của kim loại chuyển tiếp, trong đó nguyên tử kim loại nằm giữa hai mặt phẳng của các phân tử hữu cơ, tựa như hai “lát bánh” nên được gọ i là hợp chất “bánh kẹp”. - Hợp chất đầu tiên được tổng hợp thuộc kiểu này là ferroxen, [bis-(p- xiclopentadienyl sắt (II)], chất tinh thể màu da cam, sôi ở 249oC không bị phân hủy, là hợp chất nghịch từ và không phân cực. Ion xiclopentađienyl C5H5–, giống như phân tử benzen, được coi là chất cho electron. Chúng tạo thành các phức chất bền, ví dụ Fe(C5H5)2, Mn(C5H5)(C6H6)2, Cr(C6H6)2. Phức chất Fe(C5H5)2 được điều chế bằng cách cho FeCl2 tác dụng với natri xiclopentađienyl C5H5Na: ete FeCl2 + 2C5H5Na ⎯⎯⎯ → Fe(C5H5)2 + 2NaCl Vì ferroxen rất bền, nên có thể thực hiện phản ứng trong vòng, các phản ứng này đặc trưng cho các hệ thơm, còn liên kết với các kim loại không bị phá huỷ. Từ ferroxen có thể điều chế được các dẫn xuất của nó, ví dụ: O C - CH 3 AlCl3 Fe + CH3COCl Fe + HCl CS2 - Đibenzen crom Cr(C6H6)2 được điều chế theo sơ đồ phản ứng sau: 3[(C6H6)2Cr]+[AlCl4]- 3CrCl3 + 2Al + AlCl3 + 6C6H6 tÝm ClO4- SO42- Cr(C6H6)2 + SO32- [(C6H6)2Cr]+ClO4- OH- n©u vµng Đầu tiên thu được hợp chất trung gian Cr(I), sau đó cho tác dụng với chất khử S2O42– (ion hiposunfit) để tạo ra Cr(C6H6)2. Đibenzen crom và các hợp chất benzen bánh kẹp khác kém bền, thường dễ bị oxi hóa và bị phá huỷ khi chúng tham gia phản ứng.
  15. 16 6.6 Tổng hợp ở nhiệt độ cao Các phương pháp tổng hợp này được thực hiện khi cân bằng tạo phức đạt được ở nhiệt độ cao, hoặc thu được các sản phẩm phản ứng ở nhiệt độ cao, rồi chuyển đột ngột chúng đến các điều kiện nhiệt độ thấp. Người ta gọi đây là sự “làm đông lại” cân bằng tạo phức. Các phương pháp này khác biệt ở cách thu sản phẩm ở nhiệt độ cao (nhiệt phân chất rắn hoặc chất dễ bay hơi, phóng điện trong khí, v.v...) và cách làm lạnh. 6.6.1 Tổng hợp ở trạng thái plasma Đặc điểm của phương pháp này thể hiện ở chỗ sự nung nóng được gây ra và được duy trì bằng cách phóng điện qua hỗn hợp khí: các electron tự do có trong plasma đôi khi là tác nhân chính tham gia vào phản ứng hóa học. Ví dụ, sự tổng hợp hợp chất [KrF]+[SbF6]– xảy ra theo phương trình: Kr + F2 + SbF5 → [KrF][SbF6] Thiết bị để tổng hợp gồ m một bình thuỷ t inh có các điện cực làm bằng hợp kim Kova (hợp kim chứa 29%Ni, 17%Co, 2%Mn, còn lại là Fe). Ở khoảng không gian giữa các điện cực của bình phản ứng người ta làm lạnh 0,5 ÷ 1,5 g SbF5. Cho hỗn hợp (Kr + 1,3F2) vào bình phản ứng đã được hút chân không, làm lạnh thành bình rồ i phóng điện lạnh qua bình vớ i cường độ 10 ÷ 30 μA. Sau phản ứng, người ta dựa vào phổ hồng ngoại để phát hiện ra các sả n phẩm phản ứng ở pha khí: SiF4, BF3, HF (Si và B có trong thuỷ tinh), NF3, KrF2; còn sản phẩm rắn [KrF][SbF6]. 6.6.2 Tổng hợp phức chất ở trạng thái hơi của kim loại Đây là phương pháp đồng ngưng tụ từ pha khí. Cho bay hơi trong chân không sâu để thu hơi của kim loại và cho nó đồng ngưng tụ với hơi của phối tử. Khi đó, sẽ thu được phức chất cần điều chế. Ưu điểm của phương pháp là đơn giản, chỉ một giai đoạn, sản phẩm phản ứng sạch và dễ tách. Ngay từ lúc bắt đầu các chất phản ứng đã có dự trữ năng lượng lớn, nên có thể điều chế những phức chất mà bằng các phương pháp khác thường thu được với hiệu suất thấp, hoặc thậm chí không điều chế được. Bằng cách này người ta đã thực hiện phản ứng kết hợp của kim loại chuyển tiếp với benzen, olefin, photphin, v.v... để điều chế các phức chất của kim loại có điện tích bằng không. Cũng có thể tiến hành phản ứng đẩy, ví dụ đẩy hiđro ra từ xiclopentađienyl. Để làm ví dụ chúng ta xét sự tiến hành phản ứng kiểu: M(k) + 2HL (k) → ML2(tt) + H2(k) với các phố i tử như 8-oxiquinolin. Kim lo ại đồng hoặc niken được đưa lên một dây lò xo làm bằng vonfram, phố i tử được cho vào một thuyền nhỏ làm bằng tantan; người ta làm bay hơi kim loại và phối tử trong khoảng 5 giây với áp suất 1,33 Pa. Phức chất tạo thành được đọng lại trên thành của buồng phun sương. Những cách khác làm bay hơi kim loại là nung nóng bằng điện cảm ứng, bắn phá bề mặt bằng dòng electron, nung nóng bằng tia laze. Phố i tử được làm bay hơi hoặc từ mẫu chất tinh khiết, hoặc từ dung dịch trong dung môi trơ.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2