Ngày nhận bài: 15-04-2025 / Ngày chấp nhận đăng bài: 27-05-2025 / Ngày đăng bài: 30-05-2025
*Tác giả liên hệ: Lê Hữu Thiện Biên. Bộ môn Hồi sức-Cấp cứu-Chống độc, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí
Minh, Việt Nam. E-mail: bien.le@ump.edu.vn
© 2025 Bản quyền thuộc về Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh.
https://www.tapchiyhoctphcm.vn 1
ISSN: 1859-1779
Tổng quan
Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh;28(6):01-11
https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2025.06.01
Theo dõi nh an toàn của giúp thở không xâm lấn trong
suy hô hấp cấp giảm oxyu
Lê Hữu Thiện Biên1,2,*, Phạm Phan Phương Phương1,2
1Bmôn Hồi sức-Cấp cứu-Chống độc, Đại học Yợc Thành phố Hồ Chí Minh, Thành ph Hồ CMinh, Việt Nam
2Khoa hồi sức tích cực, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Tóm tắt
Trong suy hô hấp cấp giảm oxyu, giúp thở khôngm lấn thể tnh được đặt nội k quản các biến chứng ln
quan đến thở y xâm lấn. Tuy nhiên, trong nh trạng ch thích trung m hô hấp, giúp th kng m ln th góp phần
gây ra hoặc không ngăn chận đưc tổn thương phi tự ý. Biến chứng y liên quan đến hiệu qusinh lý của gp thkng
xâm lấn, ch yếu trên th ch lưu tng và gắng sc hô hp. Trong tổng quan này cng tôi tóm tắt một scơ chế vtổn
tơng phổi tự ý và hiệu quả sinh của gp thở khôngm lấn liên quan đến biến chứng này. Đồng thời cnging
tnh bày các bin pp theoi giúp th kng m lấn bao gm các chỉ số lâm sàng, chỉ số tổng hợp, chsố hô hấp và
su âm phi ng n các biện pp gim thiểu tác dụng bất lợi của gp thở không m lấn.
T ka: suy hô hấp cấp gim oxy máu; giúp th không m lấn; tổn thương phi tự ý
Abstract
MONITORING THE SAFETY OF NONINVASIVE RESPIRATORY SUPPORT
IN ACUTE HYPOXEMIC RESPIRATORY FAILURE
Le Huu Thien Bien, Pham Phan Phuong Phuong
In acute hypoxemic respiratory failure, noninvasive respiratory support (NRS) can avoid tracheal intubation and the
adverse consequences of invasive mechanical ventilation. However, in patients with high respiratory drive, NRS may
contribute or be unable to prevent patient-self inflicted lung injury. This complication is related to some physiological
effects of NRS, mostly tidal volume and inspiratory effort. In this narrative review, we presented mechanisms of patient-
self inflicted lung injury and physiological effects of NRS related to this event. We also summarized clinical methods to
monitor NRS including clinical signs, integrated indexes, respiratory indexes and lung ultrasound and strategies to
mitigate harmful effects of NRS.
Keywords: acute hypoxemic respiratory failure; noninvasive respiratory support; self-inflicted lung injury
Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh * Tập 28 * Số 6* 2025
2 | https://www.tapchiyhoctphcm.vn https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2025.06.01
1. ĐT VẤN Đ
Giúp th không xâm lấn bao gồm oxy lưu lượng cao
(HFNC: high-flow nasal canula), áp lực đường thdương
ln tục (CPAP: continuous positive airway pressure) và
thông khí hai mức áp lực dương (BIPAP: bilevel positove
airway pressure, NIV: non-invasive ventilation) những
biện pháp hỗ trợ hấp không qua nội khí quản, ngày càng
được sử dụng rộng rãi trong cả giai đoạn khỏi đầu hỗ trợ hô
hp cũng như trong giai đoạn cai máy. Gần đây, nhất trong
đại dịch COVID-19, phương pháp này được khuyến cáo sử
dụng trên bệnh nhân suy hấp giảm oxy u nhằm giảm
nguy cơ th xâm lấn. Nghiên cứu đa quốc gia LUNG SAFE
cho thấy NRS (bao gồm CPAP BIPAP) được sdụng trên
15,5% bệnh nhân ARDS trong 2 ngày đầu của bệnh [1]. Tuy
nhiên, nghiên cứu này cũng cho thấy tỷ lệ NRS thất bại k
cao là 30% và việc sdụng NRS có thể làm tăng nguy tử
vong nhất khi NRS thất bại, dẫn đến phải đặt nội khí quản.
Tn bệnh nhân suy hấp do COVID-19, việc sử dụng
NRS (bao gồm HFNC BIPAP) ng cho thấym tăng tỷ
ltử vongn hơn 40% so với thở máym lấn [2]. Các kết
qunày làm dấy lên quan ngại về nh an toàn của NRS trong
suy hô hấp cấp, cụ th NRS thlàm m nặng hơn hoặc
ít nhất không nn ngừa được tổn thương phổi tự ý (P-SILI:
patient self-inflicted lung injury). Do đó bên cạnh hiệu qu
của NRS thì tính an toàn của biện pháp hỗ trợ hấp này
ng cần được quan tâm trong lâm sàng.
Trong bài tổng quan y chúng tôi sẽ tóm tắt về tổn thương
phổi tự ý bệnh nhân bệnh nn suy hô hấp cấp, hiệu quả
sinh lý của các phương pháp giúp thở không xâm lấn có th
giảm thiểu hoặc làm nặng hơn P-SILI, c phương pháp theo
i bệnh nhân giúp thkhông xâm lấn nhằm phát hiện c
bệnh nhân có nguy P-SILI vàc biện pháp giảm P-SILI
tn bệnh nhân giúp thở không xâm lấn.
2. TỔN THƯƠNG PHỔI TỰ Ý
BỆNH NHÂN GIÚP TH KHÔNG
XÂM LN
Tổn thương phổi do máy thbao gồm việc sử dụng th
tích lưu thông (Vt: tidal volume) cao trên bệnh nhân giảm độ
n nphổi dẫn đến ng lực nén sức căng làm tổn thương
c cấu trúc phổi một vấn đề đã được đồng thuận vbệnh
học ng như c biện pháp phòng tránh. Thở tự nhiên
tn bệnh nhân suy hấp có một số lợi ích n duy trì các
chế bảo vệ đường thở, duy trì tương hợp thông khí-tưới
máu sinh lý hoành [3]. Tuy nhiên khi suy hô hấp nặng,
tình trạng tăng kích thích của trung tâm hô hấp làm cho thở
vào mạnh với thch khí lưu thông cao (cho hay
không có các biện pháp hỗ trợ hấp). Trung tâm hấp
thể kích thích do c chế trung ương như giảm oxy máu,
tăng PaCO2 máu giảm pH qua hóa cảm thụ quan. Ngi
ra, trung tâm hô hấp còn bị kích thích do nhiều cơ chế ngoại
biên như tình trạng viêm tại chỗ và giảm độ dãn nở phổi và
c chế “không hô hấp” như tăng thân nhiệt, toan chuyển
hóa hoặc đau, lo lắng [4]. Cần lưu ý là các tác nhân gây kích
tch trung tâm hô hấp này thể vẫn tồn tại ngay cả khi oxy
máu đã được cải thiện bằngc phương pháp htrợ hấp.
n cạnh tăng thông k trên toàn phổi, hít vào gắng sức
n gây tăng thông khí cục bộ tạicng phổi tổn thương
do hiệu ứng mô đặc làm tăng dẫn truyền áp suất. Hiện tượng
ớp k này (pendelluft) làm nặng hơn c tổn thương phổi
sẵn ở vùng phổi phụ thuộc. Ngoài ra, áp suất màng phổi
n làm ng áp suất xuyên mao mạch dẫn đến thoát dch t
lòng mạch o mô kẽ sau đó là phế nang gây phù phổi
theo chế huyết động. Tổn thương phổi nặng hơn lại tiếp
tục kích thích trung tâm hấp tạo thành một vòng xoắn
bệnh lý. Các cơ chế gây tổn thương phổi tý bệnh nhân tự
thở đưc tóm tắt trong Hình 1.
nh 1. chế gây tn thương phổi tự ý bệnh nhân tự thở,
theo Grieco DL [4]
Bệnh nhân suy hô hấp tự th
Tăng kích thích hô hấp
(giảm oxy, phù phổi, giảm độ
dãn nở phổi, viêm tại chỗ
Tổn thương phổi không
đồng nhất (trọng lực, viêm
khu trú)
Cướp khí
(dịch chuyển khí từ vùng
ngực ra vùng lưng)
Tăng gắng sức hô hấp
Tăng áp lực xuyên phổi ( NRS)
Tăng thể tích khí lưu thông
Hiệu ứng mô đặc
Tăng áp lực xuyên phổi (vùng
phổi phụ thuộc)
Căng phồng phổi vùng lưng
Tổn thương phổi do áp suất
Tổn thương phổi do thể tích
Tổn thương do xẹp phi
Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh * Tập 28 * Số 6 * 2025
https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2025.06.01 https://www.tapchiyhoctphcm.vn
|
3
Tn mô hình phổi nhiều ngăn 8% phế nang bị xẹp hoàn
tn trong khi c phế nang khác bị giảm trao đổi khí qua
màng phế nang-mao mạch [5]. Các chsố khí máu mức
nền khi thở FiO2 1,0 SaO2 83,8 5,1%, PaO2 52,6 7,1
mmHg PaCO2 51,8 1,5 mmHg, tương tự với bệnh nhân
COVID-19 nặng. Trong khi đó chỉ số cơ học hô hấp ở mức
nền là độ dãn nở 63 1,4 ml/cmH2O, thể tích phổi cuối thì
thở ra 1678,9 35,3 ml cũng tương ứng với COVID-19 nặng.
Nhiều mức độ gắng sức đượcphỏng bằng cách thay đổi
tần svà biên độ hít vào từ hô hấp bình thường thể tích khí
lưu thông 7 ml/kg tần số 14 lần/phút cho tới gắng sức hô
hp cao nhất với thch lưu thông 10 ml/kg và tần số 30
lần/phút. Dựa o phương trình toán học để tính toán các chỉ
số cơ học phổi như áp lực xuyên phổi, áp lực đẩy, sức căng
phổi công học. Mức gắng sức hấp cao nhất cải thiện
đáng kể oxy máu SaO2 97,6 0,8 % nhưng đồng thời giảm
độ dãn nở phổin 26 0,3 ml/cmH2O. Áp lực cơ hô hấp ở
mức gắng sức tối da (PMIN) -12,4 0,3 cmH2O tăng lên đến
-35,4 0,2 cmH2O làm tăng áp suất xuyên phổi 12,0 0,3
cmH2O lên 46,2 0,5 cmH2O, áp lực đẩy 7,7 0,2 cmH2O
lên 26,9 0,3 cmH2O, tăng sức căng phổi 0,29 0,006 lên
0,65 0,016 và công học 1,6 0,1 joule/phút lên 24,9
0,3 joule/phút. Tất cả các giá trị này đều ợt mức thể gây
tổn thương phổi so với tổn thương phổi trên bệnh nhân thở
máy xâm lấn. Tn phương diện công ng thì năng ợng
tạo ra từ máy thở hay hấp khi dẫn truyền o hhấp
t đều có thể làm tổn thương như nhau. Thực nghiệm trên
chuột bị tổn thương phổi cấp bằng cách rửa phế nang sau đó
cho th máy theo chế đ tổn thương phổi (VILI: Vt 12
ml/kg), bảo vệ phổi (LPV: Vt 6 ml/kg có dãn ) và rút nội
khí quản cho tự thở (P-SILI) [6]. Đánh giá tổn thương
học của phổi bằng thang điểm tổn thương phổi tổng quát
(LIS: lung injury score) đồng thời đánh giá riêng tổn thương
đường thở, phế nang, mao mạch tình trạng viêm. Nhóm
VILI có LIS cao nhất, sau đó đến P-SILI và LPV lầnợt là
10,5 [7,0-13,5] vs 5 [3,5-8,0] vs 1,5 [0,0-6,3]. So với VILI
phân bố chủ yếu ở ng đỉnh và vùng giữa phổi thì P-SILI
phân bđồng đều tn toàn phổi tổn thương mao mạch
nhiềun LPV: 1 [0,7-1,2] so với 0,5 [0,3-0,6].
Tóm lại, hình tính toán thực nghiệm thú vật cho
thấy gắng sức hô hấp ở mức độ cao và kéo dài thgây tổn
tơng phổiơng tự tổn thương phổi do máy thở.
3. HIỆU QU SINH CỦA GP
THKHÔNG XÂM LẤN
Nếu xem c hại quan trọng nhất của tự thở là gây ra tổn
tơng phổi tự ý tbên cạnh hiệu quả cải thiện oxy u các
biện pháp giúp thở không m lấn phải giảm được mức độ
gắng sức hô hấp, đảm bảo quá trình hô hấp trong giới hạn
an toàn.
3.1. Hiệu qusinh của oxy lưu lượng cao
Cung cấp FiO2 cao ổn định nếu tốc độ dòng cao hơn
lưu lượng hít vào tối đa của bệnh nhân. Với lưu lượng t o
tối đa bệnh nhân suy hô hấp cấp khoảng 34 ± 9 lít/phút thì
tốc đng trên 40 lít/phút thđảm bảo FiO2 ổn định [7].
Việc cung cp FiO2 cao và ổn định giúp cải thiện oxy u
và giảm bớt tác nhân quan trọng kích thích trung tâm hp
và gắng sức hô hấp.
Tn hình, khi tăng tốc độ dòng thì PEEP tăng theo
dạng hàm bậc hai, tuy nhiên mức PEEP này thường không
quá cao (<8 cmH2O) chđạt được khi hình đóng kín
miệng. Trong khi đó trên bệnh nhân thì mức PEEP ít khi vượt
quá 3 cmH2O nếu không đóng kín miệng [8]. Mặc tạo ra
mức PEEP ơng đối thấp nhưng HFNC tăng thể ch phổi
cuối thì thở ra tuyến tính với tốc độ dòng, do hiệu quả ng
sức cản trong t thở ra, trong đó ch yếung thông kđến
ng phổi phụ thuộc làm cho phân phối khí đồng đều hơn
trong khi gần n không ảnh hưởng đến thch khí lưu
thông [9]. Khng cải thiện trao đổi khí do đó y thuộc
cân bằng giữa việc huy động được phổi hay gâyng phồng
quá mức khi tăng tốc độ dòng. Trong khi tăng tốc độ dòng
tương đối hiệu quả trong việc cải thiện oxy máu thì tương
quan gia các mức tốc độ dòng các chỉ số gắng sức
hp như áp suất thực quản, tích số áp suất-thời gian công
thở lại theo dạng hàm mũ, gợi ý việc tăng tốc độ dòng không
hiệu quả nhiều trong giảm gắng sức hp và công thở
[9].
3.2. Hiệu quả sinh của áp suất đường thdương
liên tục và tng khai mức áp lực dương
So với HFNC thì CPAP và NIV có thể cung cấp mức
PEEP cao hơn do đó huy động phổi hiệu quả n cải thiện
trao đổi khí tốt hơn. Tuy nhiên mức PEEP quá cao có thgây
căng phồng phổi làm tăng sức căng phổi và giảm sức co cơ
hoành [10]. Khác với HFNC CPAP, NIV có hỗ trợ thở o
do đó làm giảm tải cơ hô hấp và gắng sức hô hấp.ng với
Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh * Tập 28 * Số 6* 2025
4 | https://www.tapchiyhoctphcm.vn https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2025.06.01
cải thiện oxy máu thì giảm tải hấp cơ chế quan trọng
giảm bớt kích thích trung tâm hô hấp. Tuy nhiên, trong suy
hô hấp, trung tâm hô hấp còn bị kích thích do các ngun
nhânkhông hô hấp” hoặc do đó đápng viêm tại chdo đó
vẫn gây ra gắng sức hấp mặc hô hấp đã được giảm
tải. Gắng sức hô hấpng với hỗ trợ thở vào của máy thở có
thể tạo kết hợp ra thể tích khí lưu thông cao nhất là khi thể
tích khí lưu thông này được phân phối không đồng nhất đến
những ng phổi có độ dãn nở cao và sức cản thấp [11]. Mặc
i chung NIV làm tăng Vt hơn đáng kể so với HFNC
nhưng cũng đồng thời tăng thể tích cuối t thở ra do đó
thể không làm tăng sức căng động. Một thử nghiệm lâm sàng
bắt chéo trên bệnh nhân suy hấp cấp (với PaO2/FiO2
<200) so sánh hiệu quả sinh giữa HFNC 60 t/phút, CPAP
14 cmH2O và NIV qua mũ trùm với mức hỗ trợ áp lực 10 ±
12 cmH2O và PEEP 14 cmH2O [12]. Bệnh nhân được đặt
ống thông đo áp lực thực quản chụp cắt lớp trkháng điện
để theo i thể tích khí lưu thông và thể tích phổi cuối tthở
ra. Gắng sức hấp, biểu hiện qua áp lực thực quản, thấp
hơn đáng kể NIV so với HFNC [-5 (-8 đến -1) cmH2O],
trong khi khác biệt không đáng kễ giữa CPAP và HFNC [3
(-1 đến 7) cmH2O]. Mặc NIV làm ng Vt 70% (17-
122%) so với HFNC nhưng lại làm giảm sức ng động so
với HFNC -0,17 (-0,32 đến -0,02) nhtăng th ch phổi cuối
t thra.
Hiệu qusinh của HFNC và NIV được tóm tắt trong
Bảng 1. i chung HFNC không làm ng Vt nhưng cũng
không giảm được các gắng sức hô hấp có hại, trong khi đó
NIV giảm gắng sức hô hp hiệu quả hơn nhưng có thgây
ra tăng thông khí quá mức.
Bảng 1. So nh hiệu qusinh của HFNC và NIV
HFNC NIV
- FiO2 cao vàn định
- Giảm tần số th
- Kng thay đổi hoặc giảm
thch khí lưu thông
(kng đáng k)
- To áp suất dương và
ng thch phổi cuối thì
thra
- Giảm gắng sức hấp
ng thở (kng đáng kể)
- FiO2 cao vàn định
- Tăng th tích khí lưu thông
(thy hại nếu không
kiểm soát đưc)
- To suất ơng và tăng
thch phổi cuối t th ra
(cao hơn cải thin oxy
u hiệu quảnn)
- Giảm gắng sức hấp
ng thở (hiệu quả n)
4. THEO DÕI BỆNH NHÂN GIÚP
THKHÔNG XÂM LẤN
Theo dõi bệnh nhân giúp thkhông xâm lấn nhằm phát
hiện gp thở không xâm lấn kng hiệu quả hoặc không an
tn, từ đó chđịnh đặt nội khí quản kịp thời tránh để tình
trạng suy hô hấp quá nặng hoặc tổn thương phổi tự ý. Các
phương pháp theo i bệnh nhân giúp thkhông m lấn
tóm tắt trong Bảng 2. Cần u ý là trong một số trường hợp
đặt nội khí quản do các chỉ định “không hô hấp” như tri giác
giảm, huyết áp tụt tùy thuộc thói quen của c sĩ hay cơ
sở y tế chkhông phải do NRS không hiệu quả. Do đó giá
trị tiên đoán đặt nội khí quản của c chỉ số tiên đoán NRS
thất bại không thể chính xác tuyệt đối và cần kiểm định lại
khi đưa vào sử dụng.
Bảng 2. Các biện pháp theo i gp thở kng xâm lấn
Chsố lâm
sàng
Chsố
tổng hp
Chsố
hấp Siêu âm
- Dung nạp
- Tri gc
- Đàm nhớt, ho
khạc
- Tần stim,
huyết áp
- Tần sth
- Kiểu thở (co
kéo hô hấp)
SpO2, ku
- HFNC:
ROX
- NIV:
HACOR
- Thch khí
lưu thông
- Áp lực thực
quản
- Áp lựcnh
i
- Thang
đim tổn
thương
phổi
4.1. Các chỉ s lâm sàng
Các chslâm sàng gợi ý NRS không hiệu quả (bệnh nhân
tiếp tục thco o, thở không đồng bộ với máy thở, oxy máu
không cải thiện) hoặc NRS không an toàn (tri giác giảm, ho
khạc đàm không hiệu quả, huyết áp tụt). Các chỉ số này
thể được theo i tại giường liên tc mà không cần dụng cụ
chuyên biệt nào. Tuy nhiên chưa chỉ định đặt nội khí quản
được đồng thuận rộng rãi dựa theo các chslâm sàng này
vì vậy nên theo dõi diễn tiến của c chsố y để quyết định
đặt nội khí quản. Trong thực tế, c chsố lâm ng này
tờng là ch hoạt để bắt đầuc phương pháp theo i đặc
hiệu hơn.
4.2. Các chỉ số tổng hợp
Các chỉ số này được xây dựng trên sở đáp ứng của bệnh
nhân với hiệu qusinh lý của NRS hoặcc định c yếu t
ln quan với NRS thất bại.
ROX là một chỉ số đơn giản dựa trênsở nếu nh trạng
hô hấp bệnh nhân cải thiện thì oxy u tăng tần sth
Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh * Tập 28 * Số 6 * 2025
https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2025.06.01 https://www.tapchiyhoctphcm.vn
|
5
giảm [ROX = SpO2/FiO2(%)]RR]. Trên bệnh nhân suy
hp do viêm phổi, ROX tại thời điểm 12 giờ sau khi bắt đầu
HFNC có giá trị tiên đoán HFNC thất bại tốt nhất với AUC
0,752 (0664−0,840) [13]. Điểm cắt tốt nhất tiên đoán HFNC
tnh công ROX 4,88 với độ nhạy 70,1% độ đặc
hiệu 72,4%. Một phân ch gộp trên 4790 bệnh nhân COVID
cho thấy diện ch ROX có khả năng tiên đn HFNC thành
ngơng tự trong viêm phổi [AUC 0,771 (khoảng tin cậy
95% 0,666-0,847)] nng điểm cắt tối ưu cao hơn một chút
là 5,23 với độ nhạy 73,2% và độ đặc hiệu 69,0% [14]. Tùy
thời điểm đánh giá mà giá trị tiên đoán của ROX cũng tăng
dần với AUC tại các thời điểm 2-6 giờ, 6-12 giờ 12-24 gi
lần lượt là 0,754, 0,795 0,821. Mặc được sử dụng rộng
i để theo i bệnh nhân HFNC nhưng ROX có một shạn
chế nhất định: (1) giá trị tiên đoán chỉ mức ktốt với gần
như tất cả nghiên cứu đều cho thấy AUC < 0,80, (2) g trị
tn đoán ththay đổi theo nguyên nhân suy hấp một
nghiên cứu trên bệnh nhân suy giảm miễn dịch ch AUC
0,62315, (3) gtr tiên đoán không cao nếu suy hấp
không kèm tăng tần số thở (happy hypoxemia) [16], (4) phụ
thuộc tốc độ dòng, trong đó khoảng 2/3 bệnh nhân sẽ cải
thiện ROX khi tăng tốc độ dòng từ 30 lít/phút lên 60 lít/phút
[17]. i chung, khi mới bắt đầu HFNC nên sử dụng điểm
cắt tiên đoán HFNC thất bại độ nhạy cao tránh trì hoãn
đặt nội k quản ( d: điểm cắt < 5,33 tại thời điểm 2-6 giờ
với độ đặc hiệu tiên đoán tht bại 80%) [14]. Mặt kc, nếu
đã thHFNC khá lâu thì nên sử dụng điểm cắt tiên đoán
HFNC thànhng với độ nhạy cao đ tránh đặt nội khí quản
không cần thiết (ví dụ: điểm cắt > 6,07 tại thời điểm 12-24
giờ với độ nhạy tiên đoán thành ng 80% [14].
Tn bệnh nhân thở NIV, thang điểm HACOR được y
dựng dựa o việc xác định các yếu tố liên quan với NIV tht
bại và cho điểm c yếu t liên quan theo hệ số của
phương trình hồi quy [18]. c yếu tố liên quan với NIV thất
bại gồm: (1) H (heart): tần stim, (2) A (acidosis): tình trạng
nhiễm toan, (3) C (consciousness): ý thức, (4) O
(oxygenation): oxy máu, (5) R (respiratory rate): tần số thở.
Điểm chi tiết của thang điểm HACOR được trình bày trong
bảng 3. Tn bệnh nhân suy hấp cấp, HACOR > 5 có giá
trị tiên đoán NIV thất bại khá tốt tại tất ccác thời điểm. Gần
đây thang điểm này được bổ sung thêm các chsvề bệnh
nền mức độ nặng của bệnh để phân tầng nguy NIV thất
bại19. Điểm HACOR nâng cấp = điểm HACOR +
0,5xSOFA + 2,5 (nếu viêm phổi) – 4 (nếu phù phổi cấp) +
1,5 (suy giảm miễn dịch) + 2,5 (nếu sốc nhiễm trùng). Phân
tầng bệnh nhân dựa theo điểm HACOR nâng cấp: (1) nguy
thấp ≤ 7, (2) nguy cơ vừa 7,5–10,5, (3) nguy cơ cao 11–
14, (4) nguy rất cao 14.
Bảng 3. Thang điểm HACOR
Chsố Giá trị Điểm
Tần số tim (lần/phút)
120 0
120 1
pH
7,35 0
7,307,34 2
7,257,29 3
7,25 4
Điểm Glasgow
15 0
1314 2
1112 5
10 10
PaO2/FiO2
201 0
176200 2
151175 3
126150 4
101125 5
100 6
Tần số thở (lần/pt)
30 0
3135 1
3640 2
4145 3
46 4
4.3. Các chỉ số hô hấp
Các chỉ số tổng hp mặc có g trị tiên đoán NRS thất
bại khá tốt nhưng không cho biết nguyên nhân thất bại do đó
ng không thể đưa ra biện pháp xử trí thích hợp để giảm
nguy cơ thất bại. Dựa trên chế bệnh sinh của tổn tơng
phổi tự ý thì thể tích klưu thông áp lực xuyên phổi quá
cao là những yếu tố liên quan hàng đầu, do đó đây cũng
những ch số cần theoi tn bệnh nhân NRS.
Thể tích khí lưu thông thra (Vte: expired tidal volume)
thđược theo dõi thường xuyên khi thở NIV qua c máy
thở hồi sức ch cực. Trên bệnh nhân suy hấp cấp giảm
oxy u thNIV, các bệnh nhân NIV thất bại (đặt nội khí
quản, tử vong) có Vte cao n đáng kể là 10,6 ml/kg (9,6–
12,0) so với bệnh nhân NIV thành công 8,5 ml/kg (7,6–10,2)