i
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Kinh doanh ngân hàng một hoạt động kinh tế nhiều rủi ro do những
nguyên nhân chủ quan khách quan y ra. Trên thực tế không một ngân hàng nào
tránh được rủi ro trong quá trình kinh doanh, những nguyên nhân khách quan như:
khách hàng vay tiền bị phá sản, bão lụt, động đất, chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, tài
chính trên thế giới, trong nước, những nguyên nhân chủ quan thường do nội bộ Ngân
hàng y ra như: không nắm đủ thông tin về thực trạng người vay tiền, trình độ hoặc
đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ nhân viên yếu kém, cho vay không tài sản bảo
đảm, giải ngân không đúng mục đích....Vì vậy, bất kỳ ngân hàng nào cũng cần xây
dựng cho mình một hệ thống kiểm soát nội bvững mạnh nhằm giảm thiểu tối đa các
rủi ro trong kinh doanh ngân hàng nói chung kiểm soát rủi ro tín dụng nói riêng, từ
đó nâng cao chất ợng tín dụng. Đảm bảo an toàn tín dụng một trong những mục
tiêu hàng đầu của các NHTM, do đó các quy định về kiểm soát rủi ro tín dụng tại các
NHTM cần cụ thể chặt chẽ đối với từng loại khách hàng. Lĩnh vực cho vay y
dựng và sửa chữa nhà ở có những rủi ro tín dụng riêng, cần có những quy định về kiểm
soát rủi ro tín dụng phù hợp.
Nhận thức được ý nghĩa của vấn đề trên, đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kiểm
soát nội bộ với việc ng cường kiểm soát rủi ro tín dụng xây dựng sửa chữa n
tại Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long” đã được lựa chọn để
nghiên cứu làm Luận văn thạc sỹ kinh tế.
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là mô tả, phân tích thực tiễn hệ thống KSNB
với rủi ro tín dụng xây dựng sửa chữa ntại Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng
bằng Sông Cửu Long từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội
bộ nhằm tăng cường kiểm soát rủi ro tín dụng y dựng, sửa chữa nhà ở tại Ngân hàng
Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long.
ii
Đối tượng nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trong quan hệ với việc tăng
cường công tác kiểm soát rủi ro tín dụng y dựng sửa chữa nhà tại Ngân hàng
Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long.
Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm ba chương:
Chương 1: luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm soát rủi ro
tín dụng xây dựng và sửa chữa nhà ở tại các Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường kiểm soát
rủi ro tín dụng y dựng sửa chữa nhà tại Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng
Sông Cửu Long.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với
việc tăng cường kiểm soát rủi ro tín dụng xây dựng sửa chữa nhà tại Ngân hàng
Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long
Trong chương 1, Tác giả trình bày khái quát về hệ thống kiểm soát nội bộ trong
các NHTM gồm đặc điểm, mục tiêu và các yếu tố cơ bản cấu thành hệ thống kiểm soát
nội bộ trong các NHTM. Đồng thời tác giả trình bày sơ lược các hoạt động, các loại rủi
ro gắn liền với các hoạt động kinh doanh Ngân hàng và đi sâu phân tích rủi ro tín dụng,
nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng. Đặc biệt, Tác giả đi sâu phân tích đặc điểm của
các khoản tín dụng xây dựng và sửa chữa nhà ở, từ đó phân tích hệ thống kiểm soát nội
bộ trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng xây dựng sửa chữa nhà của các Ngân hàng
thương mại, thể hiện qua các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ: Thứ nhất, môi
trường kiểm soát (Đây nền móng cho các yếu tố còn lại của hệ thống kiểm soát nội
bộ bao gồm: cấu tổ chức, chính sách nhân viên, công tác kế hoạch, Uỷ ban kiểm
soát). Thứ hai, Hệ thống kế toán dùng để ghi nhận, tính toán, phân loại kết chuyển
vào sổ tổng hợp lập báo cáo. Thứ ba, Thủ tục kiểm soát, đó những cách thức giải
pháp cụ thể trong quan hệ với trình tự xác định, nó đảm bảo các hành động cần thiết để
quản các rủi ro thể phát sinh trong quá trình thực hiện mục tiêu của Ngân hàng.
Thủ tục kiểm soát trong hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng phải được thiết lập
iii
dựa trên ba nguyên tắc bản: nguyên tắc phân công, phân nhiệm ràng; nguyên tắc
bất kiêm nhiệm; nguyên tắc uỷ quyền, phê chuẩn. Thứ tư, Kiểm toán nội bộ là một hoạt
động độc lập khách quan được thành lập bên trong ngân hàng nhằm mang lại cho tổ
chức sự đảm bảo về khả năng kiểm soát các hoạt động của ngân hàng, vấn cho ngân
hàng các giải pháp chấn chỉnh hoạt động của mình, góp phần tạo ra giá trị gia tăng cho
ngân hàng. một nhân tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ, bộ phận KTNB cung
cấp một sự quan sát đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của Ngân hàng, gồm
cả tính hiệu quả của việc thiết kế vận hành các chính sách thtục về kiểm soát
nội bộ. KTNB thực hiện nhiệm vụ đánh giá nh hiệu lực, đầy đủ tính hiệu quả của
hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng. Ngoài ra, Tác giả cũng trình y khái quát
quy trình tín dụng với việc kiểm tra, kiểm soát vốn vay được tiến hành theo ba bước:
Thẩm định trước khi cho vay; kiểm tra, giám sát trong khi cho vay; kiểm tra, giám sát,
tổ chức thu hồi nợ sau khi cho vay.
Trong Chương 2, Tác giả trình y khái quát quá trình hình thành phát triển
của ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long, tác giả tập trung phân tích
thực trạng hệ thống kiểm soát nôi bộ trong mối quan hệ với kiểm soát rủi ro tín dụng
xây dựng sửa chữa nhà tại Ngân hàng MHB. Xuất phát từ đặc điểm những
nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng y dựng y dựng sửa chữa nhà tại MHB, Tác
giả tìm hiểu môi trường kiểm soát, chính sách tín dụng, các thtục kiểm soát, bộ phận
kiểm toán nội bộ và hệ thống kế toán trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng, qua đó chỉ ra
những mặt đã đạt được những hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ với việc kiểm
soát rủi ro tín dụng xây dựng và sửa chữa nhà ở tại Ngân hàng MHB. Cụ thể là:
Những mặt đạt được của hệ thống kiểm soát nội bộ với việc kiểm soát rủi ro tín
dụng xây dựng và sửa chữa nhà ở tại Ngân hàng MHB gồm:
Thứ nhất, Về cấu tổ chức: Với mục tiêu hướng tới một ngân hàng hiện đại,
hình tổ chức hoạt động của chi nhánh đã từng bước được thay đổi căn bản về
cấu tổ chức nhằm hướng tới khách hàng, thúc đẩy và cải tiến dịch vụ khách hàng. Việc
iv
tạo lập cấu tổ chức mới như thành lập y ban quản rủi ro, Hội đồng tín dụng, tại
các chi nhánh b phận tín dụng được tách bách thành 3 phòng: Phòng kinh doanh,
phòng quản lý rủi ro, phòng hỗ trợ kinh đã tạo ra sự tách bạch rõ ràng chức năng nhiệm
vụ của từng bộ phận trong hoạt động tín dụng giúp cho chi nhánh nâng cao chất lượng
hiệu quả hoạt động, tăng khả năng kiểm soát và hạn chế rủi ro.
Thứ hai, Về chính sách tín dụng: MHB đã sớm ban hành sổ tay tín dụng từ năm
2004 trong quyết định số 88/QĐ-NHN-HĐQT ngày 16/08/2004, trong đó quy định về
chính sách tín dụng với định hướng tín dụng đầu vào các sản phẩm tín dụng phục
vụ nhà cho dân cư, hướng dẫn cụ thể quy trình cho vay ….các quy định về thẩm
quyền phê duyệt đã phần nào đảm bảo đưa hoạt động của MHB phát triển theo đúng
định hướng, đạt được mục tiêu an toàn, hiệu quả kiểm soát được rủi ro cũng như
tiến dần đến thông lệ quốc tế
Thứ ba, về Thủ tục kiểm soát trong hoạt động tín dụng được MHB quy định khá
chặt chẽ, việc kiểm soát rủi ro đối với hoạt động tín dụng do hai bộ phận đảm nhận:
Các kiểm soát viên nội bộ thực hiện kiểm tra kiểm soát ngay trong quá trình cho vay
(do cán bộ tín dụng các kiểm soát thực hiện) kiểm tra lại toàn bộ hồ sơ sau khi
cho vay, thu hồi công nợ (do cán bộ kiểm tra nội bộ thực hiện). chế phân cấp y
quyền phán quyết tín dụng được thiết kế khá chi tiết về đối tượng mức được y
quyền, đảm bảo tính ràng, cụ thể trong triển khai tổ chức thực hiện hoạt động tín
dụng.
Những hạn chế còn tồn tại của hệ thống kiểm soát với việc tăng cường kiểm
soát rủi ro tín dụng xây dựng và sửa chữa nhà ở tại Ngân hàng MHB gồm:
Thứ nhất, Về môi trường kiểm soát cũng những hạn chế ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh và quản lý của MHB:
Một là, việc phân quyn thành nhiều bộ phận trong hoạt động tín tạo điều kiện
thuận lợi cho môi trường kiểm soát rủi ro tín dụng thể hiện việc kiểm soát hoạt động
tín dụng rất chặt chẽ bao gồm cả kiểm tra - kiểm soát trong từng khâu của quy trình tín
v
dụng và cả KTNB kiểm tra từng chốt kiểm soát. Vì thế, rủi ro xảy ra đối với hoạt động
tín dụng đã được hạn chế đáng kể nhưng cũng tạo ra mặt trái làm cho hoạt động
kinh doanh tín dụng kém linh động, kém cạnh tranh, ít nhiều cũng mất đi một số cơ hội
trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Hai là, cấu tổ chức quản của MHB hiện nay chưa bảo đảm cung cấp kịp
thời thông tin cho ban lãnh đạo MHB nên dẫn đến ban lãnh đạo đưa ra quyết định chưa
được xác thực mang tính “cứng nhắc”. Bên cạnh đó, cấu tổ chức bộ máy quản lý
tại các Chi nhánh chưa bảo đảm được yếu tố kiểm soát rủi ro đặc biệt kiểm soát rủi
ro tín dụng, chưa phân theo nhóm khách hàng.
Ba là, Chính sách nhân sự, MHB đã xây dựng được đội ngũ nhân viên có ý thức
phục vụ khách hàng, người vấn tin cậy cho khách ng. Tuy nhiên, MHB chưa
xây dựng được đội ngũ nhân viên mang tính chuyên nghiệp cao.
Thứ hai, về chính sách tín dụng: chính sách n dụng áp dụng tại các chi nhánh,
cụ thể tại chi nhánh Nghệ An mang tính cứng nhắc dựa trên sở chấm điểm phân
loại khách hàng, chi nhánh áp dụng các chính sách tín dụng phù hợp theo quy định.
Mọi hoạt động của MHB đều được thực hiện theo quy trình, tuy nhiên tại các chi
nhánh nhiều c quy trình chỉ thực hiện theo hình thức làm tốn thời gian, công sức
nhưng không mang lại hiệu quả thực sự.
Thứ ba, về thủ tục kiểm soát, việc kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay vẫn
còn sài, qua loa mang tính hình thức nên vẫn còn sai phạm trong quá trình cho
vay, việc tuân thủ kluật trong việc chấp hành chế nghiệp vcủa cán bộ tham gia
trong quy trình nghiệp vụ chưa nghiêm như thiếu hồ về thủ tục vay vốn, chưa kiểm
tra sử dụng vốn kịp thời, tài sản bảo đảm chưa bảo đảm tính pháp lý, gia hạn thiếu căn
cứ....
Thứ tư, Ban KTNB chỉ tập trung kiểm toán các nghiệp vụ chủ yếu: Nghiệp vụ
tín dụng, nghiệp vụ kế toán - ngân quỹ. Ban KTNB chưa các bộ phận kiểm toán
chuyên ngành: Bộ phận Kiểm toán tín dụng, Bộ phận Kiểm toán kinh doanh ngoại hối,