intTypePromotion=1
ADSENSE

HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG

Chia sẻ: Paradise_12 Paradise_12 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:30

502
lượt xem
54
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Xét về vùng lãnh thổ, phương Đông ngày nay được hiểu là khu vực bao phủ toàn bộ châu Á và phần Đông Bắc châu Phi. Nói đến phương Đông, người ta không thể không nhắc đến những nền văn minh nổi tiếng như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Arập, Trung Hoa, không thể không nhắc đến Nho giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Hinđu giáo và hàng loạt tín ngưỡng bản địa mang màu sắc phương Đông. Tóm lại, phương Đông là một khu vực văn minh có “bản sắc” riêng cả về phương diện truyền thống lẫn...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG

  1. HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG -1-
  2. Dẫn nhập Xét về vùng lãnh thổ , phương Đông ngày nay được hiểu là khu vực bao phủ toàn bộ châu Á và phần Đông Bắc châu Phi. Nói đ ến phương Đông, người ta không thể không nhắc đến nhữ ng nền văn minh nổ i tiếng như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ , Arập, Trung Hoa, không thể không nhắc đến Nho giáo, Hồ i giáo, Phật giáo, Hinđu giáo và hàng loạt tín ngưỡ ng bản đ ịa mang màu sắc phương Đông. Tóm lại, phương Đông là mộ t khu vực văn m inh có “b ản sắc” riêng cả về p hương diện truyền thống lẫn hiện đ ại. Ngày nay, xét trên nhiều góc độ như lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá,... phương Đông chiếm mộ t vị trí vô cùng quan trọng trong lịch sử thế giới. Vấn đề thứ 1 Cơ sở cho sự hình thành văn minh phương Đông Châu Á và Đông Bắc châu phi là nơi ra đ ời những nền văn minh cổ kính của phương Đông nói riêng và của loài người nói chung. Ở đây đã xuất hiện những quốc gia chiếm hữu nô lệ tối cổ xây dựng trên sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủ y. 1.Điều kiện tự nhiên: Những nền văn minh cổ kính đó xuất hiện trên lưu vực nhữ ng con sông lớn như sông Nile (Ai Cập), Tigris và Euphrates (Lưỡng Hà), sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Gange) (Ấn Độ), sông Hoàng Hà và Trường Giang (Trung Qu ốc)… - Nhìn chung lưu vực các con sông nói trên là những vùng đồ ng bằng phì nhiêu rất thu ận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. khí hậu ấm áp, nguồn nước phong phú, đất đai màu mỡ và d ễ canh tác đã cho phép các quốc gia cổ đại phương Đông p hát triển nông nghiệp thu ận lợi. - Người phương Đông cổ đ ại sống trên lưu vực các con sông từ thời nguyên thủ y đ ã sớm phát hiện và lợ i dụ ng những thuận lợi đó đ ể p hát triển sản xu ất. Cùng với nông nghiệp, thủ công nghiệp cũng phát triển mạnh, xã hộ i sớm xuất hiện giai cấp và nhà nước. Cụ thể: * Ai Cập ở Đông Bắc châu Phi, là một thung lũng nằm dọc theo lưu vực sông Nile. Phía tây giáp sa mạc Libi, phía đông giáp Hồng Hải, phía bắc giáp Địa Trung Hải, phía nam giáp d ãy núi Nubi và Ethiopia. Địa hình chia làm hai khu vực: Thượ ng Ai Cập ở phía nam là một -2-
  3. dãi thung lũng dài và hẹp, có nhiều núi đá. Hạ Ai Cập ở phía bắc là vùng châu thổ đồng bằng sông Nile rộ ng lớn hình tam giác. Sông Nile là mộ t trong những con sông dài nhất thế giới, kho ảng 6500km, với b ảy nhánh đổ ra Địa Trung Hải, phần chả y qua Ai Cập dài 700km. Hàng năm nước lũ dâng khiến cho phù sa từ thượng nguồn tuôn xuố ng gia tăng màu mỡ cho đồ ng b ằng châu thổ, thu ận lợi cho việc trồng trọ t. Sông Nile cung cấp ngu ồn thực phẩm thủ y sản dồi d ào cho sư dân và là con đường giao thông quan trọng nhất của vùng này. Do đ ất đai màu mỡ, các loại thực vật như đại mạch, tiểu mạch, chà là, sen, cây papyrus làm giấ y… sinh trưởng và p hát triển quanh năm. Ai Cập có một qu ần thể độ ng vật đồ ng bằng và sa mạc rất phong phú, đa d ạng : trâu bò, voi, hươu cao cổ, tê giác, hà mã, cá sấu, hỗ, báo… các loại thủ y sản cũng rất nhiều, tạo thu ận lợi cho nghề đánh cá.. * Lưỡng Hà: Lưỡng Hà là vùng bình nguyên giữ a hai con sông Tigris và Euphrates, người Hy Lạp cổ đại gọi là Mésopotamie. Từ xa xưa vùng này đ ã nổ i tiếng là vùng đ ất phì nhiêu, rất thuận lợi cho cuộc số ng con người. * Ấn Độ: Ấn Dộ là một bán đảo ở Nam Á, thời cổ - trung đại bao gồm cả các nước Pakistan, Nepan, và Bangladesh ngày nay. Ấn Độ có sự đa d ạng về địa hình và khí hậu ở các vùng Bắc Ấn, Trung Ấn và Nam Ấn. Sông Ấn (Indus), sông Hằng (Gange hay Gangga) đã tạo nên những vùng đồng bằng màu mỡ, có vai trò rất quan trọng d ẫn đ ến sự ra đời sớm của nền văn minh nông nghiệp ở đ ây. Nhìn chung điều kiện tự nhiên Ấn Độ rất phức tạp, vừa có núi non trùng điệp, vừa có nhiều sông ngòi với những đồng bằng trù phú, khí hậu có vùng nóng ẩm nhiều mưa, có vùng quanh năm tuyết phủ , lại có cùng sa mạc khô cằn nóng nự c. Tính đa d ạng và phức tạp của thiên nhiên Ấn Độ , một mặt là điều kiện thu ận lợi cho cư dân cổ tụ cư và phát triển, mặt khác là những thế lực đè nặng lên số phận con người Ấn Độ khi nhận thức củ a họ còn thấp kém. * Trung Quố c: Lãnh thổ Trung Quốc mênh mông nên địa hình đ a d ạng và phức tạp. Phía tây có nhiều núi và cao nguyên, khí hậu khô hanh, phía đông có các bình nguyên châu thổ p hì nhiêu, các sông lớn đ ều chảy ra Thái Bình Dương tạo nên khí hậu ôn hòa. Trong số 5 .000 dòng sông củ a nước này thì Hoàng Hà (dài 5.464km) và Dương Tử (dài 5.800) là hai con sông lớn nhất . Tuy thườ ng xuyên gây ra lũ lụ t, nhưng Hoàng Hà và Dương Tử đã mang đến nguồn phù sa bồ i đ ắp cho đất đai thêm màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển, mang lại giá trị kinh tế cao. Từ xa xưa, những con sông này là những tuyến giao thông huyết mạch nối liền các vùng trong lãnh thổ Trung Quốc. Các triều đ ại đã xu ất hiện, tồn tại và lớn mạnh trên lưu vực hai dòng sông này và xây dựng nên nền văn minh Trung Qu ốc độc đáo. - Bên cạnh nhữ ng thuận lợi nói trên, những con sông này lại bị ngăn cách bởi hệ thố ng núi non trùng điệp và những vùng sa mạc mênh mông. Địa thế hiểm trở đó cùng với những phương tiện giao thông hết sức hạn chế thời cổ đ ại đã làm cho các nền văn minh này xuất hiện và phát triển một cách độc lập. Sự liên hệ buổ i đ ầu hầu như không xảy ra, do đó mỗi nền văn minh đ ã p hát triển một cách đ ộc đáo, mang đ ậm b ản sắc dân tộc. Về mặt này, Ai Cập là một ví dụ điển hình: Địa hình Ai Cập gần như đóng kín, phía Bắc và phía Đông giáp Địa Trung Hải và Hồ ng Hải, phía Tây bị bao bọc bởi sa mạc Sahara. Ở Ấn Độ thì hai mặt Đông Nam và Tây Nam đều tiếp giáp với Ấn Độ Dương, phía bắc án ngữ b ởi dãy Hymalaya (tức là xứ Tuyết) thành một vòng cung dài 2600km, trong đ ó có hơn 40 ngọn núi cao trên 7000m như những trụ trời. -3-
  4. 2 ) Cơ sở dân cư: Trên cơ sở nhữ ng điều kiện tự nhiên như vậy, cư dân ở p hương Đông ra đ ời sớm và phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, quá trình hình thành các cộng đồng dân cư ở p hương Đông diễn ra rất đa dạng và phức tạp. Cụ thể: - Ai Cập: Ở lưu vực sông Nile từ thờ i đồ đ á cũ đã có con người sinh số ng. người Ai Cập thời cổ là những thổ dân châu Phi, hình thành trên cơ sở hỗn hợp rất nhiều bộ lạc. Do đi lại săn bắn trên lục đ ịa, khi đến vùng thung lũng sông Nile, họ định cư ở đây phát triển nghề nông và nghề chăn nuôi từ rất sớm. Về sau, một chi củ a bộ tộc Hamites từ Tây Á xâm nhập vùng hạ lưu sông Nile, chinh phụ c thổ d ân người châu Phi ở đây. Trải qua quá trình hỗ n hợp lâu dài, người Hamites và thổ d ân đ ã đồng hóa với nhau, hình thành ra một tộ c người mới, đó là người Ai Cập. - Lưỡng Hà: Người Sumer từ thiên niên kỉ IV.TCN đ ã di cư tới đ ây và sáng lập ra nền văn minh đ ầu tiên ở lưu vực Lưỡ ng Hà, chung sống và đồ ng hóa với người Sumer. Ngoài ra còn rất nhiều bộ lạc thuộ c nhiều ngữ hệ khác nhau ở các vùng xung quanh di cư đến. Trải hàng ngàn năm, qua quá trình lao động, họ đã hòa nhập thành một cộ ng đ ồng dân cư ổ n định và xây dựng nên nền văn minh rực rỡ ở khu vực Tây Á. - Ấn Độ: Cư dân Ấn Độ đ a d ạng về tộ c người và ngôn ngữ. Có hai chủ ng tộ c chính là người Dravid a chủ yếu cư trú ở miền Nam, và người Aria cư trú ở miền Bắc. Ngoài ra còn có nhiều tộ c người khác như người Hy Lạp, Hung Nô, Arập cũng sinh số ng ở đây… - Trung Quố c: Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, từ xa xưa, vùng châu thổ Hoàng Hà đã là quê hương củ a các bộ tộc Hạ, Thương, Chu. Họ chính là tổ tiên củ a dân tộc Hán – người sáng tạo ra nền văn minh Hoa Hạ. Phía Tây và Tây Nam là nơi sinh số ng củ a các bộ tộc thuộ c ngữ hệ Hán – Tạng, Môn – Khmer Phía Bắc, Đông Bắc là nơi cư trú của các bộ tộ c thu ộc ngữ hệ Tungut. Con cháu củ a họ sau này là các dân tộc ít người như Mông Cổ (lập ra nhà Nguyên), Mãn (lập ra triều Mãn Thanh), Choang, Ngô, Nhĩ… các dân tộc trên đ ất này còn rất nhiều dân tộc khác sinh sống, cùng người Hán xây d ựng đ ất nước. 3 ) Cơ sở kinh tế: - Về kinh tế, các quố c gia cổ đ ại phương Đông ra đời ở thời kì mà sức sản xuất xã hộ i đang ở trình độ hết sức thấp kém. Với một trình độ sản xuất như vậ y không cho phép các quốc gia cổ đ ại phương Đông phát triển chế đ ộ chiếm hữu nô lệ củ a mình một cách thu ần thục và điển hình. - Sự p hát triển rất yếu ớt chế độ tư hữu ruộng đ ất và sự tồn tại dai dẳng nhữ ng tổ chức công xã nông thôn, tàn tích của xã hộ i thị tộ c nguyên thủ y có thể coi là những nguyên nhân gây nên tình trạng trì trệ, yếu kém của các nền văn minh cổ đại phương Đông. 4 ) Cơ sở chính trị-xã hội: -4-
  5. - Ở p hương Đông ra đời và tồn tại một hình thức nhà nước đ ặc thù, nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền mà mọi quyền lực đều ở trong tay nhà vua và một bộ máy quan lại cồng kềnh, quan liêu. - Các quốc gia cổ đ ại phương Đông đ ã duy trì lâu dài chế độ nô lệ gia trưởng và các hình thức áp bức bóc lột kiểu gia trưởng nên vai trò củ a nô lệ trong xã hộ i chưa nổi bật. Chính trên cơ sở như vậ y mà nền văn minh phương Đông ra đời và phát triển và cũng chính các yếu tố đó đã ảnh hưởng, chi phối tạo nên những nét đặc thù của nền văn minh p hương Đông. Vấn đề thứ 2 Trình độ sản xuất và chinh phục tự nhiên của các quốc gia phương Đông Trên cơ sở đ iều kiện tự nhiên thu ận lợi, cư dân phương Đông cổ đ ại đã sớm biết lợi dụ ng đ iều kiện tự nhiên đ ể sản xuất, chế tạo công cụ lao độ ng, chinh phục tự nhiên xây d ựng nhữ ng nền văn minh đ ầu tiên trên thế giới. - Muố n chinh phụ c được tự nhiên, con người phải có công cụ lao động, bởi công cụ lao độ ng là tiêu chí để đ ánh giá trình độ sản xuất của một xã hội. Ngay từ thờ i nguyên thủ y con người đã biết chế tạo công cụ lao độ ng, từ những công cụ thô sơ bằng đá, gốm đến những công cụ b ằng đồng, sắt… đ ã cho phép con người tạo ra một năng suất lao độ ng ngày càng cao. Người Ai Cập ngay từ thời Cổ vương quố c đã biết dùng cuố c bằng đá ho ặc b ằng gỗ đ ể trồ ng trọt, dùng liềm b ằng đá đ ể gặt lúa, dùng trâu bò đ ể đ ập lúa. Thời Trung vương quố c, người ta đ ã biết mở rộ ng các công trình thủ y lợ i thành một hệ thống rộ ng lớn vớ i nhiều công dụng khác nhau như điều tiết thủ y lượng, dẫn, tháo nước đ ể chống hạn và chống úng… người Ai Cập còn biết xây hồ Mơrit thành mộ t bể chứa nước lớn ăn thông với sông Nile, có khả năng cung cấp nước cho một vùng rộng lớn có thể gieo trông hai vụ trong năm. Ở Lưỡng Hà người ta đ ã xây dựng một hệ thống đê điều hoàn chỉnh gồ m đập nước, mương dẫn… như mạng nhện.Từ đ ầu thiên niên kỉ II, người Ấn Độ đã biết dùng lưỡi cày b ằng đ á để cày ru ộng.Còn ở Trung Quố c, thời Ân-Thương người ta dùng liềm bằng đá ho ặc vỏ ngao đ ể gặt lúa, dùng lưỡi cày bằng gỗ. Sang thời Xuân Thu, người ta đã biết dùng những công cụ b ằng sát, có nhữ ng lò luyện sắt có trên 300 công nhân. Những công cụ bằng kim lo ại đã cho phép con ngư ời nâng cao năng su ất lao độ ng. - Bên cạnh việc sáng tạo ra những công cụ lao động, cư dân cổ đ ại phương Đông cũng đ ã đ ạt một trình độ tổ chức sản xu ất tương đối cao. Do yêu cầu phải hợp sức với nhau để xây dựng các công trình thủ y lợi nên việc tổ chức sản xuất là mộ t công việc rất cần thiết để thố ng nhất kế hoạch, và tập trung sức sản xuất. Ở Ai Cập vào thời Tân vương quố c, sản xuất đ ã được chuyên môn hóa và được phân công tỉ mỉ. Có Thừa tướng là (Vidia) chịu trách nhiệm quan sát, điều hành sản xuất nông nghiệp trong toàn quốc. việc tổ chức điều hành sản xu ất trong toàn quố c có ý nghĩa sống càn đối với các quố c gia phương Đông cổ đại, bởi vì nền văn minh phương Đông chủ yếu hình thành trên -5-
  6. lưu vực củ a những con sông lớn. Nhà nước đã đứng ra huy độ ng sức người sứ c của để xây d ựng và bảo vệ các công trình thủ y lợi. - Các quố c gia cổ đại phương Đông cũng đ ã biết thuần dưỡng súc vật làm vật nuôi phụ c vụ sản xuất và cung cấp thực phẩm cho đời số ng hằng ngày. - Nhờ quan tâm đ ến sản xu ất nông nghiệp mà trình đ ộ tổ chức sản xuất của nhà nước và công xã nông thôn đ ược nâng cao đem lại hiệu quả đ áp ứng nhu cầu ngày càng cao của cư dân. Trong nhữ ng ngành thủ công nghiệp người ta cũng đã biết làm đồ gố m, đồ thủ y tinh, thu ộc da, d ệt …. ở Ấn Độ người ta đ ã biết làm đồ trang sức tinh xảo và chạm trổ trên đá. - Nhờ sản phẩm của nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển đã thúc đẩy việc giao lưu buôn bán với các nước. Từ chổ chỉ dùng vật trung gian để trao đổi, người ta đ ã biết chế ra tiền b ằng đồng và bằng vàng thuận tiện cho việc buôn bán. Việc mở rộng giao lưu buôn bán giữa các quố c gia đ ã tạo điều kiện đ ể giao lưu văn hóa và thúc đẩy sản xu ất làm cho xã hộ i phương Đông cổ đ ại phát triển ngày càng cao hơn. Vấn đề thứ 3 Sự ra đời của nhà nước và trình độ quản lý xã hội của các quốc gia phương Đông Nhà nước xu ất hiện lần đ ầu tiên trong lịch sử vào khoảng cuố i thiên niên kỉ IV - đầu thiên niên kỉ III.TCN. Những nhà nước cổ đại Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Qu ốc, Ấn Độ … là nhữ ng nơi có điều kiện thiên nhiên thuận lợi cho sự p hát triển kinh tế nông nghiệp, nơi mà quá trình p hân hóa xã hội, tập trung của cải tư hữu và đấu tranh giai cấp diễn ra sớm nhất. - Do nhu cầu chống chọi vớ i thiên nhiên và tổ chức sản xuất mà các nhà nước phương Đông đ ã ra đời. Vào nửa sau thiên niên kỉ IV. TCN, cư dân Lưỡng Hà đã bắt đ ầu xây dựng nhà nước củ a mình trên cơ sở chế độ chiếm hữu nô lệ. Mỗi thành thị kết hợp với vùng đất đai phụ cận hợp thành một quố c gia nhỏ . Đứng đầu mỗ i quố c gia là một ông vua gọi là Patesi. Patesi lúc đầu do quý tộc bầu ra, về sau trở thành cha truyền con nối. Patesi đ ại diện cho nhà nước chịu trách nhiệm trước Thần coi sóc các công trình thủ y lợi, quản lý kinh tế, chỉ huy đ ội quân. Ở Sumer, ngoài Patesi còn có hội nghị nhân dân và hội đ ồng bô lão. Các cơ quan này b ầu ra các quan chức củ a tòa án, và bộ máy hành chính cũng như có quyền tuyên chiến hay hòa hoãn. Ở Ai Cập, nhiều công xã nông thôn liên minh lại thành một liên minh công xã lớn hơn gọi là “nôm” (hay châu), về sau các châu đó hợp nhất lại và phát triển thành nhà nước Ai Cập. Châu là hình thức nhà nước phôi thai, đ ứng đ ầu châu là một “nômáccơ” vưa là thủ lĩnh quân sự, một thẩm phán và là mộ t tăng lữ tố i cao. Nômáccơ đước coi như một vị thần sống. Dần dần do nhu cầu thố ng nhất lại thành thượng và hạ Ai Cập, đến cuối thiên niên kỉ IV.TCN thố ng nhất lại thành quố c gia Ai Cập. Ở Ấn Độ, người Arian ở vùng Tây Bắc đã liên hiệp các bộ lạc lại thành liên minh bộ lạc. Đứng đầu các liên minh bộ lạc có vua (Radjah) mà thực chất là tù trưởng hay thủ lĩnh quân sự, quyền lực chủ yếu vẫn thuộ c về đại hội các thành viên nam giới củ a bộ lạc. Về sau Radjah tập trung quyền lực vào trong tay mình và truyền ngôi cho con cháu. Xung quanh nhà vua có đội ngũ quan lại lo các công việc như chỉ huy quân đội, thu thuế, tế lễ, thủ y lợi… Đến vương triều -6-
  7. Môria (321-184.TCN), bộ máy nhà nước của Ấn Độ cổ đại tương đối hoàn chỉnh có nhữ ng đặc trương của một bộ máy nhà nước chuyên chế phương Đông. Vua được tôn sùng như mộ t vị thần số ng và được coi như người đại diện cho thần. Dưới nhà vua là hội đồng cơ mật “Parisát” gồm đại biểu của nhữ ng gia đình quý tộ c tiếng tăm nhất. Trong b ộ máy nhà nước cồng kềnh, đ ứng đ ầu là các thừa Tướng cùng nhiều chức thượ ng thư trông coi các b ộ. Đơn vị hành chính cơ sở ở đ ịa phương là làng. Ấn Độ đ ược chia thành nhiều khu vực hành chính lớn nhỏ khac nhau, đ ứng đầu các khu vực hành chính đó là những người trong hoàng tộ c hoặc cận thần được nhà vua tin cẩn. Nhà vua cũng có một độ i quân hùng hậu gồ m đủ các binh chủng như bộ b inh, kị binh, tượng binh… Ở Trung Quốc bộ máy nhà nước cũng tiêu biểu cho kiểu nhà nước chuyên chế phương Đông. Nhà Hạ mở đ ầu cho nhà nước chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc. Đứng đầu nhà nước là nhà vua, dưới là “lụ c khanh” (6 chức tướng) giúp vua cai trị đ ất nước. Nhưng nhà nước hoàn chỉnh nhất là vào thời Tây Chu. Vua được coi là thiên tử (con trời), dưới vua là tầng lớp quý tộ c quan lại phụ trách các công việc hành chính, quân độ i, nông nghiệp… Vua và tước hiệu quý tộ c được truyền lại cho con cháu. Như vậy, ở phương Đông cổ đ ại đã xuất hiện và tồn tại một hình thức nhà nước đặc b iệt.Nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, còn gọ i là chủ nghĩa chuyên chế p hương Đông. Đặc trưng củ a kiểu nhà nước này là quyền lực vô hạn của nhà vua về thần dân và ruộ ng đất. Nhà vua đã cùng với bộ máy quan lại tổ chức quản lí xã hộ i tương đ ối chặt chẽ từ trung ương đ ến đ ịa phương, trong đó hình pháp được đề cao. Việc xu ất hiện nhà nước và trình độ tổ chức qu ản lí xã hộ i ở phương Đông cổ đ ại đã góp p hần xây dựng nên những nền văn minh rực rỡ ở khu vực này. Vấn đề thứ 4 Những đặc điểm của văn minh phương Đông Văn minh phương Đông rất rộ ng lớn về quy mô, lãnh thổ, rất đa d ạng về màu sắc và có sự tồ n tại rất lâu dài về mặt lịch sử. Khái quát cho đúng, cho hết những đ ặc điểm của văn minh p hương Đông quả là mộ t công việc không hề đ ơn giản, nếu không nói là hết sức khó khăn. Đây là vấn đ ề phức tạp và còn phải nghiên cứu nhiều. Ở đây chúng tôi mới chỉ tập hợp và nêu lên một số nhận xét bước đ ầu. 1. Văn minh phương Đông mang đậ m tính chất văn minh nông nghiệp, văn minh sông nước. Tính chất nông nghiệp, sông nước là đặc điểm nổi bật nhất, là bản sắc dễ thấy nhấ t của văn minh phương Đông. Đặc điểm này thu ộc về lo ại hình văn minh: Văn minh p hương Đông chủ yếu là văn m inh gố c nông nghiệp, trong khi văn minh p hương Tây chủ yếu thuộc lo ại hình gốc du mục và thương nghiệp. Tất nhiên nói như thế không có nghĩa là trong văn minh phương Đông không có các yếu tố du mục và thương nghiệp nhưng nhìn một cách tổng thể thì tính chất nông nghiệp, tính sông nước là nét chủ đạo. -7-
  8. a) Điều kiện đ ịa lí tự nhiên của các quố c gia phương Đông nói chung đ ều thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp. Biểu hiện rõ nhất củ a các điều kiện này là sự có mặt của nhữ ng con sông lớn: Sông Nile ở Bắc Phi; sông Tigrơ, sông Ơphơrat ở Tây Á; sông Ấn (Hindus), sông Hằng (Gangga) ở Ấn Độ; sông Hoàng Hà, sông Dương T ử (Trường Giang) ở Trung Quố c; sông Mekong ở b án đ ảo Trung - Ấn, sông Menam ở Thái Lan, sông Hồng ở Trung Quố c, Việt Nam, v.v. Lưu vực các con sông này tạo ra những đồng b ằng rộ ng lớn, vựa lúa của phương Đông và thế giới. Và cũng chính từ các dòng sông ấ y đã xu ất hiện các nhà nước cổ đại – các nền văn minh phương Đông. Rõ ràng không phải ngẫu nhiên mà người ta lại đưa ra các cụm từ như “văn minh sông Nile”, “văn minh sông Hoàng Hà, Trường Giang”, “văn minh sông Ấn-sông Hằng”, v.v. Có thể nói, ngay từ đ ầu, văn minh phương Đông đ ã là văn minh nông nghiệp. Và đ ặc điểm này “đeo đuổ i” văn minh phương Đông cho đ ến tận ngày nay. Như vậy rõ ràng là sả n xuấ t nông nghiệp gắn chặt với các quố c gia phương Đông, và đó là cơ sở tạo ra tính chất nông nghiệp - sông nước của văn minh phương Đông. b ) Tính chất nông nghiệp – sông nước được th ể hiện ở rấ t nhiều bình diện văn minh và là sợi chỉ đỏ xuyên suố t quá trình phát triển của các nền văn minh phương Đông. Những biểu hiện của tính chất nông nghiệp -sông nước của văn minh phương Đông rất đa d ạng. Có thể nêu ra ở đây mộ t vài ví dụ . Trước hết xin nói về văn hoá vậ t chấ t liên quan đ ến những nhu cầu thiết yếu nhấ t của con ngư ời, đó là ăn, mặ c, ở, đi lại. Nguồ n lương thực chính củ a người phương Đông chủ yếu là lúa gạo và các loại ngũ cố c do nền sản xuất nông nghiệp tạo ra. Người phương Đông thường ăn cơm vớ i các loại thực p hẩm mang tính tự cung tự cấp như rau, cá và một số lo ại thịt gia cầm. Các lo ại gia vị, hương liệu như ớt, tiêu, rau thơm, cari, v.v. vốn là sản phẩm củ a sản xuất nông nghiệp cũng được dùng phổ b iến ở nhiều nơi. Cách ăn mặc của cư d ân phương Đông cũng phù hợp với công việc sản xuất nông nghiệp: Nói chung mặc ấm về mùa lạnh (ho ặc ở xứ lạnh) và mát mẻ về mùa nóng (ho ặc ở xứ nóng); mặc gọn gàng, tiện lợi (khố, váy, v.v.). Nói chung, trừ mộ t số khu vực dân cư theo loại hình kinh tế du mục nên ở lều di động, đa số cư dân còn lại sống trong mộ t ngôi nhà cố đ ịnh. Đó có thể là nhà “nửa nổi nửa chìm”, tức là đ ào sâu xuố ng lòng đ ất mộ t chút, hoặc là ngôi nhà sàn tiện lợ i về mọ i mặt. Trong số các phương tiện đi lại thì thuyền phổ biến ở nhiều nơi, và hình thức di chuyển này ở phương Đông rõ ràng trước hết gắn với sông nước, sau đó mới đến yếu tố thương mại. Tính chất nông nghiệp của văn minh phương Đông còn được biểu hiện ở các tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá dân gian rất độ c đáo của cư dân phương Đông . Có thể nói bao trùm lên đời số ng cư dân nông nghiệp phương Đông là niềm tin tín ngưỡng và các sinh ho ạt văn hoá dân gian như lễ hộ i... Tín ngưỡng là cội nguồn của lễ hội. Lễ hội vừa là d ịp tiến hành các nghi lễ có tính ma thuật đ ể cầu xin thần linh giúp đỡ, xua đuổi tà ma, vừa là dịp đ ể người dân vui chơi giải trí. Trong số các lo ại tín ngưỡng tồn tại ở phương Đông, phổ biến nhất là tín ngưỡng sùng bái tự nhiên. Điều này hoàn toàn có cơ sở bởi sản xuất nông nghiệp, nhất là nông nghiệp ở thời kì -8-
  9. sơ khai khi khoa họ c kĩ thuật chưa phát triển, gần như tất cả đều phụ thuộ c vào thiên nhiên, vào ý Trời. Vì vậ y, ở khắp nơi, từ Đông Bắc Phi-Tây Á đ ến lưu vực sông Hoàng Hà rộng lớn v.v. đâu đâu người ta cũng thờ cúng các vị Thần liên quan đến sản xuất nông nghiệp như Thần Mặt trời, Thần Đất, Thần Nước, Thần Lúa, Thần Gió, Thần Sông... Gắn liền với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là hàng lo ạt các lễ hộ i nông nghiệp như lễ hội té nước, lễ hộ i cầu mưa, cầu nắng, hội đua thuyền, lễ tịch điền, lễ hội mừng được mùa... Nông nghiệp gắn liền vớ i nông thôn. Tính chất nông nghiệp củ a phương Đông được nảy sinh, nuôi dưỡng và phát triển trong một mô hình xã hộ i đặc biệt: mô hình làng xã. Các công xã nông thôn, theo cách nói của K. Marx, có ảnh hưở ng rất sâu đậm đến đ ời số ng của cư dân nông nghiệp phương Đông. 2. Văn minh phương Đông nặng về tính cộng đồng Trong sản xu ất nông nghiệp, các gia đình nông dân cùng canh tác trên một cánh đ ồng, ruộng đ ất nhà này tiếp giáp ruộng đ ất nhà kia. Để có được năng suất, những ngườ i nông dân trong làng không thể không liên kết với nhau. Chỉ có đoàn kết con ngườ i mới chống được thiên tai. Muốn chống hạn, diệt sâu bọ ,... cũng cần sức mạnh của cả làng. Môi trường canh tác mang tính tập thể như thế chính là cơ sở để nảy sinh tính cộng đồng. Đặc trưng này của văn minh p hương Đông khiến mỗi người khi hành độ ng luôn luôn phải nghĩ đến cộ ng đồ ng, đ ến tập thể, xã hội. Trong làng, người dân thườ ng tránh những việc làm p hương hại đ ến tập thể. Từ đ ây nảy sinh quan điểm sống vì tập thể. Vì tập thể, người ta sẵn sàng hi sinh lợ i ích cá nhân. Cũng vì thế mà người phương Đông thường đề cao ngh ĩa vụ, trách nhiệm (trong khi phương Tây thì coi trọ ng quyền lợi). Qu ả thực, trong việc chố ng chọi với thiên tai, đ ịch ho ạ, nếu không có tinh thần trách nhiệm được đ ề lên thành nghĩa vụ thì không thể có được chiến thắng. Từ tính cộng đồ ng, từ sự đùm bọ c làng xã, sau này truyền thống tố t đẹp ấy phát triển thành tinh thần dân tộ c và chủ nghĩa yêu nước phương Đông. Nếu so sánh với văn hoá phương Tây thì cũng thấy mộ t sự khác biệt nhất đ ịnh. Có thể nói, trong quan hệ ứ ng xử, phương Tây thiên về cá th ể, trọng lí. Điều này có điểm mạnh là phát huy cao độ sức sáng tạo cá nhân, tránh được sự dựa dẫm, ỷ lại. Cũng có người cho rằng, ở p hương Đông, tâm thức duy cộng đồng luôn luôn chiếm ưu thế đối với tâm thức duy cá nhân. 3. Hoà đồ ng, thuận tự nhiên Đặc điểm hoà đồng, thuận tự nhiên củ a văn minh phương Đông thường được đặt trong sự so sánh với đặc điểm chinh phục tự nhiên của văn hoá phương Tây. Văn hoá phương Tây thiên về giải thích, cải tạo thế giới. Tất nhiên nói như trên không có nghĩa là đố i lập tuyệt đố i giữa văn minh p hương Đông và văn m inh p hương Tây trong vấn đề đối xử vớ i môi trường tự nhiên. Thái độ hoà đồ ng vớ i tự nhiên của văn minh phương Đông đ ã đ ược hình thành từ rất lâu và định hình trên cơ sở củ a những quan niệm về con người trong các học thuyết phương Đông. Theo nhiều tác giả, con người trong quan niệm của tất cả các tôn giáo phương Đông và trong hầu hết các họ c thuyết triết họ c phương Đông truyền thống đ ều không đố i lập với giới tự nhiên. -9-
  10. Nó luôn luôn được coi là một thành tố, một bộ phận của giới tự nhiên. Có thể cắt nghĩa đ ặc điểm hoà đồ ng, thuận tự nhiên bằng cơ sở kinh tế – xã hộ i củ a p hương Đông. Trước hết có thể giải thích b ằng n ền sản xuất nông nghiệp. Như đ ã nói ở trên, sản xu ất nông nghiệp phụ thuộ c rất nhiều vào thiên nhiên. Bởi vậy từ trong tâm khảm củ a ngườ i dân, tự nhiên là đ ấng tối cao. Sản xuất nông nghiệp chỉ có thể đ ạt hiệu qu ả khi thuận theo tự nhiên. Một trong nhữ ng biểu hiện củ a sự thuận theo ấy là tính thời vụ. Có thể nói, kinh nghiệm sống, nói cụ thể hơn là kinh nghiệm sản xuất, đ ã khiến cư dân nông nghiệp phương Đông phải hành động thuận theo tự nhiên. Trái ý tự nhiên, trái ý Trời sẽ bị trả giá. Không còn cách nào khác, Nhật Bản vẫn phải “số ng chung với độ ng đ ất”, Indonesia phải “số ng chung với núi lửa”, Philippines phải “số ng chung với bão” còn đồ ng bằng sông Cửu Long của Việt Nam thì phải chấp nhận “sống chung với lũ” như là một lẽ tự nhiên. Một lí do khác nữa cắt nghĩa cho đặc điểm hoà đồng, thu ận tự nhiên là ở tổ chức của xã hội truyền thống phương Đông, đó là xã hộ i nông nghiệp với chế độ công xã nông thôn. Chế độ này, như đã nói, mang lại cho mỗi đơn vị nhỏ bé (làng xã) một cuộc số ng cô lập, tách biệt. Công xã tổ chức theo lố i gia đ ình tự cấp, tự túc. Con người bị trói buộ c bởi nhữ ng quy tắc truyền thố ng, do đó hạn ch ế sự phát triển của lí trí, từ đó rất d ễ trở thành nô lệ của những điều mê tín dị đoan . Những công xã nông thôn phương Đông, do vậy, hạn chế con người ở việc chủ yếu phụ c tùng những hoàn cảnh bên ngoài, phục tùng tự nhiên chứ không có ý thứ c và năng lự c làm chủ hoàn cảnh, chinh phụ c tự nhiên. Đây cũng chính là lí do để chế độ chuyên chế p hương Đông tồn tại và phát triển. 4. Văn minh phương Đông hướng nội và khép kín Cuộc sống nông nghiệp luôn luôn cần một sự ổ n đ ịnh. Người dân thường rất sợ nhữ ng đ iều xảy ra bất thườ ng. Lố i sống hài hoà với tự nhiên, tình cảm với mọ i người, suy cho cùng, cũng là nhằm đ ạt tới sự ổn định. Từ đây xu ất hiện phương thức sống h ướng nộ i và khép kín. Sống trong các công xã nông thôn cô lập, tách biệt, xét ở mộ t góc độ nào đó, tính tự trị đồng ngh ĩa với hướng nộ i và khép kín. Trong xã hội phong kiến, mô hình làng xã “kín cổ ng cao tường” cùng với những thiết chế xã hộ i ngặt nghèo của nó càng làm cho “tầm nhìn” củ a cư d ân nông nghiệp không vượt khỏi “lũy tre làng”. Nền nông nghiệp tự cấp tự túc chỉ tạo ra được những sản phẩm vừa đủ để lưu thông trong p hạm vi “chợ làng”, không trở thành hàng hoá thương nghiệp củ a nền kinh tế thị trường kiểu p hương Tây. Đó cũ ng là hướng nộ i, khép kín. Lố i số ng hướng nội và khép kín không thể tạo ra sự phát triển đ ột biến. Có lẽ đây cũng là một trong nhiều nguyên nhân làm cho chế độ phong kiến phương Đông kéo dài sự trì trệ nhiều thế kỉ. Trái với phương Đông, phương Tây h ướng ngoại và cởi mở. Điều này cũng dễ hiểu. Ở đó n ền kinh tế thương mạ i và du mụ c buộc ngườ i ta phải năng đ ộng, phải đi tìm thị trường ở bên ngoài và mở rộng quan hệ. - 10 -
  11. Vấn đề thứ 5 Lịch sử hình thành các nền văn minh phương Đông 1. Phương Đông là nơi có điều kiện tự nhiên phong phú và đa dạng. Vì vậy, ngay từ khi có xã hộ i loài người, nơi đây đ ã từng là khu vực sinh tồn của b ầy ngườ i nguyên thu ỷ. Rồi theo sự p hát triển của lịch sử, ở p hương Đông dần dần xu ất hiện công xã thị tộc, bộ lạc và sau đó là các nhà nước. Ngày nay các nhà khoa họ c đã khẳng định mộ t cách chắc chắn rằng p hương Đông là nơi xuấ t hiện những nhà nước chiếm hữu nô lệ tối cổ. Các nhà nước ấy chính là các nền văn minh. Người ta thường nói đ ến bốn nền văn minh Phương Đông: Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quố c. Và có một nét đặc biệt là những nhà nước gắn liền vớ i các nền văn minh phương Đông thường xuất hiện trên lưu vực những dòng sông lớn từ b ờ b iển phía đông Địa Trung Hải đ ến bờ biển Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương: Lưu vực sông Nin ở Ai Cập; lưu vực Lưỡng Hà tạo bởi sông Tigrơ (Tigre) và Ơphơrat (Euphrate) cùng chảy ra vịnh Persi; lưu vực đồ ng b ằng Bắc Ấn Độ tạo bởi sông Ấn (Hindus) và sông Hằng (Gangga); và lưu vực hai con sông lớn Hoàng Hà và Dương Tử (Trường Giang) tạo ra vùng đồng b ằng Ho a Bắc và Hoa Trung màu mỡ. Phân lập các lưu vực rộ ng lớn nói trên là nhữ ng hệ thống núi non trùng điệp và nhữ ng sa mạc mênh mông: sa mạc Arập ở đông Ai Cập, dãy núi Zagrôt ở p hía đông Lưỡng Hà, dãy Himalaya và cao nguyên Pamir ở b ắc và đông bắc Ấn Độ, rồi vùng sa mạc Nội Mông, Ngo ại Mông ở Bắc và Tây Bắc Trung Hoa. Địa thế hiểm trở cùng với nhữ ng phương tiện giao thông hết sức hạn chế thời đó đ ã làm cho các nền văn minh cổ đại phương Đông xuất hiện và phát triển một cách tương đối độc lập, vì vậy mỗi nền văn minh có tính chất độc đáo riêng và mang dấu ấn dân tộ c đậ m đà. Nói chung, các lưu vực sông ở p hương Đông nói trên đ ều tạo thành nhữ ng đồng b ằng rộ ng lớn và phì nhiêu, rất phù hợp với sự phát triển củ a nông nghiệp. Ở đ ây, điều kiện tự nhiên thuận lợi: thu ỷ lượ ng cao, khí hậu ấm áp, đất đai màu mỡ, dễ canh tác. Chính vì vậ y cư dân các khu vực nói trên đã sớm gắn bó với việc sản xu ất nông nghiệp, nhất là nghề trồng lúa nước. Bên cạnh trồng trọt, các gia đ ình còn chăn nuôi gia súc và gia cầm, một số làm các nghề thủ công như sản xuất nông cụ, dệt vải, làm đồ gốm, v.v. Tuy nhiên nghề thủ công phương Đông chỉ có tính chất bổ trợ cho nền kinh tế khép kín của làng xã, không phát triển thành kinh tế hàng hoá thị trường. Như vậ y là kinh tế nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo củ a các quố c gia p hương Đông. 2. Phương Đông bước vào xã hộ i chiếm hữu nô lệ – xã hộ i có giai cấp đ ầu tiên trong lịch sử p hát triển của nhân loại – tương đố i sớm. Điều này cũng dễ hiểu. Như trên đã nói, nông nghiệp ở phương Đông ra đời sớm và giữ vai trò chủ đạo. Khi nông nghiệp phát triển thì tổ chức xã hội cũng phát triển, d ẫn đến việc xã hộ i sớm phân hoá thành giai cấp và hệ quả là nhà nước sớm ra đời. Thời gian xu ất hiện nhà nước phương Đông cổ đại sớm nhất (dưới hình thức nhà nước chiếm hữu nô lệ) là vào khoảng thế kỉ thứ IV TCN. Dĩ nhiên các nhà nước chiếm hữu nô lệ không ra đ ời cùng mộ t lúc và cũng không chấm dứt cùng mộ t lúc. Ra đời sớm nhất là nhà nước chiếm hữu nô lệ ở Ai Cập và Lưỡng Hà (thế kỉ thứ IV TCN), sau đó mới đ ến các nhà - 11 -
  12. nước ở khu vực sông Ấn, sông Hằng và Hoàng Hà, Dương Tử (thế kỉ thứ III TCN). Về sự “lụi tàn” củ a các nhà nước chiếm hữu nô lệ phương Đông cũng tương tự. Nếu như đế quố c Ba Tư ở vùng Trung Cận Đông sụp đổ ngay từ thế kỉ thứ IV TCN thì nhà nước cổ đại Ấn Độ còn kéo d ài mãi đến tận những thế kỉ đ ầu công nguyên. Các nhà nước cổ đại phương Đông không chỉ có nhữ ng đặc trưng chung của mộ t xã hội chiếm hữu nô lệ mà còn có những đặ c điểm riêng mang màu sắ c phương Đông, như sau. - Do các quố c gia cổ đ ại phương Đông ra đ ời ở thời kì mà sức sản xuất xã hộ i đang còn ở trình độ thấp kém, tức là ở giai đoạn cuối củ a thời đại đồ đ á mới, nên xã hội chiếm hữu nô lệ không thể phát triển nhanh chóng, khiến các quốc gia đó, nói chung, không trở thành những xã hội chiếm hữu nô lệ phát triển thành thục và điển hình. - Sự tồ n tại dai dẳng và ngoan cố củ a các tổ chức công xã nông thôn, tàn tích của xã hội thị tộ c thời nguyên thu ỷ, và sự phát triển rất yếu ớt của chế độ tư hữu về ruộng đất trong các xã hội cổ đ ại phương Đông. - Sự b ảo tồ n lâu dài củ a chế độ nô lệ gia trưởng và củ a các hình thức áp bức, bóc lột kiểu gia trưởng, việc sử dụ ng lao độ ng của nô lệ chưa được phổ cập trong các ngành sản xu ất xã hội và vai trò của nô lệ trong sản xuất kinh tế chưa chiếm vị trí chủ đ ạo. Nô lệ phương Đông không phải là lực lượng chính làm ra củ a cải vật chất. Tuyệt đại đa số nô lệ được sử dụng đ ể hầu hạ, phục dịch trong các gia đ ình quan lại, chủ nô quyền quý. Điều này cũng dễ hiểu bởi ở các quố c gia nông nghiệp phương Đông, nhà nước bóc lột nông dân là chính, bằng chế đ ộ lao d ịch, thu ế khoá. - Sự xuất hiện và phát triển mạnh của một hình thức tổ chức nhà nước đặc biệt - nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền – gọi là chủ nghĩa chuyên ch ế phương Đông. Các quố c gia phương Đông sở dĩ thiết lập được thiết chế chính trị này b ởi vua các nước đó nắm đ ược quyền sở hữu tối cao về ruộng đ ất và về thần dân trong cả nước. Có thể nói khắp dưới gầm trời không đâu không phải đất nhà vua, khắp dưới mặt đất không đâu không phải thần dân của nhà vua. Do nắm được tư liệu sản xu ất là toàn bộ ruộng đ ất nên các nhà vua đã dùng nó đ ể ràng buộc các thần dân và nắm trọn quyền chính trị. Một lí do nữa về sự tồn tại của nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền là yêu cầu củ a việc trị thu ỷ, đắp đê phòng lụt, bảo vệ mùa màng. Nhu cầu này đòi hỏ i phải tập trung quyền lực vào trung ương để có thể huy động được sức người sức của, nhân tài vật lực. Ngoài ra các nhà nước chiếm hữu nô lệ phương Đông còn phải tiến hành các cuộ c chiến tranh để mở rộng bờ cõi hoặc b ảo vệ lãnh thổ củ a mình, do đó cũng cần phải tập trung quyền lực vào tay trung ương để huy độ ng lực lượng vật chất và tinh thần. Tóm lại, với bộ máy bạo lực to lớn, với việc đ ề cao đến mức thần thánh hoá nhà vua, các nhà nước chiếm hữu nô lệ phương Đông đã phục vụ đ ắc lực cho giai cấp chủ nô, bảo vệ quyền lợi và tài sản củ a giai cấp thố ng trị, đàn áp những cuộ c khởi nghĩa của nông dân, giữ vững đ ịa vị thống trị của chủ nô. Tuy nhiên cũng cần nhấn mạnh rằng các nhà nư ớc chiếm hữu nô lệ phương Đông đã làm nòng cố t cho nhân dân xây dựng, phát triển được những n ền văn hoá đa dạng, độ c đáo, với nhiều thành tựu rự c rỡ về chữ viết, văn họ c nghệ thuậ t, khoa họ c tự nhiên, triết học, v.v. và hàng loạ t những công trình văn hoá vật chất đồ sộ vẫn sống mãi với th ời gian. Nh ững thành tựu văn hoá rự c rỡ ấy đã làm cho các quố c gia cổ đạ i phương Đông trở thành - 12 -
  13. những trung tâm của các n ền văn minh thế giới cổ đạ i. 3. Vào nhữ ng năm cu ối cùng TCN hoặc những năm đ ầu công nguyên, nhìn chung các quố c gia phương Đông đ ều kết thúc chế độ nô lệ và lần lượt chuyển sang xã hộ i phong kiến. Vào thời kì trung đại, nền kinh tế chủ yếu của các nhà nước phong kiến phương Đông vẫn là nền kinh tế nông nghiệp, tự cung tự cấp. Trong xã hộ i phong kiến, giai cấp phong kiến quý tộ c và sau này thêm tầng lớp đ ịa chủ, là giai cấp nắm tư liệu sản xu ất, nắm ruộ ng đất nên là giai cấp thố ng trị. Giai cấp bị trị là nông dân. Ở phương Đông, khi kinh tế p hong kiến là điền trang thái ấp thì nông dân chịu thân phận nông nô còn khi kinh tế phong kiến chuyển sang hình thức đ ịa chủ thì nông dân trở thành tá điền. Trong các nhà nước phong kiến phương Đông, nhà nước phong kiến Trung Hoa là một đ iển hình. Đặc trưng của kiểu nhà nước này là có mộ t chính th ể quân chủ chuyên ch ế tập quyền cao độ , hoàn hảo . Dưới chế độ phong kiến, vua là người nắm trong tay toàn bộ quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Vua được mệnh danh là Thiên tử. Và bộ máy nhà nước do vua đ ứng đ ầu có một uy quyền vô cùng to lớn. Trong lịch sử, chế độ phong kiến phương Đông tồn tại dai d ẳng: khoảng 20 thế kỉ (tính từ đ ầu công nguyên đến những năm đ ầu của thế kỉ XX). Thời điểm b ắt đầu suy thoái củ a củ a các nhà nước phong kiến phương Đông có thể tính từ thế kỉ XVI-XVII trở đi. Vào thời điểm đó, giai cấp phong kiến phương Đông trở nên phản động, kìm hãm sự phát triển của đ ất nước. Các nhà nước phong kiến phương Đông vẫn duy trì tình trạng kinh tế tự cung tự cấp, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bóp chết những mầm mống của nền kinh tế hàng hoá và những quan hệ sản xuất mới - quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Hơn nữa các nhà nước còn thi hành chính sách bế quan to ả cảng, đóng cửa, không giao lưu với thế giới bên ngoài. Trong khi đó thì cũng đúng vào thời điểm ấy, các nước phương Tây tiến hành cách mạng tư sản, xác lập chủ nghĩa tư b ản và tiến hành xâm lược các nước nhằm mở rộng thị trường mà đ ối tượng được chúng “để mắt đến” chính là các quố c gia phương Đông. Khi cu ộc chiến tranh xâm lược của phương Tây nổ ra, giai cấp phong kiến phương Đông nói chung đ ều nhân nhượng, tho ả hiệp và đầu hàng. Do vậy từ thế kỉ XVI đ ến XIX, trừ Nhật Bản, tất cả các nước phương Đông đ ều bị b iến thành nước nửa thu ộc địa hoặc thuộc địa củ a các nước tư b ản phương Tây. Nhìn chung, trong chế độ phong kiến, các n ền văn minh phương Đông vẫn toả sáng. Nh ững “chiếc nôi” văn hoá cổ đạ i phương Đông vẫn có sức lan toả mạnh mẽ ra các khu vực xung quanh: Nhiều yếu tố văn minh Ấn Độ được truyền bá sang Đông Nam Á, Tây Tạng, Bắc Á, Đông Bắc Á và các khu vực khác trên thế giới; văn minh Trung Quố c, đặc biệt là Nho giáo, có ảnh hưở ng mạnh mẽ đ ến Nhật Bản, Korea, Việt Nam và các nước khác; Văn hoá Ai Cập-Lưỡng Hà mặc dù tồn tại không lâu song nhữ ng thành tựu củ a nó không chỉ có ảnh hưởng trong khu vực mà còn toả sáng ra các khu vực khác của thế giớ i, v.v. Cùng với sự lan toả củ a các nền văn hoá cổ đại là sự xuất hiện của các nền văn hoá mới như Arập, Nhật Bản, Korea, v.v. Bức tranh văn minh phương Đông, do vậy càng phong phú, đa d ạng, nhiều sắc vẻ. Thêm nữa, vừa đấu tranh chống lại sự đô hộ củ a chủ nghĩa tư b ản phương Tây, các dân tộc phương Đông vừa tiếp thu những yếu tố văn minh mới, tiến bộ từ phương Tây đ ể làm giàu cho văn - 13 -
  14. minh của dân tộc mình. Văn minh phương Đông từ đây càng ngày càng p hát triển đa d ạng và p hong phu. Vấn đề thứ 6 Những hạn chế của nề văn minh phương Đông Văn m inh p hương Đông, như đã nói ở trên ở trên, có nhiều thành tựu vĩ đại. Tuy nhiên văn m inh phương Đông không phải không có những hạn chế nhất đ ịnh.Các hạn chế của văn minh p hương Đông, suy cho cùng, chủ yếu do đời số ng nông nghiệp chi phối. 1 .Văn minh gốc nông nghiệp mang tính làng xã của phương Đông đã tạo ra những hạn ch ế. Nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp với tính tự trị làng xã buộ c mỗ i cá nhân, mỗi gia đình p hải tự làm ăn, tự lo liệu cuộc sống củ a mình. Do khoa học kĩ thu ật chưa phát triển, sản xu ất p hụ thuộc vào thiên nhiên nên người dân thường chỉ đ ủ ăn, đủ mặc. Đó là cơ sở tạo ra tính tư hữu, tính ích kỉ, gắn với nó là tâm lí sợ người khác hơn mình. Họ d ễ bì tị, đố kị với nhữ ng người giàu có, với những người có cuộc số ng dư dả hơn mình. Hơn nữa tính cộ ng đ ồng làng xã lại có mặt trái là d ễ tạo ra thứ chủ nghĩa tập thể bình quân, lố i sống ỷ lại, d ựa d ẫm, cam phận trong cái tôi nhỏ b é củ a mình, làm cản trở tính sáng tạo của mỗi cá nhân. Chính vì lố i sống ấ y mà ý thức cá nhân trong mỗi con người không phát huy mạnh mẽ đ ể trở thành ý thức sáng tạo. Người ta không nghĩ hay không dám hướng đến một cung cách làm ăn khác hơn để cải tiến cuộ c số ng đơn sơ, thiếu thốn củ a mình, và cam chịu, chấp nhận nó như một điều tất yếu. Họ b ằng lòng với cuộ c sống theo cách thức sản xuất mà ông cha đ ể lại, không dám đi xa, mạo hiểm vì cả đời chỉ quen với làng xã và mảnh ruộ ng cỏn con củ a mình. Thêm nữa lố i sống nông nghiệp còn tạo ra cho người nông dân tính cách lề mề, tuỳ tiện và sự yếu kém về tính tổ chứ c. Nền sản xuất nông nghiệp vốn ít có những đòi hỏi khắt khe về thờ i gian, người ta không phải lo cạnh tranh gay gắt, không bị ai thúc ép. Vì thế nên khi bước vào xã hộ i hiện đ ại vớ i yêu cầu p hát triển công nghiệp thì tính cách tu ỳ tiện, thiếu kỉ lu ật, thiếu tính tổ chức mới bộ c lộ tất cả nhữ ng yếu kém của nó. Đó là mặt hạn chế cơ bản của con người nông nghiệp phương Đông trong sự so sánh với con người phương Tây vốn quen tác phong nhanh nhẹn, chính xác và làm việc hết mình. Tư tưởng cục bộ địa phương cũng là một hạn chế của con người nông nghiệp quen số ng trong cộng đồng làng xã mình mà ít mở rộng hiểu biết, giao tiếp ở p hạm vi rộ ng hơn, xa hơn. Tâm lí “ngườ i cùng làng” trong phạm vi cộng đồng có thể dễ đố kị nhau nhưng khi ra ngoài làng thì họ lại bênh vực cho những người cùng làng xã mình, hay có thể từ một việc va chạm nhỏ nhưng nếu động đ ến làng thì cả làng sẵn sàng kéo nhau ra bảo vệ làng mình mộ t cách cực đoan bất kể tốt, xấu, phải, trái. 2. Như đã phân tích ở trên, xã hội nông nghiệp với chế độ công xã nông thôn cô lập, tách b iệt, cộng với những xiềng xích nô lệ củ a các quy tắc hà khắc cổ truyền “đ ã làm hạn chế lí trí của con người trong những khuôn khổ chật hẹp và trở thành công cụ ngoan ngoãn của mê tín. Những công xã này chủ yếu làm cho con ngư ời phụ c tùng những hoàn cảnh bên ngoài chứ - 14 -
  15. không nâng con ngư ời lên đ ịa vị làm chủ những hoàn cảnh ấy”. Xã hộ i phương Đông, vì vậ y, mang tính chất thụ động, quân bình, ít thay đổ i. Tình trạng tĩnh tại, trì trệ của xã hội phương Đông kéo dài đến tận mươi năm đầu củ a thế kỉ XIX. Và đó chính là cơ sở để chế độ chuyên ch ế phương Đông tồn tạ i quá dai dẳng, làm cản trở sự phát triển của xã hội. Lối tư duy thiên về trự c giác của phương Đông, ít óc duy lí, phân tích, mổ xẻ cũng phần nào làm cho khoa họ c kĩ thuật không phát triển mạnh được như phương Tây. Nhữ ng phát kiến về khoa họ c – kĩ thuật của phương Đông trước đây chủ yếu gắn với sản xuất, nảy sinh từ sản xuất.Trên một ý nghĩa nào đấy, đó cũng là mộ t hạn chế của văn m inh p hương Đông. 3 Phương Đông đã có những tấm gương sáng về sự p hát triển vượt trộ i: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore,... Trong số nhữ ng bài học có thể rút ra được từ các quốc gia nói trên có bài học về giữ gìn bản sắc ưu việt của văn hoá truyền thống, loạ i bỏ những yếu tố văn hoá lạc hậu, lỗ i thời, hạn ch ế do n ền sản xuấ t nông nghiệp lạc hậu gắn liền với công xã nông thôn quy định, và tiếp thu những yếu tố văn hoá mới, tiên tiến của phương Tây. Nói cách khác, đồng thời với việc b ảo tồ n và phát huy nhữ ng thành quả, nhữ ng yếu tố tích cực xây dựng mộ t n ền văn minh công nghiệp (và hậu công nghiệp) tiên tiến cho sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗ i quố c gia và toàn khu vực. Vấn đề thứ 7 Những thành tựu của văn minh phương Đông (1) Những thành tựu về chữ viết-văn học: 1 . Ai C ậ p : + Ở giai đoạn đầu văn học mang đ ậm tính tôn giáo như ca ngợi các thần, miêu tả nghi lễ thờ cúng và tang lễ. Đến thời Tân và Trung Vương quố c, văn học đã phản ánh những mâu thuẫn xã hội, phê phán bọn quan lại và nói lên nỗi khổ của nhữ ng người lao độ ng. - Tiêu biểu là các tác phẩm: “Truyện kể của Lpouer”, “Truyện Sinouhé” (Xinuhê), tập truyện “Ngườ i nông phu biết nói những điều hay” phê phán tầng lớp quan lại ức hiếp ngườ i dân và sự khốn khổ củ a những người lao động. Thơ ca trữ tình: Các bài thơ ca ngợ i tình yêu, và sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên - được tập hợp trong cuố n “Papyrus Haris 500”. Văn họ c mang tính chất triết lí: Tiêu biểu là cuố n “Đối tho ại một người thất vọng với linh - hồ n củ a mình”, nói đến sự suy sụ p củ a người Ai Cập trước sự đổ vỡ của các giá trị truyền thố ng, tâm trạng chán đời. + Văn họ c Ai Cập đ ã có những bước tiến khá rõ rệt, từ nhữ ng tác phẩm thô sơ mang tính chất tôn giáo, đến chỗ xuất hiện nhiều tác phẩm với nhiều thể loại, phản ánh tình hình xã hội, thể hiện sức sáng tạo kì diệu cỉa người Ai Cập cổ đại. 2. Lưỡng Hà: + Chữ viết - 15 -
  16. Chữ viết ở Lưỡng Hà xuất hiện từ khá sớm. Người Sumer sáng tạo ra chữ tượng hình vào kho ảng đ ầu TNK III.TCN. Đầu tiên người Sumer dùng những hình vẽ về sau là những nét vạch hợp lại thành ý. Họ dùng một thanh gỗ hay sậy nhỏ , vót nhọn mộ t đầu, ấn trên phiên đ ất mềm tạo thành một đầu nhọn, đáy bằng, trở ngược thanh gỗ vạch mộ t đường thẳng, trông như mũi tên hay chiếc đinh. Một số chiếc đinh này tập hợp lại thành từ. Chữ viết của người Lưỡng Hà được viết trên đ ất sét, mỗ i tấm đất sét là mộ t trang sách. Chữ có hình như những góc nhọn, nên thường được gọi là chữ hình góc nhọ n, chữ hình nêm hay chữ tiết hình. Rất nhiều dân tộc ở Tây Á thời cổ đ ại đã dùng lo ại chữ viết này đ ể ghi lại sinh hoạt kinh tế, xã hội và nhữ ng diễn biến chính trị thờ i đó. Vì vậy, có thể coi chữ viết của người Sumer phát minh ra là nguồn gốc củ a nhiều chữ viết khác của người Akkad, Babylone, Hittiles, Assyria, Ba Tư. + Văn học: Văn học Lưỡng Hà phong phú về nộ i dung và thể lo ại, với nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Các thể lo ại văn họ c chính là văn học dân gian, thơ và anh hùng ca. Nộ i dung thường gắn liền với tín ngưỡng và phản ánh đời sống thường ngày của ngườ i lao động. Điển hình nhất là hai trường ca: Anuma Elit và Gilgamesh. - Trường ca Anuma Elit ca ngợi sự sáng tạo của vũ trụ, mộ t khố i hỗ n mang thuở ban đầu, từ đó sinh ra con người và muôn vật trên trên mặt đất. - Trường ca Gilgamesh ca ngợi tinh thần anh dũng củ a những nhân vật có thật được thần thánh hóa, phản ánh với mố i quan hệ giữ a con người với tự nhiên. Đó là nhữnh cuộc đấu tranh quyết liệt trước sự tàn phá của thác lũ, hạn hán và thú d ữ đ ể b ảo vệ đời số ng yên lành củ a cư d ân. * Văn học Ả rập: + Văn xuôi: - Kinh Koran không chỉ là kinh thánh của các tín đồ Hồi giáo mà còn là mộ t tác phẩm văn học đồ sộ, ảnh hưởng sâu sắc đ ến ngôn ngữ, và văn hóa Hồ i giáo. Kinh Koran đã làm cho ngôn ngữ Arập thố ng nhất, bảo tồn, và được truyền bá rộng rãi trong các nước theo Hồi giáo. Đạo Hồ i truyền bá tới đâu kinh Koran và ngôn ngữ Arập cũng đ ược truyền tới đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao lưu văn hóa, giữa các quố c gia. Kinh Koran được xem như một bộ sách giáo khoa, là cuố n sách học tiếng Arập. Đạo Hồi quy đ ịnh tín đồ ở bất kỳ nơi đâu khi đọc kinh cũng đều phải đọ c bằng tiếng Arập, vì vậ y ngôn ngữ Arập được bảo tồn và duy trì sức sống cho tới tận ngày nay. Ngoài ra kinh Koran còn chứa đ ựng nhiều truyền thuyết, nhữ ng câu chuyện lịch sử, phản ánh sinh động b ộ mặt xã hội lúc bấy giờ, là những tư liệu lịch sử, và ngu ồn cảm hứ ng bất tận cho biết bao thế hệ nhà thơ, nhà văn sáng tác ra những tác phẩm b ất hủ , làm phong phú thêm cho nền văn học Arập. - Nghìn lẻ một đêm, tác phẩm vĩ đại nhất củ a nền văn học Arập, là mộ t trong những công trình sáng tạo đồ sộ và tuyệt diệu của nền văn họcthế giới. Đay là câu chuyện dân gian bao gồm nhiều chuyện nhỏ nố i tiếp nhau có từ lâu đời ở miền đông đ ế quốc của các hoàng đ ế Arập - 16 -
  17. thời cổ , được bổ sung qua nhiều thế kỷ và được phổ biến rộng rãi ở trong nước cũng như thế giới. Tập truyện phản ánh phong tụ c tập quán, thói quen sinh ho ạt của giai cấp thống trị và ước nguyện củ a nhân dân, thể hiện sức tưởng tượ ng phong phú và óc sáng tạo tuyệt vời củ a nhân d an Arập. - Arập còn có tập “ngụ ngôn” cũng rất nổ i tiếng. Tập truyện này vố n của Ấn Độ, được truyền sang Ba Tư từ kho ảng thế kỷ VI đến thế kỷ VIII, sau đó được dịch sang tiếng Arập và p hổ biến toàn thế giới. + Về thơ ca cũng có rất nhiều các tác giả và tác phẩm tiêu biểu. - Nhà thơ Abu Tamman, giữa thế kỷ IX đã sưu tập và hiệu đính tác phẩm “Anh dũng ca” 2 tập bao gồ m tác phẩm của hơn 500 thi sĩ Arập cổ đại. - Đến thế kỷ X, Abu Lơ Faraj lại so ạn một tuyển tập thơ lớn gần 20 cuốn, lấy tên là “Thi ca tập” bao gồm rất nhiều thơ ca của các tác giả trước đó. 3 . Ấn Độ : + Ngôn ngữ và chữ viết: Ấn Độ có rất nhiều ngôn ngữ, những ngôn ngữ chính được biểu đ ạt bằng hệ thố ng chữ viết riêng. Chữ viết đ ầu tiên của Ấn Độ dưới d ạng đ ồ họa có từ thời Harappa. Sau đó xu ất hiện chữ cổ Brahma, chữ Phạn (Sanskrit), chữ Pali … Nhiều lo ại ngôn ngữ đang lưu hành hiện nay ở Ấn Độ như Hindi, Benga, Urdu … là biến thái củ a ngôn ngữ Phạn. + Chữ viết đã chuyển tải được một nền văn chương Ấn đ ầy sắc thái, mộ t kho tàng văn hóa vô cùng phong phú bao gồm các bộ kinh Hindu và kinh Phật, Sử thi, kịch và thơ ca trữ tình. Hai viên ngọ c quý nhất trong kho tàng văn họ c Ấn Độ là hai bộ sử thi Mahabharata và Ramayana. - Mahabharata là bản trường ca gồ m 110.000 khổ thơ (220.000 câu). Chủ đề của bộ sử thi nói về cuộc đấu tranh trong nộ i bộ mộ t dòng họ đế vương ở miền bắc Ấn Độ. Mahabharata đ ược coi là một bộ (bách khoa toàn thư) của Ấn Độ. - Ramayana dài 48.000 câu thơ là thiên tình sử đ ầy trắc trở giữa hoàng tử Rama tuấn tú và nàng công chúa kiều diễm Sita. Thông qua câu chuyện tình đó, bộ sử thi phản ánh nhữ ng ngành nghề, việc làm ăn sinh sống, phong tụ c cưới xin, quan niệm củ a người Ấn Độ về con người, cha co n, vợ chồ ng, anh em, lòng chung thủy và đ ức tính trung nghĩa ở đời. - Nhà thơ- nhà viết kịch Kalidasa sống vào thế kỉ IV thời vương triều Gúpta, ông là tác giả củ a tác phẩm văn học trữ tình nỗ i tiếng Sacuntala. Tác phẩm phỏng theo một câu chuyện d ân gian trong sử thi Mahabharata, mô tả cuộc tình duyên trắc trở của Sacuntala và nhà vua Dusianta. Mố i tình tuyệt đẹp đ ã sinh ra Bharata vị thủ y tổ củ a nhân dân Ấn Độ. Tuy chịu ảnh hưởng củ a đạo Bàlamôn nhưng Kalidasa đã thể hiện trong tác phẩm của mình tư tưởng tự d o, chố ng lại lễ giáo khắt khe, lên án bản chất giả dố i của giai cấp thống trị. - Ngoài ra văn họ c Ấn Độ còn xuất hiện nhiều tác phẩm viết bằng nhiều loại phương ngữ khác nhau. 4. Trung Quốc: a. Chữ viết: - 17 -
  18. + Văn tự đ ầu tiên củ a người Trung Quố c là văn tự kết thừng. Đến thiên niên kỉ II.TCN, người Ân Thương đã viết lên mai rùa, xương thú gọ i là giáp cốt văn. Ngoài ra còn có chữ được khắc trên đồ vật (Ân khư khư thế), chữ khắc trên đá (Thạch cổ văn), chữ khắc hay đúc trên đồng (Kim văn), chữ trên chuông đ ỉnh (Chung đ ỉnh văn). So với Giáp cố t văn, Kim văn không khác biệt về b ản chất, nhưng chữ ngay ngắn, vuông vắn, thành hàng lối rõ rệt và nhiều chữ p hức tạp hơn. + Đến nhà Tần, chữ viết được chỉnh lí, đơn giản và cải tiến … khuôn trong hinh vuông gọi là chữ Tiểu triện. Đây là lần thố ng nhất quan trọ ng cơ b ản đầu tiên trong lịch sử p hát triển chữ viết củ a Trung Qu ốc … ra đ ời từ thiên niên kỉ thứ II.TCN, chữ viết Trung Quố c là hệ chữ viết duy nhất hiện còn được sử dụng. b. Văn họ c: + Thơ: - Kinh thi: là tập thơ cổ nhất do nhiều tác giả sáng tác từ đ ầu Xuân Thu đ ến giữa Tây Chu (kho ảng 500 năm) gồm 3 phần: Phong, Nhã, Tụ ng, trong đó Phong chiếm số lượng nhiều nhất và cũng có giá trị cao nhất. Kinh thi đ ã ảnh hưởng sâu sắc đến văn họ c Trung Quố c sau này. - Thơ Đường: Thơ Đường là đỉnh cao củ a nền thơ ca Trung Quốc, nó trở nên vô giá b ởi nội dung và giá trị nghệ thu ật tuyệt vời của mình. Hiện nay còn lại kho ảng 48.000 bài thơ củ a 2300 tác giả. Các tác giả nỗi tiếng như Lí Bạch (701-762) đ ã để lại trên 1200 bài, Đỗ Phủ (712-770) kho ảng 1400 bài, Bạch Cư Dị (772-846) khoảng 2800 bài … + Tiểu thuyết Minh-Thanh: Thời Minh - Thanh đã đ ể lại cho hậu thế một số lượng lớn tiểu thuyết chương hồ i phong p hú về nộ i dung, đa dạng về hình thức. Có các tác phẩm tiêu biểu như: Tam quố c chí diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủ y hử của Thi Nại Am, Tây du kí của Ngô Thừa Ân … Từ đầu nhà Thanh tới cuố i thời vua Càn Long là thời kì tiểu thuyết cực thịnh. Các tác phẩm tiêu biểu như Liêu trai chí dị củ a Bồ Tùng Linh, Nho lâm ngo ại sử của Ngô Kính Tử, Hồ ng Lâu Mộ ng củ a Tào Tuyết Cần… Trong đó Hồng lâu mộng là tiểu thuyết có giá trị nhất, là một kiệt tác củ a nhân lo ại. c. Sử học: Người Trung Quốc có ý thức cao về lịch sử và rất giàu kinh nghiệm trong việc biên soạn sử, vì vậ y sử học nước này rất p hát triển. - Người tiêu biểu cho nền sử học Trung Quố c là Tư Mã Thiên (sinh năm 135 hay 145.TCN), ông là người đ ầu tiên trên thế giới chép sử bằng thể kí. Tác phẩm tiêu biểu là Sử kí, bộ sử đồ sộ nhất của nhân loại, gồ m 5265000 chữ được Lỗ Tấn ca ngợi “Lời hát tuyệt vời củ a các sử gia, thiên Li tao không vần”. - Ban Cố thời Đông Hán là người mở đầu cho cách viết sử theo triều đại (tác phẩm Hán thư), sau đó có Tam quốc chí củ a Trần Thọ , Hậu Hán thư của Phạm Diệp … - Tư Mã Quang và nhiều tác giả khác cùng biên soạn tác phẩm Tư trị thông giám theo thể b iên niên, tổng cộ ng có 354 cuố n (kể cả 30 cuốn mục lụ c). - Thời Minh -Thanh còn có các bộ “Minh sử”, “Tứ khố toàn thư”… Các bộ sách trên đ ều là nhữ ng di sản văn hóa vô giá củ a nhân dân Trung Quốc. - 18 -
  19. (2) Tôn giáo và tư tưởng phương Đông 1. Ai Cập : + Tôn giáo của người Ai Cập rất phong phú, gồ m nhiều hệ thần linh đ ịa phương hỗ n dung với nhau. Ban đầu mỗ i vùng thờ nhữ ng vị thần của mình, chủ yếu là những vị thần tự nhiên, linh hồ n người chết... + Đến thời kì thống nhất quốc gia, ngoài việc thời cúng các thần riêng củ a từng đ ịa p hương, còn xuất hiện những vị thần chung. Ngư ời Ai Cập thờ thần Ra (Thần mặt trời), thần Ptah (thần sáng tạo vũ trụ và con người), thần Amon (thần đem lại sức mạnh cho vương quố c và Pharaon), thần Osiris (được coi là thần Nông nghiệp, thần sông Nile), thần Montou (thần chim ưng), Sobek (thần Cá sấu)... + Người Ai Cập tin linh hồ n bắt tử, nên việc chôn cất thi hài gắn liền với quan niệm hồn và xác. Khi chết, linh hồn tuy thoát ra ngoài nhưng vẫn còn tìm chỗ d ựa ở nơi xác, vì vậ y khi con người cần phải giữ lại xác. Việc xây dựng các Kim tự tháp (các lăng mộ củ a nhà vua) và kĩ thuật ướp xác b ắt nguồ n từ quan niệm trên. 2. Lưỡng Hà: - Trong thời kỳ đầu, ngườ i Lưỡng Hà theo đa thần giáo. Họ tôn sùng nhữ ng lực lượng tự nhiên, coi đó là những lực lượng thống trị cuộ c sống của mình. Người Lưỡng Hà thờ thần Anu, Eaua, thần Enlin... ngoài các thần chủ, người Lưỡng Hà còn tôn thờ nhiều thần khác như thần trồ ng trọt, thần chăn nuôi và các hiện tượng tự nhiên như thần Samat (thần Mặt trời). Thần Istaro (thần Ái tình)... ngườ i ta tin rằng thần Mẹ (Inana) còn là thần bảo hộ nông nghiệp, thần của sinh nở, thần Ea (thần Biển) còn dạy cho người ta biêt nghề thủ công, nghệ thuật, khoa học, thần Tamuz (thần Nước) được coi như vị thần dạy bảo cư dân trông trọt, làm nghề thủ công và là vị thần của lòng nhân ái, bảo vệ mùa màng... - Cùng với sự xác lập quyền lực tối cao, trong toàn Lưỡng Hà của Hammourabi, thần Mardouk đ ã trở thành vị thần tối cao trong toàn quố c, bản thân nhà vua cũng đ ược thần thánh hóa, thay mặt thần Mardouk cai trị muôn dân. - Người ta xây d ựng nhiều đ ền miếu thờ thần và tiến hành nhiều nghi lễ phức tạp. Việc xây d ựng đền miếu đã trở thành gánh nặng đố i với quần chúng. Nhân dân đã b ị tập đoàn tăng lữ nô d ịch về tinh thần và bóc lộ t về kinh tế. Tập đoàn tăng lữ của Babylone rất cồ ng kềnh, có đ ến hơn 30 đ ẳng cấp. * Đạo Hồ i của Arập: - Đạo hồ i, tiếng Arập là Islam, có nghĩa là phục tùng, tuân theo thánh Allah tối cao và duy nhất, tuân theo vị sứ giả củ a thánh Allah là Muhammad. Những tư tưởng chính trị của đạo Hồ i nằm trong kinh Koran gồ m 30 quyển, 114 chương, 6236 tiết. Các tín đồ Hồi giáo coi kinh Koran như mộ t vật linh thiêng, thần thánh. Trong kinh Koran luân lí và pháp luật, thế tục và tôn giáo là mộ t, mọi giới luật đều do thánh Allah ban ra, đó là quy tắc cho mọ i hành vi, từ lễ giáo đến hôn nhân, từ các ho ạt độ ng kĩ nghệ, thương mại đến chính trị, di chúc, chiến tranh và hòa bình... Những hiểu biết về y, dược và cách chữa trị mộ t số bệnh cũng thấ y nó i đến trong kinh Koran. - 19 -
  20. - Kinh Koran gọ i tín ngưỡ ng củ a đạo Hồ i là lman là chỉ tất cả nhữ ng tín điều củ a thánh Allah do nhà tiên tri Muhammad truyền đạt lại. Đạo Hồi có 6 tín ngưỡng lớ n gọi là Lụ c tín’ Tin chân thánh: tức là tin rằng ngoài thánh Allah không còn vị thần nào khác, thánh Allah là duy nhất, là độc nhất. Đây là hạt nhân cơ b ản nhất củ a tín ngưỡng củ a đạo Hồ i. Tin thiên sứ: Theo kinh Koran thì có rất nhiều thiên sứ, mỗ i thiên sứ cai qu ản một công việc. Thiên sứ d o Allah sáng tạo ra từ ánh sáng, để theo dõi, ghi chép tất cả mọ i hành vi thiện, ác, tố t, xấu của con người. Tín kinh điển: Tức là tin rằng kinh Koran là bộ kinh Thần thánh do đâng Allah khải thị cho nhà tiên tri Muhammad, từ đó xây dựng uy quyền tuyệt đối củ a kinh Koran đố i với các tín đồ. Tín sứ giả: Muhammad là sứ giả và nhà tiên tri của thánh Allah, được phái xu ống để thực hiện nhữ ng sứ mệnh do Allah ủ y thác, vì vậ y mọ i tín đồ p hải tôn sùng. Tín tiên định: Các tín đồ Hồ i giáo tin rằng, số phận con người do thánh Allah an bài, con người không có cách gì cưỡng lại được. Đó là đ ịnh mệnh. Tín kiếp sau: Các tín đ ồ Hồ i giáo tin rằng, sau khi chết, con người có thể sống lại và chịu sự phán xét củ a thánh Allah vào ngày tận thế. - Về nghĩa vụ của tín đồ, đạo Hồi quy đ ịnh: Phải có đ ức tin kiên định và chỉ thừa nhận chỉ có thánh Allah còn Muhammad là sứ giả và là vị tiên tri (Nêbi) cuối cùng. Hàng ngày phải cầu nguyện 5 lần vào sáng, trưa, chiều, tối và đ êm. Khi cầu nguyện phải hướng về Mecca. Thứ sáu hàng tuần phải đến thánh thất làm lễ. Hàng năm đến tháng Ramadan phải trai giới một tháng. Trong tháng này, từ khi mặt trời mọc đ ến khi mặt trời lặn, các tín đ ồ tuyệt đối không được ăn uồng, hút thu ốc... nhưng nhữ ng người già, người bệnh, trẻ em dưới 10 tuổ i, phụ nữ có thai thì được miễn. 3 . Ấn Độ : - Bàlamôn giáo ra đời vào những thế kỉ đ ầu thiên niên kỉ I.TCN do sự p hát triển củ a xã hội có giai cấp và sự bất bình đẳng về đẳng cấp. Là mộ t tôn giáo đa thần, cao nhất là thần Brama, vị thần sáng tạo thế giới. Ngoài thần Brama còn có thần Visnu, Siva … nội dung quan trọ ng trong giáo lí của Bàlamôn giáo là thuyết luân hồ i. Về mặt xã hộ i, Bàlamôn giáo là công cụ đắc lực bảo vệ chế độ đ ẳng cấp ở Ấn Độ. Bàlamôn được truyền bá rộ ng rãi trong nhiều thế kỉ, đ ến thế kỉ VI.TCN b ị suy thoái do sự p hát triển mạnh mẽ của đ ạo Phât. - Khoảng thế kỉ VII, đạo Phật b ị suy sụ p, nhân đó đạo Bàlamôn phục hồ i và phát triển. Đến khoảng thế kit VIII-IX, Bàlamôn giáo được bổ sung thêm nhiều yếu tố về đối tưựong sùng b ái, kinh điển và nghi thức… từ đ ây Bàlamôn giáo được gọi là Hinđu giáo (Ấn Độ giáo). Đối tượng sùng bái chủ yếu củ a Hinđu giáo vẫn là ba thần Brama, Visnu, Siva. Các loài động vật như rắn, hổ, khỉ, bò, cá sấu… cũng đ ược Hinđu giáo coi là các thần và rất được tôn sùng, Giáo lí củ a Hinđu giáo được thể hiện trong các bộ kinh Vêđa, Upanisad và các sử thi Mahabharata, Ramayana, Bhagavad…. - Phật giáo: Ra đời vào cuối thiên niên kỉ I.TCN, Siddharata Gautama là người sáng lập. Nộ i dung chủ yếu của Phật giáo là chỉ ra chân lí về nguyên nhân cảu các nổ i khổ ở đời và sự giải thoát khỏ i nỗi đau khổ ấy. - 20 -
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2