
156
LẬP KẾ HOẠCH, THỰC HIỆN TƯ VẤN CHO CÁ NHÂN VÀ HỘ GIA
ĐÌNH
VỀ PHÒNG
CHỐNG
MỘT SỐ BỆNH KHÔNG LÂY NHIỄM
Mục tiêu:
1. Lập đưc kế hoạch tư vấn, giáo dục sức khỏe cho cá nhân về biện pháp
phòng chống một số bệnh không lây nhiễm
2. Thực hiện đưc tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người dân biện pháp
phòng chống một số bệnh không lây nhiễm phổ biến.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Các bệnh không lây nhiễm là bệnh không truyền từ người sang người, không do
vi khuẩn, vi rút…gây nên. Chúng diễn ra trong thời gian dài, tiến triển thường chậm và
hay tát phát trở lại. Ban đầu bệnh không gây ra triệu chứng rõ rệt nhưng khi phát bệnh
thường gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Hầu hết các bệnh không lây nhiễm đều
khó xác định được nguyên nhân cụ thể và không điều trị được triệt để. Do đó, hiểu về
các biện pháp dự phòng và có ý thức khám sàng lọc để phát hiện và điều trị bệnh ở giai
đoạn sớm là điều vô cùng quan trọng. Người ta ước tính rằng, nếu loại bỏ được các
yếu tố nguy cơ chính, thì 80% các trường hợp mắc bệnh tim, đột quỵ, bệnh đái tháo
đường typ 2 và 40% ung thư có thể được ngăn chặn. Can thiệp nhằm vào các yếu tố
nguy cơ chính có một tác động đáng kể vào việc giảm gánh nặng bệnh tật trên toàn thế
giới.
Để làm được điều này, công tác tư vấn, truyền thông, giáo dục sức khỏe cho cá
nhân và cộng đồng rất cần được đầu tư, chú trọng, vì nó tác động đến nhận thức, suy
nghĩa và tình cảm từ đó thay đổi thái độ và hành vi của mỗi người. Giáo dục sức khỏe
(GDSK) là nhằm giúp mọi người trong cộng đồng xây dựng lòng tự tin và những kỹ
năng để tự bảo vệ sức khỏe cho chính mình và có thể giúp đỡ được mình khi ốm đau.
Lập kế hoạch là một quá trình hệ thống hoá và hợp lý hoá toàn bộ những hoạt
động, giải pháp dẫn tới mục tiêu của những vấn đề đã được xác định, lựa chọn và dự
kiến các bước đi. Nó là một chức năng cơ bản nhất trong tất cả các chức năng quản lí
và thường luôn được thực hiện trước các chức năng quản lí khác. Trình độ quản lí
được thể hiện trong việc lập và thực hiện kế hoạch. Các nhà nghiên cứu khác nhau
trong lĩnh vực sức khỏe đã nhìn nhận về vai trò và tầm quan trọng của lập kế hoạch
cho các chương trình y tế nói chung và giáo dục-NCSK nói riêng. Lập kế hoạch đóng
một vai trò rất quan trọng trong việc cải thiện kinh tế, chi phí cũng như hiệu quả cho
các chương trình. Ngoài ra, lập kế hoạch còn góp phần vào việc thay đổi hành vi liên
quan tới sức khỏe.
Bài này sẽ giúp cán bộ y tế tuyến cơ sở hiểu được vai trò, tầm quan trọng, ý
nghĩa và các bước của việc lập kế hoạch tư vấn, truyền thông giáo dục sức khỏe ở địa
phương mình. Đồng thời hiểu thêm về các kĩ năng cần thiết cho 1 buổi tư vấn, truyền
thông giáo dục sức khỏe.
1. TRUYỀN THÔNG-GIÁO DỤC SỨC KHỎE
1.1. Khái niệm tư vấn, truyền thông - giáo dục sức khỏe
Truyền thông là cách thông tin hai chiều, trong đó thông tin phản hồi từ đối
tượng đến nguồn phát (thông tin ngược từ bên ngoài) là hết sức quan trọng vì nó cho

157
biết rõ các phản ứng khác nhau của đối tượng tiếp nhận thông tin, do đó giúp người
phát tin kịp thời điều chỉnh việc đưa thông tin tiếp theo cho phù hợp hơn, như vậy, nó
mang tính điều khiển cao, quan trọng hơn nữa là nó giúp đối tượng tự hiểu mình bằng
các thông tin ngược bên trong.
Giáo dục sức khỏe là một quá trình tác động có kế hoạch đến tình cảm và lí trí
của con người nhằm giúp họ thay đổi hành vi sức khỏe.
- Là quá trình nên nó đòi hỏi phải có thời gian mới có kết quả mong muốn,
nhưng một khi kết quả đã đạt được nó sẽ có kết quả lâu bền, mang lại hiệu quả
cao.
- Tác động qua lại giữa nhân viên truyền thông, giáo dục sức khỏe với đối tượng
càng nhiều càng tốt, nhằm nâng cao tính điều khiển của quá trình này, cần tác
động vào tình cảm trước rồi lý trí sau thì dễ tiếp thu hơn, hợp logic hơn.
Như vậy, mối quan hệ giữa thông tin truyền thông với giáo dục sức khỏe là mối quan
hệ giữa các phương tiện với mục đích.
1.2. Mục đích của giáo dục sức khỏe
Giúp các cá nhân:
- Xác định vấn đề của bản thân và nhu cầu của họ về sức khỏe
- Hiểu rõ những điều có thể làm để tăng cường sức khỏe
- Quyết định hành động thích hợp nhất để tạo ra sức khỏe cho một cuộc sống lành
mạnh cho bản thân và phù hợp với gia đình, cộng đồng, xã hội. Nhân viên giáo dục
sức khỏe chỉ giúp đỡ và tạo điều kiện cho quyết định đó.
1.3. Vai trò của giáo dục sức khỏe
Càng ngày người ta càng thấy vai trò của giáo dục sức khỏe có vị trí quan trọng
trong chăm sóc sức khỏe nói chung và chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) nói
riêng. Từ kinh nghiệm thực tế đã chỉ ra rằng các dịch vụ về chăm sóc sức khỏe thấp
nếu không có sự hỗ trợ của giáo dục sức khỏe và phối hợp với giáo dục sức khỏe.
Để có cuộc sống khỏe mạnh, mỗi người cần hiểu rõ và phân biệt giữa những
thực hành có lợi và thực hành có hại cho sức khỏe. Từ đó quyết định lựa chọn những
phương thức thực hành có lợi nhất cho sức khỏe. Duy trì tình trạng sức khỏe phụ thuộc
vào những hiểu biết về các yếu tố có lợi cho sức khỏe và các yếu tố gây ra bệnh tật,
biết tạo điều kiện thuận lợi để phát huy những yếu tố có lợi cho sức khỏe và loại trừ
các yếu tố gây bệnh.
Chúng ta thường nói “sức khỏe là tài sản quý giá nhất của con người”. Nhưng
trong thực tế cuộc sống có thể thấy có nhiều hành vi do chủ quan hay khách quan, do
thiếu hiểu biết hay cố ý đã làm tổn hại đến “tài sản quý giá của con người”. Tìm hiểu
những suy nghĩ và hành động của con người để giúp họ nhận rõ và thực hiện những
điều có lợi cho sức khỏe là nhiệm vụ quan trọng của người giáo dục sức khỏe.
Các hành vi của con người có thể là nguyên nhân của vấn đề sức khỏe, nhưng
hành vi cũng là giải pháp để giải quyết vấn đề sức khỏe của họ. Thông qua giáo dục
sức khỏe chúng ta giúp mọi người hiểu được hành vi của họ và các hành vi đó có ảnh
hưởng đến sức khỏe của họ như thế nào. Chúng ta giúp mọi người có những lựa chọn
cá nhân thích đáng chứ không ép buộc mọi người phải thay đổi.

158
Giáo dục sức khỏe không thể nào thay thế các dịch vụ y tế khác, nhưng giáo
dục sức khỏe cần thiết để tăng cường sử dụng hợp lý các dịch vụ y tế này.
Giáo dục sức khỏe là một phần của chăm sóc sức khỏe, nó liên quan đến tăng
cường hành vi lành mạnh. Giáo dục sức khỏe có liên quan đến tất cả các nội dung khác
của CSSKBĐ vì tất cả các nội dung CSSKBĐ đều có nội dung về giáo dục sức khỏe.
Làm tốt công tác giáo dục sức khỏe sẽ là tiền đề vững chắc để thực hiện các nội dung
khác nhau của CSSKBĐ. Ngược lại nếu các nội dung của CSSKBĐ được thực hiện tốt
sẽ tạo điều kiện thuận lợi thực hiện các chương trình giáo dục sức khỏe.
1.4. Vai trò giáo dục sức khỏe trong phòng chống chống bệnh không lây nhiễm
Phòng, chống bệnh không lây nhiễm hiệu quả sẽ hạn chế số người mắc bệnh
này trong cộng đồng, ngăn chặn tàn tật tử vòng và giảm quá tải cho bệnh viện. Kiểm
soát các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, lạm dụng đồ uống có cồn, dinh dưỡng không
hợp lý, thực phẩm không an toàn, thiếu hoạt động thể lực, cùng với chủ động giám sát,
phát hiện sớm, điều trị, quản lí liên tục và lâu dài tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban
đầy là yếu tố quyết định hiệu quả trong công tác phòng, chống bệnh không lây nhiễm.
Một trong những hoạt động vô cùng quan trọng góp phần lớn vào thành công của
chương trình là công tác truyền thông giáo dục sức khỏe trong CSSKBĐ cho cá nhân,
cộng đồng để thay đổi hành vi bỏ những hành vi không tốt, không lành mạnh thay vào
đó là những hành vi lành mạnh giúp kiểm soát các yếu tố nguy cơ, có ý thức trong phát
hiện sớm bệnh, tham gia điều trị và quản lí lâu dài.
1.5. Các bước thay đổi hành vi sức khỏe
Khi người cán bộ Y tế thực hiện một chương trình Giáo dục sức khỏe, đối
tượng được truyền thông sẽ trải qua các bước thay đổi hành vi như sau:
Bước 1: Nhận ra vấn đề mới
Nhận ra được hành vi hiện có gây hại cho sức khỏe bản thân và những khó khăn
do hành vi đó gây ra, không tự vừa ý với tình trạng hiện tại và thấy cần phải thay đổi
hành vi hiện có. Từ chỗ chưa nhận ra đến khi nhận ra được hành vi bản thân là sai trái
không phải là dễ, vì mỗi người đều có xu hướng tự coi hành vi vốn có của mình là
đúng đắn, không cần thiết phải thay đổi. Do đó cần có những thông tin từ bên ngoài
tác động vào giúp cho đối tượng dễ tự nhận thức hơn về hành vi có hại cho sức khỏe
của bản thân.
Bước 2: Quan tâm đến vấn đề mới
Quan tâm đến hành vi có hại cho sức khỏe của mình và bắt đầu tìm kiếm các
thông tin về hành vi sức khỏe mới đó, suy nghĩ nghiêm chỉnh về hành vi đó nhưng
chưa có ý định thay đổi. Bước này có thể kéo dài vài tháng hoặc tới hàng năm, và thực
tế có những người không bao giờ vượt qua được bước này.
Bước 3: Thử nghiệm hành vi mới
Giai đoạn hành động. Đây là bước khó khăn nhất cho đối tượng mà nhiều khi
họ không tự vượt qua nổi do những thói quen hành vi trước đó của họ.
Bước 4: Đánh giá kết quả hành vi mới
Đánh giá kết quả và hiệu quả việc thực hiện hành vi mới về các mặt sức khỏe,
thể chất, tâm thần, xã hội, kinh tế,…Việc tự đánh giá này cũng không kém phần khó
khăn, vì đối tượng phải tự hiểu rõ bản thân mình hơn ai hết trong quá trình thay đổi

159
hành vi của chính mình, tự nhận ra những lợi ích và những điều bất lợi do sự thay đổi
hành vi sức khỏe đem lại, so với những chi phí mình phải bỏ ra để đạt được kết quả
như thời gian, tiền, những cảm giác khó chịu, thái độ không đồng tình (hay ủng hộ)
của những người khác.
Bước 5: Quyết định duy trì hành vi mới hay từ chối
Chấp nhận hay từ chối hành vi mới sau khi đã cân nhắc chi phí/lợi ích, đã cố
công khắc phục mọi trở lực từ bên trong và bên ngoài bản thân.
- Nếu từ chối thì đối tượng sẽ quay lại bất cứ bước nào trước đó.
- Chấp nhận hành vi mới đối tượng duy trì hành vi đã thay đổi, đây là giai đoạn
củng cố và nâng cao kết quả đạt được, đối tượng phải tự kiểm soát được hành vi
mới của mình và tin chắc khả năng có thể thực hiện được hành vi đó một cách bền
vững, để tránh quay lại hành vi cũ.
1.6. Một số nguyên tắc khi truyền thông – giáo dục sức khỏe
- Tính khoa học:
Việc giáo dục sức khỏe là sự vận dụng một loạt những kiến thức khoa học rất
rộng lớn bao gồm cơ sở khoa học y học vì TT- GDSK được coi là một phần của y học,
có nhiệm vụ phổ biến kiến thức của khoa học y học như: các dấu hiệu bệnh, nguyên
nhân, các yếu tố ảnh hưởng, xử trí, và dự phòng,... vào trong công tác chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe nhân dân kết hợp với tâm lý học giáo dục, tâm lý học nhận thức, sức khỏe
cộng đồng. Đây được coi là chìa khóa cho người làm truyền thông giáo dục sức khỏe
mở cửa bước vào con đường của mình.
- Tính đại chúng:
Giáo dục sức khoẻ không những được tiến hành cho mọi người và vì lợi ích của
mọi người trong cộng đồng xã hội, mà còn được mọi người tham gia thực hiện. Mọi
người vừa là đối tượng của giáo dục sức khoẻ vừa là người tiến hành giáo dục sức
khoẻ. Đối tượng giáo dục sức khoẻ rất đa dạng, không thể cùng một lúc chúng ta có
thể làm thay đổi hành vi sức khoẻ của tất cả mọi người với mọi vấn đề sức khoẻ. Việc
nghiên cứu đối tượng trong một hoạt động TT-GDSK là việc làm hết sức quan trọng
cho phép chúng ta đạt được mục tiêu và hiệu quả của giáo dục sức khoẻ.
- Tính trực quan:
Mọi yếu tố tác động đến con người trước hết trực tiếp vào các giác quan như:
mắt, tai, mũi v.v... Tác động trực quan thường gây ấn tượng mạnh, sâu sắc đến tình
cảm, niềm tin, làm thay đổi hành vi sức khỏe nhanh chóng và bền vững.
Bản thân người cán bộ y tế và cơ sở y tế với toàn bộ những hoạt động của mình đã là
những mẫu hình trực quan sinh động có tác dụng giáo dục mạnh mẽ nhất đối với nhân
dân, sẽ phản chiếu hai mặt tích cực và tiêu cực cho sự hình thành hay thay đổi hành vi
sức khỏe của đối tượng. Công tác GDSK cần thiết phải chú ý phát huy mặt tích cực
của những hình mẫu này.
- Tính thực tiễn:
Giáo dục sức khoẻ phải góp phần tích cực giải quyết các vấn đề sức khoẻ một
cách, thiết thực, cụ thể bằng việc NCSK, giảm tỷ lệ mắc bệnh, tử vong thì mới có sức
thuyết phục cao.

160
Nguyên tắc thực tiễn còn được thể hiện trong quá trình tự giáo dục.Chính nhân
dân phải thực sự bắt tay vào làm những công việc nhằm biến đổi hiện thực chất lượng
cuộc sống, trong đó có sức khoẻ của họ.Lấy thực tiễn của các kết quả hành động đó để
giáo dục, đánh giá và cải tiến toàn bộ hệ thống giáo dục sức khoẻ.
- Nguyên tắc lồng ghép:
Lồng ghép không những là nguyên tắc quan trọng trong giáo dục sức khoẻ mà
còn là phương pháp công tác trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân
dân nói chung và của ngành y tế nói riêng.
Lồng ghép trong giáo dục sức khoẻ là sự phối hợp các mặt hoạt động trong quá
trình giáo dục sức khoẻ; phối hợp một số hoạt động của các chương trình giáo dục sức
khoẻ có tính chất giống nhau hoặc có liên quan mật thiết với nhau nhằm tạo điều kiện
hỗ trợ và tăng cường lẫn nhau để đạt hiệu quả chung tốt hơn. Lồng ghép trong giáo
dục sức khoẻ còn là phối hợp các hoạt động của giáo dục sức khoẻ với các lĩnh vực
hoạt động khác của ngành y tế và các ngành khác, các giới và các đoàn thể nhân dân
thành một quá trình chung nhằm tạo được các hành vi sức khoẻ lành mạnh, từ bỏ được
các hành vi sức khoẻ lạc hậu, có hại cho sức khoẻ mọi người.
1.7. Phương pháp và phương tiện sử dụng trong truyền thông giáo dục sức khỏe
Phương pháp GDSK: Là cách thức mà ngưới giáo dục sức khỏe thực hiện một
chương trình giáo dục sức khỏe.
Phương tiện GDSK: Là công cụ mà người giáo dục sức khỏe sử dụng để thực
hiện một phương pháp giáo dục sức khỏe và qua đó truyền đạt lại nội dung giáo dục
sức khỏe tới đối tượng được giáo dục, phương tiện còn gọi là đường (kênh).
Mỗi phương pháp, phương tiện đều có những ưu nhược điểm nhất định, nên
trong một chương trình TT-GDSK cần phối hợp các phương pháp và phương tiện khác
nhau để nâng cao hiệu quả của truyền thông.
Người giáo dục sức khoẻ phải biết lựa chọn các phương pháp và phương tiện
giáo dục phù hợp với nhau và với điều kiện thực tế (nguồn lực, thời gian, địa điểm, nội
dung, đối tượng đích).
Phương pháp giáo dục sức khỏe trực tiếp:
Phương pháp này còn gọi là giáo dục sức khoẻ mặt đối mặt, người giáo dục sức
khoẻ trực tiếp tiếp xúc với đối tượng giáo dục sức khoẻ. Người giáo dục sức khoẻ có
thể nhanh chóng nhận được các thông tin phản hồi từ đối tượng giáo dục nên tính điều
khiển cao.
Thực hiện TT-GDSK trực tiếp luôn có hiệu quả tốt nhất trong việc giúp đỡ đối
tượng học kỹ năng và thay đổi hành vi. Thực hiện phương pháp này đòi hỏi cán bộ
TT-GDSK phải được đào tạo tốt về các kỹ năng giao tiếp. Các phương pháp TT-
GDSK trực tiếp có tác dụng tốt nhất đến bước 3,4,5 của quá trình thay đổi hành vi.
Trên thực tế, cần phối hợp phương pháp này với phương pháp TT-GDSK gián tiếp để
nâng cao hiệu quả.
Có thể tổ chức buổi nói chuyện trực tiếp, tổ chức thảo luận nhóm, tư vấn, thăm
hộ gia đình, tổ chức các buổi trình diễn, triển lãm...

