
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 554 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
229
KẾT QUẢ ỨNG DỤNG HỆ THỐNG THEO DÕI
ĐIỆN SINH LÝ THẦN KINH TRONG MỔ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH HÀ NỘI NĂM 2024-2025
Lê Văn Ngân1, Nguyễn Đức Anh1, Lê Hữu Tùng1,
Vũ Thị Hoàng Yến2, Hoàng Ngọc Dũng2
TÓM TẮT29
Đặt vấn đề: Theo dõi thần kinh trong mổ
(IONM) là một công cụ hữu ích được ứng dụng
để ghi liên tục điện sinh lý thần kinh trong quá
trình phẫu thuật nhằm mục đích định vị các cấu
trúc thần kinh chức năng, cảnh báo tổn thương,
tiên lượng hồi phục sau phẫu thuật,… Công cụ
này được sử dụng rộng rãi trong phẫu thuật ở các
vùng giải phẫu liên quan trực tiếp đến các dây
thần kinh sọ, thần kinh ngoại biên hoặc phẫu
thuật thần kinh chức năng, tuy nhiên ở Việt Nam,
hiện có rất ít các báo cáo về ứng dụng IONM đặc
biệt trong các phẫu thuật thần kinh sọ.
Mục tiêu: Thống kê các triệu chứng lâm
sàng trước và sau phẫu thuật, mô tả hiệu quả áp
dụng các phương thức IONM, từ đó đó đưa ra
vai trò của theo dõi điện sinh lý thần kinh, đề
xuất một số thay đổi của phẫu thuật thần kinh
hiện đại.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang,
hồi cứu.
1Khoa Ngoại Thần kinh – Cột Sống, Bệnh viện
Đa khoa Tâm Anh
2Khoa Thần kinh – Đột quỵ, Bệnh viện Đa khoa
Tâm Anh
Chịu trách nhiệm chính: Lê Văn Ngân
SĐT: 0347504673
Email: levannganhmu@gmail.com
Ngày nhận bài: 21/7/2025
Ngày phản biện khoa học: 30/7/2025
Ngày duyệt bài: 07/8/2025
Kết quả: Chúng tôi báo cáo 33 trường hợp
phẫu thuật có ứng dụng hệ thống IONM, cho
thấy điện thế gợi vận động (MEP) và điện thế gợi
cảm giác (SSEP) có độ đặc hiệu và độ nhạy cao
nhất trong đánh giá các tổn thương trong mổ (86
- 100%), điện cơ đồ (EMG) và điện cơ đồ kích
thích (Trigger EMG) có độ nhạy cao (95%), độ
đặc hiệu ở mức trung bình (80%). Ghi điện vỏ
não ghi nhận sóng động kinh trong ½ số trường
hợp phẫu thuật u não có động kinh.
Kết luận: Hệ thống IONM đã hỗ trợ khá
nhiều cho phẫu thuật viên trong việc bảo tồn
chức năng thần kinh của người bệnh, tuy nhiên
ứng dụng kĩ thuật này cần có sự phối hợp linh
hoạt giữa phẫu thuật viên, bác sĩ theo dõi điện
sinh lý thần kinh, và bác sĩ gây mê để đạt hiệu
quả cao nhất. IONM là phương tiện quan trọng
trong phẫu thuật thần kinh đặc biệt là phẫu thuật
thần kinh chức năng, Phẫu thuật thần kinh trong
thời đại có IONM có hiệu quả hơn về mặt bảo
tồn chức năng thần kinh so với các phẫu thuật
truyền thống.
SUMMARY
RESULTS OF INTRAOPERATIVE
NEUROMONITORING AT TAM ANH
GENERAL HOSPITAL, HA NOI,
2024-2025
Background: Intraoperative
neurophysiological monitoring (IONM) is a
valuable tool used to continuously record
neurophysiological signals during surgery with
the aims of identifying functional neural

HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
230
structures, alerting to potential injury, and
predicting postoperative recovery. This tool is
widely applied in surgeries involving anatomical
regions closely associated with cranial nerves,
peripheral nerves, or functional neurosurgery.
However, in Vietnam, there have been very few
reports on the use of IONM, especially in cranial
neurosurgical procedures.
Objectives: To document pre- and
postoperative clinical symptoms, describe the
effectiveness of various IONM modalities,
highlight the role of intraoperative
neurophysiological monitoring, and propose
certain advancements in modern neurosurgical
practice.
Methods: A retrospective cross-sectional
descriptive study.
Results: We report 33 surgical cases in which
the IONM system was applied. Motor evoked
potentials (MEPs) demonstrated the highest
sensitivity and specificity in detecting
intraoperative neural injuries (>90%).
Electromyography (EMG) and triggered EMG
(tEMG) showed high sensitivity (95%) and
moderate specificity (80%). Electrocorticography
(Ecog) noted epileptic wave form in ½ case of
epilepsy due to brain tumor.
Conclusion: The IONM system significantly
supported surgeons in preserving patients’
neurological function. However, the effective
application of this technique requires close and
flexible collaboration among the surgeon,
neurophysiological monitoring specialist, and
anesthesiologist to achieve optimal outcomes.
IONM has been important in neurosurgery,
especially functional surgery. Neurosurgery in
the era of IONM may be more effective in
preserved function when compare with
traditional surgery.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo dõi điện sinh lý thần kinh trong mổ
(intraoperative monitoring hay intraoperative
neuromonitoring) đã được áp dụng trên thế
giới từ những năm 1930 với những phương
pháp kích thích vỏ não để xác định vùng
chức năng trong phẫu thuật động kinh, và bắt
đầu mở rộng từ những năm 1980 với sự ra
đời của máy theo dõi điện sinh lý thần kinh
(1) (2)
Các ứng dụng hiện nay của IONM bao
gồm: Đo điện thế gợi: (điện thế gợi cảm giác
(SSEP); điện thế gợi vận động (MEP); điện
thế gợi thính giác thân não (BEAP); điện thế
gợi thị giác (VEP); điện cơ đồ (EMG); và
điện não đồ (EEG) (3)
Việc ứng dụng IONM nằm trong một lộ
trình điều trị đa mô thức, bao gồm nhiều
chuyên khoa như phẫu thuật viên thần kinh,
bác sĩ điện sinh lý thần kinh, bác sĩ gây mê,
nhằm mục đích bảo tồn sự toàn vẹn chức
năng thần kinh cho người bệnh (4) Hiện tại
IONM được sử dụng phổ biến ở nhiều trung
tâm lớn tuy nhiên chúng tôi nhận thấy có rất
ít các bài báo cáo về ứng dụng kỹ thuật này
trong phẫu thuật thần kinh nhất là ứng dụng
IONM trong việc theo dõi các chức năng vận
động chủ động và chức năng các dây thần
kinh sọ (5–7)
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mô tả cắt ngang, hồi cứu, lựa chọn tất cả
các bệnh nhân được phẫu thuật có ứng dụng
theo dõi điện sinh lý thần kinh trong giai
đoạn từ tháng 1/2024 đến tháng 7/2025.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 554 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
231
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Một số đặc điểm chung của các bệnh nhân trong nghiên cứu
Đặc điểm
Số lượng
Tỷ lệ
Giới
Nam
15
45.5%
Nữ
18
55.5%
Nhóm tuổi
<20
1
3%
20-40
9
27.3%
40-60
12
36.4%
>60
11
33.3%
Loại phẫu thuật
Sọ não
15
45.5%
U trong ống sống
7
21.2%
Bệnh lý rễ, tủy sống
9
27.3%
U dây thần kinh ngoại biên
2
6%
Hình 1: Bệnh nhân nữ 35 tuổi vào viện vì sưng đau vùng góc hàm trái,
chẩn đoán trước phẫu thuật
U vùng góc hàm trái. Trước mổ người bệnh chưa có tổn thương thần kinh sọ, vị trí khối u
liên quan đến các dây thần kinh sọ 9-12. Liên quan đến các dây thần kinh sọ 9, 10, 11, 12
Bảng 2: Một số đặc điểm lâm sàng chính của bệnh nhân trong nghiên cứu
Đặc điểm lâm sàng
Số lượng/Tỷ lệ
Đau
25 (75.7%)
Rối loạn cảm giác
18 (54.5%)
Liệt thần kinh
15 (45.5%)
Rối loạn nhận thức
3 (9.1%)
Ù tai, giảm thính lực
6 (18.25%

HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
232
Bảng 3: Số lượng dương tính và âm tính của các phương thức theo dõi IONM
Phương thức IONM
Dương tính thật
Dương tính giả
Âm tính thật
Âm tính giả
N
EMG
11
9
18
4
32
MEP
6
0
11
1
18
SSEP
4
0
5
0
9
BEAP
5
0
0
0
5
EEG
1
0
0
1
2
VEP
0
0
1
1
2
EMG: Độ nhạy: 73%, độ đặc hiệu 57.1%
MEP: Độ nhạy 86.7%, độ đặc hiệu 100%
SSEP: Độ nhạy, đặc hiệu 100%
BEAP: Độ nhạy: 100%, độ đặc hiệu: Chưa có thông tin
Bảng 4: Biến chứng và nhiễu gặp phải trong theo dõi điện sinh lý thần kinh
Số lượng/tỷ lệ
Biến chứng gặp phải sau thủ thuật
Chảy máu vị trí cắm kim
28 (84.8%)
Sưng nề, đau phần mềm
4 (12.1%)
Bệnh nhân tỉnh trong khi thực hiện MEP
2 (6%)
Nhiễu gặp phải trong theo dõi điện sinh lý thần kinh
Dao điện
31 (93.9%)
Máy khoan
6 (18.2%)
Dao siêu âm
1 (3%)
N = 33
Hình 2: So sánh biên độ sóng EMG và thời gian tiềm EMG trước và sau mổ trên bệnh
nhân u vùng góc hàm – khoang cảnh nói trên

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 554 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
233
Điện thế gợi vận động của cơ thanh âm
và vùng khẩu cái mềm trái (đường Vagus)
giảm đáng kể so với đường cơ bản (baseline)
tương ứng với sau phẫu thuật bệnh nhân liệt
tạm thời dây thanh bên trái.
IV. BÀN LUẬN
Khi tiến hành phẫu thuật các khối u trong
trục và ngoài trục nói trên, chúng tôi nhận
thấy tầm quan trọng của việc phối hợp đa
chuyên khoa cho một ca phẫu thuật là rất lớn,
đầu tiên về mặt gây mê cần sử dụng gây mê
tĩnh mạch toàn phần, không sử dụng khí mê
và không sử dụng giãn cơ, điều này có thể
gây thêm khó khăn cho bác sĩ gây mê để duy
trì độ mê phù hợp cho cuộc mổ, nhất là với
những ca phẫu thuật u trong trục khi mà các
biến chứng như phù não trong mổ, co giật, có
thể gây nguy hiểm cho người bệnh. Do đó tất
cả các ca mổ của chúng tôi đều cần có mặt
bác sĩ gây mê liên tục để theo dõi và kiểm
soát độ mê. Điều này khá tương tự với các
nghiên cứu về IONM ở thế giới và Việt Nam,
một số tác giả cho rằng có thể dùng giãn cơ ở
mức độ nhất định để vừa đảm bảo cho gây
mê mà vẫn xác định được điện cơ (7)
Về giá trị của các phương thức theo dõi,
chúng tôi nhận thấy: Điện cơ đồ trong mổ
(EMG) đơn thuần có độ nhạy và độ đặc hiệu
ở mức trung bình – thấp (độ nhạy 73.1%, độ
đặc hiệu 57.1%) điều này cũng tương tự các
nghiên cứu lớn trên thế giới, cho thấy rằng
EMG đơn thuần ít có giá trị trong theo dõi
mà cần phải phối hợp thêm các phương thức
khác như điện cơ kích thích (trigger EMG),
MEP, SSEP (8), tuy nhiên cũng không thể
loại trừ vai trò của EMG trong IONM vì
EMG là phương thức dễ dàng tiến hành và
ghi nhận các biến đổi về điện sinh lý nhanh
nhất trong các phương thức của IONM.
BEAP, MEP, SSEP là các phương thức có
độ nhạy và độ đặc hiệu cao, thích hợp để
theo dõi và tiên lượng chính xác các dấu hiệu
thần kinh đặc biệt trong các phẫu thuật tinh
tế như phẫu thuật nền sọ và phẫu thuật thần
kinh ngoại biên điều này cũng được ghi nhận
trong nghiên cứu của tác giả Trần Sơn Tùng
trên các bệnh nhân mổ u tủy cổ ở bệnh viện
Việt Đức (5).
Điện não đồ vỏ não ghi được sóng động
kinh ở ½ trường hợp được chẩn đoán u não
có động kinh, tỷ lệ bắt được sóng động kinh
trên Ecog thường là thấp do cơn động kinh
thưa và đã được kiểm soát bằng thuốc chống
động kinh trước mổ.
Các biến chứng gặp phải trong và sau
quá trình thực hiện theo dõi điện sinh lý thần
kinh thường gặp nhất là chảy máu (84.8%)
và đau vị trí cắm kim (12.1%) các triệu
chứng này được xử trí đơn giản bằng cách sử
dụng miếng dán cầm máu và dùng thuốc
giảm đau (việc sử dụng giảm đau đồng thời
với giảm đau sau phẫu thuật), điều này cũng
được tác giả Ghatol đề cập là các biến chứng
nhẹ và đơn giản (3).
Có 2 trường hợp bệnh nhân tỉnh sau khi
thực hiện MEP (6%) chúng tôi xử trí bằng
cách tạm dừng phẫu thuật và sử dụng liều
nạp Propofol để duy trì lại độ mê, ở cả hai
trường hợp này đều không có tai biến phẫu
thuật do bệnh nhân tỉnh, tai biến này chưa
được ghi nhận trong các báo cáo trước đây.
Trong môi trường phòng mổ có nhiều các
máy móc có thể ảnh hưởng gây nhiễu đến
quá trình theo dõi điện sinh lý thần kinh đó là
dao điện (đơn cực hoặc lưỡng cực (93.9%),
khoan mài (18.2%) khoan mài chủ yếu gây
nhiễu ở các trường hợp theo dõi điện thế gợi
thính giác thân não (BEAP), và dao siêu âm
(3%). Các nhiễu này có thể được lọc bớt nhờ
nâng cấp phần mềm, ứng dụng trí tuệ nhân

