intTypePromotion=1

Khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam khi có sự gia nhập của các ngân hàng nước ngoài

Chia sẻ: VieEinstein2711 VieEinstein2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
34
lượt xem
1
download

Khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam khi có sự gia nhập của các ngân hàng nước ngoài

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết phân tích thực trạng tác động của sự gia nhập các NHNNg đến khả năng tiếp cận tín dụng của các DNNVV ở Việt Nam bằng nguồn số liệu thứ cấp thu thập và tổng hợp từ các cuộc điều tra của CIEM và từ báo cáo của NHNNg. Các tác giả đã chỉ ra rằng, sự hiện diện của các NHNN đã làm gia tăng đáng kể số lượng đối thủ cạnh tranh hiện tại, thay đổi cấu trúc sở hữu và nâng cấp danh mục sản phẩm của các NHTM trong nước.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam khi có sự gia nhập của các ngân hàng nước ngoài

chính sách & thị trường tài chính- tiền tệ <br /> <br /> <br /> <br /> Khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của<br /> doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam khi có sự<br /> gia nhập của các ngân hàng nước ngoài<br /> <br /> Đặng Thị Thu Hằng<br /> Vũ Thị Kim Oanh<br /> <br /> <br /> Ngày nhận: 09/05/2019 Ngày nhận bản sửa: 10/06/2019 Ngày duyệt đăng: 17/06/2019<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Kể từ khi thực hiện mở cửa khu vực tài chính, số lượng các ngân hàng nước ngoài (NHNNg) gia<br /> nhập thị trường Việt Nam ngày càng tăng. Sự gia nhập của các NHNNg có tác động không nhỏ<br /> đến hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước và tới khách hàng của ngân<br /> hàng, trong đó sẽ tạo cơ hội tiếp cận tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Tuy<br /> nhiên các DNNVV hiện vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận các nguồn tín dụng. Bài<br /> viết phân tích thực trạng tác động của sự gia nhập các NHNNg đến khả năng tiếp cận tín dụng<br /> của các DNNVV ở Việt Nam bằng nguồn số liệu thứ cấp thu thập và tổng hợp từ các cuộc điều<br /> tra của CIEM và từ báo cáo của NHNN. Các tác giả đã chỉ ra rằng, sự hiện diện của các NHNNg<br /> đã làm gia tăng đáng kể số lượng đối thủ cạnh tranh hiện tại, thay đổi cấu trúc sở hữu và nâng<br /> cấp danh mục sản phẩm của các NHTM trong nước. Tuy nhiên, cho dù Chính phủ đã đưa ra rất<br /> nhiều các chính sách hỗ trợ tín dụng nhằm tháo gỡ khó khăn cho các DNNVV, các NHTM cũng<br /> đã có những thay đổi trong chính sách tín dụng nhưng sự gia nhập các NHNNg chưa cải thiện<br /> đáng kể khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của các DNNVV. Qua đó, bài viết đưa ra những<br /> khuyến nghị đối với các NHTM, các DNNVV và Chính phủ nhằm gia tăng khả năng tiếp cận tín<br /> dụng của các DNNVV, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này phát triển và đóng góp vào quá<br /> trình phát triển đất nước.<br /> Từ khóa: sự gia nhập các ngân hàng nước ngoài, khả năng tiếp cận tín dụng, doanh<br /> nghiệp nhỏ và vừa.<br /> <br /> <br /> <br /> 1. Mở đầu quan trọng trong nền kinh tế, lớn, thường có mức độ tập<br /> một trong những động lực trung lao động cao và phụ<br /> ác doanh chính đối với tăng trưởng và thuộc công nghệ đơn giản, do<br /> nghiệp phát triển kinh tế ở mỗi quốc đó các DNNVV tạo ra nhiều<br /> nhỏ và vừa gia, đặc biệt là các quốc gia công ăn việc làm, góp phần<br /> (DNNVV) là đang phát triển. Các DNNVV, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng<br /> một bộ phận không giống các doanh nghiệp thu nhập cho người lao động,<br /> <br /> <br /> © Học viện Ngân hàng Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng<br /> ISSN 1859 - 011X 19 Số 205- Tháng 6. 2019<br /> giúp huy động các nguồn lực thị trường tài chính Việt thống ngân hàng tại các nước<br /> xã hội cho đầu tư phát triển, nam đã chứng kiến sự gia bản địa, từ đó tác động gián<br /> xóa đói giảm nghèo… Để tồn nhập vô cùng mạnh mẽ của tiếp đến hoạt động kinh doanh<br /> tại, phát triển và nâng cao các NHNNg, song liệu các của các cá nhân, tổ chức kinh<br /> năng lực cạnh tranh, DNNVV DNNVV có được hưởng lợi tế xã hội ở quốc gia đó thông<br /> rất cần vốn để nâng cao chất từ điều này không hẳn cũng là qua hệ thống NHTM tại các<br /> lượng sản phẩm, đổi mới một câu hỏi cần lời giải đáp. quốc gia này. Các nghiên cứu<br /> trang thiết bị, mở rộng quy về tác động của ngân hàng<br /> mô kinh doanh. Tuy nhiên các 2. Tổng quan nghiên cứu về nước ngoài đến khả năng tiếp<br /> DNNVV hiện vẫn đang gặp khả năng tiếp cận tín dụng cận tín dụng ngân hàng của<br /> rất nhiều khó khăn khi tiếp ngân hàng của doanh nghiệp các DNNVV tại các nước<br /> cận các nguồn tín dụng bên nhỏ và vừa bản địa ghi nhận cả hai chiều<br /> ngoài với chi phí giao dịch hướng tác động tích cực và<br /> cao hơn và mức bù rủi ro 2.1. Quan điểm về khả năng tiêu cực.<br /> lớn hơn. tiếp cận tín dụng ngân hàng Tác động tích cực: Clarke,<br /> Kể từ những năm 1960, hoạt Cull and Martinez Peria<br /> động ngân hàng quốc tế đã Trong phạm vi bài viết này, (2002) chỉ ra rằng sự gia nhập<br /> phát triển rất nhanh chóng do khả năng tiếp cận tín dụng các NHNNg cải thiện điều<br /> gia tăng các dòng vốn quốc ngân hàng là khả năng của kiện tài chính cho các doanh<br /> tế và các hoạt động đầu tư khách hàng để được nhận và nghiệp ở mọi quy mô, dù các<br /> trực tiếp nước ngoài, toàn cầu sử dụng nguồn vốn vay (debt) doanh nghiệp lớn được lợi<br /> hóa thị trường vốn và tự do từ ngân hàng. nhiều hơn. Beck và các tác<br /> hóa các thị trường tài chính Khả năng tiếp cận tín dụng giả (2004) và Berger và các<br /> trong nước. Tác động của ngân hàng cho biết mức độ tác giả (2004) kết luận rằng<br /> việc các NHNNg gia nhập sử dụng nợ của doanh nghiệp sự hiện diện của các NHNNg<br /> vào nền kinh tế của một quốc trong phạm vi các NHTM. làm tăng nguồn cung tín<br /> gia đã gây ra nhiều tranh cãi Ngân hàng luôn quan tâm đến dụng cho các DNNVV. Các<br /> cả trên khía cạnh lý thuyết năng lực vay nợ của khách doanh nghiệp nước ngoài lớn<br /> và nghiên cứu thực nghiệm. hàng nhằm gia tăng doanh số thường có mối quan hệ với<br /> Một mặt, sự gia nhập của các cho vay và mang lại thu nhập ngân hàng nước ngoài trong<br /> NHNNg có thể giảm đáng kể lãi vay cho ngân hàng khi khi các doanh nghiệp nhỏ<br /> chi phí tín dụng bằng cách quyết định cho vay (Tirole, thường được các ngân hàng<br /> đưa vốn, kỹ thuật và đổi mới 2006). Do vậy, khả năng tiếp tư nhân trong nước cung cấp<br /> sản phẩm sang các nước tiếp cận tín dụng ngân hàng phần dịch vụ. Tuy nhiên, sự gia<br /> nhận (Bruno và Hauswald, nào phản ánh sự bị động nhập của các NHNNg vẫn có<br /> 2013); làm tăng cạnh tranh của doanh nghiệp trước sự lợi cho những người cho vay<br /> và dẫn đến cải thiện hiệu quả lựa chọn và phán quyết của nhỏ thông qua việc làm tăng<br /> hoạt động của ngành ngân NHTM. hiệu quả cho vay của ngân<br /> hàng; cuối cùng là đem lại hàng trong nước. Hơn nữa,<br /> lợi ích cho khách hàng của 2.2. Tác động của sự gia cạnh tranh của các NHNNg<br /> hệ thống ngân hàng, bao gồm nhập các ngân hàng nước để giành các khách hàng lớn<br /> cả DNNVV. Mặt khác, một ngoài đến khả năng tiếp cận của các ngân hàng trong nước,<br /> số nghiên cứu cũng chứng tín dụng ngân hàng của các buộc các ngân hàng này phải<br /> minh được sự tác động đôi doanh nghiệp nhỏ và vừa tìm các phân khúc thị trường<br /> khi chưa rõ nét bởi nó phụ mới, như cấp tín dụng cho các<br /> thuộc vào mức độ phát triển Trong những năm gần đây, DNNVV. Trong cuộc khảo sát<br /> kinh tế của nước sở tại hoặc hoạt động ngân hàng quốc tế các ngân hàng tại 78 quốc gia,<br /> do thời gian ảnh hưởng chưa đã phát triển rất nhanh chóng. Jenkins (2000) đã nhận thấy<br /> đủ dài (Lensink & Hermes, Sự hiện diện của các NHNNg 44% các ngân hàng cho vay<br /> 2004). Trong thời gian qua, đã tác động trực tiếp đến hệ các doanh nghiệp nhỏ và siêu<br /> <br /> <br /> © Học viện Ngân hàng Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng<br /> ISSN 1859 - 011X 20 Số 205- Tháng 6. 2019<br /> nhỏ là do sự thay đổi các điều cho vay các doanh nghiệp lợi thế tương đối trong việc<br /> kiện thị trường và gia tăng có thông tin không rõ ràng/ thu thập và xử lý các thông<br /> cạnh tranh trong cho vay các không đầy đủ (Dell›Ariccia và tin mềm so với các ngân hàng<br /> doanh nghiệp lớn và doanh Marquez, 2004). lớn có xu hướng thẩm định<br /> nghiệp vừa. Tác động tiêu cực: Tuy nhiên, các khoản vay dựa trên các<br /> Haas và Van Lelyveld (2006) bên cạnh những tác động tích phương pháp chuẩn hóa để<br /> cho rằng các NHNNg có cực kể trên thì sự gia nhập đánh giá định mức tín nhiệm<br /> động lực và kỹ thuật để cho của các NHNNg cũng có thể dựa trên các thông tin có<br /> vay DNNVV. Các NHNNg mang đến những tác động tiêu sẵn. Đồng thời, các NHNNg<br /> dần dần tăng cho vay bán lẻ cực. Theo quan điểm quản trị cũng không phải là nhân<br /> và cho vay các doanh nghiệp hoạt động, các NHNNg mới vật chính trên phân khúc thị<br /> nhỏ. Các chi nhánh bắt đầu gia nhập thường tập trung vào trường này vì họ không có lợi<br /> triển khai cho thuê tài chính các khách hàng là công ty thế về thông tin để tạo dựng<br /> và các ngân hàng mẹ cũng đa quốc gia, các công ty bản mối quan hệ với DNNVV và<br /> giới thiệu các kỹ thuật cho địa quy mô lớn và các khách khả năng tiếp cận tín dụng<br /> vay mới cho các chi nhánh. hàng có thu nhập cao (chủ của các doanh nghiệp nhỏ sẽ<br /> Trong khi đó, bản thân các yếu các gia đình hoặc cá nhân giảm nếu NHNNg bỏ qua các<br /> DNNVV cũng ngày càng giàu có). Trong giai đoạn này, doanh nghiệp nhỏ và/ hoặc<br /> minh bạch hơn để có thể được các DNNVV ở các nước bản các ngân hàng trong nước<br /> cho vay dựa trên giao dịch. địa thường khó đi vay từ các cũng bỏ qua các doanh nghiệp<br /> Đồng thời, sự cạnh tranh ngày NHNNg, trong khi các ngân nhỏ và/ hoặc hướng các ngân<br /> càng gia tăng giữa các doanh hàng trong nước không thể hàng trong nước ra khỏi thị<br /> nghiệp blue-chip đã kích thích đủ sức bù đắp cho việc mất trường có các doanh nghiệp<br /> các NHNNg nắm bắt cơ hội các khách hàng lớn về tay nhỏ. Do đó, sự gia nhập của<br /> trong cho vay DNNVV. Bán các NHNNg. Do áp lực cạnh các NHNNg có thể phá hủy<br /> các sản phẩm và dịch vụ phi tranh các ngân hàng phải đối các thông tin được tạo ra qua<br /> tín dụng cho các DNNVV mặt nên các ngân hàng trong mối quan hệ giữa ngân hàng<br /> nhằm làm gia tăng mối quan nước bị rơi vào bẫy tăng chi và người đi vay. Sự gia nhập<br /> hệ giữa các NHNNg với các phí hoạt động và lợi nhuận của NHNNg có thể ảnh hưởng<br /> DNNVV, là một phần trong biên biến động. Do đó, các đến DNNVV vì các tổ chức<br /> những nỗ lực của các ngân ngân hàng bản địa sẽ không nước ngoài có xu hướng lựa<br /> hàng để trở thành ngân hàng thể cho các DNNVV vay được chọn “cherry pick” những<br /> chính mà DNNVV lựa chọn do các doanh nghiệp này có khách hàng đem lại lợi nhuận<br /> giao dịch và do đó làm tăng nhu cầu đa dạng, thiếu tài sản lớn nhất, giảm tài trợ cho các<br /> thị phần cho vay đối với khu thế chấp và chưa có uy tín. khu vực khác, đặc biệt là các<br /> vực DNNVV. Vì thế, sự gia nhập của các doanh nghiệp nhỏ.<br /> Các doanh nghiệp có thể NHNNg chưa giải quyết được Nghiên cứu của Giannetti và<br /> không cần trực tiếp tiếp cận vấn đề tồn tại lâu dài mà còn Ongena (2010) xem xét mối<br /> các NHNNg để được lợi từ làm nó trầm trọng hơn, ít nhất quan hệ với ngân hàng của các<br /> hội nhập tài chính, vì sự gia là trong ngắn hạn (Keeton, doanh nghiệp tại thời điểm<br /> nhập các NHNNg có thể thúc 1995). đầu và kết thúc một giai đoạn,<br /> đẩy những thay đổi trên thị Bằng chứng thực nghiệm từ trong đó thị trường tín dụng<br /> trường tín dụng ở nước sở tại, thị trường ngân hàng Mỹ cho trong nước chứng kiến cả sự<br /> nhờ đó dẫn đến những ảnh thấy các ngân hàng lớn chỉ sáp nhập nội địa và sự gia<br /> hưởng tích cực lên các doanh phân bổ một phần nhỏ hơn tài nhập của các NHNNg thông<br /> nghiệp. Bằng cách giành được sản của họ vào các khoản cho qua sáp nhập và liên doanh.<br /> những người đi vay có uy tín vay doanh nghiệp nhỏ so với Theo đó, các NHNNg sẽ giảm<br /> và có thông tin rõ ràng, các các ngân hàng nhỏ (Berger khả năng tiếp cận hệ thống<br /> NHNNg có thể buộc các ngân và các tác giả, 1995; Keeton, ngân hàng của một vài người<br /> hàng trong nước phải gia tăng 1995). Các ngân hàng nhỏ có đi vay nếu mối quan hệ này có<br /> <br /> <br /> © Học viện Ngân hàng Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng<br /> ISSN 1859 - 011X 21 Số 205- Tháng 6. 2019<br /> Bảng 1. Ngân hàng đầu tư 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam tính đến 31/12/2018<br /> Đơn vị: Tỷ đồng<br /> STT Ngân hàng nước ngoài Năm gia nhập Vốn điều lệ<br /> 1 HSBC (Hong Kong) 2008 7.528<br /> 2 ANZ (Úc) 2008 3.000<br /> 3 Hong leong (Malaysia) 2008 3.000<br /> 4 Shinhan bank (Hàn Quốc) 2008 4.547,1<br /> 5 Standard Chartered bank (Anh) 2008 4.215,3<br /> 6 Woori Vietnam 2016 4.600<br /> 7 CIMB Bank Berhad 2016 3.203,2<br /> 8 Public Bank Berhad 2016 3.000<br /> 9 UOB (Singapore) 2017 3.000<br /> Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu từ website NHNN<br /> <br /> <br /> xu hướng dừng lại sau khi có thuận có lợi trong lĩnh vực được nới lỏng tối đa cho các<br /> sự gia nhập của NHNNg. Nếu ngân hàng, nhằm thu hút các NHNNg. Các NHNNg hoạt<br /> không phải như vậy thì thực tế NHNNg lớn vào hoạt động động tại Việt Nam được phép<br /> là các NHNNg có thể chủ yếu tại thị trường Việt Nam. cung cấp hầu hết các loại hình<br /> tiếp cận những người đi vay Chẳng hạn, để mở chi nhánh dịch vụ ngân hàng như: cho<br /> lớn và có uy tín, quyết định NHNNg tại Việt Nam, ngân vay, nhận tiền gửi, cho thuê<br /> của ngân hàng là chỉ tập trung hàng mẹ phải có tổng tài sản tài chính, kinh doanh ngoại tệ,<br /> vào danh mục dựa trên một có trên 20 tỷ USD vào cuối các công cụ thị trường tiền tệ,<br /> nhóm khách hàng giới hạn. năm trước thời điểm xin mở các công cụ tài chính phái sinh,<br /> chi nhánh, mức yêu cầu tổng môi giới tiền tệ, quản lý tài sản,<br /> 3. Thực trạng khả năng tiếp tài sản có đối với việc thành cung cấp dịch vụ thanh toán, tư<br /> cận tín dụng ngân hàng của lập ngân hàng liên doanh vấn tài chính.<br /> doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt hoặc ngân hàng con 100% Thông qua hình thức mua cổ<br /> Nam khi có sự gia nhập của vốn nước ngoài là trên 10 phần các NHTM cổ phần trong<br /> các ngân hàng nước ngoài tỷ USD. Tổng mức góp vốn nước, các NHNNg đã thâm<br /> mua cổ phần của các tổ chức, nhập ngày càng sâu rộng vào<br /> 3.1. Sự gia nhập của các cá nhân nước ngoài tại từng hệ thống tài chính ngân hàng<br /> ngân hàng nước ngoài tại NHTM cổ phần của Việt Nam Việt Nam. Tính đến tháng<br /> Việt Nam không được vượt quá 30% 6/2011, 12 NHTM cổ phần<br /> vốn điều lệ của ngân hàng đó. đã có đối tác chiến lược nước<br /> Cam kết của Việt Nam khi Đến nay, hệ thống tài chính ngoài (Bảng 2). Điều này xuất<br /> gia nhập Tổ chức Thương mại ngân hàng Việt Nam đã ghi phát từ chiến lược tận dụng<br /> Thế giới (WTO) trong việc nhận những dấu ấn gia nhập thế mạnh của các ngân hàng<br /> mở cửa hệ thống tài chính của các NHNNg dưới 6 hình Việt Nam có sẵn mạng lưới chi<br /> ngân hàng cho các nhà đầu thức: thành lập văn phòng đại nhánh và nền khách hàng. Còn<br /> tư nước ngoài đã giúp mở diện; ngân hàng liên doanh phía Việt Nam tận dụng lợi thế<br /> rộng phạm vi kinh doanh cho (NHLD); chi nhánh NHNNg; về công nghệ và kỹ năng quản<br /> các NHNNg và đem lại cho đầu tư 100% vốn nước ngoài; lý tiên tiến từ phía các đối tác<br /> họ nhiều cơ hội kinh doanh góp vốn vào các NHTM nội chiến lược này để từng bước có<br /> hơn nữa. Trong các cuộc đàm địa; mua lại và sáp nhập. thể thâm nhập vào thị trường tài<br /> phán khi gia nhập WTO, Việt Phạm vi hoạt động và loại chính ngân hàng trong khu vực.<br /> Nam đã đạt được một số thỏa hình dịch vụ ngân hàng<br /> <br /> <br /> © Học viện Ngân hàng Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng<br /> ISSN 1859 - 011X 22 Số 205- Tháng 6. 2019<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2