
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
774
KHẢO SÁT BẤT THƯỜNG NHIỄM SẮC THỂ 5q31 VÀ 7q31
TRÊN NGƯỜI BỆNH LOẠN SINH TỦY BẰNG KỸ THUẬT FISH
TẠI BỆNH VIỆN TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC
Cao Sỹ Luân1,3, Trần Thế Vinh1, Lê Nguyễn Kim Dung1,
Phạm Kim Thạnh1, Trần Thị Thiên Kim1,
Bùi Thị Diễm Kiều4, Phan Thị Xinh1,2
TÓM TẮT93
Mục tiêu: Khảo sát bất thường nhiễm sắc thể
(NST) 5q31 và 7q31 trên người bệnh loạn sinh
tủy (MDS) bằng kỹ thuật lai tại chỗ phát huỳnh
quang (FISH). Đối tượng và phương pháp:
Người bệnh được chẩn đoán MDS theo tiêu
chuẩn WHO (World Health Organization) tại
Bệnh viện Truyền máu Huyết học (BV.TMHH)
từ tháng 01/2023 đến tháng 12/2024, có gửi mẫu
tủy xương để khảo sát bất thường liên quan NST
5q31 và 7q31 bằng kỹ thuật FISH. Kết quả:
Chúng tôi khảo sát các bất thường NST 5q31 và
7q31 trên 108 người bệnh MDS bằng kỹ thuật
FISH với 2 loại đoạn dò phủ tại các vùng tương
ứng trên các NST 5 và NST 7, kết quả xác định
có 26 người bệnh (24%) phát hiện bất thường
NST liên quan 5q31 và 7q31. Trong đó, 17 người
bệnh (15,7%) có bất thường NST 5q31 và 9
người bệnh (8,3%) có bất thường NST 7q31. Đối
với 17 người bệnh có bất thường trên NST 5q31
thì có 12 trường hợp (11,1%) bất thường về cấu
1Bệnh viện Truyền máu Huyết học
2Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
3Đại học Cửu Long
4Bệnh viện Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh
Chịu trách nhiệm chính: Phan Thị Xinh
SĐT: 0932.728.115
Email: xinhpt@bth.org.vn
Ngày nhận bài: 30/04/2025
Ngày phản biện khoa học: 15/06/2025
Ngày duyệt bài: 30/07/2025
trúc NST là mất đoạn 5q31 và 5 trường hợp
(4,6%) vừa có bất thường về số lượng và cấu trúc
NST, cụ thể là đa bội từ 3 đến 6 NST 5 kèm mất
đoạn 5q31. Còn kết quả phân tích trên 9 người
bệnh có bất thường NST 7 thì cho thấy có 4
trường hợp (3,7%) được ghi nhận có mất đoạn
7q31, và 5 trường hợp (4,6%) là monosomy 7.
Kết luận: Chúng tôi đã xác định có 24% trường
hợp MDS có các bất thường về cấu trúc và số
lượng liên quan NST 5 và các NST 7. Như vậy,
kỹ thuật FISH với 2 kiểu đoạn dò đặc hiệu khảo
sát các bất thường NST 5q31 và 7q31 đã giúp
xác định các bất thường NST liên quan đến NST
5 và NST 7 trong bệnh MDS một cách nhanh
chóng, chính xác, giúp việc phân nhóm tiên
lượng và lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp
cho người bệnh.
Từ khóa: Loạn sinh tủy, bất thường nhiễm
sắc thể 5q31 và 7q31, kỹ thuật FISH.
SUMMARY
DETECTION OF 5q31 AND 7q31
CHROMOSOMAL ABNORMALITIES
IN MYELODYSPLASTIC SYNDROMES
BY FISH TECHNIQUE AT THE BLOOD
TRANSFUSION AND HEMATOLOGY
HOSPITAL
Objective: Detection of 5q31 and 7q31
chromosomal abnormalities in patients with
myelodysplastic syndromes (MDS) by
fluorescence in situ hybridization (FISH).
Subjects and Methods: The patient was

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
775
diagnosed with MDS according to WHO (World
Health Organization) standards at the Blood
Transfusion Hematology Hospital (BTH) from
January 2023 to December 2024, having bone
marrow samples sent to examine cytogenetic
abnormalities related to chromosomes 5q31 and
7q31 using the FISH technique. Results: We
analyzed the abnormalities of chromosomes 5q31
and 7q31 in 108 MDS patients using the FISH
technique with 2 types of probes to identify the
corresponding regions on chromosomes 5 and 7.
We found that 26 patients (24%) had
chromosomal abnormalities related to 5q31 and
7q31. Of these, 17 patients (15.7%) had
abnormalities of chromosome 5q31 and 9
patients (8.3%) had abnormalities of
chromosome 7q31. For the 17 patients with
abnormalities on chromosome 5q31, there were
12 cases (11.1%) with structural abnormalities of
chromosomes regarding deletion of 5q31, and 5
cases (4.6%) with both abnormalities related to
the number and structure of chromosomes being
polyploidy from 3 to 6 chromosomes 5 together
with deletion of 5q31. The analysis results on 9
patients with chromosome 7 abnormalities
showed that 4 cases (3.7%) were 7q31 deletion,
and 5 cases (4.6%) were monosomy 7.
Conclusions: We determined that 24% of MDS
cases have structural and quantitative
abnormalities related to chromosomes 5 and 7.
Therefore, the FISH technique with 2 specific
probe types to identify the abnormalities of
chromosomes 5q31 and 7q31 has been useful to
quickly and accurately detect chromosomal
abnormalities related to chromosomes 5 and 7 in
MDS, helping to classify prognosis and choose
appropriate treatment methods for patients.
Keywords: Myelodysplasia, abnormalities of
chromosomes 5q31 and 7q31, FISH technique.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng loạn sản tủy (Myelodysplastic
Syndromes - MDS) là một nhóm các rối loạn
liên quan tế bào gốc tạo máu không đồng
nhất đặc trưng bởi tình trạng giảm tế bào
máu ngoại vi, bất thường kiểu hình di truyền
tế bào, ảnh hưởng đến một hoặc nhiều dòng
tế bào gốc tạo máu và làm tăng nguy cơ
chuyển cấp thành bệnh bạch cầu cấp tính
dòng tủy (Acute Myeloid Leukemia - AML).
Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh được
sự liên quan giữa các bất thường nhiễm sắc
thể (NST) đến chẩn đoán tiên lượng MDS
giai đoạn đầu [1], [2]. Phân nhóm tiên lượng
MDS nguy cơ cao và thấp để lựa chọn phác
đồ điều trị được đặc trưng bởi các bất thường
NST cụ thể như mất đoạn 5q, monosomy 7,
trisomy 8, mất đoạn 20q, mất NST Y và các
bất thường NST phức tạp khác [3]. Các bất
thường di truyền tế bào có thể được phát hiện
ở 40 - 60% bệnh nhân MDS mới chẩn đoán
và 90% bệnh nhân là MDS thứ phát liên
quan đến điều trị hoặc chuyển cấp từ bệnh lý
khác như hội chứng tăng sinh tủy [4]. Hiện
nay, có nhiều phương pháp được ứng dụng
để phát hiện các bất thường về di truyền tế
bào và phân tử trong MDS để hỗ trợ chẩn
đoán và theo dõi điều trị như xét nghiệm
nhiễm sắc thể đồ, lai tại chỗ phát huỳnh
quang (FISH) giải trình tự gen thế hệ mới
(Next-generation Sequencing – NGS), phân
tích DNA tự do trong huyết tương (Cell-free
DNA - cfDNA) [5].
Trong các bất thường di truyền tế bào
liên quan MDS thì bất thường NST 5 và NST
7 chiếm khoảng 15% các trường hợp, có thể
xảy ra riêng lẻ hoặc đồng thời [6]. Trong đó,
thì mất đoạn NST 5q được phân loại là một
phân nhóm riêng trong MDS, thường liên
quan tới thiếu máu hồng cầu to và tăng tiểu
cầu, tiên lượng được đánh giá là tốt hơn các
nhóm bất thường di truyền tế bào khác với
thời gian sống dài hơn và nguy cơ tiến triển

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
776
thành AML thấp hơn [7]. Còn các bất thường
liên quan NST 7 như mất đoạn 7q hay
monosomy 7 thì thuộc nhóm tiên lượng xấu
và nguy cơ cao tiến triển thành AML, đặc
biệt ngươi bệnh có monosomy 7 thì tiến triển
bệnh rất nhanh và thời gian sống ngắn [6].
Bất thường ở vị trí NST 5q31 liên quan tới
các gen EGR1, CSNK1A1, và G3BP1, được
cho là liên quan tới tiến triển thành AML [8].
Trong khi đó, bất thường NST 7q31-7q36
chiếm hơn 90% các trường hợp bất thường
liên quan NST 7q [8].
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng
kỹ thuật FISH khảo sát các bất thường NST
5q31 và NST 7q31 trên người bệnh MDS tại
Bệnh viện Truyền máu Huyết học
(BV.TMHH) để phân tích đặc điểm bất
thường về di truyền tế bào và cung cấp thêm
dữ liệu giúp các bác sĩ lâm sàng phân nhóm
tiên lượng được chính xác và hiệu quả hơn.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh được chẩn đoán MDS theo
tiêu chuẩn WHO (World Health
Organization) tại BV.TMHH từ tháng
01/2023 đến tháng 12/2024.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
• Thiết kế nghiên cứu: Mô tả loạt ca.
• Phương pháp tiến hành: Thu thập 1 - 2
mL mẫu dịch hút tủy xương của người bệnh
trong chống đông Heparin và được thu hoạch
trực tiếp không qua nuôi cấy để thu hoạch tế
bào bạch cầu và cố định tế bào trên tiêu bản.
Các đoạn dò được sử dụng để lai hóa với cấu
trúc được mô tả bao gồm:
- Del(5q) Deletion Probe – 5q31
(Cytocell, UK) (Hình 1).
- LSI D7S522/Vysis CEP 7 FISH Probe
Kit – 7q31 (Abbott, Germany) (Hình 2).
Tiêu bản tế bào và đoạn dò được biến
tính bằng máy ThermoBrite (Abbott, Hoa
Kỳ) ở 75oC trong 5 phút, sau đó ủ ở 37oC
qua đêm (khoảng từ 18 đến 20 tiếng). Các
bước rửa sau lai được thực hiện như mô tả
theo Lê Nguyễn Kim Dung và cộng sự [9].
Sau đó, mẫu được được phân tích trên 200 tế
bào cho mỗi tiêu bản của người bệnh và đối
chiếu với kết quả nhiễm sắc thể đồ.
Hình 1. Cấu trúc các đoạn dò NST 5q31
Đoạn dò gắn chất phát huỳnh quang màu đỏ nằm tại vùng NST 5q31 trải dài 186Kb phủ
qua gen EGR1 chứa dấu ấn D5S500 và đoạn dò gắn chất phát huỳnh quang màu xanh phủ
qua dấu ấn D5S630 tại vùng NST 5p15.3 với độ dài 376kb.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2025
777
Hình 2. Cấu trúc đoạn dò NST 7q31
Đoạn dò tại vùng NST 7q31 gắn chất
phát huỳnh quang màu đỏ trải dài 224kb phủ
qua dấu ấn D7S522 và đoạn dò gắn chất
phát huỳnh quang màu xanh nằm tại vùng
centrome 7 (D7Z1).
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát
các bất thường NST 5q31 và 7q31 trên 108
người bệnh được chẩn đoán MDS bằng kỹ
thuật FISH. Các bất thường NST được nhận
diện dựa vào các tín hiệu huỳnh quang xanh,
đỏ trên mỗi tế bào (Hình 3).
Hình 3. Kết quả bất thường liên quan NST 5 và NST 7
A: mất đoạn 5q31; B: đa bội kèm mất
đoạn 5q31; C: mất đoạn 7q31; D: monosomy
7 Phân tích kết quả FISH với 2 đoạn dò
được khảo sát trên 108 người bệnh MDS,
chúng tôi phát hiện có 26 người bệnh có bất
thường liên quan NST 5q31 và NST 7q31,
chiếm tỉ lệ 24%. Trong đó, 17 trường hợp
(15,7%) có bất thường trên NST 5q31 và 9
trường hợp (8,3%) có bất thường trên NST
7q31. Còn lại 82 trường hợp (76%) không
phát hiện bất thường di truyền tế bào trên các
NST 5q31 và 7q31 được khảo sát (Bảng 1).
Bảng 1. Bất thường NST trên 108 người bệnh MDS
Bất thường NST
Trường hợp
Tỉ lệ (%)
NST 5
17
15,7
NST 7
9
8,3
Không có bất thường NST 5 và NST 7
82
76,0
Tổng
108
100,0

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC VIỆT NAM LẦN 8
778
Chúng tôi phân tích về đặc điểm di
truyền tế bào của các trường hợp có bất
thường trên các NST 5q31 và 7q31 để xác
định là bất thường về cấu trúc NST hay số
lượng NST. Đối với 17 người bệnh có bất
thường trên NST 5q31 thì trong đó, có 12
trường hợp (11,1%) bất thường về cấu trúc
NST là mất đoạn 5q31 (Hình 3A) và 5
trường hợp (4,6%) vừa có bất thường về cấu
trúc NST và số lượng NST là đa bội từ 3 đến
6 NST 5 kèm mất đoạn 5q31 (Hình 3B). Kết
quả phân tích trên 9 người bệnh có bất
thường NST 7 cho thấy có 4 trường hợp
(3,7%) được ghi nhận có mất đoạn 7q31
(Hình 3C), 5 trường hợp (4,6%) là
monosomy 7 (Hình 3D). Kết quả tổng hợp tỷ
lệ các trường hợp có bất thường về cấu trúc
NST và số lượng NST trên các NST 5q31 và
7q31 được mô tả trong Bảng 2.
Bảng 2. Bất thường về cấu trúc và số lượng NST 5 và NST 7 trên người bệnh MDS
Số người bệnh
Tỉ lệ
NST 5
Mất đoạn 5q31
12
11,1%
Đa bội kèm mất đoạn 5q31
5
4,6%
NST 7
Mất đoạn 7q31
4
3,7%
Monosomy 7
5
4,6%
Đặc biệt, trong 26 người bệnh có bất
thường liên quan NST 5 và NST 7, có một
trường hợp vừa có mất đoạn 5q31 vừa có
mất đoạn 7q31 (Hình 4A, B), một trường
hợp có mất đoạn 5q31 kèm monosomy 7
(Hình 4C, D). Ngoài ra, trong 26 người bệnh
này, có 17 trường hợp (65,4%) cho thấy
đồng thời có bất thường NST khác kèm theo
bất thường trên NST 5 và NST 7 dựa vào kết
quả phân tích nhiễm sắc thể đồ.
Hình 4. Kết quả các trường hợp có bất thường trên cả NST 5 và NST 7
A, B: có mất đoạn 5q31 và 7q31; C, D:
có mất đoạn 5q31 kèm monosomy 7
IV. BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy có khoảng ¼ người bệnh MDS có bất
thường di truyền tế bào liên quan đến NST 5
và NST 7. Cụ thể, chúng tôi ghi nhận có
15,7% trường hợp là mất đoạn NST 5q31
được chia thành 2 nhóm, một nhóm chỉ có
mất đoạn 5q31 (11,1%), và một nhóm là có
thêm đa bội NST 5 (4,6%). Đối với bất
thường NST 7q31 thì có 8,3% trường hợp,
cũng gồm 2 nhóm là mất đoạn NST 7q31

