1
TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. Lý do hình thành đề tài:
Sức khoẻ là một vấn đề rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dân số,
nó là một trong chiến lược phát triển con người ở mỗi quốc gia trên Thế giới. Theo
Tổ chức Y tế Thế Giới “Sức khoẻ không chỉ là trạng thái không bệnh không tật mà
còn là trạng thái hoàn toàn thoải mái về các mặt cơ thể, tâm thần và xã hội”. Sức
khoẻ giúp con người làm việc tốt và chủ động tham gia vào các hoạt động đời sống
kinh tế xã hội, cộng đồng. Vì vậy, muốn phát triển đất nước, trước hết phải quan
tâm tới yếu tố sức khỏe, lấy con người làm trung tâm.
Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật đã kéo theo những
biến đổi về mặt văn hóa xã hội làm ảnh hưởng đến các mối quan hệ tinh thần giữa
người và người. Do vậy, sức khỏe tâm thần đang ngày càng trở thành vấn đề quan
trọng hơn trong xã hội hiện đại.
Theo kết quả điều tra dịch tễ học năm 2001 của các chuyên gia về tâm thần
Việt Nam, chỉ tính riêng 10 bệnh tâm thần thường gặp là: tâm thần phân liệt, trầm
cảm, động kinh, rối loạn lo âu, sa sút trí tuệ ở người già, loạn thần sau chấn thương
sọ não, chậm phát triển tâm thần, rối loạn tâm thần do rượu, rối loạn hành vi ở thanh
thiếu niên, rối loạn tâm thần do ma túy đã có 14.9% dân số mắc bệnh này.[7]
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ngành y tế
đã đạt được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nói chung
và chăm sóc sức khoẻ tâm thần nói riêng cho nhân dân. Nghị Quyết 46-NQ-TW
ngày 23-02-2005 của Bộ Chính Trị đã nhấn mạnh cần đổi mới và hoàn thiện hệ
thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển. Củng cố và hoàn thiện hệ
thống y tế cơ sở cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và cán bộ nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ và nâng cao sức khỏe với chất lượng ngày
càng cao, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.[4]
Với phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” đã và đang đi sâu vào nhận
thức của mọi người. Người dân ngày càng quan tâm đến sức khỏe tâm thần của
2
mình nhiều hơn, không chỉ dừng lại ở việc khám chữa bệnh mà đã nâng lên một bậc
đó là phòng bệnh. Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II là đơn vị đầu tiên của
ngành y tế Đồng Nai thực hiện nghị định 43/CP của Chính Phủ, được giao quyền tự
chủ về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu. Bệnh viện đã quán triệt nắm rõ 2
mục tiêu và 3 giải pháp của Nghị định để thay đổi tư duy: Từ hình thức phục vụ
chuyển sang hình thức cung cấp dịch vụ.[3]
Số người tìm đến Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II với mục đích kiểm
tra sức khỏe định kì hay tầm soát một số bệnh ngày một tăng, các hoạt động nhằm
nâng cao hiểu biết của người dân về các vấn đề sức khỏe tâm thần cũng được thực
hiện nhiều hơn.
Trong khi nhu cầu của người dân và xã hội ngày càng tăng lên thì ngành y tế
nước ta vẫn chưa theo kịp đà phát triển của xã hội, đặc biệt là việc nâng cao chất
lượng khám chữa bệnh trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần:
- Nguồn nhân lực chăm sóc sức khỏe tâm thần thiếu trầm trọng do những
mặc cảm xã hội, nhân viên y tế không thoải mái trong quản lý người bệnh tâm thần.
- Nhiều người dân được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần
nhưng lại không thể trả được mức chi phí y tế cơ bản.
- Việc lồng ghép dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần vào chăm sóc sức khỏe
tâm thần chưa được triển khai mạnh.
Việc tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và
tác động đến sự hài lòng của người bệnh khi đến với bệnh viện sẽ giúp ban lãnh đạo
bệnh viện có những giải pháp đúng đắn để nâng cao: hiệu quả về kinh tế, hiệu quả
về xã hội và hiệu quả chất lượng điều trị. Đây cũng là lý do tác giả mạnh dạn chọn
đề tài “Khảo sát mức độ hài lòng của người bệnh tại Bệnh Viện Tâm Thần
Trung Ương II” để nghiên cứu.
2. Tổng quan đề tài nghiên cứu:
Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như
hàng hoá nhưng phi vật chất. Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là
sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức
khoẻ...và mang lại lợi nhuận.
3
Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung
ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở
hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật
chất.
Còn các nhà khoa học về nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống lại có những quan
điểm như sau:
Theo quan niệm của Mác: “Nhu cầu là đòi hỏi khách quan của mỗi con
người trong những điều kiện nhất định, đảm bảo cho sự sống và phát triển của
mình”.
Theo quan điểm A.Maslow nhu cầu được chia thành 5 loại xếp heo thang
bậc từ thấp đến cao.[15]
+ Nhu cầu vật chất (sinh lý): thức ăn, không khí, nước uống...
+ Nhu cầu an toàn (bảo vệ): nhà ở, việc làm, sức khoẻ...
+ Nhu cầu giao tiếp xã hội: tình thương yêu, được hoà nhập….
+ Nhu cầu được tôn trọng: Được chấp nhận có một vị trí trong một nhóm
người...
+ Nhu cầu tự khẳng định mình: Nhu cầu hoàn thiện, được thể hiện khả năng
và tiềm lực của mình.
Dịch vụ xã hội là các hoạt động có chủ đích của con người nhằm phòng ngừa
- hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy
khả năng hoà nhập cộng đồng, xã hội. Đối với lĩnh vực y tế dịch vụ bao gồm các
hình thức khám chữa bệnh, điều dưỡng phục hồi chức năng về thể chất cũng như
tinh thần cho các đối tượng người bệnh. Để đáp ứng sự hài lòng của người bệnh
cần phải luôn quan tâm đến các nhu cầu của người bệnh trong từng giai đoạn từ
khâu phòng bệnh, khám bệnh cho đến chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng.
[16]
3. Mục tiêu nghiên cứu:
- Xác định các mong muốn của người bệnh khi khám và chữa bệnh tại Bệnh
Viện Tâm Thần Trung Ương II.
4
- Xây dựng mô hình nghiên cứu đo lường sự hài lòng của người bệnh dựa
trên việc tìm hiểu các nhân tố tác động đến sự hài lòng của người bệnh.
- Đánh giá thực trạng mức độ hài lòng của người bệnh khi khám và chữa
bệnh tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II.
- Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao sự hài lòng của người
bệnh khi khám chữa bệnh tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II.
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Đề tài giúp đánh giá mức độ hài lòng của người bệnh khi khám và chữa bệnh
tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II. Kết quả của việc khảo sát này sẽ giúp cho
bệnh viện có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng
người bệnh, những gì người bệnh đã hài lòng hoặc chưa hài lòng, từ đó ban quản lí
bệnh viện sẽ tập trung tốt hơn trong việc hoạch định, cải thiện chất lượng phục vụ
để từng bước tạo dựng được sự an tâm, tin tưởng nơi người bệnh. Đồng thời cũng
đáp ứng được 3 mục tiêu mà NĐ 43/CP đã đề ra đó là mang lại lợi ích cho Nhà
nước, lợi ích cá nhân và lợi ích cho người bệnh.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mức độ hài lòng của người bệnh với
dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh viện.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II.
+ Về thời gian: Tiến hành khảo sát từ 1/7/ 2010 đến 31/10/2010.
6. Phương pháp nghiên cứu:
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng các phương pháp:
- Thu thập số liệu để có căn cứ trong việc nghiên cứu, đánh giá rút ra những
kết luận và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao mức độ hài lòng của người bệnh
tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II.
- Phương pháp thống kê: Xử lí các số liệu thu thập được theo thuật toán
thống kê (phần mềm SPSS 15), kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach
Alpha, phân tích EFA, phân tích hồi quy tuyến tính.
7. Kết cấu của đề tài:
5
Ngoài các phần tổng quan đề tài nghiên cứu, danh mục, kết luận, tài liệu
tham khảo, phụ lục, bài nghiên cứu khoa học này được chia thành 3 chương với nội
dung như sau:
Chương 1: Cở sở lý luận.
Chương 2: Thực trạng mức độ hài lòng của người bệnh tại Bệnh viện
Tâm Thần Trung Ương II.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao mức độ hài lòng của người bệnh
tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG
CỦA KHÁCH HÀNG
Trong chương 1 tác giả dựa vào những cơ sở lí thuyết cơ bản đã được nghiên
cứu sẵn để làm nền tảng cho việc phân tích thực trạng ở chương 2, giúp đề tài có
tính khoa học và chặt chẽ. Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, trong chương này
tác giả sẽ trình bày những lý thuyết liên quan như khái niệm về dịch vụ, chất lượng
dịch vụ, mối liên hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng, sự hài
lòng của khách hàng trong dịch vụ và phương pháp thực hiện khảo sát.
1.1. Dịch vụ:
1.1.1. Một số khái niệm về dịch vụ:
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, không chỉ các nước có nền kinh tế phát
triển trên thế giới mới quan tâm đến việc phát triển loại hình dịch vụ mà các nước
đang phát triển cũng đang ngày càng chú trọng và đẩy mạnh việc phát triển các loại
hình dịch vụ vì nó đem lại nguồn lợi không nhỏ cho nền kinh tế của quốc gia đó.
Dịch vụ là một hoạt động ảnh hưởng đến các mặt trong đời sống của chúng
ta. [8] Các loại dịch vụ phổ biến hiện nay là:
+ Dịch vụ xã hội, con người: nhà hàng, chăm sóc sức khỏe.
+ Dịch vụ hành chính: giáo dục, chính quyền.
+ Dịch vụ bán hàng: bán lẻ, sửa chữa.
+ Dịch vụ công trình cơ sở: thông tin liên lạc, giao thông vận tải.
+ Dịch vụ kinh doanh: tư vấn, tài chính ngân hàng.
1.1.2. Định nghĩa dịch vụ: Dịch vụ là một khái niệm phổ biến có rất nhiều cách
định nghĩa về dịch vụ:
Dịch vụ theo nghĩa hẹp là những hoạt động không sản xuất ra của cải vật
chất, do những người bỏ sức lao động cung cấp hiệu quả vô hình mà không có sản
phẩm hữu hình…Theo nghĩa rộng, đó là những hoạt động đưa lao động sống vào
sản phẩm vật chất để thỏa mãn nhu cầu nào đó của người khác.
7
- Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách
thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm
thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
- Theo Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích
mà doanh nghiệp hay tổ chức có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng
cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng.
1.1.3. Đặc điểm của dịch vụ:
Dựa theo các khái niệm về dịch vụ, người ta rút ra 4 đặc điểm chính của dịch
vụ bao gồm: tính vô hình; tính không đồng nhất; tính không thể tách rời; tính không
thể tồn trữ.
+ Dịch vụ mang tính vô hình (Intangibility): bởi vì chúng ta không thể sờ mó
hay nắm bắt dịch vụ ở trong tay, dịch vụ không có hình dạng cụ thể như một sản
phẩm nên rất khó đo lường một cách chuẩn xác.
+ Dịch vụ không đồng nhất (Heterogeneity): bởi vì chúng hoàn toàn không
mang tính chất giống nhau. Mỗi dịch vụ đều có một mức độ thực hiện khác nhau, có
nghĩa là một dịch vụ có thể xếp hạng từ rất kém đến hoàn hảo. Những vấn đề thiết
yếu và chất lượng dịch vụ có thể thay đổi tùy người phục vụ, khách hàng và thời
gian. Tính không đồng nhất của dịch vụ đặc biệt ảnh hưởng tới ngành dịch vụ sử
dụng nhân công cao.
+ Dịch vụ không tách rời (Inspeparability): sản xuất và tiêu thụ dịch vụ là
đồng thời (Gronroos,1978). Một dịch vụ không thể tách thành hai giai đoạn riêng
biệt: giai đoạn tạo thành và giai đoạn tiêu thụ. Chất lượng dịch vụ thì luôn được
quan tâm trong suốt quy trình từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc sự tương tác giữa
khách hàng và người đại diện cung cấp dịch vụ.
+ Dịch vụ không thể tồn trữ (Unstored): ta không thể cất giữ dịch vụ và sau
đó lại mang ra sử dụng, một dịch vụ sẽ biến mất nếu ta không sử dụng nó. Sau khi
thực hiện xong thì không thể phục hồi bất kỳ thành phần nào của dịch vụ.
Như vậy, việc đảm bảo chất lượng của một dịch vụ là điều không đơn giản.
Chất lượng sẽ phụ thuộc vào người cung cấp: trình độ, năng lực, cảm xúc, thái độ..
1.2. Đo lường sự hài lòng của khách hàng trong dịch vụ:
8
Ngày nay khi nhu cầu đời sống không ngừng tăng lên thì con người ngày
càng đòi hỏi và có nhiều cơ hội để lựa chọn nhưng sản phẩm hay dịch vụ tốt nhất
cho mình. Đứng trước tình hình đó các bệnh viện cũng đang dần có xu hướng xem
người bệnh là khách hàng nhằm đáp ứng và đem lại cho họ nhiều lợi ích hơn. Xu
hướng đo lường sự thỏa mãn của khách hàng ngày càng phổ biến tại các nước phát
triển để nó xác định đặc trưng cũng như lợi thế cạnh tranh của họ nhưng tại Việt
Nam việc đo lường này thực sự chưa phổ biến.
1.2.1. Khái niệm về sự hài lòng của khách hàng:
Theo Philip Kotler, sự thỏa mãn - hài lòng của khách hàng (customer
satisfaction) là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so
sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm/dịch vụ với những kỳ vọng của
anh ta.[10]
Khách hàng chủ yếu hình thành mong đợi của họ thông qua những kinh
nghiệm trong quá khứ, thông tin từ miệng từ gia đình, bạn bè và đồng nghiệp và
thông tin được chuyển giao thông qua các hoạt động marketing, như quảng cáo hoặc
quan hệ công chúng. Nếu sự mong đợi của khách hàng không được đáp ứng, họ sẽ
không hài lòng và rất có thể họ sẽ kể những người khác nghe về điều đó. Trung bình
khách hàng gặp sự cố sẽ kể cho 9 người khác nghe về sự cố này và chỉ 4% khách
hàng không hài lòng sẽ phàn nàn. [15]
1.2.2. Đo lường chất lượng dịch vụ:
Theo tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000: 2000
đã đưa ra định nghĩa “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản
phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có
liên quan”.
Parasuraman (1991) giải thích rằng để biết được sự dự đoán của khách hàng
tốt nhất là nhận dạng và thấu hiểu những mong đợi của họ. Việc phát triển một hệ
thống xác định được những mong đợi của khách hàng là cần thiết. Và ngay sau đó
ta mới có một chiến lược chất lượng dịch vụ có hiệu quả.[15]
1.2.3. Đo lường sự thỏa mãn của khách hàng:
9
Theo một cuốn sách giáo khoa dành cho thợ cạo của thập niên 50 đã viết:
“Đừng bao giờ dùng con dao cùn để cạo cho khách hàng ngay cả khi bạn cho rằng
khách hàng đó chỉ gây phiền toái cho công việc của bạn”.[15]
Đo lường sự thỏa mãn khách hàng là đo lường mức độ trạng thái cảm giác
của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm hay dịch vụ
với những kì vọng của người đó.
Đo lường sự thỏa mãn của khách hàng là quá trình đo lường các “giá trị”
cảm nhận của khách hàng về mức độ đáp ứng các yêu cầu của khách hàng.
1.2.4. Đo lường sự hài lòng của khách hàng trong dịch vụ:
Sự thỏa mãn của khách hàng đối với dịch vụ là cảm xúc đối với công ty kinh
doanh dịch vụ dựa trên từng tiếp xúc hay giao dịch với công ty đó. (Bitner &
Hubbert, 1994)
Sự thỏa mãn = Sự cảm nhận - Sự mong đợi
( S (satisfaction) = P (perception) - E (expectation) )
Mối quan hệ giữa ba yếu tố S, P, E có tính chất quyết định trong tất cả các
công việc của dịch vụ. Những người cung cấp dịch vụ thường mắc phải sai lầm khi
điều khiển các mong đợi của khách hàng không xuất phát từ khách hàng, mà thường
từ ý muốn chủ quan của họ. Khả năng đặt bản thân vào vị trí người khác gọi là sự
đồng cảm, là kỹ năng có tính chất quyết định trong việc cung ứng sự tuyệt hảo của
dịch vụ. Trong quá trình dịch vụ khách hàng thì khách hàng sẽ nhận được các mức
độ thoả mãn: hoàn toàn không hài lòng, không hài lòng, bình thường, hài lòng, rất
hài lòng.
Sự hài lòng của khách hàng có nghĩa là bạn cam kết đáp ứng tất cả các mong
đợi của khách hàng trong mọi thời điểm…chứ không phải tùy lúc, tùy tâm trạng của
bạn là vui vẻ.
Như vậy, mức độ thoả mãn là bao hàm của sự khác biệt giữa kết quả nhận
được và kì vọng. Nghiên cứu về việc đo lường chất lượng dịch vụ tập trung chủ yếu
vào cách thức để thỏa mãn hay đáp ứng vượt mức sự mong đợi của khách hàng bên
ngoài và xem chất lượng dịch vụ như sự đo lường mức độ dịch vụ đáp ứng phù hợp
với mong đợi của khách hàng như thế nào.
10
1.3. Các phương pháp đánh giá chất lượng dịch vụ:
1.3.1. Phương pháp 7P: Chất lượng toàn diện của dịch vụ cũng có thể được định
nghĩa như là nhận thức của khách hàng về 7P bao gồm:
- Sản phẩm, giá và khuyến mãi (Product, Price & Promotion): những đặc tính
dịch vụ được cung cấp.
- Quy trình phục vụ (Procedure): những quy trình trong quá trình phục vụ
khách hàng như quy trình khám chữa bệnh, tư vấn, tiếp nhận người bệnh.
- Người phục vụ (Provider): phẩm chất của người trực tiếp thực hiện nhiệm
vụ, người phục vụ ở đây bao gồm nhân viên y tế và nhân viên thuộc bộ phận khác.
- Cách giải quyết tình huống (Problems): khả năng ứng phó, xử lý các tình
huống bất ngờ trong quá trình thực hiện dịch vụ.
- Chứng cứ vật lý (Physics): đó là cách bố trí không gian, phòng ốc và các
thiết bị khác.
1.3.2. Phương pháp SERVQUAL:
Phương pháp Servqual đã được đo lường để phát triển chất lượng dịch vụ
theo các môi trường khác nhau. Mô hình này dựa trên sự tính toán khác nhau giữa
kỳ vọng và nhận được trên một số tiêu chuẩn đặc trưng.
Bảng 1.1: Các yếu tố trong phương pháp Servqual của Parasuraman
Mô tả Các yếu tố
Sự tin cậy (Reliability)
Sự phản hồi (Responsiveness)
Sự đảm bảo (Assurance) Khả năng thực hiện dịch vụ đã hứa hẹn một cách chính xác và đáng tin tưởng. Sẵn sang giúp đỡ khách hàng và cung cấp dịch vụ nhanh chóng nhất Sự hiểu biết và tính nhã nhặn của nhân viên, khả năng tạo niềm tin đối với khách hàng.
Sự cảm thông (Empathy)
Thái độ phục vụ nhân viên chu đáo, nhiệt tình, tạo cảm giác yên tâm. Nhân viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị, các tài liệu liên quan Sự hữu hình (Tangibles)
(Nguồn: Phạm Văn Minh (2009), nghiên cứu khoa học) [9]
1.4. Các mô hình đo lường sự thỏa mãn khách hàng trong dịch vụ:
11
1.4.1. Mô hình Gronroos [14]:
Nhận thức của khách hàng về một dịch vụ dựa trên 2 yếu tố:
- Chất lượng kỹ thuật: liên quan đến những gì khách hàng được phục vụ.
- Chất lượng chức năng: dịch vụ được cung cấp như thế nào.
1.4.2. Mô hình khoảng cách của chất lượng dịch vụ:
Sự thỏa mãn khách hàng là mức độ trạng thái cảm xúc của một người xuất
phát từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm dịch vụ với các kỳ vọng của
người đó. Do đó, mức độ thỏa mãn là hàm số của sự khác biệt giữa kết quả nhận
được và các kỳ vọng. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra mô hình 5 loại sai lệch (Gap)
chi phối chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng:
Thông tin truyền miệng
Kinh nghiệm quá khứ
Nhu cầu cá nhân
Dịch vụ mong đợi
Sai lệch loại 5
Dịch vụ nhận được
Khách hàng
Thông báo cho khách hàng
Dịch vụ trước và sau khi cung cấp
Sai lệch loại 4
Sai lệch loại 3
Nhà cung cấp dịch vụ
Diễn giải nhận thức thành các đặc tính chất lượng dịch vụ
Sai lệch loại 1
Sai lệch loại 2
Nhận thức của nhà quản lý về mong đợi của khách hàng
Sơ đồ 1.1: Mô hình các loại sai lệch trong chất lượng dịch vụ.
( Nguồn: Parasuraman, Zeithaml, Berry, 1985) [11]
12
Giải thích mô hình:
Gap 1: sai lệch giữa nhận thức của nhà quản lý với mong muốn của khách
hàng. Đây là sai lệch gây thiệt hại nhiều nhất. Sai lệch này do nhà quản lý không
nắm bắt được nhu cầu và mong muốn từ phía khách hàng.
Gap 2: sai lệch giữa các đặc tính của chất lượng dịch vụ với nhận thức của
nhà quản lý. Sai lệch này vẫn tồn tại khi các nhà quản lý hiểu rõ mong muốn của
khách hàng. Sai lệch này bị ảnh hưởng bởi mức độ cam kết về chất lượng dịch vụ
của nhà quản lý, việc hình thành mục tiêu chất lượng dịch vụ, việc chuẩn hóa các
nhiệm vụ và tính khả thi của việc đáp ứng các mong muốn của khách hàng.
Gap 3: sai lệch giữa việc cung cấp dịch vụ với các đặc tính chất lượng dịch
vụ. Khi kết quả cung cấp dịch vụ thấp dưới mức tiêu chuẩn thì sai lệch loại 3 xuất
hiện. Sai lệch loại này là do kết quả phục vụ kém, không đạt tiêu chuẩn phục vụ
Gap 4: sai lệch giữa những thông báo cho khách hàng với việc cung cấp dịch
vụ. Sai lệch loại này nảy sinh khi các công ty không giữ đúng cam kết, khách hàng
cảm nhận dịch vụ không tốt khi các cam kết về dịch vụ không được thực hiện. Việc
này thường là do cung cấp cho khách hàng các thong tin không chính xác.
Gap 5: Sai lệch giữa dịch vụ mong muốn và dịch vụ nhận được. Sai lệch loại
này là do sự chênh lệch mà khách hàng cảm thấy giữa mức chất lượng mà họ chờ
đợi so với chất lượng mà họ cảm nhận sau khi sử dụng dịch vụ.
Tuy nhiên nhiều khi dịch vụ được cung cấp thỏa mãn các tiêu chuẩn cụ thể và cảm
nhận khách quan của khách hàng về chất lượng dịch vụ là chấp nhận được nhưng
khách hàng vẫn cảm thấy không thỏa mãn.
Chất lượng dịch vụ được khách hàng cảm nhận như là một hàm số của sai
lệch loại 5 (Parasuraman & Ctg, 1985). Sai lệch loại 5 phụ thuộc vào các sai lệch
trước đó, nghĩa là sai lệch 1,2,3,4. Vì thế để rút ngắn sai lệch loại 5 cho dễ hiểu thì
nhà quản lý thường rút ngắn các sai lệch này:
Chất lượng dịch vụ= F (Gap 5)= F ( Gap1, Gap2, Gap 3, Gap 4)
13
Các nhu cầu cá nhân
Thông tin từ các nguồn khác nhau
Trải nghiệm quá khứ
Dịch vụ mong đợi (E)
Chất lượng dịch vụ nhận được Q= P-E
Dịch vụ nhận được (P)
Các thành phần: - Độ tin cậy - Độ phản hồi - Sự bảo đảm - Sự cảm thông - Sự hữu hình
E>P: Chất lượng không
thỏa mãn
E=P: Chất lượng thỏa
mãn
E Sơ đồ 1.2: Mô hình những thành phần nhận thức của chất lượng dịch vụ. ( Nguồn: Nguyễn Thuý Quỳnh Loan & Nguyễn Thị Thanh Thoản, nghiên cứu khoa học (2006))[5] 1.4.3. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng: Thông thường các nhà kinh doanh dịch vụ cho rằng chất lượng của dịch vụ đồng nghĩa với sự thỏa mãn của khách hàng, cho nên hai khái niệm này có thể thay thế cho nhau. Nhưng nhiều nghiên cứu mới đây cho thấy chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn khách hàng là hai khái niệm phân biệt, Zeithalm & Bitner (2000), cho rằng sự thỏa mãn của khách hàng là một khái niệm tổng quát nói lên sự hài lòng của họ khi tiêu dùng một dịch vụ, trong khi chất lượng dịch vụ chỉ tập trung vào các thành phần cụ thể của dịch vụ. Dựa vào những kết quả nghiên cứu này, Zeithalm & Bitner đã đưa ra mô hình nhận thức của khách hàng về chất lượng và sự thỏa mãn. 14 Các nhân tố bên ngoài Độ tin cậy Chất lượng dịch vụ Độ phản hồi Sự bảo đảm Chất lượng sản phẩm Sự cảm thông Giá Sự hữu hình Các nhân tố cá nhân Sơ đồ 1.3: Mô hình nhận thức của khách hàng về chất lượng và sự thỏa mãn của khách hàng. ( Nguồn: Valarie A Zeithaml and Mary Jo Briner 2000) [12] Mô hình cho thấy chất lượng dịch vụ chỉ tập trung phản ánh nhận thức của khách hàng về các thành phần cụ thể của chất lượng dịch vụ. Sự thỏa mãn của khách hàng bao gồm nhiều hơn, nó bị ảnh hưởng bởi nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ, chất lượng sản phẩm, giá cả, những nhân tố bên ngoài, và những nhân tố cá nhân.Vậy chất lượng là nguyên nhân chính tác động đến sự thỏa mãn của khách hàng. Các nhà khoa học đều cho rằng có sự đồng biến giữa chất lượng dịch vụ với sự thỏa mãn của khách hàng. TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Tóm lại, trong chương 1 này tác giả trình bày những cơ sở lí thuyết về dịch vụ, chất lượng dịch vụ, đo lường chất lượng dịch vụ, sự thoả mãn khách hàng, mối liên hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thoả mãn khách hàng. Các thang đo đã qua kiểm định từ các nghiên cứu và được tham khảo thêm trong suốt quá trình xây dựng thang đo cho đề tài. 15 2.1. Giới thiệu chung về Bệnh viện Tâm thần Trung ương II: 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển: Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II nằm trên Quốc lộ 1, cách trung tâm Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai khoảng 4 cây số về hướng Đông Bắc. Khuôn viên của toàn Bệnh viện có diện tích khoảng 22 hecta, nằm trên vùng đất cao hơn 3 mét so với khu trung tâm Thành Phố Biên Hòa.[13] Trụ sở đặt tại : Quốc lộ 1 Phường Tân Phong Tp. Biên Hoà Điện thoại: 0613.822965 Fax: 0613. 819187 Email: bvttbh@hcm.vvn.vn Website: www.nmh2.gov.vn Hình 2.1: Bệnh viện Tâm thần Trung ương II ( Nguồn: Tác giả chụp hình thực tế tại bệnh viện) 16 Ngày 17/3/1915 Bệnh viện chính thức được thành lập. Bệnh viện trực thuộc Trung Ương, có tư cách pháp nhân và hạch toán độc lập. Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II đến nay đã trải qua 95 năm với nhiều chế độ, nhiều biến cố lịch sử. Bệnh viện đã không ngừng phát triển, từ một nơi giam giữ “người điên” lúc ban đầu đã trở thành cơ sở điều trị người bệnh tâm thần theo hướng nhân đạo và khoa học. Đặc biệt từ sau ngày giải phóng hoàn toàn miền nam Việt Nam và thống nhất đất nước, đến nay Bệnh viện đã trở thành một trung tâm điều trị và nghiên cứu khoa học, chỉ đạo mạng lưới chăm sóc sức khoẻ tâm thần của một nửa đất nước từ Đà Nẵng đến Mũi Cà Mau. Bệnh viện hoạt động bằng nguồn kinh phí do ngân sách cấp và nguồn kinh phí từ các nguồn như: thu viện phí, thu dịch vụ theo yêu cầu, thu từ nguồn dự án xã hội hóa y tế và nguồn thu sự nghiệp khác. 2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện: Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II là Bệnh viện chuyên khoa hạng I trực thuộc Bộ Y tế; làm nhiệm vụ khám, chữa bệnh chỉ đạo mạng lưới Tâm thần cho các tỉnh phía Nam từ Đà Năng trở vào.[13] 2.1.2.1. Chức năng: Khám, chữa bệnh, phòng bệnh và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần khu vực phía Nam ở tuyến cao nhất. Là cơ sở tham gia đào tạo cán bộ chuyên ngành Tâm thần, chỉ đạo tuyến. Nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật hiện đại ngang tầm các nước trong khu vực và trên thế giới để phục vụ sức khỏe nhân dân. 2.1.2.2. Nhiệm vụ: a. Cấp cứu - Khám bệnh - Chữa bệnh: Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh thuộc phạm vi chuyên khoa của Bệnh viện để khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú. Giải quyết các bệnh thuộc chuyên khoa bằng các phương tiện hiện có. Tham gia khám giám định sức khoẻ và khám giám định pháp y khi hội đồng giám định y khoa trung ương hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu. 17 b. Đào tạo cán bộ: Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế chuyên khoa ở cấp Đại học và trên Đại học, đồng thời có trách nhiệm tham gia giảng dạy chuyên khoa ở bậc Đại học và trên đại học. Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong Bệnh viện và tuyến dưới để nâng cấp trình độ chuyên khoa. c. Nghiên cứu khoa học về y học: Tổ chức thực hiện đề tài nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ khoa học về chuyên khoa ở cấp Nhà nước, cấp Bộ và cấp Cơ sở. Nghiên cứu về dịch tễ học cộng đồng thuộc lĩnh vực chuyên khoa để phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu. d. Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật: Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện việc chỉ đạo tuyến dưới phát triển kỹ thuật chuyên khoa để nâng cao chất lượng cấp cứu-chẩn đoán và điều trị chuyên khoa trong địa phương. Kết hợp với các cơ sở y tế tuyến dưới thực hiện chương trình và kế hoạch chăm sóc sức khoẻ ban đầu trong địa phương. e. Phòng bệnh: Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thường xuyên công tác phòng bệnh và phòng dịch. f. Hợp tác quốc tế: Hợp tác với các tổ chức hoặc cá nhân ngoài nước theo quy định của Nhà nước. h. Quản lý kinh tế: Có kế hoạch sử dụng hiệu quả cao ngân sách Nhà nước cấp. Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chi ngân sách của Bệnh viện; từng bước thực hiện hạch toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế: viện phí, bảo hiểm y tế, đầu tư của nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác. 2.1.3. Cơ cấu cán bộ viên chức: 18 Tổng số cán bộ viên chức hiện tại: + 700 người/Chỉ tiêu 800 người. Trình độ nhân lực: + Sau đại học: 53 gồm Tiến sĩ, Thạc sĩ, Bác sĩ chuyên khoa II, Bác sĩ chuyên khoa I, Dược sĩ chuyên khoa I. + Đại học: 136 gồm Bác sĩ, Dược sĩ, Cử nhân tâm lý, Điều dưỡng, kĩ sư & đại học khác. + Cao đẳng: 20 người. + Trung cấp: 234 gồm Điều dưỡng, Kỹ thuật viên… + Lao động khác: 527 người. Phân bố nhân lực: + Khu vực lâm sàng: chiếm 68% + Khu vực cận lâm sàng chiếm 15% + Khu vực quản lý hành chính chiếm 17% 19 GIÁM ĐỐC HỘI ĐỒNG
KHOA HOC - KỸ THUẬT HỘI ĐỒNG
KHEN THƯỞNG-KỶ LUẬT Hội đồng Thuốc điều trị P. Gíam đốc
Phụ trách chuyên môn P. Giám đốc
Phụ trách kinh tế Phòng Hành
chính quản trị Phòng
Kế hoạch
tổng hợp Phòng
Y tá điều
dưỡng Phòng
Chỉ dạo
tuyến Phòng
Vật tư – Trang
thiết bị Phòng
NCKH Đào
tạo Phòng
Tổ chức cán
bộ Phòng
Tài chính kế
toán Tổ Bảo
vệ - Tổ Cấp
dưỡng - Khoa Hoạt động liệu pháp
- Khoa Chống nhiễm khuẩn
- Khoa Tâm lý lâm sàng - Tổ Sửa chữa - Khoa Xét nghiệm - Tổ Điện
nước - Khoa Khám tâm thần
- Khoa khám NTK
- Khoa HSCC
- Khoa Cán Bộ - Quốc Tế - Khoa Chẩn đoán hình ảnh
- Các khoa A
- Các khoa B
- Các khoa C
- Các khoa E
- Các khoa H
- Khoa Tâm thần nhi
- Khoa YHDT
- Khoa Dược Sơ đồ 2.1: Cơ cấu, tổ chức Bệnh viện Tâm thần Trung ương II. (Nguồn: Phòng tổ chức cán bộ) [2] 20 2.1.4. Những thuận lợi – khó khăn của bệnh viện hiện nay: a. Thuận lợi: - Được sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư của Bộ Y tế. Bộ Y tế đã phê duyệt quy hoạch phát triển Bệnh viện Tâm thần Trung ương II theo phương án tự chủ, tự chịu trách nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính Dự án đầu tư xây dựng nâng cấp Bệnh viện. - Được phong tặng danh hiệu “Tập thể Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới” năm 2005 là một vinh dự đáng khích lệ đối với toàn thể nhân viên. b. Khó khăn: - Cơ sở vật chất còn thiếu thốn, các khoa phòng xuống cấp nhanh, mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần phía Nam còn mỏng. - Tình trạng quá tải: Thực tế số lượng người bệnh luôn ở mức 1500 người bệnh, điều này đưa đến nhiều hệ quả bất lợi đó là tỷ lệ nhân viên/người bệnh thấp 0,5/1, nên gặp rất nhiều khó khăn trong công tác chăm sóc toàn diện người bệnh tâm thần. - Mất cân đối giữa kinh phí được cấp với thực tế chi tiêu: Kinh phí không bảo đảm cho công tác chăm sóc và điều trị. 2.2. Thực trạng mức độ hài lòng của người bệnh tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II: 2.2.1. Quy trình thực hiện nghiên cứu: Nhằm thu thập thông tin và cung cấp thông tin có ý nghĩa để tạo cơ sở cho kết quả nghiên cứu và có thể đưa ra những giải pháp phù hợp thì một quá trình nghiên cứu cần thực hiện đầy đủ các bước sau: - Xác định vấn đề - Xác định nguồn dữ liệu - Xác định phương pháp chọn mẫu điều tra - Xác định bảng câu hỏi điều tra - Xử lí thông tin thu thập được. - Phân tích dữ liệu. - Kết quả nghiên cứu. 21 Tác giả đã tiến hành khảo sát mức độ hài lòng của người bệnh khi khám và chữa bệnh tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II thông qua bảng câu hỏi được phỏng vấn trực tiếp tại chỗ cho những bệnh nhân đến, đã và đang điều trị tại bệnh viện trong thời gian từ 1/7/2010 đến 31/10/2010.( Xin xem phụ lục số 1).Thông qua việc đánh giá sự thỏa mãn của người bệnh sẽ xác định rõ ràng hơn lòng tin, uy tín về trình độ chuyên môn, hình ảnh của bệnh viện. Chính sự hài lòng của họ sẽ phản ánh thực chất về: chất lượng điều trị và chăm sóc của tập thể y bác sĩ đồng thời họ cũng chính là những người có tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của bệnh viện trong hiện tại và tương lai. 2.2.2. Mẫu: Theo kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu cho rằng, nếu sử dụng phương pháp ước lượng ML thì kích thước mẫu tối thiểu phải từ 100-150.( Hair& ctg1998). Ngoài ra theo Bollen,1989 thì kích thước mẫu tối thiểu là 5 mẫu cho 1 tham số cần ước lượng. Trong nghiên cứu này số bảng câu hỏi sử dụng để khảo sát là 34 câu hỏi trong đó bao gồm 6 câu để biết đôi nét về đối tượng phỏng vấn, kích thước mẫu dự kiến đề ra là n= 150. Bảng 2.1: Bảng số lượng khảo sát thu được của tác giả. STT Khoa phòng thực hiện khảo sát Số lượng khảo sát Khoa Khám bệnh 25 1 Khoa hoạt động liệu pháp 20 2 Khoa cán bộ quốc tế 25 3 Khoa điều trị tự nguyện 10 4 Khoa tâm thần nam (H4) 15 5 Khoa y học cổ truyền (H2) 15 6 Khoa dịch vụ nữ (C1) 15 7 Khoa tâm thần nghiện chất nam (H3) 10 8 Khoa tâm thần nhi và tham vấn tâm lí 15 9 Tổng số 150 22 2.2.3. Thiết kế bảng câu hỏi: Bảng câu hỏi gồm 2 phần chính: phần một gồm những câu hỏi các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người bệnh. Phần này được chia làm 2 bên: Bên trái [T]: đánh giá của người bệnh về mức độ quan trọng của từng yếu tố. Trong đó: Thang đo Likert 5 điểm được sử dụng để đo lường tầm quan trọng của các tiêu chí trong bảng câu hỏi mà người bệnh cảm nhận được, cụ thể là: 1= Hoàn toàn không quan trọng 2= Không quan trọng 3= Bình thường 4= Quan trọng 5= Hoàn toàn rất quan trọng Bên phải [H]: là đánh giá của người bệnh về chất lượng của các yếu tố (người bệnh có hài lòng về các yếu tố đó hay không). Các câu hỏi được sử dụng để đo lường mức độ hài lòng của bệnh nhân cũng được diễn tả theo thang đo Likert 5 điểm: 1 = Hoàn toàn không hài lòng 2 = Không hài lòng 3 = Bình thường (Không ý kiến) 4 = Hài lòng 5 = Hoàn toàn hài lòng Phần 2 gồm các câu hỏi nhằm thu thập thông tin chung về người bệnh. Các thông tin cá nhân bao gồm: Thông tin về giới tính.[SEX] Thông tin về nhóm tuổi.[NT] Thông tin về tình trạng hôn nhân.[HN] Thông tin về trình độ học vấn- chuyên môn.[HV] Thông tin về thu nhập bình quân/tháng.[TN] Thông tin về số lần khám.[LK] 2.2.4. Kết quả phân tích: 23 2.2.4.1. Thông tin mẫu nghiên cứu: Tổng số bảng câu hỏi phát ra là 150 bảng. Tổng số bảng câu hỏi thu về là 150 bảng. Sau khi điều tra phỏng vấn, bảng câu hỏi được thu hồi sẽ được làm sạch, mã hóa và xử lí hoàn toàn bằng phần mềm thống kê SPSS 15.0. [6] Những thông tin chung như sau: - Về giới tính trong nghiên cứu được phân chia như sau: Có 48 người bệnh nữ trong tổng số 150 bảng câu hỏi hợp lệ (chiếm tỉ lệ 32%) và có 102 người bệnh nam (chiếm tỉ lệ 68%). Bảng 2.2: Giới tính Valid
Percent Cumulative
Percent (Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ phần mềm SPSS của tác giả) 32.0
100.0 Valid Nữ
Nam
Total Frequency
48
102
150 Percent
32.0
68.0
100.0 32.0
68.0
100.0 - Về nhóm tuổi : Mẫu được chia thành 4 nhóm tuổi: có 37 người bệnh trong độ tuổi từ 18 - 30 (chiếm 24.7%), có 82 người bệnh từ 31- 40 tuổi (chiếm 54.7%), có 27 người bệnh từ 14-50 tuổi (chiếm 18.0%) và có 4 người bệnh trong độ tuổi trên 50 (chiếm 2.7%). Bảng 2.3: Nhóm tuổi Cumulative
Percent 24.7
79.3
97.3
100.0 Percent
24.7
54.7
18.0
2.7
100.0 Valid
Percent
24.7
54.7
18.0
2.7
100.0 Frequency
37
Valid Tuổi từ (18-30)
82
Tuổi từ (31-40)
27
Tuổi từ (41-50)
4
Tuổi trên (50)
Total
150
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ phần mềm SPSS của tác giả) - Về tình trạng hôn nhân: Có 82 người bệnh độc thân (chiếm 54.7%) và có 68 người bệnh đã lập gia đình (chiếm tỉ lệ khoảng 45.3%). 24 Bảng 2.4: Hôn nhân Valid
Percent Cumulative
Percent 54.7
100.0 Valid Độc thân Đã lập gia đình
Total Frequency Percent
54.7
82
45.3
68
100.0
150 54.7
45.3
100.0 (Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ phần mềm SPSS của tác giả) - Về trình độ văn hóa chuyên môn: Chia làm 3 nhóm trong đó lao động phổ thông có 80 người bệnh (chiếm 53.3%), trung cấp-cao đẳng có 59 người bệnh (chiếm 39.3%) và trình độ đại học và cao hơn có 11 người bệnh (chiếm 7.3%). Bảng 2.5: Trình độ văn hóa chuyên môn Valid
Percent Cumulative
Percent 53.3
92.7
100.0 Valid Lao động phổ thông
Trung cấp, cao đẳng
Đại học, trên đại học
Total 53.3
39.3
7.3
100.0 Frequency Percent
53.3
80
39.3
59
7.3
11
150
100.0
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ phần mềm SPSS của tác giả) - Về thu nhập: Dưới 1 triệu đồng có 38 người bệnh (chiếm 25.3%) và mức thu nhập từ 1-4 triệu có 112 người bệnh (chiếm 74.7%). Bảng 2.6: Thu nhập Valid
Percent Cumulative
Percent (Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ phần mềm SPSS của tác giả) 25.3
100.0 Valid Dưới 1 triệu
Từ 1- 4 triệu
Total Frequency Percent
25.3
38
74.7
112
100.0
150 25.3
74.7
100.0 - Về số lần khám bệnh: Mới khám có 51 người bệnh (chiếm 34.0%) và tái khám có 99 người bệnh (chiếm 66%). Bảng 2.7: Số lần khám bệnh Valid
Percent Valid Mới khám Frequency
51 Percent
34.0 Cumulative Percent
34.0 34.0 25 100.0 Tái khám
Total 66.0
100.0 99
150 66.0
100.0
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ phần mềm SPSS của tác giả) Thông qua bảng câu hỏi, tác giả muốn giải quyết các vấn đề sau: a. Xác định những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người bệnh tại Bệnh viện bất kì. b. Xác định những nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người bệnh tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II. c. Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người bệnh khi khám chữa bệnh tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II. d. Đánh giá tầm quan trọng của các nhóm nhân tố ở vấn đề b đến mức độ hài lòng của người bệnh tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II. e. Để giải quyết vấn đề a, b tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (Explanatory Factor Analysis - EFA) với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS. f. Để giải quyết vấn đề c, d tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính bội cũng với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS. 2.2.4.2. Những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người bệnh khi khám chữa bệnh tại một bệnh viện bất kì: Tác giả sử dụng 24 câu hỏi từ T1- T24 (Nhóm T) với 150 bảng câu hỏi hợp lệ. (Xin xem phụ lục số 1). Số liệu được xử lí bằng phần mềm SPSS. Kết quả cho thấy không có yếu tố quan trọng cụ thể nào ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người bệnh khi khám chữa bệnh tại một bệnh viện bất kì. Trong tâm lí lo lắng về bệnh tật chung của mỗi người bệnh họ luôn mong muốn tất cả sự chăm sóc và điều trị đối với họ được tốt nhất, họ không phân biệt rõ ràng được yếu tố nào là quan trọng nhất đối với nhu cầu mà họ mong muốn. Một yếu tố khác đó là khó có sự so sánh rõ ràng giữa các bệnh viện chuyên khoa với nhau, đặc biệt Bệnh viện Tâm Thần Trung Ương II lại là tuyến cao nhất, đứng thứ hai trong cả nước nên bệnh nhân ít có nhiều sự lựa chọn khác. 26 2.2.4.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người bệnh tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương II. Để xác định rõ ràng các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người bệnh tác giả dùng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và phương pháp phân tích hệ số Cronbach Alpha. Tác giả sử dụng 24 câu hỏi từ H1 đến H24 (nhóm H) với 150 bảng câu hỏi hợp lệ. (Xin xem phụ lục số 1). Kết quả xử lí số liệu từ phần mềm SPSS như sau: Bảng 2.8: KMO and Bartlett's Test nhóm H .886 Bartlett's Test of
Sphericity Approx. Chi-Square
df
Sig. 656.799
78
.000 Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling
Adequacy. (Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ phần mềm SPSS của tác giả) Hệ số KMO = 0.886 > 0.5 và hệ số Barlett’s có mức ý nghĩa 0.000 đã khẳng định rằng phương pháp phân tích nhân tố trong nghiên cứu là phù hợp. Bảng 2.9: Hệ số điều chỉnh của các biến rút trích nhóm H Initial Eigenvalues 3.019
2.489
1.958 5.181
1.199
1.086 39.854
49.078
57.431 39.854
9.225
8.353 23.222
19.145
15.064 23.222
42.367
57.431 traction Sums of Squared Loadinotation Sums of Squared Loading
Total % of VarianceCumulative % Total % of VarianceCumulative % Total % of VarianceCumulative %
5.181
1.199
1.086
.936
.847
.658
.565
.511
.485
.446
.373
.373
.339 39.854
49.078
57.431
64.629
71.143
76.205
80.553
84.486
88.218
91.648
94.520
97.391
100.000 39.854
9.225
8.353
7.198
6.515
5.061
4.348
3.933
3.732
3.430
2.872
2.870
2.609 Extraction Method: Principal Component Analysis. Compone
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13 27 (Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ phần mềm SPSS của tác giả) Từ bảng kết quả hệ số điều chỉnh nói trên, tác giả đưa ra những nhận xét như sau: Số biến (câu hỏi) có ý nghĩa thống kê trong bộ dữ liệu nghiên cứu được rút trích là 13 biến. Và 13 biến này đã góp phần giải thích khoảng 57.431% sự ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến sự hài lòng của người bệnh khi khám chữa bệnh tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương II. Từ phần mềm SPSS loại ra các biến (câu hỏi) không phù hợp đã lọc ra được 13 câu hỏi có ảnh hưởng lớn đến sự hài lòng của người bệnh khi khám chữa bệnh tại bệnh viện và nhóm lại thành 3 nhóm nhân tố sau: Bảng 2.10: Ma trận xoay nhân tố nhóm H 1 Component
2 3 .765
.757
.672
.608
.575 .846
.592
.590
.565
.560 H9
H5
H1
H11
H13
H21
H14
H17
H19
H23
H6
H8
H3 .743
.717
.633 Extraction Method: Principal Component Analysis.
Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization. a. Rotation converged in 5 iterations. (Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ phần mềm SPSS) Để khẳng định rõ ràng hơn về độ tin cậy của 3 nhóm nhân tố này, tác giả tiến hành kiểm định độ tin cậy với hệ số Cronbach’s Alpha cho các bộ câu hỏi của các nhóm. Kết quả xử lý thu được như sau: Nhóm 1[FAC1]: bao gồm các câu hỏi H1, H5, H9, H11, H13. 28 - H1: Anh/chị luôn thoải mái, an tâm, tin tưởng tuyệt đối vào công tác khám chữa bệnh tại bệnh viện. - H5: Khi Anh/chị gặp khó khăn, nhân viên bệnh viện luôn sẵn sàng giúp đỡ để giải quyết vấn đề. - H9: Bác sĩ khám bệnh chu đáo kĩ lưỡng, tư vấn và chỉ định sử dụng thuốc an toàn và chế độ ăn hợp lí. - H11: Nhân viên bệnh viện tiếp đón niềm nở, thân thiện , chăm sóc và điều trị tích cực toàn diện. -H13: Người bệnh được hướng dẫn đều đặn các liệu pháp tái thích ứng xã hội. Bảng 2.11: Kết quả Cronbach’s Alpha nhóm 1 [FAC1] Cronbach's
Alpha if Item
Deleted Cronbach's
Alpha H1
H5
H9
H11
H13 Scale
Variance if
Item Deleted
6.694
6.063
6.595
6.614
6.170 Corrected
Item-Total
Correlation
.510
.653
.606
.537
.609 .784
.738
.755
.775
.753 N of Items
5 .800 Scale Mean if
Item Deleted
14.4800
14.4800
14.3200
14.5133
14.5267 (Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ phần mềm SPSS của tác giả) Với hệ số Alpha = 0,800 > 0,6 cho nên nhóm này đạt độ tin cậy để tiến hành phân tích dữ liệu. Và các câu hỏi trong nhóm này gồm có H1, H5, H9, H11, H13 đều có hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 cho nên bộ câu hỏi này đạt được chất lượng thang đo. Nhóm FAC1: Nhóm nhân tố thể hiện năng lực phục vụ này có ảnh hưởng quan trọng đến mức độ hài lòng của người bệnh khi khám và chữa bệnh tại bệnh viện. Năng lực phục vụ của bệnh viện là một yếu tố vô cùng quan trọng tại bất kì một bệnh viện nào. Khi đến khám và chữa bệnh tại bệnh viện, ngoài những vấn đề về thần kinh thì người bệnh còn có nguy cơ kèm theo những căn bệnh khác như cao huyết áp, 29 bệnh tim mạch, bệnh gan hay những di chứng để lại của chấn thương sọ não....Do vậy, các bác sĩ ngoài việc phải điều trị chuyên khoa họ còn phải tư vấn về bệnh tật kèm theo cho thân nhân và người bệnh hiểu rõ như: cách sử dụng thuốc an toàn, chế độ ăn theo bệnh lí cho phù hợp với tình trạng của người bệnh. Thời gian dành cho tư vấn cho những người bệnh này là có hạn mà không phải khi giải thích người bệnh nào cũng có thể hiểu ngay được. Tương tự, những người bệnh đến tham gia điều trị ngoại trú đến từ khắp nơi trong cả nước do đó họ phải tốn kém không chỉ chi phí thuốc men mà còn thêm các khoản chi phí khác như chi phí đi lại, chi phí thuê phòng,..nếu hôm nay khám không kịp họ phải chờ đến tận ngày hôm sau.Do vậy, người bệnh không chỉ áp lực về tâm lí mà phải chịu thêm áp lực về tài chính. Hiện tại, bệnh viện hiện có triển khai điều trị dịch vụ nội trú cho các người bệnh người nước ngoài với quy mô 6 phòng bệnh. Xét về mặt, kinh nghiệm chuyên môn của bệnh viện không thua kém các bệnh viện khác nhưng sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, lối sống để đáp ứng tốt các mong muốn thì chưa thực sự khiến họ cảm thấy hài lòng. Khi thực hiện khảo sát này thì những người bệnh điều trị nội trú cho rằng các bữa ăn tập thể của họ vẫn chưa được đảm bảo về chất mà khu dinh dưỡng của bệnh viện đã quá cũ vẫn chưa được nâng cấp đầy đủ. Thực tế tại bệnh viện chưa có khoa dinh dưỡng theo đúng tiêu chuẩn chất lượng. Thêm nữa người bệnh bị các bệnh về thần kinh nếu nhẹ như rối loạn lo âu, stress... thì khả năng bình phục sẽ cao hơn và nếu nặng như bệnh tâm thần phân liệt thì thường phải điều trị dài ngày và việc điều trị đòi hỏi sự kiên trì nhẫn nại của cả hai phía người bệnh – thầy thuốc. Chính điều này đòi hỏi ở những nhân viên bệnh viện phải luôn luôn có thái độ ân cần tiếp đón niềm nở, thân thiện với người bệnh đặc biệt là chăm sóc và điều trị tích cực toàn diện. Khảo sát một số người bệnh sau một thời gian điều trị tại bệnh viện thì họ cho rằng chưa thực sự hài lòng về vấn đề thái độ và cách chăm sóc có thể là do việc triển khai chăm sóc toàn diện diễn ra thiếu đồng bộ, chặt chẽ và việc hợp tác giữa các nhân viên vẫn chưa đáp ứng đúng được nhu cầu của người bệnh. Hoặc, đôi khi 30 do sự cảm nhận của người bệnh bằng những ngôn ngữ giao tiếp thông thường như trò chuyện và giao tiếp không lời như thể hiện qua sắc mặt, cử chỉ giữa nhân viên y tế và người bệnh khiến người bệnh chưa hiểu rõ nên họ đánh giá không cao về sự niềm nở thân thiện của nhân viên y tế. Người bệnh chưa thật sự an tâm tin tưởng vào bệnh viện. Một phổ biến vẫn diễn ra thường xuyên không chỉ riêng tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương II đó là tình trạng “cò ” níu kéo trước cổng bệnh viện vẫn diễn ra nhỏ lẻ khiến người bệnh không biết nên vào bệnh viện hay đến những phòng khám tư nhân gần bệnh viện. Thực tế là đa phần những người bệnh này họ đều là những người có hoàn cảnh khó khăn, từ nơi khác đến và luôn mang tâm trạng lo lắng hoang mang với bệnh tật của mình nên họ không biết phải tin tưởng vào đâu. Do đó bệnh viện cần có những biện pháp tích cực để tình trạng trên không xảy ra. Đồng thời do bệnh viện là tuyến cao nhất nên luôn phải làm việc trong tình trạng quá tải vẫn còn diễn ra tình trạng một số nhân viên bệnh viện trả lời cọc cằn, trả lời không có đầu đuôi hay thái độ cáu gắt. Khi khảo sát tác giả thấy rằng phần lớn người bệnh tư tưởng “có bệnh đi vái tứ phương” và thường phải nằm trong khoa điều trị không được ra ngoài nên tâm trạng họ cảm thấy cũng khó chịu bực dọc, họ nghĩ mình bị bỏ rơi. Thiếu sót khi một số nhân viên vẫn chưa giải thích và động viên họ an tâm điều trị một thời gian và khi bình phục người thân của họ có điều kiện sẽ đón họ về. Người bệnh cũng thường xuyên còn gặp phải những khó khăn vướng mắc chưa được giải quyết như việc làm các thủ tục xin trợ cấp khó khăn, người bệnh khi đến khám và điều trị tại bệnh viện có được bảo hiểm y tế chi trả hay không? Do đó ngoài việc làm tốt công tác chuyên môn thì đội ngũ nhân viên y tế của bệnh viện cần có sự nhạy bén và linh hoạt trong các tình huống để giải đáp những thắc mắc, khó khăn cho họ. Việc nằm điều trị tại bệnh viện một thời gian nên người bệnh được tham gia các hoạt động liệu pháp tái thích ứng xã hội. Tuy nhiên, người bệnh được tham gia tại khoa phục hồi chức năng chỉ một vài người bệnh được đưa lên và không có sự 31 luân chuyển người bệnh rõ ràng và đôi khi bị gián đoạn từ phía các nhân viên tại khoa hoạt động liệu pháp dẫn đến họ chưa thoải mái về các hoạt động tái thích ứng xã hội cho chính họ. Chắc chắn trong tương lai vấn đề trên sẽ được chú trọng và đáp ứng nhu cầu của người bệnh toàn diện hơn. Nhóm 2 [FAC2]: bao gồm các câu hỏi H14, H17, H19, H21, H23. - H14: Anh/Chị được hướng dẫn cụ thể quyền và nghĩa vụ khi nằm viện. - H17: Nhân viên bệnh viện luôn hướng dẫn cặn kẽ Anh/Chị tích cực phòng và điều trị bệnh. - H19: Nhân viên bệnh viện không có thái độ phân biệt kì thị với người bệnh. - H21: Bố trí đủ ghế ngồi, thoáng mát, hợp vệ sinh cho người bệnh và người nhà đến chờ khám. - H23: Trang phục của nhân viên bệnh viện gọn gàng sạch sẽ dễ nhận biết. Bảng 2.12: Kết quả Cronbach’s Alpha nhóm 2 [FAC2] Cronbach's
Alpha if Item
Deleted Cronbach's Alpha N of Items .782 5 H14
H17
H19
H21
H23 Scale Mean if
Item Deleted
14.7067
14.7400
14.7800
14.7733
14.6800 Corrected
Item-Total
Correlation
.612
.570
.592
.464
.552 .723
.738
.730
.771
.744 Scale
Variance if
Item Deleted
5.578
5.804
5.528
6.405
6.045 (Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ phần mềm SPSS của tác giả) Với hệ số Alpha = 0,782 > 0,6 cho nên nhóm này đạt độ tin cậy để tiến hành phân tích dữ liệu. Và các câu hỏi trong nhóm này gồm có H14, H17, H19, H21, H23 đều có hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 cho nên bộ câu hỏi này đạt được chất lượng thang đo. Nhóm 2 [FAC2]: phản ánh tinh thần trách nhiệm của nhân viên bệnh viện. Quyền và nghĩa vụ khi khám chữa bệnh tại bệnh viện ảnh hưởng không kém đến sự hài lòng của người bệnh. Lẽ ra, ngay từ khi nhập viện người bệnh đều được 32 phổ biến quyền và nghĩa vụ của mình có thể từ nhân viên y tế hay tại các bảng áp phích được gắn trên tường nơi mà người bệnh dễ quan sát nhất. Tuy nhiên việc đặt để những bảng thông báo là quá ít và lại đặt không đúng tầm nhìn của người bệnh, thêm vào đó một vài người bệnh nội trú sau khi điều trị ổn định về tinh thần sinh hoạt bình thường thì nhân viên y tế lại thiếu sót khi không biết cách lồng ghép phổ biến quyền và nghĩa vụ cho người bệnh khi nằm điều trị một cách cụ thể. Khi được hỏi về cách phòng và chữa bệnh thì một số người bệnh biết là bệnh của họ phải dùng thuốc lâu dài và đều đặn nhưng một số khác lại không biết việc phòng và điều trị bệnh của họ là như thế nào. Họ nghĩ rằng chỉ thấy ổn là ngưng điều trị dẫn đến việc dễ dàng tái phát lại bệnh bất kì lúc nào. Mặt khác, điều kiện hoàn cảnh của họ không cho phép, quá thiếu thốn nên họ cũng không quan tâm đến vấn đề phòng bệnh chỉ đến khi bệnh phát ra rồi thì họ mới đến điều trị thì đã chuyển sang giai đoạn nặng. Điều này cũng do sự thiếu hiểu biết, e ngại của gia đình và sự mặc cảm tự ti của chính người bệnh. Bên cạnh đó cũng phải nói tới việc phổ biến cho người bệnh cách phòng và điều trị bệnh chưa được chú trọng nên dẫn đến người bệnh chưa hài lòng về vấn đề này. Như vậy việc thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết về bệnh tâm thần sẽ làm hạn chế việc chẩn đoán và chữa trị kịp thời cho các người bệnh tâm thần. Khảo sát cho thấy, người bệnh vẫn không hài lòng về thái độ của nhân viên y tế. Thực tế trong xã hội hiện nay vẫn có những nhận thức chưa đúng từ phía cộng đồng về chăm sóc sức khỏe tâm thần. Cũng chính vì bị gắn cái mác quá lớn cứ vào bệnh viện tâm thần thì bị cho là “điên” và vô cùng đáng sợ nên đã vô tình đã khóa chặt cánh cửa để người bệnh tái hòa nhập với xã hội. Thái độ phân biệt kì thị này có thể gây cản trở cho việc chẩn đoán và điều trị kịp thời cho người bệnh, dù là người bệnh xuất phát từ bất kì thành phần nào trong xã hội và kể cả việc bị mất quyền công dân đi chăng nữa thì bản thân họ cũng cần phải được tiếp cận với các dịch vụ y tế và phải được đối xử một cách công bằng nhất. 33 Sự hài lòng đến với người bệnh không phải chỉ có thái độ làm việc của nhân viên y tế mà nó còn thông qua các yếu tố vô hình khác tác động đến sự hài lòng của họ như việc bố trí đầy đủ các ghế ngồi thoáng mát vệ sinh và sự gọn gàng sạch sẽ từ đồng phục của nhân viên y tế: Trang phục gọn gàng sạch sẽ thể hiện sự tôn trọng người bệnh mà nó còn tạo niềm tin cho người bệnh. Quần áo sạch sẽ, chỉnh tề khiến người bệnh có cảm tình ngay từ lần gặp đầu, dễ tiếp xúc, dễ gần gũi. Hypocrate nói: “Nếu thầy thuốc không biết tự chăm sóc chu đáo thì còn biết phải làm tốt cho người khác như thế nào được”. Tuy nhiên do tính chất công việc và cũng do sự dễ dãi nên vẫn còn một vài nhân viên có trang phục chưa đúng quy cách. Có một sự thật đó là một số người bệnh được điều tra khi đến bệnh viện điều trị họ không phân biệt được ai là bác sĩ và ai là nhân viên do vậy gặp ai họ cũng gọi là bác sĩ, họ luôn tỏ ra khúm núm chính vì thế đôi khi những thắc mắc của họ muốn được giải đáp có khi cũng không đúng chỗ và không nhận được câu trả lời thỏa đáng. Hình 2.2: Ghế ngồi khu vực trước phòng thu viện phí. ( Nguồn: Tác giả chụp hình thực tế tại bệnh viện ) Tác giả nhận thấy rằng tại khu vực khám bệnh rộng nhưng ghế ngồi lại được đặt hai dãy trước phòng thu viện phí. (Hình 2.2) Phần lớn người bệnh khi đóng tiền khám xong họ không ngồi ở lại đó lâu và di chuyển đến phòng khám đã được hướng dẫn. Trong khi đó tại trước từng phòng khám bố trí ghế ngồi lại hạn chế do vậy vào những ngày cao điểm như thứ hai thì người bệnh không đủ ghế ngồi. Người bệnh 34 không thể di chuyển qua phía thu viện phí được vì khi vào nếu đến lượt của mình, họ lại không nghe thấy và bị bỏ qua. Tại những chỗ ngồi không phải ý thức của người bệnh nào cũng được tốt một vài người bệnh xả rác bừa bãi khiến những người bệnh xung quanh cũng khó chịu, mất vệ sinh nhân viên phục vụ nếu đi dẹp liên tục thì lại cản trở cho người bệnh khác (Hình 2.3). Hình 2.3: Sân sau khu vực bệnh nhân ngồi chờ khám bệnh. ( Nguồn: T ác giả chụp hình thực tế tại bệnh viện ) Chưa kể ti vi để theo dõi trong khi chờ đợi không phải luôn là những thông tin về chuyên mục chăm sóc sức khỏe, bóng điện có khi lại chập chờn, phía sau khu vực ngồi thì lại tù đọng nước, ... Tuy là vấn đề nhỏ nhưng nó lại tác động ít nhiều đến sự hài lòng của người bệnh khi khám chữa bệnh tại bệnh viện. Nhóm 3 [FAC3]: bao gồm các câu hỏi H3, H6, H8. - H3: Bệnh viện có quy trình và sơ đồ khám chữa bệnh thuận tiện phù hợp. - H6: Có dịch vụ hỗ trợ hẹn trước giờ khám, chọn bác sĩ theo yêu cầu, chọn loại hình khám bệnh,..) tiện lợi. - H8: Bệnh viện luôn có đội cấp cứu di động và thiết bị hỗ trợ (cáng, xe lăn,..) kịp thời các cấp ngoại viện. 35 Bảng 3.13: Kết quả Cronbach’s Alpha nhóm 3 (Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ phần mềm SPSS của tác giả) Với hệ số Alpha =0.674 > 0.6 nên nhóm nhân tố này đạt độ tin cậy để tiến hành phân tích dữ liệu. Các câu hỏi trong nhóm này gồm H3, H6, H8 đều có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0.3 cho nên bộ câu hỏi này đạt chất lượng thang đo. Nhóm FAC3 thể hiện cách thức sắp xếp tổ chức của bệnh viện. Cách thức sắp xếp tổ chức của bệnh viện cũng nói lên phần nào khả năng quản lí bệnh viện có tốt hay không tốt, có đáp ứng thật sự yêu cầu của người bệnh hay không?. Tuy bệnh viện có sơ đồ khám chữa bệnh thế nhưng nó lại được đặt ở những chỗ khuất nên khiến người bệnh khó quan sát dẫn đến việc tìm kiếm khoa phòng cho những người bệnh mới khám cũng hơi khó khăn. Bệnh viện chỉ có duy nhất một bàn hướng dẫn cho tất cả các bệnh đến khám và chữa bệnh nên người bệnh phải chạy tới chạy lui để tìm phòng khám mà họ cần, để đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin cho người bệnh là không thể thực hiện được. Chẳng hạn: người bệnh muốn khám sức khỏe tâm thần, tham vấn tâm lí, khám sức khoẻ xin việc làm… thì người bệnh chỉ biết được thông qua một tờ giấy khoảng A4 trên tường nên điều này khá bất cập. Quy trình khám chữa bệnh thường phải có sự phối hợp liên hoàn giữa khâu gửi xe cho đến tận phòng tiếp nhận bệnh thế nhưng người bệnh phải hỏi để biết đường đến khu khám bệnh bởi ngay tại nơi gửi xe không hề có sơ đồ chỉ dẫn tổng quát về bệnh viện. (Hình 2.4) 36 Hình 2.4: Không có biển chỉ dẫn tại nhà gửi xe của người bệnh. ( Nguồn: Tác giả chụp hình thực tế tại bệnh viện ) Sơ đồ của bệnh viện lại đặt không đúng chỗ đó là ngay cổng vào của nhân viên chứ không phải cổng vào của người bệnh. Nhiều người cho rằng đến bệnh viện như là đến mê cung, các quy trình không được phổ biến cụ thể rõ ràng. Chỉ như vậy, mỗi một khâu lại có sự chậm trễ và chưa thống nhất nên người bệnh mất rất nhiều thời gian tìm kiếm và hỏi hết người này đến người khác. Khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng được nâng cao do vậy họ ngày càng quan tâm nhiều hơn đến vấn đề sức khỏe và tìm đến những dịch vụ y tế chất lượng cao. Thực tế là người bệnh chưa hài lòng với các dịch vụ hỗ trợ như hẹn trước giờ khám, chọn bác sĩ theo yêu cầu và chọn loại hình khám bệnh. Người bệnh luôn muốn nhân viên bệnh viện đối xử và phục vụ tốt xứng đáng với số tiền mà họ bỏ ra. Đa số người bệnh luôn có một tâm lí chung đó là chọn lựa bác sĩ theo kiểu “có sự quen biết” hay chọn những bác sĩ có thâm niên trong nghề thông qua “truyền miệng” từ người bệnh này sang người bệnh khác bởi như thế họ cảm thấy yên tâm hơn về tình trạng sức khỏe của họ, nếu người bệnh muốn bác sĩ A nào điều trị họ vẫn có thể xin được bác sĩ đó điều trị chứ bệnh viện chưa có một quy định cụ thể nào về vấn đề này. Cuối cùng, người bệnh không hài lòng với đội cấp cứu di động của bệnh viện. Một thực tế cho thấy, các người bệnh đến bệnh viện từ nhiều nơi, họ phải thuê 37 xe ôm hay xe khách để đến được bệnh viện và phải mất một khoản phí khá cao chưa kể việc khám và chữa trị tại bệnh viện nhưng cũng không đảm bảo sự an toàn. Hiện tại bệnh viện chỉ có đội phản ứng nhanh xử lí những tình huống bất ngờ xảy ra như người bệnh kích động, gia đình thuyết phục nhưng người bệnh không chịu đến nhập viện chứ chưa có một đội ngũ cấp cứu di động thực sự chuyên nghiệp với đầy đủ đội ngũ bao gồm:cử nhân tâm lí, bác sĩ chuyên khoa, điều dưỡng viên, nhân viên bảo vệ và các trang thiết bị xử lí hiện đại cấp cứu tại chỗ đáp ứng được những mong muốn của người bệnh cũng như thân nhân. 2.2.4.4. Đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố đến mức độ hài lòng của người bệnh tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương II. Tác giả tiến hành phân tích hồi quy tuyến tính bội cho bộ câu hỏi thuộc phần các thông tin chung và các nhóm nhân tố ở trên: nhóm năng lực phục vụ [FAC1]; nhóm tinh thần trách nhiệm [FAC2] và nhóm sắp xếp tổ chức [FAC3] cũng với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 15. Mục đích của phương pháp này là xác định mối liên hệ giữa mức độ hài lòng của người bệnh tại bệnh viện với các nhân tố (thái độ ân cần, tinh thần trách nhiệm, sắp xếp tổ chức) và các yếu tố khác như: tuổi tác (NT), giới tính (SEX), trình độ học vấn (HV), tình trạng hôn nhân (HN), tình trạng thu nhập (TN) và số lần khám (LK). Phương trình hồi quy bội biểu diễn mối quan hệ giữa các nhân tố và mức độ hài lòng của người bệnh có dạng như sau: y = a + bx1 + cx2 + dx3 +ex4 Trong đó: - y là biến phụ thuộc thể hiện giá trị dự đoán về mức độ hài lòng chung của người bệnh. - a, b, c, d, e là các hệ số hồi quy. - x1, x2, x3, x4 là các biến độc lập theo thứ tự: nhóm nhân tố năng lực phục vụ, nhóm nhân tố tinh thần trách nhiệm, nhóm nhân tố sắp xếp tổ chức và nhóm các thông tin chung về người bệnh. 38 Trước tiên, tác giả tạo biến hài lòng (HLONG) rồi thực hiện các thao tác trên phần mềm SPSS 15. Kết quả xử lý số liệu trên bảng hệ số hồi quy ( Coefficients) như sau: Bảng 2.14: Coefficients (a) Unstandardized
Coefficients Standardized
Coefficients
Beta B t Sig. Model
1 (Constant)
FAC1
FAC2
FAC3
SEX
NT
HN
HV
TN
LK 16.777
.491
.797
.703
-.015
.131
-.253
-.088
-.544
-.160 Std. Error
.836
.148
.147
.151
.322
.227
.335
.243
.360
.323 20.060
3.317
5.403
4.663
-.047
.574
-.756
-.364
-1.508
-.495 .000
.001
.000
.000
.963
.567
.451
.716
.134
.621 .233
.379
.334
-.003
.045
-.060
-.027
-.113
-.036 a. Dependent Variable: HLONG (Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ phần mềm SPSS của tác giả) Từ bảng 2.14, tác giả nhận thấy: Các yếu tố: giới tính (SEX), nhóm tuổi(NT), tình trạng hôn nhân (HN), trình độ học vấn(HV), số lần khám bệnh (LK) không có ý nghĩa thống kê (Sig > 5%). Do vậy các đặc điểm về giới tính, nhóm tuổi, hôn nhân, trình độ văn hóa, số lần khám đều không hưởng đến sự hài lòng của người bệnh khi khám chữa bệnh tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II. Rối loạn tâm thần đã được biết từ lâu ở tất cả các quốc gia. Nó không loại trừ bất kì ai. Dù là nam hay nữ đều có nguy cơ bị bệnh tâm thần do đó giới tính hoàn toàn không có ảnh hưởng gì đến sự cảm nhận của người bệnh. Ở lứa tuổi thanh thiếu niên nếu không được sự quan tâm của gia đình và xã hội họ dễ rơi vào trầm cảm. Đến khi trưởng thành họ phải làm việc chịu áp lực từ nhiều phía nên dễ rơi vào trạng thái stress lâu ngày sẽ có nguy cơ bị mắc bệnh tâm thần. Khi đến khi lập gia đình do những mâu thuẫn trong gia đình quá nhiều họ 39 cũng có thể bị bệnh tâm thần. Đến khi về già họ cũng không tránh khỏi nguy cơ bị loạn thần tuổi già. Chính vì thế nhóm tuổi và tình trạng hôn nhân cũng không có ảnh hưởng gì đến sự hài lòng của người bệnh. Trình độ văn hóa dù cao hay là thấp thì họ đều có nguy cơ bị mắc bệnh tâm thần như nhau. Do vậy yếu tố này không có ảnh hưởng gì đến sự hài lòng của người bệnh. Bất kì ai cũng đều quan tâm đến sức khỏe và cho rằng có sức khỏe là có tất cả sức khỏe còn quý hơn vàng. Nếu không biết trân trọng bản thân thì sẽ dẫn đến lối sống xa đọa với người có thu nhập cao và lối sống bất cần đời với người có thu nhập thấp và họ là những người nguy cơ bị mắc bệnh tâm thần. Do đó vấn đề thu nhập không ảnh hưởng đến sự hài lòng của người bệnh. Cho dù là người bệnh đến khám bệnh lần đầu hay tái khám nếu họ không biết cách phòng bệnh, tuân thủ chế độ điều trị thì nguy cơ tái bệnh sẽ cao hơn. Chính vì thế vấn đề này cũng không ảnh hưởng gì đến sự hài lòng của người bệnh. Tác giả tiếp tục thực hiện thao tác rút trích bằng phương pháp loại dần. Bảng coefficients(a) cho phép chúng ta kiểm định các hệ số hồi quy trong mô hình. Những thành phần có mức ý nghĩa thống kê nhỏ hơn 5% thì được giữ lại và những thành phần nào có mức ý nghĩa thống kê lớn hơn 5% thì sẽ bị loại bỏ. Kết quả xử lí thu được như sau: Bảng 2.15: Coefficients(a) (Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ phần mềm SPSS của tác giả) 40 Từ bảng phân tích hồi quy trên ta thấy mối quan hệ giữa biến phụ thuộc (mức độ hài lòng) và 4 biến độc với các nhóm nhân tố (FAC1), (FAC2), (FAC3) và yếu tố thu nhập (TN). Trước tiên, nhóm nhân tố tinh thần trách nhiệm (FAC2) có mức ảnh hưởng cao nhất đến sự hài lòng của người bệnh với hệ số beta là 0.375. Tiếp theo là nhóm nhân tố sắp xếp tổ chức (FAC3) ở vị trí thứ hai với hệ số beta = 0.327. Nhóm nhân tố năng lực phục vụ (FAC1) xếp vị trí thứ ba trong các yếu tố ảnh hưởng với hệ số beta = 0.224. Hệ số beta chuẩn hóa của ba nhóm nhân tố năng lực phục vụ (FAC1), tinh thần trách nhiệm (FAC2), sắp xếp tổ chức (FAC3) đều > 0 cho thấy các biến độc lập tác động thuận chiều với mức độ hài lòng của người bệnh. Từ đó, bệnh viện phải nỗ lực cải thiện những nhóm nhân tố này để nâng cao sự hài lòng của người bệnh khi khám chữa bệnh tại bệnh viện. Cuối cùng là nhân tố thu nhập (TN) có hệ số beta chuẩn hóa là - 0.125 điều này có nghĩa là những người có thu nhập cao không hài lòng với chất lượng khám chữa bệnh tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương II. Tâm lý chung của những người có mức thu nhập cao là luôn muốn được đối xử như một "thượng khách". 2.2.5. Nguyên nhân của những tồn tại trên: Sở dĩ còn có những yếu kém trên tại bệnh viện khiến người bệnh chưa thực sự hài lòng là vì những nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. 2.2.5.1 Trước tiên xét về nguyên nhân chủ quan: a. Nguồn nhân lực và năng lực: Cách thức tổ chức và quản lí chưa được chặt chẽ, sự phối hợp trong công việc giữa các bộ phận khoa phòng chưa đồng bộ. Ý thức của một bộ phận nhân viên chưa cao, báo cáo kết quả vẫn còn hình thức cào bằng trong đó có những nhân viên thì rất năng động nhưng một vài nhân viên thì lại ngại việc. Vì vậy chưa khuyến khích được nhân viên tích cực phát huy hết khả năng. 41 Phân công công việc chưa đúng người nên kết quả đạt được nhưng hiệu quả lại không cao, chưa được cân đối còn hạn chế cả về chất lượng lẫn số lượng chẳng hạn đối với khu vực phòng khám tình trạng quá tải luôn diễn ra nhưng để có một đội ngũ nhân viên phục vụ tận tình, năng động và linh hoạt trong các tình huống thì bệnh viện chưa đáp ứng được tốt. Tâm lý của người bệnh, người thân về bệnh viện tâm thần và bệnh tâm thần còn nặng nề, phần lớn họ vẫn gắn “mác điên” khi đến khám chữa bệnh tại bệnh viện, họ mang trong mình sự dè dặt và e ngại ngay cà khi đến khám bệnh về nội khoa như đau đầu, mất ngủ, suy nhược thần kinh, viêm xoang... Ngay cả những người làm đã học ngành y sau khi ra trường cũng ít về công tác tại bệnh viện tâm thần. Bệnh viện không thiếu những người có kinh nghiệm nhưng cái bệnh viện cần đó là những người có tư duy đổi mới cách thức làm việc một cách hiệu quả và nhanh chóng hơn thích ứng với những đòi hỏi mới mà xã hội đang đặt ra. Mức lương chưa được ưu đãi nên không thu hút được cán bộ có trình độ chuyên môn cao. Chính sách lương chưa phát huy về vật chất và tinh thần cho nhân viên. Nhân viên y tế chưa được trang bị đầy đủ các kĩ năng cần thiết như: kĩ năng giao tiếp và quy tắc ứng xử. Họ thực sự chưa xem người bệnh là khách hàng nên vẫn còn một số người tỏ thái độ ban ơn và cho nhận. Đánh giá nhân viên còn mang tính chủ quan, dễ dãi nên chưa có biện pháp xử lí khi nhân viên sai phạm. Vẫn còn tồn đọng sự thiếu sự nhạy bén linh hoạt trong công việc, làm việc máy móc trong các tình huống. Chẳng hạn có những người bệnh, nhà ở rất xa, tuy đã được phòng kế hoạch tổng hợp bệnh viện giải quyết cho ra viện nhưng nhân viên phòng phát thuốc lại không giải quyết cho người bệnh. Hoặc, bệnh nhân đã khám bệnh tại bệnh viện rồi nhưng khi tái khám quên mang theo giấy ra viện cho dù còn nhớ số nhập viện cũ cũng không được nhân viên giải quyết thủ tục nhập viện ngay. Các lớp bồi dưỡng chuyên môn cho nhân viên, trao đổi thông tin nội bộ giữa các nhân viên chưa được tổ chức thường xuyên, còn mang tính hình thức và đối phó thụ động từ phía một số nhân viên y tế. 42 b. Cơ sở vật chất: Do nguồn kinh phí còn eo hẹp nên chưa trang bị đầy đủ trang thiết bị hiện đại, một số khoa phòng đã xuống cấp chưa đáp ứng được nhu cầu của mọi đối tượng người bệnh. Hệ thống công nghệ thông tin chưa triển khai toàn bộ bệnh viện, ngay tại một số khu vực tiếp nhận, thông tin mạng nội bộ cũng chưa có. Bên cạnh đó lại thường xuyên xảy ra tình trạng lỗi mạng, bộ phận này gây khó khăn cho các bộ phận khác, đặc biệt giải quyết những thủ tục cho người bệnh. 2.2.5.2. Nguyên nhân khách quan: Hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần tại các tỉnh phía Nam còn mỏng và yếu nhiều địa phương còn không có cơ sở điều trị nội trú người bệnh tâm thần hoặc có nhưng chưa đáp ứng gây quá tải cho Bệnh Viện Tâm thần Trung Ương II. Xã hội chưa thấy được tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khỏe tâm thần trong cộng đồng, nhận thức của một số người dân về bệnh tâm thần còn hạn chế. Chưa có luật sức khỏe tâm thần tại cho người bệnh tâm thần tại Việt Nam nên nhiều người bệnh vẫn không trả nổi những mức chi phí cơ bản. T ÓM TẮT CH ƯƠNG 2 Trong chương 2, tác giả đã chỉ ra 4 nhóm nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến mức độ hài lòng của người bệnh khi khám chữa bệnh tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương II. Đó là: - Nhóm nhân tố năng lực phục vụ của nhân viên y tế [FAC1]. - Nhóm nhân tố tinh thần trách nhiệm của nhân viên y tế [FAC2]. - Nhóm nhân tố sắp xếp tổ chức của bệnh viện [FAC3]. - Yếu tố thu nhập [TN]. Thông qua các nhân tố trên cùng các mặt hạn chế còn tồn tại của bệnh viện hiện nay sẽ là cơ sở để tác giả đề xuất các giải pháp khắc phục nhược điểm hiện tại của bệnh viện để nâng cao mức độ hài lòng của người bệnh tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II trong chương 3. 43 3.1. Mục tiêu và phương hướng của Bệnh viện trong thời gian tới: 3.1.1. Mục tiêu phát triển của Bệnh viện: Trong kế hoạch phát triển của bệnh viện đến năm 2010, bệnh viện đã đề ra một số mục tiêu phát triển sau: - Xây dựng và phát triển Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II thành một bệnh viện chuyên khoa đầu ngành tâm thần khu vực phía nam - Là cơ sở thực hành và tham gia đào tạo của các trường đại học, cao đẳng, trung học y tế và hợp tác quốc tế - Có cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, có đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực. 3.1.2. Phương hướng phát triển của bệnh viện: - Đặt người bệnh làm trung tâm, luôn coi trọng chất lượng khám và chữa bệnh, tất cả vì sự hài lòng của người bệnh. - Xây dựng tốt mô hình chăm sóc sức khoẻ tâm thần toàn diện. - Đẩy mạnh nâng cao chất lượng dịch vụ và triển khai tốt các loại hình dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tâm thần trong nhân dân. - Xây dựng mô hình tổ chức mạng lưới chăm sóc sức khoẻ tâm thần thống nhất cho các tỉnh phía Nam và trong toàn quốc. - Đầu tư và phát triển nguồn nhân lực và nâng cấp trang thiết bị phương tiện cơ sở vật chất đảm bảo công tác chăm sóc sức khoẻ tâm thần cộng đồng, giảm sức ép quá tải cho bệnh viện tuyến trung ương. Trong chương 2 tác giả đã nêu lên những thực trạng về mức độ hài lòng của người bệnh khi khám chữa bệnh tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II. Thông qua kết quả khảo sát thực trạng đó, tác giả nhận thấy rằng phần lớn người bệnh khi 44 khám chữa bệnh tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II quan tâm đến các yếu tố năng lực phục vụ, tinh thần trách nhiệm, sắp xếp tổ chức và yếu tố thu nhập. Nhóm nhân tố tinh thần trách nhiệm [FAC2]: phản ánh về thái độ, tác phong phục vụ của nhân viên y tế và các quyền, nghĩa vụ mà người bệnh cần được biết khi khám chữa bệnh tại bệnh viện. Nhóm nhân tố năng lực phục vụ [FAC1]: phản ánh về sự thoải mái an tâm tin tưởng của người bệnh khi khám chữa bệnh tại bệnh viện; cách thức nhân viên bệnh viện giải quyết các khó khăn cho người bệnh; sự tư vấn chu đáo, điều trị tích cực toàn diện cho người bệnh và giúp họ hoà nhập tốt với cộng đồng bằng các hoạt động liệu pháp tái thích ứng xã hội. Nhóm nhân tố sắp xếp tổ chức [FAC3]: phản ánh về việc sắp xếp các quy trình khám chữa bệnh cụ thể và các dịch vụ hỗ trợ, cấp cứu cho người bệnh khi họ có nhu cầu khám chữa bệnh tại bệnh viện. Yếu tố thu nhập [TN]: phản ánh về những đối tượng có khả năng chi trả và muốn phục vụ theo yêu cầu một cách chuyên nghiệp nhất. Chính những vấn đề còn tồn đọng nói ở chương 2 đã ảnh hưởng không nhỏ đến mức độ hài lòng của người bệnh tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II. Để nâng cao mức độ hài lòng của người bệnh tại bệnh viện tác giả xin đưa ra một vài giải pháp được thực hiện lần lượt theo thứ tự ưu tiên như sau: 3.2. Giải pháp tác động vào nhóm năng lực phục vụ của nhân viên y tế [FAC1] 3.2.1. Nâng cao nghiệp vụ và xây dựng tác phong làm việc cho cán bộ công nhân viên: Điều quan trọng trước tiên đó là đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao ý thức của toàn bộ nhân viên bệnh viện “Người bệnh là khách hàng” từ bảo vệ cho đến nhân viên chuyên trách tại phòng khám cũng như tại khoa điều trị. Người bệnh chính là những người mang lại công ăn việc làm cũng địa vị xã hội cho những nhân viên y tế. Thông qua đó việc thay đổi nhận thức thì hành vi và thái độ ứng xử của nhân viên y tế cũng sẽ thay đổi cho phù hợp khi họ khám chữa bệnh cho người bệnh. 45 Thứ hai, tại Bệnh viện hầu như nhân viên đều có chứng chỉ A về anh văn cũng như vi tính nhưng đó là xét về số lượng chứ chưa chú trọng đến chất lượng và nhân viên cũng ít có cơ hội để ứng dụng thực tế. Bệnh viện ngày càng có xu hướng phát triển theo hướng mở rộng và tăng thêm các loại hình dịch vụ chất lượng cao do vậy thì càng cần phải nâng cao trình độ ngoại ngữ cũng như kĩ năng về tin học bằng việc: Mở lớp giảng dạy lại cho cán bộ công nhân viên trong toàn bộ bệnh viện phổ cập hóa những kiến thức bằng cách thuê các chuyên gia bên ngoài về giảng dạy và những thuật ngữ chuyên môn như thăm hỏi động viên trao đổi với người bệnh là người nước ngoài. Tổ chức các lớp định kì hàng tháng, khuyến khích sử dụng ngoại ngữ trong việc trao đổi các bài thông tin tại các buổi tham luận của bệnh viện để rèn luyện cho nhân viên. Học phải đi đôi với hành và phải đảm bảo tính liên tục tính sáng tạo. Các câu chào hỏi thông thường giữa nhân viên với nhân viên thành thói quen, giảm sự rụt rè trong nhân viên. Giao tiếp là một yếu tố vô cùng quan trọng giữa người với người trong xã hội. Thông qua giao tiếp con người có thể hình thành cũng như phát triển hoàn thiện nhân cách của mình từng ngày. Đó chỉ là điều tưởng chừng như đơn giản hằng ngày nhưng người ta bắt gặp thường xuyên ở tại các bệnh viện hiện nay đó là thái độ quát nạt, giao tiếp không có chủ ngữ giữa nhân viên y tế đối với người bệnh cũng như người nhà người bệnh. Điều này vô tình lại làm người bệnh mất đi thiện cảm và lòng tin tưởng vào khả năng điều trị của bệnh viện đó. Đối với một bệnh viện chuyên khoa đặc biệt lại là bệnh viện tâm thần thì kĩ năng giao tiếp lại là yếu tố vô cùng quan trọng. Do vậy cần phải rèn luyện kĩ năng giao tiếp trong cán bộ công nhân viên bắt đầu ngay khâu giữ xe đến khi hướng dẫn người bệnh khám, nhập viện và sau khi xuất viện: Nhân viên phải luôn lắng nghe người bệnh nói chuyện và nói chuyện với họ một cách chân thành cởi mở nhất không có được có thái độ ban ơn. 46 Mỗi lời nói phải nhẹ nhàng chứ không nên vì chuyện riêng mà ảnh hưởng đến xúc cảm khi tiếp xúc với người bệnh. Nhân viên phải biết để người bệnh bày tỏ những điều họ muốn nói, chẳng hạn như những khó khăn mà họ gặp phải bằng việc cảm nhận thái độ của họ thông qua những cử chỉ ánh mắt hành vi của người bệnh. Những vấn đề này có thể cung cấp cho bác sĩ hay cử nhân tâm lí nhằm hỗ trợ họ trong việc chẩn đoán và điều trị vì thời gian cho một người bệnh có khi không quá 5 phút do đó bác sĩ khó có thể nắm bắt được hết tất cả diễn biến của người bệnh. Nhân viên y tế cần cung cấp thông tin cho người bệnh bằng những từ ngữ đơn giản, thông dụng và rõ ràng. Chẳng hạn như: sau khi người bệnh xuất viện cần phải uống thuốc đều đặn và rèn luyện thể lực cho sức khỏe mau chóng phục hồi một cách cụ thể nhất. Người bệnh có thể “hỉ ngộ ái ố” do vậy nhân viên phải có những quy tắc ứng xử cho phù hợp với từng đối tượng người bệnh. Điều cần phải làm trước hết đó là: Tự bản thân mỗi cá nhân phải tự rèn luyện nâng cao nhận thức qua quá trình làm việc tiếp xúc với đồng nghiệp, với người bệnh hoặc thân nhân người bệnh. Bản thân người cán bộ nhân viên phải tự rèn thẳng thắn nhìn sự thật khi mắc khuyết điểm, đoàn kết cùng nhau làm việc và đặt lợi ích của người bệnh lên hàng đầu không nên vì cơm áo gạo tiền mà làm ảnh hưởng đến hình ảnh cao cả của người thầy thuốc “Lương y như từ mẫu”. Thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo và huấn luyện các kĩ năng cho nhân viên như kĩ năng giao tiếp, quy tắc ứng xử, cách thức phục vụ, luôn giữ vững khẩu hiệu “Đến tiếp đón niềm nở, ở chăm sóc tận tình, về dặn dò chu đáo”. Sẽ có một lúc nào đó chúng ta trở thành người bệnh và như vậy chúng ta sẽ cảm nhận và cần phải “Xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình”. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục kĩ năng giao tiếp, quy tắc ứng xử liên tục, nhắc đi nhắc lại, lồng ghép với các hoạt động hành chính hàng ngày tại khoa phòng, bệnh viện để tạo nên những chuyển biến trong nhận thức và thay đổi hành vi của nhân viên bệnh viện. 47 Phát hiện và biểu dương, động viên kịp thời những cá nhân tích cực và có những hình thức kiểm điểm những sai phạm của các cá nhân có hành vi tiêu cực. Tác phong của một nhân viên chuyên nghiệp không chỉ thể hiện qua kĩ năng giao tiếp và quy tắc ứng xử mà còn ở việc ăn mặc có đúng quy cách hay không trang phục có gọn gàng và chỉnh tề hay không. Nghe tưởng chừng như đơn giản thế nhưng hiện hay trong bệnh viện vẫn còn một số nhân viên trang phục còn chưa đúng quy cách, nón thì không có, chỉ đội khi có kiểm tra thậm chí là bảng tên cũng không đeo khiến cho người bệnh không biết là bác sĩ gì khám, nhân viên nào chăm sóc,…Hiện tại thì bệnh viện thường nhắc nhở, khiển trách nặng hơn đó là hạ công hàng tháng tuy nhiên việc làm này có thể gây ức chế tâm lí trong nhân viên. Do đó cần phải: Giáo dục nhân viên nhận thức được sâu xa về vấn đề cốt lõi là nếu mặc trang phục không đúng quy cách là thể hiện sự thiếu tôn trọng người bệnh, làm mất đi thiện cảm của người bệnh đối với nhân viên y tế và đặc biệt ảnh hưởng đến hình ảnh đẹp của bệnh viện đang gây dựng. Bệnh viện nên tổ chức những đợt kiểm tra đột xuất kết hợp nhắc nhở chấn chỉnh tại chỗ các hành vi, tác phong và thái độ chưa phù hợp của nhân viên trong những tình huống cụ thể. Những việc làm này đòi hỏi phải có thời gian để chuyển biến từ nhận thức sang thay đổi thái độ, hành vi một cách tự giác. Xây dựng tốt mối quan hệ giữa thầy thuốc và người bệnh: Đa phần khi có bệnh tâm trạng của họ thường hoang mang và lo lắng, “có bệnh đi vái tứ phương”. Do vậy, đứng trước tình cảnh đó người thầy thuốc phải làm tròn trách nhiệm và biết chịu trách nhiệm về những việc làm của mình với người bệnh và người nhà với các hình thức: Ba không: + Không được thờ ơ trước tình cảnh của người bệnh, từ chối yêu cầu của người bệnh. + Không được từ chối yêu cầu của người bệnh. + Không được có những cử chỉ hành động làm người bệnh sợ hãi, lo lắng. 48 Ba công đoạn: + Xin phép trước khi thực hiện các thao tác kĩ thuật trên người bệnh. + Xin lỗi khi người bệnh cảm thấy khó chịu + Cảm ơn khi hoàn thành các thủ thuật. * Xây dựng hình ảnh của bệnh viện: Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II được biết đến là một bệnh viện đứng thứ hai trong cả nước về khám chữa bệnh chăm sóc sức khỏe tâm thần với đội ngũ cán bộ nhân viên giàu kinh nghiệm. Chính vì vậy để củng cố lòng tin bệnh viện cần duy trì và giữ gìn hình ảnh đẹp này ngay từ trong việc giáo dục nhận thức cho toàn thể cán bộ công nhân viên từ các khẩu hiệu “Người bệnh là trung tâm” đến chất lượng dịch vụ, tác phong chuyên nghiệp, tôn trọng những cam kết đưa ra với người bệnh, luôn thỏa mãn các nhu cầu của người bệnh mà không có thái độ phân biệt đối xử kì thị với các người bệnh thuộc mọi thành phần. Nâng cao nhận thức của cán bộ công nhân viên về việc học tập suốt đời “Đặt người bệnh làm trọng tâm” chứ không phải là thái độ ban ơn cho nhận. Tạo cho người bệnh sự thoải mái an tâm tin tưởng khi họ đến bệnh viện chứ không phải là nơi giam giữ. Phối hợp chặt chẽ với các ngành và các tổ chức đoàn thể xã hội, đoàn thanh niên tại nơi người bệnh sinh sống để cùng gia đình người bệnh kiểm soát người bệnh được tốt nhất, giảm thiểu nhiều chi phí khi người bệnh đến điều trị tại bệnh viện. Trao đổi thông tin qua các phương tiện báo đài, tạp chí, email… Vấn đề tự thân vận động có nghĩa mỗi cá nhân phải nhận thấy rằng nội lực là chính, yếu tố bên ngoài chỉ là sự hỗ trợ tạm thời và ngắn hạn. Kiến thức được cập nhật phải liên tục và phải đi sát với thực tiễn, dựa vào thực tiễn mới đem lại sự thay đổi tích cực. Triển khai tích cực mạng lưới chăm sóc sức khoẻ tâm thần dựa vào cộng đồng (Hình 3.1) để giảm thiểu tình trạng quá tải cho tuyến trên, đồng thời khẳng định và nâng cao tay nghề cho tuyến dưới, đảm bảo cân đối nguồn lực phục vụ tốt 49 nhất cho người bệnh. Sử dụng tối đa nguồn lực tại địa phương đồng thời cử người tại bệnh viện hướng dẫn cách phòng và điều trị bệnh khi gặp phải khó khăn. Hình 3.1: Công tác chỉ đạo tuyến. ( Nguồn: Phòng công nghệ thông tin) [1] Nâng cao kiến thức về chăm sóc sức khỏe tâm thần trong nhân dân bằng các phương tiện truyền thông ( Hình 3.2) thấy được tầm quan trọng của việc phòng và điều trị bệnh bằng những hình thức đơn giản dễ hiểu, ngắn gọn như: tranh ảnh minh họa, tờ rơi, ti vi, website. Phối hợp với một kênh truyền hình có uy tín như VTV, O2 ti vi ..để truyền tải những thông tin về chăm sóc sức khoẻ tâm thần cho cộng đồng để người dân ở mọi nơi đều có thể tiếp cận, những thông tin nóng về sức khoẻ tâm thần được liên tục cập nhật để người dân hiểu rõ nâng cao hiệu quả phòng bệnh trong cộng đồng. Hình 3.2: Tranh ảnh tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe tâm thần. ( Nguồn: Tác giả chụp hình thực tế tại bệnh viện ) 50 Con người từ khi sinh ra đến khi lớn lên bao giờ cũng ấp ủ trong mình những ước mơ tươi đẹp, mỗi người một suy nghĩ một tính cách nhưng chung quy lại tất cả đều luôn muốn một cuộc sống hạnh phúc gia đình và công việc được tốt đẹp. Nỗi đau về mặt thể chất có thể chữa lành nhưng sự mất mát hay khiếm khuyết về mặt tinh thần lại làm cho người bệnh tâm thần gần như thu hẹp mình lại gây nên sự kì thị của cộng đồng. Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II là nơi tiếp nhận những con người này và công việc mà người nhân viên y tế phải làm đó là sự gắn bó cả đời mình để nỗ lực đem đến cho họ niềm tin vào cuộc sống và hoạt động phục hồi chức năng là cách giúp họ nhìn được sự thay đổi từng ngày của mình để tái hòa nhập vào cộng đồng tạo cho họ một niềm tin rằng giá trị của họ vẫn luôn được xã hội đón nhận. 3.2.2. Quan tâm đến các liệu pháp tái thích ứng xã hội: Nhằm phục hồi chức năng tâm thần cho người bệnh, giúp người bệnh sau khi điều trị ổn định có thể sớm thích ứng với cuộc sống gia đình, xã hội. Cùng với việc điều trị bằng các liệu pháp hóa dược tức là sử dụng thuốc thì liệu pháp này chiếm tới 50% trong công tác điều trị cho người bệnh tâm thần. Thực tế mọi hoạt động diễn ra vẫn mang tính hình thức chưa phổ biến cụ thể quyền của người bệnh làm gì và những nhân viên được phân công nhiệm vụ phụ trách người bệnh thì ít chú trọng đến vấn đề này nên người bệnh cũng xác định rõ cho người bệnh rằng việc đi tham gia những hoạt động này có ích lợi gì hay chỉ là sự quản thúc. Giữa nhân viên và người bệnh sẽ dẫn đến tình trạng không hiểu nhau do đó kết quả thì đạt được nhưng hiệu quả không cao. Một số loại hình tổ chức cho người bệnh vẫn chưa được quản lí chặt chẽ người bệnh không hưng thú với loại hình này nhưng vẫn bị ép buộc hoặc họ dến chỉ cho hết giờ mà thôi. Do vậy cần: Mở rộng quy mô hoạt động liệu pháp cụ thể và đa dạng nhiều người có thể tham gia hơn và mang tính thiết thực hơn. Điều cần thiết đó là bố trí theo sở thích, độ tuổi của người bệnh và văn hóa.. của người bệnh. 51 Chẳng hạn: người bệnh thuần nông thì làm liệu pháp lao động người bệnh có trình độ thì tham gia đọc báo, người bệnh có kĩ năng may mặc thì tham gia may mặc, người bệnh có năng khiếu vẽ thì kí họa. (Hình 3.3; Hình 3.4) Hình 3.3: Người bệnh tham gia các hoạt động tái thích ứng xã hội ( Nguồn: Tác giả chụp hình thực tế tại bệnh viện ) Hình 3.4: Các liệu pháp lao động tập thể và may quần áo gia công ( Nguồn: Tác giả chụp hình thực tế tại bệnh viện ) Giá trị của người bệnh sẽ được nâng lên ở chỗ, những sản phẩm lao động của người bệnh có thể trưng bày để bán ở những quầy hàng nhân ái.(Hình 3.5) 52 Hình 3.5: Các sản phẩm người bệnh làm tại quầy hàng nhân ái. ( Nguồn: Tác giả chụp hình thực tế tại bệnh viện ) Chúng ta có thể tích lũy tiền từ việc bán các sản phẩm (Hình 3.5) này của họ thành lập Quỹ hỗ trợ cho người bệnh và khi họ xuất viện họ sẽ được nhận những số tiền từ quỹ này, là động lực là niềm vui để họ tham gia và thấy ràng họ không bị cô độc. Tại Thái Lan họ ứng dụng rất tốt mô hình này gọi là làng cho người bệnh. Công việc vừa sức mà lại đem đến niềm vui. Việc giảng dạy có giáo trình cụ thể ngắn gọn chủ yếu nên hướng vào các hoạt động thực tiễn, rèn luyện cho họ kĩ năng sống thì tốt hơn. Chẳng hạn: Việc giảng dạy liệu pháp nhóm (Hình 3.6) để nắn chỉnh hành vi nếu người bệnh này có những điều còn sai thì người bệnh khác sẽ tác động vào để sửa đổi từ từ. Hình 3.6: Liệu pháp nhóm ( Nguồn: Tác giả chụp hình thực tế tại bệnh viện ) Sau những buổi học nhân viên y tế + nhân viên hoat động liệu pháp + cử nhân tâm lí cùng họp để rút ra kinh nghiệm và có bảng đánh giá mỗi buổi sinh hoạt theo tuần, tháng, quý...Chẳng hạn như: Bảng 3.1: Đánh giá tiến độ tham gia của từng người bệnh theo tuần STT Tên Người bệnh Liệu pháp Thời gian Kết quả Nhân viên 1 A Nhóm 8h-9h Tốt X + E 2 B Lao động 7h-8h Trung bình Y + B 53 3 C Âm nhạc 14h-15h kém Z + C ( Nguồn: Đề xuất của tác giả) Nhân viên y tế nên lồng ghép triển khai quyền và nghĩa vụ vào các giờ sinh hoạt liệu pháp với người bệnh để người bệnh hiểu rõ. Đặc biệt là cử nhân tâm lí, nhân viên hoạt động liệu pháp, quá trình truyền đạt phải dùng ngôn ngữ dễ hiểu, tranh ảnh minh họa. Liên hệ những ví dụ thực tế để người bệnh thấy được việc nằm điều trị tại bệnh viện không phải là sự trói buộc hay sức ép của gia đình. Kết quả đạt được: * Đối với nhân viên: + Bổ sung những kĩ năng giao tiếp với người bệnh. + Biết cách quản lí người bệnh sinh động. * Đối với người bệnh: + Làm cho giờ sinh hoạt hấp dẫn không gậy sự nhàm chán cho người bệnh. + Tạo mối quan hệ thân thiện giữa nhân viên y tế và người bệnh. (cid:190) Kết quả sẽ thu được: Với những thái độ cử chỉ cách ứng xử của nhân viên y tế ngay từ khâu tiếp nhận bệnh cho đến khi bệnh nhân nằm điều trị tại bệnh viện một cách niềm nở đã làm cho bệnh nhân cảm thấy ấm lòng và vơi đi sự lo lắng về bệnh tật của mình. Qua việc nâng cao nghiệp vụ và xây dựng tác phong làm việc cho tập thể cán bộ công nhân viên góp phần xây dựng hình ảnh của bệnh viện, giúp tập thể cán bộ công nhân viên bệnh viện thấy rõ vai trò quan trọng của việc giao tiếp, thực hiện tốt quy tắc ứng xử, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người bệnh và nhân viên y tế, góp phần tích cực vào nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị và quan trọng hơn là nâng cao mức độ hài lòng của người bệnh một cách hiệu quả nhất, góp phần tích cực cho người bệnh tái hòa nhập cộng đồng. 3.3. Giải pháp tác động vào nhóm tinh thần trách nhiệm của nhân viên y tế [FAC2] 54 Qua phân tích thực trạng mức độ hài lòng của người bệnh tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II tại chương 2, tác giả nhận thấy rằng con người luôn là yếu tố quan trọng và tiên quyết trong mọi hoạt động của tổ chức. Con người tạo ra các trang thiết bị cho việc chăm sóc và điều trị cũng như các cơ cấu trong tổ chức để điều hành nó theo một quy trình cụ thể có sự sắp xếp rõ ràng. Chính vì thế việc quan tâm và chú trọng đến nguồn nhân lực sẽ là yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ nhất cho việc cải thiện chất lượng khám chữa bệnh. 3.3.1. Nâng cao năng lực quản lí và chú trọng phát triển nguồn nhân lực: Công tác quản lí nguồn nhân lực trong bất kỳ bệnh viện nào cũng có vai trò quan trọng và quyết định đến sự phát triển của bệnh viện đó. 3.3.1.1 Nâng cao năng lực quản lí: Hiện nay bệnh viện cần nâng cao năng lực quản lí cho toàn bộ đội ngũ quản lí bệnh viện. Bởi đa phần đội ngũ bác sĩ trưởng khoa, y tá trưởng cũng như các bộ phận quản lí khác xét về khía cạnh chuyên môn là đầy đủ nhưng chưa được trang bị tốt các kĩ năng quản lí. Để đáp ứng được nhu cầu dịch vụ ngày càng tăng của người dân cũng như có thể phát triển mạnh mẽ hơn tương đương với các nước trong khu vực thì bệnh viện cần phải chú trọng nâng cao năng lực quản lí theo hướng lâu dài cụ thể như sau: Nhà quản lí phải là người có “tâm-tài- trí- tầm”. Thiếu một trong những yếu tố này sẽ khó có thể đảm bảo công việc cũng như ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của bệnh viện một cách tiêu cực hoặc tích cực. Những người có phẩm chất đạo đức năng lực thì nên bố trí vào những vị trí quan trọng, dám học hỏi không ngại khó ngại khổ, dám chịu trách nhiệm về những việc làm của mình đó mới là điều quan trọng. Phải linh hoạt xóa bỏ tư tưởng các lãnh đạo lên chức thì an tâm với vị trí của mình và phải thường xuyên thanh lọc, thay thế những nhà quản lí yếu kém thiếu năng động không đáp ứng yêu cầu của công việc và không hoàn thành kế hoạch đề ra bằng cách bỏ phiếu tín nhiệm hai năm một lần một cách công bằng dân chủ nhất để đảm bảo đem lại lợi ích tốt nhất 55 cho toàn thể công nhân viên chức và đặc biệt là đặt lợi ích “ Tất cả vì người bệnh” lên hàng đầu. Cử các cán bộ này đi học những lớp quản lí về bệnh viện cũng như quản lí hành chính hàng năm, phối hợp với các trường như Đại học Hùng Vương, Cao đẳng Sư phạm… về các lớp quản lí hành chính và quản lí bệnh viện. Nhà quản lý phải xác định nhiệm vụ đơn vị, khoa phòng, cá nhân một cách rõ ràng cụ thể. Cân đối nguồn nhân lực tránh tình trạng phân cấp phân quyền không rõ ràng dẫn đến chồng chéo trong cơ cấu tổ chức để rồi lại có sự phân tán trong cách thức quản lí nhân viên. Phân công cụ thể trách nhiệm và quyền hạn của mỗi khoa phòng tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm từ phong ban này sang phòng ban khác. Có một văn bản hoàn chỉnh để phân trách nhiệm trong trường hợp người này đi vắng thì có người khác thay thế ủy quyền. Chẳng hạn như việc cấp giấy chứng nhận hay xuất viện, thiếu tiền viện phí phải thống nhất là ai chịu trách nhiệm.Tình trạng trên còn tồn đọng rất nhiều trong trường hợp người bệnh ở nhà xa quá họ phải chờ đợi cả ngày trời để có được giấy xuất viện và có được thuốc cấp phát, chưa kể lỗi mạng xảy ra thì nhân viên phòng kế toán không thể thanh toán, nhân viên phòng kế hoạch tổng hợp không thể in giấy xuất viện được. Mỗi một đơn vị và cá nhân phải có bản mô tả nhiệm vụ rõ ràng. Việc làm hết sức quan trọng giúp mỗi cá nhân và đơn vị xác định rõ được nhiệm vụ của mình trong một thời gian và hoàn thành nhiệm vụ đó. 3.3.1.2. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực: * Nâng cao trình độ chuyên môn: Đối với trình độ bác sĩ chiếm khoảng 60% là đào tạo từ hệ chuyên tu. Đối với ngành điều dưỡng liên quan trực tiếp đến chăm sóc người bệnh thì bệnh viện chỉ có khoảng 3 % cử nhân trình độ đại học và khoảng 15% là từ sơ học chính, còn lại là trình độ trung cấp.Vì vậy việc tất yếu là cần phải chuẩn hóa trình độ để bắt kịp với nhu cầu của xã hội. Khi đó họ có tư duy tốt thì cung cách ứng xử cũng sẽ khác không còn thái độ ban ơn và sự kì thị với người bệnh dù là giàu hay nghèo, là già hay trẻ, là thành thị hay nông thôn. 56 Khuyến khích tạo điều kiện để nhân viên được học tập nâng cao trình độ chuyên môn tại các trường đại học cao đẳng theo chuyên ngành của nhân viên đang làm. Bệnh viện hỗ trợ một phần kinh phí và đảm bảo nhân viên này đi học thì nhân viên khác làm tốt công việc đó không để trống chỗ ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc người bệnh. Khuyến khích trao đổi học tập định kì cho nhân viên trong toàn thể bệnh viện thông quan tạp chí, báo đài, internet, các buổi tham luận , tọa đàm tại bệnh viện. Tổ chức các lớp ôn luyện tay nghề hàng năm cho nhân viên để chỉnh sửa khắc phục những điểm chưa đạt được. Cập nhật kiến thức chăm sóc sức khỏe tâm thần trong cộng đồng cho nhân viên hàng tháng, hàng quý hàng năm. Sau đó rút kinh nghiệm và học hỏi. Thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn về chuyên khoa tại bệnh viện và tuyến dưới để nhân viên y tế có nhận thức đúng đắn về chăm sóc sức khỏe tâm thần. Mục đích là để tăng cường khả năng gắn kết, trao đổi học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau và ứng dụng chúng phù hợp với môi trường tác nghiệp. Đặc biệt, chú trọng hơn đến vấn đề nghiên cứu khoa học vì đây là động lực quan trọng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của khám chữa bệnh, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, tăng cường tiềm lực khoa học - kỹ thuật của bệnh viện. Góp phần vào việc phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu, là một tiêu chuẩn dánh giá năng lực chuyên môn của cán bộ nhân viên. Trong đó: Nghiên cứu khoa học không chỉ dừng lại ở lĩnh vực chuyên môn đó là nâng cao hiệu quả điều trị bệnh. Chẳng hạn nghiên cứu để giảm tỉ lệ trầm cảm ở thanh thiếu niên hiện nay. Nghiên cứu các vấn đề kĩ thuật trong y khoa nhằm giảm sự sai sót, giảm sự phiền hà, đảm bảo độ chính xác, giảm thời gian điều trị. * Tăng cường hơn các mối quan hệ: 57 Để thực hiện nâng cao tầm ảnh hưởng không chỉ trong nước mà còn với các nước trong khu vực.(Hình 3.7) Bệnh viện cần: Hình 3.7: Tham quan học tập tại Hungary và ký kết hợp tác với Bệnh viện Tâm thần Thái Lan. (Nguồn: Phòng công nghệ thông tin) [1] Phát huy thế mạnh về trình độ chuyên môn giàu kinh nghiệm với bề dày hơn 95 năm. Mở rộng mạng lưới chỉ đạo tuyến đến các quận, huyện, thị xã, thị trấn. Để mạng lưới hoạt động hiệu quả cần phải chú trọng tăng cường phát triển mạng lưới tại những nơi có hoàn cảnh khó khăn vì họ không có điều kiện cũng như chưa hiểu rõ về cách phòng, điều trị và chăm sóc sức khỏe của mình. Duy trì mối quan hệ tốt với tất cả các tổ chức y tế để học hỏi kinh nghiệm và ứng dụng những kinh nghiệm học được vào bệnh viện như bệnh viện tâm thần Thái Lan, Pháp,.. Giải pháp hợp tác và chuyển giao công nghệ nâng cao vị thế của bệnh viện trong lĩnh vực tâm thần học, đảm bảo cải thiện và nâng cao mức độ hài lòng cho người bệnh khi đến khám chữa bệnh tại bệnh viện được tốt nhất. * Chính sách đãi ngộ và khen thưởng: Quan tâm đến chính sách đãi ngộ cũng như quyền lợi của cán bộ công nhân viên để họ toàn tâm toàn ý với công việc và giúp người bệnh hài lòng với dịch vụ mà bệnh viện cung cấp. Cụ thể: 58 Có chính sách khen thưởng ghi nhận những nỗ lực đóng góp của nhân viên đối với việc thỏa mãn nhu cầu của người bệnh. Ngoài ra còn có các chính sách đi chơi tham quan hàng năm cho cán bộ công nhân viên tăng tinh thần đoàn kết và động viên giúp họ tái tạo lại sức lao động sau những ngày làm việc căng thẳng. Có những chính sách ưu đãi để thu hút những nhân viên y tế có trình độ chuyên môn cao. Một số chính sách mà các bệnh viện áp dụng mà ta có thể học hỏi như: trợ cấp thu hút ngoài lương căn cứ theo trình độ (bác sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp 1và thạc sĩ y khoa, bác sĩ chuyên khoa cấp 2 và tiến sĩ y khoa), trợ cấp tiền thuê nhà, hỗ trợ tiền đi lại hoặc các phương tiện đi lại như xe đưa rước ..căn cứ tỉ lệ trên mức lương tối thiểu một người/ tháng. (cid:190) Kết quả sẽ thu được: Bằng việc nâng cao năng lực quản lí và chú trọng phát triển nguồn lực và tăng cường hơn nữa mối quan hệ hợp tác với các tổ chức đòan thể sẽ giúp cho việc quản lí bệnh viện được tốt hơn đáp ứng các đòi hỏi mà xã hội đang đặt ra đó là không chỉ nâng cao chất lượng khám chữa bệnh đáp ứng được sự hài lòng của người bệnh mà còn là động lực thúc đẩy tập thể cán bộ công nhân viên phát huy hơn nữa năng lực, trách nhiệm của mình vì sự nghiệp chăm sóc sức khỏe tâm thần cho cộng đồng. 3.4. Giải pháp tác động vào nhóm sắp xếp tổ chức của bệnh viện [FAC3] và yếu tố thu nhập [TN]: Một trong những tiêu chí và thước đo về hiệu quả công tác quản lý của bệnh viện đó là mức độ và chất lượng cung ứng dịch vụ y tế. Để đa dạng hóa các loại hình dịch vụ thì việc cần làm trước tiên đó là bệnh viện cần phải nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng. [16] 3.4.1. Nâng cao chất lượng dịch vụ: Tăng cường thêm các bàn đón tiếp, hướng dẫn và tư vấn tại chỗ, nhân viên luôn có sự luân chuyển từ khoa lâm sàng và phòng khám để phục vụ người bệnh một cách kịp thời. Nhân viên sẽ được rèn luyện các kĩ năng còn người bệnh sẽ cảm thấy hài lòng hơn khi họ được phục vụ tốt hơn. 59 (1) (2) Hình 3.8: Bảng thông báo tổng hợp dưới (1) và trên lầu(2) của bệnh viện ( Nguồn: Tác giả chụp hình thực tế tại bệnh viện ) Thực tế có rất ít người quan tâm đến các thông tin trên bảng thông báo của bệnh viện này họăc họ không có thời gian để tìm kiếm thông tin hoặc họ cũng không biết thông tin nào là hữu ích với họ. Vì không phải người nào cũng có cùng một suy nghĩ, nhận thức trình độ, hoàn cảnh sống nên một thực trạng khá phổ biến đó là người bệnh không biết về bệnh tật của mình như thế nào? Nguyên nhân nào lại bị bệnh? Cách phòng tránh ra sao? Và cần phải có chế độ chăm sóc điều trị như thế nào cho phù hợp? .Bảng thông tin tuyên truyền của bệnh viện thì lại quá ít. Chỉ riêng khu vực phòng khám có 3 bảng thông báo đặt ở 3 nơi nhưng lại là những nơi không thuận tiện.(Hình 3.8) Hình 3.9: Mặt phẳng tại khu vực cầu thang và trước phòng khám. ( Nguồn: Tác giả chụp hình thực tế tại bệnh viện ) 60 Do vậy, Bệnh viện nên tận dụng những mặt phẳng tại trước các phòng khám hoặc những nơi dễ quan sát nhất như khu vực cầu thang, hành lang…(Hình 3.9) để quảng cáo, cung cấp thông tin về các loại hình dịch vụ hiện có cũng như là thông tin về y học. Việc làm này vừa đơn giản lại hiệu quả, dễ dàng thâm nhập vào tâm trí của người bệnh hơn là việc để các tờ rơi tại các bảng thông tin như bệnh viện vẫn thường làm. Cụ thể: Nêu lên những hiệu quả của việc sử dụng các loại hình dịch vụ đó một cách ngắn gọn và dễ hiểu nhất. Chẳng hạn như ích lợi của việc siêu âm, đo lưu huyết não, đo điện não hoặc thông tin một số loại bệnh thường gặp như làm sao để giảm nguy cơ stress? .. Giáo dục cách phòng bệnh và chữa bệnh cho nhân dân một cách hiệu quả bằng những tranh ảnh sinh động, dễ hiểu. Đơn giản hóa các thủ tục quy trình khám chữa bệnh, sơ đồ bệnh viện để giảm thời gian chờ đợi và tìm kiếm của người bệnh đảm bảo việc chẩn đoán và điều trị cho người bệnh, đặc biệt là những người bệnh mới khám lần đầu hoặc từ các tỉnh xa đến không phải chờ đợi quá lâu. Đặt một bảng sơ đồ hướng dẫn tại khu vực nhà xe của người bệnh. Sau đó là đến khu vực phòng khám rồi khu vực khoa cận lâm sàng, tại những nơi thoáng dễ nhìn nhất. Trước mỗi phòng khám đều được trang bị sơ đồ và bảng chỉ dẫn bằng cách tận dụng những mặt phẳng trống. Tương tự như một tấm thiệp, mặt sau những tờ phiếu khám bệnh có thể in một sơ đồ nhỏ để người bệnh nhận biết phòng khám dễ dàng nhất., nhân viên hướng dẫn chỉ cần đánh dấu (X) vào vị trí khoa phòng người bệnh cần khám, người bệnh có thể đến ngay khu vực mình cần mà không phải hỏi đi hỏi lại nhiều lần người này sang người khác. 61 + Việc cung cấp qui trình và sơ đồ khám bệnh nên đưa vào trang web của bệnh viện www.nmh2.gov.vn thành một mục Quy trình khám chữa bệnh để người bệnh có thể truy cập và theo dõi một cách dễ dàng thuận tiện nhất. Xây dựng quy trình xử lí nghiệp vụ thông suốt giữa các phòng ban để rút ngắn thời gian chờ đợi của người bệnh. Hiện nay bệnh viện vẫn sử dụng hình thức lấy phiếu khám bệnh và số thứ tự với đối tượng ưu tiên thì dùng phiếu đỏ, và bàn tiếp nhận lại chỉ có 2 nhân viên làm việc tại những ngày cao điểm như buổi sáng nhân viên vừa phải giải thích vừa phải hướng dẫn lấy số, ghi phiếu thì sẽ không có đủ thời gian để giải thích nhiều làm thỏa mãn được nhu cầu của người bệnh (Hình 3.10). Hình 3.10: Bàn hướng dẫn và lấy phiếu khám bệnh. ( Nguồn: Tác giả chụp hình thực tế tại bệnh viện ) Do đó bệnh viện cần: Triển khai hơn việc sử dụng công nghệ thông tin ngay từ khâu hướng dẫn đến tiếp nhận bệnh tại các phòng khám bằng số thứ tự điện tử chứ không phải bằng thủ công xếp hàng lấy số từng số một, ưu tiên người già trẻ nhỏ, phụ nữ có thai và các trường hợp cấp cứu. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào khám chữa bệnh tạo điều kiện cho tất cả cán bộ nhân viên tham gia vào quá trình quản lí cũng như đáp ứng được nhu cầu khám và điều trị cho người bệnh. 62 Việc làm này vừa tinh giản được việc phải huy động nhân viên lấy số thứ tự bằng phiếu, thời gian đúng cho người bệnh và những người “làm cò” cũng không thể thực hiện được. Người bệnh cũng áng chừng được thứ tự và có thời gian sẽ quay lại không phải chờ đợi. Tăng cường phòng khám chuyên khoa đảm bảo tiếp nhận và khám kịp thời cho người bệnh. Đồng thời sắp xếp lại các phòng khám theo từng khu vực cụ thể để người bệnh dễ dàng nhận biết. Chẳng hạn: phân rõ thành ba khu vực riêng biệt: Khu vực khám bệnh cho trẻ em. Khu vực khám bệnh dành cho người lớn. Khu vực khám dịch vụ theo yêu cầu. Sắp xếp lại ghế ngồi cho người bệnh hợp lí, đảm bảo chỗ ngồi thoáng mát và sạch sẽ. Chẳng hạn: Phải có nhân viên phục vụ dọn dẹp vệ sinh, nhắc nhở ý thức của người bệnh giữ gìn vệ sinh và xả rác đúng nơi quy định;có ti vi theo dõi phát những chuyên đề về hướng dẫn và chăm sóc sức khỏe; có tạp chí hay thông tin về sức khỏe cho người bệnh theo dõi trong khi chờ đợi. Ghế ngồi phải quay mặt về phía trước các cửa phòng để người bệnh dễ dàng nghe được số thứ tự, và đọc được các thông tin bệnh viện cung cấp thay vì đặt ghế ngồi theo chiều dọc như hiện tại. Bố trí ghế ngồi tăng thêm trước các phòng khám tùy theo khu vực có lượng người bệnh đông như khu vực chẩn đoán hình ảnh, khu vực khám sức khỏe tâm thần. Thường xuyên tổ chức những lớp tham vấn miễn phí, các buổi hội thảo giới thiệu các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhân dân biết cách phòng và điều trị bệnh. Những việc làm này có thể giúp người bệnh có thể tầm soát được sức khỏe, phát hiện và điều trị bệnh hiệu quả nhất. Thông qua những buổi hội thảo như vậy sẽ tăng cường xây dựng mối quan hệ lâu dài giữa người bệnh và thầy thuốc. Ví dụ, những buổi tham vấn có thể: Nêu lên những ích lợi của việc khám sức khỏe định kì. Cách chăm sóc sức khỏe cho người lớn tuổi. 63 Đối với lứa tuổi học đường thì bệnh viện nên phối hợp với các nhà trường để tổ chức các buổi tham vấn tâm lí đặc biệt trong những mùa thi cử: vì hệ thống các trường học luôn phải đương đầu với các đối tượng học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần như những học sinh yếu kém, cá biệt gây cho gia đình và trường học Bệnh
viện Gia
đình Nhà
trường những rắc rối không nhỏ. Do đó với mô hình dưới đây: Sơ đồ 3.1: CSSK lứa tuổi học đường giữa nhà trường- bệnh viện-gia đình. ( Nguồn : Đề xuất của tác giả) Với mô hình này sẽ nâng cao được nhận thức cho bậc cha mẹ, các thầy cô, những người làm trong lĩnh vự y tế một sự liên kết chặt chẽ đảm bảo một sức khỏe tâm thần tốt cho thế hệ tương lai của đất nước trong thời đại trí tuệ và tri thức hiện nay. Xây dựng một bộ phận tư vấn và chăm sóc khách hàng chuyên nghiệp bao gồm tư vấn trực tuyến qua trang web www.nmh2.gov.vn thông qua mục Chăm sóc khách hàng và Tư vấn sức khoẻ nhằm giải quyết những thắc mắc của người có nhu cầu. Cải thiện trang thiết bị kĩ thuật đặc biệt sử dụng hết công suất máy móc, thường xuyên nâng cấp máy móc theo xu hướng phát triển không ngừng của khoa học kĩ thuật công nghệ hiện nay. 3.4.2. Triển khai các loại hình dịch vụ: Theo Nghị định 43 của Chính Phủ, Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II trở thành một bệnh viện tự thu tự chi và chịu sự quản lí một phần của nhà nước. Do vậy để nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên thì người quản lí của bệnh viện ngày càng phải hướng bệnh viện theo xu thế phát triển của xã hội đó là đa dạng hóa các loại hình dịch vụ và phải triển khai các dịch vụ đó một cách bài bản để tạo nên sự bền vững lâu dài cho bệnh viện và khẳng định được vị thế của bệnh viện trong cả nước cũng như có thể hướng tầm của bệnh viện ra khu vực. Tạo nên một địa chỉ 64 đáng tin cậy đối với người bệnh trong nước và người bệnh nước ngoài, khi đó giảm thiểu được những gánh nặng xã hội, góp phần vào việc chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhân dân và nâng cao được sự hài lòng của người bệnh. Xây dựng và mở rộng các loại hình dịch vụ khám chữa bệnh chất lượng cao cho những người có thu nhập cao không chỉ trong nước mà còn cho người nước ngoài đến điều trị và hẹn trước giờ khám qua mạng hoặc qua tổng đài. Triển khai khám dịch vụ ngay từ phòng khám chứ không phải đợi đến khi nằm viện người bệnh mới được hưởng các chế độ dịch vụ này mang lại. Bố trí bác sĩ và nhân viên có chuyên môn nghiệp vụ cao để đáp ứng yêu cầu của những người bệnh có thu nhập có đủ khả năng chi trả các khoản chi phí. Phòng ốc rộng hơn, người bệnh không phải nằm ghép, phòng có điều hòa nhiệt độ, chế độ điều dưỡng cho người bệnh được phục vụ ở mức tốt nhất. Hình 3.11:Bảng thông báo(bên trái) đặt ở vị trí không thuận lợi. ( Nguồn: Tác giả chụp hình thực tế tại bệnh viện ) Hiện tại bảng cung cấp thông tin về các loại hình dịch vụ của bệnh viện đã có nhưng việc cung cấp thông tin về bác sĩ chuyên môn thì chưa được rõ ràng mới chỉ niêm yết trên bảng thông báo rất nhỏ và ở những vị trí không thuận lợi với tầm nhìn của người bệnh.(Hình 3.11) Đối với dịch vụ hẹn khám bệnh và dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu chất lượng cao: giúp người bệnh có thể chủ động thời gian, khám bệnh một cách nhanh chóng, không mất thời gian chờ. Do vậy: Cần đảm bảo cung cấp các dịch vụ chính xác tuyệt đối. Cụ thể bệnh viện cần: 65 Cung cấp cho người bệnh số tổng đài bệnh viện: 0613.822965. Ngôn ngữ sử dụng chính là tiếng việt và tiếng anh. Cung cấp đầy đủ thông tin: ngày giờ và thời gian khám bệnh trong và ngoài giờ hành chính một cách cụ thể. Luôn lưu lại số điện thọai của người bệnh để liên hệ hồi báo khi cần thiết. Giữ gìn thông tin đảm bảo bí mật cho người bệnh, chỉ cung cấp thông tin khi người bệnh cần. Có bộ phận tổng đài trực thường xuyên, hệ thống đường dây đăng kí mạng phải có nhân viên phục vụ 24/24 h, ít nhất là khoảng 2 người túc trực khi có sự cố xảy ra. Trang bị thêm máy tính cho nhân viên sử dụng nhập dữ liệu và lưu trữ sắp xếp lịch cụ thể kết nối với phòng kế toán và các phòng ban khác. Danh sách Bác sĩ đính kèm họăc đề nghị Điều dưỡng tiếp nhận đăng ký giới thiệu, tư vấn tên Bác sĩ chuyên khoa để người bệnh chọn và đăng ký. Hoặc danh sách được niêm yết trên mạng Mục hẹn khám bệnh tại trang web của bệnh viện www.nmh2.gov.vn Người bệnh thường hay có thói quen tìm kiếm và khám bác sĩ cũ nếu kết quả điều trị tốt. Hiện tại bệnh viện chỉ cung cấp thông tin tổng hợp: bác sĩ phụ trách phòng khám nào, tên gì và chỉ thông báo trên một khổ A4 nhỏ tại bảng thông báo tổng hợp gây cho người bệnh khó khăn trong việc tìm kiếm.(Hình 3.12). Hình 3.12: Danh sách bác sĩ trên bảng thông báo tổng hợp ( Nguồn: Tác giả chụp hình thực tế tại bệnh viện ) 66 Bộ phận tư vấn bệnh viện nên cung cấp những thông tin về các bác sĩ cụ thể hơn bao gồm tên, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, thời gian khám, ngôn ngữ có thể sử dụng, để người bệnh có thể lựa chọn một cách dễ dàng nhất sau khi được nhân viên tư vấn sắp xếp cuộc hẹn trong ngày hoặc khám ngay khi trong trường hợp cấp cứu. Chẳng hạn như: Bảng 3.2: Danh sách khám chữa bệnh theo yêu cầu Họ và tên TDCM Kinh nghiệm
Lâm sàng Thời gian
Khám bệnh Khoa
khám Ngôn ngữ
Sử dụng Nguyễn A Bác sĩ 5 năm Tiếng Việt Tâm thần
người lớn T2 -T3
(ngày/ giờ) Phạm B BSCKI 6 năm Tâm thần
trẻ em Tiếng Việt
Tiếng Anh T4–T2
(ngày/ giờ) Đoàn C BSCKII 10 năm Tâm lý
lâm sàng Tiếng Việt
Tiếng Anh T3–T6
(ngày/giờ) Doãn D Th.s 13 năm Nội thần
kinh Tiếng Việt
Tiếng Anh T5–T4
(ngày/giờ) ( Nguồn: Đề xuất của tác giả) Trường hợp người bệnh cần bác sĩ này bận thì sẽ có bác sĩ khác thay thế như vậy không có khoảng trống nào trong công tác điều trị phát huy tối đa nguồn lực hiện có. Mọi sự cố và rủi ro đều được khắc phục để đảm bảo đem đến cho người bệnh sự hài lòng tốt nhất. Cung cấp đầy đủ thông tin về các dịch vụ và các khoản phí người bệnh phải chi trả : Đối với đối tượng nội trú ra sao? Đối tượng ngoại trú ra sao? STT Nội dung dịch vụ Mức thu ( VND) Đối tượng BN
áp dụng 1.
2.
3. Tiền phòng loại 1.
Tiền phòng loại 2.
Tiền chăm sóc theo yêu cầu Nội trú
Nội trú
Nội trú 300.000 đ/ngày
100.000 đ/ ngày
30.000 đ/ ngày 67 4. 200.000 đ/ người Khám SKTT Đi lao động làm
việc nước ngoài Tất cả các người
bệnh Bảng 3.3: Khung giá một phần viện phí áp dụng cho người bệnh ( Nguồn: Đề xuất của tác giả) Thành lập đội cấp cứu lưu động của bệnh viện: Đứng trước một tình hình thực tế hiện nay khi người bệnh có bất kì nhu cầu khám chữa bệnh nào tại bệnh viện dù khác biệt về khoảng cách địa lí, bệnh viện hoàn toàn có thể có những đội cấp cứu lưu động phục vụ tốt nhất và chuyên nghiệp nhất. Một đội cấp cứu lưu động phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhau. Bao gồm: Cử nhân tâm lí: tư vấn tâm lí cho người bệnh và thân nhân. Bác sĩ chuyên khoa: có trình độ chuyên môn cao. Điều dưỡng gây mê hồi sức: hỗ trợ bác sĩ Nhân viên bảo vệ: trợ giúp trong những tình huống người bệnh không hợp tác. Sơ cấp cứu và nhanh chóng chuyển người bệnh đến bệnh viện trong những tình huống cấp cứu xảy ra hoặc theo nhu cầu của tuỳ mỗi gia đình người bệnh để đưa người bệnh đến bệnh viện. Liên kết với trung tâm y tế tại địa phương nơi người bệnh sinh sống. Phối hợp với gia đình người bệnh và cơ quan chức năng, cộng đồng nơi người bệnh sinh sống. Tương tự như các bệnh viện khác chi phí đi lại tuỳ theo khoảng cách địa lí, hoàn cảnh gia đình mà bệnh viện có những mức thu phí khác nhau nội thành sẽ khác so với ngoại thành. 68 Sơ đồ 3.2: Triển khai hệ thống cấp cứu lưu động của Bệnh viện ( Nguồn: Đề xuất của tác giả) Với mô hình triển khai hệ thống cấp cứu lưu động như thế này thì bệnh viện là tuyến cao nhất sẽ phối hợp với các trung tâm y tế tại địa phương và những trung tâm này phải có sự phản hồi lại cho bệnh viện đảm bảo thông tin hai chiều: Bệnh viện Tâm Thần Trung Ương II trực tiếp chỉ đạo các kĩ thuật sơ cấp cứu, hỗ trợ các phương tiện kĩ thuật, tư vấn về điều trị và chăm sóc cho các trung tâm này thông qua các số điện thoại đường dây nóng hoặc bằng hình thức tư vấn trực tuyến qua mạng internet. Mục đích của trung tâm cấp cứu lưu động: Đảm bảo an toàn cho người bệnh. Đảm bảo theo dõi kịp thời tình trạng diễn biến bệnh có tác dụng tích cực trong chẩn đoán và điều trị bệnh chính xác. Giảm thiểu được chi phí đi lại. Giảm sự sợ hãi cho gia đình và cộng đồng nơi người bệnh sinh sống. Nâng cao được trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho tuyến dưới. Thành lập khu nhà lưu trú tạm thời cho người bệnh hoặc thân nhân ở xa đến điều trị vừa bảo đảm an toàn và tiết kiệm chi phí cho người bệnh. Thành lập Quỹ hỗ trợ cho người bệnh có hoàn cảnh khó khăn từ việc quyên góp tiền từ các nhà hảo tâm tạo điều kiện họ chữa bệnh và có thể trích một phần nhỏ hỗ trợ người bệnh khi họ trở về cộng đồng sinh sống và phải có sự giám sát của chính quyền địa phương. (cid:190) Kết quả sẽ thu được: Qua việc nâng cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ sẽ đáp ứng tốt nhất các nhu cầu, mong đợi và sự kì vọng của người bệnh, tùy theo từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể của bệnh nhân. Thông qua việc làm này người bệnh sẽ có cơ hội để tiếp cận với các loại hình dịch vụ một cách tiện lợi nhất. Như vậy trên đây là một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao mức độ hài lòng của người bệnh tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II. Giải pháp của nhóm nhân tố này phải phối hợp chặt chẽ với giải pháp của nhóm nhân tố kia đặt 69 “người bệnh làm trung tâm” trong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh để giúp cải thiện mức độ hài lòng của người bệnh một cách tốt nhất. Nếu như việc triển khai giải pháp này mà không có giải pháp kia thì không thể có sự phát triển bền vững và lâu dài cho bệnh viện được. Những giải pháp mà tác giả đề xuất trên đây tuy không phải chỉ có những giải pháp này mà còn có nhiều giải pháp khác. Tùy theo từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể mà có giải pháp cần phải thực hiện ngay, có những giải pháp lâu dài mới đem lại sự thay đổi tích cực cho bệnh viện nhằm nâng cao mức độ hài lòng của người bệnh một cách tốt nhất. TÓM TẮT CHƯƠNG 3 Qua việc nghiên cứu thực trạng mức độ hài lòng của người bệnh khi khám chữa bệnh tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương II, tác giả xin đưa ra một số giải pháp thiết thực để nâng cao sự hài lòng của người bệnh khi khám chữa bệnh tại bệnh viện này: * Giải pháp cần thực hiện trước tiên đối với bệnh viện hiện nay đó là giải pháp nhắm vào nhóm nhân tố 1 [FAC1] trong đó bao gồm: + Nâng cao nghiệp vụ và xây dựng tác phong làm việc cho cán bộ công nhân viên: vời giải pháp này người bệnh sẽ được đón tiếp niềm nở và những khó khăn thắc mắc của họ sẽ được giải quyết một cách thỏa đáng nhất. + Xây dựng hình ảnh của bệnh viện: Nhằm khẳng định vị thế của bệnh viện, tạo cơ hội trao đổi kiến thức kinh nghiệm cho các bệnh viện tuyến dưới tiếp cận góp phần tích cực vào việc chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng. Thông qua vịêc làm này người bệnh sẽ hiểu hơn về cách phòng bệnh và chữa bệnh. + Quan tâm đến các liệu pháp tái thích ứng xã hội: Liệu pháp tái thích ứng xã hôi chiếm 50% trong công tác điều trị bệnh, góp phần khẳng định hơn giá trị sống của người bệnh và là trách nhiệm, nghĩa vụ của không chỉ ngành y tế mà là của gia đình người bệnh và cả cộng đồng. * Giải pháp nhắm vào nhóm nhân tố 2[FAC2] bao gồm: 70 + Nâng cao năng lực quản lí và chú trọng phát triển nguồn nhân lực: Đây là giải pháp quan trọng. Quan tâm và chú trọng đến nguồn nhân lực là động lực thúc đẩy người nhân viên y tế cống hiến hết mình vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe của nhân dân. * Giải pháp nhắm vào nhóm nhân tố 3 [FAC3] và yếu tố thu nhập [TN] bao gồm: + Nâng cao chất lượng dịch vụ và triển khai các loại hình dịch vụ: xây dựng dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu chất lượng cao, hẹn trước giờ khám, và trung tâm cấp cứu lưu động nhằm phục vụ cho người bệnh có nhu cầu và xử lí kịp thời các tình huồng xảy ra một cách chính xác, nhanh chóng và tiện lợi. 71 Trong những năm gần đây hoạt động chăm sóc sức khỏe của người dân càng được tăng lên rõ rệt, họ ngày càng chủ động hơn chứ không đợi đến khi có bệnh mới đến các cơ sở để điều trị. Do đó các bệnh viện nói chung cũng như bệnh viện tâm thần nói riêng đang phải cải thiện không ngừng công tác khám chữa bệnh để đáp ứng yêu cầu của người bệnh khi họ đến điều trị và chăm sóc tại bệnh viện. Sau quá trình thực tập và nghiên cứu tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương II tác giả nhận thấy rằng bên cạnh các giải pháp đã đưa ra thì tác giả xin có một vài kiến nghị sau đối với Nhà nước và ngành y tế , để giúp Bệnh viện Tâm thần Trung ương II ngày càng phát triển, lâu dài và bền vững nâng cao vị thế của mình trong nước cũng như trong khu vực. * Đối với Nhà nước: Quan tâm đến ngành tâm thần: Đưa ra các chính sách ưu đãi cho nhân viên y tế như về chính sách lương bổng để thúc đẩy phát huy hơn nữa tinh thần làm việc của các nhân viên “Tất cả là vì sự hài lòng của người bệnh”. Đồng thời qua đó thu hút nhiều cán bộ nhân viên y tế không chỉ giỏi về chuyên môn mà còn giỏi về kĩ năng quản lí góp phần giúp cho bệnh viện phát triển không ngừng đáp ứng tốt nhất sự kì vọng và mong đợi từ phía bệnh nhân cũng như gia đình của họ. Có chính sách bảo hiểm y tế cho người bệnh tâm thần để giúp giảm thiểu một phần chi phí. * Đối với ngành y tế Việt Nam: Đẩy mạnh hơn nữa công tác chỉ đạo tuyến tạo điều kiện cho các nơi vùng sâu vùng xa được tiếp cận với các loại hình y tế một cách tích cực và mang tính thực tế nhất đảm bảo tất cả người dân đều được chăm sóc tốt về sức khỏe tâm thần. Hỗ trợ kinh phí cho việc nâng cao cơ sở vật chất người bệnh đến bệnh viện trở thành bệnh viện “ công viên” xanh sạch đẹp và thân thiện trong tương lai. 72 Trong môi trường xã hội hóa như hiện nay việc nắm bắt những nhu cầu và tìm ra các nhân tố tác động đến sự hài lòng của người bệnh lại là yếu tố vô cùng cần thiết. Tại các nước phát triển và nhiều nước đang phát triển họ ngày càng chú trọng hơn đến việc chăm sóc sức khỏe của ngươi dân vì có sức khỏe nghĩa là có tất cả. Mục tiêu cuối cùng mà các bệnh viện hướng tới hiện nay đó là nâng cao chất lượng và đáp ứng sự hài lòng của người bệnh một cách tốt nhất. Trong lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt là lĩnh vực bệnh viện thì vai trò của việc thỏa mãn sự hài lòng của người bệnh có ý nghĩa quan trọng, nếu bệnh viện đem đến cho người bệnh sự hài lòng cao thì người bệnh sẽ tiếp tục đến điều trị và uy tín của bệnh viện cũng không ngừng tăng lên từ đó góp phần tăng cao tầm ảnh hưởng của bệnh viện. Những rối loạn về tâm thần trở thành một căn bệnh của nền văn minh nó đi song hành với sự phát triển của xã hội hiện đại chính vì vậy nó đã trở thành những gánh nặng không nhỏ cho xã hội cũng như những người làm công tác y tế đặc biệt là chuyên ngành tâm thần học. Với đề tài “Khảo sát mức độ hài lòng của người bệnh tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương II” bài nghiên cứu khoa học đã nghiên cứu và chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người bệnh đối với các dịch vụ hỗ trợ khi khám chữa bệnh tại bệnh viện này, thông qua việc khảo sát các ý kiến một cách khách quan nhất bằng phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy, phân tích hồi quy sau đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao mức độ hài lòng của người bệnh tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương II. Mặc dù vốn kiến thức còn hạn chế nhưng tác giả hy vọng rằng thông qua những đánh giá sát thực của người bệnh khi khám chữa bệnh tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương II những đề xuất trên phù hợp với sự phát triển và đi lên của bệnh viện, góp phần cho các chính sách quản lí của bệnh viện, giúp bệnh viện hiểu rõ hơn về nhu cầu của người bệnh một cách khách quan nhất, giúp bệnh viện nhận ra được đâu là điểm mạnh và đâu là điểm yếu của mình để khắc phục một cách triệt để tạo nên một sự phát triển đồng bộ mang tính chất lâu dài và bền vững và là cơ sở để 73 nâng cao mức độ hài lòng của người bệnh một cách hiệu quả hơn. Tác giả rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của quí thầy cô, các cấp lãnh đạo bệnh viện để đề tài được hoàn thiện hơn. .Sự thỏa mãn của
khách hàng
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI BỆNH
TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG II
KMO and Bartlett's Test
Total Variance Explained
a
Rotated Component Matrix
Item-Total Statistics
Reliability Statistics
Item-Total Statistics
Reliability Statistics
Coefficientsa
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA
NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN
TRUNG ƯƠNG II
Đội cấp cứu lưu động
Bệnh viện Tâm Thần Trung Ương II
Trung tâm y tế địa
phương 1
Trung tâm y tế địa
phương 2
Trung tâm y tế địa
phương 3
KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN

