
HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
248
NGOẠI VÚ
KHẢO SÁT TỈ LỆ DI CĂN HẠCH CỔ NHÓM VI ÂM THẦM
TRONG UNG THƯ TUYẾN GIÁP GIAI ĐOẠN SỚM
Phạm Tuấn Mạnh1, Nguyễn Đỗ Thùy Giang1, Huỳnh Bá Tấn1
Đỗ Tường Huân1, Đỗ Anh Tuấn1, Đỗ Thanh Huy Hoàng1,
Lê Ngọc Vinh1, Đoàn Minh Trông1,
Mai Trung Hiếu1, Trần Nguyễn Nhật Khánh1
TÓM TẮT32
Mục đích: Khảo sát tỉ lệ và các yếu tố ảnh
hưởng đến di căn hạch cổ nhóm VI âm thầm
trong ung thư tuyến giáp giai đoạn sớm
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu
mô tả cắt ngang trên 53 bệnh nhân được chẩn
đoán và điều trị ung thư tuyến giáp bằng phẫu
thuật tại khoa Ngoại Vú – Đầu Mặt Cổ - Bệnh
viện Đa Khoa Tâm Anh TPHCM từ tháng 5 –
2024 đến tháng 5 – 2025. Số liệu được thu thập
từ hồ sơ bệnh án về tuổi, giới, triệu chứng lâm
sàng, siêu âm (kích thước, hồi âm, vôi hóa, bờ,
trục, TIRADS), kết quả chọc hút tế bào bằng
kim nhỏ (FNA) và kết quả mô bệnh học về di
căn hạch nhóm VI. Phân tích thống kê được
thực hiện để xác định mối liên quan giữa các
yếu tố với tình trạng di căn hạch. Dữ liệu thu
thập được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS
phiên bản 20.0.
1Khoa Ngoại Vú – Đầu Mặt Cổ, Bệnh viện Đa
khoa Tâm Anh TP. Hồ Chí Minh
Chịu trách nhiệm chính: Phạm Tuấn Mạnh
SĐT: 0939226344
Email: manhpt@tahospital.vn
Ngày nhận bài: 16/7/2025
Ngày phản biện khoa học: 29/7/2025
Ngày duyệt bài: 01/8/2025
Kết quả: Tỷ lệ di căn hạch nhóm VI là
11,5% (6/52 bệnh nhân có thông tin). Tuổi trung
bình: 49,62 ± 12,99 tuổi, nữ chiếm 79,2%. Đa số
không có biểu hiện lâm sàng (bướu không sờ
thấy: 83%). Kích thước bướu trung bình trên siêu
âm: 9,4 ± 4,6 mm. Đặc điểm siêu âm: hồi âm
kém (86,5%), có vôi hóa (64,6%), bờ không đều
(66%), TIRADS 5 (66%). FNA cho thấy
carcinom tuyến giáp dạng nhú hoặc nghi ngờ:
98,1%. Phẫu thuật: cắt thùy + eo (49,1%) và cắt
toàn bộ tuyến giáp (50,9%). Phân tích các yếu tố
liên quan: Không có yếu tố nào liên quan đến di
căn hạch nhóm VI đạt ý nghĩa thống kê, bao
gồm: tuổi (p=0,092), kích thước bướu (p=0,700),
bướu sờ thấy (p=0,965), hồi âm (p=0,582), vôi
hóa (p=0,287), trục (p=0,596), bờ (p=0,940),
phân loại TIRADS (p=0,936), kết quả FNA
(p=0,720), và đa ổ (p=0,707).
Kết luận: Tỷ lệ di căn hạch nhóm VI trong
nhóm bệnh nhân không có biểu hiện hạch lâm
sàng là 11,5%. Dù nhiều bệnh nhân có đặc điểm
siêu âm nghi ngờ ác tính, nhưng không yếu tố
nào trong số đó liên quan có ý nghĩa thống kê
đến di căn hạch nhóm VI. Điều này cho thấy cần
có nghiên cứu lớn hơn để xác định chính xác các
yếu tố tiên lượng và hướng chỉ định nạo hạch
trung tâm hợp lý.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 554 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
249
SUMMARY
SURVEY ON THE RATE OF OCCULT
NECK LYMPH NODE MESTATASIS
LEVEL VI IN EARLY-STAGE
THYROID CANCER
Objective: To investigate the prevalence and
associated factors of occult central neck lymph
node metastasis (Level VI) in patients with early-
stage thyroid cancer.
Subjects and Methods: A cross-sectional
descriptive study was conducted on 53 patients
diagnosed and surgically treated for thyroid
cancer at the Department of Breast, Head and
Neck Surgery, Tam Anh General Hospital, Ho
Chi Minh City, from May 2024 to May 2025.
Data were collected from medical records,
including age, sex, clinical symptoms, ultrasound
characteristics (nodule size, echogenicity,
calcification, margins, orientation, TIRADS
classification), fine-needle aspiration cytology
(FNA) results, and histopathological
confirmation of Level VI lymph node metastasis.
Statistical analysis was performed using SPSS
version 20.0 to determine the association
between clinical and paraclinical variables and
central lymph node metastasis.
Results: The rate of Level VI lymph node
metastasis was 11.5% (6 out of 52 patients with
available data). The mean age was 49.62 ± 12.99
years, and 79.2% were female. Most patients had
no palpable thyroid nodule (83%). The mean
tumor size on ultrasound was 9.4 ± 4.6 mm.
Common sonographic features included
hypoechogenicity (86.5%), microcalcifications
(64.6%), irregular margins (66%), and TIRADS
5 classification (66%). FNA confirmed or
suggested papillary thyroid carcinoma in 98.1%
of cases. Surgical methods included lobectomy
with isthmusectomy (49.1%) and total
thyroidectomy (50.9%).
No clinical or paraclinical variable showed a
statistically significant association with Level VI
lymph node metastasis, including: age (p=0.092),
nodule size (p=0.700), palpable nodule
(p=0.965), echogenicity (p=0.582), calcification
(p=0.287), orientation (p=0.596), margin
(p=0.940), TIRADS classification (p=0.936),
FNA result (p=0.720), and multifocality
(p=0.707).
Conclusion: The prevalence of occult central
lymph node metastasis (Level VI) in early-stage
thyroid cancer without clinical lymphadenopathy
was 11.5%. Although many patients had
sonographic features suggestive of malignancy,
no factor showed a significant correlation with
metastasis. Larger-scale studies are needed to
better identify predictive factors and to guide
appropriate decision-making regarding
prophylactic central neck dissection.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư tuyến giáp là loại ung thư
thường gặp nhất trong các ung thư tuyến nội
tiết, chiếm khoảng 1-2% tổng số các loại ung
thư, và có xu hướng gia tăng tại nhiều quốc
gia, đặc biệt ở nữ giới [3]. Trong đó, ung thư
tuyến giáp thể nhú (Papillary Thyroid
Carcinoma - PTC) là thể bệnh phổ biến nhất,
chiếm khoảng 80-90% [4].
Mặc dù tiên lượng PTC thường tốt,
nhưng di căn hạch cổ là yếu tố thường gặp,
có thể ảnh hưởng đến nguy cơ tái phát và chỉ
định điều trị bổ sung như iod phóng xạ sau
mổ. Trong các nhóm hạch cổ, hạch nhóm VI
(vùng trung tâm cổ) là vị trí di căn sớm và
phổ biến, đặc biệt trong PTC [5].
Tuy nhiên, phần lớn các trường hợp di
căn hạch nhóm VI là âm thầm, không phát
hiện được qua thăm khám hay siêu âm cổ
trước mổ, khiến việc phát hiện phụ thuộc vào
kết quả mô bệnh học sau mổ. Chính điều này

HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
250
dẫn đến tranh luận trong chỉ định nạo hạch
trung tâm dự phòng (Prophylactic Central
Neck Dissection - pCND) ở bệnh nhân
không có hạch lâm sàng (cN0).
Các nghiên cứu quốc tế đã ghi nhận tỷ lệ
di căn hạch nhóm VI ở bệnh nhân PTC cN0
dao động từ 20–60%. Ito Y và cộng sự.
(Nhật Bản) báo cáo tỷ lệ lên tới 60% [6],
trong khi nghiên cứu của Chung và cộng sự
tại Hàn Quốc ghi nhận khoảng 38% [7]. Một
số yếu tố như tuổi trẻ, giới nam, kích thước u
lớn hơn, hồi âm kém, bờ không đều, vôi hóa
vi thể, TIRADS 5 và kết quả FNA nghi ngờ
carcinom đều được cho là liên quan đến nguy
cơ di căn hạch [5,8].
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Phạm Văn
Bình và CS (2016) cho thấy tỷ lệ di căn hạch
cổ trung tâm là 28,4%, trong khi Trần Ngọc
Lưu Phương và CS (2022) ghi nhận tỷ lệ
thấp hơn, khoảng 17,6% ở nhóm bệnh nhân
PTC giai đoạn sớm [1,2]. Tuy nhiên, các
nghiên cứu trong nước hiện nay chủ yếu
mang tính mô tả, chưa đánh giá đầy đủ mối
liên quan giữa các yếu tố siêu âm, FNA với
nguy cơ di căn hạch nhóm VI âm thầm.
Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu
này với mục tiêu khảo sát tỷ lệ và các yếu tố
liên quan đến di căn hạch cổ nhóm VI âm
thầm ở bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể nhú
giai đoạn sớm không có hạch lâm sàng được
điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa
Tâm Anh TP.HCM.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, được thực
hiện nhằm khảo sát tỷ lệ và các yếu tố liên
quan đến di căn hạch nhóm VI ở bệnh nhân
ung thư tuyến giáp thể nhú giai đoạn sớm
không có hạch cổ lâm sàng.
Địa điểm và thời gian:
Nghiên cứu được tiến hành tại khoa
Ngoại Vú - Đầu Mặt Cổ, Bệnh viện Đa khoa
Tâm Anh TP. Hồ Chí Minh, trong khoảng
thời gian từ tháng 5 năm 2024 đến tháng 5
năm 2025.
Đối tượng nghiên cứu:
Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư tuyến
giáp thể nhú (PTC) và điều trị bằng phẫu
thuật tại khoa trong thời gian nghiên cứu.
Tất cả các trường hợp đều được thám sát
vùng cổ trung tâm (nhóm VI) trong quá trình
phẫu thuật bởi các bác sĩ ngoại khoa có kinh
nghiệm. Nếu trong lúc mổ phát hiện thấy
hạch nghi ngờ hoặc có hạch rõ ràng, bệnh
nhân sẽ được tiến hành nạo hạch cổ nhóm
trung tâm dự phòng (prophylactic central
neck dissection). Những trường hợp không
có dấu hiệu lâm sàng hoặc đại thể của di căn
hạch vẫn được đánh giá mô học kỹ lưỡng để
xác định sự hiện diện của di căn vi thể. Tiêu
chuẩn lựa chọn nạo hạch cổ nhóm VI dựa
trên hướng dẫn lâm sàng hiện hành và thực
hành tại khoa Ngoại Vú – Đầu Mặt Cổ, bao
gồm đánh giá kết hợp giữa siêu âm, FNA,
đặc điểm khối u và khám trong mổ.
Tiêu chí chọn mẫu:
Bệnh nhân được chẩn đoán xác định là
ung thư tuyến giáp thể nhú qua mô bệnh học
sau mổ.
Không có hạch cổ nghi ngờ trên lâm sàng
hoặc siêu âm (cN0).
Có đầy đủ dữ liệu lâm sàng, cận lâm sàng
và mô bệnh học cần thiết.
Đồng ý tham gia nghiên cứu (trong
trường hợp nghiên cứu tiến hành hồi cứu
không yêu cầu ký cam kết).
Tiêu chí loại trừ:
Bệnh nhân đã được phẫu thuật tuyến giáp
hoặc xạ trị cổ trước đó.
Có di căn xa tại thời điểm chẩn đoán.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 554 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
251
Thiếu dữ liệu quan trọng về hình ảnh
học, FNA hoặc mô bệnh học hạch nhóm VI.
Biến số nghiên cứu:
Biến kết cục chính: Tình trạng di căn
hạch cổ nhóm VI (có hoặc không).
Biến độc lập: Tuổi, giới tính, bướu sờ
thấy lâm sàng, kích thước bướu trên siêu âm,
đặc điểm siêu âm (hồi âm, vôi hóa, bờ, trục,
phân loại TIRADS), kết quả FNA, tình trạng
đa ổ.
Phương pháp thu thập dữ liệu:
Dữ liệu được thu thập hồi cứu từ hồ sơ
bệnh án, phiếu siêu âm, kết quả chọc hút kim
nhỏ (FNA), biên bản mổ và kết quả mô bệnh
học sau phẫu thuật.
Phân tích thống kê:
Dữ liệu được nhập và phân tích bằng
phần mềm SPSS phiên bản 20.0.
Thống kê mô tả được sử dụng để trình
bày đặc điểm của mẫu nghiên cứu: số lượng,
tỷ lệ phần trăm (%), trung bình và độ lệch
chuẩn (±SD).
Phân tích so sánh hai nhóm (có và
không có di căn hạch nhóm VI) được thực
hiện để đánh giá mối liên quan giữa các
yếu tố:
Biến định tính: sử dụng kiểm định Chi-
squared (χ²) hoặc Fisher's exact test khi cần.
Biến định lượng: sử dụng t-test độc lập
hoặc Mann–Whitney U test nếu không phân
phối chuẩn.
Ngưỡng ý nghĩa thống kê được xác định
là p < 0,05.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm dân số nghiên cứu
Tổng cộng có 53 bệnh nhân được đưa
vào phân tích. Tuổi trung bình là 49,62 ±
12,99 tuổi, dao động từ 17 đến 69 tuổi. Tỷ lệ
nữ chiếm đa số (79,2%). Đặc điểm lâm sàng
và siêu âm được tóm tắt ở Bảng 1.
Bảng 1. Đặc điểm lâm sàng và siêu âm của dân số nghiên cứu (n = 53)
Đặc điểm
Giá trị/Tỷ lệ
Tuổi trung bình (tuổi)
49,62 ± 12,99
Giới tính
Nam: 11 (20,8%), Nữ: 42 (79,2%)
Bướu sờ thấy lâm sàng
Có: 9 (17%), Không: 44 (83%)
Kích thước bướu (mm)
Trung bình: 9,4 ± 4,6 (3–24 mm)
Hồi âm trên siêu âm
Kém: 86,5%, Đồng âm: 9,6%, Tăng âm: 3,8%
Vôi hóa
Có: 64,6%, Không: 35,4%
Trục u
Rộng > cao: 51,4%, Rộng < cao: 42,9%, Bằng nhau: 5,7%
Bờ bướu
Không đều: 66%, Đều: 24%, Không rõ: 10%
Phân loại TIRADS
TIRADS 3: 1,9%, TIRADS 4: 32,1%, TIRADS 5: 66%
Kết quả FNA
FN/nghi ngờ FN: 1,9%, Nghi ngờ PTC: 45,3%, PTC xác định: 52,8%
Phẫu thuật thực hiện
Cắt thùy + eo: 49,1%, Cắt toàn bộ tuyến giáp: 50,9%
3.2. Tỷ lệ di căn hạch nhóm VI
Trong số 52 bệnh nhân có thông tin mô
bệnh học hạch nhóm VI, có 6 trường hợp di
căn hạch, chiếm tỷ lệ 11,5%.
3.3. Phân tích các yếu tố liên quan đến
di căn hạch nhóm VI
Phân tích mối liên quan giữa các yếu tố
lâm sàng, siêu âm và tế bào học với tình
trạng di căn hạch nhóm VI được trình bày ở
Bảng 2. Không có yếu tố nào cho thấy sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
252
Bảng 2. Phân tích các yếu tố liên quan đến di căn hạch nhóm VI
Yếu tố
Di căn (+) (n=6)
Di căn (–) (n=46)
p-value
Tuổi trung bình (tuổi)
42,3 ± 14,2
50,5 ± 12,6
0,092
Kích thước bướu (mm)
10,0 ± 6,4
9,3 ± 4,4
0,700
Bướu sờ thấy (%)
16,7%
17,4%
0,965
Hồi âm kém (%)
100%
84,8%
0,582
Có vôi hóa (%)
83,3%
63,0%
0,287
Trục rộng < cao (%)
50%
42,2%
0,596
Bờ không đều (%)
66,7%
67,4%
0,940
TIRADS 5 (%)
66,7%
67,4%
0,936
Kết quả FNA nghi ngờ/xác định PTC (%)
100%
97,8%
0,720
Bướu đa ổ (%)
50%
34,8%
0,707
Nhận xét:
Không có yếu tố nào đạt ý nghĩa thống kê
trong mối liên quan với di căn hạch nhóm VI
(p > 0,05).
Tuy nhiên, một số yếu tố như tuổi trẻ hơn
và vôi hóa trên siêu âm có xu hướng xuất
hiện nhiều hơn ở nhóm có di căn, cần được
nghiên cứu thêm trên cỡ mẫu lớn hơn.
IV. BÀN LUẬN
4.1. Tỷ lệ di căn hạch nhóm VI
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ di
căn hạch cổ nhóm VI ở bệnh nhân ung thư
tuyến giáp thể nhú giai đoạn sớm không có
hạch cổ lâm sàng là 11,5%. Tỷ lệ này tương
đối thấp so với nhiều nghiên cứu trong và
ngoài nước.
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Phạm Văn
Bình và cộng sự (2016) ghi nhận tỷ lệ di căn
hạch nhóm VI là 28,4% [1], trong khi Trần
Ngọc Lưu Phương và cộng sự (2022) báo
cáo tỷ lệ 17,6% ở nhóm bệnh nhân PTC
không có hạch cổ trên lâm sàng [2]. Các
nghiên cứu quốc tế thường ghi nhận tỷ lệ cao
hơn: Ito và cộng sự (Nhật Bản) báo cáo tỷ lệ
60% ở nhóm được nạo hạch trung tâm dự
phòng [6]; Chung và cộng sự (Hàn Quốc) ghi
nhận tỷ lệ 38% [7]; và Roh JL và cộng sự
công bố con số 44,5% [5].
Sự khác biệt này có thể do các yếu tố
như: chỉ định nạo hạch trung tâm khác nhau
giữa các trung tâm, kỹ thuật phẫu thuật, tiêu
chuẩn mô bệnh học, cũng như tính chọn lọc
bệnh nhân trong từng nghiên cứu. Nghiên
cứu của chúng tôi chỉ khảo sát những bệnh
nhân cN0, không có hạch nghi ngờ trên lâm
sàng và siêu âm, điều này có thể lý giải tỷ lệ
di căn thấp hơn.
4.2. Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học
Đa số bệnh nhân trong nghiên cứu không
có triệu chứng lâm sàng rõ rệt: tỷ lệ bướu
không sờ thấy chiếm 83%, phù hợp với đặc
điểm thường âm thầm của PTC. Kích thước
trung bình khối u nhỏ (9,4 ± 4,6 mm), tương
ứng với nhóm PTC nhỏ và vi thể - đây cũng
là yếu tố được cho là có nguy cơ thấp về di
căn hạch.
Về hình ảnh học, hồi âm kém chiếm
86,5%, vôi hóa vi thể chiếm 64,6%, bờ không
đều chiếm 66%, và TIRADS 5 chiếm 66%.
Các đặc điểm này phù hợp với hình ảnh siêu
âm điển hình của carcinom tuyến giáp thể nhú
theo hướng dẫn của ATA 2015 [4].

