ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ------o0o------

VƯƠNG NGỌC MẠNH

Tên đề tài:

ĐIỀU TRA, THU THẬP MỘT SỐ LOÀI LAN RỪNG QUÝ,

CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ TẠI BẮC KẠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Chuyên ngành: Trồng trọt

Khoa: Nông học

Khoá học: 2015 - 2019

THÁI NGUYÊN 2019

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ------o0o------

VƯƠNG NGỌC MẠNH

Tên đề tài:

ĐIỀU TRA, THU THẬP MỘT SỐ LOÀI LAN RỪNG QUÝ,

CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ TẠI BẮC KẠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Chuyên ngành: Trồng trọt

Lớp: K47 – TT – N02

Khoa: Nông học

Khoá học: 2015 - 2019

Giảng viên hướng dẫn: TS. Bùi Lan Anh

THÁI NGUYÊN 2019

i

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ khung chương

trìnhhọc tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên các trường đại học. Đây là

thời giancần thiết để sinh viên củng cố lại kiến thức đã học,đồng thời vận

dụng kiến thựcđã học vào thực tế sản xuất,nâng cao trình độ hiểu biết,từ đó

tạo nên cho mình mộttác phong làm việc đúng đắn.Do vậy thực tập tốt nghiệp

là giai đoạn không thểthiếu của mỗi sinh viên.

Xuất phát từ cơ cơ sở trên, được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà

trường,banchủ nhiệm khoa Nông Học – trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên,

em tiến hànhthực hiện đề tài: Điều tra,thu thập một số loài lan rừng tại tỉnh

Bắc Kạn.

Trong quá trình thực tập tốt nghiệp,em luôn nhận được sự chỉ dẫn

nhiệt tình củacô giáo hưỡng dẫn, TS. Bùi Lan Anh. Em xin được bày tỏ

lòng biết ơn sâu sắc tớicô đồng thời em xin gửi lời cảm ơn đến bố,mẹ

những người đã luôn động viêntinh thần cho em trong quá trình em làm đề

tài và bài khóa luận này.

Em xin chân thành cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm

khoa Nông Học , các thầy cô và anh, chị Tùng Mến đã tạo điều kiện giúp đỡ em

hoành thành đợt thựctập.

Do trình độ có hạn mặc dù đã rất cố gắng song khóa luận của em không

tránhkhỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến chỉ bảo của

các thầycô giáo, đóng góp của bạn bèn để bài khóa luận của em được hoàn

thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái nguyên, ngày…..tháng…..năm 2019

Sinh viên

Vương Ngọc Mạnh

ii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i

MỤC LỤC ......................................................................................................... ii

DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... iv

DANH MỤC HÌNH ......................................................................................... iv

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................. 1

1.1. Tính cấp thiết của khoá luận ...................................................................... 1

1.2. Mục tiêu và yêu cầu ................................................................................... 3

1.2.1. Mục tiêu................................................................................................... 3

1.2.2. Yêu cầu .................................................................................................... 3

1.2.3. Ý nghĩa .................................................................................................... 3

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH TÀI LIỆU ........................................ 4

2.1. TỔNG QUAN VỀ HOA LAN ................................................................... 4

2.1.1. Vai trò của hoa lan trong đời sống kinh tế .............................................. 4

2.1.2. Phân loại hoa lan ..................................................................................... 5

2.1.3. Đặc điểm thực vật học của cây hoa lan ................................................... 6

2.1.4. Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa lan ....................................................... 9

2.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa lan trên thế giới ........................... 12

2.3.Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa lan trong nước .............................. 18

2.3.1. Điều tra, thu thập nguồn gen hoa lan .................................................... 18

2.3.2. Những nghiên cứu về nhân giống cây hoa lan ở Việt Nam ................. 21

2.3.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa lan ở Việt Nam .............................. 23

2.4. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu ............................................................ 26

2.4.1. Vườn Quốc gia Ba Bể ........................................................................... 26

2.4.2. Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ .......................................................... 27

2.4.3. Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc ..................................... 28

iii

PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA .......................... 30

3.1. Nội dung .................................................................................................. 30

3.1.1. Nội dung 1: Điều tra, thu thập và lưu giữ một số giống lan quý tại

Bắc Kạn. .......................................................................................................... 30

3.1.2. Nội dung 2: Phân loại và nhân giống bằng tách thân một số giống lan

quý tại Bắc Kạn ............................................................................................... 30

3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ............................................................ 30

3.3. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 30

3.3.1. Điều tra, thu thập và lưu giữ một số giống lan quý tại Bắc Kạn. ......... 30

3.3.2. Nhân giống bằng tách thân một số giống lan quý tại Bắc Kạn ............. 31

3.3.3.Các chỉ tiêu theo dõi ............................................................................... 31

3.3.4. Phương pháp xử lý số liệu: ................................................................... 32

PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................... 33

4.1. Kết quả thực hiện các nội dung ................................................................ 33

4.1.1. Nội dung 1: Điều tra, thu thập và lưu giữ một số giống lan quý tại Bắc

Kạn. ................................................................................................................. 33

Kết quả theo dõi khả năng sinh trưởng của các loài lan thu thập được nuôi

trồng được thể hiện bảng 03 ............................................................................ 35

4.1.2 Nội dung 2: Nhân giống bằng tách thân một số giống lan bản địa ........ 38

4.1.3. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống phong lanbản địa. .. 39

Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 41

5.1 Kết luận ..................................................................................................... 41

2. Đề nghị ........................................................................................................ 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

iv

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Kết quả điều tra, thu thập các loại hoa lan của đề tài ..................... 33

Bảng 4.2: Đặc điểm hình thái của các loài lan hài và phong lan bản địa ....... 35

Bảng 4.3: Đặc điểm hình thái lá và thời gian ra hoa của các loài phong lan bản

địa .................................................................................................. 36

Bảng 4.4: Kết quả nhân giống bằng phương pháp tách thân .......................... 38

Bảng 4.5: Khả năng sinh trưởng của một số loài lan rừng nuôi trồng và lưu

giữ tại Đồn Đèn sau 5 tháng ......................................................... 39

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Cấu tạo hoa lan ................................................................................... 6

1

PHẦN 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tính cấp thiết của khoá luận

Hoa là một trong các loại cây trồng có vai trò quan trọng trong sản xuất

nông nghiệp. Khi đời sống ngày càng nâng cao thì nhu cầu sử dụng hoa càng

lớn. Hoa không chỉ đem lại cho con người sự thoải mái khi thưởng thức vẻ đẹp

của chúng mà còn là sản phẩm thiết yếu được dùng trong các dịp lễ tết, hội

nghị… Chính vì vậy mà hoa không chỉ mang lại giá trị tinh thần cho con người

mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất hoa. Ở nước ta, nghề

trồng hoa đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều địa phương, góp phần

không nhỏ trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Với nhiều lợi thế về điều

kiện thời tiết, khí hậu và địa hình, Việt Nam là một trong những quốc gia có

nhiều loài hoa dẹp, đặc biệt là hoa lan. Hoa lan (Orchidaceae) là một trong

đỉnh cao của sự tiến hoá của các loài cây có hoa. Hoa lan được con người biết

đến rất sớm. Ở châu Á, danh từ lan là tên có từ xa xưa trong Tứ thư, ngũ kinh

và cả trong Kinh dịch của Bách Gia Chư Tử (Trung Quốc 551-479 trước công

nguyên). Riêng về hoa lan, các loại hoa lan rừng đẹp đến mức độ lộng lẫy đã

đến với người dân Việt Nam từ cổ xưa. Hoa lan đến với người Việt Nam từ

những bông hoa đẹp, từ những vị thuốc chữa bệnh được lưu truyền trong dân

gian từ đời này qua đời khác cho đến ngày nay. Hoa lan là một loài hoa quý,

đối với người Việt Nam, hoa lan tượng trưng cho sự trong sạch, thanh cao, số

người hiểu biết về hoa lan tuy còn ít ỏi, và những người chơi lan trước đây chủ

yếu là những người giàu có, những nho sĩ, những cụ già nhàn rỗi... Theo cuốn

Phong lan Việt Nam của Trần Hợp thì Việt Nam có 137-140 chi gồm trên 800

loài lan rừng.

2

Tỉnh Bắc Kạn có nhiều lợi thế về địa hình, khí hậu thời tiết cho các loài

lan phát triển. Tại một số khu vực trong tỉnh như Vườn quốc gia Ba Bể,

Khu bảo tồn loài và sinh cảnh nam Xuân Lạc, Khu bảo tồn thiên nhiên

Kim Hỷ...có nhiều loài thực vật vô cùng quí giá, trong đó có nhiều loài

hoa lan rừng hiếm. Tuy nhiên, để có thể bảo tồn, khai thác và tăng thu

nhập từ cây lan cho người dân thì cần nhiều nghiên cứu nghiêm túc để phát

triển các loại lan rừng.

Vấn đề kinh doanh xuất khẩu hoa lan đối với Việt Nam nói chung và

tỉnh Bắc Kạn nói riêng cho đến nay vẫn đang ở giai đoạn đầu. Ở Bắc Kạn, hoa

lan được kinh doanh chủ yếu bán cho người chơi hao và khách du lịch tham

quan Vườn Quốc gia Ba Bể. Đây cũng được coi là một trong những hoạt động

để lại ấn tượng tốt với du khách khi đến Bắc Kạn. Nhiều du khách đến tham

quan cong vì lý do mốn sưu tầm nhiều loại lan rừng nơi đây. Hơn nữa, trong

quá trình hội nhập và phát triển kinh tế của tỉnh, chúng ta phải có những

mặt hàng đặc trưng riêng của Bắc Kạn để cho bạn bè trong nước và quốc tế

thưởng thức. Đó không chỉ là những món ăn đặc sản, phong tự nhiên cảnh

đẹp mà còn cần đến những sản phẩm khác, mà hoa lan là một loài hoa đẹp

để du khách có thể mua về làm quà lưu niệm. Với giá bán các loài lan khá

cao, nên những loài lan bản địa quý hiếm đã bị người dân khai thác cạn kiệt,

có nguy cơ tuyệt chủng. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có những công trình

nghiên cứu một cách có hệ thống về việc thu thập, đánh giá và lưu giữ, chăm

sóc và nhất là nhân giống để bảo tồn một số loại lan rừng có giá trị kinh tế tại

Bắc Kạn. Từ đó duy trì, phát triển đem lại giá trị kinh tế, tạo công ăn việc làm

và tăng thêm thu nhập cho người dân địa phương.Với các lý do trên, chúng tôi

đã nghiên cứu thực hiện đề tài: Điều tra, thu thập một số loài lan rừng quý,

có giá trị kinh tế tại Bắc Kạn.

3

1.2. Mục tiêu và yêu cầu

1.2.1. Mục tiêu

Thu thập, lưu giữ nguồn một số loài lan loài lan rừng quý tại tỉnh Bắc Kạn.

Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển của của các loài lan thu thập .

1.2.2. Yêu cầu

-Mô tả đặc điểm hình thái của các loài lan thu thập được

- Xác định tên khoa học và hoàn thiện bộ sưu tập về các loài lan.

- Xác định được một số loài lan triển vọng để nhân giống và phát triển

1.2.3. Ý nghĩa

Ngoài ý nghĩa nghiên cứu đã nói ở phần trên, kết quả nghiên cứu của

đề tài sẽ bổ sung những tư liệu khoa học về chủng loại các loài hoa lan, đặc

tính sinh học của một số giống lan trong điều kiện sinh thái của Ba Bể. Đồng

thời đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của các giống lan bản địa. Đưa

ra các biện pháp kỹ thuật hướng dẫn chăm sóc

hoa lan phù hợp trong điều kiện khí hậu địa phương.

4

PHẦN 2

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH TÀI LIỆU

2.1. TỔNG QUAN VỀ HOA LAN

2.1.1. Vai trò của hoa lan trong đời sống kinh tế

Trong thế giới các loài hoa, hoa lan là một trong những loài hoa đẹp

nhất. Hoa lan được coi là loài hoa tinh khiết, hoa vương giả cao sang, vua của

các loài hoa. Hoa lan không những đẹp về màu sắc mà còn đẹp cả về hình

dáng, cái đẹp của hoa lan thể hiện từ những đường nét của cánh hoa tao nhã

đến những dạng hình thân lá, cành duyên dáng, ít có loài hoa nào sánh nổi.

Hoa lan được mệnh danh là món trang sức đẹp nhất mà thiên nhiên ban

tặng cho loài người. Con người chưa hề ngừng chiêm ngưỡng các tác phẩm

tuyệt mỹ ấy. Hoa lan luôn được nhiều người ưa thích bởi lẽ hoa lan có cấu

trúc rất kiêu kỳ và phức tạp với những chạm trổ hết sức tinh vi, nhất là bộ

phận môi hoa đã làm nhiều nhà điêu khắc phải thán phục. Hoa lan bao gồm

rất nhiều màu sắc, được pha trộn một cách hài hoà, cân đối, khi thì hiện lên

những nét tương phản rõ nét, khi thì chìm lắng một cách lặng lẽ.

Cây lan lại mang những nét đặc thù thú vị của một loại cây trồng không

đất. Khác với các với các loài ký sinh thông thường có tác dụng huỷ hoại ký

chủ, trái lại đa số loài lan sống phụ sinh, chỉ xem giá thể như là vật để giá đỡ

lan trong không gian và giữ ẩm cho bộ rễ. Vì thế cha ông ta đã dùng cây lan

biểu hiện cho người quân tử “Mai, Lan, Cúc, Trúc” một đạo đức cao quí của

con người Việt Nam.

Ngoài vẻ đẹp kiêu kỳ, quyến rũ, lan còn có các đặc điểm mà nhiều loài

hoa khác không có được, với hương thơm đặc biệt, đa dạng mà hầu như

không có loại hương liệu nhân tạo nào sánh được cùng với ưu điểm lâu tàn đã

tạo cho lan trở thành 1 loại hoa vương giả. Chính vì vậy giá lan biến động rất

5

cao trên thị trường, trung bình là 10-15 đôla/cây, nhưng cũng có các loài quí

đạt tới 400 đôla/cây, cá biệt có loài giá bán tới vài nghìn đôla. Ở châu Á, Thái

Lan là nước có sản lượng lan công nghiệp lớn nhất với trị giá kim ngạch xuất

khẩu hàng năm tới hàng chục triệu đôla.

2.1.2. Phân loại hoa lan

Cây hoa Lan (Orchid sp.) thuộc họ Phong lan (Orchidaceae); bộ

lan(Orchidales); lớp một lá mầm Monocotyledoneac.

Họ phong lan phân bố rộng từ 680 vĩ Bắc đến 560 vĩ Nam, từ gần Bắc

cực như Thuỵ Điển, Aleska, xuống tận các đảo cuối cùng ở cực Nam của

Oxtralia. Tuy nhiên tập trung của họ lan chủ yếu ở các vĩ độ nhiệt đới, đặc

biệt ở châu Mỹ và Đông Nam Á.

Đến nay loài người đã biết được trên 750 chi với 25.000 loài lan tự

nhiên và 75.000 loài lan do kết quả chọn lọc và lai tạo.

Ở Việt Nam có hàng trăm loài lan, trong đó các loài lan sau được trồng

rộng rãi trên khắp đất nước.

Căn cứ vào đặc điểm hình thái thân cây có thể chia lan làm hai nhóm :

Nhóm đơn thân: đây là nhóm chỉ tăng trưởng về chiều cao làm cho cây

dài ra mãi. Nhóm đơn thân chia thành 2 nhóm phụ:

- Nhóm phụ lá mọc đối (Sarcanthinae): nhóm này lá được xếp thành 2

hàng mọc đối nhau, lá trên một hàng xen kẽ với lá của hàng kia. Gồm các

giống như: Vanda, Aerides, Phalaenopsis…

- Nhóm phụ lá dẹp thẳng hay tròn (Campylocentrinae): Papilionanthe,

Luisia…

Nhóm đa thân: đây là nhóm gồm những cây tăng trưởng liên tục. Căn

cứ vào cách ra hoa nhóm này chia thành 2 nhóm phụ:

- Nhóm ra hoa phía trên : Cymbidium, Dendrobium, Oncidium…

- Nhóm ra hoa ở đỉnh: Cattleya, Laelia, Epidendrum…

6

Ngoài ra còn có một số giống mang tính chất trung gian như:

Centropetatum, Phachyphllum, Dichaea…

Căn cứ vào môi trường sống của lan cũng có thể chia thành 2 loại:

- Địa lan: cây lan sống trong đất hoặc trong giá thể có đặc điểm gần nhưđất

- Phong lan: cây lan sống trong không khí.

2.1.3. Đặc điểm thực vật học của cây hoa lan

2.1.3.1. Giả hành (thân giả)

Chỉ xuất hiện trên các loài lan đa thân. Giả hành là bộ phận rất cần thiết

cho sự sinh trưởng và phát triển của lan. Giả hành tuy là thân nhưng lại chứa

diệp lục, đây là bộ phận dự trữ nhiều chất dinh dưỡng rất cần thiết cho sự phát

triển của giả hành mới. Giả hành cũng là cơ quan dự trữ nước, do vậy cây lan

có thể sống lâu trong điều kiện thiếu nước và khi hạn hán thì các loài lan đa

thân có thể duy trì sự sống lâu hơn các loài lan đơn thân. Giả hành của các

loài khác nhau thì rất khác nhau, ngay trong một loài thì cũng có sự khác nhau

giữa các giống: giả hành hình thoi đối với các giống thuộc loài Cattleya hoặc

giả hành hình tháp như các giống thuộc loài Cymbidium.

Hình 1.1 Cấu tạo hoa lan

7

2.1.3.2. Thân Thân vảy giả có nhiều hình dáng khác nhau tùy theo giống lan. Trên

thân có đốt, trên mỗi đốt mọc một nhánh lá hoặc là lá bao. Thân là cơ quan dự

trữ nước và chất dinh dưỡng, màm hoa và mầm lá đều mọc từ phần gốc của

bộ phận thân rễ. Chỉ có các loài đơn thân và một số loài của giống

Dendrobium và Epidendrumvừa có giả hành, vừa có thân. Các loài lan có thân

thường không có cơ quan dự trữ nước và chất dinh dưỡng. Thân lan thường

biến động lớn, to nhỏ khác nhau từ vài cm đến vài chục cm. Thân thường

mang rễ và lá, ở nhóm đơn thân, rễ và lá thường mọc theo 2 chiều thẳng góc

nhau, chồi hoa thường xuất hiện trên thân từ các nách lá.

2.1.3.3. Lá

Phiến lá thường có hình lưỡi kiếm dài, số lượng và hình dạng lá khác

nhau tùy chủng loại lan khác nhau. Lá có thể mọc đối xứng hoặc không

đối xứng qua gân chính, lá sát nhau ở gốc Là cơ quan dinh dưỡng của hoa

lan, là xưởng chế tạo chất dinh dưỡng hay xếp cách có bẹ úp lên nhau,

chia đốt đều đặn, có khi thoái hóa thành vẩy hay phình lên, mọng nước,

hình dạng rất khác nhau.

2.1.3.4. Căn hành (thân- rễ)

Chỉ gặp ở lan đa thân. Căn hành thật sự là thân cấp 1 và từ đó hình

thành thân cấp 2, chúng có thể dài ra và mang lá được gọi là thân, hoặc bị thu

ngắn lại, dày lên tạo thành giả hành. Căn hành là nơi cấu tạo các cơ quan dinh

dưỡng mới, trên căn hành có nhiều mắt sống, chết hoặc mắt ngủ, chính ở nơi

giả hành tiếp xúc với căn hành có từ 1-2 mắt, mắt lá nơi hình thành nhiều rễ

để nuôi sống cây lan. Do đó căn hành là bộ phận quan trọng nhất cho việc duy

trì và phát triển số lượng lan theo phương pháp tách nhánh thông thường.

8

2.1.3.5. Rễ

Ở lan đa thân, rễ thường được hình thành từ căn hành. Ở các loài đơn

thân thì rễ mọc thẳng từ thân và thường xen kẽ với lá. Rễ trên không của các

loài lan phụ sinh có một trục chính bao quanh bởi mô không chặt, giống bọt

biển bao quanh gọi là mạc. Mạc có thể hấp thụ hơi nước của không khí, cũng

như tích trữ nước mưa và sương đọng. Do mạc che phủ lớp rễ nên lan có thể

hút ẩm nhanh và giữ ẩm trong một thời gian dài.

2.1.3.6. Cơ quan sinh sản

* Hoa

Cấu tạo của hoa lan cực kỳ phong phú và hấp dẫn. Ta có thể gặp

nhiều loài mà mỗi mùa chỉ có một đoá hoa nở hoặc có nhiều cụm hoa mà

mỗi cụm chỉ đơm một bông. Tuy nhiên đa số các loài lan đều nở rộ nhiều

hoa, tập hợp thành chùm. Phân bố ở đỉnh thân hay nách lá, gốc cuống

chính, thường có lá bắc dạng vảy hay dạng mo. Cuống chính đôi khi rút

ngắn lại làm cụm hoa có dạng tán giả, hay cuống chính vừa ngắn lại vừa

mập, cụm hoa có dạng gần như hình đầu. Ở nhiều loài có cuống rất ngắn

nên chùm hoa có dạng bông hay cuống chính vặn xoắn để hoa xếp theo

đường xoắn ốc.

Hoa lan thuộc loại hoa mẫu 3. Có 6 cánh hoa, trong đó có 3 cánh hoa

ngoài cùng gọi là 3 cánh dài. Nằm kề bên trong và xen kẽ với 3 cánh đài là 3

cánh hoa. Hai cánh bên thường giống nhau, cánh còn lại nằm ở phía trên hay

phía dưới của hoa, thường có màu sắc và hình dạng đặc biệt khác hẳn 2 cánh

kia được gọi là cánh môi. Chính cánh môi quyết định giá trị thẩm mỹ hoa lan.

Ở giữa hoa có một cái trụ nổi đó là bộ phận sinh dục của hoa. Trụ đó

gồm cả 2 phần sinh dục đực và sinh dục cái nên được gọi là trục – hợp –

nhuỵ. Phần đực nằm ở bên trên của trục, thường có nắp che chở, bên trong

chứa khối phấn màu vàng. Số lượng khối phấn biến đổi từ 2, 4, 6 đến 8, có

9

dạng thuôn hay cong lưỡi liềm, đôi khi thuôn dài có đuôi. Hoa phong lan có

bầu hạ, thuôn dài kéo theo cuống. Bầu hoa lan có 3 ô gọi là 3 tâm bì ( hoặc

đính noãn trung trụ) hoặc đính noãn bên. Trong bầu chứa vô số các hạt nhỏ li

ti gọi là tiểu noãn nằm trên 3 đường dọc theo chiều dài của 3 mép tâm bì. Sau

khi thụ phấn, thụ tinh, các tiểu noãn sẽ biến đổi và phát triển thành hạt, trong

khi đó bầu noãn sẽ to phát triển thành quả.

* Quả và hạt

Quả lan thuộc loại quả nang, nở ra theo 3 – 6 đường nứt dọc, có dạng

từ quả cải dài đến hình trụ ngắn phình ở giữa. Khi chín quả nở ra và mảnh vỏ

còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc.

Hạt lan rất nhiều, nhỏ li ti. Trọng lượng toàn bộ hạt trong một quả nang

chỉ bằng1/10 đến 1/1000 miligam và hầu như không có trọng lượng.

2.1.4. Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa lan

* Về nhiệt độ:

Nhiệt độ tác động ở cây lan thông qua con đường quang hợp. Thông

thường cường độ quang hợp tăng khi nhiệt độ tăng. Khi nhiệt độ tăng 100C thì

quang hợp tăng gấp đôi. Chính vì vậy nhiệt độ cao làm tăng sự phát triển dinh

dưỡng ở cây lan.

Tuy nhiên nếu nhiệt độ quá thấp sẽ làm cho nước trong tế bào của cây

đóng băng, phá vỡ cấu trúc tế bào. Ngược lại nếu nhiệt độ quá cao thì quá

trình quang hợp bị ngừng trệ vì nguyên sinh chất tế bào đặc quánh lại do mất

nước, cây ngừng hô hấp và bị chết.

Như vậy cây lan chỉ sinh trưởng, phát triển tốt nhất trong khoảng nhiệt

độ gọi là tối thích. Khoảng nhiệt độ này khác nhau tuỳ thuộc vào từng loài

lan. Ví dụ, đối với loài lan Phalaenopsis amabilis, nhiệt độ tối thích cho sinh

trưởng, phát triển là 180C và nhiệt độ tối đa là 350C.

10

* Ánh sáng:

Ánh sáng rất cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển của cây lan. Ánh

sáng đem lại năng lượng cần thiết cho phản ứng quang tổng hợp.

Nhờ có ánh sáng mà cây lan tổng hợp được chất dinh dưỡng. Khi

thiếu ánh sáng cây không tạo ra đủ chất dinh dưỡng, cây sinh trưởng phát

triển kém.

Vì cường độ tổng hợp tỷ lệ với cường độ ánh sáng cho nên trong những

ngày nắng nóng càng cần nhiều nước và muối khoáng để tổng hợp nên chất

hữu cơ hơn là những ngày trời âm u. Đây cũng là lý do khiến ta phải tăng

lượng nước tưới và phân bón cho lan trong những ngày nắng, nóng và giảm đi

vào mùa mưa, trời âm u.

Ánh sáng thường tăng dần từ 7 giờ sáng, đạt cực đại vào buổi trưa và

giảm dần vào buổi chiều trong ngày. Khi cây lan tiếp xúc với ánh sáng trực xạ

vào buổi trưa thường bị cháy lá do vậy phải làm giàn che.

Ánh sáng còn ảnh hưởng đến việc ra hoa của một số loài lan. Hầu hết

các loài thuộc Catteleya, Dendrobium... nếu thiếu ánh sáng cây không ra hoa,

vì vậy các nghệ nhân thường phơi nắng để ép chúng ra hoa.

* Độ ẩm:

Độ ẩm cũng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển của

các loài lan. Các loài lan sống trong tự nhiên nhờ vào nước mưa, hơi nước

trong không khí. Vì vậy, lan trồng phải thường xuyên tưới nước cho cây, nếu

thiếu nước quá trình quang hợp và hô hấp ngừng trệ.

Yếu tố ảnh hưởng nhất đối với ẩm độ là mưa, trong đó sự phân bố mưa

trong năm có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, mưa rải rác sẽ tạo ẩm độ cao

hơn mưa tập trung, do vậy các vùng mưa nhiều, ẩm độ cao sẽ là nơi có nhiều

các loài lan sinh sống (vùng núi phía Bắc nước ta)

11

Nước từ không khí đi vào rễ, di chuyển qua thân cây và thoát hơi nước

qua lá, sự di chuyển đó là vô cùng quan trọng vì giúp cho việc vận chuyển các

chất dinh dưỡng trong thân cây, lượng nước đó rất lớn do vậy trồng lan phải

tưới nước cho cây.

Thoát hơi nước làm cho lá héo, lượng nước bốc hơi qua lá tuỳ thuộc

vào độ ẩm không khí, ban ngày có ánh sáng khí khổng mở ra và không khí

khô nóng làm nước thoát hơi mạnh, nhưng nếu không khí quá khô, khí

khổng sẽ đóng lại, sự thoát hơi nước sẽ ngừng lại. Thông thường cường độ

thoát hơi nước tỷ lệ thuận với độ mở của khí khổng và tỷ lệ nghịch với độ

ẩm không khí.

Sự quang hợp và hô hấp của cây rất cần nhiều nước, tuỳ thuộc vào loài.

Giống và điều kiện ngoại cảnh mà cây lan có các biến thái cho phù hợp. Cây

lan thường rụng bớt lá vào mùa khô hoặc các giống địa lan thường héo thân

lá, chỉ còn củ nằm dưới mặt đất chờ mùa mưa là phát triển trở lại. Đối với

phong lan sống ở vùng khô có lá mập và dày để dự trữ nước, mặt lá có lớp

cutin để chống sự thoát hơi nước hoặc phiến lá nhỏ lại hay biến thành hình trụ

như trường hợp của loài Vanda teres.

Việc lựa chọn địa điểm thích hợp cho vườn lan sẽ giúp giảm dược

nhiều công chăm sóc, trong đóđộ ẩm là yếu tố quan trọng nhất, nó chi phối

việc phân bố lan trong tự nhiên

* Độ thông thoáng:

Độ thông thoáng cũng là yếu tố rất cần thiết giúp cho cây lan sinh

trưởng. Không khí vườn lan cần luôn được thay đổi để làm mát cây và thay

đổi lượng CO2 cung cấp cho sự quang hợp của cây lan. Lượng CO2 trong

không khí khoảng 0,03%, trên mặt lá lượng CO2 thường xuyên bị giảm nhiều

vì liên tục bị cây hấp thu do vậy không khí cần liên tục thay đổi để cân bằng

lượng CO2 ở trên mặt lá. Nếu vườn lan không được thoáng nhất là khi độ ẩm

12

tăng, nhiệt độ cũng làm cho lan dễ bị bệnh. Ngược lại nếu vườn lan quá thông

thoáng, gió nhiều làm giảm độ ẩm, lượng nước bốc hơi quá lớn cây cũng dễ

héo, kém phát triển. Yêu cầu độ thông thoáng tuỳ thuộc vào loài lan, các

loài phong lan thường yêu cầu thông gió cao, do vậy trong điều kiện tự

nhiên lan thường mọc trên các cành cây cao, ở tầng giữa của rừng. Sự

thông gió rất quan trong đối với các loài lan đơn thân, vì hầu hết các loài

này đều có rễ mọc thẳng từ thân và lơ lửng trong không khí.

* Dinh dưỡng:

Dinh dưỡng đối với lan hết sức quan trọng, tuy không đòi hỏi số

lượng lớn nhưng phải đầy đủ các thành phần dinh dưỡng và tuỳ thuộc vào

từng thời kỳ sinh trưởng của cây lan mà nhu cầu đối với thành phần dinh

dưỡng có khác nhau.

2.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa lan trên thế giới

Do cây hoa lan có nhiều giá trị về mặt kinh tế và thẩm mỹ nên thế giới

có rất nhiều nước đã đi sâu nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống và cũng như

chọn lọc và lai tạo giống mới.

Các nghiên cứu về nhân giống cây hoa lan

* Nhân giống vô tính

- Phương pháp tách chiết thông thường

Vào cuối mùa sinh trưởng của cây, cắt rời cây lan thành từng đơn vị, mỗi

đơn vị là 2-3 giả hành và vẫn giữ nguyên trong giá thể. Khi bắt đầu vào mùa

sinh trưởng lấy chậu lan đã thực hiện cắt rời thành từng đơn vị trên ngâm vào

trong nước để lấy cây ra. Đặt các đơn vị lan vừa tách chiết vào giữa chậu đối

với từng loài lan đơn thân buộc dây tránh sự lay động chăm sóc cho cây nhanh

bén rễ.

+ Tách chồi

Được áp dụng với một số giống lan đa thân như Cattleya, Dendrobium,

13

Cymbidium, Paphiopedelium... Phương pháp này được tiến hành khi cây bò ra

khỏi chậu, hoặc tiến hành đồng thời khi phải thay chậu hư mục. Thông

thường tách khi cây bước vào giai đoạn sinh trưởng sau thời kỳ nghỉ, khi các

mầm ngủ bắt đầu nẩy chồi ở gốc giả hành và chóp rễ non bắt đầu nhú.

+ Cắt đoạn thân

Với các giống như Dendrobium, Thunia, Arundina...có thể tạo ra cây

con trên giả hành (Keikis) một cách tự nhiên, khi các cây con này phát triển

tốt, có rễ dài chừng 5-10cm, có thể tách giả hành ra trồng.

Ngoài ra còn có phương pháp cắt từng đốt, mỗi đốt có ít nhất là một

mắt, ở đó có sinh mô của chồi bên sẽ phát triển thành chồi và khi có rễ thì

đem trồng.

Với một số loài lan như Vanda, Phalaenopsis... khỏe mạnh hoặc bị tổn

thương ở đỉnh ngọn, nó sẽ sinh ra cây con từ chồi bên ở gần gốc. Khi các chồi

này rễ phát triển tốt thì tách ra trồng.

Nếu là loài lan Archnis, Renanthear, Vanda (lan đơn thân) khi cây cao

lớn có thể cắt phần ngọn khoảng 30-50cm có ít nhất 2-3 tầng rễ đem trồng.

Phần gốc bên dưới nếu không có lá già cũng có thể ra chồi bên, từ đó tách ra

để trồng.

Việc cắt đoạn cành như trên có thể thực hiện trong bất cứ thời gian nào,

tốt nhất là vào đầu thời kỳ sinh trưởng và phát triển của lan.

Trên thế giới, việc nhân giống vô tính cây phong lan bằng hình thức

trên rất ít khi được áp dụng.

- Phương pháp nuôi cấy mô tế bào

Do khoa học kỹ thuật phát triển mạnh và được ứng dụng trong nông

nghiệp vì thế phương pháp nhân giống vô tính cây lan bằng nuôi cấy mô tế

bào ra đời. Từ đó tạo ra một bước ngoặt lớn với ngành trồng lan trên thế giới.

Từ một tế bào với các tác nhân nhân tạo có thể tạo ra 1 cơ thể hoàn chỉnh,

14

phương pháp này có thể nhân giống vô tính lan với tốc độ nhanh: 4 triệu cây

con/năm với vốn ban đầu chỉ là một chồi non.

Georges Morel (1956) đã khám phá ra phương pháp nuôi cấy mô loài

lan đa thân từ buổi ban đầu. Phương pháp này được công bố trên tạp chí

A.O.S

Cho đến năm 1970, M.vajrabhaya đã cấy mô thành công loài lan đơn

thân. Năm 1974 các nhà khoa học đã cấy mô thành công hầu hết các loài lan

thuộc nhóm đơn thân khác.

Le, -YH, and Mowe (1983) đã nuôi cấy đỉnh sinh trưởng giống lan

Aranda trong môi trường Vacine và Went. Mô tế bào thu được đã được xử lý

colchicine ở các nồng độ 0,05; 0,075; 0,1% trong 6 ngày cho kết quả tỷ lệ cao

các mô chuyển sang màu nâu. Tác giả Duan, -J; cs (1966), Kukulczanka, -K

(1985), Mamaril,-J (1997) thì cho rằng: Môi trường có vai trò rất quan trọng

trong nuôi cấy, nó cung cấp chất dinh dưỡng thích hợp đảm bảo cho việc nuôi

cấy mô phong lan. Môi trường thích hợp cho việc nuôi cấy mô phong lan là:

MS (Marushige – Shoog, 1962), VW (Vacine- Went, 1949), KC (Knudson

C), F (Fonnesbeck, 1972)...

* Nhân giống hữu tính cây lan

Nhân giống hữu tính là sự kết hợp giữa giao tử đực và giao tử cái, tạo

thành hợp tử rồi phát triển thành hạt. Từ hạt phát triển thành cây lan

con.Trong thiên nhiên sự thụ phấn của lan do côn trùng, vì cấu trúc của hoa

và sự chín của cơ quan sinh dục trong hoa không đều. Phấn hoa dính thành

phấn khối để côn trùng có thể mang đi một số lượng lớn phấn hoa trong một

chuyến, cánh môi ở hoa lan như là một bãi đáp để côn trùng đậu, môi hoa tạo

ra màu sắc, hương vị để hấp dẫn côn trùng đến, hoặc cơ quan này có hình

dáng giống cơ quan sinh dục của loài khác phái để dẫn dụ côn trùng và từ đó

giúp cho sự thụ phấn của hoa lan thành công. Ngoài ra trong thực tế hiện nay

15

hoa lan có thể thụ phấn nhân tạo bằng phương pháp thủ công đơn giản. Sau

khi đã thụ phấn, tiểu noãn biến đổi phát triển thành hạt, bầu noãn phát triển

thành quả. Quả chín nứt ra các hạt sẽ phát tán và gặp điều kiện thuận lợi sẽ

nảy mầm thành cây lan con. Để ra hoa được cây lan này mất phải từ 3-7 năm

tùy theo loài. Do hạt của lan quá nhỏ và hầu như không có chất dự trữ, chỉ có

1 phôi chưa phân hóa nên không thể gieo hạt lan như các loại hạt khác. Vì thế

để làm cho hạt lan nảy mầm được là một vấn đề khó khăn trong thời kỳ đầu

của ngành lan.

Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa lan trên thế giới:

Theo báo cáo năm 2005 của FAO, giá trị sản lượng hoa cây cảnh của

toàn thế giới năm 1995 đạt 35 tỷ USD, đến năm 2014 tăng lên 56 tỷ USD (tốc

độ tăng bình quân năm là 20%); trong đó giá trị xuất khẩu đạt từ 8,5-10 tỷ

USD/năm.

Những nước có nền công nghiệp Hoa phát triển là Hà Lan, Pháp, Mỹ,

Colombia, Kenia... Một số nước đang có kế hoạch đầu tư phát triển mạnh mẽ,

đưa cây hoa lên thành một ngành kinh tế quan trọng là Trung Quốc, Đài

Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapo, Israel, Italia...

Theo phân tích và dự báo của các chuyên gia kinh tế, ngành sản xuất,

kinh doanh hoa trên thế giới còn tiếp tục phát triển và vẫn có tốc độ phát triển

cao (từ 12-15%) trong những năm tới. Tuy nhiên, do một số lợi thế nên một

số nước đang phát triển như Trung Quốc, Thái Lan, Kenia, Ấn Độ... sẽ vươn

lên đạt giá trị sản lượng và giá trị xuất khẩu cao, đồng thời công tác nghiên

cứu sẽ tiếp tục được quan tâm đầu tư để có thêm nhiều chủng loại hoa độc

đáo, chất lượng hoa cao hơn.

Hoa lan (Orchidaceae) là một trong đỉnh cao của sự tiến hoá của các

loài cây có hoa. Nói chung các nước châu Á, hoa lan được biết đến và nuôi

trồng rất sớm. Đầu thế kỷ 20, người Anh mới đến Singapore mở đầu cho một

16

giai đoạn mới là lập trại nuôi trồng hoa lan và kỹ nghệ trồng lan. Các giống

lan được nuôi trồng ở đây là: Arachnis, Vanda, Oncidium... đồng thời lai tạo

các loài lan mới.

Từ năm 1957, Thái Lan và Indonesia bắt đầu phát triển nuôi trồng lan

quy mô ngày càng lớn phục vụ cho xuất khẩu. Các loài lan rừng, lan lai, lan

cắt cành của Thái Lan được xuất khẩu qua nhiều nước trên thế giới.

Hiện nay Thái Lan là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hoa lan, đạt

tới 110 triệu đô la trong năm 2003. Riêng hoa lan cắt cành Dendrobium của

Thái Lan chiếm tới 85-90% thị phần hoa lan Dendrobium trên thế giới.

Thái Lan có 18 phòng nuôi cấy mô hoa lan thương mại hoạt động ở

Băng Cốc và các vùng phụ cận. Nhờ thực hiện công nghệ mới trong nuôi cấy

mô và lai tạo, năm 1993, Thái Lan xuất đi 70,7% cho thị trường Anh, 81,4%

cho Hà Lan về lan cắt cành, 64 triệu cành cho Ý và 5 triệu cành cho Nhật

(Ngô Quang Vũ, 2002)[15].

Ở Thái Lan có nhiều công ty lớn sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu lan

như Bang Kok, Flower hàng năm xuất khẩu một lượng hoa lan trị giá 50 triệu

Babt. Hoa lan của các công ty được chuyên chở bay đến Thuỵ Sỹ, Đức, Hà

Lan, Ý, Anh và các nước ở bán đảo Scandinave. Tiếp đến các công ty Siam

Flower Centre cũng hoạt động khá hiệu quả, kim ngạch xuất khẩu hàng năm

của công ty là 10 triệu Babt. Công ty này xuất khẩu chủ yếu sang Mỹ, Nhật, Ý

và một số nước ở châu Âu

Tại Đài Loan vì có nền khí hậu ấm áp, mưa nhiều nên có thể sản xuất

hoa tươi quanh năm. Đài Loan đang tăng nhanh sản xuất giống Phalaenopsis

và chọn tạo nhiều giống mới. Nay đã tạo được một số giống lan quý và có khả

năng cắt hoa và trồng trong chậu (Croh,C.J, 1984)[18].

Malaisia là nước có đủ khả năng cạnh tranh trên thế giới về ngành trồng

hoa lan, chiếm thị phần đáng kể ở châu Á. Ngành công nghiệp lan cắt cành

17

tăng khoảng 7 triệu USD năm 1998 và 20 triệu USD năm 1994. Thị trường

xuất khẩu chủ yếu là Singapore, Nhật và Úc.

Singapore đã mở rộng nhiều trang trại nuôi trồng hoa lan xuất khẩu từ

năm 1987. Năm 1992 xuất khẩu hơn 18 triệu USD, năm 1993 xuất 3,8 triệu

cành đến châu Âu và lượng khá lớn ở thị trường Nhật (Ngô Quang Vũ,

2002)[15].

Tại Ấn Độ để phục vụ cho việc xuất khẩu hoa, nước này đã đưa tiến bộ

khoa học kỹ thuật nuôi cấy mô vào nghề trồng hoa lan mỗi năm 10 triệu cây lan

các loại.

Ấn Độ là nước có nhiều giống lan nguyên thuỷ với 140 giống và hơn

1300 loài. Hiện nay nhà nước đã hình thành các khu bảo tồn bảo vệ các loài

lan quý để phục vụ cho ngành trồng lan thương mại rất tốt.

Trung Quốc là nước có tốc độ phát triển hoa lan khá nhanh. Đầu thập

kỷ 80, Trung Quốc đă bắt đầu nhập nội các loại lan Hồ Điệp. Năm 2002 sản

lượng lan Hồ Điệp của Trung Quốc là 3 triệu cây, chủ yếu ở Quảng Đông,

Phúc Kiến và Bắc Kinh, Vân Nam, Sơn Đông... Tại Quảng Đông có hơn 10

công ty sản xuất 1,2 triệu cây. Cùng với mức sống ngày càng nâng cao thì nhu

cầu về hoa ngày càng tăng lên, ngành trồng lan đang trở thành con đường làm

giầu chắc chắn cho nhiều công ty và doanh nhân ở Trung Quốc.

Ở châu Âu, người ta cũng đã biết đến loài lan rất sớm, các tập di cảo

dược tính, thảo mộc trong đó có nói đến cây lan đã có từ trước công nguyên.

Trong những thập niên cuối thế kỷ 20 này lan đã trở thành mặt hàng

thương mại từ Anh sang Pháp... sau đó lan sang Mỹ. Ở Mỹ có hai bang là sản

xuất hoa lan phổ biến là Califonia và Florida. Việc nuôi trồng hoa lan để xuất

khẩu hoa lan hiện nay ở nhiều nước châu Âu đã đạt đến số lượng hàng trăm

ngàn giò lan và cành lan mỗi năm. Nước sản xuất hoa lan nhiều tại châu Âu là

Hà Lan, sau đó là Hungary.

18

Hà Lan đã đầu tư 20 triệu USD vào Ấn Độ để lắp đặt các thiết bị máy

móc đầu tư cho sản xuất hoa lan xuất khẩu. Tính đến năm 2003, kim ngạch

xuất khẩu hoa phong lan của Hà Lan đạt 1,8 tỷ USD. Hoa phong lan của Hà

Lan được trồng trong nhà kính với tổng diện tích 3081,75 ha.

Ngoài ra có một số nước như Israen, Colombia, Kenya, Nam Phi, Italia,

Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Bỉ, Đan Mạch, Costa Rica, Guatemala,

Hondurat, Bungari là những nước có kinh doanh, xuất khẩu các mặt hàng hoa

lan đáng kể trên thế giới.

Thị trường xuất khẩu hoa lan trên thế giới ngày càng mở rộng. Kim

ngạch xuất khẩu hoa lan trên thế giới hàng năm đã đạt 1,8 tỷ USD (Phan Thúc

Huân, 1989)[3]. Kim ngạch thương mại hoa lan cắt cành thế giới năm 2000

đạt 150 triệu USD (Đào Thanh Vân, Đặng Thị Tố Nga, 2008)[14]. Trong đó

nước nhập khẩu hoa lan cắt cành thế giới nhiều nhất là Nhật Bản, sau đó là

Italia, Pháp và Đức tiếp theo là Mỹ và các nước khác.

Nhật Bản đã đầu tư 6,6 triệu USD cho Thái Lan để mở rộng cơ sở sản

xuất với công suất 10 triệu cây lan mỗi năm và hiện nay Nhật cũng là khách

hàng lớn nhất của Singapore với khả năng tiêu thụ 60% số cây lan của nước

này (Trần Duy Quý, 2005) [8].

Sản xuất hoa lan trên thế giới sẽ tiếp tục phát triển mạnh ở các nước

châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh để phục vụ cho nhu cầu thưởng thức

hoa lan ngày càng tăng của con người.

2.3.Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa lan trong nước

2.3.1. Điều tra, thu thập nguồn gen hoa lan

Hoa lan được biết đến ở nước ta từ lâu. Trong các thư tích cổ còn lưu

lại từ đời Trần, Vua Trần Nhân Tông đã thu thập và lưu giữ được vườn lan

hơn 500 chậu chủ yếu là lan kiếm. Mặt khác Việt Nam lại được thiên nhiên

ưu đãi vì từ khắp vùng rừng núi từ Nam chí Bắc, từ đồng bằng đến cao

19

nguyên, nhiều vùng nổi tiếng có nhiều giống phong lan quí hiếm được thế

giới công nhận. Vì vậy đã có những nghiên cứu về lan ở Việt Nam tương

đối sớm.

Nhiều tác giả cho rằng người đầu tiên thực hiện việc khảo sát về lan ở

Việt Nam là Gioalas Noureiro, nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha. Ông đã

mô tả cây lan ở Việt Nam vào năm 1789 được viết trong cuốn: “Flora cocin

resinensis” và sau này đã được Bentham và Hooker ghi lại trong cuốn: “Genera

Planterum” (1862-1883). Sau khi người Pháp đến Việt Nam đã cho công bố

những công trình nghiên cứu đáng kể là F.Gagnepain và A. Gnillaumin, đã

mô tả 70 chi gồm 101 loài lan cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ: “Thực

vật Đông Dương chí” do H. Lecomte chủ biên xuất bản năm 1932-1934. Có

một số tác giả khác cũng đã đề cập đến lan Việt Nam như Schumid, Tixer và

Gunna Seidenfaden (1975). Có một số nhà khoa học Việt Nam đã bước đầu

nghiên cứu về cây lan như: GS Hoàng Hộ với 289 loại được mô tả và vẽ

hình trong cuốn: “cây cỏ Việt Nam” năm 1991. Phân viện sinh học Đà Lạt

đã tổ chức thu thập các loại lan rừng của Lâm Đồng, việc xác định tên khoa

học của các loài lan rừng được TS.Lvaveryano thực hiện. Đến nay ở Lâm

Đồng đã xác định được tên khoa học của 217 loài, thuộc 64 chi. Trong số

239 loài lan của bộ sưu tập và danh mục 217 loài đã xác định tên khoa học

và được ghi nhận có 2 loài mới của Việt Nam là Liparis compressaLindl và

Thrixspermum leucarachne Ridl.

Có tới 7 loài cho đến nay chưa được ghi nhận có ở Lâm Đồng trong các tài

liệu đã được công bố là: Anoectochulus setaceus Blume, Bulbophyllum spadiciflrum

Tixier, Coelogyne cristata Lindl, Eriathao gagnep, Pholidotaventricosa Blume

Reichenb, F, Thrixspermum calecolus Lindl, Reichenb.f,Vandopsis gigtantea Lindl

Pfitz và 22 loài đặc hữu ở Việt Nam.

Từ năm 1996-1997, Nguyễn Xuân Linh và tập thể cán bộ Trung tâm

20

Hoa cây cảnh – Viện di truyền Nông nghiệp đã thu thập được 88 loài lan

thuộc 34 chi, trong đó nhiều nhất là chi Cymbidium sw, sau đó là chi

Dendrobium. Trong 88 loài lan sưu tầm được thì có đến 30 loài có khả

năng nở hoa tại Hà Nội. Đây là những nguồn gen quí cho công tác lai tạo

giống sau này.

Khi nghiên cứu đa dạng di truyền loài lan Hài đốm (Paphiopedilum

concolor Pfitzer) bản địa của Việt Nam, năm 2009, tác giả Khuất Hữu Trung

và cộng sự đã nhận xét: Loài lan hài đốm (P. concolor Pfitzer) bản địa của

Việt Nam rất đa dạng và phong phú. Các mẫu giống thu thập tại các vùng sinh

thái khác nhau đều có các đặc điểm đặc trưng riêng về hình thái. Kết quả phân

tích bằng kỹ thuật RAPD-PCR chỉ ra hệ số tương đồng di truyền của các mẫu

Hài đốm dao động từ 0,56 đến 0,94; 16 mẫu lan Hài đốm nghiên cứu được

phân thành 6 nhóm khác nhau.

Phương pháp mô tả các đặc điểm hình thái và phương pháp đánh giá đa

hình di truyền ở mức độ ADN có thể bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau để công

việc phân loại dưới loài trở nên chính xác hơn, phục vụ cho công tác bảo

tồn, khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn gen lan Hài bản

địa của Việt Nam.

Thực hiện đề tài điều tra sự phân bố của các loài hoa lan ở Việt Nam, các

tác giả Đặng Văn Đông, Chu Thị Ngọc Mỹ, Trần Duy Quý (2009) đã kết luận:

Việt Nam được chia thành 6 vùng lan chính: Phía Tây Bắc Bộ; Phía Đông Bắc

Bộ và Trung tâm Bắc Bộ; Bắc Trung Bộ; Các tỉnh Trung Bộ; Tây Nguyên;

Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Các tác giả này cũng đã đã thu thập được 1.035

chậu (giỏ) lan; gồm 50 giống thuộc 17 chi phong lan, địa lan Việt Nam. Một số

loại hoa lan có khả năng thích ứng tốt với điều kiện khí hậu tại Gia Lâm - Hà

Nội là: Đai trâu, Phi điệp, Quế lan hương, Đuôi cáo, Tam bảo sắc, Giáng

hương, Mặc biên ...

21

Thực hiện dự án “Sưu tập, nhập nội, khảo nghiệm và nhân giống các

giống hoa lan”, từ năm 2005 đến 2009, tác giả Dương Hoa Xô (Trung tâm

Công nghệ Sinh học TP HCM), Trung tâm đã sưu tập được hơn 285 giống

hoa lan thuộc 12 nhóm giống khác nhau (Mokara, Dendrobium,

Phalaenopsis, Oncidium …) để phục vụ cho công tác bảo quản nguồn gen và

lai tạo giống. Trong đó có hơn 80 giống lan rừng quý, có thể phục vụ công tác

lai tạo giống lan sau này. Bên cạnh đó, Trung tâm đã tiến hành nhập nội 14

giống lan Mokara, 13 giống Dendrobium, 5 giống Catlleya để khảo nghiệm

và nhân nhanh giống phục vụ sản xuất.

2.3.2. Những nghiên cứu về nhân giống cây hoa lan ở Việt Nam

* Nhân giống bằng phương pháp gieo hạt

Đối với hoa lan việc tự thụ phấn là rất khó khăn, trong thực tế việc thụ

phấn phải nhờ côn trùng hoặc thụ phấn nhân tạo bởi con người. Nhân giống

bằng hạt không phải là phương pháp mới, mặc khác hạt lan khó nảy mầm nên

phương pháp này không được áp dụng phổ biến tại Việt Nam. Phương pháp

này chỉ được sử dụng chủ yếu trong lai tạo nhằm tạo ra những giống mới với

những đặc tính ưu việt mong muốn của con người.

Năm 1990 các cán bộ kỹ thuật của Đà Lạt đã thực hiện các phép lai

đầu tiên trên cơ sở chọn lọc những giống cây bố và mẹ mang các đặc tính

tốt. Chi lan Renanthera và Vanda đã đáp ứng các yêu cầu mục đích đa

dạng về mặt sưu tập, từng bước tạo tiền đề cho cho việc khai thác kinh tế

lan cắt cành tại Việt Nam.

* Nhân giống bằng phương pháp tách chiết.

Là phương pháp đơn giản, dễ làm, không tốn kém, tuy nhiên hệ số nhân

giống không cao. Tác giả Nguyễn Việt Thái (2002) cho rằng: Bất kể tháng nào

trong năm cũng có thể tách chiết lan để trồng được. Tuy nhiên, thời điểm tốt nhất

cho việc tách chiết là vào đầu mùa mưa, khí trời mát mẻ, cây đang đà phát triển

22

mạnh. Đối với lan đơn thân, Nguyễn Việt Thái cho rằng: Kinh nghiệm nên dùng

phần ngọn được tách ra trồng sẽ ra hoa nhanh hơn so với các lan đoạn ở phần

thân. Theo Nguyễn Công Nghiệp (2000) thì phương pháp nhân giống bằng tách

chiết với 3 giả hành có thể dùng cho tất cả các loài lan đa thân, trừ các giống như

Cymbidium, phaius... có thể dùng 2 giả hành duy nhất. Đối với các loài

Dendrobium như: Dendrobium caesar Alba, Dendrobium ceasar Latil,

Dendrobium popadour có thể cắt cây để nhân giống khi giả hành cây con trưởng

thành. Nếu cắt quá non sẽ cho kết quả không tốt. Đối với các loài lan

Dendrobium yếu hơn như DendrobiumJacqueline Thomas, Dendrobium

theodore Takiguchi... có thể đợi cây con mọc thêm 1 giả hành mới thì việc nhân

giống mới đảm bảo hơn.

* Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào

Công nghệ nuôi cấy mô tế bào Invitro, trong một thời gian ngắn có thể

sản xuất một số lượng các giống khỏe và sạch bệnh. Trường Đại học Nông

nghiệp Hà Nội (nay là Học viện nông nghiệp) là một trong các cơ sở nghiên

cứu chính về nuôi cấy mô nói chung. Theo Nguyễn Quang Thạch và cộng sự

thì: Cây lan dễ nhân giống trong ống nghiệm và có hệ số nhân giống cao, môi

trường chính cho nuôi cấy lan là môi trường Knudson C. Trung tâm hoa cây

cảnh kết hợp với Viện Di truyền Nông nghiệp đã tiến hành được nhiều nghiên

cứu ảnh hưởng của các chất điều tiết sinh trưởng đến quá trình nhân nhanh và

khả năng ra rễ của chồi của các giống lan Hồ Điệp.

Tác giả Hoàng Ngọc Thuận và cộng sự cho rằng: Ngày nay việc nhân

giống lan bằng hạt trong môi trường invitro khá phổ biến ở nhiều phòng thí

nghiệm của Việt Nam với các ưu điểm: Thời gian cho cây con nhanh, hệ số nhân

giống cao, giá thành hạ và cây sinh trưởng nhanh.

Tác giả Trần Văn Minh, Nguyễn Văn Uyển ở Viện Sinh học - Trung tâm

KHKT và CNQG, TP Hồ Chí Minh khi thực hiện nghiên cứu về vấn đề vi nhân

23

giống phong lan nhóm Dendrobium trên quy mô công nghiệp, nhân giống

invitro đã đi đến kết luận:

- Vi nhân giống

Môi trường MS (1962) là môi trường nuôi cấy cơ bản thích hợp cho nhân

giống hoa lan nhóm Dendrobium invitro

BA (1mg/l) + IBA (0,1mg/l) là tổ hợp chất điều hòa sinh trưởng bổ

sung thích hợp nhân giống hoa lan nhóm Dendrobium invitro

Hàm lượng nước dừa 15% là chất hữu cơ bổ sung hữu hiệu nâng cao hiệu

suất phát sinh chồi trong quá trình nhân giống hoa lan nhóm Dendrobium invitro

- Tái sinh invitro

Môi trường nuôi cấy cơ bản MS vẫn là môi trường thích hợp cho tái sinh

và vươn thân hoa lan nhóm Dendrobium invitro.

BA 0,1mg/l + CW 20% là tổ hợp các chất sinh trưởng và chất hữu

cơ bổ sung đạt hiệu suất cao trong tái sinh và vươn thân chồi hoa lan nhómDendrobium

invitro.

Chiều cao chồi ban đầu thích hợp khi đưa vào nuôi cấy tái sinh là 20mm.

2.3.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa lan ở Việt Nam

Do chưa được đầu tư và quan tâm thích đáng nên ngành trồng hoa nói

chung và hoa lan nói riêng chưa thực sự phát triển, sản xuất hoa lan theo mô

hình công nghiệp mới chỉ phát triển mạnh ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt là Đà

Lạt và thành phố Hồ Chí Minh.

Tháng 8/2004 tại Lâm Đồng đã thành lập Hiệp hội Hoa Lan với tên

giao dịch là Dalat Orchid Association với mục đích là tập hợp những người

yêu mến, có kinh nghiệm trồng lan để tiến tới phát triển nhân rộng sản xuất

theo hướng hàng hoá.

Hiện nay tại Đà Lạt cũng mới chỉ sản xuất khoảng 200.000 đơn vị lan

cắt cành mỗi năm (Sở Nông Nghiệp TP Hồ Chí Minh, 14-7-2005)[2]. Ở Đà

24

Lạt có khoảng 500 gia đình nuôi trồng hoa lan, trong đó có hơn 150 gia đình

tham gia vào hội hoa lan của thành phố Đà Lạt. Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật

của Đà Lạt và phòng Sinh học của viện Hạt nhân Đà Lạt cũng tham gia tích

cực vào lập các cơ sở cấy mô phong lan và sưu tầm các loại lan. Đà Lạt đã thu

thập được khoảng 200 loài có khả năng nuôi trồng xuất khẩu (Phan Thúc

Huân, 1997)[4].

Vào năm 1983-1984 tại thành phố Hồ Chí Minh, có hàng loạt các cơ

quan đóng tại đó đã tổ chức thử nghiệm nuôi trồng lan trên quy mô lớn để

xuất khẩu. Các vườn lan đáng kể là vườn lan T78, vườn lan của cục Quản lý

Giáo dục Bộ tham mưu, vườn lan của ngành hàng không dân dụng.

Về lan giống từ năm 1976, Trung tâm Sinh học thực nghiệm thành phố

Hồ Chí Minh đã tổ chức phòng nuôi cấy mô phong lan tạo ra hàng loạt cây

con phong lan cấy mô nhờ bầu, tạo cây giống bằng phương pháp cấy mô.

Vào năm 1986, lần đầu tiên một quy trình nhân giống, nuôi trồng lan

Dendrobium cấy mô từ lan con đến nở hoa đã được hãng Hàng không Tân

Sơn Nhất kết hợp với vườn lan T78 thử nghiệm thành công (Chí Thiện,

2004)[12].

Tính cho đến năm 1986 trong thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 15 gia

đình có vườn lan với số lượng từ 1.000-7.000 chậu. Đến năm 1987, Uỷ ban

khoa học thành phố tổ chức nghiên cứu đề tài về kinh tế kỹ thuật khoa học lan

xuất khẩu. Và cũng năm 1987 thành lập công ty phong lan xuất khẩu trực

thuộc Sở Lâm nghiệp. Trong những năm 1987-1988 Hội Khoa học Lâm

nghiệp và Trường Đại học Tổng hợp đã mở nhiều lớp nuôi trồng hoa lan xuất

khẩu. Phong trào nuôi trồng lan của thành phố thời gian này ngày càng trở

nên sôi động. Sau đó Hội hoa lan, cây cảnh của thành phố ra đời thường

xuyên có những buổi hội thảo về hoa lan và cây cảnh. Cho đến nay thành phố

Hồ Chí Minh đã có mấy ngàn người nuôi trồng hoa lan, có gần 20 vườn lan

25

lớn. Trong số đó có một số vườn lan tư nhân đã trở thành xí nghiệp nuôi trồng

xuất khẩu thường xuyên giao dịch với các công ty của Thái Lan và Singapore.

Năm 2005-2006 thành phố đã dự kiến đầu tư 20 ha nuôi trồng hoa lan và 20

ha cây kiểng (Nguyễn Văn Chương, 1991)[1].

Ở Hà Nội những năm gần đây do đời sống người dân được nâng cao

nên nhu cầu thưởng thức hoa lan tăng lên. Phong trào nuôi trồng lan tự phát

lan rộng đến cả những vùng phụ cận làm cho các nhà khoa học phải đi sâu

nghiên cứu sản xuất kinh doanh hoa lan.

Tại Viện Công nghệ Sinh học thuộc Trường Đại học Nông nghiệp Hà

Nội đã cho ra đời hàng vạn cây giống hoa lan có giá trị kinh tế như Hồ Điệp

(Phalaenopsis amabilis), Cát Lan (Catfleya), Hoàng thảo (Dendrobium). Viện

còn thực hiện chuyển giao công nghệ nuôi trồng các giống lan có hiệu quả

kinh tế cao cho các tỉnh Hải Phòng, Bắc Giang, Lạng Sơn.

Tại Trung tâm kỹ thuật Rau - Hoa - Quả Hà Nội đã cho ra đời mỗi năm

hàng vạn cây lan Hồ Điệp giống và hàng vạn cây giống lan khác. Đặc biệt đã

thành công trong việc nhân giống lan hài và lan kiếm.

Tại công ty liên doanh hoa lan Lan Việt - Nhật JAVECO hàng năm

cũng sản xuất hàng vạn cây giống hoa lan Hồ Điệp (Phalaenopsis amabilis),

lan Hài (Paphiopedelium) nhằm cung cấp cho thị trường trong nước và xuất

khẩu (Lê Đặng Trung Tuyến, 2007)[10].

Hiện nay tất cả các tỉnh và thành phố phía Bắc tại Sở Khoa học Công

nghệ và Môi trường đều có phòng nuôi cấy mô tế bào, chức năng là nghiên

cứu khoa học và phục vụ cho sản xuất trong đó có hoa lan.

Viện Di truyền Nông nghiệp đang tiến hành nghiên cứu, và nhân giống

các giống lan nhập nội, đặc biệt là các giống lan của Thái Lan như lan Hoàng

Thảo (Dendrobium) phục vụ cho sản xuất, tạo điều kiện cho việc phát triển

các giống lan tại miền Bắc Việt Nam.

26

2.4. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

2.4.1. Vườn Quốc gia Ba Bể

Vườn quốc gia Ba Bể cách thị xã Bắc Kạn 70 km và cách Hà Nội 250

km về phía Bắc, thuộc địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Tổng diện tích

vườn 10.048 ha, gồm toàn bộ xã Nam Mẫu và một phần diện tích của các xã

Khang Ninh, Cao Thượng, Cao Trĩ, Quảng Khê, Hoàng Trĩ - huyện Ba Bể,

Nam Cường - huyện Chợ Đồn.

Lịch sử hình thành VQG Ba Bể được tính từ năm 1977 theo

Quyết Định số 41-TTg ngày 24/1/1977 của Thủ tướng Chính phủ chính thức

công nhận Ba Bể là khu văn hoá lịch sử. Năm 1992, Viện Điều tra quy hoạch

rừng đã hoàn thành việc xây dựng dự án đầu tư thành lập VQG Ba Bể. Dự án

đã được Chính phủ phê duyệt và Vườn Quốc gia Ba Bể được chính thức

thành lập từ 10/11/1992 theo quyết định số 83/TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Trước đây, Vườn Quốc Ba Bể thuộc tỉnh Cao Bằng, sau khi tái lập tỉnh,

Vườn nằm trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn (1997). Từ năm 1997 đến năm 2002,

Vườn Quốc gia Ba Bể chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Nông Nghiệp & Phát

triển Nông thôn. Đến cuối năm 2002, VQG Ba Bể được giao cho UBND tỉnh

Bắc Kạn quản lý (Quyết định số 51/2002/QĐ-TTg ngày 17/4/2002 của Thủ

tướng Chính phủ v/v chuyển VQG Ba Bể thuộc Bộ NN và PTNT về UBND

tỉnh Bắc Kạn quản lý).

Vườn quốc gia Ba Bể nằm trong tiểu vùng khí hậu của vùng Đông Bắc

Việt Nam. Một năm chia làm 2 mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa khô). Mùa mưa

kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến thàng 3 năm sau.

Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 C.

VQG Ba Bể (Bắc Kạn) có 1.281 loài thực vật thuộc 162 họ, 672 chi,

trong đó có 16 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam 2007 gồm: cấp EN

(nguy cấp) có 6 loài, cấp VU (cấp sẽ bị nguy cấp) có 10 loài. Có 9 loài được

27

ghi trong danh lục đỏ của IUCN 2009, gồm cấp EN (Nguy cấp) có 3 loài, cấp

VU (Sắp nguy cấp) có 2 loài, cấp NT (sắp bị đe dọa) có 1 loài cấp LC (ít được

biết đến) có 3 loài. Có 11 loài thuộc Nghị định 32 CP/2006, trong đó nhóm IA

có 1 loài, còn lại 10 loài thuộc nhóm IIA. Đây là khu vực được các nhà khoa

học trong và ngoài nước đánh giá là trung tâm đa dạng và đặc hữu cao nhất về

loài lan không chỉ của Việt Nam mà còn của cả toàn vùng Đông Nam Á. Ở

đây có 182 loài lan, một số loài lan là đặc hữu, chỉ phát hiện thấy duy nhất ở

vùng này.

2.4.2. Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ

Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ được thành lập theo Quyết

định 1804/QĐ-UB, ngày 01/9/2003 và đi vào hoạt động từngày 01/12/2004

theo Quyết định số2033/QĐ-UB, ngày 12/10/2004 của UBND tỉnh Bắc Kạn.

Khu bảo tồn có tổng diện tích là 14.772 ha nằm trên địa bàn các xã

Kim Hỷ, Lương Thượng, Lạng San, Ân Tình, Côn Minh huyện Na Rì và xã

Cao Sơn, VũMuộn huyện Bạch Thông. Trong đó, vùng lõi Khu bảo tồn chia

làm 2 phân khu bảo vệ: Phân khu bảo vệnghiêm ngặt: 11.505 ha, phân khu

phục hồi sinh thái: 3.267 ha.

Đặc điểm hệsinh thái Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ:

- Hệ thực vật rừng: có 798 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 541 chi

và 69 họ, trong đó có các loài thực vật quý hiếm có giá trịcao được ghi trong

sách đỏViệt Nam như: Nghiến, Trai lý, Đinh, Lát hoa, Du Sam núi đá, Thiết

sam giả, Lan kim tuyến… Đặc biệt là 2 loài Du sam núi đá

(Keteleeria davidiana), Thiết sam giả (Pseudotsuga sinensis) phân bố

trên đỉnh núi đá vôi hiện nay số lượng quần thể còn rất ít.

- Hệ động vật: Do đặc điểm vị trí địa lý khu vực Khu bảo tồn

thiên nhiên Kim Hỷthuộc vùng cao của hai huyện Na Rì và Bạch Thông, diện

tích rừng tựnhiên còn nhiều, đặc biệt là rừng trên núi đá vôi ít bị tác động

28

chiếm tỷ lệ lớn, tập trung trong cánh cung Ngân Sơn. Cùng với địa thế núi đá

hiểm trở, là nơi cưtrú của nhiều loài động vật rừng phong phú về thành phần

và số lượng. Bước đầu xác định trong Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ có

386 loài, 108 họ, 29 bộ của 4 lớp động vật. Trong đó đã phát hiện được 56

loài động vật có tên trong sách đỏViệt Nam và Nghị định số32 của Chính

phủ như: Voọc đen (Trachypithercus francoisi francoisi), Vượn đen

tuyền (Hylobates concolor nasutus) (Nomascus nasutus), Voọc mũi hếch

(Rhinophithecus avunculus), Cu li lớn, Cu li nhỏ, Gấu ngựa, Gấu chó,

Hổ, Báo, Hươu xạ (Moschus berezovskii), Trĩ đỏ, rùa hộp, Rắn hổ mang…

có giá trị bảo tồn nguồn gen rất cao, đang được sựquan tâm nghiên cứu của

nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới.

2.4.3. Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc

Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc có diện tích là: 1.788 ha,

diện tích vùng đệm 7.508 ha. Diện tích rừng tự nhiên chiếm trên 92% tổng

diện tích KBT, diện tích rừng ở đây chủ yếu nằm trên núi đá. Khu bảo tồn

loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc nằm chủ yếu trên địa phận hai thôn Nà Dạ

và thôn Bản Khang xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

Về thực vật: KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc là hệ sinh thái rừng

kín thường xanh cây lá rộng ẩm cận nhiệt đới ở phía Bắc Việt Nam có giá trị

bảo tồn cao. Tại đây có nhiều loài cây gỗ quý, các loại cây có giá trị dược

liệu, các loài đặc hữu như: Các loài gỗ quý Thông pà cò (Pinus

kwangtungensis) thường tập trung trên các đỉnh núi KBT, Chò đãi

(Annamocarya sinensis) thường tập trung dọc các khe suối ẩm và thung

lũng, Huỳnh đường (Dysoxylum loureiri), Nghiến (Excentrodendron

tonkinense) là loài đặc hữu của miền Bắc Việt Nam và miền Nam của Trung

Quốc, đây cũng là loài chiếm ưu thế ở các sườn núi đá vôi khu vực Nam

Xuân Lạc. Các loài cây dược liệu quý Mã hồ (Mahonia nepalensis), Bát giác

29

liên (Podophyllum tonkinense)..., Hoàng tinh cách (Disporopsis longifolia)

phân bố rải rác trong KBT. Các loài Lan hài: Tiên hài (Paphiopedilum

hirsutissimum), Hài mạng đỏ tía (Paphiopedilum micranthum), Lan kim

tuyến (Anoectochilus setaceus)..., và Tuế (Cycas balansae) cũng là những

đối tượng quan trọng của công tác bảo tồn trong khu vực.

30

PHẦN 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA

3.1. Nội dung

3.1.1. Nội dung 1: Điều tra, thu thập và lưu giữ một số giống lan quý tại

Bắc Kạn.

- Điều tra thu thập mẫu vật tại 3 điểm:

+ Khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể

+ Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ huyện Na Rì

+ Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn

3.1.2. Nội dung 2: Phân loại và nhân giống bằng tách thân một số giống

lan quý tại Bắc Kạn

- Phân loại để lựa chọn những loài quý, có giá trị kinh tế cao và có khả

năng nhân giống.

- Nhân giống bằng tách thân

- Thời gian: Từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 12 năm 2018.

- Địa điểm: Thí nghiệm được tiến hành ở Trạm Nghiên cứu Đồn Đèn xã Khang Ninh

huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn

3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Điều tra, thu thập và lưu giữ một số giống lan quý tại Bắc Kạn.

a. Điều tra thực địa

Lập phiếu điều tra phỏng vấn người dân sống vùng đệm

Điều tra thực địa, tìm hiểu đặc điểm sinh học và điều kiện sống tự

nhiên của các loài lan hiện có tại Bắc Kạn

Kế thừa tài liệu điều tra thực vật của các nhà khoa học đã khảo sát tại

Bắc Kạn trong những năm trước.

31

b. Phòng thí nghiệm:

Định tên khoa học dựa trên các đặc điểm hình thái của các cơ quan sinh

dưỡng, các cơ quan sinh sản....(bộ phận thân, rễ, lá, cụm hoa và khối phấn)

Tra cứu định loại, bảng mô tả và so sánh hình ảnh với các tài liệu

c. Tại vườn:

Theo dõi sự sinh trưởng và phát triển các loài thu thập được

Việc tuyển chọn một số loài lan rừng có triển vọng để làm cơ sở ban

đầu phục vụ cho công tác nhân giống, dựa vào các tiêu chí sau:

+ Các loài lan có hoa đẹp, được đại đa số người trồng hoa ưa chuộng

hiện đang bị khai thác với số lượng lớn.

+ Các loài có hoa to, lâu tàn

+ Các loài đặc hữu quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao

3.3.2. Nhân giống bằng tách thân một số giống lan quý tại Bắc Kạn

+ Bước 1: Dùng tay tách hết các giá thể cũ còn bám vào gốc cây.

+ Bước 2: Dùng que (như đũa) chọc vào giữa các khe cho giá thể còn

bám lại xung quanh bong ra hết.

+ Bước 3: Dùng dao cắt thật sắc, đổ cồn vào dụng cụ và đốt trước khi

cắt để phòng lây lan nấm bệnh. Cắt bỏ sạch những rễ đã hư thối.

+ Bước 4: Xác định điểm cắt tách. Mỗi đơn vị tách ra nên có từ 3 giả

hành trở lên, hướng tách ra phải còn đủ mắt ngủ có thể phát triển thành chồi

non. Đánh dấu điểm cần cắt trước sau đó mới tiến hành cắt. Đơn vị lan mới

tách ra, cần vệ sinh sạch sẽ, cắt bỏ rễ thối, hỏng, xả sạch dưới vòi nước, để

ráo, bôi vôi vào vết cắt.

+ Bước 5: Là khâu trồng lại: trồng chậu, ghép bảng rớn

3.3.3.Các chỉ tiêu theo dõi

- Chiều cao cây (cm): Đo từ gốc đến phần cao nhất của cây.

- Số lá/cây: Tổng số lá xanh trên cây

32

Tổng số lá các cây theo dõi - Số lá trung bình (lá) = Tổng số cây theo dõi - Màu sắc lá (cảm quan): xanh, xanh nhạt, xanh đậm.

- Số nhánh/cành

Số nhánh trung bình =

Tổng số nhánh Tổng số cây - Màu sắc hoa, mùi hương

- Đánh giá sâu bệnh hại:

Đánh giá theo cấp hại: theo Tiêu chuẩn 10TCN 224-2003 Nông nghiệp

Việt Nam.

Bệnh hại Sâu hại

Cấp 1 < 1% diện tích lá Cấp 0: Không bị hại

Cấp 3 1-5% diện tích lá Cấp 1: Nhẹ (Vết đục, cắn xuất hiện rải rác)

Cấp 5 5-25% diện tích lá Cấp 2: Trung bình (<1/3 số lá trên cây)

25-50% diện tích Cấp 7 Cấp 3: Nặng (> 1/3 số lá trên cây) lá

Cấp 9 >50% diện tích lá

3.3.4. Phương pháp xử lý số liệu:

Số liệu được xử lý thống kê toán học trên máy tính theo chương trình

Excel 2007.

33

PHẦN 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả thực hiện các nội dung

4.1.1. Nội dung 1: Điều tra, thu thập và lưu giữ một số giống lan quý tại

Bắc Kạn.

Chúng tôi đã tiến hành đi điều tra, khảo sát, thu thập thông tin và thu

thập hoa lan tại 3 địa điểm gồm: Vườn Quốc gia Ba Bể, Khu Bảo tồn thiên

nhiên Kim Hỷ huyện Na Rỳ và Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc

huyện Chợ Đồn, kết quảđược tổng hợp tại bảng 01:

Bảng 4.1: Kết quả điều tra, thu thập các loại hoa lan của đề tài

Địa điểm

STT

Loài lan

Vườn Quốc gia Ba Bể

Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ

Lan hoàng thảo kèn Phi Điệp tím, vàng Trầm tím Lan Đai châu Lan long tu Lan đuôi cáo

X X X X X X X X X X X X X X X 15

X X X X X X X X X X X 11

Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc X X X X X X x X X X X X X 13

1 Dáng hương thơm 2 3 4 5 6 7 8 Hoàng thảo kim thoa 9 Lan hoàng lạp 10 Lan van đa 11 Lan da báo 12 Vảy rồng 13 Tam bảo sắc 14 Lan kiều 15 Lan hạc vĩ 16 Hoàng thảo đùi gà 17 Kiếm lô hội Tổng Nhận xét: Qua bảng 01 ta thấy số lượng và chủng loại hoa lan như sau:

+ Khu vực vườn Quốc gia Ba Bể huyện Ba Bể có 15 loài

34

+ Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ huyện Na Rỳ có 11 loài

+ Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn có 13 loài.

……………………………………………………………………..

* Tiêu chí tuyển chọn các loài lan quý:

Thực vật rừng quý hiếm là những loài có giá trị đặc biệt về khoa học,

kinh tế và môi trường, có số lượng, trữ lượng ít hoặc đang có nguy cơ bị diệt

chủng. Dựa theo tính chất và mức độ quý, hiếm của thực vật rừng, Nghị định

số 18/HĐBT đã sắp xếp chúng thành 2 nhóm trong Danh mục thực vật rừng

quý, hiếm, cụ thể là: Nhóm I: gồm những loài thực vật (IA) đặc hữu, có giá trị

đặc biệt về khoa học và kinh tế, có số lượng, trữ lượng rất ít hoặc đang có

nguy cơ diệt chủng. Nhóm II: gồm những loài thực vật có giá trị kinh tế cao

đang bị khai thác quá mức, dẫn đến cạn kiệt và có nguy cơ diệt chủng. Theo

Nghị định số 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ: về tiêu chí xác định và chế độ

quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ thì

các Tiêu chí xác định loài được ưu tiên bảo vệ.

Theo đó, Việc tuyển chọn một số loài hoa lan quý dựa vào các tiêu

chí sau:

+ Loài lan có hoa đẹp, lâu tàn, kết hợp với phiếu điều tra được người

trồng lan ưa chuộng và tham khảo các tài liệu

+ Các loài đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng cao

+ Loài có giá trị kinh tế cao và có khả năng nhân giống

Kết quả đã chọn được 04 loài lan đang được ưa chuộng và có thể nhân

giống bằng phương pháp tách thân gồm: Hoa lan Phi điệp tím, hoa lan Trầm,

hoa lan Kèn, hoa lan Long tu (ngoài ra chúng tôi còn nhân một số loài lan

khác như; hạc vỹ, da báo, đùi gà, ...)

* Các loài lan thu thập đưa về vườn lưu giữ được chúng tôi chăm sóc

theo quy trình kỹ thuật của TG Nguyễn Xuân Linh:

35

- Tưới nước: Vào mùa nắng tưới 2lần/ngày vào lúc 9 giờ sáng và vào

lúc 3 giờ chiều (trừ những ngày có mưa tưới 1 lần).

- Bón phân: Sử dụng phân phun qua lá. Đối với lan 6 -12 tháng, phun

phân NPK loại 30-15-10 nồng độ 2000 ppm (2g/l) định kỳ 7 ngày/lần

- Sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ: Bệnh hại lan có nhiều loại do

nấm và vi khuẩn trong đó phải kể đến bệnh phổ biến đốm lá, thối nõn, thối rễ

có thể dùng Boóc đô hoặc Zinep. Ruồi đục lá, bọ trĩ, rệp son có thể dùng

Vofatoc, Dipterex để phun phòng trừ. Định kỳ phun 7 ngày/lần..

Kết quả theo dõi khả năng sinh trưởng của các loài lan thu thập được

nuôi trồng được thể hiện bảng 03

4.1.1.1. Đặc điểm hình thái của các giống phong lan bản địa

Kết quả tổng hợp về đặc điểm hình thái của các giống phong lan bản

địa được trình bày ở bảng 03 :

Bảng 4.2: Đặc điểm hình thái của các loài lan hài và phong lan bản địa

TT

Loài

Loại hình thân

Khả năng phân nhánh

Dáng hương thơm Lan kèn Phi Điệp tím Trầm tím Lan Đai châu Lan long tu Lan đuôi cáo Hoàng thảo kim thoa Lan hoàng lạp

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Lan van đa 11 Lan da báo 12 Vảy rồng 13 Tam bảo sắc 14 Lan kiều 15 Lan hạc vĩ

Chiều cao cây (cm) 42 28 37 21 22 34 36 46 23 53 34 16 42 35 63

Đơn thân Đa thân Đa thân Đa thân Đơn thân Đa thân Đơn thân Đa thân Giả hành Dơn thân Đơn thân Giả hành Đơn thân Đa thân Đa thân

ít Trung bình Nhiều Nhiều ít Nhiều ít Nhiều Trung bình ít ít Trung bình ít Trung bình Nhiều

16 Hoàng thảo đùi gà

45

Đa thân

Nhiều

17 Kiếm lô hội

67

Củ giả

Nhiều

Hình dạng thân Hình trụ Hình trụ Hình trụ Hình trụ Hình trụ Hình trụ Hình trụ Hình trụ Củ tròn Hình trụ Trụ Củ tròn Trụ Trụ Tròn Tròn hơi dẹt Quả trám

36

Nhận xét: Qua bảng 03 ta thấy: Đặc điểm thân của các giống lan thu

thập vô cùng đa dạng, thân cây có thể dạng đơn thân như các loài lan (Tam

bảo sắc, Đai châu, Đuôi cáo...) Dạng đa thân như một số loài lan (Phi điệp,

long tu, lan trầm, lan kèn...) loại hành giả như một số loài lan (Vảy rồng, lan

kiều...), Loại đơn thân khả năng phân nhánh ít như lan đai châu, đuôi cáo...

Ngược lại đối loại lan đa thân, giả hành, củ giả thì khả năng nhân nhánh của

chúng rất mạnh như lan phi điệp, lan trầm, lan long tu...

4.1.1.2 Đặc điểm hình thái lá và hoa các loài phong lanbản địa

Kết quả tổng hợp về đặc điểm hình thái của lá và thời gian ra hoa của

các giống phong lan bản địa được trình bày ở bảng 04:

Bảng 4.3: Đặc điểm hình thái lá và thời gian ra hoa của các loài phong

lan bản địa

Thời

Hình

Vị trí ra

Dạng

Mùi

TT

Loài

gian nở

dạng lá

hoa

hoa

thơm

hoa

Chùm

Tháng

Thuôn

1 Dáng hương thơm

Nách lá

Thơm

dài

8-9

dài

Tháng

Thơm

Thuôn

2 Lan kèn

Nách lá

Đơn

3-4

nhẹ

dài nhọn

Tháng

Thơm

Trứng

3

Phi Điệp tím

Đốt thân

Đơn

4-5

mát

ngược

Trứng

4 Trầm tím

Đốt thân

Đơn

Tháng 5

Thơm

ngược

Tháng

Rất

5 Lan Đai châu

Thon dài

chùm

1-2

thơm

Tháng

Thơm

Trứng

6 Lan long tu

Đốt thân

Đơn

2-3

mát

ngược

Chùm

Tháng

7 Lan đuôi cáo

Thon dài Nách lá

Thơm

dài

6-7

8 Hoàng thảo kim

Thôn dài Gần ngọn

chùm

Tháng

Thơm

37

Thời

Hình

Vị trí ra

Dạng

Mùi

TT

Loài

gian nở

dạng lá

hoa

hoa

thơm

hoa

thoa

nhọn

3-4

Tháng

Không

Hoa

9 Lan hoàng lạp

Thôn dài Gần ngọn

4-5

thơm

chùm

Trục

10 Lan van đa

Trụ tròn Nách lá

Tháng 7

thơm

thân

Thơm

Thuôn

11 Lan da báo

Nách lá

Chùm

Tháng 4

nồng

trái xoan

mùi quế

Chùm

Tháng

Ít thơm

12 Vảy rồng

Thuôn

Củ giả

dài

6-7

Thuôn

Chùm

Tháng

Thơm

13 Tam bảo sắc

Nách lá

dài

dài

5-6

Thuôn

Chùm

Tháng

Ít thơm

14 Lan kiều

Đốt ngọn

tròn

dài

4,5, 7

Thuôn

Tháng

Không

15 Lan hạc vĩ

Đốt thân

đơn

nhọn

3-4

thơm

Lá thuôn

Tháng

16 Hoàng thảo đùi gà

Nách lá Cụm nhỏ

Thơm

hình giải

3-4

Thuôn

Chùm

Tháng

Ít thơm

17 Kiếm lô hội

Gốc củ

cứng

dài

3-4

Nhận xét: Nhìn vào bảng 04, chúng ta thấy: Thời gian ra hoa của các

loài hoa lan bản địa tập trung vào vụ xuân-hè, riêng loài lan Dáng hương là ra

hoa vào vụ hè - thu. Mùi của hoa đại đa số là không thơm hoặc ít thơm, chỉ có

Đai châu là rất thơm, một số loa lan như lan Da Báo, Hoàng thảo đùi gà, trầm,

đuôi cáo ... là có mùi thơm, một số loài không có mùi thơm như; Hạc vỹ,

Hoàng lạp

38

4.1.1.3. Tình hình sâu bệnh hại

Qua theo dõi chúng tôi thấy, sâu bệnh là một vấn đề ảnh hưởng đến quá

trình sản xuất, nhân giống và nuôi trồng hoa lan. Sâu bệnh rất dễ phát sinh

nếu môi trường không thuận lợi, điều kiện chăm sóc kém, không được cung

cấp đủ chất dinh dưỡng.

Tại Đồn Đèn cây lan thu thập về nuôi trồng tại đây thường gặp 02 loại

bệnh sau:

+ Bệnh không lây truyền: Tức là bệnh không lan từ cây bệnh sang cây

khác. Xuất hiện những bệnh như: Thối nõn, thối rễ và đốm đen ở trên lá lan.

+ Bệnh truyền nhiễm: Bệnh này do các loại nấm, vi khuẩn và vi rút gây

nên. Các bệnh thường gặp như: bệnh thối mềm lá do vi khuẩn Erwinia

carotovara xâm nhập vào vết thương cơ giới gây nên.

Lan không chỉ bị các loại bệnh gây hại mà nó còn bị một số loài sâu cắn

phá. Lan thường bị các loại sâu hại thân lá như: sâu róm và sên...

Nhưng do đề tài chăm sóc đúng theo quy trình, thường xuyên phun

phòng sâu, bệnh định kỳ nên đã hạn chế sâu bệnh.

4.1.2 Nội dung 2: Nhân giống bằng tách thân một số giống lan bản địa

Kết quả nhân giống bằng phương pháp tách thân, chồi (Ki) được 10

loài với 154 giò sau:

Bảng 4.4: Kết quả nhân giống bằng phương pháp tách thân

Loài lan

STT Lan Kèn 1 Phi Điệp tím, vàng 2 Trầm tím 3 Lan Long tu 4 Lan Hoàng lạp 5 Lan da Báo 6 Vảy rồng 7 Lan Kiều 8 9 Lan Hạc vĩ 10 Hoàng thảo đùi gà

Tổng

Đơn vị tính Giò Giò Giò Giò Giò Giò Giò Giò Giò Giò

Số lượng 9 15 17 21 16 18 12 15 19 12 154

39

Nhận xét : Qua bảng 05 chúng ta thấy số lượng hoa lan được tách thân

rất khác nhau, không đồng đều, số lượng nhiều nhất là hoa lan Long tu 21 giò

và ít nhất là hoa lan Kèn9giò, còn lại giao động từ 12 đến 19giò.

4.1.3. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống phong lanbản địa.

Qua theo dõi đặc điểm sinh trưởng và phát triển các loài hoa lan, chúng

tôi tổng hợp kết quả tại bảng 06 :

Bảng 4.5: Khả năng sinh trưởng của một số loài lan rừng nuôi trồng và

lưu giữ tại Đồn Đèn sau 5 tháng

Các chỉ số sau 5 tháng đưa vào nuôi trồng (cm)

Các chỉ số khi bắt đầu đưa vào nuôi trồng, tháng 7/2018 (cm)

TT

Loài lan

Tỷ lệ sống (%)

Chiều dài lá

Chiều dài lá

Chiều cao cây

Chiều rộng lá

Chiều cao cây

Chiều rộng lá

1 Dáng hương thơm

29,5

3,11

31,1

3,23

84,3

34,7

38,4

28,2

4,9

30,6

5,3

1,7

1,6

81,3

2 Lan kèn

43,6

10,5

48.4

11.0

3,4

3,2

92.6

3 Phi Điệp tím

21,6

12,1

24,9

14,1

3,5

3,2

94,2

4 Trầm tím

13,2 29,3 22,3

14,6 5,5 12,4

14,6 33,3 25,8

15,2 6,1 13,6

4,5 2,6 2,5

4,1 2,3 2,3

82,6 87,3 91,4

thảo kim

2,1

1,9

81,5

8

46,4

5,2

51,9

5,74

5 Lan Đai châu 6 Lan long tu 7 Lan đuôi cáo Hoàng thoa

26,4 35,6 22,1

8,1 2,3 28,3

30,2 40,6 27,5

8,5 2,5 32,6

2,4 1,9 4,1

2,2 1,7 3,8

89,7 94,6 92,2

9 Lan hoàng lạp 10 Lan van đa 11 Lan da báo

5,7

2,8

6,3

3,0

1,5

1,3

86,6

12 Vảy rồng

24,5 28,6 51,8 32,7

17,3 11,2 3,9 4,1

26,6 30,8 58,3 38,3

21,1 11,9 4,2 4,4

3,20 4,7 2,3 1,6

2,9 4,2 2,1 1,5

90.4 88,1 89,9 85,8

13 Tam bảo sắc 14 Lan kiều 15 Lan hạc vĩ 16 Hoàng thảo đùi gà

46,2

40,1

49,6

42,8

4,0

3,8

98,0

17 Kiếm lô hội

40

Nhận xét: Qua bảng 06 ta thấy sự sinh trưởng của các loài lan khác

chậm nhưng tỷ lệ sống khá cao, hầu hết là trên 80%, trong đó tỷ lệ sống cao

nhất là Kiếm lô hội 98%, thấp nhất là lan kèn 81,3 %.

41

Phần 5

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

5.1 Kết luận

Đề tài: Điều tra,thu thập một số loài lan rừng quý, có giá trị kinh tế tại

Bắc Kạn thực

- Thu thập, lưu giữ 17 loài lan rừng quý tạiBắc Kạn, trong đó

+ Khu vực vườn Quốc gia Ba Bể huyện Ba Bể có 15 loài

+ Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ huyện Na Rỳ có 11 loài

+ Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn có 13 loài.

- Đã đánh giá được đặc điểm sinh trưởng và phát triển, thời gian ra

hoa,vị trí ra hoa của các loài lan bản địa.

- Nhân giống 10 loài lan bằng phương pháp tách thân.

- Kết quả nhân giống bằng phương pháp tách thân, chồi (Ki) được 10

loài với 154 giò sau:

2. Đề nghị

1. tiếp tục chăm sóc các loài lan thu để phục vụ cho công tác nhân

giống phát triển sản xuất hoa lan tại Bắc Kạn.

2. Tiếp tục nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật đối với các loài lan

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Văn Chương, Trịnh Văn Thịnh (1991), Từ điển bách khoa Nông

I. Tài liệu tiếng Việt

2. Dự án phát triển hoa cây và cây kiểng tại thành phố Hồ Chí Minh

Nghiệp, Trung tâm Quốc gia biên soạn, Hà Nội.

(14/7/2005), Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố Hồ Chí

3. Phan Thúc Huân (1989), Hoa lan cây cảnh và vấn đề phát triển sản

Minh

xuất kinh doanh xuất khẩu, Nhà xuất bản Nông nghiệp thành phố Hồ

4. Phan Thúc Huân (1997), Hoa lan nuôi trồng và kinh doanh, Nhà xuất bản

Chí Minh, tr 12-14-34.

5. Nguyễn Xuân Linh (2002), Điều tra thu thập đánh giá bảo tồn nguồn gen

Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, tr 55.

6. Nguyễn Xuân Linh (2002), Kỹ thuật trồng hoa cây cảnh, Nhà xuất bản

hoa cây cảnh khu vực miền Bắc Việt Nam, tr 9-150.

7. Nguyễn Công Nghiệp (2000), Trồng hoa lan, Nhà xuất bản trẻ thành phố

Nông nghiệp, tr 92-108.

8. Trần Duy Quý (2005), Sổ tay người Hà Nội chơi lan, Nhà xuất bản Nông

Hồ Chí Minh, tr 17-268.

9. Lê Lương Tề, Vũ Triệu Mân (1998), Giáo trình bệnh cây Nông nghiệp,

nghiệp, Hà Nội.

10. Nguyễn Thiện Tịch và các tác giả (1996), Kỹ thuật nuôi trồng hoa lan,

Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

11. Hà Thị Thúy và cộng sự (2007), ”Nghiên cứu đa dạng di truyền ở mức

Nhà xuất bản Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, tr 31.

hình thái của tập đoàn lan Hồ Điệp (Phalaenopsis) phục vụ công tác tạo

giống lan Hồ Điệp lai ở Việt Nam”, Tạp chí nông nghiệp và PTNT số

12. Chí Thiện, Hội hoa xuân với phong trào nuôi trồng hoa lan, hoa cảnh,

18/2007, tr. 15 - 21

13. Hoàng Ngọc Thuận (2005), Bài giảng kỹ thuật trồng lan Hồ Điệp trong

12/2004.

14. Đào Thanh Vân, Đặng Thị Tố Nga (2008), Giáo trình hoa lan, Nhà xuất

chậu, Trường Đại học Nông nghiệp, Hà Nội.

15. Ngô Quang Vũ (2002), “Những con số hấp dẫn về thị trường lan cắt cành

bản Nông nghiệp, Hà Nội.

16. Nguyễn Quang Thạch và cs (2005), Kỹ thuật chọn tạo, nhân giống và

thế giới, Hoa cảnh, T10.

17. Nguyễn Quang Thạch và cộng sự (2008), ”Quy trình kỹ thuật nuôi trồng

nuôi trồng lan Hồ Điệp, Nhà xuất bản Nông Nghiệp.

cây Địa lan (Cymbidium spp) cấy mô”, Tạp chí nông nghiệp và PTNT số

8/2008, tr. 18 - 32.

18. Croh, C.J (1984), Koot productiow in orchids, orchicl - Review, p 88-89.

II. Tài liệu tiếng Anh

PHỤ LỤC

MỘT SỐ HÌNH ẢNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI