ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

TRẦN THỊ THU HIỀN

MỘT SỐ DƯỢC LIỆU

CÓ HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN, CHỐNG VIÊM

VÀ ỨNG DỤNG TRONG MỸ PHẨM CÓ HOẠT TÍNH

Hà Nội – 2022

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

Người thực hiện: TRẦN THỊ THU HIỀN

MỘT SỐ DƯỢC LIỆU

CÓ HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN, CHỐNG VIÊM

VÀ ỨNG DỤNG TRONG MỸ PHẨM CÓ HOẠT TÍNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

(NGÀNH DƯỢC HỌC)

Khóa: Người hướng dẫn: QH.2017Y GS.TS. NGUYỄN THANH HẢI

Hà Nội - 2022

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn thầy hướng dẫn tôi là GS.TS Nguyễn Thanh Hải, người thầy đã tận tâm hướng dẫn và dạy bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này. Thầy đã cho tôi rất nhiều ý tưởng làm khóa luận cũng như định hướng sau này.

Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trường Đại học Y – Dược, ĐHQGNH. Các thầy cô đã truyền đạt, trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian tôi học tập ở mái trường này.

Tôi cũng xin cảm ơn các phòng ban trong Trường đại học Y – Dược, phòng công tác sinh viên, phòng đào tạo, Đại học Y – Dược, gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp.

Xin kính chúc các thầy cô, gia đình và toàn thể các bạn sức khỏe và hạnh

phúc.

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2022

Sinh viên

Trần Thị Thu Hiền

CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT

ALA AR CAM CRH DNA EC ECG EGC EGCG IL-1α IL-6 IL-8 MAL NF – kappa B

PABA PDT POMC TauBr TauCl : Axit Aminolevulinic : Androgen Receptor : Complementary And Alternative Medicines : Corticotropin-Releasing Hormone : Axit Deoxyribonucleic : Epicatechin : Epicatechin-3-Gallate : Epigallocatechin : Epigallocatechin-3-Gallate : Interleukin 1α : Interleukin 6 : Interleukin 8 : Axit Methyl-Aminolevulinic : Nuclear Factor Kappa Light Chain Enhandcer Of Activated B. : Axit Para-Aminobenzoic : Photo Dynamic Therapy : Proopiomelanocortin : Taurine Bromamine : Taurine Chloramine

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ ..........................................................................................................................................1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC GIẢI PHẪU DA .............................................................3

1.1. CẤU TRÚC GIẢI PHẪU CỦA DA .......................................................................................3

1.1.1.

Lớp biểu bì. ......................................................................................................................3

1.1.2.

Lớp chân bì (lớp hạ bì) ...................................................................................................4

1.1.3.

Lớp mô dưới da ...............................................................................................................5

Chương 2: TỔNG QUAN VỀ MỤN TRỨNG CÁ VÀ SINH LÝ BỆNH MỤN TRỨNG CÁ ..........6

2.1. MỤN TRỨNG CÁ ........................................................................................................................6

2.1.1. Đại cương về mụn trứng cá ..................................................................................................6

2.1.2. Các nguyên nhân hình thành mụn.......................................................................................6

2.2. SINH LÝ TUYẾN BÃ NHỜN VÀ CƠ CHẾ HÌNH THÀNH MỤN ........................................9

2.2.1.

Sinh lý tuyến bã nhờn .....................................................................................................9

2.2.2. Quá trình viêm và hình thành nhân mụn .................................................................. 11

Chương 3: CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ MỤN TRỨNG CÁ ................................................. 13

3.1. BÔI NGOÀI DA/ THUỐC DÙNG TẠI CHỖ ........................................................................ 13

3.1.1. Retinoids ............................................................................................................................. 14

3.1.2. Thuốc kháng sinh ............................................................................................................... 15

3.1.3. Các phương pháp dùng ngoài da khác ............................................................................. 16

3.2. THUỐC DÙNG TOÀN THÂN ................................................................................................ 19

3.2.1. Retinoids ............................................................................................................................. 19

3.2.2. Thuốc kháng sinh ............................................................................................................... 20

3.2.3. Hormone ............................................................................................................................. 21

3.2.4. Các phương pháp điều trị khác ........................................................................................ 21

3.3. ĐIỀU TRỊ BỔ SUNG VÀ THAY THẾ (COMPLEMENTARY AND ALTERNATIVE MEDICINES – CAM) ...................................................................................................................... 22

3.3.1. Các loại thực vật có hoạt tính kháng khuẩn, chống viêm. .............................................. 23

3.3.2. Khoáng chất:....................................................................................................................... 23

3.3.3. Peptide kháng khuẩn: ........................................................................................................ 23

3.3.4. Resveratrol .......................................................................................................................... 24

3.3.5. Taurine Bromamine (TauBr): .......................................................................................... 25

3.4. SỬ DỤNG TÁC NHÂN VẬT LÝ ............................................................................................ 25

3.4.1. Lấy nhân mụn: ................................................................................................................... 25

3.4.2. Liệu pháp Cryoslush .......................................................................................................... 26

3.4.3. Phương pháp áp lạnh ......................................................................................................... 26

3.4.4. Điện phân ............................................................................................................................ 26

3.4.5. Corticosteroid tiêm vào vùng tổn thương mụn................................................................ 26

3.4.6. Phương phát điều trị bằng quang học .............................................................................. 27

3.5. CÁC LIỆU PHÁP KẾT HỢP .................................................................................................. 27

Chương 4: CÁC DƯỢC LIỆU KHÁNG KHUẨN CHỐNG VIÊM VÀ KHẢ NĂNG ĐIỀU TRỊ MỤN CỦA CHÚNG ............................................................................................................................. 29

BÀN LUẬN ........................................................................................................................................... 40

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ................................................................................................................. 43

DANH MỤC CÁC HÌNH

TÊN HÌNH TRANG

STT Hình 2.1 Hình 2.2 Hình 3.1 Nguyên nhân hình thành mụn trứng cá Cơ chế bệnh sinh mụn trứng cá Các phương pháp điều trị mụn trứng cá 8 12 13

DANH MỤC CÁC BẢNG

TRANG

STT Bảng 4.1 36 - 39

TÊN BẢNG Một số thử nghiệm lâm sàng cho kết quả dương tính

ĐẶT VẤN ĐỀ

Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu về chăm sóc sắc đẹp thì ngày càng cao. Do nhu cầu lớn, và con người ngày nay thì coi trọng tính thẩm mỹ nên Mỹ phẩm vẫn đang là một ngành được đánh giá cao về mặt doanh thu. Các sản phẩm mỹ phẩm thì ngày càng nhiều và đa dạng, trong đó những sản phẩm có khả năng điều trị mụn thì rất cần thiết. Mụn trứng cá (Acne Vulgaris) vẫn là một loại bệnh cần được điều trị, đặc trưng bởi phản ứng viêm, hình thành nên các nốt mụn đỏ, sần mọc ở mặt, cổ, lưng,... tuy không ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng người bệnh nhưng sau quá trình điều trị thì mụn sẽ để lại thâm hoặc sẹo, ảnh hưởng đến thẩm mỹ.

Mụn thường xuất hiện nhiều ở tuổi dậy thì kéo dài đến tuổi trưởng thành, và luôn có một tỷ lệ mắc nhất định. Mụn trứng cá là một bệnh đa nguyên nhân. Điều trị mụn có rất nhiều cách, tác động vật lý, tác động hóa học, tác động bằng tia lase,… và phổ biết nhất thì vẫn tự điều trị tại nhà bằng cách sử dụng Mỹ Phẩm.

Mỹ phẩm điều trị mụn có nguồn gốc hóa học thì được chứng minh là có nhiều tác dụng phụ, trong khi đó xu hướng hiện nay thì người ta thích dùng các sản phẩm tự nhiên, lành tính, an toàn. Vì vậy, các loại Mỹ phẩm có nguồn gốc thiên nhiên thì ngày càng được ưa chuộng, cùng với đó là rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu các loại thực vật có khả năng kháng khuẩn, chống viêm để có thể ứng dụng chúng trong các sản phẩm trị mụn nhọt.

Trên thế giới các nước có ngành công nghiệp Mỹ phẩm đang phát triển cũng đang rất quan tâm và đầu tư nghiên cứu nhiều loại thực vật để sản xuất Mỹ phẩm. Những loại mỹ phẩm hoạt tính có nguồn gốc thiên nhiên đang là điểm nhấn trong kế hoạch makerting của nhiều nhãn hàng.

Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên thực vật rất lớn, để khai thác được nguồn tài nguyên quý giá này để tìm kiếm các chất có khả năng kháng khuẩn chống viêm và cách sử dụng các cây thuốc này như thế nào để có thể tạo ra những sản phẩm Mỹ Phẩm vẫn là một bài toán lớn. Vì vậy khóa luận “ Một số dược liệu

1

có hoạt tính kháng khuẩn, chống viêm và ứng dụng trong Mỹ phẩm có hoạt tính” được thực hiện với mục đích:

1. Tổng quan các kiến thức về mụn trứng cá (Acne Vulgaris) và điều trị

mụn trứng cá.

2. Tổng hợp một số loại dược liệu được chứng minh là có hoạt tính kháng

khuẩn, chống viêm có khả năng điều trị mụn trứng cá.

3. Đưa ra các vấn đề phát triển sản phẩm Mỹ phẩm có nguồn gốc thiên

nhiên ở Việt Nam.

2

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC GIẢI PHẪU DA

1.1. CẤU TRÚC GIẢI PHẪU CỦA DA

Da là cơ quan lớn nhất của cơ thể, chiếm khoảng 15% tổng trọng lượng cơ thể người trưởng thành. Chức năng của da là bảo vệ cơ thể cùng các cơ quan bên trong khỏi những tác nhân vật lý, hóa học, sinh học bên ngoài, ngăn ngừa sự mất nước từ cơ thể, điều hòa thân nhiệt[1, 2].

Da thì liên tục với lớp màng niêm mạc (mũi,miệng…). Da được cấu tạo gồm 3 lớp, lớp biểu bì, hạ bì (chân bì) và mô dưới da. Độ dày của các lớp khác nhau này thì khác nhau ở từng vùng da trên cơ thể. ví dụ: ở mí mắt thì có lớp biểu bì mỏng nhất (khoảng 0,1mm), trong khi lòng bàn tay, bàn chân có lớp biểu bì dày nhất (đo được khoảng 1,5mm). Lớp hạ bì dày nhất ở lưng: dày gấp 30 – 40 lần lớn biểu bì[1].

1.1.1. Lớp biểu bì.

Lớp ngoài cùng là lớp biểu bì có các tế bào keratinocyte có chức năng tổng hợp keratin, một loại protein dài, giống sợi chỉ với chức năng bảo vệ cơ thể. Lớp biểu bì là một lớp biểu mô lát tầng sừng hóa, được cấu tạo chủ yếu từ 2 loại tế bào là keratinocytes và dendritic cell (tế bào tua gai – trình diện kháng nguyên). Còn lại là số lượng nhỏ các tế bào khác gồm melanocytes, Langerhans cells, Merkel cell.

Lớp biểu bì còn chia thành 4 lớp nhỏ hơn là lớp tế bào đáy (stratum germinativum), lớp vảy (stratum spinosum), lớp tế bào hạt (stratum granulosum), lớp sừng (stratum corneum). Ba lớp dưới là 3 lớp tế bào sống, có nhân còn được gọi là stratum malpighii và rete malpighii (Murphy).

Biểu bì là lớp liên tục đổi mới và phát triển thêm các cấu trúc phụ khác: móng tay, tuyến mồ hôi, tuyến tiết bã nhờn. các tế bào đáy tăng sinh liên tục để liên tục thay thế lớp biểu bì bên ngoài. Biểu bì là một lớp mô động, các tế bào biểu bì liên tục chuyển động không đồng bộ.[1]

3

1.1.2. Lớp chân bì (lớp hạ bì)

Lớp hạ bì được tạo thành từ những loại protein cấu trúc sợi được gọi là collagen. Lớp hạ bì là một lớp tích hợp rất lớn có các dạng sợi và các mô liên kết giúp đáp ứng các kích thích bởi thần kinh và hệ mạch máu, các cấu trúc phụ có nguồn gốc từ biểu bì, nguyên bào sợi, đại thực bào, tế bào mast. Các tế bào có nguồn gốc từ máu khác như: tế bào lympho, tế bào plasma, và các tế bào leukocytes khác, đều đi vào lớp hạ bì để đáp ứng với các khích thích. Lớp hạ bì cung cấp độ mềm dẻo, độ đàn hồi, độ bền của da. Nó bảo vệ cơ thể khỏi chấn thương cơ học, thấm nước, hỗ trợ điều hòa thân nhiệt và bao gồm các kích thích liên quan đến cảm giác.

Lớp biểu bì và lớp hạ bì tương tác với nhau để duy trì đặc tính của cả 2 mô. Hai vùng này cũng hợp tác để phát triển trong quá trình phát triển hình thái của phần tiếp giáp da – biểu bì và phần phụ của biểu bì, hợp tác trong việc sửa chữa, tái tạo da khi vết thương được chữa lành. Lớp hạ bì không trải qua một trình tự biệt hóa rõ ràng song song với sự biệt hóa biểu bì, nhưng cấu trúc và tổ chức của các thành phần mô liên kết có thể dự đoán được một cách phụ thuộc vào độ sâu. Các thành phần nền, bao gồm collagen và mô liên kết đàn hồi, cũng thay đổi tùy theo độ sâu và trải qua quá trình thay đổi và tái tạo ở da bình thường, trong các quá trình bệnh lý và phản ứng với các kích thích bên ngoài.[1]

Các thành phần của lớp hạ bì có nguồn gốc từ trung bì ngoại trừ các dây thần kinh, giống như tế bào melanin, có nguồn gốc từ mào thần kinh. Cho đến tuần thứ sáu của thai kỳ, lớp bì chỉ là một tập hợp các tế bào hình đuôi gai chứa đầy axit-mucopolysaccharid, là tiền thân của nguyên bào sợi. Vào tuần thứ 12, các nguyên bào sợi đang tích cực tổng hợp các sợi lưới, sợi đàn hồi và collagen. Mạng lưới mạch máu phát triển và các tế bào mỡ đã xuất hiện bên dưới lớp hạ bì vào tuần thứ 24. Lớp hạ bì của trẻ sơ sinh bao gồm các bó collagen nhỏ, trong khi lớp hạ bì của người lớn chứa các bó collagen dày hơn. Nhiều nguyên bào sợi có trong lớp hạ bì của trẻ sơ sinh, nhưng một số ít tồn tại ở tuổi trưởng thành. Thành phần chính của lớp hạ bì là collagen, một họ protein dạng sợi với ít nhất 15 loại khác biệt về mặt di truyền trong da người. Một loại protein cấu trúc chính cho toàn bộ

4

cơ thể, collagen được tìm thấy trong gân, dây chằng, lớp lót của xương và lớp hạ bì. Collagen là một chất chống lực tác động lên da . Mặt khác, sợi đàn hồi đóng vai trò duy trì độ đàn hồi nhưng lại làm rất ít để chống lại sự biến dạng và rách da. Các sợi collagen bị phân giải bởi các enzym phân giải protein được gọi là spare collagenases và được thay thế bằng các sợi mới.

Collagen chiếm 70% trọng lượng khô của da. Nguyên bào sợi kết hợp phân tử procollagen, một chuỗi polypeptit hình xoắn . Sau đó, tế bào hình thành các nguyên bào sợi và chúng tập hợp thành các sợi collagen. Các axit amin glysine, hydroxyproline và hydroxylysine làm giàu collagen. Các collagens dạng sợi được tìm thấy trong da bao gồm nhóm chính và là protein phong phú nhất trong cơ thể. Thành phần chính của lớp hạ bì là collagen loại I. Các sợi collagen định vị lỏng lẻo được tìm thấy ở lớp hạ bì nhú và lớp da, trong khi các bó collagen lớn được ghi nhận ở lớp hạ bì dạng lưới. Collagen loại IV được tìm thấy trong vùng màng đáy.[1] 1.1.3. Lớp mô dưới da

Lớp mô dưới da có những tế bào lipocytes sản xuất những tế bào mỡ. Về mặt phôi học, vào cuối tháng thứ năm, các tế bào mỡ bắt đầu phát triển trong mô dưới da. Các tiểu thùy của tế bào mỡ hoặc tế bào mỡ này được ngăn cách bởi vách ngăn dạng sợi được tạo thành từ các mạch máu lớn và collagen. Lớp da này có độ dày khác nhau tùy thuộc vào vị trí da. Được coi là một cơ quan nội tiết, mô dưới da cung cấp cho cơ thể áp lực nổi trên bề mặt chất lỏng và có chức năng như một kho năng lượng. Quá trình chuyển đổi hormone diễn ra trong panniculus, chuyển đổi androstenedione thành estrone nhờ aromatase. Các tế bào mỡ sản xuất leptin, một loại hormone điều chỉnh trọng lượng cơ thể thông qua hoạt động của vùng dưới đồi.[1]

5

Chương 2: TỔNG QUAN VỀ MỤN TRỨNG CÁ VÀ SINH LÝ BỆNH MỤN TRỨNG CÁ

2.1. MỤN TRỨNG CÁ 2.1.1. Đại cương về mụn trứng cá

Trứng cá (acne) là bệnh da thông thường gây nên do tăng tiết chất bã và

viêm của hệ thống nang lông tuyến bã.[3]

Bệnh biểu hiện bằng nhiều loại tổn thương khác nhau như mụn cám, sẩn, sẩn viêm, mụn mủ, mụn bọc , nang... khu trú ở vị trí tiết nhiều chất bã như mặt, lưng, ngực. Khoảng 80% trường hợp trứng cá gặp ở tuổi thanh thiếu niên, đặc biệt giai đoạn dậy thì.[3]

Trứng cá không ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, tuy nhiên, do tồn tại dai dẳng, mụn, sẩn hay sẹo lỗi, sẹo lõm ở vùng mặt ảnh hưởng đến thẩm mỹ và chất lượng cuộc sống người bệnh.[3]

2.1.2. Các nguyên nhân hình thành mụn

Mụn trứng cá được gây ra bởi rất nhiều nguyên nhân, được liệt kê dưới đây: - Sự sừng hóa bất thường: Sự thay đổi hình thái sớm ở trong tuyến bã nhờn là sự bất thường. Các tế bào sừng hóa ở đoạn trên trong đống nang trở nên kết dính, thay vì trải qua quá trình phân hủy và thay thế bình thường thì chúng lại gây tắc và hình thành nhân mụn trong nang nhờn.[4]

- Bã nhờn: các sản phẩm bài tiết giàu lipid của các tuyến bã nhờn có vai trò trung tâm trong quá trình sinh bệnh của mụn trứng cá, cung cấp môi trường cho sự tăng sinh vi khuẩn Propionibacterium Acnes. Bã nhờn gây ra mụn, mức độ tiết bã nhờn ở người trưởng thành là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của bệnh, giảm sản xuất bã nhờn thì có lợi cho điều trị mụn. Mức độ nghiêm trọng của mụn thường tương đương với mức độ sản xuất bã nhờn.[4]

- Hormon: Mụn trứng cá không phải là bệnh rối loạn hormone như thiếu hụt, dư thừa hay mất cân bằng. Tuy nhiên mức độ lưu thông bình thường của hormone androgen từ tuyến thượng thận hoặc tuyến sinh dụng trước khi bắt đầu dậy thì lại có ý nghĩa trong quá trình sinh mụn.[4]

6

- Vi khuẩn: mụn không phải là một bệnh nhiễm trùng, nhưng vi khuẩn có liên quan trực tiếp là P. Acne. Propionibacterium là một loại vi khuẩn kị khí sinh ra do androgen kích thích các tuyến bã nhờn. Vi khuẩn này thường không tìm thấy trên da ở giai đoạn trước dậy thì. Người Ấn Độ thường bị mụn trứng cá có số lượng vi khuẩn P. Acnes cao hơn. Các sản phẩm chuyển hóa của của vi khuẩn giúp hình thành nhân mụn và làm vỡ chúng dẫn đến các tổn thương viêm.[4]

- Di truyền: các tác nhân di truyền đóng vai trò quan trọng quyết định kích thước và hoạt động của tuyến bã nhờn. Nếu bố mẹ có bị trứng cá nặng thì con của họ có nguy cơ bị mụn trứng cá rất cao bao gồm cả mức độ và độ nghiêm trọng. Mụn trứng cá mang tất cả dấu hiệu của một bệnh đa gen.[4]

- Cơ địa của làn da: Các yếu tố gây ra mụn nằm ở chính làn da. Các đặc điểm sinh lý và hình thái của cơ quan đích, nang bã nhờn là những yếu tố quyết định quan trọng nhất của bệnh. Da có mụn dễ thẩm thấu hơn da không có mụn, đơn vị lông mao lớn hơn, các chất có thể xâm nhập qua làn da dễ dàng hơn thông qua các màng che nang. Các phản ứng nang lông có ảnh hưởng lớn hơn ở bệnh nhân mụn trứng cá. Biểu mô nang hoạt động mạnh hơn với các tác nhân vật lý cũng như hóa học.[4]

7

Androgen

Sebocyte Keratinocyte

Sừng hóa nang lông Tăng tiết bã nhờn

Thay đổi mô nang

Sự xâm chiếm của vi khuẩn Propionibacterium Acne

Gây viêm mụn Hình 2.1: Nguyên nhân hình thành mụn trứng cá

Một số yếu tố khác liên quan đến hình thành mụn trứng cá theo hướng dẫn

chẩn đoán và điều trị Trứng cá Bộ Y Tế chỉ ra bao gồm: - Tuổi: trứng cá thường gặp ở tuổi thanh thiếu niên, 90% trường hợp ở lứa tuổi 13 đến 19, sau đó bệnh giảm dần, nhưng trứng cá có thể bắt đầu ở tuổi 20 – 30 hoặc muộn hơn, thậm chí tới tuổi 50 – 90.

- Giới: bệnh gặp ở nữ nhiều hơn nam, tỷ lệ nữ/nam gần bằng 2/1, nhưng bệnh ở

nam thường nặng hơn ở nữ.

- Yếu tố gia đình: có ảnh hưởng rõ rệt đến bệnh trứng cá. Theo Goulden, cứ 100

bệnh nhân bị trứng cá thì 50 % có tiền sử gia đình.

- Yếu tố thời tiết, chủng tộc: khí hậu nóng ẩm, hanh khô liên quan đến bệnh trứng cá; người da trắng và da vàng mắc bệnh trứng cá nhiều hơn người da đen. - Yếu tố nghề nghiệp: khi tiếp xúc với dầu mỡ, với ánh nắng nhiều làm tăng khả

năng bị bệnh.

- Yếu tố stress: có thể gây nên bệnh hoặc làm tăng nặng bệnh trứng cá.

8

- Chế độ ăn: một số thức ăn có thể làm tăng bệnh trứng cá như sô - cô - la, đường,

bơ, cà phê,…

- Các bệnh nội tiết: một số bệnh như Cushing, bệnh cường giáp trạng, bệnh

buồng trứng đa nang,.. làm tăng trứng cá.

- Thuốc: một số thuốc làm tăng trứng cá, trong đó thường gặp là corticoid,

isoniazid, thuốc có nhóm halogen, androgen (testosterone), lithium,…

- Một số nguyên nhân tại chỗ: vệ sinh da mặt, chà xát, nặn bóp không đúng

phương pháp và lạm dụng mỹ phẫm ảnh hưởng đến bệnh trứng cá.

2.2. SINH LÝ TUYẾN BÃ NHỜN VÀ CƠ CHẾ HÌNH THÀNH MỤN 2.2.1. Sinh lý tuyến bã nhờn

Tuyến bã nhờn không thể thiếu trong cấu trúc và chức năng của da, cung cấp 90% chất béo trên bề mặt của da. Sản xuất bã nhờn là chức năng quan trọng nhất của tuyến bã nhờn ở người. Tuyến bã nhờn sản xuất squalene và một số acid béo. Sản xuất bã nhờn giúp cân bằng nội môi của da, duy trì pH da, làm mềm, giữ ẩm cho da bảo vệ da dưới tác động của môi trường và vi khuẩn.

Tuy nhiên tuyến bã nhờn cũng là trung tâm trong vấn đề phát sinh mụn trứng cá. Việc quan tâm đến quá trình sinh lý, giải phẫu của tuyến bã nhờn là cơ sở để hiểu cơ chế bệnh sinh viêm mụn trứng cá.

Tuyến bã thuộc loại tuyến ngoại tiết kiểu túi, đường bài xuất ngắn mở vào cổ nang lông, cũng có những tuyến bã độc lập với đường bài xuất mở trực tiếp ra trên bề mặt da hay còn gọi là tuyến Meibomian (ở môi nhỏ, ở mi mắt, ở bộ phận sinh dục). các tế bào sebocytes không biệt hóa nằm ở lớp ngoài cùng của tuyến, sau đó trở nên biệt hóa và chứa các sản phẩm lipid rồi đổ về lòng túi. Tại trung tâm, các tế bào sebocytes trưởng thành trải qua quá trình apoptosis, thoái hóa và hình thành vùng hoại tử. Các chất bên trong kết hợp với nhau tạo thành bã nhờn, sau đó được đổ vào nang lông và đổ lên bề mặt da. Quá trình tổng hợp và thải lipid mất khoảng 1 tuần. Các tuyến bã nhờn nằm ở trung bì và hầu như luôn luôn phát triển cùng với nang lông, với một lối ra đổ vào ống nang lông. Đơn vị lông mao (pilosebaceous unit) chính là nang lông và tuyến bã nhờn kèm theo.

9

Sự phát triển phôi thai của tuyến bã nằm trong quá trình phát triển của tế bào ngoại bì vào trung bì. Vào tuần thứ 13 đến 15 của bào thai, tuyến bã nhờn có thể được hình thành rõ ràng. Ở tuần thứ 17, các giọt lipid có thể nhìn thấy ở trung tâm của tuyến. Ống bài tiết chung đang phát triển, sẽ đóng vai trò là đầu mối gắn kết cho acini tuyến bã nhờn, bắt đầu như một cấu trúc giống như mối liên kết rắn. Các tế bào chứa đầy chất nhờn bao gồm liên kết cuối cùng bị vỡ và tạo thành một kênh trở thành ống tiết chất nhờn đầu tiên. Sự mở ống dẫn của tuyến bã vào nang lông là ranh giới giải phẫu quan trọng; giữa lỗ này và cơ pili cung là vùng phình ra của nang lông. Điều thú vị là bã nhờn là sản phẩm tuyến đầu tiên được tạo ra bởi cơ thể. Hoạt động của tuyến bã nhờn tăng lên vài giờ sau khi sinh và đạt đỉnh điểm trong tuần đầu tiên của cuộc đời, giảm cho đến đỉnh điểm tiếp theo trong giai đoạn tuyến bã (khoảng 9 tuổi) cho đến khoảng 18 tuổi. Số lượng ước tính của các tuyến bã nhờn thường không đổi trong suốt cuộc đời, nhưng kích thước của chúng có xu hướng tăng lên theo tuổi tác, đặc biệt là ở tuổi vị thành niên[5].

Tuyến bã nhờn đóng góp phần lớn các chất béo trên bề mặt da thông qua sản phẩm chính của nó là bã nhờn, giúp giữ ẩm và ngăn ngừa sự khô da. Bởi vì các tuyến bã nhờn đi vào ống tóc, bã nhờn chủ yếu thoát ra bề mặt da thông qua một hoạt động thấm hút liên quan đến sợi lông hay tóc. Ngoài các mảnh vụn tế bào và lipid, bã nhờn còn chứa các chất chống vi khuẩn, axit béo tự do và matrix metalloproteinase. Những yếu tố này kết hợp với sự hình thành của lớp màng lipid ở da giúp bảo vệ da khỏi những tác nhân gây hại từ bên ngoài[6, 7].

Tuyến bã nhờn cũng là một vị trí quan trọng để phát tín hiệu và kích thích sản xuất androgen. Tất cả các enzym cần thiết để chuyển đổi cholesterol thành steroid hoặc tiền chất tuyến thượng thận, chẳng hạn như dehydroepiandrosterone, đều được tìm thấy trong da. Tuyến bã nhờn cũng có thể vô hiệu hóa nội tiết tố androgen thông qua hydroxysteroid dehydrogenase, một loại enzym có mặt ngay từ tuần thứ 16 của cuộc sống thai nhi. Dạng đồng phân type 1 của 5-alpha- reductase, dùng để chuyển đổi testosterone thành dạng mạnh nhất, cũng được sản

10

xuất nhiều trong các tuyến bã nhờn, đặc biệt là các tuyến bã nhờn trên mặt và da đầu[8].

Tuyến bã nhờn cũng chịu sự kiểm soát của hormone. Androgen điều chỉnh chức năng tuyến bã nhờn thông qua liên kết với các nuclear androgen receptors (AR). ARs hiện diện trong nhiều thành phần da, với đặc điểm là tuyến bã nhờn, nơi nội tiết tố androgen kích thích tăng sinh tế bào và tạo mỡ.[8]

Hormone giải phóng corticotropin (CRH - Corticotropin-releasing hormone) kích thích các thụ thể tế bào da tại chỗ thông qua các phương pháp paracrine, dẫn đến tăng nồng độ proopiomelanocortin (POMC) và giảm tổng hợp IL-8 trong tế bào huyết thanh cũng như kích thích sản xuất cortisol. Kết hợp với nhau, những tác động này có tác dụng chống viêm mạnh mẽ, chống lại dòng thác tín hiệu căng thẳng và giúp hạn chế tổn thương mô quá mức[8].

2.2.2. Quá trình viêm và hình thành nhân mụn

Các mức độ tổn thương ở vị trí viêm

Độ 1: Comedones hay còn gọi là nhân mụn. Chúng có hai loại, mở và đóng. Các mụn trứng cá mở là do sự bịt kín của lỗ tiết chất nhờn bởi bã nhờn trên bề mặt da. Nhân mụn đóng lại là do chất sừng và bã nhờn bịt kín lỗ tiết chất nhờn bên dưới bề mặt da.

Độ 2: Tổn thương viêm, biểu hiện dưới dạng sẩn nhỏ, ban đỏ.

Độ 3: Mụn mủ.

Độ 4: Nhiều mụn mủ liên kết lại với nhau tạo thành nốt sần, u nang.

Mụn có thể để lại nhiều vết sẹo khác nhau sau khi lành, có thể là sẹo lõm

hoặc sẹo phì đại và sẹo lồi.

11

Hình 2.2: Cơ chế bệnh sinh mụn trứng cá[9]

12

Chương 3: CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ MỤN TRỨNG CÁ

Điều trị mụn

CAM

Sử dụng tác nhân vật lý Kết hợp điều trị

Bôi ngoài da

Dùng toàn thân

lấy nhân mụn Liệu pháp cryoslush

• Retinoid • Kháng sinh • Các

Peptide kháng khuẩn

• • • Cryotherapy • •

• retinoids • Kháng sinh • Hormon • Các phương pháp điều trị đa dạng

Electrocauterization Intralesional corticosteroids • Điều trị tại vùng tổn

phương pháp điều trị đa dạng

thương

Seaweed Taurine bromamine

• Basil oil • Copaiba oil • Trà xanh • Khoáng chất • • Resveratrol • Rosa damacene • • • Dầu tràm trà •

khác

Các phương pháp điều trị mụn trứng cá chủ yếu:

Hình 3.1: các phương pháp điều trị mụn trứng cá.

3.1. BÔI NGOÀI DA/ THUỐC DÙNG TẠI CHỖ

Các sản phẩm bôi ngoài da có ưu điểm là bôi trực tiếp lên vùng bị bệnh; do đó làm giảm sự hấp thu toàn thân và tăng sự tiếp xúc của các đơn vị tổn thương với thuốc điều trị. Tuy nhiên, một tác dụng phụ chính của các sản phẩm trị mụn bôi tại chỗ là kích ứng da. Các chế phẩm để bôi ngoài da có sẵn dưới nhiều dạng công thức khác nhau, bao gồm kem, gel, nước thơm, dung dịch và thuốc rửa.

Liệu pháp tại chỗ dựa trên loại và mức độ nghiêm trọng của mụn trứng cá. Mụn trứng cá nhẹ thường được điều trị bằng retinoids tại chỗ, hoặc nhiều phương pháp điều trị đa dạng như axit azelaic, axit salicylic và benzoyl peroxide. Mụn trứng cá viêm nhẹ đến trung bình có thể được điều trị bằng thuốc chống viêm tại chỗ cũng như thuốc kháng sinh tại chỗ . Các loại thuốc trị mụn tại chỗ khác nhau nhắm vào các yếu tố sinh lý bệnh khác nhau và một số phương pháp điều trị tại chỗ phổ biến dưới đây.

13

3.1.1. Retinoids

Retinoids tại chỗ có thể được sử dụng như một liệu pháp đơn trị cho mụn trứng cá viêm, kết hợp với các dạng mụn trứng cá nặng hơn hoặc như một phương pháp điều trị duy trì. Chúng thường kiểm soát sự hình thành của các microcomedones, giảm sự hình thành các tổn thương và các mụn hiện có, giảm sản xuất bã nhờn và bình thường hóa quá trình bong vảy của biểu mô. Chúng nhắm mục tiêu đến các microcomedones và ngăn chặn sự hình thành mụn trứng cá. Chúng cũng có thể cho thấy đặc tính chống viêm[10].

Gollnick và Krautheim [11] đã đưa ra những gợi ý sau đây về việc sử dụng retinoids tại chỗ: (1) việc sử dụng retinoids tại chỗ là rất quan trọng để điều trị duy trì; (2) retinoids có thể sửa chữa sẹo và tăng sắc tố da; (3) nhóm thuốc này nên được lựa chọn điều trị đầu tiên cho hầu hết các loại mụn trứng cá; và (4) khi kết hợp với thuốc kháng khuẩn tại chỗ, nó có hiệu quả hơn đối với mụn viêm. Một tác dụng phụ thường gặp trong vài tuần đầu điều trị bằng retinoid tại chỗ là nổi mụn. Tuy nhiên, điều này sẽ rõ ràng khi bệnh nhân tiếp tục điều trị [12]. Chỉ một số loại retinoid tại chỗ phổ biến nhất (tức là tretinoin, adapalene và tazarotene) được sử dụng trong điều trị mụn trứng cá.

Tretinoin: Tretinoin là một dạng của vitamin A [13]. Nó là một chất làm tan mụn tiêu chuẩn được sử dụng trong điều trị mụn trứng cá để điều hòa sự bong tróc của biểu mô, ngăn chặn sự tắc nghẽn của các đơn vị tuyến bã. Nó dường như cũng có đặc tính chống viêm. Nó đã được sử dụng để điều trị mụn trứng cá trong hơn ba thập kỷ[14, 15].

Adapalene: Adapalene là một chất tương tự retinoid tổng hợp, được sử dụng phổ biến nhất như một phương pháp điều trị retinoid tại chỗ hàng đầu cho mụn trứng cá . Nó bình thường hóa sự biệt hóa tế bào của biểu mô nang và ngăn ngừa sự hình thành mụn trứng cá. Nó cũng cho thấy tác dụng chống viêm trên các tổn thương do mụn trứng cá [13, 14, 16].

14

Tazarotene: Tazarotene là một tiền thuốc acetylenic tổng hợp được chuyển đổi thành axit tazarotenic trong tế bào sừng[13]. Nó là một trong những retinoid mới hơn được sử dụng để điều trị mụn trứng cá. Nó ảnh hưởng đến sự biệt hóa và tăng sinh của tế bào sừng trong mô biểu mô và cũng có thể cho thấy đặc tính chống viêm [17]. Nó được coi là phương pháp điều trị thứ hai sau khi không thấy đáp ứng sau khi điều trị bằng tretinoin hoặc adapalene trước đó, vì nó có thể gây kích ứng da ở bệnh nhân mụn trứng cá [14].

Retinoids khác: Các retinoid khác được sử dụng để điều trị mụn tại chỗ bao gồm isotretinoin, retinoyl β-glucuronide và motretinide [11, 12]. Tuy nhiên, theo Zaenglein [12], các công thức retinoid tại chỗ này không có sẵn ở Hoa Kỳ, mặc dù chúng được sử dụng phổ biến ở Liên minh Châu Âu. Trong số ba loại retinoid này, chỉ có isotretinoin được cung cấp dưới dạng công thức bôi tại chỗ ở Nam Phi.

3.1.2. Thuốc kháng sinh

Thuốc kháng sinh: Thuốc kháng sinh tại chỗ thường được sử dụng cho mụn trứng cá viêm nhẹ đến trung bình. Chúng có hoạt tính chống lại P. acnes , và do đó hoạt động trên bề mặt da để giảm kích thích gây viêm các tổn thương[18] . Do một số tác dụng phụ nhất định và hiệu quả kém hơn của chloramphenicol và tetracyclines tại chỗ, những loại thuốc này ít được sử dụng hơn[11]. Thuốc kháng sinh tại chỗ phổ biến nhất được sử dụng trong điều trị mụn trứng cá là erythromycin và clindamycin, tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc sử dụng liên tục các loại kháng sinh này đã dẫn đến sự phát triển ngày càng tăng sự kháng kháng sinh của các chủng P. acnes[19].

Do đó, chỉ nên sử dụng đơn trị liệu với kháng sinh tại chỗ trong thời gian ngắn (12 tuần) và kết hợp kháng sinh với benzoyl peroxide, kẽm hoặc retinoids để ngăn ngừa vi khuẩn kháng thuốc [11, 20]. Cần tránh sử dụng kết hợp kháng sinh uống và bôi ngoài da để điều trị mụn trứng cá [20].

Erythromycin: Erythromycin là một kháng sinh macrolid gắn vào đơn vị 50S ribosom của vi khuẩn và ngăn chặn sự chuyển vị, cần thiết cho sự tổng hợp protein của vi khuẩn[13]. Nó hoạt động chống lại P. acnes và làm giảm vi khuẩn

15

trên bề mặt da và trong các nang lông. Nó được coi là một loại thuốc kháng sinh tại chỗ rất hiệu quả trong điều trị mụn trứng cá, nhưng gần đây người ta đã phát hiện ra rằng erythromycin có khả năng kháng P. acnes lên đến 60% , điều này khiến nó ít được mong muốn hơn. Điều này đã dẫn đến sự quan tâm đến sự phát triển trong tương lai của các loại kháng sinh dùng tại chỗ khác[15, 21].

Clindamycin: Clindamycin được phân loại như một loại kháng sinh lincosamide. Nó là một dẫn xuất bán tổng hợp của chất kháng khuẩn, lincomycin. Clindamycin gắn vào tiểu đơn vị 50S của ribosom và ức chế sự tổng hợp protein của vi khuẩn và như với erythromycin; nó cũng ức chế P. acnes trên bề mặt da [13, 15].

3.1.3. Các phương pháp dùng ngoài da khác

Phương pháp điều trị đa dạng: Các phương pháp điều trị tại chỗ khác được sử dụng cho mụn trứng cá, chẳng hạn như lột da bằng hóa chất, benzoyl peroxide, dapsone, v.v.

Axit salicylic: Axit salicylic được biết đến như một chất tiêu sừng có cơ chế hoạt động là hòa tan gian bào giữ các tế bào của biểu mô lại với nhau[13]. Nó có tác dụng chống viêm nhẹ, tăng cường sự xâm nhập của một số chất và ở nồng độ thấp, nó có tính kháng nấm và kìm khuẩn. Axit salicylic được tìm thấy trong một số sản phẩm không kê đơn để điều trị mụn trứng cá. [13, 15]

Lột da bằng hóa chất với axit hydroxyl: Lột da hóa học hay còn gọi là tẩy da chết hóa học liên quan đến việc tái tạo bề mặt da mặt, theo đó việc loại bỏ lớp biểu bì sẽ kích thích tái biểu mô và trẻ hóa da [22]. Lột da bằng hóa chất cũng có tác dụng làm giảm sự tăng sắc tố và sẹo nông trên da [11]. Liệu pháp này có thể được chia thành các nhóm khác nhau tùy theo độ sâu thâm nhập và sự phá hủy của nó. Axit alpha-hydroxy (tức là axit glycolic và axit lactic) và axit beta-hydroxy (tức là axit salicylic) là những hóa chất phổ biến nhất được sử dụng trong lột da bằng hóa chất[22-24]. Nồng độ axit salicylic cao hơn nhiều (20% –30%) có trong vỏ hóa học so với trong sữa rửa mặt trị mụn hàng ngày [22]. Có rất ít bằng chứng,

16

dữ liệu cho thấy vỏ tương đối an toàn để sử dụng [25]. Do đó, nó nên được coi là một phương pháp điều trị bổ sung hơn là một phương pháp điều trị đầu tay [24].

Benzoyl Peroxide: Benzoyl peroxide là một chất khử trùng tại chỗ, ban đầu được sử dụng như một chất loại bỏ da chết để điều trị mụn trứng cá [26]. Nó có các đặc tính đa dạng, làm cho nó vừa là chất làm tan mụn vừa là chất kháng khuẩn, không ảnh hưởng đến việc sản xuất bã nhờn. Benzoyl peroxide đã chứng minh hoạt tính diệt khuẩn chống lại P. acnes bằng cách giải phóng oxy gốc tự do, làm phân hủy protein của vi khuẩn [13, 15]. Bershad [16] cho biết ngoài tác dụng điều trị thành công mụn viêm, benzoyl peroxide còn làm giảm số lượng mụn trứng cá trên da.

Benzoyl peroxide là một phương pháp điều trị quan trọng đối với mụn trứng cá nhẹ đến trung bình , mặc dù có thể được sử dụng như một liệu pháp đơn trị trong thời gian 6-8 tuần, nhưng thường được kết hợp với thuốc kháng sinh tại chỗ để giảm sức đề kháng của loài P. acnes và tăng hiệu quả của việc điều trị [11, 14, 17]. Gollnick và Krautheim [11] cho rằng tốt nhất nên kết hợp benzoyl peroxide với retinoids tại chỗ. Tuy nhiên, người ta nhận thấy rằng tất cả các retinoid (ngoại trừ adapalene) đều không ổn định khi kết hợp với benzoyl peroxide và do đó nên được áp dụng riêng biệt [20]. Các tác dụng phụ chính của benzoyl peroxide bao gồm bỏng rát, khô da, ban đỏ, bong tróc da hoặc châm chích [23].

Axit azelaic: Axit azelaic là một axit dicarboxylic tự nhiên ức chế sự tổng hợp protein của loài P. acnes [27, 28]. Nó là một tác nhân hiệu quả vì nó có đặc tính kìm khuẩn, chống viêm, chống oxy hóa và chống sừng hóa. Người ta cũng cho rằng khi sử dụng axit azelaic cùng với clindamycin, benzoyl peroxide hoặc axit α-hydroxy thì sẽ có hiệu quả hơn [11].

Lưu huỳnh: Trong quá khứ, lưu huỳnh thường được sử dụng trong các chế phẩm trị mụn. Tuy nhiên, hoạt chất này không được ưa chuộng do có mùi gây khó chịu [24]. Lưu huỳnh là một hóa chất đã được chứng minh là có đặc tính tiêu sừng nhẹ và kìm khuẩn. Lưu huỳnh bị khử thành hydrogen sulfide bên trong tế bào

17

sừng, được cho là có tác dụng phá vỡ chất sừng trên da [13]. Theo Akhavan và Bershad [13], lưu huỳnh cũng có hoạt tính chống lại P. acnes .

Hydrogen peroxide: Một nghiên cứu của Tung et al. [29] đã chỉ ra rằng một chế độ dựa trên hydrogen peroxide để điều trị mụn trứng cá nhẹ đến trung bình tốt hơn so với chế độ dựa trên benzoyl peroxide về khả năng chấp nhận mỹ phẩm, hiệu quả và an toàn.

Niacinamide: Niacinamide là một amit hoạt động của vitamin B3 và bao gồm niacin (còn được gọi là axit nicotinic) và amit của nó. Nó cũng có thể được gọi là nicotinamide [30, 31] . Cơ chế hoạt động của nó có thể được giải thích là sự ức chế tiết sebocyte, dẫn đến sản xuất ít bã nhờn hơn, làm giảm độ nhờn của da [31, 32]. Nó cũng có đặc tính chống viêm đã được chứng minh là có lợi trong mụn mủ cũng như mụn dạng sẩn [33, 34]. Việc bôi niacinamide 4% tại chỗ đã giúp cải thiện đáng kể tình trạng mụn trứng cá trên toàn thế giới [31].

Corticosteroid tại chỗ: Corticosteroid tại chỗ có thể được sử dụng trong một số điều kiện nhất định, chẳng hạn như để điều trị mụn trứng cá viêm nặng. Tuy nhiên, thời gian điều trị phải ngắn [11] và bằng chứng về hiệu quả của chúng vẫn cần được xác định [24].

Triclosan: Triclosan là một chất kháng khuẩn (chất khử trùng) có thể được sử dụng để điều trị mụn trứng cá [35]. Người ta xác định rằng các quần thể vi khuẩn không phát triển khả năng kháng triclosan trong các điều kiện lâm sàng [36]. Không có tác dụng phụ nào được dự đoán khi sử dụng các sản phẩm có chứa triclosan theo khuyến cáo [37].

Natri Sulfacetamide: Tác nhân này thuộc nhóm kháng khuẩn sulfonamide. Nó có khả năng kìm khuẩn bằng cách ức chế tổng hợp axit deoxyribonucleic (DNA) thông qua đối kháng cạnh tranh của axit para-aminobenzoic (PABA). Natri sulfacetamide có hoạt tính chống lại một số tác nhân gram dương và gram âm, nhưng thường chỉ được sử dụng khi bệnh nhân không thể dung nạp các tác nhân bôi ngoài da khác [13, 14].

18

Dapsone: Dapsone có hoạt tính kháng khuẩn và chống viêm, mặc dù vẫn chưa rõ cơ chế hoạt động chính xác của nó đối với mụn trứng cá [24, 38]. Tuy nhiên, gần đây người ta cho rằng cơ chế hoạt động của dapsone trong điều trị mụn trứng cá có thể là do tác dụng kháng khuẩn và chống viêm [39]. Gel Dapsone (5%) có thể được sử dụng để làm giảm các tổn thương do mụn viêm cũng như không do viêm [40]. Chi phí thấp hơn của tác nhân này làm cho nó thuận lợi hơn để sử dụng ở các nước đang phát triển [24]. Tuy nhiên, nó không được khuyến cáo như là liệu pháp đầu tay [38].

3.2. THUỐC DÙNG TOÀN THÂN

Điều trị toàn thân bằng đường uống là bắt buộc khi mụn kháng thuốc điều trị tại chỗ hoặc nếu nó biểu hiện thành tổn thương dạng nốt hoặc để lại sẹo. Nó là sự lựa chọn ưu tiên trong điều trị các tổn thương viêm. Điều trị toàn thân cũng có thể được yêu cầu để ngăn chặn sự tự ti và suy giảm tâm lý ở những người bị mụn trứng cá. Phương pháp điều trị toàn thân phổ biến nhất bao gồm isotretinoin, kháng sinh uống và các hormone đường uống.[41, 42]

3.2.1. Retinoids

Retinoids: Isotretinoin là một retinoid toàn thân và dẫn xuất của vitamin A. Nó hiện đang được sử dụng như một phương pháp điều trị đầu tiên cho mụn trứng cá nặng hoặc mụn viêm và là loại thuốc duy nhất được biết đến có khả năng ngăn chặn mụn trứng cá trong thời gian dài [14, 42]. Nó cũng có thể mang lại lợi ích cho những bệnh nhân bị mụn trứng cá nhẹ đến trung bình đã chứng tỏ khả năng điều trị tốt hơn các chất bôi tại chỗ hoặc các chất dùng đường uống khác trong quá khứ. Nó cũng được coi là phương pháp điều trị đầu tiên trong các trường hợp mụn trứng cá nặng ở mặt và thân, mụn trứng cá gây sẹo và mụn trứng cá gây ra các biến chứng tâm lý [42].

Hiện nay, isotretinoin là thuốc duy nhất có tác dụng lên cả 4 yếu tố gây bệnh của mụn trứng cá [20, 43] . Isotretinoin làm giảm sự biệt hóa của tuyến bã nhờn, làm giảm sản xuất bã nhờn, dẫn đến thay đổi hệ sinh thái của hệ vi khuẩn ở da,

19

cuối cùng làm giảm sự xâm nhập của P. acnes trong nang lông. Nó cũng gây ra sự bong tróc của các tế bào sừng [14, 16, 43, 44]. Điều trị bằng Isotretinoin thường kéo dài trong 16–24 tuần [20]. Cần theo dõi chặt chẽ những bệnh nhân sử dụng isotretinoin vì những tác dụng phụ có hại của nó [41].

3.2.2. Thuốc kháng sinh

Thuốc kháng sinh: Thuốc kháng sinh uống thường được chỉ định cho mụn trứng cá viêm vừa đến nặng, mụn trứng cá có biểu hiện kháng thuốc điều trị tại chỗ trước đó hoặc mụn trứng cá có diện tích bề mặt lớn của cơ thể [26, 42]. Mụn trứng cá thường được điều trị bằng kháng sinh đường uống như macrolide (erythromycin, clindamycin, azithromycin và roxithromycin), fluoroquinolones (levofloxacin), tetracyclines (doxycycline, minocycline và lymecycline) và co- trimoxazole [10, 43, 45].

Các chất kháng khuẩn này ức chế sự phát triển của P. acnes và tổng hợp các chất trung gian gây viêm được giải phóng từ P. acnes . Sự thành công của việc điều trị bằng kháng sinh dựa trên khả năng tác nhân tiếp cận môi trường lipid của các nang lông mao ở lớp hạ bì, là khu vực mà P. acnes cư trú. Tetracycline rất phổ biến vì chúng hiệu quả và rẻ tiền. Doxycycline và minocycline được ưa chuộng hơn vì chúng ít gây kích ứng đường tiêu hóa hơn, và chúng hòa tan trong lipid hơn, thâm nhập vào nang lông tiết bã hiệu quả hơn [10, 42]. Họ tetracycline thể hiện cả đặc tính chống viêm cũng như kháng khuẩn. Ngoài ra, ít kháng hơn trong P. acnes đã được báo cáo với các tetracycline hơn là macrolide [26].

Không có nhiều nghiên cứu được thực hiện để xác định hiệu quả của azithromycin trong điều trị mụn trứng cá, trong khi clindamycin (tại chỗ) và erythromycin (bôi và uống) đã được công nhận là điều trị mụn trứng cá [26]. Erythromycin và clindamycin có ít hoạt tính chống viêm và chủ yếu hoạt động bằng cách làm giảm mức độ của P. acnes [26].

Vì những loại kháng sinh này được sử dụng lặp đi lặp lại với liều lượng thấp trong thời gian dài [10] trong quá trình điều trị mụn trứng cá, sự gia tăng sức đề

20

kháng đã phát triển theo thời gian khiến việc sử dụng những thuốc này bị hạn chế [10, 42]. Để giảm sự kháng kháng sinh và nâng cao hiệu quả, nên kết hợp kháng sinh uống với benzoyl peroxide hoặc retinoids bôi tại chỗ. Ngoài ra, thời gian điều trị không được quá 12 tuần nếu khả thi [20]. Người ta cũng cho rằng nếu bệnh nhân là đối tượng thích hợp để điều trị bằng isotretinoin, thì việc điều trị bằng kháng sinh lâu dài là không khả thi [26].

3.2.3. Hormone

Hormone : Các tuyến bã nhờn phụ thuộc androgen và do đó tác động của androgen lên các tuyến bã nhờn có thể được điều trị bằng liệu pháp hormone [10]. Điều trị nội tiết có thể được sử dụng thay thế cho phụ nữ vị thành niên và trưởng thành. Những loại hormone này thường được cung cấp dưới dạng viên uống tránh thai vì chúng có khả năng ức chế sản xuất androgen trong cơ thể. Các hormone tránh thai làm giảm sản xuất bã nhờn ban đầu do androgen gây ra. Nó làm tăng tổng hợp globulin liên kết hormone sinh dục, do đó làm giảm testosterone tự do có hoạt tính sinh học trong cơ thể phụ nữ. Mặc dù tất cả các loại thuốc tránh thai đều có thể được sử dụng để điều trị mụn vì có liên quan đến hormone, nhưng progestin thường được ưu tiên hơn [42].

Thuốc tránh thai đường uống có thể được sử dụng một mình hoặc kết hợp với các liệu pháp khác để điều trị mụn trứng cá ở phụ nữ [46]. Thời gian điều trị mụn trứng cá bằng thuốc kháng nội tiết tố androgen phải kéo dài ít nhất là 12 tháng và đôi khi thậm chí lâu hơn [43] vì tác dụng có lợi của các tác nhân nội tiết tố sẽ chỉ thấy rõ sau 3-6 tháng điều trị [20]. Spironolactone là một loại thuốc thay thế cũng có thể được kết hợp với thuốc tránh thai để điều trị mụn trứng cá liên quan đến hormone. Cơ chế của nó dựa trên thực tế là nó là một chất chẹn thụ thể androgen. Nó đặc biệt hiệu quả đối với những bệnh nhân bị mụn viêm [16, 42].

3.2.4. Các phương pháp điều trị khác

Phương pháp điều trị đa dạng :Các phương pháp điều trị bằng miệng khác có thể được sử dụng như một liệu pháp trị mụn bổ trợ bao gồm kẽm sulfat,

21

ibuprofen (do tác dụng chống viêm của nó) và clofazimine [23, 24]. Corticosteroid toàn thân có thể được sử dụng để điều trị ban đầu các biểu hiện viêm ( Mụn trứng cá ). Nó cũng có thể được sử dụng để kiểm soát sự trầm trọng thêm của mụn trứng cá khi điều trị bằng isotretinoin toàn thân [47]. Người ta khuyến cáo rằng mụn viêm nghiêm trọng , mụn trứng cá và bệnh viêm da mặt nên được điều trị bằng prednisone đường uống (0,5–1,0 mg / kg mỗi ngày) trong khoảng thời gian 4-6 tuần, sau đó có thể giảm liều lượng dần dần [24].

3.3. ĐIỀU TRỊ BỔ SUNG VÀ THAY THẾ (COMPLEMENTARY AND ALTERNATIVE MEDICINES – CAM)

Các lựa chọn điều trị hiệu quả hơn và an toàn hơn là cần thiết để điều trị mụn trứng cá [48]. Nhiều liệu pháp CAM đã được ghi nhận và được quảng cáo để sử dụng như điều trị mụn trứng cá [49] và thường được coi là an toàn. Các liệu pháp từ thực vật có thêm lợi ích là sở hữu một số cơ chế tác động an toàn do thành phần của chúng bao gồm một loạt các thành phần hoạt tính có thể có [50]. Người ta đã đề xuất rằng liệu pháp CAM ảnh hưởng đến tính sinh androgen, tăng hoạt động của bã nhờn, nhiễm trùng, viêm và tăng sừng hóa liên quan đến mụn trứng cá [49]. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, bằng chứng cho việc sử dụng chúng là không đầy đủ [49] và người ta vẫn nên cảnh giác với tác hại có thể xảy ra và tác dụng phụ mà các sản phẩm có nguồn gốc thực vật này có thể dẫn đến [50].

Một số nhà nghiên cứu cho rằng thực vật có thể làm giảm tình trạng kháng thuốc kháng sinh khi được sử dụng thay thế hoặc kết hợp với thuốc kháng sinh. Tuy nhiên, điều này cần được xác minh bằng các nghiên cứu lâm sàng[50]. Các bài báo khác nhau [49-51] liệt kê tất cả các loại thực vật / thảo dược có thể điều trị mụn trứng cá. Tuy nhiên, một số thành phần này có một số đặc tính chống viêm, dưỡng ẩm và làm dịu da. Do đó, về mặt lý thuyết, những thành phần này có thể giúp làm giảm một số tác động làm khô da do các liệu pháp trị mụn mạnh hơn và ban đỏ liên quan đến mụn viêm [23]. Việc không có dữ liệu lâm sàng về hiệu quả của những phương pháp điều trị này là mối quan tâm lớn và cần được giải quyết bằng các nghiên cứu trong tương lai. Ở đây chỉ nêu lên một số liệu pháp CAM

22

chính sẽ được thảo luận chi tiết. Tuy nhiên, có một khả năng lớn là phạm vi các liệu pháp CAM được bệnh nhân mụn trứng cá sử dụng lớn hơn nhiều so với loạt các phương pháp điều trị được đề cập trong tổng quan này [49].

3.3.1. Các loại thực vật có hoạt tính kháng khuẩn, chống viêm.

Các loại thực vật có hoạt tính kháng khuẩn chống viêm thuộc một nhóm khá lớn trong CAM. Tuy nhiên phần này sẽ được nói một cách chi tiết hơn ở chương 4.

3.3.2. Khoáng chất:

Khoáng chất đã được sử dụng cho mục đích chữa bệnh từ thời tiền sử. Các khoáng chất được sử dụng cho mục đích điều trị chủ yếu là các khoáng chất đất sét như kaolinit, palygorskite, smectites và talc. Khoáng chất đất sét có thể được sử dụng để điều trị mụn trứng cá, mụn đầu đen và đốm. Nói chung, nó được sử dụng như một loại mặt nạ bao gồm một hỗn hợp nước ấm và đất sét sẽ làm mở các lỗ tiết bã nhờn, kích thích tiết mồ hôi và bã nhờn [52]. Một hỗn hợp các khoáng chất (bao gồm chủ yếu là halloysit, sericit và talc) thu được từ quặng bản địa của Hàn Quốc cho thấy có tác dụng ức chế sự phát triển của S. epidermidis và P. acnes[53].

Bùn đen ở Biển Chết cho thấy tác dụng kháng khuẩn rõ rệt khi các vi sinh vật thử nghiệm ( P. acnes ) được thêm vào bùn, nơi sau khi chúng mất khả năng sống. Ngoài ra, khi bùn Biển Chết được đặt trên đĩa thạch đã cấy vi khuẩn P. acnes , một vùng ức chế sinh trưởng đã được quan sát thấy [54]. Một khoáng chất khác thường được sử dụng toàn thân cũng như tại chỗ để điều trị mụn trứng cá bao gồm kẽm [55]

3.3.3. Peptide kháng khuẩn:

Các peptide kháng khuẩn tự nhiên đại diện cho các liệu pháp đầy hứa hẹn để điều trị mụn trứng cá [40] vì chúng không có khả năng gây kháng thuốc ở vi sinh vật [56]. Tuy nhiên, một số tác giả đã tuyên bố rằng sự phát triển của kháng thuốc dựa trên peptide đã được chứng minh bằng thực nghiệm, mặc dù khi so sánh

23

với kháng sinh thông thường, nó được coi là phát sinh với tốc độ chậm hơn nhiều [57].

Một peptit tổng hợp, có nguồn gốc từ epinecidin-1 (từ sinh vật biển Epinephelus coioides ), đã cho thấy đặc tính diệt khuẩn đối với P. acnes bằng cách phá hủy màng của nó [58]. Trong một nghiên cứu khác, các peptide kháng khuẩn có nguồn gốc từ da ếch ranid cho thấy hiệu lực cao chống lại P. acnes [57].

Wang và các đồng nghiệp [56] đã tinh chế được một peptit kháng khuẩn có nguồn gốc từ cathelicidin, cathelicidin-BF, từ nọc của loài Bungarus . Khi thử nghiệm trong ống nghiệm, người ta quan sát thấy rằng cathelicidin-BF có hoạt tính kháng khuẩn tiềm năng chống lại P. acnes tương đương với kháng sinh clindamycin. Ngoài ra, peptide kháng khuẩn này cho thấy một số tác dụng chống viêm và ức chế sản xuất oxi do P. acnes gây ra . Tất cả những đặc tính này cho thấy khả năng sử dụng cathelicidin-BF để điều trị mụn trứng cá .

3.3.4. Resveratrol

Resveratrol: Xem xét sinh lý bệnh của mụn trứng cá, thuốc lý tưởng phải có khả năng làm giảm phản ứng viêm cũng như ức chế P. acnes [58]. Do đó, resveratrol đang nổi lên như một phương pháp mới trong điều trị mụn trứng cá [40] vì nó có đặc tính chống tăng sinh, chống viêm và ức chế P. acnes [59-62].

Resveratrol là một phytoalexin tự nhiên [61]. Một nghiên cứu thí điểm mù đơn đã được thực hiện trong đó resveratrol ( trans -isomer) được bào chế thành dạng gel với gốc carboxymethylcellulose. Công thức này được áp dụng trên mặt phải của những người tình nguyện bị mụn viêm ở vùng mặt trong 60 ngày và so với bên trái của khuôn mặt mà trên đó đã áp dụng phương pháp kiểm soát sử dụng hydroxyl gel. Tất cả các tình nguyện viên đã giảm đáng kể các tổn thương mụn mủ và viêm nhiễm với sự cải thiện lâm sàng tổng thể đáng chú ý ở mặt được điều trị bằng resveratrol. Mặt được điều trị bằng resveratrol cũng cho thấy sự giảm đáng kể của macrocomedones và microcomedones. Dường như resveratrol đã ức chế quá trình tăng sinh tế bào sừng [61].

24

Resveratrol được phát hiện có tác dụng ức chế sự phát triển của P. acnes khi thử nghiệm trong ống nghiệm. Nó kìm khuẩn ở nồng độ thấp hơn (50 mg / L và 100 mg / L) và diệt khuẩn ở nồng độ cao nhất được thử nghiệm (200 mg / L). Tác dụng ức chế của resveratrol tốt so với hoạt động của thuốc trị mụn thường dùng benzoyl peroxide và erythromycin [59].

3.3.5. Taurine Bromamine (TauBr):

Taurine bromamine (TauBr) và taurine chloramine (TauCl) là những halogen chính được sản xuất bởi bạch cầu trung tính và bạch cầu ái toan tại vị trí viêm. Cả hai loại Haloamines này đều cho thấy đặc tính chống oxy hóa và chống viêm [63]. Một nghiên cứu của Marcinkiewicz et al.[64] kết luận rằng TauBr (tổng hợp) đặc biệt là một ứng cử viên đầy hứa hẹn để điều trị mụn tại chỗ. Ở nồng độ không gây độc tế bào, TauBr cho thấy hoạt tính diệt khuẩn in vitro mạnh hơn đáng kể so với TauCl. Ngoài ra, TauBr thể hiện các đặc tính khử trùng tại chỗ có chọn lọc vì P. acnes nhạy cảm với TauBr hơn S. epidermidis [64]. Một nghiên cứu thí điểm mù đôi cho thấy kem TauBr làm giảm các tổn thương do mụn trứng cá của những bệnh nhân bị viêm nhiễm nhẹ đến trung bình [63].

3.4. SỬ DỤNG TÁC NHÂN VẬT LÝ

Có một số phương pháp điều trị vật lý có sẵn có thể được sử dụng như điều trị mụn bổ trợ. Do đó, những liệu pháp này có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc điều trị mụn trứng cá khi cơ chế bệnh sinh của mụn trứng cá được hiểu rõ hơn và công nghệ được cải thiện [22].

3.4.1. Lấy nhân mụn:

Lấy nhân mụn: Một số tác giả đã gợi ý rằng kỹ thuật này có thể được sử dụng đồng thời với điều trị bằng isotretinoin để điều trị macrocomedones (mụn trứng cá lớn hơn 1 mm). Không để lại sẹo dư nếu thực hiện đúng kỹ thuật này [65]. Phương pháp sử dụng cơ học này bao gồm những điều sau: vết mụn phải được tẩm cồn trước và đâm nhẹ lớp biểu bì bằng kim có lỗ lớn hoặc lưỡi phẫu thuật. Sau đó, người ta sử dụng dụng cụ để tạo áp lực từ nhẹ đến trung bình lên

25

phía trên vết thương cho đến khi tất cả các chất bên trong được ép ra ngoài [24, 65]. Trước khi loại bỏ mụn bằng tay, có thể sử dụng phương pháp tẩy da chết bằng enzym hoặc cơ học để giảm sự tăng sừng. Sau khi điều trị, da cần được điều trị bằng chất chống viêm hoặc chất kháng khuẩn [66].

3.4.2. Liệu pháp Cryoslush

Liệu pháp Cryoslush: Có thể chải nhẹ một hỗn hợp dạng bùn bao gồm carbon dioxide và aceton rắn lên vùng da bị nhiễm trùng. Điều này sẽ tạo ra bong vảy và ban đỏ [24].

3.4.3. Phương pháp áp lạnh

Phương pháp áp lạnh bao gồm việc phá hủy mô da bị bệnh có chủ định và có mục tiêu bằng cách thoa một chất có nhiệt độ rất thấp. Mặc dù nitơ lỏng là chất đông lạnh phổ biến nhất được sử dụng, nhưng cũng có một số chất làm lạnh khác, chẳng hạn như carbon dioxide và oxit nitơ. Các kỹ thuật khác nhau có thể được sử dụng để áp dụng phương pháp đông lạnh, bao gồm phương pháp đông lạnh, hoặc kỹ thuật đông lạnh tại chỗ. Phương pháp áp lạnh thường được thực hiện mà không cần gây tê cục bộ trong điều kiện vô trùng và nếu được thực hiện đúng cách, nó sẽ mang lại kết quả cực kỳ tốt [67].

3.4.4. Điện phân

Quá trình điện phân loại bỏ mụn trứng cá bằng cách tạo ra tổn thương nhiệt ở cấp độ rất thấp [24]. Tuy nhiên, cơ chế chính xác mà nó giúp phân giải mụn trứng cá vẫn chưa được biết rõ [68]. Người ta cho rằng quá trình điện hóa hoạt động bằng cách kích thích cơ chế bảo vệ (viêm) của cơ thể hoặc có thể là cautery cung cấp một lộ trình để các thành phần của macrocomedone được thải ra bề mặt da. [24, 68]

3.4.5. Corticosteroid tiêm vào vùng tổn thương mụn

Tiêm corticosteroid vào vùng tổn thương mụn làm giảm sự hình thành sẹo lồi và ngăn ngừa tái xuất hiện sau khi phẫu thuật cắt bỏ [69]. Quy trình này đặc

26

biệt hiệu quả để điều trị các nốt viêm. Tuy nhiên, nó có thể gây đau đớn và có thể gây teo da [70]. Corticosteroid được sử dụng thường xuyên nhất là triamcinolone acetonide [67].

3.4.6. Phương phát điều trị bằng quang học

Phương pháp điều trị quang học cho mụn trứng cá bao gồm liệu pháp laser, nguồn sáng và liệu pháp quang động [40]. Liệu pháp laser và ánh sáng thường được sử dụng để điều trị mụn viêm nhiễm từ nhẹ đến trung bình . Người ta nhận thấy rằng loại liệu pháp này giải quyết mụn nhanh hơn, hiệu quả và ít tác dụng phụ hơn, do đó nâng cao sự hài lòng của bệnh nhân. Nhiều nguồn ánh sáng có sẵn để điều trị / cải thiện mụn trứng cá bằng cách nhắm mục tiêu P. acnes , bao gồm đèn huỳnh quang, ánh sáng quang phổ đầy đủ, ánh sáng xanh lục, ánh sáng tím, đèn halogen kim loại xanh và đèn flash xenon. Một nguồn sáng khác là tia laser có thể nhắm mục tiêu đến các tuyến bã nhờn (thay đổi cấu trúc của các tuyến bằng nhiệt) hoặc oxyhemoglobin (để cải thiện ban đỏ) [71].

Liệu pháp quang động (PDT – Photo Dynamic Therapy) có chức năng tương tự như liệu pháp laser / ánh sáng ở chỗ năng lượng ánh sáng tiêu diệt P. acnes . Trong khi các thiết bị khác cần thiết bị tốn kém, công suất cao để sản xuất các đèn này, thì PDT lại sử dụng nguồn sáng có công suất thấp hơn[71]. Tuy nhiên, hiệu quả của PDTs được tăng cường khi sử dụng các chất bôi ngoài da như axit aminolevulinic (ALA), axit methyl-aminolevulinic (MAL) hoặc các chất cảm quang thay thế[22].

3.5. CÁC LIỆU PHÁP KẾT HỢP

Do các yếu tố bệnh lý khác nhau gây ra sự phát triển của mụn trứng cá, việc sử dụng liệu pháp đa phương thức nhằm vào các quá trình khác nhau đồng thời đã và đang nhận được sự quan tâm đáng kể [22, 72]. Các sản phẩm kết hợp được chứng minh là có hiệu quả hơn trong việc điều trị mụn trứng cá so với đơn trị liệu [25]. Ngoài ra, sự sẵn có của các phương pháp điều trị kết hợp cố định hiện có và giới thiệu các phương pháp điều trị kết hợp cố định mới có thể làm tăng sự tuân

27

thủ của bệnh nhân vì việc điều trị cho bệnh nhân có thể được cá nhân hóa hơn [72].

Có thể sử dụng kết hợp cố định tại chỗ như benzoyl peroxide / kháng sinh tại chỗ hoặc retinoid / kháng sinh tại chỗ[72]. Người ta cũng khuyến cáo kết hợp kháng sinh đường uống (doxycycline nhiều hơn minocycline hoặc tetracycline) với thuốc tại chỗ (benzoyl peroxide, axit azelaic, retinoids) để điều trị mụn trứng cá vừa đến nặng và mụn trứng cá viêm ít nghiêm trọng không đáp ứng với liệu pháp bôi ngoài da duy nhất [47].

Bằng cách kết hợp các phương pháp điều trị toàn thân theo cách này, nó có thể giúp giảm liều nhanh chóng và ngừng sử dụng kháng sinh đường uống sớm hơn. Những sự kết hợp này cũng có thể cải thiện sự tuân thủ của bệnh nhân, tăng hiệu quả điều trị và giảm sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc [23, 43]. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là kết quả có lợi cuối cùng này chỉ liên quan đến các khu vực tiếp xúc với benzoyl peroxide[26].

Tuy nhiên, một nghiên cứu đã xác định rằng sự kết hợp của clindamycin và benzoyl peroxide chỉ hoạt động tốt hơn một chút so với benzoyl peroxide đơn thuần. Trong trường hợp này, điều quan trọng là người kê đơn phải tính đến tính sẵn có, chi phí và rủi ro bổ sung (tức là kháng kháng sinh) trước khi sử dụng đồng thời các hoạt chất này [73].

Isotretinoin thường gây bùng phát mụn trứng cá (được gọi là mụn trứng cá “giả”) và do đó nó có thể được kết hợp với corticosteroid để điều trị mụn viêm nặng nhất (tức là áp-xe, u nang và nốt sần) [24].

Loại bỏ vật lý các vi nang, macrocomedones hoặc các mụn thịt đóng lại sẽ nâng cao hiệu quả điều trị của các chất làm tan mụn bọc tại chỗ [23]. Người ta cũng cho rằng benzoyl peroxide và axit salicylic, có cơ chế hoạt động khác nhau, được kết hợp để điều trị mụn trứng cá do tác dụng bổ sung của chúng khi được sử dụng cùng nhau [71, 74].

28

Chương 4: CÁC DƯỢC LIỆU KHÁNG KHUẨN CHỐNG VIÊM VÀ KHẢ NĂNG ĐIỀU TRỊ MỤN CỦA CHÚNG

Có rất nhiều phác đồ điều trị cho mụn trứng cá bao gồm benzoid peroxide, retinoids, isotretinoids, tẩy da chết vật lý, axit alpha hydroxy, axit azelaic, axit salicilic cũng như các phương pháp điều trị nội tiết tố, kháng androgen hoặc kháng tiết bã nhờn. Tuy nhiên, không có phương pháp nào trong số này không có tác dụng phụ và vai trò chính xác của chúng trong điều trị là không rõ ràng. Việc tiêu thụ thuốc thay thế và thuốc bổ sung, bao gồm cả cây thuốc, đang gia tăng và phổ biến ở những bệnh nhân bị mụn trứng cá và các bệnh da truyền nhiễm. Cây thuốc có lịch sử sử dụng lâu đời và được chứng minh là có tác dụng phụ thấp. Những cây này là nguồn đáng tin cậy để điều chế các loại thuốc mới. Nhiều loại thực vật dường như có tác dụng ức chế sự phát triển của vi khuẩn, nấm và vi rút trong ống nghiệm. Tuy nhiên, có một vài bằng chứng lâm sàng về tính hiệu quả và an toàn của những loại cây này trong việc điều trị mụn trứng cá và các bệnh nhiễm trùng da khác.

Thuốc thảo dược ngày càng phổ biến do những ưu điểm của chúng, chẳng hạn như khả năng chịu đựng của bệnh nhân tốt hơn, lịch sử sử dụng lâu dài, ít tác dụng phụ hơn và tương đối rẻ hơn. Các loại thuốc thực vật cũng được sử dụng kèm theo các phương pháp khác hoặc một mình để điều trị mụn trứng cá. Nhiều cây thuốc có hoạt tính chống viêm và kháng khuẩn được sử dụng theo nhiều cách khác nhau trong điều trị mụn trứng cá và các bệnh nhiễm trùng khác.

Các nhóm thực vậy này thuộc phương pháp điều trị bổ sung và thay thể (CAM) danh sách này rất lớn và có rất nhiều nghiên cứu thuộc lĩnh vực này. Ở đây xin được nêu ra một số loại cây tiêu biểu, đã được chứng minh là có tác dụng hỗ trợ điều trị mụn trứng cá nhờ hoạt tính kháng khuẩn chống viêm:

Achyranthes aspera: từ ngày xưa, cây thuốc này được sử dụng để điều trị mụn trứng cá, mụn nhọt ngoài da, mụn nhọt, ghẻ ngứa và các bệnh ngoài da khác. Các phân đoạn saponin, alkaloid và phi alkaloid thu được từ lá của cây này có tác dụng ức chế rất lớn đối với sự hoạt hóa kháng nguyên sớm của virus Epstein-Barr trong tế bào Raji, với hoạt tính ức chế mạnh nhất (96,9%; khả năng sống 60%)

29

được quan sát thấy đối với người, chứa các hợp chất không phân cực. Trong thử nghiệm sinh ung thư da chuột hai giai đoạn in vivo, tổng chiết xuất methanolic có tác dụng chống ung thư rõ rệt (76%). Kết quả cho thấy chiết xuất từ lá và các phân đoạn không chứa alkaloid là những chất kích thích chống khối u có giá trị trong quá trình sinh ung thư. Cây có đặc tính tránh thai ở loài gặm nhấm và cũng có hoạt tính tránh thai[75]

Allium cepa: Gel chiết xuất hành tây đã cho thấy khả năng cải thiện sự xuất hiện của sẹo ở bệnh nhân dày sừng tiết bã. Gel chiết xuất này đã được chứng minh là cải thiện sự xuất hiện của sẹo bằng cách cải thiện độ đỏ, độ mềm và kết cấu của nó tại vị trí cắt bỏ bốn, 6 và 10 tuần sau khi sử dụng chiết xuất[75] . Trong một nghiên cứu khác, các đặc tính kháng khuẩn và kháng nấm của A. cepa và A. sativum đã được tiết lộ chống lại Malassezia furfur , Candida albicans và một số Candida sp khác, cũng như một số chủng nấm da và vi khuẩn Acne vulgaris. Kết quả chỉ ra rằng A. cepa và A. sativum có thể có triển vọng trong điều trị các bệnh nhiễm trùng liên quan đến vi khuẩn và nấm.[76]

Azadirachta indica: Trong một nghiên cứu, được thực hiện trên công thức chống mụn trứng cá được điều chế từ chiết xuất thảo mộc, đã tiết lộ rằng chiết xuất ethanol của Azadirachta indica , G. glabra , Andrographis paniculata , Ocimum sanctum , và tràm trà có khả năng ức chế mụn trứng cá. Công thức chống mụn trứng cá đã hoạt động thành công chống lại vi khuẩn Propionibacterium và Staphylococcus biểu bì [77]. Chiết xuất lá cây của Azadirachta indica cũng có tiềm năng ngăn ngừa hóa học chống lại quá trình sinh ung thư da của chuột. Các khối u da đã được chứng minh là tăng cường sự biểu hiện của kháng nguyên nhân tế bào tăng sinh so với nhóm đối chứng. Trong nghiên cứu này, các khối u da biểu hiện mức độ peroxy hóa lipid cao[78]

Cannabis sativus : Dầu hạt của Cannabis sativus rất hữu ích để điều trị bệnh trứng cá đỏ, viêm da tiết bã nhờn, bệnh chàm, viêm da, và bệnh vảy nến. Bột lá của cây này rất hữu ích như một loại băng vết thương và vết thương. Chiết xuất Cannabis sativus bên ngoài rất hữu ích để giảm đau ở da ngứa. Dầu hạt cải thiện

30

làn da và giúp da chống lại các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn, nấm và vi rút gây ra[79].

Echinacea angustifolia và Echinacea purpurea: Chiết xuất của Echinacea purpurea đã được chứng minh là có thể dễ dàng tiêu diệt P. acnes , nguyên nhân chính gây ra mụn trứng cá. Trong các mô hình nuôi cấy tế bào, P. acnes gây ra sự tiết đáng kể của một số cytokine gây viêm, chẳng hạn như IL-6 và IL-8. Tuy nhiên, vi khuẩn E. purpurea có thể đảo ngược hoàn toàn hiệu ứng này. Do đó, E. purpurea mang lại lợi ích an toàn gấp hai lần cho bệnh nhân mụn trứng cá bằng cách ức chế tình trạng viêm do vi khuẩn gây ra và ức chế sự gia tăng của sinh vật[80] . Echinacea cũng đã được sử dụng để điều trị các vấn đề về da khác như bệnh vẩy nến, vết thương ngoài da, vết bỏng, vết loét, mụn rộp và bệnh trĩ[81]

Rosmarinus officinalis: Rosmarinus officinalis là một loại cây gia dụng, được trồng ở nhiều nơi trên thế giới. Nó được sử dụng như một thức uống giải khát, hương liệu thực phẩm, cũng như trong mỹ phẩm. Rosmarinus officinalis chứa axit rosmarinic. Tiếp xúc với tia cực tím mãn tính có các biểu hiện như ung thư hình ảnh và lão hóa hình ảnh. Nước chiết xuất từ R. officinalis có hiệu quả trong việc ngăn ngừa tổn thương ảnh do bức xạ tia cực tím gây ra do tác dụng chống oxy hóa của nó[81] . Nhiễm trùng cũng liên quan đến stress oxy hóa. Do đó, các hợp chất có đặc tính chống oxy hóa, có thể có lợi theo cách này, bất kể hoạt tính kháng khuẩn của chúng. Dầu Rosmarinus officinalis cũng có hiệu quả chống lại P. acnes, một loại vi khuẩn gây ra mụn trứng cá. Trong một nghiên cứu, các đặc tính kháng khuẩn của tinh dầu R. officinalis đã được đánh giá chống lại P. acnes , trong đó những thay đổi đáng kể đã được báo cáo về kích thước và hình thái của P. acnes khi điều trị[82].

Melaleuca alternifolia: Melaleuca alternifolia hay cây tràm trà là một loại cây gỗ hoặc cây bụi cao trong chi Melaleuca thực vật . Nó có nguồn gốc ở Úc, và xuất hiện ở bờ biển phía bắc và các khu vực lân cận của New South Wales. Nó cũng phát triển trên các bãi đầm lầy và dọc theo các con suối và ở những nơi nó xuất hiện, nó thường là loài chiếm ưu thế. Dầu cây trà là một chất phổ rộng chống lại vi khuẩn Gram dương và Gram âm và thậm chí cả S. aureus kháng methicillin

31

và các loại nấm men như C. albicans trong ống nghiệm. Cơ chế hoạt động của nó là do monoterpenes gây ra phá vỡ hàng rào màng sinh chất. Ngoài hoạt động chống vi khuẩn, dầu cây trà có các chất kích hoạt bạch cầu đơn nhân và các hoạt động chống viêm. Sử dụng tại chỗ với nồng độ thấp của dầu cây trà có hoạt tính chống mụn trứng cá với tác dụng phụ thấp. Nó có hiệu quả trong các vết thương nhiễm trùng mãn tính và viêm tủy xương[83]

Eucalyptus globulus, E. viminalis và E. maculate: Trong một nghiên cứu, việc sử dụng lá của 29 loài Eucalyptus đã được kiểm tra về các hoạt động chống vi khuẩn. Chiết xuất Eucalyptus globulus , E. maculata và E. viminalis có thể ức chế sự phát triển của sáu loại vi khuẩn gram dương bao gồm P. acnes , S. aureus , Enterococcus faecalis , Bacillus cereus và Alicyclobacillus acidoterrestris , và một loại nấm Trichophyton mentagrophytes , tuy nhiên chúng không cho thấy hoạt động ức chế mạnh đối với vi khuẩn gram âm. Một thành phần của E. maculate (8- desmethyl-eucalyptin) cũng có hoạt tính ức chế mạnh đối với các vi sinh vật nói trên kết luận rằng chất chiết xuất từ cây Eucalyptus và một số thành phần được phân lập từ cây này có tác dụng ức chế vi sinh vật gây mụn trứng cá và bệnh nấm da chân, cũng như một số bệnh nhiễm trùng do nấm[84]

Basil oil (dầu húng quế): Các loại tinh dầu húng quế được khuyến khích sử dụng tại chỗ để điều trị mụn trứng cá bao gồm Ocimum sanctum , Ocimum basilicum và Ocimum gratissimum [49]. Từ thời cổ đại, các loại dầu húng quế Thái Lan như O. basilicum L. (húng quế ngọt) và O. sanctum L. (holy basil) đã được sử dụng làm thuốc truyền thống để điều trị bệnh hắc lào và côn trùng cắn [85]. Các nghiên cứu cho thấy việc bôi chế phẩm có chứa dầu O. gratissimum tại chỗ trong hỗn hợp cetomacrogol có hiệu quả hơn và giảm số lượng tổn thương nhanh hơn so với bôi 10% benzoyl peroxide [86]. Một nghiên cứu về tinh dầu húng quế của Thái Lan cho thấy O. basilicum và O. sanctum có triển vọng được sử dụng để điều trị mụn trứng cá vì chúng thể hiện hoạt tính kháng khuẩn chống lại P. acnes . Các công thức có chứa O. basilicum cho thấy hoạt tính kháng P. acnes cao hơn so với công thức chứa O. sanctum [85].

32

Copaiba oil: Copaiba oil theo truyền thống được sử dụng như một chất khử trùng, chống viêm và chữa lành vết thương. Da Silva và cộng sự. [87] đã tiến hành một thử nghiệm lâm sàng đối chứng với giả dược mù đôi, trong đó dầu copaiba được điều chế thành gel bôi ngoài da để xác định hoạt tính của nó đối với mụn trứng cá . Sau 21 ngày điều trị, gel dầu copaiba ngăn chặn sự bùng phát của mụn mủ mới, chữa lành các mụn mủ đã có từ trước và giảm diện tích ban đỏ. Các tác giả [87] kết luận rằng dầu copaiba có thể được sử dụng trong điều trị mụn trứng cá nhẹ, mặc dù các nghiên cứu lớn hơn là cần thiết để xác nhận.

Trà xanh (green tea): Trà xanh có các đặc tính chống viêm, chống oxy hóa, kháng khuẩn và kháng vi trùng có thể được quy cho hàm lượng polyphenol cao, bao gồm cả catechin (flavan-3-ols). Các catechin chính được tìm thấy trong trà xanh bao gồm epigallocatechin-3-gallate (EGCG), epigallocatechin (EGC), epicatechin-3-gallate (ECG) và epicatechin (EC) [88], trong đó EGCG là polyphenol dồi dào nhất được tìm thấy trong màu xanh lá cây trà [89]. Polyphenon-60 từ trà xanh là một hỗn hợp của các hợp chất polyphenolic. Việc bôi polyphenon-60 tại chỗ ở những bệnh nhân bị mụn trứng cá nhẹ đến trung bình (thử nghiệm in vivo) làm giảm số lượng trung bình của mụn trứng cá và mụn mủ hở. Tuy nhiên, polyphenon-60 không cho thấy sự cải thiện đối với các mụn trứng cá đóng. Các nghiên cứu trong ống nghiệm để xác định cơ chế cơ bản mà polyphenon-60 có tác dụng điều trị mụn trứng cá cho thấy rằng hợp chất này ngăn chặn quá trình viêm [90]. Yoon và cộng sự. [91] đã tiến hành các nghiên cứu trong ống nghiệm, trong đó người ta xác định rằng EGCG trực tiếp nhắm vào ba quá trình bệnh lý của mụn trứng cá vì nó có tác dụng ức chế hình thành nhân mụn, ức chế sự phát triển của P. acnes và có tác dụng chống viêm. Họ cũng phát hiện ra rằng EGCG có thể đảo ngược quá trình sừng hóa thay đổi của tế bào sừng nang lông liên quan đến mụn trứng cá. Các kết quả này được theo sau bởi một thử nghiệm lâm sàng hai mặt, mù đôi cho thấy số lượng tổn thương viêm và không viêm trung bình giảm đáng kể sau tám tuần điều trị bằng dung dịch EGCG khi so sánh với giá trị ban đầu. Kết quả thu được từ một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên mù đôi, có đối chứng với giả dược cho thấy rằng khi chiết xuất trà xanh được dùng

33

bằng đường uống, nó được phát hiện có hiệu quả chống lại các tổn thương do mụn trứng cá ở các trường hợp mụn trứng cá nhẹ đến trung bình. So với đối chứng, chiết xuất trà xanh làm giảm đáng kể số lượng tổn thương bị viêm và tổng số tổn thương, mặc dù không có tác động đáng kể nào được quan sát thấy trên số lượng tổn thương không viêm[92]. Nhũ tương trà xanh 3% tại chỗ được phát hiện có tác dụng làm giảm sản xuất bã nhờn ở má của những nam tình nguyện viên khỏe mạnh trong khoảng thời gian 60 ngày [93].

Rosa Damascena: Nước hoa hồng và tinh dầu được sản xuất từ cây damask rose ( R. damascena Mill.) Trong công nghiệp chưng cất thủy lực [94]. Nước hoa hồng có thể được sử dụng cho nhiều vấn đề về da do hương thơm dễ chịu và các đặc tính có lợi của nó; nó là một thành phần quan trọng trong một số mỹ phẩm và kem dưỡng thể [95]. Một số tác giả đã đề nghị sử dụng R. damascena để điều trị các rối loạn về da như mụn trứng cá [95]. Dầu hoa hồng có thể được sử dụng như một chất làm se da để làm săn chắc và làm sạch da [96]. Chiết xuất R. damascena đã cho thấy hoạt động chống oxy hóa và ức chế quá trình peroxy hóa lipid, tương tự như α-tocopherol [97]. Chiết xuất R. damascena hydroalcoholic cho thấy hoạt động giảm đau và chống viêm, mặc dù dầu của cây này không cho thấy bất kỳ hoạt động nào như vậy [98]. Chiết xuất từ cánh hoa R. damascena cho thấy hoạt tính kháng khuẩn đối với Pseudomonas aeruginosa , S. epidermidis và Bacillus cereus [95]. Một hoạt động kháng khuẩn đáng chú ý đã được quan sát đối với P. acnes trong một nghiên cứu của Tsai và cộng sự. [99]. Tuy nhiên, các tác giả gợi ý rằng cần phải có các nghiên cứu sâu hơn để đánh giá tác dụng có lợi của chiết xuất này trong điều trị P. acnes .

Andrographis paniculata hay còn gọi là Xuyên Tâm Liên ở Việt Nam. Dịch chiết của cây andrographis paniculata là andrographolide. Andrographolide và các dẫn xuất của nó có tác dụng kích thích miễn dịch, hạ sốt, tiêu chảy, chữa cảm. Bên cạnh đó công dụng chống vi khuẩn. Andrographolide gây ức chế sự chuyển vị của NF – kappa B, do đó làm giảm các biểu hiện viêm. Việc kết hợp các chất kháng sinh và andrographodile thì làm giảm viêm hiệu quả hơn. Các nghiên cứu

34

của Rashmi D Zode, C.M Chakole đăng trên tạp chí Indo American Journal of Pharmaceutical research. Nghiên cứu kiểm tra khả năng chống lại vi khuẩn Staphylococcus aurenus, tìm ra khả năng ức chế và phát triển các công thức gel bôi ngoài da để điều trị mụn. Xây dựng công thức gel có các nồng độ 2, 4, 6, 8% và đánh giá trên các khía cạnh: về thể chất, pH, độ đồng nhất, khả năng kháng khuẩn. Kết luận của nghiên cứu, hoạt tính kháng khuẩn phụ thuộc vào nồng độ kháng khuẩn, ở nồng độ 2% thì khả năng kháng khuẩn yếu hơn so với nồng độ 8%. Các công thức đều thuộc dạng gel bán rắn, màu hơi xanh nhạt, dễ rửa trôi và có pH phù hợp để sử dụng trên da người. Tuy nhiên công thức gel 8% là công thức có hoạt tính kháng khuẩn tốt nhất và các thông số lý hóa tốt, thích hợp để điều chế thành sản phẩm hơn[100].

Glycyrrhiza spp. hay còn gọi là cây Cam thảo. Cây được chứng minh nhiều đặc tính như kháng androgen, kháng khuẩn, chống viêm, chống oxy hóa, làm giảm sắc tố và phục hồi da. Chiết xuất cam thảo có hiệu quả chống lại mụn trứng cá và chứng tăng sắc tố sau viêm. Có hơn 20 triterpenoids và 300 flavonoid được phân lập từ cam thảo. Ở Trung Quốc, cam thảo được sử dụng để trị mụn trứng cá, mụn nhọt. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có thử nghiệm lâm sàng nà đánh giá hiệu quả và độ an toàn của Cam thảo trên mụn trứng cá và chứng tăng sắc tố sau viêm[101].

Rong biển: Một thử nghiệm mù đôi, có đối chứng trên xe cho thấy mụn trứng cá nhẹ được cải thiện đáng kể khi được điều trị tại chỗ với phức hợp oligosaccharide có nguồn gốc từ rong biển ( Laminaria digitata hoặc tảo bẹ) và 0,1% kẽm pyrrolidone. Mặc dù cả hai phương pháp điều trị đều làm giảm số lượng mụn trứng cá và mụn bọc / mụn mủ trên vùng da mặt của những người tình nguyện, phương pháp điều trị chứa hoạt chất có hiệu quả hơn đáng kể. Việc sản xuất bã nhờn cũng giảm ở cả hai phương pháp điều trị, mặc dù không có sự khác biệt đáng kể nào được quan sát thấy giữa chúng. Sau đó, các nhà nghiên cứu cho rằng phức hợp này hoạt động bằng cách làm giảm sự hình thành mụn trứng cá và tình trạng viêm có lợi cho việc ảnh hưởng đến các tuyến bã nhờn về mặt dược lý. Một số dữ liệu sơ bộ trong ống nghiệm chỉ ra rằng hoạt chất ngăn chặn P. acnes sự phát triển. Điều này kết hợp với tác dụng chống viêm của nó có thể là lý do giúp cải thiện

35

mụn bọc, mụn sẩn và mụn mủ ở mụn trứng cá nhẹ [102]. Choi và cộng sự. [103] đã đánh giá hoạt động kháng khuẩn tiềm năng của 57 loài rong biển thường được tìm thấy xung quanh bờ biển Hàn Quốc. Chiết xuất methanol của ba loài, tức là Ecklonia kurome , Ecklonia cava và Ishige sinicola , cho thấy là những chất điều trị có triển vọng nhất đối với mụn trứng cá do hoạt tính kháng P. acnes và kháng viêm mạnh mẽ của chúng. Ở liều lượng vừa phải, những chất chiết xuất này đã được nghiên cứu, không có chất nào trong số chúng cho thấy có bất kỳ tác dụng độc hại nghiêm trọng nào.

Bảng 4.1.: Một số thử nghiệm lâm sàng cho kết quả dương tính

Cây thuốc Họ Kết quả Bộ phận được sử dụng

Hợp chất có hoạt tính

Aloe vera Xanthorrhoeaceae Dịch chiết tính

Hoạt kháng khuẩn chống viêm[104]

tính Meliaceae Dịch chiết

Azadirachta indica

Zingiberaceae

Hoạt kháng khuẩn chống viêm[104]

tính Dịch chiết

Curcuma longa

Hoạt kháng khuẩn chống viêm[104]

36

Cây thuốc Họ Kết quả Hợp chất có hoạt tính Bộ phận được sử dụng

Apocynaceae Dịch chiết

Hemidesmus indicus

Hoạt tính kháng khuẩn chống viêm[104]

Combretaceae Dịch chiết

Terminalia chebula

tính Hoạt kháng khuẩn chống viêm[104]

Solanaceae Dịch chiết

Withania somnifera

Hoạt tính kháng khuẩn chống viêm[104]

Sapotaceae Dầu

Butyrospermum paradoxum Kháng khuân[105]

Theaceae

Camellia sinensis L.

polyphenol, polyunsaturated fatty acid

Chống viêm và ức chế hoạt động của 5 α- reductase[93]

Burseraceae oleoresin tính

Commiphora mukul

Hoạt kháng khuẩn[49]

gugulipid, một dịch chiết được chuẩn của oleoresin

37

Cây thuốc Họ Kết quả Hợp chất có hoạt tính Bộ phận được sử dụng

Hippophae rhamnoides L. từ

Elaeagnaceae Dịch chiết quả

ức chế hoạt động của type 1-α reductase[106]

vitamins C và E, các acid hữu cơ, macronutrients, polyunsaturated fatty acid

Lens culinaris Fabaceae polyphenol

và Bột chiết xuất phức hợp

Các hoạt động oxy chống chống hóa, chống viêm, và androgen vi chống khuẩn[107]

Asphodelaceae Bột

Aloe barbadensis

và chiết xuất phức hợp

polysaccharide, Các hoạt động oxy chống chống và vi

chống hóa, viêm, androgen chống khuẩn[107]

Vitex negundo Verbenaceae flavonoid

Các hoạt động oxy chống chống hóa, chống viêm, và androgen vi chống khuẩn[107]

38

Cây thuốc Họ Kết quả Hợp chất có hoạt tính Bộ phận được sử dụng

Malvaceae

Salmalia malabarica

Các hoạt động oxy chống chống hóa, chống viêm, và androgen chống vi khuẩn[107]

Myrtaceae Dầu

Melaleuca alternifolia

Chống viêm , kháng khuẩn[108].

39

BÀN LUẬN

Nhu cầu sử dụng Mỹ phẩm của người Việt đang có tiềm năng phát triển, Việt Nam là nước có tỷ lệ dân số trẻ chiếm đa số, kết hợp với việc sử dụng các nguồn mạng internet phát triển nên luôn cập nhật được các xu hướng làm đẹp mới. Theo Mintel – một công ty nghiên cứu về thị trường, thị trường Mỹ phẩm Việt Nam có trị giá khoảng 2,3 tỷ USD (tức khoảng 51 000 tỷ VND) vào cuối năm 2018. Theo khảo sát của Asia Plus năm 2020 khoảng hơn 60% phụ nữ trên 23 tuổi chăm sóc da hằng ngày, các sản phẩm chăm sóc da phổ biến là sữa sửa mặt, tẩy trang, kem chống nắng và kem dưỡng ẩm và xu hướng sử dụng Mỹ phẩm tăng ở một số độ tuổi, đặc biệt là từ 16 – 22. Theo khảo sát của Statista về số tiền dành cho Mỹ phẩm chăm sóc da của phái nữ ở Việt Nam tháng 1 năm 2020 người ta thấy rằng tỷ lệ cao nhất là chi đến 200.000 – 300.000 VND/ 1 tháng, đứng thứ 2 là chi tiêu khoảng 300.000 – 400.000 VND/1 tháng. Theo nguồn VIRAC, GSO, thì chi tiêu cho Mỹ phẩm chăm sóc da từ năm 2015 là khoảng 7 tỷ VND, tăng đều qua các năm, đến năm 2019 thì khoảng 10 tỷ VND cho thấy được xu hướng vẫn còn gia tăng trong các năm tiếp theo.

Theo đánh giá của Nielsen Việt Nam, hiện doanh thu của thị trường mỹ phẩm Việt Nam ước đạt khoảng 700 triệu USD - là con số không lớn nhưng có nhiều khả năng để tăng trưởng. Dẫu vậy, thị phần của doanh nghiệp mỹ phẩm trong nước mới chỉ chiếm khoảng 10%. 90% các doanh nghiệp Mỹ phẩm Việt Nam là đại lý phân phối của các hãng Mỹ phẩm nước ngoài. Vì sao Mỹ phẩm Việt Nam phần lớn vẫn thua trên chính thị trường trong nước? có một vài lý do được đưa ra là:

- Sự xâm nhập và mở rộng văn hóa từ nước ngoài (đặc biệt là Hàn Quốc, Nhật

Bản, Mỹ,..) đến giới trẻ Việt Nam

- Sự hạn chế trong việc sản xuất, tinh chế các thành phần thiên nhiên thành các

dạng mỹ phẩm có hoạt tính

- Cảm giác mỹ phẩm chưa thực sự hiệu quả (về mùi hương, hiệu quả trong thời

gian ngắn sau khi sử dụng,..)

40

- Yếu kém trong khâu quảng cáo và mở rộng thị trường sang các nước khác, các

phân khúc khác nhau cũng là rào cản lớn.

- Xuất hiện tràn lan trên thị trường nhiều loại Mỹ phẩm Việt Nam tự gia công hay sản xuất không có giấy phép có chất lượng kém, ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng.

Các loại Mỹ phẩm thiên nhiên phản ánh về mong muốn có một lối sống lành mạnh, đạo đức và thân thiện với môi trường được giới trẻ ưu tiên hơn. Mọi người không chỉ tìm kiếm sự minh bạch và truy xuất nguồn gốc về thành phần sản phẩm, mà còn được tìm hiểu về phương pháp sản xuất. Các dòng Mỹ phẩm đang hướng đến organic hóa và chống thử trên động vật.

Từ các thực vật có nguồn gốc tự nhiên có khả năng điều chế ra rất nhiều sản phẩm chăm sóc da khác nhau như serum, kem dưỡng da, kem dưỡng thể, sữa rửa mặt, nước tẩy trang… Ở Việt Nam nguồn tài nguyên cây thuốc được ước lượng khoảng 4000 loài, rất nhiều loài có hoạt tính kháng khuẩn chống viêm, đây là một nguồn hợp chất đa dạng để sử dụng trong sàng lọc các chất ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, chưa tìm được con số cụ thể là bao nhiêu loài có khả năng kháng khuẩn chống viêm, đây vẫn là nguồn tài tài liệu vẫn được tiếp tục khám phá. Có nhiều loài thực vật có hoạt tính kháng khuẩn chống viêm ở Việt Nam đã được sử dụng để sản xuất ra các loại sản phẩm trị mụn như: rau má (Centella asiatica (L.)), trà xanh, cam thảo (Glycyrrhiza spp), lô hội (Aloe Vera), cúc hoa (Chrysanthemum indicum),… Mặc dù có rất nhiều nguyên liệu đề sản xuất Mỹ phẩm như vậy, nhưng hầu hết chúng vẫn còn ở dạng nguyên liệu thô, chưa tinh chế được ra các hợp chất có hoạt tính sinh học chính. Các công nghệ bào chế Mỹ phẩm trong nước còn khá thô sơ, lạc hậu. Việc thay đổi quy trình bào chế và thay thế các loại máy móc, vật tư sản xuất hiện đại vẫn là một sự nỗ lực rất lớn của những người làm trong ngành công nghiệp Mỹ phẩm. Ngoài ra ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều loại sản phẩm trọn bộ mà thường là các sản phẩm đơn lẻ, hướng tới phân khúc bình dân, chưa làm thỏa mãn được nhu cầu sử dụng Mỹ phẩm của bộ phận lớn khách hàng hiện tại.

41

Sử dụng các nguyên liệu tự nhiên kế hợp với phương pháp sản xuất hiện đại để nâng cao hiệu quả và cảm giác Mỹ phẩm. Chúng ta có thể xem xét một số công nghệ bào chế Mỹ phẩm hiện đại [109]:

- Hệ vi hạt phân tán (Vesicular delivery system): Liposome, Niosome, Silicone

vesicles and Matrices và Multi – walled Delivery systems

- Hệ thống vi hạt (Particulate systems): các hạt micro, Hệ thống polymer xốp,

các hạt nano,...

- Hệ phân tán nhũ tương (Emulsion Delivery Systems): nhũ tương micro, liquid

crystals, multiple emulsion, nhũ tương nano, pickering emulsion

- Những hệ phân tán khác: cyclodextrin complexes, carbosomes, dendrimers and

hyperbranched polymers, tinh thể nano.

- Vật liệu phân tán (delivery devices): iontophoresis, cosmetic patches

Cạnh tranh thị trường cũng là một vấn đề rất được quan tâm trong ngành công nghiệp Mỹ phẩm Các quốc gia như Mỹ, Anh, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan,… là những quốc gia phát triển rất mạnh về ngành công nghiệp Mỹ phẩm và làm đẹp, nhu cầu tiêu thụ rất lớn. Các công ty lớn có thể kể đến bao gồm: LVMH, Johnson & Johnson, P & G, Estee Lauder, L’Oreal, Unilever, Shiseido Group, Coty, …. Các hãng Mỹ phẩm nội địa Việt Nam bao gồm: Thái Dương, Đại Việt Hương, Mỹ Phẩm Sài Gòn, Lana, Vedette, Naunau, Thebol, A Banker’s Secret, Titione, … Quảng cáo và đẩy nhận diện thương hiệu ở một số dòng Mỹ phẩm Việt thực sự vẫn còn nhiều hạn chế.

Cuối cùng, xin dược nêu ra một số xu hướng làm đẹp hiện đại đang được ưa chuộng và có thể sẽ pháp triển trong tương lai: (1) Cá nhân hóa chăm sóc da bằng cách phân tích từng thành phần phù hợp với làn da. (2) sử dụng công nghệ hiện đại trong chăm sóc da giúp tăng hấp thu các chất cho da, đem lại hiệu quả tức thì (sử dụng máy rửa mặt, máy massage da, máy giúp tăng cường hấp thu tinh chất,…) do đó việc sáng tạo các dạng bào chế mới phù hợp để sử dụng. (3) tinh gọn các sản phẩm chăm sóc, đạt hiệu quả lâu dài.

42

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

Trong quá trình tìm hiểu, tôi xin rút ra một số kết luận và đề xuất sau:

KẾT LUẬN

Da là cơ quan lớn nhất cơ thể, da thì gồm 3 lớp: lớp biểu bì, lớp chân bì và lớp mô dưới da. Da giúp bảo vệ cơ thể tránh khỏi các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học. Hiện nay, chăm sóc da là một trong những yêu câu cơ bản ở cả nam và nữ.

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra mụn như: do vi khuẩn P.acne, hormone, sự sừng hóa bất thường, độ tuổi, gen di truyền,… Tuyến bã nhờn nằm ở khu vực các nang lông thường là vị trí quan trọng trong quá trình hình thành nhân mụn và phát triển mụn viêm. Mụn trứng cá phát triển thành những nốt sần, sưng viêm đỏ. Sau điều trị thường để lại thâm sẹo, gây mất thẩm mỹ, mất tự tin, stress cho người bệnh.

Có rất nhiều phương pháp điều trị mụn: có thể kể đến 5 nhóm điều trị mụn cơ bản: các loại bôi ngoài da, sử dụng đường uống hoặc tiêm cho tác dụng toàn thân, các loại bổ sung thay thế (CAM), sử dụng các tác nhân vật lý và các phương pháp điều trị kết hợp. Phổ biến hơn cả là sử dụng các loại bôi ngoài da để tự điều trị mụn tại nhà. Các loại Mỹ phẩm có nguồn gốc hóa học có tác dụng rất tốt, nhưng phần lớn thì chúng đều có tác dụng phụ và vai trò trong điều trị là chưa rõ ràng, việc sử dụng các nguồn dược liệu thiên nhiên để bào chế ra các dạng Mỹ phẩm đang là hướng đi mới trong các phương pháp điều trị hiện nay.

Có rất nhiều loại thực vật đã được chứng minh là có khả năng kháng khuẩn, chống viêm và có khả năng điều trị được mụn trứng cá có thể kể đến là: Achyranthes aspera, Allium cepa, Azadirachta indica, Cannabis sativus, Rosmarinus officinali, tràm trà, Melaleuca alternifolia, cam thảo, trà xanh, lô hội, Eucalyptus globulus, E. viminalis và E. maculate,…. Danh sách này vẫn còn rất dài và rất tiềm năng.

Ngành công nghiệp Mỹ phẩm của Việt vẫn đang chưa thực sự được phát triển, tỉ lệ cạnh tranh Mỹ phẩm trong nước với Mỹ phẩm ngoại vẫn đang yếu thế,

43

với lợi điểm là một nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nước ta thực sự có khả năng phát triển các loại Mỹ phẩm an toàn, lành tính. Làm thế nào để đẩy mạnh nghiên cứu tinh chế hoạt chất và sản xuất các sản phẩm Mỹ phẩm thực sự có hiệu quả, an toàn, tạo cảm giác Mỹ phẩm tốt và đẩy mạnh việc quảng cáo vẫn là một bài toán đang được tìm lời giải.

ĐỀ XUẤT

Cuối cùng, tôi xin đưa ra một vài đề xuất như sau:

1. Tiếp tục nghiên cứu các thực vật có đặc tính kháng khuẩn, chống viêm để có thể

mở rộng danh sách những cây có tiềm năng điều chế Mỹ phẩm.

2. Nghiên cứu các dạng bào chế mới, cách cách sử dụng mới của những cây dược liệu đã được sử dụng trong Mỹ phẩm. Nắm được các thành phần chính cho tác dụng để có thể tinh chế ra được những chất quan trọng để bào chế ra được những sản phẩm thực sự có chất lượng tốt.

3. Mở rộng phân khúc tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh việc quảng cáo, và tìm thị trường

cho các sản phẩm Mỹ phẩm Việt Nam.

4. Ngăn chặn sản xuất và lưu thông các loại sản phẩm Mỹ Phẩm đạo nhái, không rõ

nguồn gốc xuất xứ, không đảm bảo chất lượng.

44

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.

2. 3. 4.

5.

6.

Carolyn Goodwin (2011), "Anatomy and Physiology of the Skin", Journal of the Dermatology Nurses’ Association, 3(4), tr. 203-213. Bình Trịnh, Phan Địch Phạm và Kính Đỗ (2004), Mô học, chủ biên, Y học. bộ y tế (2015), "hướng dẫn chẩn đoán và điều trị da liễu". G. Plewig, A.M. Kligman và T. Jansen (2000), ACNE and ROSACEA, Springer Berlin Heidelberg. C. C. Zouboulis (2010), "[The sebaceous gland]", Hautarzt, 61(6), tr. 467- 8, 4704, 476-7. C. B. Weir và N. J. St.Hilaire (2022), "Epidermal Inclusion Cyst", StatPearls, StatPearls Publishing

Copyright © 2022, StatPearls Publishing LLC., Treasure Island (FL). 7.

8.

P. Zaballos, I. Gómez-Martín, J. M. Martin và các cộng sự. (2018), "Dermoscopy of Adnexal Tumors", Dermatol Clin, 36(4), tr. 397-412. E. Hoover, S. Aslam và K. Krishnamurthy (2022), "Physiology, Sebaceous Glands", StatPearls, StatPearls Publishing

Copyright © 2022, StatPearls Publishing LLC., Treasure Island (FL). 9.

Dr Shyam Prasad (2016), "Acne vulgaris: A review on pathophysiology and treatment", 9, tr. 54-59.

10. Harald Gollnick, William Cunliffe, Diane Berson và các cộng sự. (2003), "Management of Acne: A Report From a Global Alliance to Improve Outcomes in Acne", Journal of the American Academy of Dermatology, 49(1, Supplement), tr. S1-S37.

11. H. P. Gollnick và A. Krautheim (2003), "Topical treatment in acne: current

status and future aspects", Dermatology, 206(1), tr. 29-36.

12. A. L. Zaenglein (2008), "Topical retinoids in the treatment of acne

vulgaris", Semin Cutan Med Surg, 27(3), tr. 177-82.

13. A. Akhavan và S. Bershad (2003), "Topical acne drugs: review of clinical properties, systemic exposure, and safety", Am J Clin Dermatol, 4(7), tr. 473-92.

14. S. Feldman, R. E. Careccia, K. L. Barham và các cộng sự. (2004), "Diagnosis and treatment of acne", Am Fam Physician, 69(9), tr. 2123-30. 15. A. Krautheim và H. Gollnick (2003), "Transdermal penetration of topical drugs used in the treatment of acne", Clin Pharmacokinet, 42(14), tr. 1287- 304.

16. S. V. Bershad (2001), "The modern age of acne therapy: a review of current

treatment options", Mt Sinai J Med, 68(4-5), tr. 279-86.

17. H. Gollnick (2003), "Current concepts of the pathogenesis of acne:

implications for drug treatment", Drugs, 63(15), tr. 1579-96.

18. Guy F. Webster (2005), "The pathophysiology of acne", Cutis, 76(2

Suppl), tr. 4-7.

19. Lindsay Shaw và Cameron Kennedy (2007), "The treatment of acne",

20.

Paediatrics and Child Health, 17(10), tr. 385-389. Isabel Lavers (2014), "Diagnosis and management of acne vulgaris", Nurse prescribing, 12(7), tr. 330-336.

21. Noah S Scheinfeld, William D Tutrone, Omar Torres và các cộng sự. (2003), "Macrolides in dermatology", Clinics in dermatology, 21(1), tr. 40- 49.

22. Randie H Kim và April W Armstrong (2011), "Current state of acne treatment: highlighting lasers, photodynamic therapy, and chemical peels", Dermatology online journal, 17(3).

23. Whitney P Bowe và Alan R Shalita (2008), "Effective over-the-counter

acne treatments", , 27, 3, 27(3), tr. 170-176.

24. Ana Kaminsky (2003), "Less common methods to treat acne",

Dermatology, 206(1), tr. 68-73.

25. K Bhate và HC Williams (2014), "What's new in acne? An analysis of systematic reviews published in 2011–2012", Clinical and experimental dermatology, 39(3), tr. 273-278.

26. Guy F Webster và Emmy M Graber (2008), "Antibiotic treatment for acne

vulgaris", , 27, 3, 27(3), tr. 183-187.

27. A Shemer, G Weiss, B Amichai và các cộng sự. (2002), "Azelaic acid (20%) cream in the treatment of acne vulgaris", Journal of the European Academy of Dermatology and Venereology, 16(2), tr. 178-179.

28. Diane Thiboutot, Ruth Thieroff-Ekerdt và Klaus Graupe (2003), "Efficacy and safety of azelaic acid (15%) gel as a new treatment for papulopustular rosacea: results from two vehicle-controlled, randomized phase III studies", Journal of the American Academy of Dermatology, 48(6), tr. 836-845. 29. Rebecca Tung, Enzo Berardesca, Federica Dall'Oglio và các cộng sự. (2014), "Novel over-the-counter hydrogen peroxide based acne kit in treating acne: Randomized, controlled, multicenter study of a hydrogen peroxide-based acne system versus the benzoyl peroxide-based acne system in the treatment of mild to moderate Acne vulgaris".

30. Karin Stibius Jensen, Karin Bagger và Stibius Jensen (2004), "Masters

thesis by".

31. Mohammad R Namazi (2007), "Nicotinamide in dermatology: a capsule

summary", International journal of dermatology, 46(12), tr. 1229-1231.

32. Zoe Diana Draelos, Akira Matsubara và Kenneth Smiles (2006), "The effect of 2% niacinamide on facial sebum production", Journal of Cosmetic and Laser Therapy, 8(2), tr. 96-101. 33. Zoe Diana Draelos (2000), "Novel in cosmetic therapies topical

dermatology", Current Problems in Dermatology, 12(5), tr. 235-239. 34. W Gehring (2004), "Nicotinic acid/niacinamide and the skin", Journal of

cosmetic dermatology, 3(2), tr. 88-93.

35. Tae-Wan Lee, Jin-Chul Kim và Sung-Joo Hwang (2003), "Hydrogel patches containing triclosan for acne treatment", European Journal of Pharmaceutics and Biopharmaceutics, 56(3), tr. 407-412.

37.

36. Rhonda D Jones, Hanuman B Jampani, Jerry L Newman và các cộng sự. (2000), "Triclosan: a review of effectiveness and safety in health care settings", American journal of infection control, 28(2), tr. 184-196. Joseph V Rodricks, James A Swenberg, Joseph F Borzelleca và các cộng sự. (2010), "Triclosan: a critical review of the experimental data and development of margins of safety for consumer products", Critical reviews in toxicology, 40(5), tr. 422-484.

38. Barry Coutinho (2010), "Dapsone (Aczone) 5% gel for the treatment of

acne", American Family Physician, 81(4), tr. 451.

39. Gottfried Wozel và Christian Blasum (2014), "Dapsone in dermatology and beyond", Archives of dermatological research, 306(2), tr. 103-124. 40. Thierry Simonart (2012), "Newer approaches to the treatment of acne

vulgaris", American journal of clinical dermatology, 13(6), tr. 357-364.

41. Guy F Webster, Tom Poyner và Bill Cunliffe (2002), "Clinical reviewAcne vulgarisCommentary: A UK primary care perspective on treating acne", Bmj, 325(7362), tr. 475-479.

42. Andreas Katsambas và Anastasia Papakonstantinou (2004), "Acne:

systemic treatment", Clinics in dermatology, 22(5), tr. 412-418.

43. Christos C Zouboulis và Jaime Piquero-Martin (2003), "Update and future

44.

of systemic acne treatment", Dermatology, 206(1), tr. 37-53. James J Leyden, Kenneth J McGinley và Arlene N Foglia (1986), "Qualitative and quantitative changes in cutaneous bacteria associated with systemic isotretinoin therapy for acne conglobata", Journal of investigative dermatology, 86(4), tr. 390-393.

45. Werner Sinclair và H Francois Jordaan (2005), "Acne guideline 2005 update", South African medical journal= Suid-Afrikaanse tydskrif vir geneeskunde, 95(11 Pt 2), tr. 881-892.

46. Tobechi L Ebede, Emily L Arch và Diane Berson (2009), "Hormonal treatment of acne in women", The Journal of clinical and aesthetic dermatology, 2(12), tr. 16.

47. Harald P Gollnick và Christos C Zouboulis (2014), "Not all acne is acne

vulgaris", Deutsches Ärzteblatt International, 111(17), tr. 301.

48. Tamara Agnew, Matthew Leach và Leonie Segal (2014), "The clinical impact and cost-effectiveness of essential oils and aromatherapy for the treatment of acne vulgaris: A protocol for a randomized controlled trial", The Journal of Alternative and Complementary Medicine, 20(5), tr. 399- 405.

49. PJ Magin, J Adams, CD Pond và các cộng sự. (2006), "Topical and oral CAM in acne: A review of the empirical evidence and a consideration of its context", Complementary therapies in medicine, 14(1), tr. 62-76.

50. Whitney A Fisk, Hadar A Lev‐Tov và Raja K Sivamani (2014), "Botanical and phytochemical therapy of acne: a systematic review", Phytotherapy research, 28(8), tr. 1137-1152.

51. S Mahesh Kumar, MJN Chandrasekar, MJ Nanjan và các cộng sự. (2005),

"Herbal remedies for acne".

52. M Isabel Carretero (2002), "Clay minerals and their beneficial effects upon human health. A review", Applied Clay Science, 21(3-4), tr. 155-163. 53. Seul Ki Park, Chang Won Lee và Mi Young Lee (2009), "Antibacterial effects of minerals from ores indigenous to Korea", J. Environ. Biol, 30(1), tr. 151-154.

54. Zeev Ma’or, Yigal Henis, Yaacov Alon và các cộng sự. (2006), "Antimicrobial properties of Dead Sea black mineral mud", International journal of dermatology, 45(5), tr. 504-511.

55. Mrinal Gupta, Vikram K Mahajan, Karaninder S Mehta và các cộng sự. (2014), "Zinc therapy in dermatology: a review", Dermatology research and practice, 2014.

56. Yipeng Wang, Zhiye Zhang, Lingling Chen và các cộng sự. (2011), "Cathelicidin-BF, a snake cathelicidin-derived antimicrobial peptide, could be an excellent therapeutic agent for acne vulgaris", PLoS One, 6(7), tr. e22120.

57. Edit Urbán, Elisabeth Nagy, Tibor Pál và các cộng sự. (2007), "Activities of four frog skin-derived antimicrobial peptides (temporin-1DRa, temporin- 1Va and the melittin-related peptides AR-23 and RV-23) against anaerobic bacteria", International journal of antimicrobial agents, 29(3), tr. 317-321. 58. Chieh-Yu Pan, Jyh-Yih Chen, Tai-Lang Lin và các cộng sự. (2009), "In vitro activities of three synthetic peptides derived from epinecidin-1 and an

59.

anti-lipopolysaccharide factor against Propionibacterium acnes, Candida albicans, and Trichomonas vaginalis", Peptides, 30(6), tr. 1058-1068. John J Docherty, Heather A McEwen, Thomas J Sweet và các cộng sự. (2007), "Resveratrol inhibition of Propionibacterium acnes", Journal of antimicrobial chemotherapy, 59(6), tr. 1182-1184.

60. Louise E Donnelly, Robert Newton, Gina E Kennedy và các cộng sự. (2004), "Anti-inflammatory effects of resveratrol in lung epithelial cells: molecular mechanisms", American Journal of Physiology-Lung Cellular and Molecular Physiology, 287(4), tr. L774-L783.

61. Gabriella Fabbrocini, Stefania Staibano, Giuseppe De Rosa và các cộng sự. (2011), "Resveratrol-containing gel for the treatment of acne vulgaris", American journal of clinical dermatology, 12(2), tr. 133-141.

62. Lucie Frémont (2000), "Biological effects of resveratrol", Life sciences,

63.

64.

66(8), tr. 663-673. Janusz Marcinkiewicz (2010), "Taurine bromamine (TauBr)-its role in immunity and new perspectives for clinical use", Journal of biomedical science, 17(1), tr. 1-5. Janusz Marcinkiewicz, Rafał Biedroń, Anna Białecka và các cộng sự. (2006), "Susceptibility of Propionibacterium acnes and Staphylococcus epidermidis to killing by MPO-halide system products. Implication for taurine bromamine as a new candidate for topical therapy in treating acne vulgaris", Archivum immunologiae et therapiae experimentalis, 54(1), tr. 61-68.

65. Emily M Wise và Emmy M Graber (2011), "Clinical pearl: comedone extraction for persistent macrocomedones while on isotretinoin therapy", The Journal of clinical and aesthetic dermatology, 4(11), tr. 20.

66. K Steventon (2011), "Expert opinion and review article: The timing of comedone extraction in the treatment of premenstrual acne–a proposed therapeutic approach", International journal of cosmetic science, 33(2), tr. 99-104.

67. Vinod K Sharma và Sujay Khandpur (2009), "Guidelines for cryotherapy",

Indian Journal of Dermatology, Venereology & Leprology, 75.

68. KF Thomson, V Goulden, R Sheehan-Dare và các cộng sự. (1999), "Light cautery of macrocomedones under general anaesthesia", The British journal of dermatology, 141(3), tr. 595-596.

69. Lauren L Levy và Joshua A Zeichner (2012), "Management of acne scarring, part II", American journal of clinical dermatology, 13(5), tr. 331- 340.

70. Marissa D Newman, Whitney P Bowe, Carol Heughebaert và các cộng sự. (2011), "Therapeutic considerations for severe nodular acne", American journal of clinical dermatology, 12(1), tr. 7-14.

71. Monica Elman và Joseph Lebzelter (2004), "Light therapy in the treatment

of acne vulgaris", Dermatologic surgery, 30(2), tr. 139-146.

72. Andrew C Krakowski, Stefanie Stendardo và Lawrence F Eichenfield (2008), "Practical considerations in acne treatment and the clinical impact of topical combination therapy", Pediatric dermatology, 25, tr. 1-14. 73. Elizabeth M Seidler và Alexa B Kimball (2010), "Meta-analysis comparing efficacy of benzoyl peroxide, clindamycin, benzoyl peroxide with salicylic acid, and combination benzoyl peroxide/clindamycin in acne", Journal of the American Academy of Dermatology, 63(1), tr. 52-62.

74. Hirohiko Akamatsu, Takeshi Horio và Kazuhiro Hattori (2003), "Increased hydrogen peroxide generation by neutrophils from patients with acne inflammation", International journal of dermatology, 42(5), tr. 366-369.

75. Michelle J Hunt và Ross StC Barnetson (1992), "A comparative study of gluconolactone versus benzoyl peroxide in the treatment of acne", Australasian journal of dermatology, 33(3), tr. 131-134.

76. Zahra Rabiei, Mahmoud Rafieian-Kopaei, Shiva Mokhtari và các cộng sự. (2014), "Effect of dietary ethanolic extract of Lavandula officinalis on serum lipids profile in rats", Iranian journal of pharmaceutical research: IJPR, 13(4), tr. 1295.

77. Ghorbanali Rahimian, Zahra Rabiei, Bahram Tahmasebi và các cộng sự. (2013), "Comparing the combined effect of garlic and mint extract with metronidazole in helicobacter pylori treatment", Iranian Journal of Pharmaceutical Sciences, 9(3).

78. Samira Rahnama, Zahra Rabiei, Zahra Alibabaei và các cộng sự. (2015), "Anti-amnesic activity of Citrus aurantium flowers extract against scopolamine-induced memory impairments in rats", Neurological Sciences, 36(4), tr. 553-560.

79. Zahra Rabiei, Mahmoud Rafieian-Kopaei, Esfandiar Heidarian và các cộng sự. (2014), "Effects of Zizyphus jujube extract on memory and learning impairment induced by bilateral electric lesions of the nucleus Basalis of Meynert in rat", Neurochemical research, 39(2), tr. 353-360.

80. Mahmoud Mirhosseini, Azar Baradaran và Mahmoud Rafieian-Kopaei (2014), "Anethum graveolens and hyperlipidemia: A randomized clinical trial", Journal of research in medical sciences: the official journal of Isfahan University of Medical Sciences, 19(8), tr. 758.

81. Siegrid Klein, Robert Rister và C Riggins (1998), "The complete German Commission E monographs: therapeutic guide to herbal medicines", Austin: American botanical council, tr. 356-356.

82. Mahmoud Rafieian-Kopaei, Najmeh Shahinfard, Hojjat Rouhi-Boroujeni và các cộng sự. (2014), "Effects of Ferulago angulata extract on serum lipids and lipid peroxidation", Evidence-Based Complementary and Alternative Medicine, 2014.

83. Mojgan Gharipour, Mohammad Arash Ramezani, Masuomeh Sadeghi và các cộng sự. (2013), "Sex based levels of C-reactive protein and white blood cell count in subjects with metabolic syndrome: Isfahan Healthy Heart Program", Journal of research in medical sciences: the official journal of Isfahan University of Medical Sciences, 18(6), tr. 467.

85.

84. M. Rafieian-Kopaei, S. Behradmanesh, S. Kheiri và các cộng sự. (2014), "Association of serum uric acid with level of blood pressure in type 2 diabetic patients", Iran J Kidney Dis, 8(2), tr. 152-4. J. Viyoch, N. Pisutthanan, A. Faikreua và các cộng sự. (2006), "Evaluation of in vitro antimicrobial activity of Thai basil oils and their micro-emulsion formulas against Propionibacterium acnes", Int J Cosmet Sci, 28(2), tr. 125- 33.

86. Lara O. Orafidiya, E. O. Agbani, A. O. Oyedele và các cộng sự. (2002), "Original Research Article Preliminary Clinical Tests on Topical Preparations of Ocimum gratissimum Linn Leaf Essential Oil for the Treatment of Acne Vulgaris", Clinical Drug Investigation, 22(5), tr. 313- 319.

87. A. G. da Silva, F. Puziol Pde, R. N. Leitao và các cộng sự. (2012), "Application of the essential oil from copaiba (Copaifera langsdori Desf.) for acne vulgaris: a double-blind, placebo-controlled clinical trial", Altern Med Rev, 17(1), tr. 69-75.

88. S. Gaur và R. Agnihotri (2014), "Green tea: a novel functional food for the oral health of older adults", Geriatr Gerontol Int, 14(2), tr. 238-50. 89. N. T. Zaveri (2006), "Green tea and its polyphenolic catechins: medicinal

uses in cancer and noncancer applications", Life Sci, 78(18), tr. 2073-80.

91.

90. M. K. Jung, S. Ha, J. A. Son và các cộng sự. (2012), "Polyphenon-60 displays a therapeutic effect on acne by suppression of TLR2 and IL-8 expression via down-regulating the ERK1/2 pathway", Arch Dermatol Res, 304(8), tr. 655-63. J. Y. Yoon, H. H. Kwon, S. U. Min và các cộng sự. (2013), "Epigallocatechin-3-gallate improves acne in humans by modulating

92.

intracellular molecular targets and inhibiting P. acnes", J Invest Dermatol, 133(2), tr. 429-40. Jaclyn Forest và Naser Rafikhah (2014), "Oral Aqueous Green Tea Extract and Acne Vulgaris: A Placebo-Controlled Study", Asian Journal of Clinical Nutrition, 6, tr. 41-46.

93. T. Mahmood, N. Akhtar, B. A. Khan và các cộng sự. (2010), "Outcomes of 3% green tea emulsion on skin sebum production in male volunteers", Bosn J Basic Med Sci, 10(3), tr. 260-4.

94. Ahmad Ghazanfari và Lope G. Tabil (2012), Mesophilic anaerobic digestion of damask rose bagasse with different proportions of cattle manure.

95. Z. Tofighi, M. Molazem, B. Doostdar và các cộng sự. (2015), "Antimicrobial Activities of Three Medicinal Plants and Investigation of Flavonoids of Tripleurospermum disciforme", Iran J Pharm Res, 14(1), tr. 225-31.

96. M. Jain (2010), "Ayurvedic Textiles: A wonderful approach to handle

health disorders", Colourage, 57, tr. 45-52.

97. Shahriari Sanaz, Narguess Yassa, Mohammadirad Azadeh và các cộng sự. (2007), "In vivo Antioxidant Potentials of Rosa Damascene Petal Extract from Guilan, Iran, Comparable to α-tocopherol", International Journal of Pharmacology, 3.

98. V. Hajhashemi, A. Ghannadi và M. Hajiloo (2010), "Analgesic and Anti- inflammatory Effects of Rosa damascena Hydroalcoholic Extract and its Essential Oil in Animal Models", Iran J Pharm Res, 9(2), tr. 163-8. 99. Tsung-Hsien Tsai, Tzung-Hsun Tsai, Wen-Huey Wu và các cộng sự. (2010), "In vitro antimicrobial and anti-inflammatory effects of herbs against Propionibacterium acnes", Food Chemistry, 119(3), tr. 964-968.

100. Rashmi D Zode và CM Chakole, "FORMULATION AND EVALUATION OF ANTIBACTERIAL GEL USING LEAF EXTRACT OF ANDROGRAPHIS PANICULATA".

101. Kosar Raoufinejad, Mehdi Rajabi và Golnaz Sarafian (2020), "Licorice in the Treatment of Acne Vulgaris and Postinflammatory Hyperpigmentation: A Review", Journal of Pharmaceutical Care, tr. 186-195.

102. B. Capitanio, J. L. Sinagra, R. B. Weller và các cộng sự. (2012), "Randomized controlled study of a cosmetic treatment for mild acne", Clin Exp Dermatol, 37(4), tr. 346-9.

103. J. S. Choi, H. J. Bae, S. J. Kim và các cộng sự. (2011), "In vitro antibacterial and anti-inflammatory properties of seaweed extracts against acne inducing bacteria, Propionibacterium acnes", J Environ Biol, 32(3), tr. 313-8.

104. J. K. Lalla, S. Y. Nandedkar, M. H. Paranjape và các cộng sự. (2001), "Clinical trials of ayurvedic formulations in the treatment of acne vulgaris", J Ethnopharmacol, 78(1), tr. 99-102.

105. C. O. Alebiosu, A. Ogunledun và D. S. Ogunleye (2003), "A report of clinical trial conducted on Toto ointment and soap products", J Natl Med Assoc, 95(1), tr. 95-105.

106. N. Akhtar, B. A. Khan, T. Mahmood và các cộng sự. (2010), "Formulation and evaluation of antisebum secretion effects of sea buckthorn w/o emulsion", J Pharm Bioallied Sci, 2(1), tr. 13-7.

107. Ravichandran Gurumurthi, V. Bharadwaj và Shafi Kolhapure (2004), "Evaluation of efficacy and safety of Acne-N-Pimple cream in acne vulgaris", Antiseptic, 101, tr. 249.

108. I. B. Bassett, D. L. Pannowitz và R. S. Barnetson (1990), "A comparative study of tea-tree oil versus benzoylperoxide in the treatment of acne", Med J Aust, 153(8), tr. 455-8.

109. Nageen Arora, Shilpi Agarwal và RSR Murthy (2012), "Latest technology advances in cosmaceuticals", International Journal of Pharmaceutical Sciences and Drug Research, 4(3), tr. 168-182.