BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NAM Á – PHÒNG GIAO DỊCH BẾN THÀNH

Ngành

: QUẢN TRỊ KINH DOANH

Chuyên Ngành : QUẢN TRỊ NGOẠI THƯƠNG

Giảng viên hướng dẫn : Ths. Diệp Thị Phương Thảo

Sinh viên thực hiện

: Ngô Thị Tuyết Nhi

MSSV: 0854010231

Lớp: 08DQN2

TP. Hồ Chí Minh, năm 2012

LỜI CAM ĐOAN ----------

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của tôi. Những kết quả và các số liệu trong khóa luận được thực hiện tại Ngân hàng TMCP Nam Á – Phòng giao dịch Bến Thành, dưới sự hướng dẫn của Ths. Diệp Thị Phương Thảo, không sao chép bất kỳ nguồn nào khác. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này.

TP.Hồ Chí Minh, ngày… tháng… năm 2012

Sinh viên thực hiện

Ngô Thị Tuyết Nhi

i

LỜI CẢM ƠN

------------

Khoảng thời gian nghiên cứu khóa luận là một quá trình giúp em

có thể học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm thực tế, cũng như củng cố, đối

chiếu những kiến thức đã học với thực tiễn xã hội. Từ đó có cái nhìn sâu

rộng hơn về chuyên ngành mà em đã và đang theo học, cùng nhiều điều bổ ích về công việc thực tế trong tương lai.

Và để có được những thành quả trên, em đã nhận được không ít sự

giúp đỡ nhiệt tình của các thành viên tại Phòng Giao Dịch Bến Thành -

Ngân hàng Nam Á cũng như từ phía nhà trường.

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến trường Đại Học Kỹ Thuật Công nghệ TP.HCM đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản, quý báu

và bổ ích trong thời gian nghiên cứu và học tập tại trường.

Cảm ơn các anh chị tại Ngân hàng Nam Á - Phòng giao dịch Bến Thành đã giúp đỡ, tạo môi trường thuận lợi để em có thể tìm hiểu, trau

dồi những kiến thức thực tiễn trong công việc.

Đặc biệt cảm ơn cô - Ths.Diệp Thị Phương Thảo, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, giúp em sáng tỏ nhiều vấn đề trong lĩnh vực

Ngân hàng nói chung và nghiệp vụ huy động vốn nói riêng để em có thể

hoàn thành tốt khóa luận này.

Do thời gian nghiên cứu cũng như kiến thức thực tế không nhiều, bài chuyên đề của em còn nhiều điểm chưa đề cập đến và còn có những thiếu sót nhất định. Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo để bài luận được hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn!

ii

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-----------------

NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ XÁC NHẬN

Đơn vị xác nhận: Ngân hàng TMCP Nam Á – Phòng giao dịch Bến Thành

Họ và tên sinh viên: Ngô Thị Tuyết Nhi MSSV: 0854010231

Khóa: 2008 – 2012

Nhận xét chung:

………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………

TP.Hồ Chí Minh, ngày..... tháng..... năm 2012

Xác nhận của đơn vị

iii

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN

……

………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………

TP.Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2012

Giảng viên hƣớng dẫn

(Ký tên)

iv

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

……

………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………

TP.Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2012

Giảng viên phản biện

(Ký tên)

v

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Diệp Thị Phương Thảo

MỤC LỤC

…..…

Lời cam đoan .......................................................................................................... i

Lời cảm ơn .............................................................................................................. ii

Nhận xét của đơn vị xác nhận ............................................................................... iii

Nhận xét của giảng viên hướng dẫn ..................................................................... iv

Nhận xét của giảng viên phản biện ....................................................................... v

Mục lục .................................................................................................................... vi

Danh mục những cụm từ viết tắt. ......................................................................... xi

Danh mục các bảng sử dụng. ................................................................................ xii

Danh mục các sơ đồ, biểu đồ sử dụng. ............................................................... xiii

Lời mở đầu. ............................................................................................................. 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ............................................................................... 3

1.1. Khái quát chung về NHTM trong nền kinh tế thị trường ......................... 3

1.1.1. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng Thương mại ................................. 3

1.1.2. Khái niệm Ngân hàng Thương mại .......................................................... 4

1.1.3. Vai trò của Ngân hàng Thương mại ......................................................... 5

1.1.4. Chức năng của Ngân hàng Thương mại ................................................... 6

1.1.5. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng Thương mại .................................. 8

1.2. Những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ huy động vốn trong hoạt động kinh

doanh của NHTM .......................................................................................... 12

1.2.1. Khái niệm về vốn ...................................................................................... 12

vi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Diệp Thị Phương Thảo

1.2.2. Phân loại vốn ............................................................................................ 12

1.2.2.1. Vốn tự có....................................................................................... 12

1.2.2.2. Vốn huy động ................................................................................ 13

1.2.2.3. Vốn đi vay ..................................................................................... 13

1.2.2.4. Vốn khác ....................................................................................... 14

1.2.3. Đặc điểm của vốn huy động ..................................................................... 14

1.2.4. Vai trò của vốn huy động .......................................................................... 15

1.2.5. Các hình thức huy động vốn ..................................................................... 16

1.2.5.1. Tiền gửi của khách hàng .............................................................. 16

1.2.5.2. Tạo vốn qua phát hành công cụ nợ .............................................. 18

1.2.5.3. Vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác và NHTW ......................... 19

1.2.5.4. Tạo vốn từ nguồn vốn khác .......................................................... 20

1.2.6. Mối tương quan giữa huy động vốn và sử dụng vốn ................................ 20

1.3. Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn .......................................... 21

1.3.1. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả huy động vốn ................................................ 21

1.3.1.1. Tỷ lệ Vốn huy động so với Vốn tự có .......................................... 21

1.3.1.2. Tỷ lệ Vốn huy động so với Tổng nguồn vốn ................................ 21

1.3.1.3. Tỷ trọng các loại tiền gửi ............................................................ 21

1.3.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn ............................ 21

1.3.2.1. Nhân tố khách quan ..................................................................... 21

1.3.2.1.1. Môi trường pháp lý .......................................................... 21

1.3.2.1.2. Môi trường kinh tế - xã hội .............................................. 22

1.3.2.1.3. Sự phát triển của thị trường tài chính .............................. 22

1.3.2.1.4. Tâm lý, thói quen khách hàng .......................................... 23

vii

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Diệp Thị Phương Thảo

1.3.2.2. Nhân tố chủ quan ........................................................................ 23

1.3.2.2.1. Các hình thức huy động vốn ............................................ 23

1.3.2.2.2. Chính sách lãi suất cạnh tranh ......................................... 24

1.3.2.2.3. Công nghệ ngân hàng ...................................................... 24

1.3.2.2.4. Các dịch vụ ngân hàng cung ứng ..................................... 24

1.3.2.2.5. Mức độ thâm niên của một ngân hàng ............................. 25

1.3.2.2.6. Chính sách quảng cáo ...................................................... 25

Kết luận chương 1 .................................................................................................. 25

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN

HÀNG NAM Á – PHÒNG GIAO DỊCH BẾN THÀNH .................................... 27

2.1. Tổng quan về Ngân hàng Nam Á - Phòng Giao Dịch Bến Thành .............. 27

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển ............................................................ 27

2.1.2. Chức năng và lĩnh vực hoạt động ............................................................. 28

2.1.3. Chiến lược phát triển ................................................................................ 28

2.1.4. Sứ mệnh hoạt động ................................................................................... 29

2.1.5. Cơ cấu tổ chức bộ máy Ngân hàng Nam Á- PGD Bến Thành ................. 29

2.1.5.1. Sơ đồ tổ chức ............................................................................... 30

2.1.5.2. Chức năng của các phòng ban .................................................... 30

2.1.6. Kết quả hoạt động kinh doanh trong những năm gần đây. ....................... 31

2.2. Thực trạng công tác huy động vốn tại Phòng Giao Dịch Bến Thành ........ 32

2.2.1. Các hình thức huy động vốn đang áp dụng tại PGD ................................ 32

2.2.1.1. Tiền gửi thanh toán ...................................................................... 32

2.2.1.2. Tiền gửi tiết kiệm ......................................................................... 33

2.2.2. Chỉ tiêu phản ánh tình hình chung về nghiệp vụ huy động vốn tại PGD..36

viii

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Diệp Thị Phương Thảo

2.2.2.1. Cơ cấu nguồn vốn của PGD Bến Thành ..................................... 36

2.2.2.2. Nghiệp vụ huy động vốn .............................................................. 38

2.2.2.2.1. Tỷ lệ Vốn huy động so với Vốn tự có ............................... 38

2.2.2.2.2. Tỷ lệ Vốn huy động so với Tổng nguồn vốn .................... 40

2.2.2.2.3. Tỷ trọng các loại tiền gửi so với Vốn huy động. ............... 42

2.3. Đánh giá thực trạng công tác huy động vốn ................................................. 43

2.3.1. Kết quả đạt được ....................................................................................... 43

2.3.2. Những vấn đề tồn tại ................................................................................ 44

2.3.3. Nguyên nhân chủ yếu ............................................................................... 45

2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan ............................................................. 45

2.3.3.1.1. Môi trường kinh tế - xã hội ................................................ 45

2.3.3.1.2. Tâm lý, thói quen khách hàng ............................................ 45

2.3.3.1.3. Sự phát triển của thị trường tài chính ................................ 45

2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan ................................................................ 45

2.3.3.2.1. Chính sách lãi suất cạnh tranh ........................................... 45

2.3.3.2.2. Chính sách quảng cáo ........................................................ 45

Kết luận chương 2 .................................................................................................. 46

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NAM Á –

PHÒNG GIAO DỊCH BẾN THÀNH ................................................................... 47

3.1. Định hướng phát triển của NamAbank – PGD Bến Thành ........................ 47

3.1.1. Các mục tiêu hoạt động kinh doanh năm 2012 ........................................ 47

3.1.2. Biện pháp thực hiện .................................................................................. 47

3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện nghiệp vụ huy động vốn ...................... 48

ix

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Diệp Thị Phương Thảo

3.2.1. Có định hướng, kế hoạch về phát triển nguồn vốn phù hợp .................... 48

3.2.2. Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn ................................................ 49

3.2.3. Áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt ....................................................... 53

3.2.4. Gắn liền việc tăng cường huy động vốn với sử dụng vốn có hiệu quả .... 54

3.2.5. Thực hiện tốt chính sách khách hàng ....................................................... 54

3.2.6. Tăng cường công tác thông tin, quảng cáo, thực hiện chiến lược marketing

hiệu quả .................................................................................................................... 56

3.3. Một số kiến nghị .............................................................................................. 57

3.3.1. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ................................. 57

3.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nam Á ....................................................... 58

Kết luận chương 3 .................................................................................................. 58

KẾT LUẬN ............................................................................................................. 59

Danh mục tài liệu tham khảo. ............................................................................... 60

Phụ lục.

x

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Diệp Thị Phương Thảo

DANH MỤC NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT

------

: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa 1. CNH – HĐH

: Ngân hàng Nam Á 2. NAMABANK – NAB

: Ngân hàng Nhà nước 3. NHNN

: Ngân hàng Thương mại 4. NHTM

: Ngân hàng Trung ương 5. NHTW

: Phòng giao dịch 6. PGD

: Thương mại cổ phần 7. TMCP

: Tiền gửi thanh toán 8. TGTT

: Tiền gửi tiết kiệm 9. TGTK

: Tổ chức kinh tế 10. TCKT

: Tổ chức tín dụng 11. TCTD

xi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Diệp Thị Phương Thảo

DANH MỤC CÁC BẢNG SỬ DỤNG

------

Bảng 2.1: Báo cáo hoạt động kinh doanh 2009 – 2011 ....................................... 31

Bảng 2.2: Tình hình huy động Tiền gửi thanh toán của PGD ............................. 32

Bảng 2.3: Tình hình huy động Tiền gửi tiết kiệm của PGD ................................ 34

Bảng 2.4: Cơ cấu các nguồn vốn của PGD Bến Thành ....................................... 36

Bảng 2.5: Tình hình Vốn huy động và Vốn tự có ................................................ 38

Bảng 2.6: Biến động của nguồn vốn huy động năm 2009 – 2011 ....................... 41

Bảng 2.7: Cơ cấu huy động vốn của PGD năm 2009 – 2011 .............................. 42

xii

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Diệp Thị Phương Thảo

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ SỦ DỤNG

------

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của PGD Bến Thành ................................................ 30

Biểu đồ 2.1: Tình hình huy động Tiền gửi thanh toán qua các năm ..................... 33

Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng TGTK không kỳ hạn và TGTK có kỳ hạn ......................... 35

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu các nguồn vốn qua các năm từ 2009 – 2011 ........................ 37

Biểu đồ 2.4: Tình hình tăng trưởng Vốn huy động tại PGD ................................. 39

Biểu đồ 2.5: Tình hình tăng trưởng Vốn tự có tại PGD ........................................ 40

Biểu đồ 2.6: Cơ cấu các loại tiền gửi tại PGD qua các năm ................................. 43

xiii

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

LỜI MỞ ĐẦU

----------

1. Lý do chọn đề tài

Đất nước ta đang trong thời kỳ biến đổi mạnh mẽ của nền kinh tế, thời kỳ

đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển

và nâng cao chất lượng cuộc sống. Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương: Phát huy nội lực bên trong, nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định, nguồn vốn nước

ngoài giữ vai trò quan trọng. Đồng thời, quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc

tế đang diễn ra hết sức sôi động. Điều đó đồng nghĩa với sự cạnh tranh đã, đang và

sẽ diễn ra ngày càng khốc liệt trong toàn bộ nền kinh tế nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy, việc khai thông nguồn vốn đối hoạt động huy động

vốn của các NHTM nói chung được đặt ra rất bức thiết.

Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì phải

có vốn bởi vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh.

Riêng đối với Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hoá đặc

biệt là “tiền tệ” nên nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng lại

càng có vai trò hết sức quan trọng. Vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh

của Ngân hàng. Ngoài vốn điều lệ theo luật định thì để bắt đầu hoạt động kinh

doanh của mình, việc đầu tiên mà Ngân hàng phải làm là huy động vốn. Nguồn vốn

mà Ngân hàng huy động được nhiều hay ít quyết định đến khả năng cạnh tranh và

mọi hoạt động của Ngân hàng trên thị trường.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á – Phòng Giao Dịch Bến Thành

cũng không nằm ngoài đặc điểm đó. Vì vậy, công tác huy động vốn luôn đóng vai

trò quan trọng, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác huy động vốn trong hoạt động của Ngân hàng. Với những kiến thức đã học và qua thực tế tại PGD Bến Thành – Ngân hàng Nam Á, em xin chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu

quả của nghiệp vụ huy động vốn tại Ngân hàng Nam Á – Phòng Giao Dịch Bến Thành” làm đề tài nghiên cứu của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Chuyên đề tập trung vào nghiên cứu các vấn đề sau:

Trang 1 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

- Khái quát chung về Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế thị trường.

- Những vấn đề cơ bản về Huy động vốn trong hoạt động của Ngân hàng

Thương mại.

- Phân tích thực trạng tình hình huy động vốn tại PGD Bến Thành.

- Đánh giá hoạt động huy động vốn tại PGD Bến Thành.

- Các giải pháp có thể xem xét áp dụng để nâng cao chất lượng và hoàn thiện

nghiệp vụ huy động vốn tại Ngân hàng Nam Á- PGD Bến Thành.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu:

Các nghiệp vụ huy động vốn tại Ngân hàng Nam Á- PGD Bến Thành.

 Phạm vi nghiên cứu:

Các số liệu trong bảng báo cáo tài chính từ năm 2009 đến năm 2011 của

Ngân hàng Nam Á – PGD Bến Thành.

4. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong chuyên đề là thu thập dữ liệu, tổng

hợp, so sánh và phân tích.

Dựa vào những phân tích trên cơ sở thực trạng hoạt động huy động vốn tại PGD

Bến Thành để tìm ra nguyên nhân những vấn đề khó khăn còn tồn tại. Từ đó đưa ra

những giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu cho

hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nam Á- PGD Bến Thành.

5. Kết cấu đề tài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu và kêt luận, nội dung của đề tài được chia làm 3 chương:

 Chương 1: Cơ sở lý luận

 Chương 2: Tổng quan về Ngân hàng Nam Á và Phòng Giao Dịch Bến

Thành.

 Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ huy động vốn

tại Ngân hàng Nam Á – PGD Bến Thành.

Trang 2 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Khái quát chung về NHTM trong nền kinh tế thị trường

1.1.1. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng Thương mại

Ngân hàng thương mại là một trong các tổ chức trung gian tài chính quan

trọng nhất của nền kinh tế được hình thành, tồn tại và phát triển qua hàng trăm năm. Từ thời cổ đại, ở những nước có nền thương mại phát triển sớm đã xuất hiện những

nhóm thương nhân chuyên nghề kinh doanh các dịch vụ tiền tệ nhưng chưa có một

cơ cấu tổ chức nào được coi như một Ngân hàng theo đúng chức danh của nó.

Trong nhiều thế kỷ của thời trung cổ, nghề kinh doanh này đã phải trải qua bao nỗi thăng trầm bởi chiến tranh tàn khốc, không thể phát triển được. Phải chờ cho đến đầu thế kỷ thứ 12, khi chiến tranh đã dịu bớt, kinh tế hàng hoá đã có bước phát

triển, nhất là khu vực Tây âu. Khi đó, một tổ chức được mệnh danh là ngân hàng

được thành lập ở Venise nước Ý vào năm 1171, tuy về thực chất chỉ là một tổ chức tài chính được thiết lập để thực hiện sự tài trợ cho chiến tranh, nhưng nội dung hoạt

động của nó đã bao hàm cả nghiệp vụ Ngân hàng.

Cho đến đầu thế kỷ 15, một số tổ chức kinh doanh tiền tệ được thành lập,

được xem như những Ngân hàng thực thụ như: Ngân hàng Barcelone, Ngân hàng

Valenee của Tây Ban Nha, những tổ chức này đã thực hiện các nghiệp vụ nhận tiền

ký thác, cấp tín dụng, chuyển ngân và làm các nghiệp vụ thu - chi tiền cho khách

hàng với ý nghĩa là những nghiệp vụ kinh doanh cơ bản.

Sự phát triển của Ngân hàng Thương mại phải kể từ thời kỳ phục hưng, và

đặc biệt là từ khoảng thế kỷ 17 cho đến nay. Thời kỳ kinh tế hàng hoá phát triển

nhanh chóng, mạnh mẽ, nền thương mại không ngừng mở rộng, các quan hệ hàng hoá - tiền tệ phát triển bao trùm đời sống kinh tế - xã hội đã tạo ra những tiền đề

kinh tế phát sinh và phát triển nghề Ngân hàng.

Ở Việt nam, trong bước chuyển đổi sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp

đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng. Các doanh nghiệp

không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với

Trang 3 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

nhau, bình đẳng trước pháp luật. Theo hướng đó, nền kinh tế hàng hoá phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra đời của nhiều loại hình Ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Từ năm 1986, hoà vào công cuộc đổi mới cơ chế quản

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

lý kinh tế của đất nước theo sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, hệ thống Ngân hàng

được tổ chức lại được tách ra làm hai cấp: Ngân hàng Nhà nuớc đảm nhận công tác

phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ, còn chức năng kinh doanh được thực

hiện bởi các Ngân hàng Thương mại.

1.1.2. Khái niệm Ngân hàng Thương mại

Để hiểu rõ về Ngân hàng thương mại, người ta thường phải dựa vào tính chất

mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính và đôi khi còn kết hợp tính chất,

mục đích và đối tượng hoạt động để đưa ra định nghĩa.Với mỗi quốc gia khác nhau,

hình thành một khái niệm khác nhau về NHTM.

Theo Luật Ngân hàng Đan Mạch năm 1930: “Những nhà băng thiết yếu bao

gồm những nghiệp vụ nhận tiền gửi, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và

các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ

chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm...”

Theo Luật Ngân hàng Pháp năm 1941: “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở

hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức

khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng

hay dịch vụ tài chính”.

Theo Luật “Tổ chức Tín dụng” của Việt Nam ban hành vào ngày

12/12/1997:“Ngân hàng là TCTD thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các

hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Hoạt động Ngân hàng là một hoạt động

kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung chủ yếu là nhận tiền gửi, sử

dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”

“NHTM là loại hình Ngân hàng được thực hiện toàn bộ các hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận góp

phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước”.

Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng khi phân tích khai thác nội dung của các định nghĩa đó, người ta dễ nhận thấy các NHTM đều có chung một

tính chất, đó là: Nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào các

nghiệp vụ cho vay, đầu tư và các dịch vụ kinh doanh khác của chính Ngân hàng.

Trang 4 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

1.1.3. Vai trò của Ngân hàng Thương mại

Từ khái niệm về NHTM nêu trên áp dụng vào thực tế nước ta, một nước có

hơn 80% dân số sống bằng nghề nông, việc phát triển sản xuất theo chiều hướng CNH - HĐH rất cần đến NHTM với vai trò to lớn của nó. Nhất là khi quá trình CNH - HĐH của chúng ta đã đi vào chiều sâu, yêu cầu cần có vốn để xây dựng cơ

sở hạ tầng, tăng tốc đầu tư, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo nhịp độ

tăng trưởng kinh tế nhanh và lâu bền, thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế năm thì vai trò của các NHTM càng được Đảng và Nhà nước ta coi trọng.

 NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế

Vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức trong nền kinh tế. Vì vậy, muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc dân, có mức độ tiêu dùng hợp lý. Tăng thu nhập quốc dân đồng nghĩa

với việc mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy mạnh sự phát triển của các

ngành trong nền kinh tế. Điều đó muốn làm được lại cần có vốn. Vốn được coi như

nguồn đầu vào chính thức cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh

nghiệp. Khi “nguyên liệu” bị thiếu, doanh nghiệp sẽ mất đi cơ hội đầu tư mới hoặc

không tiến hành kịp thời quá trình tái sản xuất. NHTM chính là người đứng ra tiến

hành khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh

tế... Thông qua hình thức cấp tín dụng, Ngân hàng đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, thiết bị, đổi mới qui trình

công nghệ, nâng cao năng suất lao động đem lại hiệu quả kinh tế, cũng có nghĩa là

đưa doanh nghiệp lên những nấc thang cạnh tranh cao hơn. Cạnh tranh càng mạnh

mẽ, kinh tế càng phát triển. Như vậy với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở

thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của quốc gia.

 NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường, giúp cho các nhà kinh

doanh xây dựng chiến lược quản lý doanh nghiệp.

Thị trường ở đây được hiểu ở hai góc độ, thị trường đầu vào và thị trường đầu ra của doanh nghiệp. Để có thể tiến hành bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, doanh nghiệp cần phải tham gia vào thị trường đầu vào nhằm thực hiện thành công chiến lược 5P: Product (sản phẩm), Price (giá cả), Promotion (giao tiếp, khuyếch trương), Place (địa điểm) và People (con người). Từ đó tiếp cận mạnh mẽ vào thị trường đầu ra, tìm kiếm lợi nhuận. Qui trình đó chỉ được bắt đầu khi doanh nghiệp

trang bị được đầy đủ vốn cần thiết. Nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ

Trang 5 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

khả năng về tài chính. Do vậy, buộc họ phải tìm kiếm vốn phục vụ chính họ. Nguồn vốn tín dụng của NHTM sẽ giúp các doanh nghiệp giải quyết những khó khăn đó, tạo cho doanh nghiệp có đủ khả năng thoả mãn tối đa nhu cầu của thị trường trên

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

mọi phương diện: giá cả, chủng loại, chất lượng, thời gian, địa điểm... NHTM sẽ là

cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường gần nhau hơn cả về không gian và thời

gian.

 NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế

Trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá như hiện nay thì vai trò này ngày

càng thể hiện rõ rệt hơn. Áp lực cạnh tranh buộc nền kinh tế mỗi quốc gia khi mở

cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh về mọi mặt, đặc biệt là tiềm lực về tài

chính. Nhưng làm thế nào để có thể hoà nhập nền tài chính của một quốc gia với phần còn lại của thế giới? Câu hỏi đó sẽ được giải đáp nhờ vào hệ thống các NHTM vì hệ thống này có khả năng cung cấp nhiều loại hình dịch vụ khác nhau hỗ trợ cho việc đầu tư từ nước ngoài vào trong nước theo các hình thức: thanh toán quốc tế,

nghiệp vụ hối đoái, cho vay uỷ thác đầu tư... giúp cho luồng vốn ra, vào một cách

hợp lý, đưa nền tài chính nước nhà bắt kịp với nền tài chính quốc tế. Đây là một

trong những điều kiện tiên quyết cho tiến trình hội nhập kinh tế ở các quốc gia trên

thế giới.

 Ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mônền kinh tếvì

hoạt động Ngân hàng góp phần chống lạm phát.

Một trong những con đường dẫn đến lạm phát của nền kinh tế là lạm phát

qua con đường tín dụng. Khi xảy ra lạm phát, Ngân hàng trung ương sẽ tăng tỉ lệ

vào dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu hoặc tham gia vào thị trường mở để

thông qua các Ngân hàng thương mại thay đổi lại lượng tiền trong lưu thông. Các

Ngân hàng thương mại sẽ kiểm soát lạm phát thông qua các hoạt động tín dụng, bảo lãnh. Từ đó Ngân hàng xác định được hướng đầu tư vốn và đề ra các biện pháp xử lý những tác động xấu ảnh hưởng đến nền kinh tế, làm cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục, góp phần điều hoà lưu thông tiền tệ, ổn định sức mua của đồng tiền,

kiềm chế lạm phát.

1.1.4. Chức năng của Ngân hàng Thương mại

Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của

Ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương mại là cầu nối

giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan hiếm.

Trang 6 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Hoạt động của Ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là "vốn - tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của Ngân hàng thương mại. Hoạt

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

động của Ngân hàng thương mại phục vụ cho nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân

chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội. Hệ thống Ngân hàng phát triển bền vững ổn định là điều kiện cần thiết cho một nền kinh tế vững

mạnh.

Các Ngân hàng thương mại đều thực hiện 3 chức năng cơ bản sau:

 Trung gian tài chính.

Ngân hàng là trung gian tài chính lớn nhất và đóng vai trò quan trọng trong

nền kinh tế với hoạt động chủ yếu là biến tiết kiệm thành đầu tư. Trong nền kinh tế,

ở 1 thời điểm bất kì luôn có sự nhàn rỗi tạm thời về vốn đối với cá nhân, doanh

nghiệp hay tổ chức này nhưng cùng lúc đó một số cá nhân, tổ chức hay doanh

nghiệp khác lại đang trong tình trạng thiếu hụt về vốn, do đó tất yếu sẽ phát sinh

một sự dịch chuyển về vốn giữa 2 nhóm này. Tuy nhiên do hạn chế về mặt thông tin

cũng như những giới hạn về khoảng cách không gian, thời gian nên việc chuyển

giao vốn một cách trực tiếp sẽ gặp nhiều khó khăn, tốn chi phí và kém an toàn.

Ngân hàng thương mại đứng ra đóng vai trò trung gian giúp cho cung cầu về vốn

gặp nhau thông qua huy động vốn từ người này và cho vay đối với người kia, giải quyết các mâu thuẫn của tín dụng trực tiếp trên cơ sở gánh chịu rủi ro và sử dụng

các kĩ thuật nghiệp vụ nhằm hạn chế, phân tán rủi ro và giảm chi phí giao dịch.

 Tạo phương tiện thanh toán.

Trước đây khi chưa có Ngân hàng Trung ương chuyên về nghiệp vụ phát

hành tiền thì các Ngân hàng Thương mại cũng phát hành tiền giấy của riêng mình

dưới dạng giấy nợ Ngân hàng dựa trên số lượng tiền – vàng đang nắm giữ. Với những ưu thế nhất định, giấy nợ Ngân hàng dần thay thế tiền vàng trở thành phương

tiện thanh toán và cất trữ - trở thành tiền giấy.

Khi Ngân hàng Trung ương ra đời, các Ngân hàng thương mại không còn được phát hành giấy bạc của riêng mình. Tuy nhiên, Ngân hàng vẫn có khả năng tạo phương tiện thanh toán bằng việc cho vay đối với khách hàng, nhờ đó mà khách hàng có thể sử dụng số dư tăng thêm trên tài khoản tiền gửi thanh toán của mình để

mua hàng hóa dịch vụ. Ngoài ra, hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, toàn bộ hệ thống

Ngân hàng Thương mại là một trong bốn nhân tố trong quá trình cung ứng tiền tệ.

Trang 7 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khi họ mở rộng các khoản tiền gửi từ Ngân hàng này đến Ngân hàng khác trên cơ sở cho vay, toàn bộ hệ thống đã tạo ra tạo ra khối lượng tiền gửi tăng gấp bội theo

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

công thức số nhân tiền tệ.

 Trung gian thanh toán.

Trong các loại nghiệp vụ Ngân hàng, vai trò làm trung gian thanh toán cho

nền kinh tế là một nghiệp vụ rất quan trọng, nó có lịch sử gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống Ngân hàng cũng như có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển. Các giao dịch thanh toán của

khách hàng và nội bộ Ngân hàng (đổi tiền, đầu cơ, đầu tư, quyết toán thanh toán…)

thực hiện dưới hình thức tiền mặt, chuyển khoản (trong hệ thống) hoặc chuyển tiền

(liên Ngân hàng).

Ngân hàng thay mặt khách hàng thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ, sử

dụng một loạt các hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, ủy

nhiệm thu, thư tín dụng, các loại thẻ thanh toán. Các Ngân hàng còn thực hiện thanh

toán bù trừ với nhau qua trung tâm thanh toán trong nước và quốc tế theo các qui

chuẩn thống nhất.

Ngày nay, khi khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, thương mại điện tử

được ứng dụng rộng rãi thì hoạt động thanh toán của Ngân hàng ngày càng đạt hiệu

quả cao hơn, an toàn và tiện lợi, đóng góp đắc lực vào sự vận động phát triển của

nền kinh tế toàn cầu.

1.1.5. Các hoạt động cơ bản của NHTM

1.1.5.1. Hoạt động huy động vốn

Huy động vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân

Ngân hàng cũng như đối với toàn xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và tiến hành các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Trong nghiệp vụ này, Ngân hàng thương mại sử dụng các biện pháp và công cụ cần thiết trong giới hạn của pháp luật để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội, tăng nguồn tín dụng.

Kết quả của hoạt động này là tạo ra nguồn vốn đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế.

 Huy động vốn từ việc nhận tiền gửi: Là nguồn vốn huy động thường xuyên

chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thương mại, thực

chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà Ngân hàng tạm thời quản lý và sử

Trang 8 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

dụng, nhưng với nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi khách hàng yêu cầu.. Các

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

loại hình huy động vốn từ tiền gửi bao gồm:

- Tiền gửi không kì hạn: Là nguồn vốn có chi phí thấp nhưng lại không ổn định, vì người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào nhằm phục vụ mục đích sử dụng dịch vụ thanh toán của Ngân hàng. Mang lại nguồn thu phí

về dịch vụ cho các Ngân hàng.

- Tiền gửi có kì hạn của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội: Là nguồn vốn có kì hạn xác định, tương đối ổn định nhưng chi phí để có và duy trì,

quản lý nguồn vốn này lại khá cao, khách hàng gửi tiền vào chủ yếu

nhằm mục đích an toàn và sinh lời.

- Tiền gửi tiết kiệm từ dân cư: Là nguồn tiền có kì hạn tương đối ổn định, tuy nhiên chi phí cũng không thấp. Mục đích chủ yếu của dân cư khi gửi

tiền là nhu cầu bảo toàn vốn và hưởng lãi. Thông thường đây là nguồn

vốn chiếm tỉ trọng lớn, các Ngân hàng cũng tìm cách để thu hút bằng

cách đa dạng hóa các hình thức huy động và sử dụng lãi suất cạnh tranh

hấp dẫn.

 Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá ( Kì phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi …): Là các công cụ nợ do Ngân hàng phát hành để huy động vốn

trên thị trường khi thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu cho

vay trung và dài hạn. Thường thì những Ngân hàng lớn có uy tín hoặc chấp nhận trả

lãi suất cao sẽ dễ vay mượn hơn. Tuy nhiên các Ngân hàng cũng cần nghiên cứu kĩ

thị trường để đưa ra mức lãi suất và kì hạn phù hợp để có thể huy động được vốn

với hiệu quả cao nhất.

 Huy động vốn thông qua nghiệp vụ đi vay: Ngân hàng thương mại đi vay vốn từ Ngân hàng trung ương hay các tổ chức tín dụng khác vào những giai đoạn nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế. Chi phí cho nguồn vốn này tương đối đắt nên thường chỉ được duy trì ở một tỉ trọng nhỏ và

trong những trường hợp cụ thể.

 Huy động vốn bổ sung vào nguồn vốn chủ sở hữu: Nguồn vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một tỉ trọng khá khiêm tốn trong tổng nguồn vốn nhưng lại có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

Ngân hàng tăng cường nguồn vốn chủ sở hữu của mình thông qua việc phát hành cổ

phiếu, trái phiếu hay bổ sung vốn từ lợi nhuận.

Trang 9 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

1.1.5.2. Hoạt động sử dụng vốn

Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo ra các loại tài sản khác nhau của

Ngân hàng dựa trên nguồn vốn đã huy động được, trong đó quan trọng nhất là

nghiệp vụ cho vay và đầu tư mang lại nguồn thu nhập chính cho Ngân hàng.

 Dự trữ: Là bộ phận cần thiết và tất yếu đối với mọi Ngân hàng, nhằm đảm bảo khả năng thanh toán. Dự trữ của Ngân hàng thương mại bao gồm dự trữ bắt

buộc và dự trữ thanh toán.

- Dự trữ bắt buộc: Để đảm bảo an toàn chung cho toàn hệ thống, đồng thời sử dụng như một công cụ để điều hành chính sách tiền tệ, Ngân hàng

trung ương được ấn định một tỉ lệ dự trữ bắt buộc trên mỗi khoản tiền gửi

trong từng thời kì nhất định. Các Ngân hàng thương mại phải duy trì tỉ lệ

này, và thông thường được gửi tại Ngân hàng trung ương.

- Dự trữ thanh toán: Các ngân hàng tự xác định một mức dự trữ phù hợp nhất định dựa trên kinh nghiệm và điều kiện thực tế. Khoản dự trữ này

được duy trì dưới dạng tiền mặt nằm trong két của Ngân hàng và tiền gửi

tại các Ngân hàng thương mại khác. Mục đích chủ yếu là đáp ứng nhu

cầu thanh toán.

 Tín dụng: Là loại tài sản chiếm tỉ trọng lớn nhất tại các Ngân hàng thương mại đồng thời mang lại nguồn thu chủ yếu cho Ngân hàng. Nếu phân chia theo hình

thức tài trợ, các nghiệp vụ tín dụng chủ yếu của Ngân hàng gồm có:

- Cho vay: Là loại hình tín dụng phổ biến nhất trong đó Ngân hàng cho người đi vay sử dụng một số vốn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh

doanh, đầu tư hay tiêu dùng. Theo cam kết thì đến hạn người đi vay sẽ

phải hoàn trả cho Ngân hàng phần vốn đã vay cộng thêm tiền lãi. Ngân hàng kiểm soát được người đi vay cũng như quá trình sử dụng vốn. Hoạt động này có mức độ rủi ro rất lớn, có thể không thu hồi được vốn vay hoặc người vay trả không hết hay trả không đúng hạn. Do đó, trong hoạt động cho vay, các Ngân hàng sử dụng các biện pháp đảm bảo như thế

chấp, cầm cố …

- Chiết khấu thương phiếu: Là việc Ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của

Ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn. Trong nghiệp vụ

Trang 10 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

này, Ngân hàng cung cấp tín dụng cho một chủ thể và một chủ thể khác

thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng.

- Cho thuê (Financial leasing): Là loại hình tín dụng trung, dài hạn, trong đó Ngân hàng bỏ tiền của mình ra để mua tài sản cho khách hàng thuê theo những điều kiện nhất định. Khi hết hợp đồng thuê, khách hàng được

quyền mua lại hoặc kéo dài thời hạn thuê, hoặc lựa chọn trả lại tài sản cho

Ngân hàng.

- Bảo lãnh: Là việc Ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng, cho phép khách hàng sử dụng uy tín của mình để

thực hiện các hợp đồng kinh tế đã kí kết hay các hoạt động kinh doanh

khác. Trên cơ sở đó, Ngân hàng thu phí bảo lãnh từ khách hàng.

 Đầu tư: Là khoản mục có vị trí rất quan trọng, mang lại cho Ngân hàng khoản thu nhập tương đối lớn. Ngân hàng có thể dùng nguồn vốn huy động được để

đầu tư vào các lĩnh vực nhưng chủ yếu là đầu tư vào chứng khoán. Tất cả các hình

thức đầu tư đều nhằm mục đích mang lại thu nhập, nhưng mặt khác nhờ hoạt động

đầu tư mà các rủi ro của hoạt động Ngân hàng sẽ được phân tán. Do vậy, các Ngân

hàng cũng chủ yếu nắm giữ các loại giấy tờ có giá có tính thanh khoản cao và khả

năng sinh lời như chứng khoán chính phủ, chứng khoán Ngân hàng và chứng khoán

của các công ty lớn có uy tín.

 Kinh doanh ngoại tệ: Ngân hàng thương mại cũng tham gia kinh doanh trên thị trường hối đoái nhằm thu lợi cho chính mình hoặc cho khách hàng. Việc kinh

doanh ngoại tệ cũng góp phần thúc đẩy công tác thanh toán quốc tế, tài trợ cho xuất

nhập khẩu… Hoạt động kinh doanh ngoại tệ thường gặp phải tổn thất nếu gặp rủi ro

hối đoái nên đòi hỏi Ngân hàng phải có trình độ chuyên môn cao và nhanh nhạy với

những biến động trên thị trường.

 Tài trợ cho các hoạt động của chính phủ: Theo yêu cầu của chính phủ hoặc

do Ngân hàng tự nguyện tài trợ cho các dự án của chính phủ.

1.1.5.3. Các hoạt động khác

 Tạo điều kiện để tài trợ ngoại thương

Trong nền kinh tế thị trường và thời mở cửa như hiện nay, việc thúc đẩy sự

phát triển của hoạt động ngoại thương là điều hết sức cần thiết. NHTM có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào các ngành sản xuất

Trang 11 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

trong nước cũng như giúp các doanh nghiệp trong nước vay vốn hoặc liên kết làm ăn với các doanh nghiệp ở nước ngoài. Điều này có thể làm giảm bớt chi phí, giúp

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

các doanh nghiệp trong nước nắm bắt kịp thời các thành tựu kinh tế kỹ thuật cũng

như góp phần làm tăng lợi nhuận trong kinh doanh.

 Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn

Hoạt động này được ra đời và phát triển khi thu nhập của các cá nhân, các tổ

chức kinh tế tăng cao. Ngân hàng thực hiện theo sự ủy thác của khách hàng trong

việc quản lý tài sản, chuyển giao tài sản thừa kế, bảo quản chứng khoán, vàng bạc,

giấy tờ có giá… ở mức độ an toàn nhất.

1.2. Những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ huy động vốn trong hoạt động kinh

doanh của NHTM

1.2.1. Khái niệm về vốn

Vốn của các Ngân hàng thương mại phần lớn là các khoản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong sản xuất kinh doanh được gửi vào Ngân hàng với những mục đích

khác nhau. Ngân hàng đóng vai trò tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế

để chuyển đến các nhà đầu tư có nhu cầu về vốn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm về vốn của NHTM như sau: “Vốn của

Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng thương mại tạo lập

hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác”. Vốn và các hoạt động về huy động vốn đóng vai trò chi phối và quyết định

trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng

thương mại.

1.2.2. Phân loại vốn

1.2.2.1. Vốn tự có Là nguồn vốn thuộc sở hữu riêng của Ngân hàng. Nó chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn của Ngân hàng Thương mại, song nó là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập. Do tính chất ổn định cuả nó, vốn tự có được sử dụng vào các mục đích khác nhau như: trang bị cơ sở vật chất, tạo ra tài sản cố định phục vụ cho hoạt động Ngân hàng.

Vốn tự có của Ngân hàng Thương mại được coi như tài sản đảm bảo lòng tin với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp kinh doanh thua lỗ.

Trang 12 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Nó còn là một trong những căn cứ quyết định đến qui mô và khối lượng vốn huy

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

động của Ngân hàng.

Theo khoản 13 điều 20 luật các tổ chức tín dụng qui định: vốn tự có của

Ngân hàng bao gồm:

- Vốn tự có cơ bản: là vốn pháp định (vốn điều lệ) nó là mức tối thiểu phải

có khi thành lập do pháp luật qui định.

- Vốn tự có bổ sung: vốn của các Ngân hàng Thương mại không ngừng tăng

lên theo thời gian nhờ có nguồn vốn bổ sung bao gồm: Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều

lệ, quỹ dự trữ đặc biệt, lợi nhuận chưa phân bổ,... thặng dư vốn, quỹ dự phòng bù

đắp tổn thất(rủi ro)...

Vốn tự có mang tính ổn định cao, thuộc sở hữu của Ngân hàng (vĩnh viễn

hoặc dài hạn). Tỷ trọng của nó trong Ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ: thường từ 7%-

8%( ở Việt nam các Ngân hàng có vốn tự có chiếm 4%-5%).

1.2.2.2. Vốn huy động

Là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế

và cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ của mình và

được dùng để làm "phương tiện" kinh doanh.

Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các sở hữu khác nhau. Ngân hàng

đang tạm thời quản lý, chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu, có trách

nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn (đối với tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi khách

hàng có nhu cầu rút vốn (đối với loại tiền gửi không kỳ hạn). Chỉ có NHTM mới có

quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau.

Về mặt lý thuyết, nguồn vốn này không ổn định, tuy nhiên nó chiếm tỷ trọng

lớn trong tổng số nguồn vốn.

1.2.2.3. Vốn đi vay

Vốn đi vay là phần vốn các Ngân hàng đi vay để bổ sung vào vốn hoạt động

của mình trong trường hợp tạm thiếu vốn khả dụng. Ngân hàng đi vay từ 2 nguồn:

- Vay từ các tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế khác: vay dự trữ bảo đảm khả năng thanh toán của các tổ chức tín dụng khác; vay cầm cố giấy tờ có giá; thực

hiện hợp đồng mua lại.

Trang 13 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

- Vay từ Ngân hàng Trung ương: thông qua chiết khấu, lãi suất của khoản tiền vay cao hay thấp, phụ thuộc vào từng thời kỳ. Tùy theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn, vốn vay Ngân hàng Nhà nước được chia thành các loại: vốn vay ngắn

hạn bổ sung, vay thanh toán hoặc tái cấp vốn.

Vốn đi vay không mang tính tạm thời, mang tính tập trung và ổn định cao,

tuy nhiên nó có chi phí tương đối cao cho nên chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn

vốn của Ngân hàng.

1.2.2.4. Vốn khác

Vốn khác là phần vốn phát sinh trong quá trình thực hiện các dịch vụ ủy

thác, các khoản trong thanh toán không dùng tiền mặt như ủy nhiệm thu, ủy nhiệm

chi…hoặc các khoản phải nộp, phải trả khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả…

1.2.3. Đặc điểm của vốn huy động

Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM, cơ cấu nguồn vốn này có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của Ngân hàng Thương

mại vì nó tạo ra lãi suất đầu vào cao hay thấp. Đây là nguồn vốn chủ yếu và quan

trọng nhất của bất kỳ một Ngân hàng Thương mại nào. Nó chi phối đến mọi hoạt

động của NHTM.

Nguồn vốn này không ổn định vì khách hàng có thể rút tiền bất kỳ lúc nào,

do đó các NHTM cần phải duy trì một khoản dự trữ thanh khoản để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng để đảm bảo an toàn cho hoạt động của Ngân

hàng, tránh sự sụt giảm đột ngột về nguồn vốn của Ngân hàng.

Ngân hàng Thương mại tuân thủ theo luật định về mức vốn huy động tối đa

không vượt quá 20 lần vốn tự có, đồng thời mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng

Nhà nước và duy trì ở đó lượng dự trữ bắt buộc.

Vốn huy động có tính cạnh tranh mạnh. Để thu hút khách hàng đến với mình, các Ngân hàng không ngừng hoàn thiện khung lãi suất thật hấp dẫn nên nguồn vốn

này có chi phí sử dụng khá cao.

Vì những đặc điểm trên nên các NHTM thường không sử dụng nguồn vốn

này trong đầu tư, chỉ sử dụng trong các hoạt động tín dụng và bảo lãnh.

Trang 14 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

1.2.4. Vai trò của vốn huy động

Đối với mọi đơn vị kinh doanh, muốn hoạt động kinh doanh được tiến hành

cần phải có tư liệu sản xuất. Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền

tệ nên phải có tiền mới có thể hoạt động kinh doanh được. Hoạt động tìm kiếm tư liệu sản xuất của Ngân hàng thương mại là hoạt động huy động vốn. Như vậy, huy động vốn đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của các Ngân hàng thương

mại.

 Vốn là cơ sở để Ngân hàng tiến hành hoạt động kinh doanh.

Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì phải

có vốn, vì vốn phản ánh năng lực kinh doanh. Điều này thể hiện ở vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay của Ngân hàng. Nếu vốn tự có giữ vai trò quan trọng trong việc thành lập thì sau khi đi vào hoạt động, vốn huy động quyết định tới quy mô đầu

tư, cho vay nên sẽ ảnh hưởng tới thu nhập của Ngân hàng. Vậy, nếu Ngân hàng

không có vốn thì không thể tiến hành hoạt động kinh doanh.

 Vốn ảnh hưởng trực tiếp đến qui mô các hoạt động của NHTM.

Vốn huy động của Ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến việc mở rộng hay thu

hẹp tín dụng, hoạt động bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ hay trong hoạt động thanh

toán của các Ngân hàng thương mại. Thông thường so với các Ngân hàng lớn có

những khoản mục về đầu tư cho vay đa dạng, phạm vi và khối lượng cho vay của

các Ngân hàng này lớn, trong khi các Ngân hàng nhỏ lại giới hạn phạm vi hoạt động

chủ yếu trong một khu vực nhỏ, trong nước. Nếu khả năng về vốn của Ngân hàng

đó dồi dào thì Ngân hàng có thể mở rộng được các hoạt động của mình, đa dạng

hóa các loại hình dịch vụ và đáp ứng được nhu cầu về vốn của khách hàng về cho

vay, bảo lãnh, đầu tư...

 Vốn giúp Ngân hàng chủ động trong kinh doanh.

Ngân hàng không thể hoạt động kinh doanh tốt nếu các hoạt động nghiệp vụ hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đi vay: vay để cho vay, vay để đầu tư, vay để thanh toán... Bởi vì khi đi vay vốn để thực hiện các hoạt động của mình, Ngân hàng sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào đối tượng cho vay về thời hạn vay, số lượng vay và chi phí vay cao. Do đó có thể Ngân hàng sẽ bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh. Ngược lại, Ngân hàng có lượng vốn huy động dồi dào sẽ hoàn toàn chủ động trong hoạt động kinh

doanh của mình, không phụ thuộc vào ai, không bị bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Nguồn

vốn huy động lớn cũng làm tăng khả năng hoạt động của Ngân hàng như chủ động

Trang 15 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro và tăng thu nhập, đạt mục tiêu cuối cùngcủa Ngân hàng là an toàn và sinh lợi.

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

 Vốn huy động giúp Ngân hàng quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo

uy tín của mình trên thị trường.

Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt

động đòi hỏi các Ngân hàng phải coi uy tín của mình trên thị thường là điều quan trọng. Uy tín đó trước hết được thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toáncho khách hàng. Khả năng thanh toán của Ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng càng lớn. Mặt

khác, uy tín của Ngân hàng còn thể hiện ở khả năng cho vay và đầu tư của Ngân

hàng. Với tiềm năng vốn và khả năng huy động vốn lớn, Ngân hàng có thể hoạt

động kinh doanh với quy mô ngày càng tăng, tiến hành cạnh tranh có hiệu quả, vừa

giữ chữ tín vừa nâng cao thanh thế của Ngân hàng trên thị trường.

 Vốn huy động quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Nếu nguồn vốn huy động lớn sẽ chứng minh rằng qui mô, trình độ nghiệp

vụ, phương tiện kĩ thuật của Ngân hàng hiện đại. Trên thực tế, nếu Ngân hàng nào

có nguồn vốn lớn hơn thì sẽ có thế mạnh cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh.

Với những vai trò hết sức quan trọng đó, các Ngân hàng luôn tìm cách đưa ra

những chính sách quản lý nguồn vốn từ khâu nhận vốn từ những người gửi tiền và

những người cho vay khác nhau đến việc sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả.

Bên cạnh đó, các nhà quản trị Ngân hàng cũng luôn tìm cách để đổi mới, hoàn thiện

chúng cho phù hợp với tình hình chung của nền kinh tế. Đó là một trong những điều

kiện tiên quyết đưa Ngân hàng đến thành công.

1.2.5. Các hình thức huy động vốn

1.2.5.1. Tiền gửi của khách hàng Tiền gửi của khách hàng đó là tiền gửi của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp cơ quan Nhà nước và các định chế tài chính trung gian cùng cá nhân trong và ngoài nước có quan hệ gửi tiền tại Ngân hàng.

Tiền gửi của khách hàng được chia làm hai bộ phận: Tiền gửi của doanh

nghiệp, tổ chức kinh tế và tiền gửi tiết kiệm của dân cư.

 Tiền gửi của các doanh nghiệp, TCKT gồm:

Trang 16 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

+ Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi chờ thanh toán mà không phải để dành. Khoản tiền này khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào và

Ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng, thực chất đó là khoản tiền gửi

dùng để đảm bảo trong thanh toán.

Đối với khách hàng, khoản tiền này đã đem lại sự an toàn trong việc bảo

quản vốn và trong quá trình thanh toán trả tiền hàng hoá dịch vụ, ngoài ra khách

hàng còn được hưởng một khoản tiền lãi nhỏ và một số dịch vụ miễn phí. Còn đối với Ngân hàng phải bỏ ra một số chi phí cho bộ máy kế toán theo dõi và nghi chép

các nghiệp vụ phát sinh, chi phí phát hành séc và một số dịch vụ kèm theo. Chi phí

này khá lớn, nhưng nó được bù đắp lại bởi vì trên thực tế do lượng tiền gửi vào và số lượng tiền rút ra không cùng một lúc và chủ tài khoản thường không sử dụng hết số tiền của mình trên tài khoản. Do đó luôn tồn tại một số tiền trên tài khoản trong

một thời gian dài số dư ấy được Ngân hàng dùng để đầu tư cho vay đối với một số doanh nghiệp, cá nhân thiếu vốn sản xuất, kinh doanh để thu lợi nhuận. Như vậy đối

với tài khoản tiền gửi thanh toán số dư trên tài khoản giao dịch không những bù đắp

được chi phí mà còn có thể mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng.

+ Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp,

chưa sử dụng đến trong một thời gian nhất định, mà khoảng thời gian này được xác

định trước. Do đó các doanh nghiệp thường gửi vào Ngân hàng dưới hình thức tiền

gửi có kỳ hạn. Về nguyên tắc khách hàng chỉ được rút tiền ra khi đến hạn và được

hưởng số tiền lãi trên số tiền gửi đó. Nhưng hiện nay để thu hút vốn nhằm khuyến

khích khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng, các NHTM cho phép khách hàng rút tiền

ra trước thời hạn. Trong trường hợp này khách hàng không được hưởng lãi hoặc chỉ

được hưởng theo lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn.

 Tiền gửi tiết kiệm dân cư:

Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền để dành của mỗi các nhân được gửi vào Ngân hàng, nhằm hưởng lãi suất theo qui định. Tiền gửi tiết kiệm là bộ phận thu nhập bằng tiền gửi của cá nhân chưa sử dụng được gửi vào tổ chức tín dụng. Nó là một dạng đặc biệt của tích luỹ tiền tệ trong tiêu dùng cá nhân. Khi gửi tiền người gửi tiền được giao một sổ tiết kiệm coi như một giấy chứng nhận tiền gửi vào Ngân hàng. Đến thời hạn khách hàng rút tiền ra được nhận một khoản tiền lãi trên tổng số

tiền gửi tiết kiệm.

Có hai loại tiền gửi tiết kiệm là:

Trang 17 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Loại tiền gửi này người gửi tiền có thể rút ra một phần hoặc toàn bộ số tiền gửi bất kỳ lúc nào. Nhưng khác với loại tiền gửi thanh toán, người gửi tiền không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả

cho người khác, lãi suất tiền gửi tiết kiệm thường cao hơn và phần lớn những người

gửi tiền tiết kiệm là do chưa xác định được nhu cầu chi tiêu cụ thể trong tương lai,

nhưng lại hưởng mức lãi trong thời gian khoản tiền nhàn rỗi.

+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Khi cá nhân gửi tiền vào Ngân hàng loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn trên cơ sở thoả thuận giữa khách hàng và Ngân hàng về thời

hạn gửi, lãi suất theo qui định và khách hàng chỉ được rút tiền ra khi đến hạn.

Nhưng trong thực tế ở nước ta hiện nay để khuyến khích người gửi tiền các NHTM

vẫn cho khách hàng rút ra trước thời hạn và được hưởng lãi suất thấp hơn lãi suất

tiền gửi có kỳ hạn (thông thường bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn).

Do nguồn vốn huy động từ loại tiền gửi này mang tính ổn định, cho nên các NHTM thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau như loại 3 tháng, 6 tháng, 12

tháng, 24 tháng… nhằm thu hút càng nhiều nguồn vốn với lãi suất của các kỳ hạn

khác nhau.

Thông thường kỳ hạn ngày càng dài thì lãi suất huy động ngày càng cao. Nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm của dân cư có số lượng lớn thứ hai trong tổng số các loại tiền gửi vào Ngân hàng và nó phục thuộc rất lớn vào thu nhập bình quân theo đầu người, tỷ lệ tiết kiệm trên tổng thu nhập của dân cư, chất lượng phục

vụ của NHTM, sự ổn định đồng tiền và nền kinh tế tăng trưởng vững chắc.

1.2.5.2. Tạo vốn qua phát hành công cụ nợ

Vốn phát hành của Ngân hàng, đây là hình thức huy động vốn thông qua

phát hành kỳ phiếu, trái phiếu…Đó là các công cụ nợ của Ngân hàng.

Đặc điểm của loại vốn này là lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm. Mục đích huy động dùng để đáp ứng cho các dự án đầu tư lớn. Nguồn vốn này được huy động theo nhiều thời hạn khác nhau như ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Hiện nay ở Việt nam các NHTM thường huy động nguồn vốn này dưới hình thức phát hành kỳ phiếu có mục đích và trái phiếu trung,

dài hạn.

+ Phát hành kỳ phiếu có mục đích: Kỳ phiếu là một chứng chỉ huy động vốn

có mục đích, có thời hạn, người sở hữu có thể chuyển nhượng cho người khác qua

Trang 18 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

chứng nhận của Ngân hàng, vì trên sổ kỳ phiếu có ghi tên người hưởng. Kỳ phiếu Ngân hàng được phát hành nhằm huy động vốn trong dân cư một cách linh hoạt có tác dụng thu hút các nguồn tiền nhàn rỗi vào Ngân hàng, góp phần kiềm chế lạm

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

phát, ổn định giá trị của đồng tiền, tạo nguồn vốn trung dài hạn để đầu tư cho các dự

án phát triển kinh tế.

+ Phát hành trái phiếu: Trái phiếu Ngân hàng thực chất là giấy nhận nợ có kỳ

hạn của Ngân hàng đối với những người mua trái phiếu (nhà đầu tư). Trái phiếu được các NHTM hay các tổ chức tín dụng phát hành nhằm huy động vốn cho chính

bản thân Ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng có liên quan. Thời hạn của trái phiếu thường lớn hơn một năm. Lãi suất của trái phiếu thường cao hơn lãi suất của tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu. Các NHTM phát hành trái phiếu trên cơ sở nhu cầu sử dụng

vốn thông qua các dự án đầu tư của các doanh nghiệp mà Ngân hàng cam kết cho

vay.

Huy động vốn thông qua việc phát hành các công cụ nợ của các NHTM như

kỳ phiếu, trái phiếu là một hình thức mới trong công tác huy động vốn của NHTM ở

các nước đang phát triển. Vốn được huy động từ hình thức này dùng để đầu tư cho

các dự án trung và dài hạn.

1.2.5.3. Vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác và Ngân hàng Trung ương

Khi các NHTM có sự mất cân đối giữa nguồn vốn huy động và sử dụng vốn,

xảy ra hiện tượng thiếu vốn đột xuất. Để đảm bảo khả năng thanh toán của mình,

các tổ chức tín dụng vay vốn của nhau qua thị trường liên Ngân hàng. Thị trường

này giúp cho NHTM bổ sung nguồn vốn cho nhau, nhằm giải quyết tình trạng thiếu

hụt vốn trong thanh toán.

Việc thực hiện quan hệ tín dụng giữa các NHTM phải được tiến hành theo

nguyên tắc đi vay cho vay và phải được thoả thuận trên cơ sở hợp đồng tín dụng. Các Ngân hàng đi vay phải chấp hành đầy đủ các quy chế dự trữ bắt buộc và an

toàn vốn, phải có tài khoản tiền gửi thanh toán hoạt động thường xuyên tại NHTW.

Khi các NHTM đã hết khả năng vay mượn của nhau mà vẫn thiếu vốn hoặc mất khả năng thanh toán, các NHTM thực hiện vay vốn tại NHTW để tạo thêm nguồn vốn bổ sung cho hoạt động kinh doanh của mình. Nguồn vốn của NHTW là nguồn vốn cuối cùng, làm cho khả năng thanh toán của nền kinh tế được bình

thường. Nếu như thiếu nguồn vốn này thì sẽ xuất hiện các cuộc khủng hoảng tài

chính khi các NHTM mất khả năng thanh toán.

Trang 19 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

Các nguồn vốn đi vay từ các tổ chức tín dụng khác, từ NHTW để đảm bảo khả năng thanh toán trong những trường hợp cần thiết. Cho nên thời hạn vay

thường ngắn, lãi suất thường cao hơn các hình thức huy động vốn khác của NHTM.

1.2.5.4. Tạo vốn từ nguồn vốn khác

Ngoài các nguồn vốn huy động trên các NHTM cũng có thể khai thác nguồn

vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế, đây là nguồn vốn lớn, có thời hạn tương đối

dài từ 5 đến 50 năm với lãi suất tương đối ưu đãi. Khi các NHTM nhận các nguồn

vốn này thường có các điều kiện kèm theo rất chặt chẽ và việc cấp phát phải đúng

nội dung chương trình của các dự án tài trợ.

Các nguồn vốn này có đóng góp rất quan trọng vào công cuộc đổi mới công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước và NHTM phải tăng cường mở rộng các mối quan hệ hợp tác quốc tế, từ đó tranh thủ và tiếp nhận

các nguồn vốn này.

Đây là các hình thức huy động vốn chủ yếu của NHTM, tuy nhiên chất lượng, hiệu quả của hoạt động huy động vốn chịu ảnh hưởng tác động rất nhiều yếu

tố, từ các yếu tố mang tính chất vĩ mô, đến các yếu tố mang tính chất vi mô của nền

kinh tế, cũng như các yếu tố liên quan tới chính NHTM.

1.2.6. Mối tương quan giữa huy động vốn và sử dụng vốn

Huy động vốn và sử dụng vốn là hai hoạt động quan trọng và chủ yếu trong

hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng Thương mại. Đó là hai quá trình của một

vai trò đặc biệt - vai trò trung gian tài chính. Hai loại nghiệp vụ này không những có

ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng Thương mại mà

nó còn có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội.

Trong mối quan hệ nhân quả của nó, huy động được nhiều vốn đòi hỏi phải sử dụng hết các nguồn vốn đó. Để sử dụng hết chúng Ngân hàng Thương mại thực hiện nghiệp vụ chủ yếu là hoạt động cho vay. Đây chính là nghiệp vụ sinh lời chủ

yếu( chiếm 90% lợi nhuận) của Ngân hàng Thương mại. Ngân hàng huy động được

nguồn vốn mà không tìm cách sử dụng được sẽ gây ứ đọng vốn. Nếu sử dụng không đúng sẽ gây thất thoát vốn và từ đó mất khả năng chi trả cho người gửi tiền. Ngược lại, nếu Ngân hàng huy động vốn đến đâu sử dụng đến đó và việc sử dụng đúng

Trang 20 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

mục đích, đối tượng thì sẽ có hiệu quả, có tác dụng hoàn trả kịp thời cho người gửi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

đồng thời tiếp tục cho các hoạt động mới.

Nói tóm lại, nếu huy động vốn là khâu khởi đầu, là điều kiện tiên quyết thì

sử dụng vốn có hiệu quả là bước đột phá cuối cùng quyết định sự thành công hay

thất bại của một Ngân hàng.

1.3. Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn

1.3.1. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả huy động vốn

Thực tế có rất nhiểu chỉ tiêu để phân tích tình hình hoạt động huy động vốn.

Nhưng có 3 chỉ tiêu cơ bản thường được dùng để đánh giá khả năng huy động vốn:

1.3.1.1. Tỷ lệ Vốn huy động/Vốn tự có:

Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng huy động vốn của Ngân hàng so với

vốn tự có, chỉ tiêu này khoảng không quá 20 lần là tốt.

1.3.1.2. Tỷ lệ Vốn huy động/Tổng nguồn vốn:

Chỉ tiêu này đánh giá tỷ lệ vốn huy động được so với tổng nguồn vốn, cho

thấy trong tổng nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng có bao nhiêu vốn hình thành từ

huy động.

1.3.1.3. Tỷ trọng các loại tiền gửi:

Chỉ tiêu này thể hiện cơ cấu vốn huy động theo các tiêu thức: thời gian, loại

tiền, sản phầm: tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, thẻ tín dụng… Qua đó thấy

được loại tiền gửi nào là chủ yếu và quan trọng của Ngân hàng.

1.3.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn

1.3.2.1. Nhân tố khách quan

1.3.2.1.1. Môi trường pháp lý

Mọi hoạt động kinh doanh, trong đó hoạt động của Ngân hàng đều phải chịu sự điều chỉnh của luật pháp. Các hoạt động của NHTM chịu sự điều chỉnh của Luật các tổ chức tín dụng và hệ thống các văn bản pháp luật khác của Nhà nước. Những Luật này qui định tỉ lệ huy động vốn của Ngân hàng so với vốn tự có, qui

định về việc gửi và sử dụng tài khoản tiền gửi... Có những Bộ Luật tác động gián tiếp đến hoạt động Ngân hàng như Luật đầu tư nước ngoài hoặc các NHTM không

Trang 21 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

được nhận tiền gửi hoặc cho vay bằng cách tăng giảm lãi suất, mà phải dựa vào lãi suất do NHNN đưa ra và chỉ được xê dịch trong biên độ nhất định mà NHNN cho

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

phép... Bên cạnh đó, ở Việt nam hiện nay các NHTM được tổ chức theo mô hình tổng công ty, do vậy các chi nhánh Ngân hàngtrong hoạt động của mình ngoài việc phải tuân thủ theo pháp luật và các văn bản dưới luật của nhà nước ban hành còn phải tuân thủ theo các quy định mà Ngân hàng mẹ ban hành trong từng thời kỳ về lãi suất, tỷ lệ dự trữ, hạn mức cho vay...Trong sự ràng buộc về luật pháp, các yếu tố

của nghiệp vụ huy động vốn thay đổi làm ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng của

hoạt động huy động vốn.

1.3.2.1.2. Môi trường kinh tế - xã hội

Tình hình kinh tế - xã hội trong và ngoài nước cũng có tác động không nhỏ đến quá trình huy động vốn của Ngân hàng. Môi trường kinh tế vĩ mô bao gồm các yếu tố tác động tới thu nhập, thói quen chi tiêu, thanh toán cũng như nhu cầu sử dụng các dịch vụ Ngân hàng bao gồm: Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tỉ lệ lạm

phát và thất nghiệp, thu nhập bình quân đầu người, trình độ giáo dục, dân số và các

yếu tố khác. Khi nền kinh tế tăng trưởng hay suy thoái đều ảnh hưởng tới nghiệp vụ

tạo vốn của NHTM. Nền kinh tế tăng trưởng, sản xuất phát triển, từ đó tạo điều kiện

tích luỹ nhiều hơn, do đó tạo môi trường cho việc thu hút vốn của NHTM thuận lợi.

Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát tăng, người dân không gửi tiền vào

Ngân hàng mà giữ tiền để mua hàng hoá, việc thu hút vốn gặp khó khăn.

1.3.2.1.3. Sự phát triển của thị trường tài chính

Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển, các Ngân hàng cũng sẽ

được tạo điều kiện thuận lợi trong mọi nghiệp vụ của mình. Thị trường tài chính

phát triển sẽ tạo tính thanh khoản cho các công cụ nợ và nhiều sản phẩm dịch vụ

khác. Thị trường tài chính phát triển còn tạo ra sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng với nhau, giữa Ngân hàng với các tổ chức tài chính phi Ngân hàng khác. Với xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, Ngân hàng và các tổ chức tín dụng nước ngoài cũng mở rộng phạm vi hoạt động của mình ở nước ta, thực tế là thị trường của các Ngân hàng thương mại nội địa đang bị thu nhỏ. Muốn cạnh tranh được với các đối thủ, Ngân hàng không những phải nghiên cứu kĩ đối thủ mà còn phải tìm hiểu rõ về khách hàng, thị trường, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ… Ở nước ta, các Ngân hàng vẫn chủ yếu cạnh tranh bằng lãi suất, chất lượng dịch vụ còn

chưa được chú ý.

Trang 22 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản cũng là những đối thủ cạnh tranh rất đáng chú ý đặc biệt khi xét đến nghiệp vụ huy động vốn. Sự phát triển của thị trường chứng khoán và bất động sản tạo ra nhiều phương

án đầu tư cho người dân lựa chọn, do đó việc gửi tiền vào Ngân hàng không còn là

hướng duy nhất để kiếm lời trên khoản tiền nhàn rỗi của mình nữa.

1.3.2.1.4. Tâm lý, thói quen khách hàng

Khách hàng của Ngân hàng bao gồm những người có vốn gửi tại Ngân

hàng và những đối tượng sử dụng vốn đó. Ở khoản mục tiền gửi tiết kiệm có hai

yếu tố quan trọng tác động vào là thu nhập và tâm lý của người gửi tiền.

Thu nhập, thói quen tiêu dùng, thanh toán không dùng tiền mặt, thói quen sử dụng các dịch vụ của Ngân hàng ( thanh toán, chuyển tiền, sec, thẻ tín dụng, thẻ rút tiền…) có ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn của Ngân hàng vì những yếu

tố đó có ảnh hưởng tới quyết định gửi tiền của người dân và ảnh hưởng tới nguồn

vốn tiềm tàng mà Ngân hàng có thể huy động trong tương lai. Khi mà người dân

vẫn còn thói quen chi tiêu tiền mặt và cất giữ tiền tại nhà thì sẽ gây khó khăn cho

Ngân hàng. Trong khi đó, nếu người dân đã quen với việc thanh toán không dùng

tiền mặt, nhận thức được lợi ích của việc cất trữ tiền tại Ngân hàng thì sẽ tạo điều

kiện tốt cho hoạt động huy động vốn của Ngân hàng.

Còn yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự biến động ra vào của các nguồn tiền.

Khách hàng rất nhạy cảm với những thông tin trên thị trường, nếu nhận thấy có

những bất lợi hay khó khăn trong tương lai có thể ảnh hưởng tới lợi ích của họ, họ

sẽ rút tiền ra khỏi Ngân hàng hoặc cất trữ dưới dạng khác, vì thế làm thay đổi quy

mô và cơ cấu của nguồn vốn huy động.

Một đặc điểm quan trọng của đối tượng khách hàng là mức độ thường

xuyên của việc sử dụng các dịch vụ Ngân hàng. Mức độ sử dụng càng cao, Ngân

hàng càng có điều kiện mở rộng việc huy động vốn.

1.3.2.2. Nhân tố chủ quan

1.3.2.2.1. Các hình thức huy động vốn Ngân hàng muốn dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn thì trước hết phải đa dạng hình thức huy động vốn. Hình thức huy động vốn của Ngân hàng ngày càng phong

phú, linh hoạt bao nhiêu thì khả năng thu hút vốn từ nền kinh tế càng lớn bấy nhiêu.

Điều này xuất phát từ sự khác nhau trong nhu cầu và tâm lí của các tầng lớp dân cư.

Trang 23 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Mức độ đa dạng các hình thức huy động càng cao thì dễ dàng đáp ứng một cách tối đa nhu cầu của dân cư. Do vậy các NHTM thường cân nhắc rất kĩ lưỡng trươc khi đưa vào áp dụng một hình thức mới.

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

1.3.2.2.2. Chính sách lãi suất cạnh tranh Việc duy trì lãi suất tiền gửi cạnh tranh giữa các Ngân hàng với nhau đã trở

nên cực kỳ quan trọng trong việc thu hút các khoản tiền gửi mới và duy trì tiền gửi

hiện có. Điều này đặc biệt đúng khi lãi suất thị trường đã ở vào mức tương đối cao. Các Ngân hàng cạnh tranh giành vốn không chỉ với các Ngân hàng khác mà còn với

các tổ chức tiết kiệm khác, các thị trường tiền tệ và với những người phát hành các công cụ tài chính khác nhau trong thị trường tiền tệ. Đặc biệt trong giai đoạn khan hiếm tiền tệ, đủ cho những khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất cũng sẽ thúc đẩy

người gửi tiền tiết kiệm và nhà đầu tư chuyển vốn từ Ngân hàng này sang Ngân

hàng khác hay từ công cụ này sang công cụ khác.

1.3.2.2.3. Công nghệ Ngân hàng

Trình độ công nghệ Ngân hàng được thể hiện theo ba yếu tố: Các loại dịch

vụ mà Ngân hàng cung ứng, trình độ nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên Ngân

hàng và cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

Trình độ công nghệ Ngân hàng ngày càng cao, khách hàng sẽ càng cảm

thấy hài lòng về dịch vụ được Ngân hàng cung ứng và yên tâm hơn khi gửi tiền tại

các Ngân hàng. Đây là một yếu tố rất quan trọng giúp Ngân hàng cạnh tranh phi lãi

suất vì khách hàng mà Ngân hàng phục vụ, không quan tâm đến lãi suất mà quan

tâm đến chất lượng và loại hình dich vụ mà Ngân hàng cung ứng. Với cùng một lãi

suất huy động như nhau, Ngân hàng nào cải tiến chất lượng dịch vụ tốt hơn, tạo sự

thuận tiện hơn cho khách hàng thì sức cạnh tranh sẽ cao hơn.

1.3.2.2.4. Các dịch vụ Ngân hàng cung ứng

Một Ngân hàng có dịch vụ tốt, đa dạng hiển nhiên có lợi thế hơn so các Ngân hàng có các dịch vụ hạn chế. Trong điều kiện thành phố thiếu bãi đậu xe, Ngân hàng có bãi đậu xe rộng rãi cũng là một lợi thế hoặc Ngân hàng có giao dịch mặt đường trên các phố chính, có hệ thống rút tiền tự động làm việc ngày đêm, có cán bộ giao dịch niềm nở, có trách nhiệm, tạo được niềm tin cho khách hàng cũng là lợi thế đáng quan tâm của các NHTM. Khác về cạnh tranh, về lãi suất, cạnh tranh

về dịch vụ Ngân hàng không giới hạn, do vậy đây chính là điểm mạnh để các Ngân

hàng giành thắng lợi trong cạnh tranh.

Trang 24 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

1.3.2.2.5. Mức độ thâm niên của một Ngân hàng

Đối với các khách hàng khi cần giao dịch với một Ngân hàng thì bao giờ

họ cũng dành phần ưu ái đối với một Ngân hàng có thâm niên hơn là một Ngân hàng mới thành lập. Bởi vì, theo họ thì một Ngân hàng thâm niên là một Ngân hàng có uy tín, vững vàng trong nghiệp vụ, có nguồn vốn và có khả năng thanh toán cao.

Do vậy, mức độ thâm niên về một khía cạnh nào đó cũng tạo ra được lòng tin đối

với khách hàng.

1.3.2.2.6. Chính sách quảng cáo

Không một ai có thể phủ nhận được vai trò to lớn của chính sách quảng cáo

trong thời đại ngày nay. Trong hoạt động Ngân hàng hiện đại, quảng cáo luôn được

đề cao và cần phải có một chi phí nhất định cho công tác này. Đồng thời Ngân hàng

cũng phải có chiến lược quảng cáo đặc biệt không chỉ trên truyền hình mà nên dùng

cả Pano, áp phích, tờ rơi nhằm đẩy mạnh công tác huy động vốn.

Trên đây là các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của các hệ thống Ngân hàng thương mại. Với mỗi Ngân hàng trong những giai đoạn khác

nhau, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trên đến hoạt động huy động vốn cũng

khác nhau. Tùy thuộc vào tình hình cụ thể mà các Ngân hàng có thể xây dựng cho

mình một chiến lược huy động thích hợp.

Kết luận chương 1:

Nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập, ngày càng có cơ hội phát

triển trên mọi lĩnh vực. Sự ra đời và lớn mạnh của các công ty quốc doanh và ngoài

quốc doanh dẫn đến nhu cầu về vốn đầu tư cũng tăng mạnh. Ngân hàng là một loại

hình trung gian tài chính quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt là khi hoạt động của

thị trường tài chính và các trung gian tài chính phi ngân hàng khác chưa phát triển, các Ngân hàng thương mại trở thành kênh dẫn vốn có vai trò vô cùng quan trọng. Việc huy động vốn do đó cũng trở thành nhu cầu cấp thiết của cả nền kinh tế nói chung và các Ngân hàng thương mại nói riêng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nền kinh tế khó khăn cùng với sự tăng lên đáng kể về số lượng các Ngân hàng trên thị trường, chính điều đó đã tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt đòi hỏi mỗi Ngân hàng cần phải đánh giá đúng thực trạng kinh doanh của Ngân hàng để từ đó khắc phục, hoàn thiện những nghiệp vụ huy động vốn hiện tại và không ngừng

mở rộng danh mục hoạt động của mình. Cũng như các Ngân hàng khác hệ thống và

các chi nhánh, phòng giao dịch khác trong cùng hệ thống, Ngân hàng TMCP Nam

Trang 25 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Á - PGD Bến Thành đã nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động huy động vốn đối với kết quả hoạt động kinh doanh của mình. Và điều này sẽ được thể hiện

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

rõ trong những chương sau.

Trang 26 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NAM Á – PHÒNG GIAO DỊCH BẾN THÀNH

2.1. Tổng quan về Ngân hàng Nam Á – Phòng giao dịch Bến Thành

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Tên giao dịch đầy đủ: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Nam Á

Tên viết tắt : NamABank

Hội sở : 201- 203 Cách Mạng Tháng Tám, Phường 4, Quận 3, TP.HCM

E-mail: namabank@namabank.com.vn

Vốn điều lệ : 3.000.000.000.000 đồng

Cùng với sự đi lên của đất nước, sự đổi mới trong lĩnh vực kinh tế - xã hội,

cơ hội và thử thách đặt ra cho ngành Ngân hàng ngày càng lớn. Nhạy bén nắm bắt

thời cơ, xác định đúng đắn chiến lược phát triển, năng động trong điều hành, sau

hơn 18 năm xây dựng và phát triển Ngân hàng Nam Á đã trở thành một trong những

biểu tượng của sự thành công, không ngừng nâng cao “Giá trị vượt thời gian” cho

mọi đối tượng khách hàng.

Ngân hàng TMCP Nam Á chính thức hoạt động từ ngày 21/10/1992, là một

trong những Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên được thành lập sau khi Pháp

lệnh về Ngân hàng được ban hành vào năm 1990, trong bối cảnh nước ta đang tiến

hành đổi mới kinh tế. Qua 19 năm hoạt động, cơ sở vật chất, công nghệ khoa học kỹ

thuật và mạng lưới hoạt động của Ngân hàng ngày càng mở rộng, đời sống cán bộ nhân viên ngày càng được cải thiện, uy tín của Ngân hàng ngày càng được nâng cao.

Mục tiêu hiện nay của Ngân hàng TMCP Nam Á là phấn đấu thành một trong các Ngân hàng hiện đại của Việt Nam trên cơ sở phát triển nhanh, vững chắc an toàn và hiệu quả, trở thành một trong các Ngân hàng thương mại hàng đầu cả

nước và không ngừng đóng góp cho sự phát triển kinh tế của cộng đồng, xã hội.

Từ những ngày đầu hoạt động, Ngân hàng TMCP Nam Á chỉ có 3 chi nhánh

với số vốn điều lệ 5 tỷ đồng và gần 50 cán bộ nhân viên. Đến nay, qua những chặng

Trang 27 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

đường phấn đấu đầy khó khăn và thách thức, Ngân hàng TMCP Nam Á đã không ngừng lớn mạnh, có mạng lưới gồm hơn 50 Chi nhánh, Phòng giao dịch trên cả

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

nước.

PGD Bến Thành là một bộ phận trực thuộc Ngân hàng Nam Á – Chi nhánh

Tân Định. Được thành lập ngày 30/06/2009, với vị trí tọa lạc tại: số 265 Lý Tự

Trọng, Phường Bến Thành, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh. PGD được xây dựng nhằm

khai thác tiềm năng của Ngân hàng Nam Á tại khu vực mới, đáp ứng nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng của đại bộ phận dân cư và doanh nghiệp trên địa bàn như:

huy động vốn, hoạt động tín dụng, dịch vụ thanh toán và Ngân quỹ, các dịch vụ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và ủy quyền của Ngân hàng TMCP Nam Á. PGD hạch toán báo sổ, có báo cáo tài chính và con dấu riêng, cuối ngày giao dịch

mọi chứng từ, sổ sách đều được lưu lại tại Phòng giao dịch.

2.1.2. Chức năng và lĩnh vực hoạt động

PGD Bến Thành có chức năng đáp ứng nhu cầu khách hàng trong địa bàn, cụ

thể hoạt động trong các lĩnh vực:

 Huy động vốn từ khách hàng cá nhân hoặc doanh nghiệp với các hình thức

tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn.

 Thực hiện hoạt động thanh toán, chuyển tiền giữa các khách hàng

 Nhận vốn đầu tư, vốn từ các tổ chức tín dụng khác.

 Cho vay và thu nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và mức ủy quyền

của Ngân hàng Nam Á

 Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc.

2.1.3. Chiến lược phát triển

Không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh để đạt mức lợi nhuận cao, gia tăng sức mạnh nội lực, giá trị thương hiệu Ngân hàng Nam Á trên thị trường; Tranh thủ thời cơ tạo những bước phát triển đột phá để đa dạng các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng hiện đại, trên nguyên tắc kinh doanh đảm bảo an toàn hiệu quả và phát triển bền vững; Tăng cường huy động để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh và đầu tư; mở rộng tín dụng có định hướng, phù hợp mục tiêu phát triển của

Ngân hàng; không ngừng xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng các sản phẩm

dịch vụ của Phòng giao dịch.

Trang 28 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

Đầu tư công nghệ thông tin tiên tiến, hiện đại đủ khả năng đáp ứng nhu cầu điều hành, ứng dụng sản phẩm mới có nhiều tiện ích hiện đại, chất lượng và tính an toàn cao; Mở rộng, đầu tư đúng mức mạng lưới hoạt động, thiết lập nhiều kênh

phân phối rộng, hiệu quả; phát triển quan hệ đối ngoại; Không ngừng đầu tư nâng

cao chất lượng nhân sự, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ, có tính

chuyên nghiệp cao và có tâm huyết với nghề nghiệp, với Ngân hàng Nam Á; Có

chính sách ưu tiên các nguồn lực hiện có để phát triển các nghiệp vụ chủ chốt làm động lực thúc đẩy các nghiệp vụ khác thực hiện thành công những mục tiêu đã đề

ra.

Nâng cao năng lực kiểm soát điều hành, chú trọng các kỹ thuật quản trị, điều

hành theo kịp tiến trình hội nhập; đảm bảo được tính minh bạch của báo cáo tài

chính. Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng đạt tiêu chuẩn ISO, BVQI để đảm bảo

công tác quản trị ngày càng có hiệu quả; Giữ vững sự an toàn của Ngân hàng Nam Á trong mọi tình huống và tăng cường khả năng cạnh tranh; Xây dựng hình ảnh

Phòng giao dịch phù hợp với những nét đặc trưng riêng biệt của Ngân hàng Nam Á

gắn kết với phong cách giao tiếp văn minh, lịch sự; Tăng cường công tác quảng cáo,

tiếp thị và tích cực tham gia các chương trình xã hội để tạo nên một hình ảnh mới

của Ngân hàng và quảng bá thương hiệu Ngân hàng Nam Á rộng rãi trong công

chúng.

2.1.4. Sứ mệnh hoạt động

 Tham gia đóng góp cho sự phát triển lớn mạnh, an toàn của hệ thống

Ngân hàng.

 Góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước trên cơ sở đáp ứng kịp thời các nhu cầu hợp lý về phát triển sản xuất – kinh doanh –

dịch vụ của khách hàng bằng các phương tiện hiện đại, sản phẩm dịch vụ mới với phong cách phục vụ chuyên nghiệp và tận tâm, nhằm đem lại lợi nhuận và lợi ích cao nhất cho tập thể Ngân hàng Nam Á, cho từng cổ đông Ngân hàng Nam Á và tạo điều kiện thuận lợi cho bản thân và cũng

như gia đình của toàn thể cán bộ nhân viên Ngân hàng Nam Á.

2.1.5. Cơ cấu tổ chức bộ máy Ngân hàng Nam Á- PGD Bến Thành

Hiện nay, cơ cấu PGD Bến Thành bao gồm: 01 Giám Đốc, 01 Phó Giám

Đốc, Tổ Kế Toán, Tổ Tín Dụng và Tổ Ngân Quỹ.

Trang 29 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

2.1.5.1. Sơ đồ tổ chức

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của PGD Bến Thành

GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC

TỔ TÍN DỤNG TỔ NGÂN QUỸ TỔ KẾ TOÁN

(Nguồn Tổ kế toán Ngân hàng Nam Á- PGD Bến Thành)

2.1.5.2. Chức năng của các phòng ban

 Ban Giám đốc: bao gồm Giám đốc và Phó giám đốc

- Giám đốc: phụ trách chung các phòng ban trong Ngân hàng, điều hành mọi hoạt động kinh doanh, ký duyệt các loại văn bản giấy tờ của Ngân hàng,

đồng thời chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng.

- Phó Giám đốc: tham mưu giúp Giám đốc và trực tiếp quản lý hoạt động kinh

doanh của Ngân hàng, giải quyết công việc khi Giám đốc đi vắng.

 Tổ kế toán:

- Thực hiện mở tài khoản giao dịch với khách hàng, hạch toán chính xác, kịp

thời mọi biến động về vốn, tài sản của khách hàng và Ngân hàng.

- Tiếp nhận, xử lý hạch toán kế toán theo đúng quy định các hồ sơ vay vốn của khách hàng, phối hợp với phòng tín dụng để thực hiện nợ kịp thời, đúng chế

độ.

Trang 30 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

- Tham mưu cho Giám đốc trích lập, hạch toán, sử dụng quỹ phúc lợi, quỹ

khen thưởng phù hợp với chế độ Nhà nước và của Giám đốc.

 Tổ tín dụng:

- Thực hiện cho vay, thu nợ bằng VND và ngoại tệ với các tổ chức kinh tế, cá nhân theo đúng cơ chế tín dụng của NHNN và hướng dẫn của Giám đốc.

- Nghiên cứu đề xuất các biện pháp giải quyết vướng mắc trong hoạt động kinh doanh tại PGD, phản ánh kịp thời những vấn đề nghiệp vụ mới phát

sinh để báo cáo Giám đốc xem xét, giải quyết.

- Phân tích hoạt động kinh doanh của khách hàng vay vốn, cung cấp kịp thời

chất lượng các báo cáo, thông tin về công tác tín dụng cho lãnh đạo.

 Tổ Ngân quỹ:

Có chức năng cất giữ, bảo quản, kiểm đếm, kiểm soát tiền. Đồng thời là nơi

bảo quản các giấy tờ có giá, cáchồ sơ và tài sản thế chấp của khách hàng.

2.1.6. Kết quả hoạt động kinh doanh trong những năm gần đây

Bảng 2.1: Báo cáo hoạt động kinh doanh 2009 - 2011

Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu 2009 2010 2011

279.307 228.901 292.769 Tổng thu

136.460 129.578 151.373 Tổng chi

142.847 99.323 141.396 Lãi

(Nguồn báo cáo hoạt động kinh doanh của NAB - PGD Bến Thành)

Trước tình hình cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM nhằm thu hút vốn nhàn rỗi trong dân cư, Nam Á cũng đưa ra các chiến lược huy động vốn như mở rộng địa bàn hoạt động, canh tranh bằng lãi suất, khuyến mãi, tăng tiện ích đối với khách

hàng… để canh tranh thu hút vốn trong thời kì hội nhập, cùng với những thu nhập

Trang 31 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

khác phát sinh và việc sử dụng chi phí có hiệu quả nên qua 3 năm Ngân hàng đã đạt

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

được những kết quả khả quan.

Tuy nhiên, do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới, kinh tế trong nước khó khăn nên mức lợi nhuận của năm 2010 chỉ đạt được mức 99.323 triệu đồng, giảm so với năm 2009 là 43.524 triệu đồng. Nhưng đến năm 2011, Ngân hàng đã

dần khắc phục tình hình và đưa lợi nhuận của Ngân hàng đạt mức 141.396 triệu

đồng. Đây là một dấu hiệu tích cực.

2.2. Thực trạng công tác huy động vốn tại Phòng Giao Dịch Bến Thành

2.2.1. Các hình thức huy động vốn đang áp dụng tại PGD

Hiện nay, PGD Bến Thành đang huy động vốn chủ yếu từ hai nguồn: Tiền gửi

thanh toán và tiền gửi tiết kiệm. Phát hành giấy tờ có giá tại PGD Bến thành chủ yếu

thông qua sổ tiết kiệm nên ở đây sẽ được tính vào khoản tiền gửi tiết kiệm.

2.2.1.1. Tiền gửi thanh toán

Đây thực sự là nguồn vốn quan trọng của Ngân hàng, là một khoản tiền mà

khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế gửi vào Ngân hàng để

thực hiện thanh toán, chi trả tiền nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ, và vốn tạm thời

nhàn rỗi trong quá trình sản xuất kinh doanh. Các khách hàng gửi tiền vào Ngân

hàng với mục đích là an toàn và hưởng các dịch vụ mà Ngân hàng cung ứng.

Bảng 2.2: Tình hình huy động tiền gửi thanh toán của PGD Bến Thành

Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu 2009 2010 2011

32.071 22.148 62.988 Tiền gửi thanh toán

- 9.923 + 40.840 Tăng (giảm) số tuyệt đối

- 30,94% +184% Tỷ lệ % so cùng kỳ

(Nguồn báo cáo hoạt động kinh doanh của NAB – PGD Bến Thành)

Trang 32 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

Qua bảng số liệu trên ta thấy thực trạng tiền gửi thanh toán của các doanh nghiệp năm 2009 là 32.071 triệu đồng và năm 2010 giảm xuống còn 22.148 triệu

đồng, giảm 9.923 triệu đồng. Tuy nhiên đến năm 2011, con số này đã tăng đến mức

đáng kể là 62.988 triệu đồng, tăng thêm 40.840 triệu đồng, tương đương 184% so

với năm 2010. Một con số rất đáng mừng.

Biểu đồ 2.1: Tình hình huy động Tiền gửi thanh toán qua các năm.

62.988

32.071

22.148

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Tiền gửi thanh toán Đơn vị: Triệu đồng

Nguồn tiền gửi thanh toán luôn chiếm một vị trí quan trọng trong tổng nguồn

vốn vì đây là nguồn vốn có chi phí thấp tạo điều kiện cho Ngân hàng giảm chi phí

và tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Chính vì vậy mà PGD Bến Thành đang từng

bước phát triển cố gắng nâng cao tỷ trọng nguồn tiền gửi này.

2.2.1.2. Tiền gửi tiết kiệm

Đây là khối lượng tiền nhàn rỗi của khách hàng chủ yếu là các cá nhân gửi vào Ngân hàng qua các tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên sổ tiết kiệm để hưởng lãi hoặc tiết kiệm cho chi tiêu trong tương lai. Nguồn vốn này thực sự là nguồn tiềm năng dồi dào, có tính ổn định cao và luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong

tổng nguồn vốn huy động.

Tiền gửi tiết kiệm bao gồm tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn:

Trang 33 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

+ Tiền gửi không kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng có thể gửi nhiều lần và rút ra bất cứ lúc nào. Khách hàng có thể yêu cầu Ngân hàng trích tiền từ tài khoản này để chi trả cho nguời thụ hưởng về tiền hàng hóa, cung ứng lao vụ. Mục đích chính của nguời gửi tiền là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các

khoản thanh toán qua Ngân hàng và do vậy nó thường được gọi là tài khoản tiền gửi

thanh toán.

+ Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng được rút ra sau một thời gian nhất định từ một vài tháng đến một vài năm. Mục đích của người gửi tiền là

lấy lãi và Ngân hàng có thể chủ động kế hoạch hóa việc sử dụng nguồn vốn này vì

tính thời hạn của nguồn vốn.

Bảng 2.3: Tình hình huy động tiền gửi tiết kiệm của PGD Bến Thành

Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu 2009 2010 2011

130.550 126.910 89.256 Tổng tiền gửi tiết kiệm

398 774 165 - Không kỳ hạn

130.152 126.136 89.091 - Có kỳ hạn

- 3.640 - 37.654 Tăng (giảm) số tuyệt đối

- 2,79% - 29,67% Tỷ lệ % so cùng kỳ

(Nguồn báo cáo hoạt động kinh doanh của NAB – PGD Bến Thành)

Quan sát tổng quan bảng số liệu cho thấy, bộ phận tiền gửi tiết kiệm đang có xu hướng giảm dần qua các năm. Cụ thể, đến cuối năm 2010 giảm so với cùng kỳ năm 2009 là 3.640 triệu đồng, tương đương giảm 2,79%. Đến năm 2011, bộ phận tiền gửi này lại giảm 37.654 triệu đồng, khoảng 29,67%. Con số tiền gửi tiết kiệm

này đang dần giảm xuống do ảnh hưởng từ nhiều yếu tố.

Trang 34 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng TGTK không kỳ hạn và TGTK có kỳ hạn

TGTK có kỳ hạn

100% 80% 60% 40% 20% 0%

TGTK không kỳ hạn

2009

2010

2011

2009

2011

2010

TGTK không kỳ hạn

0.30%

0.18%

0.61%

TGTK có kỳ hạn

99.70%

99.82%

99.39%

Qua 3 năm 2009, 2010, 2011, ta thấy tiền gửi không kỳ hạn chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong nguồn tiền gửi tiết kiệm và tương đối ổn định. Tiền gửi có kỳ hạn là hình thức huy động chủ yếu của nguồn huy động tiền gửi tiết kiệm, chiếm khoảng trên

98% tổng nguồn tiết kiệm. Cụ thể năm 2009 là 130.152 triệu đồng, chiếm 99,7%

trong tổng tiền gửi dân cư (130.550 triệu) và năm 2010 là 126.136 triệu đồng,

chiếm 99,39%. Tính đến 31/12/2011, con số tỷ trọng này tăng lên đến 99,82% trong

tổng nguồn TGTK, nhưng về mặt số tuyệt đối thì có phần giảm hơn so với cùng kỳ

năm 2010.

Nguyên nhân của việc giảm tỷ trọng này trong những năm vừa qua là do giai đoạn này tình hình kinh tế đang biến động, tình trạng lãi suất đang vô cùng nhạy

cảm và bất ổn, do đó tâm lý khách hàng bị dao động, không chắc chắn, vì vậy sẽ

ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của việc huy động vốn từ nguồn tiền gửi này.

Hơn nữa, hiện nay, trong tổng nguồn vốn của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn của Ngân hàng thì loại tiền gửi tiết kiệm trên 12 tháng chiếm tỷ trọng rất thấp. Trong khi đó, loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dưới 12 tháng, đặc biệt loại 1 tháng và 3 tháng lại chiếm tỷ trọng rất cao và chủ yếu. Mặc dù trong những năm vừa qua có tăng nhưng tăng chậm chưa đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho vay và đầu tư trung và dài hạn của Ngân hàng, và Ngân hàng vẫn còn nằm trong tình trạng thiếu vốn trung

và dài hạn.

Vì vậy, Ngân hàng nên tiếp tục đổi mới chiến lược về lãi suất và hình thức

Trang 35 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

huy động, mở rộng các loại hình vốn vay dài hạn, tạo lòng tin cho khách hàng nhằm tăng cường nguồn vốn trung và dài hạn, đảm bảo an toàn cho Ngân hàng khi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

sử dụng nguồn vốn vay này.

Ngoài ra, Ngân hàng cần mở rộng hơn nữa các quan hệ cá nhân, doanh

nghiệp và các tổ chức kinh tế, từ việc tăng số lượng khách hàng này sẽ đẩy mạnh

công tác huy động vốn, nâng cao lượng TGTK và TGTT và giúp cho công tác sử

dụng vốn của Ngân hàng đạt hiệu quả cao nhất.

2.2.2. Chỉ tiêu phản ánh tình hình chung về công tác huy động vốn tại PGD

2.2.2.1. Cơ cấu nguồn vốn của PGD Bến Thành

Vốn là một nguồn không thể thiếu của bất kì doanh nghiệp, tổ chức kinh tế

nói chung và của Ngân hàng nói riêng. Vì vây, mỗi Ngân hàng phải luôn đảm bảo

cho mình một nguồn vốn dồi dào đáp ứng nhu cầu của khách hàng đến vay vốn và

đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình phát triển của đất nước.

Bảng 2.4: Cơ cấu các nguồn vốn của Phòng Giao Dịch Bến Thành

Đơn vị: Triệu đồng

2009 Chỉ tiêu 2010 2011

8.458 8.857 11.565 Vốn tự có

8.273 8.615 11.007 - Vốn điều lệ

185 242 558 - Vốn tự có bổ sung

162.621 149.058 152.244 Vốn huy động

4.076 7.123 9.827 Vốn khác

175.155 165.038 173.636 Tổng nguồn vốn

(Nguồn báo cáo hoạt động kinh doanh của NAB – PGD Bến Thành)

Ngoài nguồn vốn tự có theo luật định thì nguồn vốn huy động được xem là

nguồn chủ chốt, mang tính quyết định và chi phối mọi hoạt động của Ngân hàng.

Trang 36 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Vốn huy động thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn Ngân hàng. Điều

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

này được thể hiện rõ qua bảng số liệu trên và dễ dàng thấy qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu các nguồn vốn qua các năm từ 2009 – 2011.

162621

152244

149058

11565

9827

8857

8458

7123

4076

180000 160000 140000 120000 100000 80000 60000 40000 20000 0

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Vốn huy động

Vốn tự có

Vốn khác

Đơn vị: Triệu đồng

Qua bảng số liệu và biểu đồ trên cho thấy, trong khi nguồn vốn huy động

đang biến động theo nền kinh tế thì nguồn vốn tự có và nguồn vốn khác lại có xu

hướng tăng dần qua mỗi năm. Cụ thể, nguồn vốn tự có tính đến năm 2009 là 8.458

triệu đồng, năm 2010 tăng lên 8.857 triệu đồng, và đến năm 2011 con số này đã

tăng lên đến 11.565 triệu đồng. Điều này chứng tỏ trong những năm qua hoạt động

kinh doanh của Ngân hàng đã đạt được những thành tựu đáng kể nâng con số vốn tự

có này ngày một cao hơn trong tổng nguồn vốn. So với hai nguồn vốn chủ chốt của

Ngân hàng thì nguồn vốn khác (bao gồm những nguồn phát sinh chủ yếu từ các

khoản thanh toán không dùng tiền mặt như ủy nhiệm thu – chi và lương chưa trả) lại chiếm một phần tương đối nhỏ trong tổng nguồn vốn. Năm 2009 chỉ là 4.076 triệu đồng nhưng đến 2011 đã đạt đến 9.827 triệu đồng, tăng 5.751 triệu đồng sau 2 năm. Trong đó, góp phần đẩy mạnh nguồn vốn này tăng nhanh qua các năm chủ yếu dựa vào hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt. Qua đó thấy được hoạt động này của Ngân hàng đang đi theo chiều hướng tốt mang lại vốn không nhỏ cho Ngân

hàng.

Tổng nguồn vốn mà Phòng giao dịch đạt được tính đến năm 2011 nhìn chung

đã được hồi phục mặc dù có những biến động trong nền kinh tế. Năm 2010, tổng nguồn vốn có phần giảm hơn so với năm 2009 là 10.117 triệu đồng, tương đương

Trang 37 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

giảm 5,78%. Nhưng đến năm 2011, tổng nguồn vốn mà PGD đạt được là 173.636

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

triệu đồng, tăng 8.598 triệu đồng, tương đương tăng 5,21% so với năm 2010.

Sở dĩ có được kết quả trên là do Ngân hàng đã khắc phục được phần nào ảnh hưởng của môi trường bên ngoài về lãi suất cạnh tranh, đồng thời nâng cao chất

lượng các dịch vụ Ngân hàng và luôn tích cực tìm kiếm nguồn vốn có chất lượng để

phục vụ cho mục đích kinh doanh của mình.

2.2.2.2. Nghiệp vụ huy động vốn

Huy động vốn là một nghiệp vụ chủ chốt, không thể thiếu của các Ngân hàng

nói chung và của Ngân hàng Nam Á nói riêng, bởi nguồn vốn chính của một Ngân

hàng là nguồn vốn huy động. Hơn nữa, huy động vốn không phải là một nghiệp vụ độc lập mà nó gắn liền với các nghiệp vụ sử dụng vốn và các nghiệp vụ trung gian

khác như thanh toán, chuyển tiền của NHTM.

2.2.2.2.1. Tỷ lệ Vốn huy động so với Vốn tự có

Bảng 2.5: Tình hình Vốn huy động và Vốn tự có

Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu 2009 2010 2011

162.621 149.058 152.244 Vốn huy động (VHĐ)

- 13.563 + 3.186 -Tăng(giảm) số tuyệt đối

8,34% 2,14% -Tỷ lệ so với năm trước

8.857 11.565 8.458 Vốn tự có (VTC)

175.155 165.038 173.636 Tổng nguồn vốn

19,23 (lần) 16,83 (lần) 13,16 (lần) Tỷ lệ VHĐ/VTC

5,37% 6,66% Tỷ trọng VTC/Tổng nguồn vốn 4,83%

(Nguồn báo cáo hoạt động kinh doanh của NAB – PGD Bến Thành)

Trang 38 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

Qua bảng số liệu trên cho thấy, cùng với sự biến đổi kinh tế trên thị trường nguồn vốn huy động của PGD tăng giảm không ổn định qua các năm. Tính đến 31/12/2009, tổng nguồn vốn huy động là 162.621 triệu đồng, nhưng đến

31/12/2010, con số này giảm còn 149.058 triệu đồng, tương đương giảm 8,34% so

với cùng kỳ 2009. Đến 31/12/2011, tổng huy động vốn tăng thêm được 3.186 triệu

đồng so cùng kỳ 2010, đạt mức 152.244 triệu đồng.

Biểu đồ 2.4: Tình hình tăng trưởng Vốn huy động tại PGD năm 2009 – 2011

Đơn vị: Triệu đồng

Năm

180

Số tiền

162.621

160

152.244

149.058

140

120

100

80

60

40

20

0

2009

2010

2011

Cùng thay đổi theo thời gian là nguồn vốn tự có của PGD đã tăng lên một

cách rõ ràng và đây là một tín hiệu tốt. Năm 2009, nguồn vốn tự có của PGD chỉ là 8.458 triệu đồng, chiếm chỉ 4,83% so với tổng nguồn vốn của PGD, nhưng đến năm 2011 đã lên đến 11.565 triệu đồng (bằng 137% so với năm 2009), và nâng tỷ trọng trong tổng nguồn vốn lên 6,66%. Điều này chứng tỏ PGD đã có sự đầu tư và phát

triển theo chiều hướng ngày càng tốt.

Trang 39 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

Biểu đồ 2.5: Tình hình tăng trưởng Vốn tự có tại PGD năm 2009 – 2011

Đơn vị: Triệu đồng

Vốn tự có

14000

12000

11565

10000

8857

8458

8000

6000

Số tiền

4000

2000

0

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Bên cạnh đó, tỷ lệ VHĐ/VTC của PGD đang giảm dần theo từng năm. Cụ

thể là năm 2009 vốn huy động đạt gấp 19,23 lần so với vốn tự có, đến năm 2010 đã

giảm còn 16,83 lần và đến năm 2011 chỉ là 13,16 lần. Con số này phù hợp với quy

định tỷ lệ VHĐ/VTC không được vượt mức 20 lần. Tuy nhiên, sự sút giảm này

cũng cần được lưu ý. Có thể là do nguồn vốn huy động trong những năm gần đây

tăng giảm không ổn định, nguồn vốn huy động khó khăn. Nguyên nhân có thể do sự

cạnh tranh của các Ngân hàng khác, chính sách huy động vốn,… nhưng PGD đã kịp

thời bổ sung một lượng lớn vốn tự có nhằm đảm bào an toàn cho hoạt động của

Ngân hàng.

2.2.2.2.2. Tỷ lệ Vốn huy động so với Tổng nguồn vốn

Trang 40 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

Bảng 2.6: Biến động của nguồn vốn huy động tại PGD năm 2009-2011

Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu 2009 2010 2011

175.155 165.038 173.636 Tổng nguồn vốn

162.621 149.058 152.244 Vốn huy động (VHĐ)

92,84% 90,32% 87,68% Tỷ trọng VHĐ/Tổng nguồn vốn

(Nguồn báo cáo hoạt động kinh doanh của NAB – PGD Bến Thành)

Qua bảng số liệu, dựa vào tỷ trọng Vốn huy động so với Tổng nguồn vốn

qua 3 năm 2009, 2010 và 2011, ta có thể thấy được tầm quan trọng của nguồn vốn

huy động, cơ cấu nguồn vốn này có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của Ngân

hàng Thương mại vì nó tạo ra lãi suất đầu vào cao hay thấp.

Cụ thể, năm 2009, tỷ trọng của nguồn vốn này là 92,84%, đến năm 2010 chỉ còn là 90,32% và năm 2011 là 87,68%. Con số này đang có xu hướng giảm xuống

có thể do thời gian này nền kinh tế thế giới đang khủng hoảng và Việt Nam không

tránh khỏi những ảnh hưởng vì vậy việc huy động vốn cũng gặp không ít khó khăn.

Tuy nhiên, nhìn chung thì vốn huy động vẫn chiếm một tỷ trọng rất cao trong tổng

nguồn vốn.

Với phương châm tăng cường nguồn vốn, PGD Bến Thành đã cố gắng thực

hiện đa dạng hóa các hình thức, tạo mọi điều kiện thoải mái nhất cho khách hàng

khi giao dịch, đặc biệt là thái độ làm việc chuyên nghiệp và tận tình của các nhân

viên đã giúp công tác huy động vốn có những biểu hiện tích cực.

Nhận thức được tầm quan trọng của vốn huy động, Ngân hàng Nam Á – PGD Bến Thành đã tập trung mọi nỗ lực và coi đây là nhiệm vụ trọng tâm nên trong những năm gần đây nguồn vốn huy động đã dần khắc phục khó khăn. Ngân hàng đã áp dụng nhiều biện pháp linh hoạt để khắc phục tình trạng biến động, duy trì được tỷ trọng. Nguồn vốn huy động đã giúp PGD Bến Thành luôn luôn chủ động trong công tác sử dụng vốn, đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng và tăng lợi nhuận cho

Ngân hàng.

Trang 41 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

2.2.2.2.3. Tỷ trọng các loại tiền gửi so với Tổng nguồn vốn huy động

Nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được chiếm tỷ lệ lớn, hầu như mọi hoạt

động kinh doanh của Ngân hàng đều dựa vào nguồn vốn này. Trong đó, nguồn huy

động lớn nhất là từ tiền gửi của các thành phần kinh tế và dân cư. Vì là PGD nên huy

động vốn chủ yếu vẫn là tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán. Và như đã đề cập ở

trên, phát hành giấy tờ có giá tại PGD Bến thành chủ yếu thông qua sổ tiết kiệm nên ở

đây sẽ được tính vào khoản tiền gửi tiết kiệm.

Bảng 2.7: Cơ cấu huy động vốn của PGD Bến Thành năm 2009- 2011

Đơn vị: Triệu đồng

2009

2010

2011

Chỉ tiêu

Số tiền

Số tiền

Số tiền

Tỷ trọng (%)

Tỷ trọng (%)

Tỷ trọng (%)

32.071

22.148

62.988

1. Tiền gửi thanh toán

19,72

14,86

41,37

130.550

126.910

89.256

2.Tiền gửi tiết kiệm

80,28

85,14

58,63

-

-

-

-

-

-

3.Phát hành giấy tờ có giá

Tổng nguồn vốn huy

162.621

149.058

152.244

động

(Nguồn báo cáo hoạt động kinh doanh của NAB – PGD Bến Thành)

Qua bảng số liệu cho thấy nguồn tiền gửi thanh toán đang dần tăng lên qua các năm. Việc tăng lên của tiền gửi thanh toán là một điều đáng mừng vì đây là nguồn vốn có chi phí thấp tạo điều kiện cho Ngân hàng tiết kiệm chi phí và tăng được sức cạnh tranh trên thị trường. Trong khi đó, tiền gửi tiết kiệm lại đang có xu hướng giảm dần do ảnh hưởng từ nhiều yếu tố bên ngoài. Sự tăng giảm này làm thay đổi tỷ trọng của các nguồn tiền gửi trong tổng nguồn vốn huy động của PGD,

và được thể hiện rõ qua biểu đồ sau:

Trang 42 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

Tiền gửi tiết kiệm

Tiền gửi thanh toán

14.86%

19.72%

41.37%

85.14%

80.82%

58.63%

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Biểu đồ 2.6: Cơ cấu các loại tiền gửi tại PGD Bến Thành qua các năm

Từ biểu đồ, có thể thấy được mức chênh lệch về tỷ trọng của hai loại tiền gửi

này so với tổng nguồn vốn huy động khá rõ trong 2 năm 2009 và 2010. Trong khi tiền

gửi thanh toán từ các doanh nghiệp chiếm một tỷ trọng thấp ( chỉ 15-20%) thì tỷ trọng

tiền gửi tiết kiệm lại chiếm rất cao, khoảng 80-85% trong tổng nguồn vốn huy động.

Đến năm 2011 thì tỷ trọng của TGTT là 41,37% trong khi TGTK là 58,63%, hai nguồn

tiền này đạt mức tương đương nhau, tuy nhiên tiền gửi tiết kiệm vẫn chiếm ưu thế hơn

so với tiền gửi thanh toán. Qua đó, có thể thấy rõ nguồn vốn huy động chủ yếu hiện

nay của PGD Bến Thành vẫn là tiền gửi tiết kiệm từ tầng lớp dân cư.

2.3. Đánh giá thực trạng công tác huy động vốn

2.3.1. Kết quả đạt được

Trong 3 năm hoạt động vừa qua 2009 - 2011 PGD Bến Thành Ngân hàng

Nam Á đã đạt được những kết quả khả quan:

- Với phương châm: “An toàn, phát triển, hiệu quả và bền vững”, PGD đã không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ của mình nhằm khai thác triệt để nguồn vốn nhàn rỗi một cách có hiệu quả. Nhờ đó, tổng nguồn vốn huy động có những

biểu hiện khả quan.

- Trong cơ cấu nguồn vốn, tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi doanh nghiệp chiếm tỷ lệ

Trang 43 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

lớn. Tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn ngày càng lớn hơn loại tiền gửi không kỳ hạn. Điều này tạo điều kiện trước mắt để mở rộng đầu tư tín dụng, chủ động đáp ứng nhu cầu vay vốn

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

của khách hàng, tạo lợi thế giúp Ngân hàng ổn định vốn đầu tư, tăng cơ hội mở rộng khách

hàng tiềm năng, quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, đồng thời làm

tăng uy tín của Ngân hàng trên thị trường.

- Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng trong thời gian qua chiếm 1 tỷ lệ

đáng kể trong tổng nguồn. Nguồn vốn này nói chung phù hợp với yêu cầu sử dụng

vốn và đảm bảo khả năng thanh toán của Ngân hàng.

- Cơ sở vật chất, công nghệ Ngân hàng phục vụ hoạt động huy động vốn đã và

đang được đổi mới, nâng cấp.

- Trình độ nhân viên ngày càng được nâng cao.

Nguyên nhân đạt được kết quả trên là do PGD Bến Thành đã thực hiện được

một số biện pháp đa dạng hóa hình thức huy động vốn trong dân cư, áp dụng các

chính sách ưu đãi phù hợp với tình hình thực tế của Ngân hàng. Cùng với thái độ

phục vụ tận tình của nhân viên đối với khách hàng và việc bố trí sắp xếp hợp lý

nhân viên vào các vị trí công việc.

2.3.2. Những vấn đề tồn tại

Từ khi thành lập cho đến nay, PGD Bến Thành đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế còn tồn tại và cần khắc phục:

 Nguồn TGTK trong dân cư tương đối ổn định nhưng lại có xu hướng

đang giảm dần so với tiền gửi thanh toán từ các doanh nghiệp.

 Các sản phẩm dịch vụ chưa có nhiều đổi mới, các dịch vụ đang khai thác chủ yếu vẫn là sản phẩm truyền thống, chưa có sự khác biệt trên thị

trường.

 Chưa có nhiều khách hàng mới biết đến PGD qua các phương tiện

thông tin đại chúng.

 Huy động vốn và sử dụng vốn là hai hoạt động quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của một Ngân hàng. Việc huy động vốn của PGD

những năm gần đây đã đạt được nhiều kết quả khả quan tuy nhiên vốn

Trang 44 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

trung và dài hạn còn thiếu sẽ gây khó khăn cho PGD trong việc cho vay

trung và dài hạn, ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn của Ngân hàng.

2.3.3. Nguyên nhân chủ yếu

2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan

2.3.3.1.1. Môi trường kinh tế - xã hội

Hoạt động kinh doanh của PGD đặt trong bối cảnh nền kinh tế đang

gặp khó khăn cùng với sự hình thành của các Ngân hàng thương mại khác tạo nên một môi trường cạnh tranh gay gắt, việc tìm kiếm thị phần nguồn vốn với chi phí

thấp sẽ không dễ dàng.

2.3.3.1.2. Tâm lý, thói quen khách hàng

Điều kiện kinh tế của Việt Nam chưa phát triển, thu nhập dân cư nhìn

chung còn thấp, chỉ đủ cho chi dùng nên tích luỹ chưa nhiều.Vả lại, người Việt

Nam có thói quen dùng tiền mặt trong thanh toán nên muốn thay đổi thói quen này

cần trải qua thời gian dài. Trình độ dân trí cũng thấp, hiểu biết về hoạt động Ngân

hàng còn ít cũng là một hạn chế lớn đối với hoạt động giao dịch với Ngân hàng.

2.3.3.1.3. Sự phát triển của thị trường tài chính

Có thể nói rằng, mọi bước đi của Ngân hàng đều xuất phát từ nguồn

vốn, mọi biến động cũng xảy ra ở nguồn vốn. Khi môi trường tài chính tiền tệ phát

triển các Ngân hàng cũng sẽ được tạo điều kiện thuận lợi trong mọi nghiệp vụ của

mình. Nhưng thị trường này cũng luôn chứa đựng những yếu tố bất ổn, Ngân hàng

Nam Á cần có một chiến lược nguồn vốn sâu sắc hơn, hướng vào mục tiêu bền

vững, có sức chịu đựng trước những biến đổi bất lợi.

2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan

2.3.3.2.1. Chính sách lãi suất cạnh tranh:

Việc thu thập các thông tin diễn biến lãi suất, nhu cầu người gửi tiền

còn thụ động.

2.3.3.2.2. Chính sách quảng cáo Lĩnh vực thông tin tiếp thị về Ngân hàng chưa ảnh hưởng sâu rộng tới

khách hàng. Việc tuyên truyền, marketing quảng cáo rộng khắp PGD vẫn chưa phối

hợp với các Ngân hàng cấp trên để quảng cáo cho mình.

Trang 45 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

Kết luận chương 2:

Trên đây là toàn bộ thực trạng về nghiệp vụ huy động vốn của Phòng giao

dịch Bến Thành. Cũng như tình hình chung của những Ngân hàng khác, PGD Bến Thành cũng thấy được tầm quan trọng của hoạt động huy động vốn đối với kết quả kinh doanh. Vì vậy, PGD cũng tăng cường đầu tư trang thiết bị, máy móc, áp dụng

các biện pháp nhằm thúc đẩy khả năng thu hút nguồn vốn trong nền kinh tế. Kết quả

thực tế đã chứng minh bên cạnh những thành quả nhất định, nghiệp vụ huy động vốn của PGD cũng còn tồn tại một số vấn đề cần lưu tâm. Vì vậy, vấn đề cần thiết

hiện nay là đưa ra những biện pháp có tính thực tế nhằm hoàn thiện và thúc đẩy hiệu quả của nghiệp vụ này. Và các giải pháp cho vấn đề này sẽ được đề cập trong

chương 3.

Trang 46 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NAM Á – PHÒNG GIAO DỊCH BẾN THÀNH

3.1. Định hướng phát triển của NamAbank – PGD Bến Thành đến năm 2013

Trong hoạt động của Ngân hàng thương mại, huy động vốn và sử dụng vốn là hai nghiệp vụ chủ yếu quyết định sự tồn tại, phát triển của một Ngân hàng. Huy

động vốn là điều kiện, là tiền đề để thực hiện nghiệp vụ sử dụng vốn, là khâu quyết định đến khả năng sinh lời của đồng vốn Ngân hàng. Nếu nghiệp vụ sử dụng vốn có hiệu quả thì có tác động tích cực đến công tác huy động vốn của Ngân hàng. Qua phân tích tình hình thực tế về công tác huy động vốn tại Ngân hàng Nam Á - PGD

Bến Thành đã đạt được nhiều thành công, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế. Mục tiêu của PGD trong

thời gian tới là tăng trưởng nguồn vốn huy động và mở rộng tín dụng.

3.1.1. Các mục tiêu hoạt động kinh doanh năm 2013

- Vốn điều lệ tăng 5-10% so với nửa đầu năm 2012

- Nguồn vốn huy động tăng 15-20 % so với nửa đầu năm 2012

- Dư nợ cho vay tăng 22- 25% so với nửa đầu năm 2012. Tiếp tục chuyển

dịch cơ cấu tín dụng nhằm đáp ứng đủ vốn cho các nhu cầu hợp lý.

- Phát triển và mở rộng các dịch vụ Ngân hàng, phấn đấu tăng nguồn thu

dịch vụ gấp 2 lần so với nửa đầu năm 2012.

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm soát các hoạt động Ngân hàng, xử lý

nợ tồn đọng, giảm nợ quá hạn xuống dưới 4% tổng dư nợ.

3.1.2. Biện pháp thực hiện

- Tích cực đẩy mạnh các biện pháp huy động vốn nhằm giữ vững và phát triển nguồn vốn huy động, vận dụng chính sách lãi suất và chính sách khách hàng hợp lý, phù hợp với từng đối tượng khách hàng. Duy trì đối tượng khách hàng tiền gửi truyền thống. Chú trọng khai thác nguồn vốn của các tổ chức đoàn thể xã hội,

từng bước cải thiện và tạo lập một cơ cấu nguồn vốn cân đối, ổn định.

Trang 47 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

- Tăng cường số lượng và chất lượng các sản phẩm dịch vụ, tăng tiện ích tối đa cho các sản phẩm truyền thống trên cơ sở chính sách bán hàng phù hợp đảm bảo

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

duy trì và phát triển tốt lượng khách hàng nhằm tăng thị phần, đảm bảo năng lực

cạnh tranh kinh doanh trong ngành.

- Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh, đặc

biệt là hoạt động tín dụng, tài chính và kế toán. Thực hiện nghiêm túc công tác chấn

chỉnh sau thanh tra, đảm bảo mọi hoạt động kinh doanh an toàn.

- Phát triển hệ thống quản trị hiện đại trên nền tảng công nghệ thông tin hiện

đại. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ một cách căn

bản, đặc biệt là các kỹ năng về công nghệ mới. Công tác đánh giá cán bộ cần chú

trọng tính sáng tạo, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề. Công tác tuyển dụng

lao động cần hội đủ phẩm chất đạo đức, năng lực trình độ, đáp ứng yêu cầu hiện đại

hóa ngày càng cao.

3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện nghiệp vụ huy động vốn

Qua nghiên cứu hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nam Á – PGD Bến

Thành có thể thấy trong những năm qua hoạt động của PGD nói chung và hoạt động

huy động vốn nói riêng đã đạt được một số kết quả tích cực. Mặc dù gặp không ít

khó khăn trong quá trình kinh doanh nhưng PGD vẫn vượt qua và đạt được những

mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, PGD vẫn còn tồn tại một số hạn chế do ảnh hưởng của

những nhân tố chủ quan và khách quan. Để có thể hoàn thiện hơn cũng như nâng

cao công tác huy động vốn của mình, Ngân hàng có thể thực hiện các giải pháp sau:

3.2.1. Có định hướng, kế hoạch về phát triển nguồn vốn phù hợp

 Mục tiêu:

Tìm ra những khó khăn vướng mắc xuất phát từ phía Ngân hàng hay những người gửi tiền. Từ đó giúp Ngân hàng đưa ra những hướng giải quyết đúng đắn, kịp thời, tạo nền tảng cho sự ổn định dài lâu của Ngân hàng.

 Biện pháp thực hiện:

Phải luôn luôn đánh giá một cách chi tiết, phân tích tỉ mỉ tình hình tỷ trọng, kết cấu nguồn vốn ..., tình hình thực tiễn của Việt Nam (môi trường kinh tế, pháp

lý, môi trường xã hội, tâm lý, môi trường đối ngoại).

Trang 48 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

Các định hướng, kế hoạch về công tác huy động vốn phải được xuất phát từ

những yêu cầu sau:

+ Công tác nguồn vốn của Ngân hàng phải quán triệt quan điểm phát huy nội

lực.

+ Coi khai thác triệt để các nguồn vốn dưới mọi hình thức, theo nhiều kênh

khác nhau vừa là nhiệm vụ lâu dài, vừa là yêu cầu mang tính giải pháp tình thế hiện

nay.

+ Gắn chiến lược tạo nguồn với chiến lược sử dụng nguồn trong một thể

đồng bộ, nhịp nhàng.

+ Luôn có biện pháp nâng tỷ trọng vốn tiền gửi có kỳ hạn của các doanh

nghiệp, đồng thời tăng khối lượng tiền gửi từ các tầng lớp dân cư để tạo lập một mặt

bằng vốn luân chuyển vững chắc.

3.2.2. Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn

Tuỳ từng điều kiện, thời điểm cụ thể mà PGD áp dụng những hình thức huy

động vốn phù hợp nhằm thu hút nguồn vốn nhàn rỗi và tiền mặt ngoài xã hội.

Đa năng trong kinh doanh cũng làm cho khách hàng có cảm giác thoả mãn

và ngày càng có nhiều khách hàng đến với Ngân hàng. Những hoạt động này ảnh

hưởng đến công tác huy động vốn, nhờ đó mà khả năng của Ngân hàng được nâng

lên.

3.2.2.1. Đa dạng hóa tiền gửi tiết kiệm

 Mục tiêu:

Tốc độ tăng trưởng của tiền gửi tiết kiệm tăng nhanh qua các năm và luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động. Sở dĩ như vậy vì người Việt Nam có thói quen tiết kiệm để dự phòng lúc ốm đau, bệnh tật hay mua sắm. Mục đích của họ là để kiếm lời, tích lũy. Nắm bắt được điều này, PGD đã đưa ra nhiều kỳ hạn gửi với các mức lãi suất khác nhau nhằm thu hút nguồn vốn này. Tuy nhiên, PGD cần phải đa dạng hóa tiền gửi tiết kiệm hơn nữa nhằm mục tiêu thu hút

được nguồn vốn dồi dào này.

Trang 49 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

 Biện pháp thực hiện:

- Đa dạng hoá các hình thức gửi tiền tiết kiệm trong dân cư bao gồm cả tiền

gửi tiết kiệm, tiền gửi sử dụng thẻ, trái phiếu, kỳ phiếu. Áp dụng hình thức gửi nhiều lần lấy gọn một lần, tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm tuổi già, tiết kiệm tích luỹ, hay tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm nhà ở... Với những hình thức này, Ngân hàng có

thể tăng cường được nguồn vốn huy động, đặc biệt là vốn trung dài hạn.

-Sự linh hoạt về kỳ hạn cũng là một sự hấp dẫn tiền gửi. Việc áp dụng hình

thức gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn với nhiều thời hạn khác nhau sẽ tăng nguồn vốn

trung và dài hạn, tạo điều kiện đa dạng hoá các hình thức sử dụng vốn tại Ngân

hàng.

Ngoài ra, cần có giải pháp tự động chuyển hoá tiền gửi không kỳ hạn sang có

kỳ hạn cho dân. Ví dụ, những người đã gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn ở Ngân

hàng từ 2 tháng trở lên có thể chuyển cho họ được hưởng quyền lợi về tiền gửi tiết

kiệm có kỳ hạn.

3.2.2.2. Đa dạng hóa tài khoản tiền gửi thanh toán cá nhân

 Mục tiêu:

Hình thức này giúp Ngân hàng thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư với

lãi suất thấp. Đồng thời, phát triển tài khoản cá nhân góp phần hiện đại hoá quá

trình thanh toán qua Ngân hàng, giảm tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm chi

phí lưu thông.

 Biện pháp thực hiện:

Việc mở tài khoản tiền gửi cá nhân là nhu cầu cấp thiết xét về góc độ đáp

ứng nhu cầu phát triển các dịch vụ Ngân hàng cho mọi tầng lớp dân cư và xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt của một nền kinh tế phát triển. Để tăng số lượng tài khoản này lên, đồng nghĩa với việc tăng doanh số thanh toán qua tài khoản, góp phần thúc đẩy quá trình thanh toán không dùng tiền mặt trong xã hội thì PGD cần chú ý hơn nữa đến hình thức. Bởi vì nước ta vẫn còn nghèo, thu nhập bình quân thấp, tâm lý của người dân Việt Nam vẫn quen sử dụng tiền mặt. Vì vậy khái niệm mở tài khoản cá nhân và thanh toán qua Ngân hàng với nhiều người vẫn còn rất mới mẻ. Hơn nữa, lãi suất huy động đối với loại tài khoản này là rất thấp (lãi suất không

kỳ hạn) ngược hẳn với tâm lý của người gửi tiền vào Ngân hàng luôn mong hưởng lãi suất cao.Về phía Ngân hàng cần có những biện pháp tác động như sau:

Trang 50 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

- Áp dụng mức lãi suất phù hợp hơn, hấp dẫn khách hàng mở tài khoản, kết hợp với các dịch vụ thanh toán, chi trả hộ khách hàng. Hướng dẫn cho khách hàng thấy được những tiện ích khi sử dụng tài khoản này để họ hiểu được những ưu điểm

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

của tài khoản và thường xuyên sử dụng nó. Khi người dân đã quen việc thanh toán,

chi trả và các dịch vụ thuận tiện mà Ngân hàng đưa ra cộng với sự đa dạng hoá các dịch vụ, các hình thức hoạt động của Ngân hàng, người dân sẽ ít quan tâm đến lãi suất. Cần phải tạo cho khách hàng hiểu được mục đích chủ yếu của khách hàng khi

mở và sử dụng tài khoản tiền gửi cá nhân là chất lượng dịch vụ mà không phải là

hưởng lãi.

- Ngân hàng có thể áp dụng việc theo dõi 2 tài khoản song song của khách

hàng tức là khi tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng có số dư cao, Ngân

hàng sẽ chuyển bớt sang tài khoản tiền gửi có kỳ hạn để giúp khách hàng không bị

thiệt. Ngược lại, khi khách hàng có nhu cầu thanh toán cao, Ngân hàng sẽ tự động chuyển tiền gửi có kỳ hạn thành tiền gửi thanh toán để đáp ứng nhu cầu của khách

hàng. Ngân hàng làm được như vậy sẽ tạo ra sự nhanh chóng, tiện lợi hơn cho

khách hàng. Đồng thời cũng giúp Ngân hàng giảm giai đoạn rút tiền nhiều lần, tốn

thời gian và chi phí.

- Ngân hàng cũng có thể liên kết với Kho bạc để làm dịch vụ mở tài khoản

chi trả lương cho các khách hàng là cán bộ công nhân viên làm việc ở các trường

đại học, các doanh nghiệp Nhà nước có thu nhập ổn định. Đây là một lĩnh vực còn

rất mới mẻ, cho nên thị trường và khả năng khai thác là rất lớn. Hơn nữa, trong thị

trường này, trình độ dân trí cao nên khả năng thích ứng của khách hàng với các dịch

vụ Ngân hàng là rất nhanh, nhanh chóng hoà nhập vào mạng lưới thanh toán quốc

tế, tạo nguồn vốn lớn, ổn định cho Ngân hàng.

- Liên hệ với các trường Đại học, Cao đẳng... để cùng nhà trường có thể mở

tài khoản cho mọi sinh viên trong trường. Làm được điều này có lợi cho cả Ngân hàng, nhà trường và cả sinh viên. Đối với Ngân hàng, đây là một nguồn huy động dồi dào vì hiện nay số lượng sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng... là rất lớn. Về phía nhà trường và sinh viên, sẽ dễ dàng hơn trong việc thu học phí và các chi phí, lệ phí khác. Sinh viên không còn cảnh chen chúc nhau nộp học phí, có khi

phải nghỉ cả tiết học mới chen chân được vào bàn thu.

Trang 51 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

3.2.2.3. Phát triển và mở rộng hình thức huy động vốn qua tài khoản của các

doanh nghiệp

 Mục tiêu:

Biện pháp này nhằm thu hút nguồn tiền gửi không kỳ hạn của các doanh

nghiệp, tổ chức tại Ngân hàng.

 Biện pháp thực hiện:

Hiện nay, số lượng doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn TP.HCM là rất lớn, quan hệ thương mại phức tạp. Nhiều doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp tư nhân)

không mở tài khoản thanh toán ở Ngân hàng hoặc thanh toán với nhau bằng tiền

mặt không qua Ngân hàng. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thanh toán

của hệ thống NHTM nói chung và PGD Bến Thành nói riêng, qua đó hạn chế hiệu quả huy động vốn - cho vay của PGD. Vì vậy, trong thời gian tới, Ngân hàng cần có

những giải pháp đúng đắn để thu hút nguồn vốn này như:

- Cử cán bộ xuống tận doanh nghiệp, giới thiệu cho doanh nghiệp các loại tài

khoản và những tiện ích của chúng. Đồng thời có chính sách ưu đãi khuyến khích

doanh nghiệp mở tài khoản và thanh toán qua Ngân hàng.

- Bám sát quá trình sản xuất kinh doanh, quá trình luân chuyển vật tư hàng

hoá và kỳ hạn nợ của các TCKT để động viên khách hàng nhanh chóng tiêu thụ sản

phẩm, nộp tiền cho Ngân hàng đúng hạn thanh toán. Với những khách hàng có doanh thu lớn, PGD có biện pháp thu tại chỗ theo lịch thỏa thuận với đơn vị, tạo

mối quan hệ tốt đẹp trong mối quan hệ kinh doanh với bạn hàng.

- Ngoài việc đa dạng hoá các hình thức huy động còn có thể qua tư vấn môi

giới, cầm đồ, tín dụng thu mua...

3.2.2.4. Mở rộng các loại tiền gửi khác

 Mục tiêu:

Ngân hàng cần quan tâm đến việc mở rộng thêm các loại tiền gửi khác để

đáp ứng nhu cầu ngày một đa dạng của dân chúng.

 Biện pháp thực hiện:

Ngân hàng có thể áp dụng những hình thức huy động tiết kiệm dài hạn có

mục đích, cụ thể:

Trang 52 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

- Hình thức tiết kiệm hưu trí bảo thọ: Dành cho những người có thu nhập hiện tại để dành một phần tiêu dùng cho tương lai khi về già bằng cách hàng tháng

gửi tiền vào tài khoản này.

- Hình thức tiết kiệm nhà ở: Hình thức này tạo cho người gửi tiền được

quyền vay ở Ngân hàng một khoản lớn với lãi suất hợp lý để đầu tư cho chỗ ở của

chính mình.

Song song với đa dạng hoá các hình thức tiền gửi tiết kiệm, PGD cần mở

rộng việc phát hành kỳ phiếu có mục đích với hình thức đa dạng hơn như trả lãi

trước, trả lãi sau, trả lãi định kỳ, loại 2 năm, 3 năm..., lãi suất linh hoạt tuỳ thuộc

môi trường cạnh tranh và cung cầu trên thị trường; phát hành trái phiếu Ngân hàng

thương mại để huy động vốn trung và dài hạn vừa tạo nguồn vốn trung và dài hạn,

vừa cung cấp hàng hoá cho thị trường vốn.

3.2.3. Áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt

 Mục tiêu:

Lãi suất là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc thu hút vốn

tiền gửi. Thấy rõ được điều đó, Ngân hàng rất chú trọng đến việc thay đổi lãi suất

trong từng thời kỳ sao cho phù hợp với lãi suất thị trường và nhu cầu của khách

hàng, nhằm thu hút nguồn tiền gửi của mọi thành phần trong nền kinh tế và giữ ổn

định nguồn tiền gửi lâu năm của Ngân hàng.

 Biện pháp thực hiện:

- Mức lãi suất đưa ra là tuỳ theo mức độ cần thiết của nguồn vốn, tuỳ theo

từng thời điểm, từng khu vực, phù hợp với khung lãi suất do NHNN quy định và có

lợi cho người gửi, người vay và cả Ngân hàng.

- Có thể linh hoạt trong việc tăng lãi suất đối với những khách hàng có quan hệ lâu năm hoặc là những khách hàng đặc biệt với nguồn tiền gửi dồi dào đối với

Ngân hàng.

Biện pháp tăng lãi suất để thu hút được nguồn vốn huy động có tác động rất mạnh và nhanh. Tuy nhiên, đây là biện pháp có giới hạn, bị hạn chế bởi mức quy định lãi suất tối đa của NHNN. Hơn nữa, việc tăng lãi suất huy động đồng nghĩa với

tăng chi phí đầu vào, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh. Đồng thời có liên

quan trực tiếp đến lãi suất cho vay và tác động đến toàn bộ hoạt động tín dụng của

Trang 53 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

PGD. Vì vậy, đòi hỏi Ngân hàng sự năng động, linh hoạt trong quá trình tìm kiếm nguồn vốn cho vay và xem xét kỹ giải pháp này trước khi áp dụng để tăng hiệu quả

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

cho vay, ổn định tín dụng và phù hợp với qui định của NHNN.

3.2.4. Gắn liền việc tăng cường huy động vốn với sử dụng vốn có hiệu quả

 Mục tiêu:

Nền tảng tiền gửi càng vững chắc thì tiềm năng cho vay càng lớn và thông

qua đó thu về lợi nhuận. Nếu sử dụng vốn huy động hiệu quả sẽ góp phần làm gia

tăng vốn huy động và làm tăng lợi nhuận. Hoạt động huy động vốn tạo điều kiện để

sử dụng vốn nhưng sử dụng vốn lại quyết định đến quy mô và cơ cấu vốn huy động.

Hai hoạt động này có tác động hỗ trợ qua lại lẫn nhau nên nếu kết hợp tốt sẽ mang

lại hiệu quả cho PGD.

 Biện pháp thực hiện:

Hiện nay, chất lượng sử dụng của PGD được đánh giá là cao, mang lại lợi nhuận đáng kể cho PGD. Tuy nhiên, vấn đề lãi suất linh hoạt theo từng kỳ hạn

(ngắn, trung, dài hạn) hoặc tùy theo loại tiền và loại khách hàng (khách hàng quen

hoặc khách hàng vay lớn có thể có lãi suất thấp hơn) nên được quan tâm. Và có một

vấn đề phát sinh: nhu cầu cho vay trung và dài hạn lớn hơn nguồn vốn huy động

trung và dài hạn. Để đáp ứng PGD có thể lấy nguồn vốn ngắn hạn sang cho vay

trung và dài hạn. Song việc đó sẽ rất nguy hiểm bởi vì việc chuyển hoán kỳ hạn

nguồn sẽ tiểm ẩn rủi ro thanh khoản. Vì vậy, Ngân hàng cần xác định tỷ lệ nguồn

vốn ngắn hạn có thể chuyển sang cho vay trung và dài hạn. Điều này có ý nghĩa

quan trọng vừa đảm bảo an toàn cho mình, vửa làm tăng lợi nhuận và đảm bảo được

uy tín của mình trên thị trường.

Ngoài hoạt động cho vay, nguồn vốn huy động của PGD còn được dùng để đầu tư, kinh doanh ngoại tệ, vàng… Và khi Ngân hàng có một nguồn tiền nhàn rỗi chưa sử dụng đến, nên gửi tại Ngân hàng Nhà nước, tín phiếu kho bạc… Những

hoạt động này vừa mang lại lợi nhuận vừa đảm bảo thanh khoản.

3.2.5. Thực hiện tốt chính sách khách hàng

 Mục tiêu:

Trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh của mình Ngân hàng cần

phải hiểu rõ được lợi ích mà Ngân hàng thu được phụ thuộc hoàn toàn vào lợi ích mà khách hàng, lợi ích của người gửi tiền thu được trong quá trình kinh doanh.

Trang 54 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

Vì vậy, ngân hàng cần phải có chính sách khách hàng đúng đắn để duy trì những khách hàng thân thiết và thu hút khách hàng mới đến với Ngân hàng, từ đó

làm tăng lượng tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán cho Ngân hàng, nâng cao

hiệu quả của huy động vốn

 Biện pháp thực hiện:

- Duy trì khách hàng truyền thống, khuyến khích các khách hàng cũ quay lại

giao dịch với ngân hàng, thu hút mở rộng khách hàng mới, đảm bảo lợi ích cho cả

ngân hàng và khách hàng.

- Ngân hàng cần phải chủ động tham gia vào việc xem xét các kế hoạch,

chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giúp đỡ doanh nghiệp trong việc khắc phục khó khăn, tạo mối quan hệ lâu dài. Ngân hàng có thể phân loại

khách hàng để có cách đối xử phù hợp.

- Những khách hàng lâu năm, có số dư tiền gửi lớn, được Ngân hàng tín

nhiệm thì Ngân hàng có chính sách ưu tiên về lãi suất, về kỳ hạn món vay, hạn mức

tín dụng hay tài sản thế chấp...

- Tìm hiểu, nắm bắt được yêu cầu của từng đối tượng, tâm lý khách hàng để

có chiến lược phục vụ khách hàng để thoả mãn tối đa nhu cầu của họ. Mặt khác

Ngân hàng phải xác định được đối tượng khách hàng mà họ phục vụ và giao dịch.

Ngân hàng cung cấp những sản phẩm của mình cho những đối tượng nào? Ngân

hàng có thể xâm nhập vào thị trường nào? Hiện nay nguồn vốn mà Ngân hàng nhận

được chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm của cán bộ công chức, các thương nhân trong địa

bàn và những khách hàng lâu năm quen với PGD từ trước... Ngân hàng có thể xem

xét mở rộng hoạt động huy động vốn của thương nhân ở khu vực các chợ, các khu

vực lân cận khác...

Đây không chỉ là giải pháp trước mắt mà còn về lâu dài nhằm thu hút vốn, điều này ảnh hưởng lớn đến hoạt động huy động vốn của Ngân hàng. Bởi nếu không có nguồn vốn huy động từ khách hàng thì mọi hoạt động của Ngân hàng đều

không thể diễn ra.

Trang 55 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

3.2.6. Tăng cường công tác thông tin, quảng cáo, thực hiện chiến lược

marketing hiệu quả

 Mục tiêu:

Với Ngân hàng, để mở rộng hoạt động của mình thì khuếch trương, quảng

cáo là việc làm hết sức cần thiết. Việc quảng bá hình ảnh, nắm bắt được thông tin

của khách hàng, nắm bắt được thông tin của thị trường sẽ giúp cho Ngân hàng tận

dụng được hấu hết các cơ hội. Từ đó có những định hướng, chính sách huy động

phù hợp hơn, đa dạng hơn.

Ngân hàng phải làm sao cho người dân biết đến hoạt động của mình và thấy

được lợi ích khi giao dịch với Ngân hàng. Để thu hút khách hàng đến với PGD ngày

một nhiều thì PGD phải đặt ra các chiến lược khách hàng.

 Biện pháp thực hiện:

- Phòng Giao Dịch có thể kết hợp với Ngân hàng cấp trên để có biện pháp trong các hoạt động marketing, tuyên truyền, quảng cáo, giới thiệu, đưa thông tin

đến với khách hàng để họ biết tới các hoạt động của PGD.

- Trong công tác huy động vốn, việc quảng cáo nên tập trung một số vấn đề như: lãi suất tiền gửi, hình thức huy động, lợi ích của khách hàng khi gửi tiền, việc

khai trương quỹ tiết kiệm mới... Thực tế cho thấy nhiều khi Ngân hàng đưa ra một

dịch vụ mới để huy động vốn trong một thời hạn ngắn cho hoạt động kinh doanh nhưng vẫn không được người gửi hưởng ứng. Đó là phần lớn người dân không biết

thông tin này, ngoại trừ những người thường xuyên liên hệ với Ngân hàng. Vì vậy,

việc quảng cáo nên tiến hành tương đối thường xuyên trên một số phương tiện thông

tin đại chúng như truyền hình, báo chí... Đặc biệt, khi có hình thức huy động mới thì

cần tuyên truyền một cách thường xuyên về lợi ích của nó. Một hình thức quảng cáo ít chi phí nhưng cần thiết là dán các tờ áp phích tại trụ sở, quầy giao dịch của Ngân

hàng.

- Đi song hành với hình thức quảng cáo là khuyến mại, giúp đẩy mạnh thêm hoạt động quảng cáo thu hút vốn vào Ngân hàng. Các hình thức khuyến mại đa dạng sẽ tạo ra sự thích thú của khách hàng như trả lời câu hỏi có thưởng, hình thức xổ số theo tài khoản, lãi suất ưu đãi đối với khách hàng thường xuyên giao dịch. Đây là hình thức quảng cáo tốt vì nó làm cho khách hàng, người dân biết đến, hiểu

rõ về Ngân hàng.

Trang 56 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

- Vì lợi ích của khách hàng, PGD cần có phòng Marketing riêng chuyên thu thập thông tin, nắm bắt nhu cầu của khách hàng, phân loại thị trường, phân loại

khách hàng để từ đó có cách xử lý cho phù hợp.

3.3. Một số kiến nghị

Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng Nam Á – PGD Bến Thành đã tháo gỡ

nhiều vấn đề khó khăn và cũng có nhiều vấn đề còn bất cập chưa thể vượt qua. Đứng ở địa vị PGD, những vấn đề ở trong phạm vi hoạt động của PGD thì có thể

tự giả i quyết nhưng nhữ ng v ấn đề ở ngoài phạm vi thì PGD không có quyền

giải quyết. Vì vậy để nghiệp vụ huy động vốn được hoàn thiện hơn PGD cần đến sự

hỗ trợ từ phía NHNN và Ngân hàng Nam Á. Và để hoạt động được thuận lợi hơn

em xin có một số đề xuất, kiến nghị sau:

3.3.1. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ngân hàng Nam Á nằm trong hệ thống NHTM quốc doanh, chịu sự quản lý của NHNN. Vì vậy, trong công tác huy động vốn cũng như hoạt động kinh doanh

của NamAbank cần có sự hướng dẫn chỉ đạo từ NHNN, tạo điều kiện thuận lợi cho

ngân hàng huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả.

NHNN là nơi hoạch định các chính sách tiền tệ quốc gia với mục tiêu ổn

định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã

hội, nâng cao đời sống nhân dân. Do đó, các biện pháp có thể thực hiện được nhằm

khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng, đó là NHNN cần xây dựng và điều

hành một chính sách tiền tệ ổn định và hợp lý hơn. Chính sách này phải theo sát với

tín hiệu của thị trường. Các can thiệp của NHNN phải thông qua thị trường bằng hệ

thống các công cụ tiền tệ gián tiếp (dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu, thị trường mở...).

Bởi sự quản lý chặt chẽ đôi khi vượt quá sự cần thiết vào hoạt động của Ngân hàng

sẽ tạo khó khăn cho các ngân hàng trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.

NHNN cũng cần tạo điều kiện thuận lợi để nguồn vốn huy động của các NHTM được tăng trưởng và ổn định. Bên cạnh đó, cần tăng cường hoạt động kiểm tra, thanh tra NHNN đối với các NHTM để nâng cao hiệu quả cho vay và sử dụng vốn huy động. Bên cạnh việc xây dựng môi trường pháp lý vững chắc nhằm tạo được lòng tin của người dân vào hệ thống ngân hàng, NHNN cần mở rộng bảo hiểm tiền gửi để củng cố lòng tin của người dân trong quá trình mở tài khoản tiền gửi tại

NHTM và nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của người dân.

Trang 57 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

3.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nam Á

Ngân hàng cần thường xuyên theo dõi và kiểm tra công tác hạch toán và

chứng từ hạch toán, hoạt động huy động vốn của các quỹ tiết kiệm. Định kỳ hàng tháng có thống kê sai sót cần chỉnh sửa đối với các hoạt động nghiệp vụ, báo cáo

lãnh đạo để kịp thời chỉnh sửa.

Thứ nhất, Cần có những biện pháp đồng bộ đối với hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin và hoạt động kế toán. Bộ phận tin học cần tiếp nhận những đề đạt từ bộ phận tin học của các Chi nhánh, PGD, nghiên cứu, xử lý, giải quyết những bất

cập và triển khai những phần mềm kế toán mới, phù hợp hơn với các hoạt động tác

nghiệp hàng ngày. Sự phối hợp đồng bộ trên toàn hệ thống sẽ phát huy được hiệu

quả tối đa của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh Ngân

hàng.

Thứ hai, Hoạt động kiểm toán nội bộ cũng cần phát huy chức năng và vai trò

của nó trong tất cả các hoạt động của Ngân hàng, trong đó có hoạt động huy động

vốn. Ngân hàng cần tăng cường tính độc lập của bộ phận kiểm toán nội bộ nhằm

giúp cho hoạt động kiểm toán này đạt được hiệu quả như mong muốn, thực sự là

cánh tay đắc lực của Ban Giám đốc Ngân hàng.

Thứ ba, Vấn đề cán bộ kế toán huy động vốn cần được chú ý hơn nữa. Đây

là bộ phận trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. Vì vậy, thái độ phục vụ cũng như trình

độ nghiệp vụ của bộ phận này có tính chất quyết định quan trọng trong việc thu hút

khách hàng. Cần có kế hoạch đào tạo về nghiệp vụ kế toán, tin học cũng như quản

trị.

Kết luận chương 3:

PGD Bến Thành trực thuộc Ngân hàng Nam Á- Chi nhánh Tân Định, chịu sự chỉ đạo của Ngân hàng Nam Á và hoạt động dưới sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Vì vậy, những biện pháp và kiến nghị trên là một số đề xuất, góp ý đến Phòng Giao Dịch Bến Thành nói riêng và Ngân hàng Nam Á nói chung nhằm hoàn thành những mục tiêu đề ra, khắc phục những vấn đề còn tồn tại và hoàn thiện công tác huy động vốn. Đưa Ngân hàng Nam Á trở thành một trong những tổ chức tài chính tiền tệ quan trọng, có vị trí then chốt trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế thành

phố theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước.

Trang 58 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

KẾT LUẬN

------------

Trong những năm gần đây, nhu cầu vốn cho quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá tại Việt Nam là rất lớn. Trong khi thị trường chứng khoán chưa phát triển,

với chức năng đầu mối tài chính,là kênh truyền vốn quan trọng nhất, hiệu quả

nhấtcho nền kinh tế, ngành Ngân hàng phải tự khẳng định vai trò và nhiệm vụ của

mình. Để tạo thế đứng của mình trên thị trường, các Ngân hàng thương mại không ngừng nâng cao khả năng thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để đầu tư, phát triển sản xuất. Nguồn vốn huy động có vai trò rất lớn trong hoạt động của Ngân hàng đặc biệt trong nền kinh tế thị trường. Do đó nên mở rộng phạm vi áp

dụng ảnh hưởng của các loại tiền gửi tới các tổ chức kinh tế cũng như các tầng lớp dân cư là vấn đề sống còn của Ngân hàng. Để thực hiện điều này đòi hỏi các Ngân

hàng các Ngân hàng phải không ngừng mở rộng và đa dạng hoá các hoạt động tạo

điều kiện khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi phục vụ cho công cuộc CNH – HĐH

đất nước.

Trên đây là toàn bộ nội dung về thực trạng tình hình huy động vốn tại Ngân

hàng Nam Á- PGD Bến Thành. Quá trình hoạt động của PGD Bến Thành trong

những năm qua đã đạt được những thành tựu đáng kể, đang từng bước được mở

rộng về cả quy mô lẫn cơ cấu nguồn vốn. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những khó

khăn, vướng mắc cần khắc phục. Trong tình hình đó, việc nghiên cứu giải pháp

nhằm hoàn thiện công tác huy động vốn cho PGD Bến Thành nói riêng và Ngân

hàng Nam Á nói chung là rất cần thiết.

Qua đây, em đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao và hoàn thiện công

tác huy động vốn tại Ngân hàng Nam Á – PGD Bến Thành. Tuy nhiên đây là một vấn đề lớn, với thực tế phong phú đa dạng mà khả năng nhận thức, tầm nhìn, kinh nghiệm của em còn hạn chế nên những vấn đề đưa ra không tránh khỏi những sai sót cần hoàn thiện. Vì vậy, em rất mong được sự góp ý chân thành của thầy cô và

anh chị tại Ngân hàng Nam Á- PGD Bến Thành.

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy cô, đặc biệt là cô – Ths. Diệp Thị Phương Thảo và các anh chị tại PGD Bến Thành đã

giúp em hoàn thành chuyên đề này./.

Trang 59 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.Diệp Thị Phương Thảo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tác giả PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn (2011), Nghiệp vụ Ngân hàng Thương

mại, Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia, TP.HCM.

2. Tác giả TS. Nguyễn Minh Kiều (2009), Nghiệp vụ Ngân hàng Thương

mại, Nhà xuất bản Thống Kê.

3. “Chức năng của Ngân hàng Thương mại – Mối quan hệ giữa Ngân hàng

và Ngân hàng Trung ương”, trang web:

Thương mại http://docs.4share.vn/docs/14850/Chuc_nang_cua_ngan_hang_thuong_mai _moi_quan_he_giua_ngan_hang_thuong_mai_voi_ngan_hang_trung_uong. html, 29/03/2011.

4. Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Nam Á, “Lãi suất Ngân hàng Nam Á”,

trang web: http://namabank.com.vn/content/all/81-lai-suat.html, 06/2012.

http://namabank.com.vn/content/read/52-tong-

5. Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Nam Á, “Tổng quan về Ngân hàng Nam

quan/161.html, 15/08/2010.

Á”, trang web:

6. Nguyễn Tiến Trung, “Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn

của Ngân hàng Thương mại”, trang web: http://trungblc.blogspot.com/2012/03/chi-tieu-anh-gia-hieu-qua-hoat-ong- huy.html, 03/2012.

http://www.scribd.com/doc/24346672/31/V%E1%BB%81- ngu%E1%BB%93n-huy-%C4%91%E1%BB%99ng-v%E1%BB%91n, 21/12/2009.

7. Trần Ngọc Anh, “Nguồn huy động vốn”, trang web:

----------

8. Báo cáo kinh doanh và các tài liệu khác của Phòng Giao Dịch Bến Thành.

Trang 60 SVTH: Ngô Thị Tuyết Nhi

PHỤ LỤC

------(cid:88)(cid:151)(cid:87)------

1. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm VND (Áp dụng từ 13h ngày 14/06/2012)

2. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm USD (Áp dụng từ ngày 03/06/2011)

3. Biểu lợi tức giữ hộ Vàng (Áp dụng từ 13h ngày 27/06/2012)

4. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm EUR (Áp dụng từ ngày 29/12/2011)

PGD BẾN THÀNH

ĐC: 265 Lý Tự Trọng, Quận 1, TP.HCM

ĐT: (08) 3.8224.740

LÃI SUẤT TIỀN GỬI TIẾT KIỆM VND

(Áp dụng từ 13h ngày 14/06/2012)

Lãnh lãi hàng tháng

Lãnh lãi cuối kỳ

ĐỊNH KỲ GỬI

(%/năm)

(%/năm)

-

2,00

Không kỳ hạn

Định kỳ

-

01 tuần

2,00

-

02 tuần

2,00

-

03 tuần

2,00

9,00

1 tháng

9,00

8,98

2 tháng

9,00

8,96

3 tháng

9,00

8,94

4 tháng

9,00

8,93

5 tháng

9,00

8,92

6 tháng

9,00

8,89

7 tháng

9,00

8,88

8 tháng

9,00

8,87

9 tháng

9,00

8,84

10 tháng

9,00

8,83

11 tháng

9,00

11,21

12 tháng

11,50

11,18

13 tháng

11,50

11,06

18 tháng

11,50

10,94

24 tháng

11,50

10,70

36 tháng

11,50

Qui định về điều kiện rút trước hạn đối với tiền gửi VND: - Khách hàng rút trước hạn đối với tiền gửi VND chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn

PGD BẾN THÀNH

ĐC: 265 Lý Tự Trọng, Quận 1, TP.HCM

ĐT: (08) 3.8224.740

LÃI SUẤT TIỀN GỬI TIẾT KIỆM USD

(Áp dụng từ ngày 03/06/2011)

ĐỊNH KỲ GỬI

Lãnh lãi cuối kỳ (%/năm)

0,50

Không kỳ hạn

Định kỳ

01 tuần

0,80

02 tuần

1,20

03 tuần

1,50

1 tháng

2,00

2 tháng

2,00

3 tháng

2,00

4 tháng

2,00

5 tháng

2,00

6 tháng

2,00

7 tháng

2,00

8 tháng

2,00

9 tháng

2,00

10 tháng

2,00

11 tháng

2,00

12 tháng

2,00

13 tháng

2,00

18 tháng

2,00

24 tháng

2,00

36 tháng

2,00

Điều kiện rút trước hạn đối với tiền gửi USD: - Khách hàng rút trước hạn đối với tiền gửi USD chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn.

PGD BẾN THÀNH

ĐC: 265 Lý Tự Trọng, Quận 1, TP.HCM

ĐT: (08) 3.8224.740

BIỂU LỢI TỨC GIỮ HỘ VÀNG

(Áp dụng từ 13h ngày 27/06/2012)

ĐỊNH KỲ GỬI

Lãnh lãi cuối kỳ (%/năm)

-

Không kỳ hạn

Định kỳ

01 tuần

02 tuần

03 tuần

1,10

01 tháng

1,10

02 tháng

1,10

03 tháng

1,20

04 tháng

1,20

05 tháng

1,20

06 tháng

07 tháng

08 tháng

09 tháng

10 tháng

11 tháng

12 tháng

13 tháng

18 tháng

24 tháng

36 tháng

Ghi chú:

- Ngân hàng Nam Á chỉ huy động các kỳ hạn từ 1-6 tháng.

PGD BẾN THÀNH

ĐC: 265 Lý Tự Trọng, Quận 1, TP.HCM

ĐT: (08) 3.8224.740

LÃI SUẤT TIỀN GỬI TIẾT KIỆM EUR

(Áp dụng từ ngày 29/12/2011)

ĐỊNH KỲ GỬI

Lãnh lãi cuối kỳ (%/năm)

1,00

Không kỳ hạn

Định kỳ

01 tuần 02 tuần 03 tuần

1 tháng

2,40

2 tháng 3 tháng 4 tháng 5 tháng

2,50 3,00 3,00 3,00

6 tháng

3,00

7 tháng 8 tháng 9 tháng 10 tháng

3,00 3,00 3,00 3,00

11 tháng

3,00

12 tháng 13 tháng 18 tháng

3,00 3,00 3,00

24 tháng

3,00

36 tháng

3,00

Điều kiện rút trước hạn đối với tiền gửi EUR: - Khách hàng rút trước hạn đối với tiền gửi EUR chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn.