intTypePromotion=3

Khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

Chia sẻ: Sdgsxf Sdgsxf | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:111

0
140
lượt xem
40
download

Khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập nhằm trình bày những vấn đề lý luận về hoạt động ngân hàng và pháp luật điều chỉnh các hoạt động ngân hàng, thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng ở Việt Nam, đưa ra định hướng và giải pháp đối với thực trạng này ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị An Ly Lớp: Pháp 3 Khoá: 42 Giáo viên hướng dẫn: TS. Đặng Thị Nhàn Hà Nội, tháng năm 2007
  2. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ 4 HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÁC HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 4 1. Khái quát chung về sự hình thành ngân hàng 4 2. Cấu trúc hệ thống ngân hàng 6 Ngân hàng trung ương 6 2.2. Ngân hàng thương mại và các định chế tài chính phi ngân hàng 9 3. Các hoạt động ngân hàng 15 Các hoạt động ngân hàng của NHTW 16 Các hoạt động ngân hàng của NHTM 18 II. PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÁC HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 21 1. Khái niệm pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng 21 2. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật 23 đối với hoạt động ngân hàng 3. Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh 24 hoạt động ngân hàng 4. Nguồn quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động ngân hàng 30
  3. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH 32 HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM I. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG 32 NGÂN HÀNG CỦA NHNN VIỆT NAM 1. Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động tái cấp vốn 33 2. Quy định của pháp luật Việt Nam về dự trữ bắt buộc 36 3. Quy định của pháp luật Việt Nam về nghiệp vụ thị trường mở 38 II. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH 42 HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG CỦA NHTM Ở VIỆT NAM 1. Quy định của pháp luật Việt Nam 42 về hoạt động nghiệp vụ ngân hàng của NHTM 1.1. Hoạt động huy động vốn 42 1.2. Hoạt động cấp tín dụng 44 1.3. Hoạt động dịch vụ thanh toán 50 1.4. Hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán 52 2. Quy định của pháp luật Việt Nam về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng của NHTM 56 2.1. Các quy định về bảo đảm tiền vay 57 2.2. Các quy định về giới hạn an toàn trong kinh doanh 60 III. NHẬN XÉT CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ 63 ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP 1. Những thành tựu cơ bản trong việc ban hành 63 và áp dụng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng ở Việt Nam 2. Những hạn chế, bất cập chủ yếu của pháp luật 67 điều chỉnh hoạt động ngân hàng ở Việt Nam CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 71
  4. PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP I. ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH 71 HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP 1. Xu hướng phát triển của ngân hàng trên thế giới và ở Việt Nam 71 2. Sự cần thiết phải hoàn thiện hành lang pháp lý cho 73 hoạt động ngân hàng ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 3. Các mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của việc hoàn thiện 76 hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng trong bối cảnh hội nhập 3.1. Các mục tiêu chủ yếu 76 3.2. Những nguyên tắc cơ bản 78 II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN 85 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Những giải pháp chung 85 1.1. Xây dựng cơ sở pháp lý cho việc tái cơ cấu 85 hệ thống ngân hàng Việt Nam 1.2. Nội luật hoá các nguyên tắc, quy phạm được thừa nhận chung 91 của pháp luật và tập quán quốc tế trong hoạt động ngân hàng 2. Những giải pháp cụ thể 93 KẾT LUẬN 99
  5. PHỤ LỤC DANH MỤC Mức vốn pháp định của tổ chức tín dụng (Ban hành kèm theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ) Mức vốn pháp định áp STT Loại hình tổ chức tín dụng dụng cho đến năm 2008 2010 I Ngân hàng 1 Ngân hàng thương mại a Ngân hàng thương mại Nhà nước 3.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng b Ngân hàng thương mại cổ phần 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng c Ngân hàng liên doanh 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng d Ngân hàng 100% vốn nước ngoài 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng đ Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài 15 triệu USD 15 triệu USD 2 Ngân hàng chính sách 5.000 tỷ đồng 5.000 tỷ đồng 3 Ngân hàng đầu tư 3.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng 4 Ngân hàng phát triển 5.000 tỷ đồng 5.000 tỷ đồng 5 Ngân hàng hợp tác 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng 6 Quỹ tín dụng nhân dân a Quỹ tín dụng nhân dân TW 1.000 tỷ đồng 3.000 tỷ đồng b Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở 0,1 tỷ đồng 0,1 tỷ đồng II Tổ chức tín dụng phi ngân hàng 1 Công ty tài chính 300 tỷ đồng 500 tỷ đồng 2 Công ty cho thuê tài chính 100 tỷ đồng 150 tỷ đồng
  6. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. C.Mác, Sự khốn cùng của triết học, Nxb. Sự thật, H.1971. 2. Bernard & Colli, Từ điển thuật ngữ kinh tế – tài chính. 3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, H. 2007 4. Trường Học viện Tài chính, Giáo trình Quản lý và kinh doanh tiền tệ, Nxb. Thống kê, H.2006 5. Nguyễn Ninh Kiều – MBA, Tiền tệ – Ngân hàng, Nxb. Thống kê, H.1998 6. TS. Ngô Quốc Kỳ, Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của NHTM trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Nxb. Tư pháp, H.2005 7. TS. Nguyễn Văn Tuyến, Các giao dịch thương mại chủ yếu của NHTM trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, 2004. 8. Jean Prerr Mattout, Luật Quốc tế về ngân hàng, Viện tiền tệ, tín dụng và Ngân hàng Nhà nước An Giang xuất bản, 1991. 9. Frederic Mishkin, Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính, NXB. Khoa học và kỹ thuật, H.1994. 10. Thanh Lộc, áp dụng mô hình AMC để xử lý nợ tồn đọng, Thị trường tài chính tiền tệ, (13), 2000, tr.8-10. 11. Báo cáo thường niên 2006, Ngân hàng Nhà nước 12. Quản trị NHTM, Peter Rose, NXB. Tài chính, H. 2001 13. Tình hình thực hiện nhiệm vụ ngân hàng năm 2006 và định hướng năm 2007, Tạp chí ngân hàng số 3+4, tháng 2 năm 2007. 14. Môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng ở nước ta hiện nay, Viên Thế Giang, http://www.hvnh.edu.vn/ cập nhật ngày 16/12/2005
  7. 15. Những công việc cần triển khai của ngành ngân hàng khi bắt đầu lộ trình mở cửa dịch vụ ngân hàng, TTBC1, http://www.sbv.gov.vn/ cập nhật ngày 25/04/2007. 16. Giải pháp để ngân hàng hội nhập, Cổ phần hoá, Phước Hà, http://www.vietnamnet.vn/kinhte/ cập nhật ngày 13/10/2006. 17. Nợ tồn đọng ngân hàng, chưa có cách giải quyết hữu hiệu, Quyết Thắng, http://www.vietcombank.com.vn/ 18. Nguyên nhân ngân hàng tăng mạnh vốn điều lệ, Quang Long http://www.taichinhvietnam.com/ cập nhật ngày 09/07/2007 19. Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng Việt Nam, http://www.sbv.gov.vn/ cập nhật ngày 08/09/2006. Các Website: 20. www.mof.gov.vn 21. www.mot.gov.vn 22. www.moj.gov.vn 23. www.sbv.gov.vn 24. www.vneconomy.com.vn 25. www.vietcombank.com.vn 26. www.vnba.org.vn/ 27. http://www.taichinhvietnam.com/ 28. http://www.kiemtoan.com.vn/ 29. http://vibonline.com.vn/
  8. CÁC CHỮ VIẾT TẮT AMC : Công ty quản lý tài sản CNXH : Chủ nghĩa xã hội DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước HTXTD : Hợp tác xã tín dụng NĐ : Nghị định NHNN : Ngân hàng Nhà nước NHTM : Ngân hàng Thương mại NHTW : Ngân hàng Trung ương QĐ : Quyết định TCTD : Tổ chức tín dụng TTCK : Thị trường chứng khoán TTTTTD : Trung tâm thông tin tín dụng UCP : Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ URC : Quy tắc thống nhất về nhờ thu WTO : Tổ chức thương mại thế giới
  9. LỜI MỞ ĐẦU Ngày 07 tháng 11 năm 2006, sau một quá trình dài liên tục cố gắng, Việt Nam đã chính thức được kết nạp trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Sự kiện này đã mở ra con đường hội nhập một cách toàn diện, tạo cơ hội mở rộng quan hệ hợp tác thương mại quốc tế để phát triển kinh tế ngày càng mạnh mẽ và bền vững. Lý do chọn đề tài Đối với nước ta, trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, hệ thống ngân hàng được xác định như người mở đường, còn trong thời kỳ hậu gia nhập WTO, ngân hàng vẫn giữ vai trò chủ đạo là một trong những ngành mũi nhọn mà nước ta cam kết mở cửa mạnh mẽ, có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển kinh tế của cả đất nước. Thực hiện những cam kết quốc tế về lĩnh vực ngân hàng, một lĩnh vực vốn đã rất nhạy cảm, nhiều rủi ro, lại nắm trong tay toàn bộ nguồn vốn của một quốc gia, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đối mặt với những thách thức vô cùng to lớn. Đến năm 2010, lĩnh vực ngân hàng sẽ mở cửa hoàn toàn các dịch vụ cho khối ngân hàng nước ngoài, sẽ không còn phân biệt đối xử giữa ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài, vì thế, tất cả các ngân hàng sẽ phải tìm mọi cách cố gắng, tận dụng mọi cơ hội để đứng vững, không để thua trên “sân nhà”. Để làm được điều đó, thì một phần không thể thiếu là cần sự hỗ trợ của Nhà nước, những giải pháp phù hợp của Chính phủ trên cơ sở cân nhắc và phân tích kỹ hoàn cảnh cũng như các yếu tố khác để giúp hệ thống ngân hàng hoạt động hiệu quả, tránh được các tác động tiêu cực của việc hội nhập. Một trong những công việc cấp bách cần làm là hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng, đảm bảo sự an toàn cho toàn hệ thống, góp phần ổn định nền kinh tế. Tình hình nghiên cứu Trải qua nhiều năm thực hiện quá trình đổi mới, nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị về lĩnh vực ngân hàng đã đóng góp không nhỏ vào việc 1
  10. cải cách, xây dựng nền kinh tế ngày càng hiện đại và hoàn thiện hơn. Với phạm vi và mức độ khác nhau, các công trình nghiên cứu này đã đề cập đến mọi vấn đề của hệ thống ngân hàng, bao gồm cả khía cạnh pháp lý. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đã chính thức hội nhập vào sân chơi toàn cầu, lĩnh vực ngân hàng nói chung và pháp luật ngân hàng nói riêng cần được tiếp tục triển khai nghiên cứu. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu Xuất phát từ nhận thức như vậy, khoá luận này được thực hiện nhằm góp phần làm rõ hơn nữa những vấn đề lý luận cơ bản về ngân hàng, hoạt động ngân hàng và đặc biệt là pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới. Trên cơ sở đó, bước đầu khóa luận nêu lên một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng trong bối cảnh hội nhập. Phương pháp nghiên cứu Nhằm thực hiện mục tiêu nghiên cứu nêu trên, khoá luận sử dụng những phương pháp nghiên cứu phổ biến trong khoa học pháp lý như phương pháp tiếp cận lịch sử, tổng hợp, phương pháp phân tích, so sánh, thống kê kết hợp giải thích và hệ thống hoá một cách khoa học. Kết cấu Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khoá luận được chia thành 3 chương với tiêu đề như sau: Chương I: Những vấn đề lý luận về hoạt động ngân hàng và pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng. Chương II: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng ở Việt Nam. Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập. 2
  11. Do trình độ nghiên cứu có hạn, cùng với sự hạn hẹp về thời gian nghiên cứu và sự thiếu thốn tài liệu, khoá luận này chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết, cần được sự góp ý, bổ túc nhiều hơn nữa của quý thầy cô giáo, bạn bè và những người quan tâm đến vấn đề này. Em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến cô Đặng Thị Nhàn, các thầy cô trong trường Đại học Ngoại thương cùng gia đình và bạn bè đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạo mọi điều kiện giúp đỡ để em có thể hoàn thành khoá luận này đúng hạn. Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày tháng năm 2007 Sinh viên Nguyễn Thị An Ly 3
  12. CHƢƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 1. Khái quát chung về sự hình thành ngân hàng Thuật ngữ “ngân hàng” đã được nhắc đến từ rất lâu, để chỉ một tổ chức kinh doanh tiền tệ chuyên nghiệp trong nền kinh tế. Từ 3000 năm trước công nguyên, thậm chí người ta đã tìm thấy những dấu vết đầu tiên của hoạt động ngân hàng thông qua việc nhận gửi đồ đạc, tiền của và cho vay tiền của các vị linh mục, bởi nhà thờ là nơi tôn nghiêm, được dân chúng tin tưởng để ký gửi tài sản, tiền bạc. Thật vậy, ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho những người chủ sở hữu nó, tránh gây mất mát. Đổi lại, những người chủ sở hữu phải trả cho người giữ đồ một khoản tiền công. Khi công việc này mang lại nhiều lợi ích, thì các đồ vật cần gửi ngày càng đa dạng hơn, và đại diện cho các vật có giá trị như vậy là tiền. Dần dần, ngân hàng trở thành nơi giữ tiền cho những người có tiền. Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn, tức là phát sinh nhu cầu vay tiền, những người giữ tiền khi nắm trong tay một lượng tiền nhất định mà không phải bao giờ cũng phải trả trong cùng một thời gian, nảy ra ý định cho vay số tiền đó, vậy là có độ chênh lệch giữa lượng tiền cần gửi và lượng tiền cần rút của người chủ sở hữu. Ngân hàng lại trở thành nơi cung cấp tiền cho những người cần tiền. Từ đó phát sinh nghiệp vụ đầu tiên của ngân hàng, đó là huy động vốn và cho vay vốn. Như vậy, khi thương mại quốc tế phát triển với các hoạt động khác nhau, nhu cầu đổi tiền xuất hiện và nghề kinh doanh tiền tệ ra đời. Những nghiệp vụ đầu tiên của tổ chức kinh doanh tiền tệ bao gồm: đổi tiền, nhận tiền và bảo quản tiền, cho vay và chuyển tiền. Nghiệp vụ cho vay thời kỳ đầu là cho vay nặng lãi. 4
  13. Thời kỳ Phục hưng, các tổ chức kinh doanh tiền tệ phát triển nhanh và mở rộng thêm nhiều nghiệp vụ mới như: chi trả bằng thương phiếu, tổ chức thanh toán bù trừ, thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh… Thời kỳ này đánh dấu sự xuất hiện của các tổ chức kinh doanh tiền tệ được xem là tiền thân của ngân hàng. Thế kỷ 17 được biết đến như là sự khởi đầu của kỷ nguyên ngân hàng hiện đại, với sự ra đời của tổ chức kinh doanh tiền tệ lớn, thực hiện nhiều nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ và đặc biệt đã phát hành loại tín phiếu chứng nhận về tiền gửi và được dùng vào việc giao dịch (chi trả) gần giống như các giấy bạc ngân hàng ngày nay. Đó là các tổ chức được coi là những ngân hàng đầu tiên, bao gồm: Ngân hàng Amsterdam (Hà Lan) thành lập năm 1609; Ngân hàng Hamburg (Đức) 1619; Ngân hàng Anh quốc (Bank of England) 1694. Đầu thế kỷ 18, lưu thông hàng hoá được mở rộng cả về quy mô và phạm vi. Việc nhiều ngân hàng cùng phát hành tiền, một mặt gây cản trở quá trình phát triển, khiến cho việc quản lý gặp nhiều khó khăn, xuất hiện nạn lừa đảo. Mặt khác, do nguồn lợi phát hành lớn nên Nhà nước can thiệp nhằm hạn chế số lượng ngân hàng được phép phát hành tiền. Những ngân hàng này gọi là Ngân hàng phát hành, còn những ngân hàng không được phép phát hành tiền - được gọi là Ngân hàng trung gian. Đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, ở các nước Châu Âu, các Nhà nước đã ban hành các đạo luật chỉ cho phép một ngân hàng duy nhất được phép phát hành tiền, còn lại các ngân hàng khác chuyển thành Ngân hàng Thương mại. Các ngân hàng đến giai đoạn này vẫn là các Ngân hàng tư nhân và Ngân hàng cổ phần (kể cả Ngân hàng Phát hành). Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 đã buộc Nhà nước các nước Tư bản phải can thiệp sâu vào nền kinh tế thông qua phương tiện cơ bản của nền kinh tế thị trường - đó là tiền tệ, bằng cách nắm lấy Ngân hàng Phát hành, quốc hữu hoá Ngân hàng phát hành và giành lấy quyền bổ nhiệm cơ quan quản lý ngân hàng này. Thời kỳ này khái niệm Ngân hàng Trung ương (NHTW) đã ra đời thay thế 5
  14. cho khái niệm Ngân hàng phát hành. Đó không chỉ là sự thay đổi đơn giản về tên gọi mà còn thay đổi cả về chức năng hoạt động của ngân hàng. NHTW không chỉ phát hành giấy bạc lưu thông, mà còn là cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và ngân hàng thực hiện chính sách tiền tệ. Điểm lại những dấu mốc quan trọng của lịch sử, có thể thấy sự ra đời và phát triển của ngân hàng được đặt trong những điều kiện lịch sử, kinh tế – xã hội nhất định, trong sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá, lưu thông hàng hoá và đặc biệt trong cơ sở phát triển của tiền tệ. Tóm lại, “bản thân sự phát triển của nghề kinh doanh tiền tệ cũng tạo tiền đề và đòi hỏi phải xuất hiện ngân hàng, tức đòi hỏi phải có một hình thức tổ chức và bộ máy thích hợp, đảm nhiệm lĩnh vực lưu thông tiền tệ.” (1) Như vậy, trong dòng phát triển của tiền tệ, sự ra đời, tồn tại và phát triển của ngân hàng là một tất yếu khách quan. Chính sự tập trung hoá nền sản xuất và phân công lao động xã hội đạt đến một trình độ cao đã làm xuất hiện ngân hàng, và ngân hàng, đến lượt mình lại đóng vai trò thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển nhanh hơn. 2. Cấu trúc hệ thống ngân hàng Trên thế giới, hệ thống ngân hàng ở các quốc gia ngày nay được tạo lập là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của lịch sử. Cho đến nay, mô hình ngân hàng phổ biến ở các nước kinh tế thị trường là hệ thống ngân hàng hai cấp. Trong hệ thống ngân hàng hai cấp, Ngân hàng Trung ương vừa làm chức năng phát hành tiền, vừa làm chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và giám sát an toàn của hệ thống ngân hàng. Còn các Ngân hàng trung gian (với tư cách là những tổ chức tài chính trung gian) có chức năng thực hiện kinh doanh tiền tệ và cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Trong số các loại hình ngân hàng trung gian, Ngân hàng thương mại chiếm số lượng áp đảo và giữ vai trò quan trọng hơn cả. 1 TS. Nguyễn Quốc Việt, Ngân hàng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1995, tr16. 6
  15. Đây cũng là những chủ thể chính tham gia vào hoạt động ngân hàng. 2.1. Ngân hàng Trung ương a) Khái niệm Ngân hàng Trung ương (NHTW), theo Bernard và Colli định nghĩa trong từ điển thuật ngữ kinh tế – tài chính là ngân hàng có chức năng phát hành tiền và điều tiết trực tiếp hoặc gián tiếp số lượng và giá cả tín dụng trong khuôn khổ quốc gia. NHTW ra đời trên cơ sở nhu cầu Nhà nước cần phải nắm lấy một phương tiện quan trọng để can thiệp vào kinh tế, đó là tiền tệ. Sự ra đời của nó là hệ quả của quá trình chuyển hoá từ NHTM thành Ngân hàng Phát hành, từ Ngân hàng Phát hành thành NHTW gắn liền với sự can thiệp của Nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng. Trong hệ thống ngân hàng hai cấp, nó ở vị trí cấp một, làm nhiêm vụ quản lý, phân biệt với chức năng kinh doanh của các NHTM. Dù tên gọi ở mỗi quốc gia không giống nhau (chẳng hạn như Ngân hàng dự trữ, Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Quốc gia, Viện phát hành, Cục dự trữ Liên bang…) nhưng chúng đều có chung những chức năng và vai trò cơ bản của NHTW. b) Chức năng của NHTW trong nền kinh tế Thứ nhất, NHTW là cơ quan phát hành giấy bạc ngân hàng và điều tiết lưu thông tiền tệ: Khi NHTW ra đời và hoạt động thì toàn bộ việc phát hành tiền được tập trung vào NHTW theo chế độ Nhà nước độc quyền phát hành tiền. NHTW trở thành trung tâm phát hành tiền của một đất nước. Tiền do NHTW phát hành có nội dung tiền tín dụng. Nó thay thế cho tất cả các loại tiền tín dụng Ngân hàng tư nhân trước đó. Tất cả các loại tiền do NHTW phát hành là những phương tiện thanh toán duy nhất thay thế cho tiền thật “tiền vàng, bạc” làm chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện lưu thông. Do vậy, việc NHTW phát hành tiền tác động trực tiếp đến tình hình lưu thông tiền tệ, làm cho quan hệ tiền hàng thay đổi, tác động đến giá cả. Mối quan hệ đó đòi hỏi việc phát hành tiền phải tuân theo những nguyên tắc nghiêm ngặt, đồng thời phải thực hiện theo 7
  16. một cơ chế phù hợp. Thứ hai, NHTW là ngân hàng của các ngân hàng. Chức năng này có thể được hình dung như là việc quản lý tài khoản và dự trữ tiền tệ trên tài khoản tiền gửi của các ngân hàng và cho các ngân hàng trung gian vay tiền khi cần thiết. Trong hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng trung gian phải mở tài khoản tiền gửi tại NHTW và tiền gửi vào tài khoản đó theo quy định của pháp luật. Thông thường có hai loại tiền gửi khác nhau: - Tiền gửi thanh toán. Tất cả các ngân hàng kinh doanh (bao gồm cả các tổ chức tài chính kinh doanh tiền tệ) khi được phép hoạt động đều phải mở tài khoản loại này tại NHTW và gửi tiền vào tài khoản đó theo quy định. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các ngân hàng này phải duy trì trên tài khoản đó một mức dự trữ tiền tệ theo quy định để đảm bảo thoả mãn nhu cầu chi trả. - Tiền gửi dự trữ bắt buộc. Loại này áp dụng đối với các tổ chức tài chính có huy động tiền gửi để kinh doanh. Mức dự trữ bắt buộc được tính theo tỷ lệ trên từng loại tiền gửi đã huy động thể hiện trên số dư, tỷ lệ này do NHTW quy định theo từng thời kỳ. - Cấp tín dụng cho các ngân hàng. Mục đích cấp tín dụng của NHTW là nhằm cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế theo nhịp điệu đã tăng trưởng của từng thời kỳ, đồng thời sử dụng tín dụng và lãi suất, để điều tiết khối lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của chính sách tiền tệ. - NHTW là trung tâm thanh toán của các ngân hàng: Gắn với nghiệp vụ phát hành tiền, nghiệp vụ tiền gửi và cho vay đối với các ngân hàng, NHTW là đầu mối thanh toán liên ngân hàng, giúp cho các ngân hàng thực hiện thống nhất quan hệ thanh toán. NHTW có một mạng lưới thanh toán trong toàn quốc. Ngày nay, với sự trợ giúp của kỹ thuật tin học điện tử làm cho việc thanh toán qua ngân hàng trở nên an toàn, nhanh chóng. Thứ ba, NHTW là định chế tài chính công quyền. Hiện nay, trên thế giới tồn tại hai mô hình NHTW, bao gồm mô hình NHTW thuộc sở hữu Nhà nước và mô hình NHTW được thành lập dưới dạng 8
  17. Công ty cổ phần. Mô hình NHTW thuộc sở hữu Nhà nước là loại mô hình phổ biến được áp dụng ở nhiều nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Việt Nam, Trung Quốc… Đối với mô hình NHTW loại này thì Nhà nước là chủ sở hữu, là người cung cấp vốn để NHTW hoạt động và hoạt động của nó do Nhà nước quyết định. Mô hình NHTW được thành lập theo hình thức Công ty cổ phần được áp dụng ở một số nước như Hoa Kỳ (Hệ thống dự trữ liên bang), Hungari (Ngân hàng quốc gia Hungari)… Đối với mô hình NHTW loại này, hình thức pháp lý của nó được định rõ trong luật. Chẳng hạn, Điều 54 đạo luật Liên Xô năm 1991 về Ngân hàng Quốc gia Hungari (NBH) quy định: NBH là một tổ chức pháp nhân hoạt động dưới dạng một công ty cổ phần. Mặc dù hình thức sở hữu của các loại mô hình NHTW có khác nhau nhưng luật NHTW của các nước đều xác định tư cách pháp lý của nó là một định chế công quyền. Tính chất công quyền này thể hiện trong các quy định về quan hệ của nó đối với các cơ quan lập pháp, hành pháp, nhiệm vụ quyền hạn quản lý Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng. Ngoài ra, NHTW còn đóng vai trò quan trọng trong việc thay mặt cho Nhà nước trong quan hệ với nước ngoài trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng để ký kết các hiệp định hay đại diện cho Nhà nước tại các tổ chức tài chính quốc tế. 2.2. NHTM và các định chế tài chính phi ngân hàng a) Khái niệm Ngân hàng Thương mại Ngân hàng theo từ điển thuật ngữ kinh tế – tài chính của Bernard và Colli, được định nghĩa là: “doanh nghiệp hành nghề bằng cách nhận từ công chúng, dưới hình thức tiền gửi hoặc hình thức khác, các khoản vốn mà ngân hàng sử dụng cho bản thân mình bằng các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hoặc tài chính.” Định nghĩa pháp lý này được Đạo luật số 2-532 về quy định và tổ chức nghiệp vụ ngân hàng (Loi n02-532 relative à la réglementation et à l’organisation de la profession bancaire) ngày 13/6/1941 của Pháp sử dụng, hay ở chỗ đã nhấn mạnh 9
  18. được sự liên kết giữa hai dạng nghiệp vụ là quản lý tiền gửi và cấp tín dụng. Điều này giúp phân biệt được ngân hàng với các tổ chức khác, đặc biệt là tổ chức tài chính. Cũng theo định nghĩa này, bằng cách nhấn mạnh vào các nghiệp vụ, ngân hàng trước tiên được hiểu là các Ngân hàng Thương mại (NHTM). Các nhà kinh tế và các luật gia đều thống nhất với nhau trên những nét tổng quát nhất về NHTM và cho rằng NHTM là một trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của Chính phủ trong việc tiến hành các nghiệp vụ thu nhận tiền gửi từ công chúng, cho vay và thanh toán. Một cách khái quát, có thể hình dung NHTM có các chức năng cơ bản sau: Chức năng trung gian tài chính của NHTM xuất phát từ “cung – cầu” vốn trong xã hội. “Cung” về vốn hình thành từ nhu cầu tạo thu nhập của những người có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, muốn chuyển giao vốn cho người khác sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau như đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, cho các tổ chức tín dụng vay vốn… để hưởng lợi tức. Song song với nó, “cầu” về vốn luôn tồn tại cho kinh doanh của các doanh nghiệp, nhà kinh doanh và tiêu dùng của một bộ phận dân cư. Những người có “cung” và “cầu” về vốn trên thực tế lại không phải lúc nào cũng dễ dàng gặp nhau để thoả mãn nhu cầu của mình. Vì vậy, họ tìm đến người trung gian là các ngân hàng. Là trung gian tài chính, ngân hàng, vừa đóng vai trò người đi vay và vừa đóng vai trò người cho vay. Đây là hành vi mà ngân hàng thực hiện cho chính mình. Tức là, các ngân hàng thu nhận tiền từ những người gửi tiền và được sử dụng vốn của họ để cho vay (hay sử dụng vào việc khác), trong thời gian do hai bên thoả thuận. Ngân hàng cho ai vay và sẽ cho vay như thế nào là do họ tự quyết định, lỗ lãi sau đó tự chịu vì ngân hàng tự kinh doanh nhưng vẫn phải đảm bảo trả cả vốn và lãi cho những người gửi tiền đúng hạn. Vai trò trung gian còn được mở rộng ra khi ngân hàng đứng làm môi giới trên thị trường chứng khoán. Bằng cách chuyển giao các mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán, đảm nhận việc mua, bán chứng khoán cho khách hàng, 10
  19. ngân hàng đứng ra làm trung gian cho các công ty (khi phát hành cổ phiếu) với những người đầu tư. Trong trường hợp này, các ngân hàng không hoạt động cho bản thân mình, họ chỉ là người “môi giới” giữa hai bên có vốn và cần vốn gặp nhau và thiết lập quan hệ pháp lý trực tiếp với nhau. Từ việc nghiên cứu vai trò trung gian tài chính của các NHTM, có thể kết luận rằng với chức năng trung gian tài chính, các NHTM đóng vai trò quan trọng trong tích tụ và tập trung vốn, tạo hiệu quả sử dụng vốn cho nền kinh tế quốc dân. Điều đó đặt ra yêu cầu là Nhà nước cần phải có thái độ đúng đắn và cơ chế điều chỉnh pháp luật thích hợp để phát vai trò tín dụng của các NHTM trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở nước ta. Chức năng thanh toán của các NHTM vừa có tính độc lập tương đối vừa có mối quan hệ tác động qua lại với chức năng trung gian tài chính. Đây là một trong những chức năng đặc thù của NHTM so với các tổ chức tín dụng nói chung, liên quan đến khả năng tạo tiền của NHTM, đây là điều mà các nhà kinh tế gọi là đồng tiền ghi sổ hay là tín dụng tạo ra tiền gửi. Bởi lẽ, quá trình tạo tiền của NHTM được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng, tổ chức việc trung gian thanh toán và quản lý phương tiện thanh toán. Bằng cách sử dụng đồng tiền ghi sổ, thẻ ngân hàng, chuyển khoản, cung cấp các dịch vụ: giữ tài khoản, ngân quỹ, xử lý séc, chuyển nhượng thương phiếu, nhận gửi tiền và séc từ khách hàng, ngân hàng có thể sử dụng tiền của họ không phải trả lãi hoặc trả lãi thấp. Trong khi thực hiện chức năng trung gian thanh toán và cho vay, ngân hàng có khả năng tạo ra một chu trình tạo tiền gửi và phát sinh bội số tín dụng rất phức tạp. Điều này sẽ góp phần giải thích tại sao một trong những biện pháp để thực hiện chính sách tiền tệ là kiểm soát tín dụng và các ngân hàng có ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc thực hiện chính sách tiền tệ. Về phương diện luật học, sự nhìn nhận chức năng thanh toán của NHTM và mối liên hệ của nó với chức năng trung gian tài chính cho phép lý giải hiện tượng phổ biến ở các nước là: cùng với sự điều chỉnh các quan hệ trung gian tài chính, pháp luật ở các nước đều có những quy phạm pháp luật điều chỉnh các 11
  20. quan hệ thanh toán qua ngân hàng. Chẳng hạn ở Anh có luật về kỳ phiếu năm 1882, luật về séc năm 1975… Thực hiện chuyển hoá các phương tiện tiền tệ là chức năng quan trọng của các NHTM: trong nền kinh tế, các doanh nghiệp đều có vai trò chuyển hoá những yếu tố sản xuất “đầu vào”: nguyên liệu, vật liệu… để chuyển thành sản phẩm tiêu thụ. Ngân hàng cũng có vai trò chuyển hoá “đầu vào” tương tự như các doanh nghiệp khác, nhưng nét đặc thù của “nguyên liệu” của các ngân hàng là tiền tệ. Khách hàng vừa là người cung cấp “nguyên liệu”, vừa là người sử dụng “sản phẩm” dịch vụ một cách thường xuyên liên tục. Họ vừa là người gửi tiền vừa là người vay tiền, có mặt ở cả hai bên của bảng cân đối tài sản của ngân hàng. Trên đây là các chức năng chính của NHTM, các chức năng này thể hiện bản chất của chúng. Nhìn nhận đúng bản chất của Ngân hàng Thương mại có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng cơ chế điều chỉnh bằng pháp luật một cách đúng đắn đối với hoạt động của chúng. b) Khái niệm các định chế tài chính phi ngân hàng Sự phát triển của kinh tế thị trường đã làm xuất hiện ngày càng nhiều phương thức kinh doanh tiền tệ với những hình thức tổ chức đa dạng mà khái niệm “ngân hàng” không thể bao hàm được hết và thường được gọi chung là các định chế tài chính phi ngân hàng. Diễn đạt một cách tổng quát thì các định chế tài chính phi ngân hàng là các tổ chức trung gian tài chính, thực hiện việc thu nhận các nguồn vốn trong xã hội mà chúng huy động được để đầu tư thông qua việc cấp tín dụng, các trái khoán hay các hoạt động tài chính khác. Điều khác nhau cơ bản giữa các định chế tài chính phi ngân hàng so với NHTM là các định chế tài chính này không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, vì vậy, không được thực hiện nghiệp vụ thanh toán (không cấp séc cho khách hàng để chi trả). Các định chế tài chính phi ngân hàng tồn tại ở các nước rất đa dạng, với 12

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản