BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA HÓA HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Hóa học
KHẢO SÁT HỨNG THÚ CỦA HỌC SINH
KHỐI LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
ĐỐI VỚI MÔN HÓA HỌC
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Sinh viên thực hiện: TRẦN LÊ NGỌC ÁNH
MSSV: K38.201.008
Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Đào Thị Hoàng Hoa
Thành phố Hồ Chí Minh – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA HÓA HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Hóa học
KHẢO SÁT HỨNG THÚ CỦA HỌC SINH
KHỐI LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
ĐỐI VỚI MÔN HÓA HỌC
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Sinh viên thực hiện: TRẦN LÊ NGỌC ÁNH
MSSV: K38.201.008
Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Đào Thị Hoàng Hoa
Thành phố Hồ Chí Minh – 2016
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến ThS. Đào Thị Hoàng Hoa, người
đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu khoa học và thực
hiện khóa luận tốt nghiệp Đại học.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy cô khoa Hóa học trường Đại học Sư
phạm TP. HCM và TS. Dương Bá Vũ đã truyền đạt cho chúng tôi nhiều kiến thức,
kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập, thực tập, tạo cơ hội học tập và trình
độ chuyện môn về lĩnh vực sư phạm mà tôi tâm huyết.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu cùng các Thầy Cô và các em
học sinh của 11 trường THPT và 10 trường THCS tại TP. HCM đã giúp đỡ chúng
tôi trong suốt quá trình khảo sát.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các sinh viên, các anh chị và bạn bè đã luôn nhiệt
tình giúp đỡ, đóng góp ý kiến và khích lệ tinh thần trong suối quá trình nghiên cứu
khoa học và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Đại học.
Và điều quan trọng nhất, tôi xin dành lời cảm ơn chân thành đến Ba Mẹ và
những người thân trong gia đình đã là chỗ dựa vững chắc, hết lòng thương yêu,
chăm sóc, tạo cho con niềm tin vào bản thân mình cũng như cho con mọi điều kiện
tốt nhất để con có thể hoàn thành 4 năm học trên giảng đường.
Dù đã hết sức cố gắng nhưng đề tài khóa luận sẽ không thể tránh khỏi những
sai sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo tận tình của quý Thầy Cô, các
anh chị và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
TP. Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2016
Trần Lê Ngọc Ánh
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình, đồ thị
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 2
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI.......................................................... 7
1.1. Lịch sử nghiên cứu về hứng thú ...................................................................... 7
1.1.1. Các nghiên cứu về hứng thú trên thế giới.............................................. 7
1.1.2. Các nghiên cứu về hứng thú ở Việt Nam .............................................. 9
1.2. Hứng thú và hứng thú học tập ....................................................................... 10
1.2.1. Hứng thú .............................................................................................. 10
1.2.1.1. Khái niệm hứng thú ................................................................. 10
1.2.1.2. Cấu trúc của hứng thú .............................................................. 11
1.2.1.3. Phân loại hứng thú ................................................................... 13
1.2.1.4. Vai trò của hứng thú ................................................................ 14
1.2.1.5. Biểu hiện của hứng thú ............................................................ 16
1.2.2. Hứng thú học tập ................................................................................. 17
1.2.2.1. Khái niệm hứng thú học tập ..................................................... 17
1.2.2.2. Các loại hứng thú học tập ........................................................ 17
1.2.2.3. Một số đặc điểm của hứng thú học tập .................................... 18
1.2.2.4. Biểu hiện của hứng thú học tập ............................................... 19
1.2.2.5. Sự hình thành và phát triển của hứng thú học tập ................... 20
1.3. Đặc điểm HS THPT ...................................................................................... 22
1.3.1. Khái niệm HS THPT ........................................................................... 22
1.3.2. Đặc điểm của HS THPT ...................................................................... 23
1.4. Bộ môn Hóa học 10 trong chương trình THPT ............................................ 24
1.4.1. Đặc trưng bộ môn Hóa học nói chung ................................................. 24
1.4.2. Cấu trúc, nội dung của chương trình Hóa học 10 ................................ 25
1.4.3. Mục tiêu chương trình cơ bản của bộ môn Hóa học 10 ...................... 27
1.4.4. Tầm quan trọng của bộ môn Hóa học 10 trong chương trình THPT .. 28
1.5. Phần mềm thống kê dữ liệu Microsoft Excel ................................................ 28
1.5.1. Khái niệm phần mềm Microsoft Excel ................................................ 28
1.5.2. Ưu điểm, nhược điểm của phần mềm Microsoft Excel ....................... 29
1.5.3. Các tính năng của Microsoft Excel được sử dụng trong đề tài ........... 29
1.6. Phần mềm thống kê dữ liệu SPSS 22.0 ......................................................... 30
1.6.1. Khái niệm phần mềm SPSS 22.0 ......................................................... 30
1.6.2. Một số lĩnh vực ứng dụng phần mền SPSS 22.0 ................................. 31
1.6.3. Các tính năng chính của phần mền SPSS 22.0 .................................... 31
1.6.4. Ưu điểm, nhược điểm của phần mền SPSS 22.0 ................................. 32
1.6.5. Các giao diện làm việc của phần mềm SPSS 22.0 .............................. 33
1.6.6. Một số địa lượng thống kê và kiểm định dùng cho phân tích dữ liệu
trong phần mềm SPSS 22.0 được dùng trong đề tài .............................................. 35
1.6.6.1. Bảng tần số, thống kê mô tả và đồ thị ...................................... 35
1.6.6.2. Kiểm định Cronbach’s Alpha .................................................. 35
1.6.6.3. Kiểm định Chi – bình phương (Chi – Square) ......................... 35
1.6.6.4. Kiểm định One-Sample T-Test ................................................ 36
1.6.6.5. Phân tích phương sai ANOVA ................................................ 36
Chương 2. KHẢO SÁT HỨNG THÚ CỦA HỌC SINH KHỐI LỚP 10 TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG ĐỐI VỚI MÔN HÓA HỌC ............................................... 38
2.1. Mục đích khảo sát ......................................................................................... 38
2.2. Khảo sát thực nghiệm .................................................................................... 38
2.3. Khảo sát chính thức ....................................................................................... 45
2.3.1. Lập kế hoạch khảo sát ......................................................................... 46
2.3.2. Chọn mẫu khảo sát .............................................................................. 47
2.3.3. Liên hệ các trường THPT xin làm khảo sát ......................................... 49
2.3.4. Tiến hành đi khảo sát chính thức ......................................................... 50
2.4. Xử lý và phân tích dữ liệu nghiên cứu .......................................................... 52
2.5. Mô tả về thang đo hứng thú đối với HS khi học môn Hóa học .................... 65
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................................. 67
3.1. Đánh giá mức độ hứng thú của HS khối lớp 10 đối với môn Hóa học ......... 67
3.1.1. Kiểm định mức độ hứng thú của HS ................................................... 67
3.1.2. Đánh giá chung mức độ hứng thú của HS ........................................... 67
3.1.2.1. Phân tích kết quả thống kê mô tả giá trị trung bình mức độ
hứng thú của HS khi học Hóa học .......................................................................... 67
3.1.2.2. Phân tích kết quả tỷ lệ phần trăm mức độ về sự hứng thú của
HS khi học Hóa học .................................................................................................. 69
3.1.3. Đánh giá mức độ hứng thú của HS theo từng phát biểu...................... 71
3.1.3.1. Phát biểu HT1 .......................................................................... 71
3.1.3.2. Phát biểu HT2 .......................................................................... 72
3.1.3.3. Phát biểu HT3 .......................................................................... 74
3.1.3.4. Phát hiểu HT4 .......................................................................... 75
3.1.3.5. Phát biểu HT5 .......................................................................... 76
3.1.3.6. Phát biểu HT6 .......................................................................... 77
3.1.3.7. Phát biểu HT7 .......................................................................... 78
3.1.4. Tiểu kết ................................................................................................ 84
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hứng thú của HS .................................... 85
3.2.1. Kiểm định mối liên hệ của các yếu tố ................................................. 85
3.2.2. Sự khác biệt giữa các loại hình trường ................................................ 87
3.2.3. Sự khác biệt theo giới tính ................................................................... 88
3.2.4. Sự khác biệt theo thành tích học tập .................................................... 89
3.2.5. Sự khác biệt giữa việc có đi học thêm và không đi học thêm môn Hóa
học ........................................................................................................................... 90
3.2.6. Tiểu kết ................................................................................................ 91
3.3. Xếp hạng của môn Hóa học trong chương trình THPT ................................ 92
3.3.1. Xếp hạng của môn Hóa học trong tất cả các môn học trong chương
trình THPT ................................................................................................................ 92
3.3.2.Xếp hạng của môn Hóa học trong ba môn học: Lý, Hóa, Sinh ............ 94
3.3.3. Tiểu kết ................................................................................................ 95
3.4. Kết luận ......................................................................................................... 95
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT .................................................................................... 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 103
PHỤ LỤC .............................................................................................................. 106
Phụ lục 1. Bảng hỏi khảo sát .................................................................................. 107
Phụ lục 2. Kiểm định thang đo ............................................................................... 109
Phụ lục 3. Thống kê mức độ hứng thú ................................................................... 110
Phụ lục 4. Kiểm định Chi – bình phương ............................................................... 114
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Ban Giám hiệu BGH :
Giá trị trung bình GTTB :
Giáo viên GV :
Học sinh HS :
Nhà xuất bản NXB :
Sách giáo khoa SGK :
SPSS : Stistical Products for the Social Services
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
: TP. HCM Thành phố Hồ Chí Minh
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Nội dung và phân bố tiết học môn Hóa học 10 ........................................ 25
Bảng 1.2. Phân bố tiết học môn Hóa học 10 ............................................................ 27
Bảng 1.3. Ưu điểm, nhược điểm của phần mềm Microsoft Excel ........................... 29
Bảng 1.4. Ưu điểm và nhược điểm phần mềm SPSS 22.0 ....................................... 32
Bảng 2.1. Quy mô mẫu tương ứng với các mức độ sai lệch khác nhau .................. 47
Bảng 2.2. Danh sách các trường THPT chọn khảo sát ............................................. 49
Bảng 2.3. Số lượng mẫu nghiên cứu của đề tài ........................................................ 53
Bảng 2.4. Mã hóa và khai báo biến các câu 1, 2, 3, 4, 5, 11 .................................... 55
Bảng 2.5. Dữ liệu chính thức từ HS khối lớp 10 ...................................................... 62
Bảng 2.6. Mô tả mẫu nghiên cứu ............................................................................. 63
Bảng 3.1. Kết quả thống kê GTTB mức độ hứng thú .............................................. 67
Bảng 3.2. Kết quả xử lý số liệu các phát hiểu trong thang đo .................................. 70
Bảng 3.3. Kiểm định kết quả ảnh hưởng yếu tố ....................................................... 86
Bảng 3.4. Kết quả GTTB mức độ hứng thú theo loại hình trường .......................... 87
Bảng 3.5. Kết quả GTTB mức độ hứng thú theo giới tính ....................................... 88
Bảng 3.6. Kết quả GTTB mức độ hứng thú theo thành tích học tập ........................ 89
Bảng 3.7. Kết quả GTTB mức độ hứng thú theo việc đi học thêm môn Hóa .......... 90
Bảng 3.8. Xếp hạng các môn học yêu thích nhất ..................................................... 93
Bảng 3.9. Xếp hạng môn học yêu thích nhất trong ba môn Lý, Hóa, Sinh .............. 94
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Mối quan hệ giữa nhận thức – xúc cảm – hành vi.................................... 12
Hình 1.2. Màn hình dữ liệu làm việc của Microsoft Excel ...................................... 28
Hình 1.3. Màn hình dữ liệu của SPSS ...................................................................... 30
Hình 1.4. Màn hình quản lý dữ liệu .......................................................................... 33
Hình 1.5. Màn hình quản lý biến .............................................................................. 33
Hình 1.6. Màn hình hiển thị kết quả ......................................................................... 34
Hình 1.7. Màn hình cú pháp ..................................................................................... 34
Hình 2.1. Quy trình xây dựng và kiểm định bảng hỏi .............................................. 38
Hình 2.2. Năm thang đo thái độ ............................................................................... 44
Hình 2.3. Quy trình xây dựng và kiểm định bảng hỏi .............................................. 53
Hình 2.4. Mã hóa khai báo biến câu phát biểu mang nghĩa tiêu cực ....................... 57
Hình 2.5. Mã hóa khai báo biến câu phát biểu mang nghĩa tích cực ....................... 57
Hình 2.6. Nhập liệu các câu hỏi 6, 7, 8, 9, 10 và 11 ................................................. 58
Hình 2.7. Quy trình phân tích dữ liệu định tính ....................................................... 60
Hình 3.1. GTTB của các phát biểu trong thang đo ................................................... 68
Hình 3.2. Biểu đồ tỷ lệ phần trăm mức độ đánh giá chung ...................................... 71
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ phần trăm mức độ ở phát biểu HT1 .................................... 72
Hình 3.4. Biểu đồ tỷ lệ phần trăm mức độ ở phát biểu HT2 .................................... 73
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ phần trăm mức độ ở phát biểu HT3 .................................... 74
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ phần trăm mức độ ở phát biểu HT4 .................................... 75
Hình 3.7. Biểu đồ tỷ lệ phần trăm mức độ ở phát biểu HT5 .................................... 76
Hình 3.8. Biểu đồ tỷ lệ phần trăm mức độ ở phát biểu HT6 .................................... 77
Hình 3.9. Biểu đồ tỷ lệ phần trăm mức độ ở phát biểu HT7 .................................... 78
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển và theo đó, trong mảng đào
tạo giáo dục, yêu cầu đặt ra đối với người học ngày càng cao, con người phải không
ngừng học hỏi để nâng cao kiến thức. Quá trình học tập của HS ở trường chịu tác
động của nhiều thành tố như mục tiêu giáo dục, nội dung chương trình, phương
pháp giảng dạy của GV, hình thức tổ chức hoạt động học tập, hình thức kiểm tra,
đánh giá và cả biện pháp giáo dục mà GV tiến hành để mang lại kết quả học tập
cao. Nếu tất cả các thành tố này không được tổ chức một cách hợp lý và khoa học sẽ
dẫn đến áp lực lớn cho HS trong quá trình học tập, đồng nghĩa với mức độ hứng thú
của HS đối với môn học sẽ ngày càng giảm xuống.
Theo lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý của Colemen, trong đời sống, khi cá
nhân nhận được một loại những kích thích từ bên ngoài thì không phải cá nhân ngay
lập lức phản ứng lại mà sẽ tiến hành lựa chọn, kích thích nào cảm thấy phù hợp với
bản thân thì cơ thể sẽ tiếp thu và ngược lại, kích thích nào tỏ ra không phù hợp,
không mang lại lợi ích sẽ bị khước từ hoặc loại bỏ khỏi cơ thể [9]. Nói cụ thể hơn,
khi học, tức là nhận một chuỗi những kích thích bên ngoài, nếu sự hứng thú không
dẫn dắt sự lựa chọn trong việc học thì các kiến thức cơ bản cần tiếp thu sẽ rất dễ
dàng bị đào thải khỏi cơ thể. Hứng thú là tiền đề của quá trình nhận thức tích cực
của người học, mang lại hiệu quả cao cho quá trình học, có hứng thú sẽ làm cho
việc học dễ dàng được tiếp thu hơn.
Đặc biệt là đối với môn Hóa học, là một môn khoa học tự nhiên cơ bản và
mang bản chất thực nghiệm. Nếu HS không có hứng thú học môn Hóa học thì sẽ chỉ
học đối phó với chương trình SGK, cảm thấy nó rất khô khan và nhàm chán. Hóa
học cũng được Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn SGK theo cấu trúc xoắn ốc. Vì
thế, chương trình SGK Hóa học lớp 10 hầu hết chỉ gồm những kiến thức Hóa đại
cương cơ bản, không có sự liên kết trực tiếp với bản chất của hóa học trong đời
sống hằng ngày. Đồng thời, các kiến thức này cũng mang tính trừu tượng khá cao,
khó có thể tưởng tượng đối với một số HS yếu kém. Các bài học liên quan đến chất
cụ thể ở chương trình Hóa học 10 thì cũng rất ít và lại là những bài đã được học ở
2
chương trình THCS nâng cao lên. Chúng sẽ rất dễ gây nhàm, mất hứng thú học tập
của nhiều em HS khi chỉ mới bước vào phần học đầu tiên của môn Hóa ở chương
trình THPT.
Vì tất cả những lí do đó, với vai trò là sinh viên năm 4 của khoa Hóa học
trường Đại học Sư phạm TP. HCM, tôi đã quyết định chọn đề tài: “KHẢO SÁT
HỨNG THÚ CỦA HỌC SINH KHỐI LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐỐI
VỚI MÔN HÓA HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính khi thực hiện đề tài là tìm hiểu sự hứng thú của HS khối lớp
10 THPT đối với bộ môn Hóa học tại TP. HCM, cụ thể như sau:
- Tìm hiểu mức độ hứng thú của HS khối lớp 10 đối với bộ môn Hóa học.
- Tìm hiểu sự ảnh hưởng của các yếu tố: loại hình trường, giới tính, thành
tích học tập và việc đi học thêm môn Hóa học đến mức độ hứng thú môn Hóa học
của HS khối lớp 10.
- Tìm hiểu sự yêu thích của môn Hóa học so với các môn học khác trong
chương trình, đặc biệt là trong số ba môn Lý, Hóa và Sinh.
Từ đó, đề xuất các biện pháp nâng cao mức độ hứng thú học tập môn Hóa học
của HS khối lớp 10 các trường THPT, nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
- Dựa vào công cụ đo lường thái độ của HS đối với bộ môn Hóa học được
xây dựng từ đề tài “Khảo sát thái độ của học sinh Trung học phổ thông đối với môn
Hóa học tại Thành phố Hồ Chí Minh” [12] để khảo sát mức độ hứng thú của HS
khối lớp 10 tại một số trường THPT tại TP.HCM đối với môn Hóa học.
- Xử lý, phân tích và đánh giá tổng quát số liệu bằng phương pháp thống kê
toán học để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra.
- Đề xuất một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao mức độ hứng thú học tập
môn Hóa học cho HS khối lớp 10 các trường THPT.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình học tập môn Hóa học của HS khối lớp 10 THPT tại TP. HCM.
3
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Mức độ hứng thú học tập môn Hóa học của HS khối lớp 10 THPT tại TP.
HCM.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: một số trường THPT tại TP.HCM
- Giới hạn về số lượng HS: 910 HS.
- Giới hạn về thời gian: từ 08/2014 đến 05/2016
6. Giả thuyết nghiên cứu
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu khảo sát thái độ của HS đối với môn Hóa học
từ góc nhìn của GV hóa học do ThS. Đào Thị Hoàng Hoa nghiên cứu, việc khảo sát
mức độ hứng thú của HS khối lớp 10 đối với môn Hóa học được đưa ra giả thuyết
như sau:
H0: HS khối lớp 10 THPT không hứng thú thấp đối với bộ môn Hóa học.
H1: HS khối lớp 10 THPT hứng thú thấp đối với bộ môn Hóa học.
Sự hứng thú cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác. Điều này tạo ra các cặp
giả thuyết nghiên cứu như sau:
- Về loại hình trường:
H0: Loại hình trường không có ảnh hưởng đối với mức độ hứng thú của HS
khối lớp 10 THPT đối với bộ môn Hóa học.
H1: Loại hình trường có ảnh hưởng đối với mức độ hứng thú của HS khối lớp
10 THPT đối với bộ môn Hóa học.
- Về giới tính:
H0: Giới tính không có ảnh hưởng đối với mức độ hứng thú của HS khối lớp
10 THPT đối với bộ môn Hóa học.
H1: Giới tính có ảnh hưởng đối với mức độ hứng thú của HS khối lớp 10
THPT đối với bộ môn Hóa học.
- Về thành tích học tập:
H0: Thành tích học tập không có ảnh hưởng đối với mức độ hứng thú của HS
khối lớp 10 THPT đối với bộ môn Hóa học.
H1: Thành tích học tập có ảnh hưởng đối với mức độ hứng thú của HS khối
lớp 10 THPT đối với bộ môn Hóa học.
4
- Về việc đi học thêm của HS:
H0: Việc đi học thêm không có ảnh hưởng đối với mức độ hứng thú của HS
khối lớp 10 THPT đối với bộ môn Hóa học.
H1: Việc đi học thêm có ảnh hưởng đối với mức độ hứng thú của HS khối lớp
10 THPT đối với bộ môn Hóa học.
7. Phương pháp và phương tiện nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp thu thập thông tin, nghiên cứu tài liệu: tìm hiểu, đọc và
nghiên cứu cơ sở lý luận về hứng thú và hứng thú học tập của HS; tìm hiểu về các
công cụ đo lường xã hội, cụ thể là các thang đo như thang đo Likert.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các tư liệu:
dựa trên những tư liệu thu thập được từ các sách, báo, tạp chí, các báo cáo, các đề
tài nghiên cứu, các văn bản…, chúng tôi tổng quan các thông tin dữ liệu này thành
các mục chủ đề khác nhau.
7.2. Nhóm các phương pháp ngiên cứu thực tiễn
- Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn với các HS và các GV dạy bộ môn
Hóa học ở THPT.
- Phương pháp quan sát: quan sát các hành động, thái độ của đối tượng khảo
sát, cụ thể ở đây là HS đang học THPT.
- Phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn.
- Phương điều tra xã hội học: xây dựng các câu hỏi mở, từ đó xây dựng bảng
câu hỏi khảo sát.
7.3. Nhóm các phương pháp toán thống kê
- Dùng phần mềm Microsoft Excel để phân tích các câu hỏi trong thang đo
định danh, thứ bậc và vẽ các đồ thị, biểu đồ.
- Dùng phần mềm SPSS 22.0 dùng để thống kê, phân tích dữ liệu và phân
tích định lượng.
8. Những đóng góp mới của đề tài
Đề tài này được thực hiện đồng thời với đề tài “Khảo sát thái độ của học sinh
trung học phổ thông đối với môn Hóa học tại Thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn
5
thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc [12]. Tuy nhiên, tác
giả Nguyễn Thị Bích Ngọc đưa quá trình xử lý dữ liệu còn phức tạp cũng như chưa
phân tích cụ thể các con số dữ liệu thu thập được, các kết luận thu thập được còn
mang tính tổng quát cao, chưa bám sát được mục tiêu cũng như giả thuyết nghiên
cứu ban đầu đã đặt ra. Để sữa chữa những sai sót trên, tôi thực hiện đề tài này với
đối tượng phân tích là HS khối lớp 10, đồng thời còn phân tích cụ thể hơn các con
số thu thập được cũng như kết hợp phân tích định tính nhằm làm rõ hơn mức độ
hứng thú của HS khối lớp 10 đối với môn Hóa học. Qua đó, tôi đưa ra những kết
luận thực tế và mang ý nghĩa khoa học hơn về thái độ, về mức độ hứng thú của HS
đối với môn Hóa học cũng như có những đề xuất một số biện pháp giúp nhà trường,
gia đình, giáo viên có thể nâng cao thành tích học tập của học sinh.
Với sự giúp đỡ của nhóm nghiên cứu gồm một số anh chị học viên Cao học và
các bạn sinh viên khác, thông qua đề tài, tôi một lần nữa đưa ra bằng chứng thực
nghiệm cho thấy tầm quan trọng của thái độ HS đối với môn Hóa học nói riêng và
tất cả bộ môn khoa học nói chung.
6
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu về hứng thú
1.1.1. Các nghiên cứu về hứng thú trên thế giới
Hứng thú là một vấn đề phong phú, hấp dẫn và cũng khá phức tạp, như L. X.
Vưgôtxki đã khẳng định: “Đối với việc nghiên cứu hầu như không có vấn đề nào
rắc rối hơn vấn đề tìm hiểu hứng thú thực sự của một con người” [10].Vì vậy, lĩnh
vực hứng thú đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu.
Từ các công trình nghiên cứu có giá trị, chúng tôi thấy rằng khi nghiên cứu về
hứng thú có các hướng sau:
Thứ nhất là các nghiên cứu các lý luận chung, đại cương về hứng thú
Vào những năm 20 của thế kỷ XIX, trong các công trình nghiên cứu tâm lý
của mình, X. L. Rubinstein đã đưa ra những khái niệm đầu tiên về hứng thú, con
đường để hình thành hứng thú và quan trọng nhất chính là phát biểu ý kiến cho rằng
hứng thú là biểu hiện của ý chí, tình cảm con người.
Năm 1938, trong đề tài “Phát triển hứng thú ở trẻ em”, Ch. Buhler một lần nữa
đưa ra khái niệm về hứng thú. Tuy nhiên, vai trò của hứng thú trong lĩnh vực giáo
dục vẫn chưa được nhắc đến [27].
Năm 1944, tác giả A. F. Bêliep đã thực hiện “Tâm lý học hứng thú”. Đây là
một luận án tiến sĩ với đầy đủ các nội dung, các vấn đề lý luận tổng quát về hứng
thú trong lĩnh vực tâm lý học [11].
Năm 1957, nhà nghiên cứu nổi tiếng về vấn đề hứng thú M. F. Belaep đã bắt
đầu đưa ra sự hứng thú trên những lĩnh vực, yếu tố, đối tượng khác nhau như: trò
chơi của trẻ em, hứng thú đọc sách, hứng thú xem bóng đá, hứng thú của trẻ em,
hứng thú của những người công nhân đối với công việc lao động của mình [1]…
Thứ hai là các nghiên cứu về hứng thú nhận thức
Nghiên cứu về hứng thú nhận thức cũng tức là xem xét hứng thú trong mối
quan hệ với sự phát triển nhân cách nói chung và vốn tri thức của cá nhân nói riêng.
Đại diện cho xu hướng này là L. L. Bôgiôvích với đề tài “Hứng thú trong quan
hệ hình thành nhân cách”, Lukin, Lêvitôp với nghiên cứu “Hứng thú trong quan hệ
với năng lực”…
7
Năm 1966, L.V. Lepkôp đã công bố công trình nghiên cứu “Sự hình thành
hứng thú nhận thức của HS trong quá trình công tác nghiên cứu địa phương”[9].
Năm 1971, G.I. Sukina đưa ra công trình “Vấn đề hứng thú nhận thức trong
khoa học giáo dục”. Và đây chính con đường mở đầu để đưa khái niệm hứng thú
vào lĩnh vực khoa học giáo dục khi tác giả đã đưa ra khái niệm về hứng thú nhận
thức cùng với những biểu hiện của nó, đưa ra nguồn gốc cơ bản của hứng thú nhận
thức là nội dung tài liệu và hoạt động học tập [14].
Để cụ thể sự hứng thú đối với lĩnh vực giáo dục, năm 1976, N. G. Marôzôva
đã đưa ra nghiên cứu: “Tác dụng của việc giảng dạy nêu vấn đề đối với hứng thú
nhận thức của HS”. Ở đề tài này, tác giả không chỉ đưa ra các cấu trúc của hứng thú
ở lĩnh vực tâm lý mà còn phân tích những điều kiện, khả năng hứng thú trong quá
trình học của HS, đặc biệt là sự ảnh hưởng từ việc giảng dạy của GV đến với hứng
thú học tập của HS.
Thứ ba là các nghiên cứu về các con đường, phương pháp nghiên cứu
hứng thú, tác động đến hình thành, phát triển hứng thú.
Từ những năm 1931, I. K. Strong đã nghiên cứu “Sự thay đổi hứng thú theo
lứa tuổi”. Trong đây, ông đã thực hiện trên nhiều đối tượng khác nhau để đưa ra sự
hình thành, thay đổi và phát triển của hứng thú [27]. Và nghiên cứu cụ thể hơn, đề
tài của G.I. Sukina tiếp tục nghiên cứu về “Nghiên cứu hứng thú trẻ em ở các lứa
tuổi” [4].
Tiêu biểu hơn nữa là công trình nghiên cứu của V. N. Marcôva: “Sự hình
thành hứng thú trẻ em trong điều kiện bình thường và trong điều kiện không bình
thường” vào năm 1967 [4].
Thứ tư là các nghiên cứu về hứng thú học tập các môn học của HS
Mức độ hứng thú luôn có ảnh hưởng theo chiều hướng tỷ lệ thuận đối với chất
lượng học tập. Điều này đã được chứng minh từ những năm 1955, công trình nghiên
cứu của A. Packhudôp về vấn đề “Sự phụ thuộc giữa tri thức của HS và hứng thú
học tập” [10].
Tuy chỉ ở mức độ định tính nhưng một số đề tài về hứng thú đã thật sự có giá
trị cho nền khoa học giáo dục của thế giới. Ví dụ năm 1964, N.I. Ganbirô đã nghiên
cứu đề tài: “Vận dụng hứng thú như là một phương tiện để nâng cao chất lượng
8
giảng dạy bộ môn Tiếng Nga” hay gần nhất là năm 2004, Linnell, Charles C đã
nghiên cứu: “Nâng cao hứng thú của trẻ em trong việc học môn Toán với công nghệ
hiện đại theo phương pháp tích cực” [4].
1.1.2. Các nghiên cứu về hứng thú ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trong nhiều năm qua cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về
hứng thú được đi theo xu hướng của thế giới như nghiên cứu chung về hứng thú,
hứng thú nghề nghiệp… Tuy nhiên, hiện nay, với sự đổi mới giáo dục đang từng
bước được thực hiện, đề tài hứng thú càng được đưa nhiều vào lĩnh vực giáo dục để
nghiên cứu về hứng thú học tập hay các biện pháp tăng hứng thú cho các môn học,
tiêu biểu như:
Năm 1990, đề tài của Im. Kock là “Tìm hiểu hứng thú đối với môn Toán của
HS lớp 8 Phnôm Pênh”. Đây là luận án phó tiến sĩ khoa Tâm lý, trường Đại học Sư
phạm Hà Nội I [6].
Đề tài luận án tiến sĩ Tâm lý học: “Nghiên cứu đặc điểm hứng thú học môn
Toán của HS tiểu học và biện pháp tâm lý sư phạm nâng cao hứng thú học môn
Toán ở các em” của Nguyễn Thị Thu Cúc vào năm 2008, tại trường Đại học Sư
phạm Hà Nội [4].
Năm 2008, Phạm Ngọc Thủy cũng đã hoàn thành luận văn thạc sĩ Giáo dục
học với đề tài: “Những biện pháp gây hứng thú trong dạy học Hóa học ở trường phổ
thông” tại trường Đại học Sư phạm TP. HCM [18].
Và càng về những năm gần đây, những đề tài về hứng thú học tập ngày càng
xuất hiện đều đặn hơn. Điều này chứng minh lĩnh vực hứng thú đối với việc học tập
của HS ngày càng được các nhà giáo dục quan tâm nhiều hơn. Cụ thể như năm
2012, xuất hiện đề tài luận văn thạc sĩ Tâm lý học “Hứng thú học tập môn Giáo dục
công dân của HS một số trường THPT tại quận 8 TP. HCM” của Phạm Lê Thanh
Thảo [16], năm 2013 có bài báo trên tạp chí khoa học Đại học Sư phạm TP. HCM,
số 45 với tên gọi “Khảo sát thực trạng hứng thú học tiếng Anh của HS lớp 5 tại một
số trường tiểu học ở thị xã Thuận An tỉnh Bình Dương” của tác giả Đỗ Huỳnh Kiều
[4]. Gần đây nhất, vào năm 2014, Hoàng Bích Trâm cũng đã hoàn thành luận văn
thạc sĩ Giáo dục học tại trường Đại học Sư phạm TP. HCM với tên đề tài: “Một số
9
biện pháp tạo hứng thú góp phần nâng cao kết quả học tập phần Hóa hữu cơ lớp 11
THPT” [5].
Hứng thú là một cảm xúc được lựa chọn đặc biệt của thái độ được sử dụng
nhiều trong lĩnh vực tâm lý học. Các nghiên cứu khoa học ở Việt Nam về tình cảm,
cảm xúc của con người như thái độ, hứng thú rất nhiều nhưng tất cả chỉ theo hướng
nghiên cứu ứng dụng, tức là xét về mặt có hứng thú hay không, đồng thời chủ yếu là
đưa ra những biện pháp, phương pháp dạy học nhằm tăng mức độ hứng thú nhận
thức cho đối tượng nghiên cứu. Mới đây nhất, đề tài “Khảo sát thái độ của học sinh
Trung học Phổ thông đối với môn Hóa học tại thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn
Thạc sĩ giáo dục của Nguyễn Thị Bích Ngọc mới bước đầu đưa ra hướng nghiên
cứu cơ bản về thái độ, mức độ hứng thú của đối tượng nghiên cứu [12]. Ở Việt Nam
trước đây chưa từng có một đề tài nào thật sự đi theo hướng nghiên cứu cơ bản này,
nghĩa là đi thực hiện đo lường, đưa ra mức độ chính xác của sự hứng thú đó là như
thế nào, qua đó có thể có được những kết luận cụ thể, chính xác về mặt khoa học
như thế nào. Đây là điều bất cập khi hướng đi này đã được phổ biến hàng chục năm
nay trong bối cảnh phát triển của thế giới ở hầu hết các lĩnh vực, không riêng lĩnh
vực khoa học giáo dục.
1.2. Hứng thú và hứng thú học tập
1.2.1. Hứng thú
1.2.1.1. Khái niệm hứng thú
Hứng thú là một hiện tượng tâm lý được nhắc đến trong rất nhiều nghiên cứu
khác nhau. Chính vì thế, hứng thú đồng thời cũng xuất hiện thêm nhiều định nghĩa
khác nhau tương ứng.
Khi chủ nghĩa duy tâm vẫn còn thống trị thế giới, các nhà tâm lý học phương
Tây cho rằng hứng thú là một thuộc tính có sẵn của con người, quá trình lớn lên của
cá nhân cũng là quá trinh bộc lộ sự quan tâm, yêu thích, định hướng tích cực tạo sự
phát triển hứng thú trên cơ sở bản chất sinh học của con người.
Khi chủ nghĩa duy vật biện chứng thật sự được thừa nhân, hứng thú không còn
được xem là cái trừu tượng vốn có của mỗi cá nhân nữa mà là kết quả của sự hình
thành và phát triển nhân cách con người. Nó có thể phản ánh một cách khách quan
thái độ đang tồn tại trong mỗi con người đối với một đối tượng nào đó xung quanh.
10
Hứng thú cũng chính là kết quả của sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa điều kiện sống và
hoạt động của mỗi cá nhân. Nhà tâm lý học A. G. Covaliop đã đưa ra định nghĩa:
“Hứng thú là thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng nào đó, do ý nghĩa của
nó trong đời sống và do sự hấp dẫn về tình cảm của nó”. Định nghĩa trên đã phần
nào nói lên được bản chất của hứng thú.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt (1999), tác giả Nguyễn Như Ý đã đưa ra khái
hiện hứng thú như sau: “Hứng thú là biểu hiện của một nhu cầu, làm cho chủ thể
tìm cách thỏa mãn, tạo ra khoái cảm, thích thú hay huy động sinh lực để cố gắng
thực hiện” và “Hứng thú là sự ham thích” [5].
Theo giáo trình Tâm lý học đại cương, tác giả Nguyễn Quang Uẩn đã đưa ra
khái niệm: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa
có ý nghĩa đối với đời sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong
quá trình hoạt động” [5]. Khái niệm này được hấu hết các nhà nghiên cứu trên thế
giới và Việt Nam đều thừa nhận vì nó vừa nêu được bản chất của hứng thú, vừa gắn
hứng thú với hoạt động cá nhân. Và đây cũng là khái niệm hứng thú mà chúng tôi sẽ
sử dụng trong đề tài này.
1.2.1.2. Cấu trúc của hứng thú
Hứng thú được tạo thành từ 2 yếu tố đặc trưng:
- Thứ nhất là sự nhận thức về đối tượng:cá nhân phải ý thức, hiểu rõ ý nghĩa
của đối tượng đã dây ra hứng thú cho bản thân mình. Đây là yếu tố không thể thiếu
của hứng thú.
- Thứ hai là yếu tố xúc cảm với đối tượng: cá nhân phải có cảm xúc dương
tính sâu sắc với đối tượng gây ra hứng thú trong thời gian tương đối dài chứ không
phải là cảm xúc nhất thời hay thoáng qua.
Hiện nay, cấu trúc của hứng thú được kết hợp thêm một yếu tố, là yếu tố hệ
quả hai yếu tố trên. Cụ thể hơn, khi cá nhân có được hai yếu tố quan trọng của hứng
thú nêu trên, bản thân cá nhân sẽ tiến hành những hành động tích cực để tiếp cận và
chiễm lĩnh đối tượng đó. Đây là yếu tố hành động của cá nhân.
Theo tiến sĩ tâm lý học N. G. Mavôzôva, ba yếu tố của cấu trúc hứng thú nêu
trên cũng tương ứng với ba biểu hiện của cá nhân khi có hứng thú. Hứng thú sẽ liên
quan đến việc người đó có xúc cảm, tình cảm, thái độ như thế nào đối với đối
11
tượng, nếu đó là cảm xúc tích cực thì sẽ có niềm vui tìm hiểu và nhận thức đối
tượng, có động cơ trực tiếp để bản thân hoạt động và kích thích hứng thú. Những
hoạt động khác tiếp theo chỉ có tác dụng duy trì và hỗ trợ chứ không thể tạo ra được
bản chất của hứng thú.
Ngày nay, người ta cho rằng hứng thú là sự kết hợp giữa nhận thức – xúc cảm và
hành động. Nhận thức là cơ sở, là nền tảng để từ đó nảy sinh tình cảm, cảm xúc đối
với đối tượng. Trước một sự vật hiện tượng nào đó, con người luôn phải trả lời câu
hỏi: Nó là cái gì? Nó như thế nào? Nó có ý nghĩa gì?. Chính khi biết đối tượng có
tầm quan trọng, có ý nghĩa đối với mình hay không để từ đó xuất hiện thái độ tích
cực hay ngược lại là thái độ tiêu cực đối với đối tượng. Cụ thể như nhận thức của
hoạt động học tập, con người tìm hiểu về tri thức, nội dung môn học. Nếu như nhận
thức được vai trò, cũng như ý nghĩa của tri thức đối với bản thân sẽ có thái độ tích
cực học tập, được thể hiện đặc trưng ở sự chú ý, sự hứng thú đối với việc học tập.
Ngược lại, nếu không nhận thức được quá trình học tập có ý nghĩa như thế nào, cá
nhân sẽ tự biểu hiện thái độ tiêu cực, bất mãn những kiến thức và GV đang giảng
dạy trên lớp. Như vậy, xúc cảm, tình cảm chính là kết quả của nhận thức và có vai
trò vô cùng quan trọng trong cấu trúc của hứng thú. Tình cảm tích cực sẽ giúp cá
nhân hành động tích cực hơn, ngược lại, tình cảm tiêu cực sẽ triệt tiêu đi các hành
động, triệt tiêu tích cực hoạt động tìm hiểu đối tượng hay nói chính xác, hành vi sẽ
ảnh hưởng ngược lại đối với nhận thức.Ba thành tố trên có quan hệ chặt chẽ, mật
thiết với nhau trong hứng thú cá nhân. Chúng có sự tương tác lẫn nhau mạnh mẽ, sự
tồn tại từng thành tố riêng lẽ sẽ không có ý nghĩa gì đối với hứng thú.
Tìm hiểu, suy nghĩ, hiểu biết về đối tượng
Nhận thức
Hành động cá nhân biểu hiện bên ngoài
Hành vi
Xúc cảm
Tình cảm tích cực hoặc tiêu cực với đối tượng
Hình 1.1. Mối quan hệ giữa nhận thức – xúc cảm – hành vi
12
1.2.1.3. Phân loại hứng thú
Hứng thú có thể được phân loại trên nhiều cơ sở khác nhau
- Dựa vào hiệu quả của hứng thú, hứng thú được chia thành 2 loại:
Hứng thú thụ động là loại hứng thú tĩnh quan, mức độ hứng thú chỉ dừng lại
ở giai đoạn ngắm nhìn, chiêm ngưỡng đối tượng để gây nên hứng thú, không có
những hành động thể hiện mặt tính cực để tìm hiểu, nhận thức sâu hơn về đối tượng
hay sở hữu đối tượng.
Hứng thú tích cực là loại hứng thú không chỉ quan sát, nhìn ngắm đối tượng
mà còn hoạt động tích cực trong niềm say mê với mục đích chiếm lĩnh được đối
tượng. Đây là một trong những khơi nguồn, kích thích sự phát triển nhân cách, hình
thành kỹ năng, kỹ xảo và đặc biệt hơn, đây chính là nguồn gốc của sự sáng tạo của
con người.
- Dựa vào nội dung đối tượng và nội dung hoạt động, hứng thú được chia
thành 5 loại:
Hứng thú vật chất là loại hứng thú với những vật chất cụ thể xung quanh con
người như nhà ở, quần áo, tiền bạc…
Hứng thú nhận thức là loại hứng thú với những vật chất mang tính trừu
tượng như hứng thú học môn Hóa, hứng thú tìm hiểu triết học, hứng thú tìm hiểu
tâm lý học…
Hứng thú lao động nghề nghiệp là loại hứng thú với một ngành nghề cụ thể
như hứng thú với nghề sư phạm, hứng thú với nghề kinh doanh, hứng thú với nghề
bác sĩ…
Hứng thú xã hội – chính trị là loại hứng thú cụ thể đặc biệt, hứng thú với các
lĩnh vực xã hội – chính trị, muốn tham gia vào các lĩnh vực này.
Hứng thú mỹ thuật là hứng thú về những giá trị thẩm mỹ, cái hay cái đẹp
như hứng thú với những bài thơ, bài văn, hứng thú với phim ảnh, hứng thú với âm
nhạc giao hưởng…
- Dựa vào phạm vi của hứng thú, hứng thú được chia thành 2 loại:
Hứng thú rộng là hứng thú với nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, loại
hứng thú này thường không sâu sắc.
13
Hứng thú hẹp là hứng thú với từng mặt của vấn đề, từng ngành nghề, lĩnh
vực cụ thể.
Nhìn tổng quát, cách phân loại này tổng quát nhất và bao hàm luôn các căn cứ
phân loại khác. Trong cuộc sống của mỗi con người, hứng thú rộng và hứng thú hẹp
cần tồn tại trên mỗi cá nhân bởi vì nếu không có hứng thú rộng thì nhân cách của họ
sẽ không thể hoàn thiện, nhưng nếu chỉ có hứng thú rộng thì sự phát triển nhân cách
sẽ thiếu sâu sắc, khó thể nhìn nhận được nhiều mặt của vấn đề trong cuộc sống.
- Dựa vào tính bền vững của hứng thú, hứng thú được chia thành 2 loại:
Hứng thú bền vững là loại hứng thú mà cá nhân thường gắn liền với năng lực
cao và sự nhận thức sâu sắc nghĩa vụ và trách nhiêm của bản thân mình đối với đối
tượng hứng thú.
Hứng thú không bền vững là loại hứng thú không có nền tảng vững chắc, bắt
nguồn từ các nhận thức không sâu sắc đối với đối tượng hứng thú.
- Dựa vào chiều sâu của hứng thú, hứng thú được chia thành 2 loại:
Hứng thú sâu sắc là loại hứng thú thể hiện các hành động có trách nhiệm với
hoạt động, công việc liên quan đến đối tượng nhằm mục đích tìm hiểu, nhận thức
sâu hơn về đối tượng.
Hứng thú hời hợt bên ngoài là loại hứng thú mà các hành động liên quan đến
đôi tượng hứng thú chỉ được làm một các qua loa, hời hợt.
- Dựa vào chiều hướng của hứng thú, hứng thú được chia thành 2 loại:
Hứng thú trực tiếp là hứng thú đối với bản chất của đối tượng để từ đó thực
hiện các nhận thức, suy nghĩ và sáng tạo ra cái mới phù hợp với đối tượng hứng thú.
Hứng thú gián tiếp là hứng thú do những yếu tố bên ngoài của đối tượng
hứng thú tác động gây nên, không liên quan đến bản chất của đối tượng.
1.2.1.4. Vai trò của hứng thú
Hứng thú có vai trò quan trọng đối với mọi hoạt động của con người. Khi kết
hợp với nhu cầu, hứng thú sẽ kích thích hoạt động, làm cho con người hoạt động
tích cực, say mê và đem lại kết quả cao trong học tập và làm việc.
- Hứng thú giúp làm tăng hiệu quả làm việc. Khi một người có hứng thú
với công việc mình đang làm, họ sẽ thấy công việc ấy trở nên nhẹ nhàng, ít tốn sức
lực hơn và đồng thời cũng có sức tập trung cao hơn. Từ đó, công việc sẽ hoàn thành
14
nhanh hơn và đạt kết quả cao hơn mong đợi. Ngược lại, khi con người phải thực
hiện công việc một cách gượng ép, không mang tính tự nguyện sinh ra từ hứng thú,
công việc sẽ trở nên khó khăn, nặng nhọc, làm việc sẽ trở nên mệt mỏi, chán
chường và kết quả là thời gian làm việc rất lâu mà kết quả đạt được sẽ không cao.
Như vậy, hứng thú có thể làm tăng làm việc của con người nhưng vẫn mang lại cho
con người niềm vui, niềm say mê trong lao động và làm tăng hiệu quả, chất lượng
của hoạt động.
- Xét về phương diện tâm lý học, hứng thú thúc đẩy quá trình nhận thức
của con người. Hứng thú nhận thức sẽ là một động cơ chủ đạo bên trong con người,
giúp con người tò mò, không ngừng liên tục học hỏi những cái mới trong cuộc sống.
Ví dụ như đối với HS, hứng thú nhận thức sẽ giúp các em say mê tìm hiểu, học hỏi
những kiến thức mình được dạy trên lớp và bên ngoài thực tế, hay nói cách khác là
đang ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ, hành động của các em trong quá trình học tập
hay xa hơn nữa chính là kết quả học tập mà HS đang hướng đến. Chỉ cần có hứng
thú, HS sẽ tập trung chú ý hơn, không cảm thấy được sự mệt mỏi của cơ thể và trí
óc để nắm bắt các tri thức một cách nhanh nhất. Chính vì vậy, khi được xác định
một cách đúng đắn, hứng thú nhận thức sẽ là động lực mạnh mẽ, cơ sở cho thái độ
học tập tích cực của HS.
- Hứng thú có thể giúp hình thành và phát triển nhân cách. Như một tác
giả đã viết: “Hứng thú nhận thức giữ vai trò là động cơ quan trọng của hoạt động
trong quá trình hình thành nhân cách và thường biểu lộ ra ngoài dưới dạng lòng ham
hiểu biết, tính tò mò, lòng khao khát kiến thức mãnh liệt”. Con người khi có hứng
thú sẽ có những suy nghĩ, hành động tích cực. Thông qua hứng thú, những nét tính
cách cá nhân được biểu hiện rõ nét, được hình thành và củng cố, phát triển ngay
trong những hoạt động của con người.
- Hứng thú có thể giúp hình thành và phát triển tài năng của con người.
Như đại văn hào M.Goocki từng viết: “Tài năng nói cho cùng là tình yêu đối với
công việc”. Hứng thú là động lực cơ bản đế hình thành tài năng vì muốn hình thành
tài năng thì điều trước tiên cần có là phải có hứng thú đối với tài năng đó. Chỉ có
như vậy thì cá nhân con người mới có thể hăng say, tích cực làm việc, học tập, học
hỏi không ngừng ở mức độ cao hơn người khác. Họ cần tiếp thu, lĩnh hội được
15
những kiến thức, phương pháp hành động một cách sâu sắc hơn để biến thành tài
năng của chính bản thân mình và nếu không có hứng thú, cá nhân con người sẽ
không thể làm được điều đó. Đúng như trong quyển Từ hứng thú đến tài năng, L. X.
Xôlôvâytrich đã khẳng định: “Hứng thú và tài năng là hai bông hoa mọc chung một
cành, hai mặt của một hiện tượng. Nó là một cặp đôi không thể tách rời nhau như
câu hỏi và câu trả lời. Tài năng sẽ bị thui chột, nếu hứng thú không thực sự sâu sắc,
đầy đủ và nói chung không được nuôi dưỡng lâu dài. Ngược lại, nếu không có
những năng lực cần thiết để thỏa mãn những yêu cầu đòi hỏi của hoạt động thì hứng
thú cũng bị lụi tàn” [9].
1.2.1.5. Biểu hiện của hứng thú
Do hứng thú có rất nhiều những định nghĩa và cách phân chia khác nhau nên
theo đó cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau về biểu hiện của hứng thú:
- Hứng thú biểu hiện ở hành động: hứng thú được biểu hiện bằng các hoạt
động cụ thể như học tập, nghiên cứu khoa học, mua sắm, ăn uống…
- Hứng thú biểu hiệu ở chiều rộng – chiều sâu tâm lý: hứng thú được biểu
hiện ở một hay nhiều lĩnh vực khác nhau, đối tượng khác nhau. Nếu chỉ hứng thú
với một đối tượng, con người sẽ có lựa chọn thích hợp để tìm hiểu sâu hơn về đối
tượng đó nhưng cuộc sống sẽ khá đơn điệu. Nếu hứng thú với nhiều đối tượng, con
người có thể sẽ không thể tìm hiểu được sâu hơn các đối tượng hứng thú của mình,
cuộc sống có lẽ sẽ sinh động hơn nhưng điều quan trọng nhất là cần xác định một
số hứng thú trung tâm, định hướng cho hoạt động tích cực của mình.
- Hứng thú biểu hiện ở tâm lý và hành động: biểu hiện hứng thú ở cả tâm
lý và hành động thường được biểu hiện rõ ràng nhất. Khi cá nhân có hứng thú, con
người sẽ thường xuyên bàn luận, chia sẻ về đối tượng, về các việc có liên quan đến
chúng. Ngoài ra, họ sẽ luôn dùng cả con người của mình để tập trung chú ý vào đối
tượng hứng thú và từ đó sẽ giúp sức ghi nhớ, hoạt động tưởng tượng, tư suy đối với
đối tượng ngày một nâng cao, điều này giúp cá nhân con người có được cảm giác
thỏa mãn khi được gần gũi hơn đối với đối tượng hứng thú.
- Hứng thú biểu hiện ở ba mặt nhận thức – xúc cảm – hành động: theo
tiến sĩ tâm lý học N. G. Mavôzôva và nhiều nhà tâm lý khác, hứng thú thể hiện ở ba
mặt nhận thức – xúc cảm – hành động. Trong đề tài này, chúng tôi cũng sẽ lựa chọn
16
biểu hiện của hứng thú này để phân tích về hứng thú, cụ thể là sự nhận thức đúng,
đầy đủ về đối tượng, xúc cảm tích cực hay không tích cực đối với đối tượng và cuối
cùng là những hành động xung quanh đối tượng nhằm mục đích sở hữu nó.
1.2.2. Hứng thú học tập
1.2.2.1. Khái niệm hứng thú học tập
Học tập là một dạng lao động trí óc, thông qua hoạt động học tập, người học
lĩnh hội được các kiến thức, các vốn kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người, hình
thành cho mình các kỹ năng, kỹ xảo để tham gia vào quá trình lao động, sản xuất,
trở thành người lao động sáng tạo.
Kết hợp định nghĩa của hứng thú và học tập, chúng tôi cho rằng: “Hứng thú
học tập là hứng thú nhận thức, tạo động cơ mạnh mẽ ảnh hưởng đến tình cảm và có
ý nghĩa thiết thực trong quá trình nhận thức, giúp cá nhân con người có sự lựa
chọn đặc biệt đối với đối tượng của hoạt động học tập trên ghế nhà trường nói
riêng và trong xã hội nói chung”.
1.2.2.2. Các loại hứng thú học tập
Hứng thú học tập được phân chia thành hai loại:
- Hứng thú gián tiếp trong hoạt động học tập
Hứng thú gián tiếp trong hoạt động học tập là hứng thú được gây ra do những
yếu tố bên ngoài đối tượng, hay cụ thể là nội dung các môn học gây nên.
Hứng thú gián tiếp trong hoạt động học tập có một số đặc điểm như sau:
+ Thường chỉ hướng tới yếu tố bên ngoài của đối tượng trong hoạt động
học tập như điểm số, phần thưởng…
+ Mang tính chất tình huống rõ nét. Khi cá nhân cảm thấy nhận được đúng
những thứ mình cần thiết hay kết thúc hành động, hứng thú cũng biến mất. Ví dụ
như HS học giỏi do ảnh hưởng của bạn kèm cặp, không có bạn thì lại học xuống
dốc; HS học chỉ muốn có điểm tốt để được phụ huynh khen thưởng, sau khi đạt
được mục đích thì không còn tiếp tục học…
+ Ít có tác dụng thúc đẩy các hành động tích cực.
+ Không ý thức đối tượng một cách rõ ràng, không thể trả lời được câu hỏi
vì sao lại hứng thú với đối tượng đó.
+ Thời gian hứng thú thường ngắn, không kéo dài lâu.
17
- Hứng thú trực tiếp trong hoạt động học tập
Hứng thú trực tiếp là sự lựa chọn riêng của cá nhân đối với đối tượng của hoạt
động học tập. Điều này cũng có nghĩa là HS tự nguyện lựa chọn cho mình một đối
tượng – một nội dung môn học cụ thể để hứng thú. Tính lựa chọn này có rất nhiều
mức độ khác nhau và mang đậm tính cá nhân, mỗi HS sẽ có môn học hứng thú khác
nhau và ở mức độ khác nhau.
Hứng thú trực tiếp có thể làm động cơ, thúc đẩy quá trình nhận thức, tiếp thu
kiến thức ở trường một cách hiệu quả. Ngoài ra, hứng thú trực tiếp cũng có thể
hướng cho HS vào quá trình tự nguyện tìm hiểu để đạt được những kiến thức liên
quan đến nội dung môn học, lĩnh vực đó bên ngoài thực tế. Và trong quá trình hoạt
động đó, HS sẽ có thể vận dụng được các kiến thức đã tiếp thu được, lĩnh hội những
phương pháp mới, dần dần hoàn thiện bản thân và phát huy tính sáng tạo của chính
bản thân mình.
Tóm lại, hứng thú trực tiếp trong học tập là hứng thú không chỉ đối với nội
dung tri thức mà còn hứng thú đến quá trình học tập, những phương pháp tiếp thu
và vận dụng những tri thức đó.
1.2.2.3. Một số đặc điểm của hứng thú học tập
Hứng thú học tập là một dạng đặc biệt của hứng thú. Vì vậy, nó có đầy đủ các
đặc điểm, vai trò của hứng thú. Tuy nhiên, hứng thú học tập cũng có một số đặc
điểm riêng như sau:
- Theo G.I. Sukina, “hứng thú học tập có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác
nhau của hoạt động học tập. Hứng thú có thể rất rộng, phân tán nhằm thu lượng
thông tin nói chung, hoặc nhận biết các mặt mới của đối tượng, hoặc đi sâu vào một
lĩnh vực nhận thức nhất định, vào cơ sở lý luận của nó, vào những mối liên hệ và
quy luật quan trọng của nó.”[9]. Nói dễ hiểu hơn, hứng thú học tập của HS không
phải chỉ ở nội dung của một môn học mà có thể là ở nội dung của nhiều môn học
khác nhau. Đồng thời, việc tìm hiểu, sở hữu nội dung các đối tượng hứng thú – các
nội dung môn học không nhất thiết là chỉ phải làm theo bài bản của SGK, của nhà
trường mà còn do chính bản thân cá nhân các em tự tìm hiểu, tự học từ các nguồn
kiến thức đáng tin cậy khác. Quá trình này cho phép HS tiếp thu được những
phương pháp nhận thức cần thiết và góp phần làm cho HS tiến bộ thường xuyên.
18
- Hứng thú học tập coi trọng quá trình nhận thức, tự nhận thức, có nghĩa là
chủ thể phải thường xuyên hoạt động tích cực, tự tìm tòi những nội dung có sẵn rồi
từ đó mới tự sáng tạo chứ không đòi hỏi sự mới lạ, sự hấp dẫn như các loại hứng
thú khác.
- Hứng thú học tập mang tính bền vững cao nếu được củng cố thường xuyên.
Đặc biệt, nó không mang tính bão hòa vì sự làm quen, tiếp thu các nội dung kiến
thức trong hoạt động nhận thức sẽ không bao giờ ngừng lại khi càng thực hiên thì
vấn đề càng trở nên sâu sắc và xuất hiện thêm hàng triệu vấn đề mới.
- Hứng thú học tập thường xuất hiện trong những xúc cảm tri tuệ lâu dài, có
nội dung sâu sắc.
1.2.2.4. Biểu hiện của hứng thú học tập
Hứng thú học tập thường được nhận biết bởi các biểu hiện sau:
- Những biểu hiện của hành vi, của hoạt động học tập HS thể hiện trong quá
trình học tập trong giờ học và ngoài giờ học. Cụ thể như:
+ Tò mò về môn học, ham hiểu biết, sẵn sàng tìm tòi, học hỏi, thường đặt ra
nhiều câu hỏi nhằm hiểu biết vấn đề thắc mắc hơn.
+ Thường giàu trí tưởng tượng, tiếp thu vấn đề nhanh.
+ Thường tích cực và sáng tạo trong học tập và các hoạt động thực tiễn.
+ Thường xuyên đọc thêm sách báo, tài liệu có liên quan đến các vấn đề đặt
ra trong học tập.
+ Thích thực hiện những công việc, vấn đề học tập khó và đặt ra yêu cầu
cao đối với bản thân mình.
+ Có sự chú ý, tập trung trong học tập.
- Biểu hiện về mặt tình cảm:
+ Luôn thích thú, phấn khởi trong quá trình học tập hay tìm hiểu các vấn đề
mới, luôn sáng tạo, nghĩ ra những sáng kiến để hoàn thiện hoạt động tích cực hơn.
+ Chủ động sắp xếp thời gian cho việc học tập một cách hiệu quả.
- Biểu hiện về mặt ý chí:
+ Có tính kiên nhẫn cao, gặp vấn đề khó kiên trì suy nghĩ, tìm hiểu vấn đề
đến cùng.
19
+ Không ngại khó, ngại khổ, vận dụng mọi khả năng có được để giải quyết
vấn đề đến cùng.
+ Tự giác sắp xếp, ghi chép, tích lũy kiến thức cần thiết cho bản thân.
1.2.2.5. Sự hình thành và phát triển hứng thú học tập
Đối với hứng thú nói chung, để được hình thành và phát triển, trình độ phát triển
trí tuệ là cơ sở vô vùng quan trọng và cần thiết.Vì chỉ khi có tri thức ban đầu về đối
tượng, những kỹ năng, kỹ xảo đơn giản và những thao tác trí tuệ nhất định thì cá
nhân mới có thể nhận thức đối tượng, rồi hứng thú đối với đối tượng. Mặt khác, sự
phát triển trí tuệ của cá nhân còn là cơ sở để tạo thành xúc cảm tích cực những yếu
tố hỗ trợ mạnh mẽ cho sự hình thành và phát triển hứng thú.
Trên cơ sở đã nêu trên, hứng thú học tập được hình thành, biểu hiện và phát
triển trong hoạt động học tập. Các nghiên cứu về sự hình thành hứng thú ở cá nhân
cho thấy hứng thú có thể được hình thành một cách tự phát và không có ý thức do
sự vật hấp dẫn về tình cảm sau đó mới dẫn đến nhận thức ý nghĩa của đối tượng đó.
Quá trình hình thành hứng thú có thể theo hướng ngược lại từ chỗ ý thức về ý nghĩa
của đối tượng cá nhân hoạt động với đối tượng, cá nhân bị đối tượng hấp dẫn.
Sự hình thành hứng thú học tập
Như vậy, có hai cách tương ứng với hai con đường hình thành hứng thú học
tập như sau:
- Làm cho bản thân tri thức trở nên sinh động, hấp dẫn, thu hút HS và sau đó,
HS có thể bị lôi cuốn vào hoạt động để nhận thức tri thức sâu hơn, từ đó hình thành
hứng thú học tập.
- Làm cho HS ý thức được ý nghĩa, tác dụng, tầm quan trọng của môn học để
HS tự giáo học tập sau đó có thể tự các tính chất, đặc điểm môn học sẽ trở thành đối
tượng hấp dẫn HS.
Sự hình thành hứng thú học tập không phải là một quá trình tự nhiên, khép kín
mà nó được quy định bởi môi trường, phạm vi và tính chất hoạt động nhận thức của
bản thân mỗi chủ thể và bởi mối quan hệ của chủ thể với những người xung quanh,
nhờ quá trình dạy học và giáo dục của nhà trường… và đối với hứng thú học tập,
GV chính là người giữ vai trò cơ bản trong việc hình thành hứng thú.
Sự phát triển hứng thú học tập
20
Sự phát triển hứng thú học tập được gắn liền với sự phát triển của lứa tuổi.
Ngoài ra, theo V.A. Xukhômlinski, M.D. Marozôva, G.I. Sukina, vai trò của những
xúc cảm đúng đắn, tích cực trong việc hình thành và phát triển hứng thú học tập là
rất quan trọng. Trong quá trình hoạt động của cá nhân, những cảm xúc chờ đợi cái
mới, cái hấp dẫn, niềm vui nhận thức là những yếu tố tiền đề giúp cho sự phát triển
và duy trì hứng thú.
Theo N.G. Marôzôva, hứng thú học tập được hình thành và phát triển qua 3
giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1:
Ở giai đoạn này, tình cảm, cảm xúc của chủ thể - HS đối với đối tượng – nội
dung tri thức xuất hiện dưới dạng rung động định kỳ. Các em vẫn chưa có hứng
thú thật sự, những cảm xúc các em có được chỉ là do GV trình bày, HS chú ý lắng
nghe, tiếp thu được cái mới nên cảm thấy vui thích. Sau một thời gian sau, cụ thể
như sau khi tiết học kết thúc, sự rung động có thể mất đi nhưng cũng có thể trở
thành giai đoạn đầu tiên, phát triển tiếp trở thành hứng thú, tùy thuộc vào mong
muốn của HS có muốn hiểu biết nhiều hơn hay không, có đặt ra những câu hỏi để
tiếp tục tìm hiểu vấn đề hơn hay không…
- Giai đoạn 2:
Khi những rung động định kỳ được lặp đi lặp lại nhiều lần, chúng sẽ được
tổng quát hóa trở thành thái độ nhận thức có xúc cảm tích cực với đối tượng, tức
là hứng thú đã được duy trì. Lúc này, các em HS sẽ có động lực để quan tâm đến
những vấn đề đặt ra ở trong và ngoài giờ học. Nói cách khác, HS đã có sự nảy sinh
nhu cầu nhận thức theo yêu cầu của chính bản thân mình.
- Giai đoạn 3:
Nếu thái độ tích cực nói trên được duy trì củng cố, khả năng của các em
thường xuyên được luyện tập thì hứng thú trở thành hứng thú bền vững, trở thành
xu hướng cá nhân của mỗi HS. Ở giai đoạn này, toàn bộ thói quen của HS sẽ thay
đổi để phù hợp với sự hứng thú, ví dụ như dành nhiều thời gian đọc nhiều tài liệu
liên quan đến đối tượng hứng thú, tham gia vào các hoạt động liên quan đến đới
tượng hứng thú, tìm những người cùng chung đối tượng hứng thú... Đây là giai đoạn
cao nhất của sự phát triển hứng thú học tập.
21
Khi phân tích các mức độ phát triển của hứng thú học tập, G.I. Sukina và N.
G. Marôzôva đều thống nhất rằng, hứng thú học tập có 4 mức độ:
- Mức độ 0: Những dấu hiện ban đầu của hứng thú học tập
Theo cảm tính, khi gặp một vấn đề mới, đặc biệt là những kiến thức mới, con
người sẽ tò mò tìm hiểu. Điều này gây ra những sự xúc cảm đầu tiên đối với đối
tượng hứng thú. Đây không thể gọi là hứng thú thật sự nhưng là tiền đề quan trọng
để hứng thú học tập nảy sinh và phát triển.
- Mức độ 1: Rung động nhận thức có tình huống
Những rung động về đối tượng hứng thú cũng được tạo thành trong rất nhiều
những hoàn cảnh khác nhau. Tương ứng với sự phát triển của hứng thú học tập, đây
được xem là mức độ đầu tiên của hứng thú. Những rung động này rất dễ bị mất đi
nếu không được những yếu tố khác bên trong con người chủ thể hoặc các tác động
bên ngoài dùng ảnh hưởng để củng cố để giữ lại và phát triển.
- Mức độ 2: Hứng thú học tập mang tính xúc cảm – nhận thức
Mức độ này được đặc trưng bởi sự bền vững và khái quát hơn. Tất cả những
hoạt động học tập hầu hết được bị điều khiển bởi những tình cảm, xúc cảm của bản
thân HS đối với đối tượng hứng thú. Và chỉ cần được thường xuyên củng cố và phát
triển, nó có thể sẵn sàng trở thành hứng thú học tập bền vững. Tuy nhiên, hứng thú
học tập ở mức độ này bị ảnh hưởng bởi tình cảm, cảm xúc HS nên lại trở thành liên
quan chặt chẽ với thành tích học tập của HS. Nếu kết quả không được như mong
muốn sẽ tác dụng tiêu cực đến sự hứng thú học tập trong người của HS.
- Mức độ 3: Hứng thú học tập thực sự được hình thành và trở nên bền vững
Ở mức độ này, hứng thú học tập đã trở nên sâu sắc. Tất cả các hoạt động của
HS đều hướng đến đối tượng hứng thú này. HS sẽ tìm hiểu các phương pháp để hiểu
nó, sở hữu nó và gần gũi nó hơn nữa. Và để làm được điều đó, ý chí của HS sẽ càng
được rèn luyện để có thể vượt qua mọi khó khăn, thử thách được đặt ra.
1.3. Đặc điểm HS THPT
1.3.1. Khái niệm HS THPT
HS THPT là học sinh đang học tại các trường THPT, trung tâm giáo dục
thường xuyên hay các cơ sở giáo dục khác. Học sinh THPT thuộc lứa tuổi giai đoạn
đầu của tuổi thanh niên, cụ thể là từ 15 đến 18 tuổi [19].
22
HS THPT lúc này hầu hết đã đạt được sự trưởng thành về cơ thể nhưng chưa
đạt được sự trưởng thành về mặt xã hội. Vì vậy, đây là một giai đoạn quan trọng và
có nhiều ý nghĩa trong tiến trình phát triển của con người.
1.3.2. Đặc điểm của HS THPT
Xét về điều kiện sinh lý, ở lứa tuổi HS THPT, sự tăng trưởng cơ thể của các
em lúc này đã ổn định, mang tính chất vừa phải, không nhanh và không có nhiều
biến động và mâu thuẫn như các lứa tuổi trước đó.
Xét về điều kiện xã hội, chúng ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình phát triển
tâm lý của HS THPT. Các em phát triển mạnh về các mảng giao tiếp, quan hệ đối
với mọi người xung quanh nhưng lúc này, phạm vi hoạt động của các em cũng vẫn
chủ yếu là chỉ ở trong gia đình, đối với ông bà, cha mẹ… và trong nhà trường, đối
với thầy cô và bạn bè…
Xét đến hoạt động nhận thức nói chung của HS THPT, HS THPT đã phát triển
ở nhiều phương diện khác nhau. Điển hình như tri giác của các em lúc này là tri
giác có mục đích, có suy xét và có hệ thống hay khả năng ghi nhớ có chủ định, ghi
nhớ có ý nghĩa ở HS THPT phát triển mạnh mẽ, có vai trò chủ đạo so với ghi nhớ
không chủ định. HS THPT cũng có tư duy trừu tượng phát triển mạnh và giữ vai trò
quan trọng trong cấu trúc tư duy của các em. Đặc biệt, sự chú ý của HS THPT chịu
sự chi phối của thái độ và hứng thú đối với đối tượng chú ý. Ví dụ cụ thể như đối
với những môn học được các em yêu thích, các em thường tập trung chú ý nhiều
hơn. Các em có thể chủ động tìm hiểu các nội dung học tập mà các em hứng thú từ
nhiều nguồn cung cấp thông tin khác nhau, dành nhiều thời gian và công sức để lĩnh
hội các nội dung mà các em yêu thích. Mặt khác, đối với những môn học hay những
vấn đề không được các em hứng thú, các em thường tỏ ra lơ là và không dành thời
gian cho nó.
Đối với HS THPT, hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo nhưng tính chất và
nội dung của nó khác nhiều so với hoạt động học tập của các lứa tuổi cấp học dứoi.
Hoạt động học tập của HS THPT đề ra những yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính
tích cực và độc lập trí tuệ của các em. Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học các
em cần phải có một trình độ tư duy khái niệm, tư duy khái quát cao. Những khó
23
khăn trở ngại mà các em gặp phải trong quá trình học tập là do thiếu kỹ năng học
tập trong điều kiện mới đó chứ không phải sự không muốn học như người lớn nghĩ.
Thái độ học tập của HS THPT có ý thức và mục đích được tăng lên mạnh mẽ.
Dưới sự tác động của một số yếu tố khách quan như quan điểm, tư tưởng của người
lớn trong gia đình hay giáo viên, bạn bè trong nhà trường, học tập bắt đầu mang ý
nghĩa “sống còn” trực tiếp vì các em ý thức rõ rằng những vốn tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo hiện có, kỹ năng độc lập tiếp thu tri thức được hình thành trong trường phổ
thông là điều kiện tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao động trong xã hội. Các
hứng thú và khuynh hướng học tập của các em đã trở nên xác định và thể hiện rõ
ràng hơn, các em bắt đầu có hứng thú ổn định đặc trưng với một khoa học, một lĩnh
vực tri thức hay một lĩnh vực hoạt động nào đó. Điều này làm cho học sinh THPT
mang nguyện vọng muốn mở rộng đào sâu các tri thức trong các lĩnh vực tương ứng
và lựa chọn nghề nghiệp cho mình phù hợp với bản thân. Hay nói cách khác, HS
THPT đã bắt đầu đánh giá hoạt động học tập theo quan điểm tương lai của mình.
Đặc điểm đặc biệt trong giai đoạn lứa tuổi này chính là sự khác biệt về giới tính
ngày một rõ rệt. Theo TS. Huỳnh Văn Sơn, “giới tính là những đặc điểm riêng biệt
về mặt giải phẫu sinh lý cơ thể, những đặc điểm riêng biệt về mặt tâm lý (hứng thú,
xúc cảm, tính cách, năng lực…) tạo nên sự khác biệt giữa nam và nữ. Nói khác đi,
giới tính là toàn bộ những đặc điểm ở con người tạo nên sự khác biệt giữa nam và
nữ” [5]. Điều này chứng minh rằng sự khác biệt về giới tính giữa nam và nữ sẽ ảnh
hưởng đến sự khác biệt về mức độ hứng thú của các em HS THPT đối với môn Hóa
học. Kết luận sẽ được cụ thể hóa bằng các bằng chứng thực nghiệm sau quá trình
khảo sát và phân tích các dữ liệu của đề tài.
1.4. Bộ môn Hóa học 10 trong chương trình THPT
1.4.1. Đặc trưng bộ môn Hóa học nói chung
Bản chất của Hóa học là một bộ môn khoa học thực nghiệm nhưng hiện nay.
Bộ môn Hóa học đã và đang được giảng dạy ở các trường THPT lại là môn khoa
học thực nghiệm và lý thuyết. Mục đích chính của môn học là kết hợp thực nghiệm
sư phạm (quá trình giảng dạy của GV) với tư duy lý thuyết, đề cao vai trò của giả
thuyết, học thuyết, định luật hóa học được coi như công cụ tiên đoán khoa học, vận
24
dụng các phương pháp biện chứng quy nạp và diễn dịch, phân tích và tổng hợp tạo
thành kiến thức, sử dụng nó như một dạng đặc biệt của thực nghiệm [1].
Hiện nay, môn Hóa học trong chương trình đào tạo của THPT là môn khoa
học tự nhiên bắt buộc. Với mục tiêu đào tạo cho HS đầy đủ 3 mặt chính là về kiến
thức, về kỹ năng và về thái độ, môn Hóa học đã sử dụng các phương pháp dạy và
học nhằm mục đích nâng cao nhận thức cũng như kỹ năng của HS. Qua đó, Hóa học
sẽ cung cấp cho HS THPT những kiến thức hóa học phổ thông, mang tính cơ bản và
tổng quát nhất. Đồng thời, trong quá trình học tập, HS cũng sẽ có thái độ đúng đắn,
có cái nhìn mới hơn về thế giới vật chất xung quan, góp phần tự hoàn thiện bản
thân, trở thành con người lao động mới cho xã hội.
1.4.2. Cấu trúc, nội dung của chương trình Hóa học 10:
Chương trình chuẩn môn Hóa học lớp 10 THPT gồm 69 tiết, phân bố học
trong 35 tuần. Thông thường, các trường THPT bố trí học khoảng 2 tiết/ tuần.
Chương trình Hóa học lớp 10 nâng cao gồm 88 tiết, phân bố trong 35 tuần.
Các trường THPT học chương trình này thường bố trí học khoảng 3 tiết/ tuần.
Theo Giáo trình môn Lý luận và Phương pháp dạy học Hóa học 2, kết hợp với
văn bản hướng dẫn nội dung giảm tải của chương trình SGK, nội dung các chương
và sự phân bố các tiết học ở hai chương trình chuẩn và nâng cao môn Hóa học 10
được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.1. Nội dung và phân bố tiết học môn Hóa học 10
Lý thuyết Luyện tập Thực hành Tổng
Nội dung – Tên chương Chuẩn Chuẩn Chuẩn Chuẩn Nâng Cao Nâng Cao Nâng Cao Nâng Cao
Nguyên Tử 6 7 3 4 0 0 9 11
6 7 2 2 0 1 8 10
Bảng tuần hoàn và định luật tuần hoàn các nguyên tố hóa học
5 10 2 4 0 0 7 14 Liên kết hóa học
25
3 2 2 1 1 4 6 7 Phản ứng oxi hóa – khử
7 2 2 1 2 8 10 12 Nhóm halogen
7 3 2 2 2 9 11 14 Nhóm oxy – lưu huỳnh
4 2 2 1 1 5 7 8
Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học
- - - - - - 5 6 Ôn tập đầu năm, học kỳ, cuối năm
Kiểm tra - - - - - - 6 6
5 7 Tổng cộng 38 50 15 19 69 88
Vì là khối lớp mở đầu trong chương trình đào tạo của THPT, chương trình học
của Hóa học 10 chủ yếu là các khái niệm, định luật cơ bản trong hóa học. Đối với
các em không hứng thú đối với môn Hóa, chúng sẽ rất trừu tượng và khó hiểu. Sang
đến khoảng học kỳ II của năm học, HS mới bắt đầu được tìm hiểu về các chất cơ
bản. Do đặc thù cấu trúc SGK ở Việt Nam được xây dựng theo đường xoắn óc, thực
chất các kiến thức nêu trên đã được các em học ở cấp THCS, tuy rằng nội dung kiến
thức lúc này đã được cải thiện nâng cao hơn nhưng không tránh khỏi việc làm HS
dễ nhàm chán và mất đi hứng thú đối với môn Hóa học.
Xem xét đến việc môn Hóa là môn khoa học thực nghiệm, cần có được sự
nhận xét, quan sát của HS để tiếp thu kiến thức nhưng chương trình SGK hiện nay
lại đang đi ngược lại điều đó khi các tiết học lý thuyết chiếm đa số trong tổng số tiết
học môn Hóa của HS, cụ thể như sau:
26
Bảng 1.2. Phân bố tiết học môn Hóa học 10
Lý thuyết
Luyện tập
Thực hành
Kiêm tra
Ôn tập đầu năm, học kỳ, cuối năm
g n u d i ộ N
Nâng n ẩ Cao u h C
Nâng n ẩ Cao u h C
Nâng n ẩ Cao u h C
Nâng n ẩ Cao u h C
Nâng n ẩ Cao u h C
56,82
21,74
21,59
7,25
7,95
7,25
6,82
8,70
6,82
%
55, 07
Như vậy, chúng ta thấy rằng các tiết học trên lớp, chưa tính đến các tiết luyện
tập, các tiết tăng tiết, tiết học lý thuyết đã chiếm hơn 50% tổng số tiết học (ở
chương trình chuẩn là 55,07% và ở chương trình nâng cao là 56,82%) trong khi các
tiết học thực hành lại chiếm con số nhỏ chưa đến 10% (ở chương trình chuẩn là
7,25% và ở chương trình nâng cao là 7,95%). Điều này chứng tỏ đặc trưng của môn
Hóa học 10 đã rất nghiêng lệch về lý thuyết hóa học trên sách vở, chưa hướng được
đến quá trình thí nghiệm, thực hành – là bản chất thực nghiệm của hóa học.
1.4.3. Mục tiêu chương trình cơ bản của bộ môn Hóa học 10
Môn Hóa học ở trường THPT cung cấp cho HS một hệ thống các kiến thức cơ
bản, thiết thức về môn Hóa học. Môn Hóa học 10 sẽ là tiền đề, là cơ bản để các khối
lớp sau của HS tiếp tục tiếp thu môn Hóa học với hệ thống các kỹ năng, nhận thức
về chất và sự biến đổi của chúng. Chương trình Hóa học 10 dựa trên mục tiêu chung
đào tạo HS phát triển toàn diện đã đưa ra các mục tiêu cụ thể như sau:
Về kiến thức
HS có được hệ thống kiến thức lý thuyết cơ sở hóa học chung từ đơn giản đến
phức tạp để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, giải thích, dự đoán các hiện tượng hóa
học vô cơ và hữu cơ, các hiện tượng về chất xảy ra trong thực nghiệm.
Về kỹ năng
Tạo được cho HS hệ thống kỹ năng hóa học cơ bản và thói quen làm việc khoa
học. Cụ thể như kỹ năng thực hành, thí nghiệm hóa học, kỹ năng quan sát, nhận xét,
giải thích vấn đề, kỹ năng giải quyết vấn đề thực nghiệm, kỹ năng giải bài tập hóa
học,…
Về thái độ
27
Giúp HS có thái độ tích cực đối với môn Hóa học nói riêng và các bộ môn
khoa học nói chung. Từ đó, thái độ tích cực sẽ giúp các em HS phát triển hứng thú
học tập, tạo được ý thức trách nhiệm với bản thân, với gia đình, vỡi xã hội và cả
cộng đồng.
1.4.4. Tầm quan trọng của bộ môn Hóa học 10 trong chương trình THPT
Hóa học 10 với vai trò là môn Hóa học đầu tiên được HS tiếp thu trong
chương trình THPT, nó là nền tảng của môn Hóa học cho các môn Hóa học 11 và
12, thậm chí cao hơn đối với những nhưng em chọn môn Hóa gắn bó với cuộc sống
của mình.
Hóa học là một môn khoa học nghiên cứu về sự biến đổi của chất mà vật chất
thì không chỉ tìm hiểu ở môn Hóa mà còn ở các môn khoa học khác. Vì vậy, Hóa
học được liên thông với các môn khoa học tự nhiên khác như Lý, Sinh và một số
kiến thức cũng là cơ sở cho các môn này.
Môn Hóa học 10 tuy rằng nhiều lý thuyết nhưng các lý thuyết này đã được
tăng cường tính hiện đại, mức độ lý thuyết so với các chương trình trước đây. Từ đó
mà tăng cường khả năng dự đoán lý thuyết, giải thích trong nghiên cứu các kiến
thức cụ thể và tạo điều kiện cho giáo viên phát triển được năng lực nhận thức, năng
lực hành động, khả năng giải quyết vấn đề cho HS. Đồng thời, sự trình bày một
cách rõ ràng và tinh giản tạo điều kiện cho HS tìm tòi khám phá, thu nhận kiến thức
một cách vững chắc và dễ dàng sáng tạo hơn.
1.5. Phần mềm thống kê dữ liệu Microsoft Excel
1.5.1. Khái niệm phần mềm Microsoft Excel
Hình 1.2. Màn hình dữ liệu làm việc của Microsoft Excel
28
Microsoft Excel là chương trình xử lý bảng tính nằm trong bộ Microsoft
Office của hãng phần mềm Microsoft được thiết kế để giúp ghi lại, trình bày các
thông tin xử lý dưới dạng bảng, thực hiện tính toán và xây dựng các số liệu thống kê
trực quan có trong bảng từ Excel.
1.5.2. Ưu điểm, nhược điểm của phần mềm Microsoft Excel
Microsoft Excel là phần mềm phổ biến nhất, được nhiều người sử dụng để tính
toán và thống kê. Nó có những ưu và nhược điểm như sau:
Bảng 1.3. Ưu điểm, nhược điểm của phần mềm Microsoft Excel
Ưu điểm Nhược điểm
- Không thể tự lập các công thức - Giao diện dễ sử dụng, thân thiện
tính toán từ các dữ liệu đã nhập. với người dùng.
- Các hàm sử dụng cần phải thao tác - Bảng tính của Excel cũng bao gồm
đúng chính xác 100% mới có thể đưa ra nhiều ô được tạo bởi các dòng và cột, dễ
kết quả. dàng hơn ở việc nhập liệu.
- Nếu dữ liệu có sai sót được chỉnh - Có thể lập các công thức tính toán
sửa, các kết quả từ chương trình đã xuất đưa ra kết quả ngay trên màn hình chính
ra không thể tự động thay đổi. Đồng của Excel.
nghĩa với việc phải thực hiện chương - Sử dụng các hàm, chương trình
trình lại từ đầu. tính toán với thao tác đơn giản.
1.5.3. Các tính năng của Microsoft Excel được sử dụng trong đề tài
Đối với đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các hàm của Microsoft Excel để
thống kê và xếp thứ hạng đối với sự lựa chọn của HS đối với môn học thích nhất,
môn học không thích nhất…Các hàm được sử dụng là:
- Hàm SUM: hàm này được sử dụng để tính tổng các con số, chúng tôi dùng
để thống kê số lượng HS điền các môn học thích nhất, môn học không thích nhất…
Thao tác: =SUM(sum_range), trong đó sum_range là vùng cần tính tổng với
các giá trị cần thống kê.
- Hàm SUMIF: hàm này được sử dụng để tính tổng các con số với một số
điều kiện nhất định. Chúng tôi đã sử dụng hàm này để thống kê số lượng HS điền
29
các môn học thích nhất, môn học không thích nhất…theo yếu tố phân biệt giới tính,
loại hình trường, thành tích học tập…
Thao tác: =SUMIF(range, criteria, sum_range), trong đó range là vùng được
chọn có chứa các ô điều kiện, criteria là điều kiện để thực hiện hàm này, sum_range
là vùng cần tính tổng với các giá trị cần thống kê.
- Hàm AVERAGE: hàm này được sử dụng để tính GTTB của các con số.
Chúng tôi sử dụng nó để tính GTTB trong việc xử lý, phân tích xếp hạng của ba
môn học Lý, Hóa, Sinh.
Thao tác: =AVERAGE([number1],[number2],…), trong đó các con số
[number1],[number2]… có thể được nhập từng giá trị con số hoặc cả vùng với các
giá trị cần tính.
- Hàm RANK: hàm này được sử dụng để tự động sắp xếp một số giá trị theo
thứ tự nhất định đã yêu cầu. Chúng tôi sử dụng nó để sắp xếp thứ tự các môn học
yêu thích nhất, môn học không yêu thích nhất…của HS
Thao tác: =RANK(number, ref, [order]), trong đó number là giá trị mà bạn
muốn tìm thứ hạng của nó, ref là vùng được xét thứ hạng, [order] dùng để chỉ rõ
cách xếp hạng, nếu Order = 0 thì xếp hạng theo thứ tự giảm dần, nếu Order là các
con số khác thì việc xếp hạng theo thứ tự tăng dần.
1.6. Phần mềm thống kê và phân tích dữ liệu SPSS 22.0
1.6.1. Khái niệm phần mềm SPSS 22.0
Hình 1.3. Màn hình dữ liệu của SPSS
SPSS là tên viết tắt của Stistical Products for the Social Services.
30
SPSS là phần mềm cung cấp một hệ thống quản lý dữ liệu và xử lý, phân tích
thống kê dữ liệu một cách mạnh mẽ. Phiên bản mới nhất của phần mềm SPSS là
SPSS 22.0. Với giao diện thân thiện người dùng, SPSS có thể dễ dàng sử dụng các
chức năng của các bộ công cụ có sẵn để phục vụ cho các công tác nghiên cứu thống
kế dữ liệu với số lượng lớn [23].
1.6.2. Một số lĩnh vực ứng dụng phần mềm SPSS 22.0
Với khả năng quản lý dữ liệu khá tốt và công cụ phân tích đa năng, SPSS được
sử dụng phổ biến cho các nghiên cứu điều tra xã hội học và kinh tế lượng, trong
ngành khoa học xã hội, quản trị kinh doanh, nhà nghiên cứu thị trường, các nhà
nghiên cứu y tế, công ty khảo sát, chính phủ, các nhà nghiên cứu giáo dục, các tổ
chức tiếp thị... Cụ thể như sau:
- Nghiên cứu tâm lí học: tâm lí lứa tuổi, tâm lí học sinh, tâm lý sinh viên…
- Nghiên cứu xã hội học: thái độ của công nhân đối với công việc lao động
của mình, thống kê mức độ đồng ý của người dân trong việc xây dựng lại chợ,
thống kê dân số, đánh giá chất lượng dịch vụ nhà hàng…
- Nghiên cứu thị trường: sự hài lòng của khách hàng, hành vi mua sắm của
khách hàng,... Từ các kết quả xác định được, các nghiên cứu định hướng phát triển
sản phẩm, dự định mua sản phẩm và xu hướng chấp nhận một sản phẩm của khách
hàng, giúp định vị thương hiệu trên các thuộc tính sản phẩm, dịch vụ...
- Nghiên cứu đa dạng sinh học: các ảnh hưởng của thuốc tới một nhóm bệnh
lý, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sâu hại, trong phát triển nông lâm nghiệp…
1.6.3. Các tính năng chính của phần mềm SPSS 22.0
- Nhập dữ liệu xuất kết quả: Ngoài việc nhập dữ liệu và xuất kết quả trực
tiếp trên phần mềm, SPSS cho phép nhập dữ liệu và xuất kết quả phân tích sang các
định dạng tập tin khác, chẳng hạn như Portable, Excel, dBase, SQL, TXT, Lotus,
SAS, Sylk, truy cập và cho phép lấy mẫu, phân loại, xếp hạng, thiết lập, sát nhập, và
tập hợp dữ liệu.
- Thống kê và tổng kết cơ bản: SPSS cung cấp các công cụ với thao tác cần
thiết để nhanh chóng tính toán được tần số, tần suất, thống kê mô tả, lập bảng thống
kê, thống kê tỉ lệ, vẽ đồ thị cho dữ liệu khảo sát thu được.
31
- Kiểm tra ý nghĩa: Tính toán các giá trị Mean, T-Test, ANOVA, tương quan,
các kiểm định phi tham số (Chi-square, Phi,…)…với các thao tác đơn giản bằng
công cụ có sẵn được tích hợp trong phần mềm.
- Thống kê suy diễn: Thực hiện các phép tính hồi quy tuyến tính và phi tuyến
tính, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích phân biệt số.
1.6.4. Ưu điểm, nhược điểm của phần mềm SPSS 22.0
Phần mềm này được sử dụng nhiều trong nghiên cứu xã hội bởi vì phần mềm
cung cấp khả năng điều khiển, kiểm soát dữ liệu và rất nhiều các thủ tục phân tích
thống kê có thể giúp phân tích từ những tập hợp dữ liệu nhỏ cho đến những dữ liệu
rất lớn. Đây chính là điểm khác biệt lớn so với các phần mềm khác. Phần mềm này
có những ưu điểm và nhược điểm sau:
Bảng 1.4. Ưu điểm và nhược điểm phần mềm SPSS 22.0
Ưu điểm Nhược điểm
- Quản lí dữ liệu theo biến, số lượng - Không có bảng tính.
không hạn chế. - Sử dụng các hàm tính toán phức tạp
bằng các bước đơn giản nên khó - Thuận lợi về mô tả, phân tích với
khăn trong quá trình phân tích nếu tốc độ xử lí nhanh.
không hiểu được ý nghĩa của hàm - Có thể lưu lại cú pháp lệnh (syntax)
hay con số kết quả. để sử dụng lại khi cần thiết.
- Phần mền hướng đến dùng cho - Phân tích, xử lí ở nhiều mức độ.
người dùng chuyên nghiệp, cần - Ngôn ngữ lập trình đơn giản. mất một thời gian để luyện tập mới
- Tích hợp với Microsoft Office: có thể quen với việc sử dụng.
chuyển dữ liệu từ Excel… sang - Chức năng vẽ đồ thị trên SPSS ít SPSS và ngược lại rất dễ dàng. quen thuộc hơn và ít linh động, ít
- Hàng trăm tuỳ chọn đồ hoạ, tuỳ thẩm mỹ hơn trên Excel.
chọn đa ngôn ngữ, khả năng tuỳ
chọn chia sẻ xuất sắc.
32
1.6.5. Các giao diện làm việc của phần mềm SPSS 22.0
Phần mềm SPSS có tất cả bốn dạng màn hình tương tác:
Màn hình quản lý dữ liệu (data view)
Hình 1.4. Màn hình quản lý dữ liệu
Là nơi lưu trữ dữ liệu nghiên cứu với một cấu trúc cơ sở dữ liệu bao gồm cột,
hàng và các ô giao nhau giữa cột và hàng.
Màn hình quản lý biến (variables view)
Hình 1.5. Màn hình quản lý biến
Là nơi quản lý các biến cùng với các thông số liên quan đến biến. Trong màn
hình này mỗi hàng trên màn hình quản lý một biến, và mỗi cột thể hiện các thông số
liên quan đến biến đó.
33
Màn hình hiển thị kết quả (output)
Hình 1.6. Màn hình hiển thị kết quả
Các phép phân tích thống kê sẽ cho ra các kết quả như bảng biểu, đồ thị và
các kết quả kiểm nghiệm, các kết quả này sẽ được truy xuất ra một màn hình, và
được lưu giữ dưới một tập tin khác (có đuôi là .SPO). Màn hình này cho phép ta
xem và lưu giữ các kết quả phân tích.
Màn hình cú pháp (syntax)
Hình 1.7. Màn hình cú pháp
Màn hình này cho phép ta xem và lưu trữ những cú pháp của một lệnh phân
tích. Các cú pháp được lưu trữ sẽ được sử dụng lại mà không cần thao tác các lệnh
phân tích lại.
34
1.6.6. Một số đại lượng thống kê và kiểm định dùng cho phân tích dữ liệu
trong phần mềm SPSS 22.0 được dùng trong đề tài:
1.6.6.1. Bảng tần số, thống kê mô tả và đồ thị
Bảng tần số và các đại lượng thống kê mô tả (giá trị trung bình, độ lệch chuẩn)
nhằm mục đích tìm ra các đặc điểm của mẫu nghiên cứu, được dùng để thống kê
các biến định tính, biến định lượng để từ đó đánh giá các con số kết quả tổng quát
thu được từ mẫu nghiên cứu.
1.6.6.2. Kiểm định Cronbach’s Alpha
Ý nghĩa: Kiểm định Cronbach’s Alpha là kiểm định đánh giá độ tin cậy của
thang đo. Mục đích của kiểm định này là tìm hiểu xem các biến quan sát có cùng đo
lường cho một khái niệm cần đo hay không. Giá trị của các biến quan sát (các phát
biểu trong thang đo) được đóng góp nhiều hay ít vào thang đo được phản ánh thông
qua hệ số tương quan biến tổng Corrected Item – Total Correlation. Qua đó, cho
phép loại bỏ những biến không phù hợp trong mô hình nghiên cứu [23].
Tiêu chuẩn đánh giá: Các biến quan sát có hệ số tương quan biến - tổng
(Corrected Item – Total Correlation) nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại và chúng sẽ được chọn
sử dụng được vào thang đo khi vượt qua tiêu chuẩn Cronbach’s Alpha từ 0.6 trở lên
lên và từ 0.8 trở lên đến gần 1 thì xem thang đo lường là tốt.
Kiểm định hệ số Cronbach’s Alpha với SPSS 22.0: Từ menu của SPSS chọn
Analyze → Scale → Reliability Analysis, lựa chọn này mở ra hộp thoại Reliability
Analysis. Tiếp theo, trong hợp thoại Statistics, hãy nhấp chuột để chọn các đại
lượng cơ bản nhất là: Item, Scale và Scale if item deleted.
1.6.6.3. Kiểm định Chi – bình phương (Chi - Square)
Ý nghĩa: Kiểm định Chi – bình phương cho chúng ta biết có tồn tại mối liên hệ
giữa hai biến trong tổng thể hay không. Tuy nhiên, nhược điểm của Chi – bình
phương là không cho biết độ mạnh yếu của mối liên hệ giữa hai biến.
Tiêu chuẩn đánh giá: Dựa vào giá trị P (p-value, SPSS viết tắt là sig.) để kết
luận là chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết Ho . (Nếu Sig. < 0.05 thì bác bỏ giả thuyết
Ho tức là có mối quan hệ có ý nghĩa giữa các biến cần kiểm định. Nếu Sig. ≥ 0.05
thì chấp nhận Ho tức là không có mối quan hệ giữa các biến cần kiểm định.)
35
Kiểm định Chi-bình phương chỉ có ý nghĩa khi số quan sát đủ lớn, nếu có quá
20% số ô trong bảng chéo có tần suất lý thuyết nhỏ hơn 5 thì giá trị chi – bình
phương nói chung không còn đáng tin cậy. Cuối bảng Chi-Square Tests luôn đưa ra
một dòng thông báo cho bạn biết % số ô có tần suất mong đợi dưới 5 của bảng.
Kiểm định Chi – bình phương với SPSS 22.0: Từ menu chọn Analyze →
Descriptive Statistics → Crosstabs.
1.6.6.4. Kiểm định One-Sample T-Test
Ý nghĩa: Kiểm định One-Sample T-Test là phép kiểm định giả thuyết về trung
bình của tổng thể, được dùng trong trường hợp ta muốn phân tích mối liên hệ giữa
giá trị trung bình của một tổng thể với một giá trị cụ thể xác định.
Tiêu chuẩn đánh giá: Trong kiểm định t, nếu giá trị Sig. < 0.05 thì bác bỏ giả
thuyết Ho tức là giá trị trung bình của một tổng thể định lượng khác với một giá trị
cụ thể xác định, nếu giá trị Sig. ≥ 0.05 thì chấp nhận Ho.
Kiểm định One-Sample T-Test với SPSS: Từ menu Analyze → Compare
Means → One-Sample T-Test.
1.6.6.5. Phân tích phương sai ANOVA
Ý nghĩa: Phân tích phương sai ANOVA là phương pháp mở rộng của kiểm
định t, vì phương pháp này giúp ta so sánh trị trung bình cho hai nhóm trở lên. Kỹ
thuật phân tích phương sai ANOVA được dùng để kiểm định giả thiết các tổng thể
nhóm có giá trị trung bình bằng nhau. Kỹ thuật này dựa trên cơ sở tính toán mức độ
biến thiên trong nội bộ các nhóm và biến thiên giữa các trung bình nhóm. Dựa trên
hai ước lượng này của mức độ biến thiên ta có thể rút ra kết luận về mức độ khác
nhau giữa các trung bình nhóm.
Tiêu chuẩn đánh giá: Trong kiểm định Levene ở bảng Test of Homogeneity of
variances, nếu giá trị Sig. < 0.05 thì kết luận phương sai giữa các nhóm là khác
nhau, nếu giá trị Sig. ≥ 0.05 thì phương sai giữa các nhóm không khác nhau. Xét cụ
thể trong nghiên cứu này, trường hợp phương sai của mức độ hứng thú là bằng nhau
giữa các học sinh sẽ sử dụng kết quả bảng ANOVA. Trường hợp phương sai của
mức độ hứng thú là khác nhau giữa các học sinh, lúc này không thể sử dụng bảng
ANOVA mà sử dụng kết quả kiểm định Post Hoc (chọn thống kê Tamhane’s T2).
Cả hai trường hợp đều dựa vào mức ý nghĩa của sig. để kết luận. (Nếu giá trị của
36
Sig. < 0.05 thì có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, nếu giáo dị của Sig. ≥ 0.05 thì
chưa có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê).
Phân tích phương sai ANOVA với SPSS 22.0: Từ menu Analyze Compare
Means One-Way ANOVA.
37
Chương 2. KHẢO SÁT HỨNG THÚ CỦA HỌC SINH
KHỐI LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
ĐỐI VỚI MÔN HÓA HỌC
2.1. Mục đích khảo sát
Thực hiện khảo sát, tìm hiểu về thái độ, cụ thể là mức độ hứng thú của học
sinh THPT khối lớp 10 đối với môn Hóa học 10 tại TP. HCM bằng công cụ đo
lường xã hội học có giá trị và đáng tin cậy.
2.2. Khảo sát thực nghiệm
Để thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học với phương pháp nghiên cứu xã hội
học, chúng tôi cần phải suy nghĩ xây dựng một bảng hỏi chính thức để có thể khảo
sát được thái độ hứng thú của học sinh một cách định lượng cụ thể, rõ ràng nhất.
Quá trình xây dựng và kiểm định bảng hỏi được thực hiện theo một quy trình
khoa học đã được trình bày trong đề tài “Khảo sát thái độ của học sinh Trung học
phổ thông đối với môn Hóa học tại Thành phố Hồ Chí Minh” [12]. Trong đề tài
này, tôi xin trình bày lại cụ thể hơn như sau:
(2) Xây dựng bảng hỏi thực nghiệm
(5) Xây dựng bảng hỏi chính thức (4) Kiểm định bảng hỏi thực nghiệm (1) Thu thập dữ liệu cho việc xây dựng bảng hỏi thực nghiệm (3) Tiền thực nghiệm và thực nghiệm bảng hỏi
Hình 2.1. Quy trình xây dựng và kiểm định bảng hỏi
(1) Thu thập dữ liệu cho việc xây dựng bảng hỏi thực nghiệm
Trong bước nghiên cứu khoa học đầu tiên này, chúng tôi đã tìm hiểu các tài
liệu về thái độ, sự hứng thú của tất cả các đối tượng, các lĩnh vực xã hội… để bước
đầu có thể tạo nền tảng tổng quát về vấn đề nghiên cứu. Thông qua các nghiên cứu
đó, chúng tôi cũng đã tham khảo một số bảng hỏi được sử dụng và đưa ra một số
câu hỏi, ý kiến tiêu biểu nổi bật. Đồng thời, chúng tôi cũng tiến hành phỏng vấn 9
38
học sinh và tham khảo ý kiến 53 GV hiện đang giảng dạy THPT ở TP.HCM để tìm
một số ý tưởng cho bảng khảo sát của nhóm nghiên cứu.
Khi phỏng vấn học sinh, chúng tôi đã sử dụng những câu hỏi như sau: “Em có
thích môn Hóa học không?”, “Tại sao thích?” hay “Tại sao không thích?”, “Theo
em, môn Hóa học hữu ích như thế nào trong cuộc sống?”, “Học Hóa học có quan
trọng đối với em không?”.
Khi tham khảo ý kiến GV, chúng tôi đã sử dụng những câu hỏi như sau: “Học
sinh của thầy/cô có thích môn Hóa học không?”, “Tại sao có thích?”, “Tại sao
không thích?”.
Tất cả những câu hỏi cũng như câu trả lời của HS, GV đều được chúng tôi
tổng hợp và tạo thành các phát biểu được chia thành sáu thang đo bao gồm: giáo
viên Hóa học, thí nghiệm Hóa học, sự tự tin của HS khi học Hóa học, sự liên quan
của môn Hóa học đến HS, sự nỗ lực của HS khi học Hóa học và niềm vui thích của
HS khi học Hóa học. Các thang đo này được trình bày cụ thể như sau:
Thang đo 1: Giáo viên hóa học
Đối với HS thuộc lứa tuổi THPT,nhận thức và hành động của thầy cô chính là
ảnh hưởng nhiều nhất đến thái độ đối với việc học tập của các em [19]. Thang đo
này được xây dựng nhằm mục đích khảo sát HS sẽ cho ta một cái nhìn khách quan
hơn về quan điểm dạy học, quan điểm chuẩn mực về hành vi, thái độ của thầy cô
giáo từ góc nhìn của HS. Một số phát biểu được sử dụng trong thang đo này là
“Giáo viên Hóa dễ mến”, “Giáo viên Hóa làm cho môn Hóa trở nên thú vị”.
Thang đo 2: Thí nghiệm hóa học
Thí nghiệm là một trong những thành tố chính của Hóa học và nó có vai trò vô
cùng quan trọng trong quá trình học tập môn Hóa học, đây là điều mà cả thế giới
đều thừa nhận. Khi được tự mình quan sát, thực hiện, HS luôn cảm thấy vui vẻ,
hứng thú học tập hơn là chỉ nghe và tưởng tượng. Các kết quả nghiên cứu trên thế
giới và Việt Nam đều cho thấy sự ảnh hưởng tích cực của thí nghiệm hóa học đối
với nhận thức, cảm xúc tích cực của HS đối với môn Hóa học. Tuy nhiên, ở Việt
Nam, các GV THPT hiện nay lại không coi trọng việc thực hành thí nghiệm của các
em HS mà chỉ chăm vào lý thuyết, bài tập toán để HS có thể thi đậu, thi điểm cao.
“Sự trưởng thành của mỗi đứa trẻ đi đôi với quá trình học tập. Trên thế giới này
39
không có đứa trẻ nào không thích học chỉ có những đứa trẻ mất đi hứng thú học tập
vì phương pháp học tập hay phương pháp giáo dục.” [19]. Đây chính là nguyên
nhân chính gây mất hứng thú đối với môn Hóa học của các HS ở Việt Nam. Một số
phát biểu được sử dụng trong thang đo này là “Em muốn có nhiều thí nghiệm hơn
khi học Hóa”, “Em học Hóa tốt hơn khi có thí nghiệm”.
Thang đo 3: Sự tự tin của HS khi học Hóa học
Bản thân HS THPT cũng đã bắt đầu trưởng thành về mặt thể lực và trí lực, trải
qua quá trình rèn luyện, học tập chăm chỉ, HS sẽ tự nhiên có được sự tự tin với
những kiến thức và vốn kinh nghiệm mà các em đã có. Sự tự tin giúp con người có
thêm sức mạnh để đạt được những điều mà mình mong muốn hay nói cách khác là
làm tăng động lực, cổ vũ sự hứng thú của bản thân. Khi nói đến sự tự tin đối với
một nội dung kiến thức nào đó, chắc hẳn sự tự tin sẽ gắn liền với độ khó của nó.
Tuy nhiên, khi mất tự tin, con người sẽ không bao giờ có thể tiếp thu được nội dung
kiến thức dù là dễ hay khó. Vì vậy, ngược lại, khi có được sự tự tin, HS có thể khiêu
chiến với mọi độ khó của kiến thức mình hứng thú hay nói cách khác, độ khó không
ảnh hưởng đến sự tự tin của HS. Một số phát biểu được sử dụng trong thang đo như
sau: “Dù em có cố gắng thế nào đi nữa, em cũng không thể hiểu được môn Hóa”,
“Em thường nghĩ “Mình không làm được” khi bài tập Hóa có vẻ khó”.
Thang đo 4: Sự liên quan của môn Hóa học đến HS
Áp dụng định nghĩa của Holbrook, “sự liên quan là sự hữu ích của việc học
tập và về việc lôi cuốn học sinh vào việc học có ý nghĩa” [26], chúng tôi hình thành
thang đo sự liên quan của môn Hóa học đến HS. Mục đích của thang đo này muốn
khảo sát về suy nghĩ, cảm xúc của HS đối với bộ môn Hóa học trong nhà trường nói
riêng và lĩnh vực hóa học, một lĩnh vực khoa học nói chung. Một số phát biểu sử
dụng trong thang đo này là: “Em không tìm thấy lý do gì để phải học Hóa ngoại trừ
đó là môn bắt buộc trong chương trình mà em phải học”, “Em muốn làm việc trong
lĩnh vực có liên quan đến môn Hóa”.
Thang đo 5: Sự nỗ lực của HS khi học Hóa học
Quá trình học tập bất cứ một vấn đề, nội dung hay lĩnh vực nào đạt được thành
công chỉ khi quá trình đó được luyện tập thường xuyên trong thời gian dài. Để thực
hiện được điều đó thì thứ đầu tiên cần có chính là sự nỗ lực. HS khi có nỗ lực thì
40
mới có thể duy trì được thái độ tích cực đối với đối tượng hứng thú. Sự nỗ lực biểu
hiện rõ ràng nhất ở mặt hành vi, vì vậy, thang đo này chúng tôi chủ yếu mô tả hành
vi để đo mức độ nỗ lực của HS đối với môn Hóa học. Một số phát biểu sử dụng
trong thang đo này là: “Nếu em thất bại khi học Hóa, em càng cố gắng hơn”, “Nếu
làm sai trong bài kiểm tra môn Hóa, em sẽ cố gắng làm lại cho đúng khi được trả
bài lại”.
Thang đo 6: Niềm vui thích của HS khi học Hóa học
Khi học Hóa học, các em HS hứng thú cũng có nghĩa là bản thân các em cảm
thấy bản thân mình yêu thích môn Hóa. Nhưng yêu thích như thế nào, ở mức độ nào
thì thang đo này sẽ đo lường các cảm nhận thật sự của HS đối với môn Hóa. Qua
đó, ta có thể biết được HS cảm thấy vui vẻ, yêu thích môn Hóa khi nào, như thế nào
và tại sao. Một số phát biểu được sử dụng trong thang đo như: “Nếu em không bao
giờ được học Hóa nữa, em sẽ rất buồn”, “Cảm xúc của em đối với môn Hóa là một
cảm xúc tích cực”.
(2) Xây dựng bảng hỏi thực nghiệm
Sau quá trình nghiên cứu tài liệu, quan sát kết hợp phỏng vấn HS và tham
khảo ý kiến của GV, chúng tôi đã xây dựng được một bảng hỏi khá hoàn chỉnh với
nhiều thang đo: thứ bậc, danh nghĩa và Likert…
Trong đó, thang đo danh nghĩa được sử dụng chủ yếu trong phần A – Phần
thông tin chung, dùng để tìm hiểu một số thông tin cá nhân của HS như khối lớp,
loại hình trường, giới tính, điểm số, môn học yêu thích… Từ các thông tin này,
chúng tôi có thể phân loại các đối tượng, tìm hiểu được một số yếu tố ảnh hưởng
đến các thái độ, mức độ hứng thú được khảo sát chủ yếu ở phần B.
Thang đo Likert được sử dụng trong phần B – Các câu liên quan đến môn
Hóa. Thang đo này được chúng tôi sử dụng với 5 mức độ, trong đó, mức độ 5 là Rất
đồng ý, 4 là Đồng ý, 3 là Không đồng ý, không phản đối, 2 là Không đồng ý, 1 là
Rất không đồng ý. Tất cả các phát biểu của sáu thang đo đều được sắp xếp ngẫu
nhiên vào bảng hỏi với mục đích sau khi khảo sát có thể tìm ra những tập hợp các
phát biểu để đo lường được thái độ của HS đối với môn Hóa học. Ngoài ra, để phù
hợp cho hoàn cảnh giáo dục Việt Nam hiện nay, chúng ta sử dụng thêm một số phát
41
biểu từ các bảng hỏi khác và điều chỉnh lại như về việc học thêm của HS hay môn
học được chọn thi Đại học của HS…
Để thẩm định tính chính xác và khoa học của bảng hỏi, chúng tôi cũng đã
tham vấn ý kiến của một số chuyên gia về lý luận và phương pháp dạy học các bộ
môn khoa học, về chuyên ngành tâm lý học, về nghiên cứu giáo dục và về quản lý
giáo dục.Qua đó, chúng tôi cũng mong muốn bảng hỏi của mình vừa đảm bảo được
các yêu cầu của quá trình nghiên cứu khoa học vừa đảm bảo được sự dễ hiểu đối
với HS.
(3) Tiền thực nghiệm và thực nghiệm bảng hỏi
Sau khi xây dựng bảng hỏi thực nghiệm với các phát biểu trong thang đo,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu tiền thực nghiệm trên mẫu 38 HS lớp 10 tại trường
THPT Hùng Vương, quận 5. Quá trình này được thực hiện một cách khá nghiêm túc
và chi tiết. Đầu tiên là cho các em điền đầy đủ các thông tin yêu cầu, đánh giá các
phát biểu trong bảng hỏi. Sau đó, chúng tôi đọc to, thảo luận và ghi chép từng ý
kiến của các em HS. Qua giai đoạn này, chúng tôi đã đạt được mục đích là có thể
kiểm nghiệm xem bảng hỏi này với các phát biểu có sự sắp xếp hợp lý hay chưa,
cần sửa đổi điểm nào, sửa đổi như thế nào. Và quan trọng nhất chính là xem HS có
thể hiểu được các phát biểu có nội dung, lời văn được sử dụng trong bảng hỏi thực
nghiệm hay không.
Trải qua giai đoạn tiền thực nghiệm, chúng tôi chỉnh sửa lại ý nghĩa, từ ngữ,
loại bỏ một số phát biểu không hợp lý… trong bảng hỏi. Bảng hỏi chỉnh sửa vẫn
bao gồm sáu thang đo như trên, mỗi thang đo có bảy phát biểu, tổng cộng bảng hỏi
có 42 phát biểu. Sau đó, chúng tôi đã dùng bảng hỏi chỉnh sửa này để thực nghiệm
trên mẫu 262 HS được chọn ngẫu nhiên tại ba khối lớp của trường THPT Trần Khai
Nguyên, quận 5, TP. HCM. Việc chọn lựa số lượng khảo sát này được dựa vào đề
xuất của Hatcher, số lượng của mẫu thực nghiệm gấp khoảng năm lần số phát biểu
trong thang đo, tức khoảng 210 HS sẽ phù hợp thực nghiệm khảo sát thực nghiệm.
(4) Kiểm định bảng hỏi thực nghiệm
Công việc kiểm định bảng hỏi thực nghiệm được chúng tôi tiến hành bằng
phần mềm SPSS 22.0, cụ thể là dùng phương pháp phân tích nhân tố Principle
component analysis và phép xoay Varimax.
42
Sau khi kiểm định, các thang đo Giáo viên hóa học, Thí nghiệm hóa học, Sự tự
tin của HS khi học Hóa học và Sự nỗ lực của HS khi học Hóa học vẫn đảm bảo các
nhân tố với các phát biểu đã định trước. Tuy nhiên, một số phát biểu làm cho hệ số
tải của nhân tố (thang đo) nhỏ hơn 0.5 được loại bỏ khỏi bảng hỏi. Đối với thang đo
còn lại là Sự liên quan của môn Hóa đến HS và Niềm vui thích của HS khi học Hóa
học, các phát biểu bị tải lên cùng một nhân tố. Do đó, chúng tôi đã nhóm chúng lại
tạo thành một thang đo mới là Sự hứng thú của HS khi học Hóa học.
Ngoài ra, với năm nhân tố mới, chúng tôi sử dụng hệ số Cronbach’ Alpha
kiểm tra sự tương quan nội tại của các phát biểu trong thang đo. Tất cả các thang đo
đều có hệ số Cronbach’ Alpha lớn hơn 0.8, ngoại trừ thang Sự tự tin của HS khi học
Hóa học có hệ số bằng 0.75. Để điều chỉnh thang đo này, nâng cao lên hệ số
Cronbach’ Alpha, chúng tôi loại bỏ một số phát biểu có hệ số tải thấp mà chúng tôi
tin rằng không rõ nghĩa với HS và thêm vào một số phát biểu mới mang tính cụ thể,
khoa học và dễ hiểu hơn.
(5) Xây dựng bảng hỏi chính thức
Sau quá trình tiền thực nghiệm và thực nghiệm, bảng hỏi dùng cho việc khảo
sát thái độ của HS đối với môn Hóa học đã hoàn chỉnh, đảm bảo yêu cầu cho quá
trình nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, sau các quá trình trên, chúng tôi cũng rút được
một số kinh nghiệm để có thể thực hiện quy trình khảo sát chính thức với quy định
trả lời bảng hỏi, quy định loại bỏ các phiếu khảo sát không hợp lệ một cách khoa
học.
Nội dung bảng hỏi khảo sát
Nội dung bảng hỏi khảo sát chính thức gồm hai phần: phần thông tin chung cá
nhân và phần các câu hỏi liên quan đến môn Hóa.
Phần A: Phần thông tin chung
Phần này bao gồm 11 câu hỏi được xây dựng theo thang đo danh nghĩa nhằm
phân loại và tìm hiểu các đặc trưng của đối tượng khảo sát như: loại hình trường,
khối lớp, giới tính, điểm số, môn học yêu thích…
Phần B: Các câu hỏi liên quan đến môn Hóa
43
Như đã trình bày ở trên, phần này sẽ bao gồm năm thang đo với tổng cộng 30
phát biểu được xây dựng theo thang đo Likert là chủ yếu, kết hợp với 3 câu hỏi giải
thích ý kiến nhằm làm rõ hơn sự lựa chọn một số phát biểu của HS.
Năm thang đo đều là những thành phần tạo thành công cụ đo lường hướng tới
đối tượng của thái độ là môn Hóa học ở trường THPT.
Giáo viên hóa học
Sự tự tin của HS khi học Hóa học
Thí nghiệm hóa học
Thái độ của HS THPT đối với môn Hóa học
Sự hứng thú của HS khi học Hóa học
Sự nỗ lực của HS khi học Hóa học
Hình 2.2. Năm thang đo thái độ
Quy định trả lời bảng hỏi
Để thực hiện quá trình kháo sát tránh những tác động khách quan, trách những
tác động tâm lý có thể ảnh hưởng đến kết quả trả lời, chúng tôi đã thực hiện việc thu
thập dữ liệu nghiên cứu với một số quy định sau:
- Thời gian cho nhóm thực hiện khảo sát là 20 phút. Trong thời gian này,
trong lớp học sẽ không có bất kỳ sự có mặt của GV bộ môn nào nhằm đảm bảo tính
công bằng và khách quan cho các câu hỏi, phát biểu trong bảng hỏi, ví dụ như: GV
em thích nhất, GV em không thích nhất, môn học thích nhất, môn học em không
thích nhất…
- Quá trình nghiên cứu khảo sát HS sẽ được trả lời ngay tại lớp học vào giờ
lên lớp. Nhóm nghiên cứu sẽ đến lớp để hướng dẫn, theo dõi các em thực hiện bảng
hỏi. Nội dung hướng dẫn HS được thống nhất, đảm bảo là như nhau. Đồng thời,
nhóm nghiên cứu cam kết và đảm bảo thông tin dữ liệu trả lời của các em chỉ nhằm
phục vụ cho quá trình nghiên cứu, tuyệt đối sẽ không công bố trừ khi có sự cho
phép của quý nhà trường.
- Ngoài ra, trên bảng hỏi, HS không phải ghi tên của mình và các thông tin cá
nhân khác. Tất cả những điều kiện trên tạo cho HS cảm giác thoải mái, không phải
44
bị áp lực bởi sự có mặt của GV bộ môn. Đặc biệt, rào cản tâm lý giữa nhóm nguyên
cứu và HS cũng được phá vỡ, điều này tạo được một niềm tin cho HS, giúp các em
hoàn thành bảng hỏi với suy nghĩ trung thực của mình.
- Quy định cụ thể trả lời các phần trong bảng hỏi như sau:
Phần A: Phần thông tin chung
Đánh dấu X vào ô em chọn. Nếu bỏ chọn hãy khoanh tròn ô đó và chọn ô
khác. Ngoại trừ các câu 6, 7, 8 và 9 các em điền vào chỗ trống.
Phần B: Các câu hỏi liên quan đến môn Hóa
Hãy đánh dấu X vào ô vuông em chọn, theo mức độ đồng ý từ 1 đến 5.
Trong đó:
5 nghĩa là em rất đồng ý
4 nghĩa là em đồng ý
3 nghĩa là em không đồng ý cũng không phản đối
2 nghĩa là em không đồng ý
1 nghĩa là em rất không đống ý
Lưu ý: Ở các câu có liên quan đến giáo viên Hóa muốn nói đến giáo viên
đang dạy Hóa ở lớp của em.
Quy định loại bỏ các phiếu khảo sát không hợp lệ
Để dữ liệu thu được đảm bảo tính khách quan nhưng vẫn đảm bảo chất lượng,
nhóm nghiên cứu đã quy định loại bỏ các phiếu khảo sát trả lời lệch lạc, thái độ
không nghiêm túc. Các quy định này cụ thể như sau:
- HS điền phiếu với thái độ không hợp tác, đùa giỡn và cố tình ghi sai các
thông tin cơ bản (loại hình trường, khối lớp, giới tính). Đồng thời, HS trả lời những
câu hỏi mở rất hời hợt, không rõ ràng, kèm theo các cụm từ như: “thấy bình
thường”, “không có ý kiến”, “chả biết”, “no never…” dù đã được nhóm nghiên
cứu nhắc nhở nhiều lần trong quá trình điền bảng hỏi.
2.3. Khảo sát chính thức
Dưới sự hướng dẫn của ThS. Đào Thị Hoàng Hoa, quá trình khảo sát chính
thức được thực hiện đồng thời với quá trình khảo sát của đề tài “Khảo sát thái độ
của học sinh Trung học phổ thông đối với môn Hóa học tại Thành phố Hồ Chí
45
Minh” của tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc [12]. Vì vậy, quy trình khảo sát có nhiều
điểm tương đồng với đề tài nêu trên.
2.3.1. Lập kế hoạch khảo sát
Mục đích của việc khảo sát thông qua bảng hỏi là giúp chúng tôi tìm hiểu về
những suy nghĩ, tình cảm và thái độ của HS đối với môn Hóa học ở trường THPT.
Vì vậy, khi lập kế hoạch khảo sát, chúng tôi cần phải chú ý, cân nhắc đến nhiều điều
kiện để quá trình khảo sát diễn ra thuận lợi nhất. Một số vấn đề tiêu biểu được nhắc
đến như sau:
- Về thời gian: thời gian chúng tôi tiến hành khảo sát vào tháng 5 năm 2015.
Đây là khoảng thời gian mà hầu hết HS ở các trường THPT đã hoàn thành học kỳ II
trong năm học, các trường cũng đang trong giai đoạn hoàn tất các công việc hành
chính nên việc xin phép, việc thực hiện khảo sát HS dễ dàng hơn các thời điểm khác
trong năm học.
- Về loại hình trường: hệ thống giáo dục nước ta có nhiều loại hình trường
khác nhau như công lập, chuyên, tư thục, quốc tế… nhưng tại TP. HCM điển hình
là các loại hình trường công lập, tư thục và chuyên. Chúng tôi đã lên kế hoạch tìm
hiểu thông tin, lên danh sách các trường dự định xin khảo sát và liên hệ nhà trường
để được xin làm khảo sát nghiên cứu. Yêu cầu về điều kiện này là các trường ở giai
đoạn tiền thực nghiệm và thực nghiệm không được tham gia vào quá trình kháo sát
chính thức.
- Về địa bàn khảo sát: để đảm bảo đa dạng về vị trí địa lý trên địa bàn TP.
HCM, nhóm nghiên cứu đã quyết định chọn trường ở quận 1, 5, 7, 8, 10, 11, Tân
Bình, Thủ Đức và huyện Bình Chánh.
- Về số lượng mẫu: để tính toán được cỡ mẫu khảo sát của toàn khối THPT,
chúng tôi dựa vào số lượng HS năm học 2014 – 2015 trên toàn TP.HCM là 186 289
(Nguồn: “Cục thống kê TP.HCM, 2015”) [5] rồi tính toán dựa vào công thức của
Solvin và Yamane với mức độ sai lệch mong muốn là 2%. Và để tính toán được
mẫu khảo sát cho riêng đề tài với đối tượng HS khối 10, tôi dựa vào bào báo cáo
thống kê về số lượng HS tốt nghiệp lớp 9 năm học 2013 – 2014 là 75 169 HS của
Cục Thống kê TP. HCM [30] và tính toán như trên với mức sai lệch là 3,3%. Nội
dung này cụ thể sẽ được trình bày ở mục 2.3.2.
46
2.3.2. Chọn mẫu khảo sát
Phương pháp chọn mẫu
Trong nghiên cứu này, với đối tượng khảo sát là HS ở THPT tại địa bàn TP.
HCM, chúng tôi sử dụng phương pháp lấy mẫu có mục đích. Phương pháp này sẽ
giúp chúng tôi có được mẫu nghiên cứu đa dạng về các loại hình trường (chuyên,
công lập, tư thục), về trình độ HS khác nhau (giỏi, khá, trung bình, yếu), về giới
tính (nam, nữ) và về khu vực (quận, huyện) tại TP.HCM.
Công thức chọn mẫu
Quy mô của mẫu tùy thuộc tính chất của dân số, mục tiêu và quy mô của việc
nghiên cứu. Thông thường, quy mô của mẫu tùy thuộc quy mô của dân số được
2
chọn mẫu theo công thức tính mẫu của Solvin (1960) và Yamane:
𝑛𝑛 = Trong đó: n: quy mô của mẫu 𝑁𝑁 1 + 𝑁𝑁. 𝑒𝑒 N: quy mô của dân số
e: mức sai lệch mong muốn (tỉ lệ % sai lệch do việc sử dụng mẫu
chứ không phải nghiên cứu toàn mẫu)
Tuy nhiên, công thức trên chỉ có thể áp dụng khi giả định dân số phân bố đồng
đều bình thường và đặc biệt là không thể áp dụng đối với dân số ước tính quá nhỏ.
Vì vậy, kết hợp các kết quả của các tác giả Yamane (1967), Pagoso, Garcia và
Guerrero de Leon (1978), chúng tôi có được bảng tính quy mô mẫu tương ứng với
dân số và các mức sai lệch tương ứng với công thức chọn mẫu trên.
Bảng 2.1. Quy mô mẫu tương ứng với các mức độ sai lệch khác nhau
MỨC ĐỘ SAI LỆCH
± 1%
± 2%
± 3%
± 4%
± 5%
± 10%
Dân số
∗
∗
∗
∗
500 222 83
∗
∗
1.500 638 441 316 94
∗
2.500 1250 769 500 345 96
∗
3.000 1364 811 517 353 97
∗
4.000 1538 870 541 364 98
∗
5.000 1667 909 556 370 98
47
∗
938 6.000 1765 566 375 98
∗
959 7.000 1842 574 378 99
∗
976 8.000 1905 580 381 99
∗
989 9.000 1957 584 383 99
10.000 5.000 2000 1000 588 385 99
50.000 8.333 2381 1087 617 387 100
100.000 9091 2439 1099 621 398 100
150.000 9375 2459 1103 622 399 100
200.000 9523 2469 1105 623 399 100
…
…
(Dấu * cho thấy là giả định về phân bố bình thường thấp, do đó không thể ứng dụng
công thức tính quy mô của mẫu)
Số lượng mẫu nghiên cứu
Số lượng mẫu nghiên cứu có vai trò rất quan trọng đối với đề tài nghiên cứu.
Tuy nhiên, với quá trình tìm hiểu nhiều nguồn thông tin khác nhau từ Cục thống kê
TP. HCM, Sở Giáo dục và Đào tạo…, các công bố và thống kê về số lượng HS rất
hạn chế, không có tổ chức chính thống nào công bố cụ thể về số lượng của HS khối
lớp 10 của THPT. Vì vậy, tôi dựa vào số liệu của số HS tốt nghiệp lớp 9 trong năm
học 2013 – 2014 của cục thống kê TP. HCM là 75 169 HS [30] và dùng con số này
làm số thống kê HS khối lớp 10 ở THPT trong năm học 2014 – 2015 tại TP. HCM.
Điều này đồng nghĩa với việc tôi cho rằng số lượng HS bỏ học, chuyển từ địa
phương khác hay từ địa phương khác chuyển sang sẽ làm thay đổi số lượng mẫu
nhưng không đáng kể, không làm ảnh hưởng nhiều đến con số trên.
Áp dụng công thức đã nêu ở trên, ứng với quy mô N = 75 169, mức sai lệch
mong muốn e = 3,3%, ta có:
Quy mô mẫu nghiên cứu là
2 = 907
𝑛𝑛 = Như vậy, theo tính toán được, quy mô mẫu cần thực hiện đề tài là ít nhất 907 75 169 1 + 75 169. (0.033)
phiếu khảo sát.
48
Phạm vi chọn mẫu
Sau khi tìm hiểu một số nét thông tin cơ bản về các trường THPT thuộc 24
khu vực khác nhau (19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành) trên địa bàn TP.
HCM do Sở Giáo dục và Đào tạo TP. HCM thống kê, áp dụng phương pháp chọn
mẫu có mục đích đã nêu trên, đồng thời được sự ủng hộ và tạo điều kiện về phía
trường THPT, chúng thôi đã lựa chọn và tiến hành khảo sát 9 trường. Các trường
này giúp cho mẫu nghiên cứu đảm bảo tính khá đa dạng, phong phú về loại hình
trường, quận, huyện… như sau:
- Thuộc 3 loại hình trường: chuyên, công lập và tư thục.
- Thuộc 6 quận và 1 huyện: quận 5, quận 7, quận 8, quận 11, quận Tân Bình,
quận Thủ Đức và huyện Bình Chánh.
Bảng 2.2. Danh sách các trường THPT chọn khảo sát
Đặc điểm của trường STT Trường khảo sát Quận, huyện Loại hình trường
1 THPT Lương Văn Can Q.8 2 THPT Tạ Quang Bửu
3 THPT Nguyễn Hiền Q.11 Công lập 4 THPT Lê Minh Xuân H. Bình Chánh
5 THPT Hiệp Bình Q. Thủ Đức
6 THPT Nguyễn Thượng Hiền Q. Tân Bình
7 THPT Lê Hồng Phong Q.5 Chuyên
8 THCS – THPT Đinh Thiện Lý Q.7 Tư thục 9 THCS – THPT Thái Bình Q.Tân Bình
2.3.3. Liên hệ các trường THPT xin làm khảo sát
Để được thực hiện khảo sát chính thức, chúng tôi liên hệ trực tiếp với BGH
nhà trường trình đơn xin làm khảo sát. Trong đơn, chúng tôi trình bày nguyện vọng
được sắp xếp thời gian thích hợp, bố trí nhóm nghiên cứu khảo sát các HS đa dạng
49
về khối lớp và trình độ HS khác nhau. Số lượng khảo sát của mỗi trường khoảng
250 HS.
2.3.4. Khảo sát chính thức
Quy trình thực hiện khảo sát chính thức
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi đã thực hiện khảo sát theo các bước thống
nhất ở các trường như sau:
Bước 1: Chuẩn bị khảo sát
Để quá trình khảo sát diễn ra thuận lợi một cách khoa học, nhóm nghiên cứu
đã chuẩn bị bảng hỏi trên khổ giấy A0 và A4. Bảng hỏi giấy A0 dùng cho quá trình
hướng dẫn HS điền phiếu khảo sát. Bảng hỏi giấy A4 được chuẩn bị phù hợp với số
lượng HS khảo sát.
Khi đến trường THPT, chúng tôi gặp BGH nhà trường để lắng nghe ý kiến
cũng như nhận các lớp được nhà trường phân công thực hiện khảo sát.
Bước 2: Tiến hành khảo sát
Dưới sự hướng dẫn của BGH hoặc Giám thị của nhà trường, nhóm nghiên cứu
trực tiếp đến lớp học và xin GV đang đứng lớp được thực hiện khảo sát khoảng 20
phút.
Sau đó, trên bảng hỏi khổ phiếu A0, nhóm trưởng nhóm nghiên cứu dành thời
gian 5 phút để giới thiệu mục đích của khảo sát, ý nghĩa của việc cung cấp thông tin
và hướng dẫn chi tiết HS điền vào bảng hỏi khảo sát. Các thành viên còn lại đếm
nhanh số lượng HS có mặt trong lớp (số lượng HS trong lớp, số HS nam, số HS nữ),
tìm hiểu một số thông tin cơ bản của lớp (lớp chọn, lớp thường, lớp chuyên…).
Thao tác này giúp chúng tôi kiểm soát số liệu tổng quát phát ra và thu vào, hạn chế
sai sót trong mẫu khảo sát, giúp chúng tôi kiểm tra lại thông tin điền phiếu của các
em trùng khớp với thông tin của nhóm đã kiểm tra ban đầu.
Thời gian 15 phút còn lại, một hoặc hai thành viên của nhóm sẽ ở lại phát
phiếu khảo sát và theo dõi HS điền bảng hỏi. Lúc này, trong lớp sẽ không có sự có
mặt của bất kỳ GV nào, các thành viên của nhóm nghiên cứu sẽ có nhiệm vụ quản
lý lớp, nhận phản hồi và giải đáp thắc mắc khi các em điền phiếu khảo sát. Lúc này,
chúng tôi sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như lắng nghe, quan sát để
tìm hiểu tâm lý HS.
50
Quá trình khảo sát được thực hiện ở mỗi lớp học mà nhà trường đã bố trí phân
công khảo sát.
Bước 3: Viết nhật ký sau khi khảo sát
Sau buổi khảo sát ở mỗi trường, nhóm nghiên cứu cảm ơn BGH nhà trường
tạo điều kiện cho nhóm thực hiện khảo sát. Sau đó, nhóm tổng kết sơ bộ số lượng
các thông tin, ghi lại phản hồi và rút kinh nghiệm sau buổi khảo sát. Tất cả sẽ được
ghi tạo thành nhật ký khảo sát.
Những khó khăn của quá trình khảo sát
Khi thực hiện đề tài, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn cần phải khắc phục.
Đầu tiên chính là thiết kế được bảng hỏi, một công cụ đo lường có giá trị và
đáng tin cậy dùng cho việc khảo sát thái độ, một phạm trù tâm lý của con người. Nó
cần một sự chính xác nhưng vẫn đảm bảo được tính khoa học và có hệ thống.
Khó khăn thứ hai chính là số lượng của mẫu khảo sát quá lớn (hơn 2400) nên
việc nhóm nghiên cứu thực hiện cũng gặp nhiều vấn đề:
- Về phía BGH nhà trường THPT: Khi chúng tôi tổ chức khảo sát đã đến quá
trình xin phép trường THPT, một số BGH của các trường đã từ chối thực hiện khảo
sát với lý do nội dung bảng khảo sát khá nhạy cảm với GV và HS (ở các nội dung
Môn học thích nhất, Môn học không thích nhất, GV thích nhất, GV không thích
nhất) hay nếu làm khảo sát sẽ mất giờ dạy của các GV, nhất là đối với HS khối lớp
12 đang tiến hành ôn thi cho kỳ thi quốc gia 2015. Để khắc phục vấn đề này, chúng
tôi đã nhờ sự giúp đỡ và ủng hộ của các cán bộ, các GV từ Sở Giáo dục và Đào tạo,
từ các giảng viên của khoa Hóa học trường Đại học Sư phạm TP. HCM có thể
truyền đạt lại đầy đủ các mục đích, ý nghĩa của đề tài đến các trường THPT. Và
cuối cùng, chúng tôi cũng đã chính thức có thể khảo sát 11 trường THPT trên địa
bàn TP. HCM đã nêu trên.
- Về thời gian khảo sát: thời gian được chọn để thực hiện khảo sát là vào
tháng 5. Như đã nói trên, chúng tôi chọn thời gian này vì đây là thời gian các trường
đã hoàn tất các công việc, việc xin phép khảo sát sẽ dễ dàng hơn các thời điểm khác
trong năm. Nhưng nói về thời gian cụ thể thực hiện khảo sát, chúng tôi phải phụ
thuộc vào thời khóa biểu của từng trường, vào sự sắp xếp của BGH của các trường
THPT và vì vậy, việc trùng giờ khảo sát giữa các trường là không thể tránh khỏi.Ví
51
dụ điển hình như trong một ngày, chúng tôi phải thực hiện khảo sát của trường
THCS – THPT Đinh Thiện Lý (quận 7) và trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong
(quận 5). Đồng thời, để có được dữ liệu ở cả 3 khối lớp 10, 11 và 12, chúng tôi phải
thực hiện khảo sát HS ở cả buổi sáng và buổi chiều. Nhóm nghiên cứu đã khắc phục
vấn đề này bằng cách sắp xếp thời gian, chia nhau đi khảo sát ở các địa điểm khác
nhau và cuối cùng có thể khắc phục được khó khăn này.
- Về giáo viên: khi thực hiện quá trình khảo sát, chúng tôi phải xin phép giờ
dạy của GV bộ môn, đồng thời, chúng tôi cũng đã quy định sẽ không có sự có mặt
của bất kỳ GV nào nên chúng tôi phải xin phép mời GV ra ngoài lớp. Có lẽ cũng
chính vì vậy nên có một số GV không đồng ý. Đối với trường hợp này, nhóm
nghiên cứu giải quyết bằng cách đi sang lớp khác thực hiện khảo sát rồi sau đó mới
quay lại lớp này hoặc chờ đến khi có thời gian thích hợp với GV khác để khảo sát
lớp đó.
- Về học sinh: nhóm nghiên cứu được tập hợp chủ yếu là sinh viên của khoa
Hóa từ năm 2 đến năm 4, chỉ có hai anh chị là học viên cao học. Vì vậy, khi đi khảo
sát, do kinh nghiệm quản lý lớp chưa nhiều, kết hợp với việc chỉ có một đến hai bạn
ở lại với lớp nên việc giữ trật tự trong quá trình điền phiếu của HS khá khó khăn.
Một số HS gây ồn ào, không chú ý lắng nghe hướng dẫn điền phiếu, cũng có một số
HS không có ý hợp tác, cố tình ghi sai thông tin và điền phiếu với thái độ hời hợt.
Tuy nhiên, chúng tôi đã kịp thời khắc phục bằng cách tăng cường thêm thành viên ở
lại lớp học, theo dõi quá trình điền phiếu của HS để kịp thời điều chỉnh sai sót, đồng
thời có thể trả lời những câu hỏi của HS, tiếp nhận những ý kiến đóng góp của HS
về bảng hỏi.
Khó khăn tiếp theo là về kinh phí đầu tư cho quá trình khảo sát, nhất là kinh
phí in phiếu khảo sát là một trong những khó khăn của nhóm nghiên cứu trong quá
trình khảo sát.
2.4. Xử lý và phân tích dữ liệu nghiên cứu
Như đã nói trên, quá trình khảo sát được thực hiện đồng thời với đề tài “Khảo
sát thái độ của học sinh Trung học phổ thông đối với môn Hóa học tại thành phố Hồ
Chí Minh” [12]. Vì vậy, số liệu ban đầu nhóm nghiên cứu thu thập được chưa phải
là dữ liệu nghiên cứu chính thức. Chúng còn cần trải qua các quá trình kiểm tra chất
52
lượng bảng hỏi theo các quy định đã đặt ra khi khảo sát, các quy định về phiếu trả
lời không hợp lệ để có được dữ liệu chính thức của mẫu nghiên cứu.
Quá trình xử lý dữ liệu đều đã được trình bày cụ thể trong đề tài được nhắc
đến trên. Ở đây, nhằm mục đích đảm bảo được các số liệu có ý nghĩa, có giá trị và
cũng như có được tính khoa học cho đề tài nghiên cứu, tôi xin trình bày quá trình
một cách tương tự như sau.
Quy trình xử lý và phân tích dữ liệu được thực hiện theo quy trình sau đây:
(3) Nhập dữ liệu (4) Kiểm tra nhập dữ liệu (1) Kiểm tra, hiệu chỉnh lại dữ liệu (2) Mã hóa các câu trả lời (5) Phân tích dữ liệu
Hình 2.3. Quy trình xây dựng và kiểm định bảng hỏi
(1) Kiểm tra, hiệu chỉnh lại dữ liệu
Trong bước xử lý đầu tiên này, nhóm nghiên cứu chia nhau đọc từng phiếu
khảo sát để loại bỏ những phiếu không hợp lệ theo quy định đã đặt ra. Tuy nhiên,
dựa vào nhật ký khảo sát đã được ghi chép, chúng tôi so sánh với các phiếu khảo
sát, nếu chúng sai ở các phần về loại hình trường, khối lớp, lỗi chính tả, ngôn
từ,…chúng tôi sẽ chấp nhận và hiệu chỉnh lại cho các em. Hay trường hợp các phiếu
không ghi các mục như loại hình trường, lớp, giới tính, nhóm cũng sẽ dựa vào nhật
ký để tính toán, điền vào đủ các mục trên bảng hỏi.
Sau quá trình kiểm tra và hiệu chỉnh dữ liệu này, chúng tôi loại bỏ một số
phiếu khảo sát không hợp lệ. Các trường hợp cụ thể ở các trường đã được trình bày
trong đề tài “Khảo sát thái độ của học sinh Trung học phổ thông đối với môn Hóa
học tại thành phố Hồ Chí Minh” [12].
Số lượng của mẫu nghiên cứu trong đề tài này sau quá trình khảo sát tại 9
trường THPT trên địa bàn TP.HCM được trình bày cụ thể như sau:
Bảng 2.3. Số lượng mẫu nghiên cứu của đề tài
STT Trường Quận/ Huyện Số lượng
1 THPT Lương Văn Can Q.8 129
53
2 THPT Tạ Quang Bửu Q.8 72
3 THPT Nguyễn Hiền Q.11 53
4 THPT Lê Minh Xuân H.Bình Chánh 111
5 THPT Hiệp Bình Q.Thủ Đức 72
7 THPT Nguyễn Thượng Hiền Q.Tân Bình 158
9 THPT Chuyên Lê Hồng Phong Q.5 101
10 THCS - THPT Đinh Thiện Lý Q.7 119
11 THCS - THPT Thái Bình Q.Tân Bình 94
Tổng cộng 909
Với khối lượng dữ liệu lớn, để tiện kiểm soát trong quá trình nhập liệu cũng
như phân tích, nhóm nghiên cứu tiến hành đánh số thứ tự lên các phiếu khảo sát.
Mỗi phiếu sẽ có 2 bộ số thứ tự: bộ số thứ tự tương ứng với số lượng của mỗi trường
và bộ số thứ tự tương ứng với số lượng của toàn mẫu nghiên cứu.
(2) Mã hóa các câu trả lời và khai báo biến
Mã hóa dữ liệu là dùng những ký hiệu, cụ thể ở đây là các con số để đánh dấu
các câu trả lời lựa chọn định tính của HS. Còn đối với thang đo định lượng, lựa
chọn cũng HS đã được định dạng con số và nó cũng có ý nghĩa nhất định nên không
cần mã hóa.
Quá trình mã hóa dữ liệu này sẽ giúp quá trình tóm tắt, nhập liệu và phân tích
dữ liệu khảo sát được dễ dàng, thuận tiện và hiệu quả hơn.
Đối với bảng hỏi khảo sát thái độ của đề tài này, chúng tôi đã có những mã
hóa trong thang đo định tính và và các câu chỉ khai báo biến trong thang đo định
lượng để dùng mã hóa dữ liệu nhập vào phần mềm Microsoft Excel 2010 và SPSS
22.0 như sau:
Phần A
* Mã hóa các câu trong thang đo định danh và thứ bậc. Bao gồm câu: 1, 2, 3,
4, 5 và 11 trong phần các câu hỏi chung của bảng hỏi khảo sát.
Cụ thể gán giá trị mã hóa của các câu trên như sau:
54
Bảng 2.4. Mã hóa và khai báo biến các câu 1, 2, 3, 4, 5, 11
1. Em học lớp mấy? 8 9 10 11 12
• Gán cho lớp 8 giá trị 1
• Gán cho lớp 9 giá trị 2
• Gán cho lớp 10 giá trị 3
• Gán cho lớp 11 giá trị 4
• Gán cho lớp 12 giá trị 5
2. Em học loại hình trường nào?
