intTypePromotion=3

Khóa luận tốt nghiệp: Khủng hoảng tài chính Mỹ và những tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Chia sẻ: Gdfb Gdfb | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:102

0
133
lượt xem
31
download

Khóa luận tốt nghiệp: Khủng hoảng tài chính Mỹ và những tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài Khủng hoảng tài chính Mỹ và những tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam nêu tổng quan về khủng hoảng tài chính Mỹ trong nền kinh tế thế giới. Tác động của cuộc khủng hoảng đến kinh tế Việt Nam và xuất nhập khẩu Việt Nam. Dự báo kinh tế Việt Nam, mục tiêu, định hướng phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam từ nay đến năm 2010. Giải pháp thúc đẩy xuất nhập khẩu tại Việt Nam trong khủng hoảng tài chính Mỹ.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp: Khủng hoảng tài chính Mỹ và những tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI  KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI VIỆT NAM Họ và tên sinh viên : T¹ H¶i Hµ Lớp : Anh 7 Khoá : 44 B Giáo viên hướng dẫn : TS. §ç H-¬ng Lan Hà Nội, tháng 5 năm 2009
  2. MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ...................................................................................... i DANH MỤC BẢNG BIỂU ............................................................................................ ii LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................................1 CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ .......................4 I. VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA MỸ TRONG NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI ..................4 1. Vị trí của Mỹ trong nền kinh tế thế giới ...............................................................4 2. Vai trò của Mỹ trong nền kinh tế thế giới.............................................................6 II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH, NGUYÊN NHÂN VÀ DIỄN BIẾN CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ ............................7 1. Một số vấn đề cơ bản về khủng hoảng tài chính ..................................................7 1.1. Khái niệm khủng hoảng tài chính.................................................................7 1.2. Các dấu hiệu của khủng hoảng tài chính .....................................................8 2. Nguyên nhân của khủng hoảng tài chính Mỹ ......................................................9 3. Diễn biến của khủng hoảng tài chính Mỹ .......................................................... 17 III. TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ ĐẾN NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI ..................................................................................................................... 18 1. Hậu quả của khủng hoảng tài chính đến nền kinh tế Mỹ..................................18 2. Hậu quả của khủng hoảng tài chính Mỹ đến nền kinh tế thế giới..................... 21 CHƢƠNG II. TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM ..................................................................27 I. ẢNH HƢỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM ................................................................................................................... 27 1. Tác động đến thị trường tài chính ......................................................................28 2. Tác động đến thị trường bất động sản................................................................ 30 3. Tác động đến thị trường chứng khoán ............................................................... 31 4. Tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài ......................................................... 33
  3. 5. Tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu ........................................................... 34 II. ẢNH HƢỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM ............................................................................... 35 1. Tình hình xuất nhập khẩu Việt Nam trước khủng hoảng tài chính Mỹ ............35 1.1. Tổng quan chung về hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam........................ 35 1.2. Xuất nhập khẩu Việt Nam giai đoạn 2001 – 2007......................................38 2. Xuất nhập khẩu Việt Nam trong khủng hoảng tài chính Mỹ............................. 43 2.1. Tình hình xuất khẩu................................................................................... 44 2.2. Tình hình nhập khẩu ................................................................................. 48 3. Những ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến hoạt động thương mại hai chiều Việt Nam – Mỹ ............................................................................................... 51 4. Đánh giá chung về những ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam ............................................................................. 54 CHƢƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ .................................................................................................................. 63 I. DỰ BÁO KINH TẾ VIỆT NAM VÀ MỤC TIÊU, ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010 63 1. Dự báo về tình hình kinh tế Việt Nam từ nay đến năm 2010 ............................. 63 2. Mục tiêu và định hướng của hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam từ nay đến năm 2010 ................................................................................................................. 65 II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI VIỆT NAM TRONG KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ ................... 70 1. Một số giải pháp từ phía Nhà nước ....................................................................71 1.1. Cơ cấu lại thị trường xuất khẩu ..................................................................71 1.2. Thúc đẩy các hoạt động xúc tiến thương mại ............................................. 77 1.3. Tiếp tục triển khai các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu ....................................78
  4. 1.4. Tăng cường công cụ ngân hàng để hỗ trợ bổ sung nguồn vốn cho các doanh nghiệp ......................................................................................................81 1.5. Giảm nhập khẩu, hạn chế nhập siêu........................................................... 82 2. Một số giải pháp với doanh nghiệp xuất nhập khẩu ..........................................83 2.1. Chủ động đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu .............................................. 83 2.2. Tăng cường hệ thống phân phối nhằm hạn chế tối đa hình thức xuất khẩu qua trung gian ....................................................................................................83 2.3. Tìm hiểu và nắm bắt sát nhu cầu và dung lượng thị trường ....................... 85 2.4. Triển khai tìm kiếm các thị trường tiềm năng mới......................................85 2.5. Tăng cường đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, chú trọng đổi mới công nghệ, thiết bị. ......................................................................................................85 2.6. Rà soát lại các hợp đồng đã ký ....................................................................85 KẾT LUẬN ................................................................................................................... 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 88
  5. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ADB: Ngân hàng phát triển Châu Á BTA: Hợp đồng thương mại Việt – Mỹ CDS: Hợp đồng bảo lãnh nợ khó đòi CEMAC: Cộng đồng kinh tế và tiền tệ Châu Phi CTCK: Công ty chứng khoán EPA: Hiệp định hợp tác toàn diện song phương Việt – Nhật FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FED: Cục dự trữ liên bang Mỹ GCC: Các nước thuộc hợp đồng hợp tác vùng vịnh GDCK: Giao dịch chứng khoán GDP: Tổng sản phẩm quốc nội IIF: Viện tài chính quốc tế ILO: Tổ chức Lao động quốc tế IMF: Tổ chức tiền tệ thế giới MBS: Chứng khoán phái sinh UAE: Tiểu vương quốc Arap thống nhất USDA: Bộ Nông nghiệp Mỹ WB: Ngân hàng thế giới WTO: Tổ chức Thương mại thế giới i
  6. DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1: Giá trị GDP của Mỹ giai đoạn 2004 – 2008 (đơn vị: nghìn tỷ USD) Hình 1.1: 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới năm 2007 (tính theo GDP/năm) Hình 1.2: Mô hình chứng khoán OTH Hình 1.3: Mô hình chứng khoán OTD Hình 1.4: Tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ giai đoạn 2000 – 2008 (đơn vị: %) Hình 2.1: Tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2000 – 2008 (đơn vị: %) Bảng 2.1: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 2001 – 2007 (đơn vị: triệu USD) Hình 2.2: Cơ cấu thị trường xuất khẩu Việt Nam năm 2008 (đơn vị: %) Bảng 2.2: Danh sách 10 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất năm 2008 (đơn vị: tỷ USD) Hình 2.3: Giá trị kim ngạch xuất khẩu 12 tháng năm 2008 và 2 tháng đầu năm 2009 (đơn vị: tỷ USD) Bảng 2.3: Kim ngạch các mặt hàng xuất khẩu chính trong 2 tháng đầu năm 2009 (đơn vị: triệu USD) Hình 2.4: Giá trị kim ngạch nhập khẩu 12 tháng năm 2008 và 2 tháng đầu năm 2009 (đơn vị: tỷ USD) Hình 2.5: Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (đơn vị: %) Bảng 2.4: Kim ngạch các mặt hàng nhập khẩu chính trong 2 tháng đầu năm 2009 (đơn vị: triệu USD) Bảng 2.5: Thương mại hai chiều Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 2000 – 2008 (đơn vị: tỷ USD) Hình 2.6: Tốc độ tăng trưởng kim ngạch thương mại hai chiều và kim ngạch xuất khẩu Việt – Mỹ (đơn vị: %) ii
  7. Bảng 2.6: Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang một số thị trường lớn qua các năm (đơn vị: %) Bảng 2.7: Thu hút và thực hiện vốn FDI giai đoạn 2001 – 2008 (đơn vị: tỷ USD) Bảng 3.1: Dự báo mức độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2009 (đơn vị: %) Bảng 3.2: Kim ngạch xuất khẩu nhóm nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2009 – 2010 (đơn vị: triệu USD, %) Phụ lục: Danh sách một số tổ chức tài chính lớn bị phá sản hoặc bị sát nhập trong cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ iii
  8. LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kể từ cuộc Đại suy thoái năm 1930, năm 2008, thế giới một lần nữa đang phải trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Bắt nguồn từ Mỹ và bùng nổ ở thị trường bất động sản, khủng hoảng tài chính Mỹ đã được Charles Dallara, giám đốc điều hành Viện Tài chính Quốc tế IIF - đại diện cho hơn 375 ngân hàng và định chế tài chính chủ chốt của thế giới - gọi là “cuộc suy thoái xảy ra cùng lúc trên toàn thế giới và nghiêm trọng nhất trong lịch sử kinh tế hiện đại”. Không mang tính khu vực như cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 hay cuộc khủng hoảng nợ ở Mỹ Latinh thập niên 1980; cũng không xảy ra trong bối cảnh đối lập giữa hai phe phái, như Chiến tranh Lạnh, mà trong đó nước nhỏ có thể được các nước lớn hơn trong phe hỗ trợ; cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ 2008 lần này là cuộc khủng hoảng toàn cầu, có khả năng lây lan từ khu vực này sang khu vực khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác. Với mức thiệt hại khổng lồ vượt ngoài mọi khuôn khổ đã có, nên không có bất cứ tổ chức quốc tế hay một quốc gia nào có thể ra tay cứu giúp. Điều duy nhất các quốc gia có thể làm chính là tự cứu mình và hợp tác để chống đổ vỡ thêm. Cho đến thời điểm hiện tại, hậu quả của khủng hoảng tài chính vẫn chưa thể thống kê hết. Mọi khía cạnh của nền kinh tế từ sản xuất, tiêu dùng, thương mại, thu nhập cá nhân, thị trường lao động, lạm phát đều chịu ảnh hưởng xấu. Thực tế cho thấy các nước càng phụ thuộc vào xuất khẩu thì càng chịu tác động sâu sắc hơn, do sự sụt giảm nghiêm trọng của thương mại toàn cầu. Xuất nhập khẩu Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Trong năm 2008 và những tháng đầu năm 2009, xuất nhập khẩu của nước ta đã chịu rất nhiều khó khăn do những tác động xấu trên thị trường thế giới như tăng giá, nhu cầu nhập khẩu giảm, bảo hộ gia tăng,… Xuất khẩu suy giảm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, vì vậy, việc tìm hiểu những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính đến xuất nhập khẩu cũng như tìm những giải pháp để hạn chế khó khăn trước mắt là nhiệm vụ quan trọng được đặt ra cho nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này. 1
  9. Bắt đầu từ năm 2007, khi khủng hoảng tài chính mới bắt đầu lộ diện, đã có khá nhiều những sách, báo, đề tài, bài viết, hay những cuộc hội thảo bàn về nguyên nhân, diễn biến, ảnh hưởng cũng như những giải pháp khắc phục những hậu quả mà khủng hoảng mang lại cho nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, do tính khách quan của khủng hoảng, các đề tài này chỉ tập trung vào những tác động tổng thể mà chưa khai thác đến những lĩnh vực cụ thể. Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Khủng hoảng tài chính Mỹ và những ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam” với mục đích có được cái nhìn bao quát hơn về khủng hoảng cũng như những tác động trực tiếp mà xuất nhập khẩu Việt Nam đang phải đối mặt trong bối cảnh sụt giảm của thương mại toàn cầu. 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu những lý luận cơ bản về khủng hoảng tài chính Mỹ và những tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ đến hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam, khóa luận đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng tài chính. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tương nghiên cứu: khủng hoảng tài chính Mỹ và những tác động cụ thể của khủng hoảng vào hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam Phạm vi nghiên cứu: tập trung nghiên cứu và phân tích những tác động của khủng hoảng vào hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam trong năm 2008 và 2 tháng đầu năm 2009, đặc biệt là hoạt động xuất khẩu. 4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài dựa trên lý luận cơ bản của kinh tế học hiện đại, phép biện chứng duy vật và căn cứ vào đường lối chính sách định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ hội nhập hiện nay. Khóa luận sử dụng các phương pháp điều tra, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp và đánh giá tài liệu. 2
  10. 5. Bố cục khóa luận Ngoài lời mở đầu, phụ lục, kết luận, danh mục bảng biểu, chữ viết tắt, tài liệu tham khảo; nội dung khóa luận gồm có 3 chương: Chƣơng I: Tổng quan về khủng hoảng tài chính Mỹ Chƣơng II: Tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ đến hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam Chƣơng III: Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng tài chính Mỹ 3
  11. CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ I. VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA MỸ TRONG NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI 1. Vị trí của Mỹ trong nền kinh tế thế giới Trải qua hơn 230 năm kể từ khi chính thức thành lập (năm 1776), nước Mỹ bước vào thế kỷ XXI với một nền kinh tế có quy mô lớn nhất thế giới. Đối mặt với những biến động và trở ngại to lớn trong suốt chiều dài lịch sử của mình – như hai cuộc chiến tranh thế giới, sự suy thoái toàn cầu nửa đầu thế kỷ XX, cuộc chiến tranh Lạnh trong 40 năm với Liên Xô, chiến tranh tại Iraq và Apganixtan, hay những đợt lạm phát sâu sắc, thất nghiệp cao, sự đổ vỡ của thị trường chứng khoán, sự trượt dốc thảm hại của bất động sản và thâm hụt ngân sách nặng nề của chính phủ trong nửa cuối thế kỷ XX – nước Mỹ vẫn giữ vững được vị trí số một của mình, tiếp tục duy trì là quốc gia thịnh vượng nhất hành tinh và là trung tâm thương mại, tài chính của thế giới. Theo các báo cáo xếp hạng của phòng Thương mại Việt - Mỹ, nền kinh tế này luôn là một trong những quốc gia giữ được các vị trí dẫn đầu trong các lĩnh vực [1]:  Đứng đầu thế giới về tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Với dân số khoảng 302 triệu người (chưa đến 5% dân số thế giới), nước Mỹ đã đóng góp 20 đến 30% vào GDP của toàn thế giới. Theo bản danh sách 10 quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới dựa trên số liệu GDP hàng năm do Ngân hàng Thế giới (World Bank) công bố trong 3 năm liên tiếp, kể từ năm 2004, Mỹ cũng luôn là quốc gia đứng đầu với GDP lớn nhất thế giới, cao hơn gấp 2 đến 3 lần nước đứng thứ hai – Nhật Bản. Bảng 1.1: Giá trị GDP của Mỹ giai đoạn 2004 - 2008 Đơn vị: nghìn tỷ USD Năm 2004 2005 2006 2007 2008 Giá trị GDP 11,66 12,36 13,13 13,80 14,26 Nguồn: Phòng thương mại Việt – Mỹ 4
  12. Hình 1.1: 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới năm 2007 (tính theo GDP/năm) 14 12 10 8 6 4 2 0 Mỹ Nhật Đức Tquốc Anh Pháp Italy TBNha Canada Brazil Giá trị GDP/năm Nguồn: Phòng thương mại Việt – Mỹ  Đứng đầu về tổng kim ngạch nhập khẩu, khoảng 2,2 nghìn tỷ đôla, gấp 3 lần kim ngạch nhập khẩu của nước đứng thứ hai là Đức (năm 2006).  Đứng thứ hai về xuất khẩu hàng hóa, khoảng 1 nghìn tỷ đôla sau Đức và đứng thứ nhất về xuất khẩu dịch vụ với 422 tỷ đôla (năm 2006).  Đứng thứ nhất về thâm hụt thương mại với 785,5 tỷ đôla, chiếm 5,7% GDP, lớn hơn rất nhiều lần so với các quốc gia khác (năm 2006).  Đứng đầu trong các quốc gia thu hút nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh và bất động sản, đạt khoảng 177,3 tỷ đôla (năm 2006).  Đứng thứ năm về tài sản dự trữ quốc gia với 188,3 tỷ đôla, chiếm 4% thị phần thế giới (năm 2007) sau Nhật Bản (18%), Trung Quốc (18%), Đài Loan, Hàn Quốc và Liên Bang Nga.  Đứng thứ ba về môi trường kinh doanh thông thoáng, sau Singapore và New Zealand (năm 2007).  Đứng đầu về nợ nước ngoài, khoảng hơn 10 nghìn tỷ đôla (năm 2006) và khoảng 12 nghìn tỷ đôla (năm 2007) tương đương 88% GDP của nước này. 5
  13.  Đứng thứ 20 trên 163 về các chỉ số Minh bạch quốc tế (năm 2007). Đây là các chỉ số nhằm đo lường mức độ tham nhũng (chỉ số càng thấp được xem là ít tham nhũng hơn). 2. Vai trò của Mỹ trong nền kinh tế thế giới Là một trong nhóm 7 quốc gia có nền công nghiệp hàng đầu thế giới (nhóm G7) bao gồm Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Canada; nền kinh tế Mỹ chiếm vị trí quan trọng và có vai trò lãnh đạo nền kinh tế toàn thế giới. Về thương mại, đây là thị trường xuất khẩu chính của hơn 200 nước, đồng thời cũng là thị trường tiêu thụ và thu hút vốn đầu tư nước ngoài hàng đầu. Thương mại Mỹ chiếm gần 50% sản lượng công nghiệp, gần 20% trị giá xuất khẩu của thế giới [1]. Hàng năm Mỹ xuất khẩu gần 900 tỷ USD, nhập khẩu gần 1300 tỷ USD. Về chính trị, Mỹ nắm giữ vai trò quyết định, chi phối hoạt động của các định chế tài chính và thương mại quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức tiền tệ thế giới (IMF) hay Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB),… Có thể nói, Mỹ là nền kinh tế giao thương của các nền kinh tế, là nơi tập trung sản phẩm, công nghệ hàng đầu và luôn có tầm ảnh hưởng nhất định đến chính sách cũng như kinh tế của các quốc gia khác trên thế giới, nhất là trong bối cảnh các quốc gia đều tự đặt cho mình những mối quan hệ song phương, đa phương trên diện rộng. Sự đổ vỡ của bất kỳ quốc gia nào cũng có nguy cơ tạo thành sự sụp đổ của cả "ván bài đomino" trên quy mô lớn, đặc biệt khi sự đổ vỡ lại bắt nguồn từ quốc gia có vai trò chủ chốt như Mỹ. Bài học từ cuộc khủng hoảng công nghệ giai đoạn 2000 – 2001 là một ví dụ điển hình. Bắt nguồn tại Mỹ, nhưng hậu quả của nó đã ảnh hưởng đến hầu hết các quốc gia phát triển và đang phát triển tại Châu Âu cũng như Châu Á, tạo ra một làn sóng phá sản của các công ty công nghệ và tin học trên thế giới, dẫn đến sự suy giảm của tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2001. Qua gần một thập kỷ, năm 2008, thế giới một lần nữa phải trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng mà hậu quả của nó vẫn chưa lường hết được cho đến thời điểm này. Đó là cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ sự đổ vỡ của thị trường bất động sản tại Mỹ và đang trở thành một cuộc suy thoái toàn cầu. 6
  14. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH, NGUYÊN NHÂN VÀ DIỄN BIẾN CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ 1. Một số vấn đề cơ bản về khủng hoảng tài chính Khái niệm khủng hoảng tài chính Năm 2008, thế giới phải trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Sự phá sản của hàng loạt các doanh nghiệp cùng hàng trăm tỷ đôla tiêu tan đã kéo theo sự đóng băng nhiều khu vực của thị trường tài chính và làm đình trệ một nền kinh tế được coi là hùng mạnh nhất thế giới – Hoa Kỳ. Khác với những cuộc khủng hoảng theo chu kỳ vẫn ảnh hưởng tới các phân khúc nhất định của hệ thống tài chính từ những năm 1930 – như cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng quốc tế vào năm 1982, khủng hoảng quỹ tín dụng vào năm 1986, sụp đổ bảo hiểm danh mục đầu tư vào năm 1987, khủng hoảng các thị trường mới nổi năm 1997, thất bại của Quỹ Quản lý Vốn Dài hạn năm 1998, và bong bóng công nghệ năm 2000; cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 có một đặc điểm hoàn toàn khác. Nếu những khủng hoảng theo chu kỳ là một phần của quá trình bùng vỡ thì khủng hoảng hiện tại lại là đỉnh điểm của một bùng phát đã kéo dài trong hơn hai mươi lăm năm. Nó lan từ phân khúc này sang phân khúc khác của thị trường, không khu biệt vào một công ty hay một phân khúc đặc thù nào của hệ thống tài chính. Khủng hoảng 2008 đẩy toàn hệ thống đến bờ sụp đổ và việc kiềm chế nó hiện nay là nhiệm vụ cấp bách được đặt ra không chỉ cho chính phủ Mỹ mà còn cho chính phủ của các quốc gia trên toàn thế giới. Tài chính hiểu theo nghĩa rộng là tập hợp các quỹ tiền tệ cùng với các mối quan hệ giữa chúng. Trong nền kinh tế thị trường luôn có sự luân chuyển các luồng vốn tiền tệ và trong quá trình đó hình thành các quỹ tiền của tất cả các chủ thể trong xã hội mà giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên một hệ thống tài chính. Đó là nơi vốn được chuyển từ những người hiện dư thừa vốn sang những người thiếu vốn, là tổng hòa các quan hệ cung – cầu về vốn trong nền kinh tế [5, tr5] 7
  15. Tóm lại: Thị trường tài chính là thị trường mà tại đó diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán các nguồn vốn thông qua những phương thức giao dịch và công cụ tài chính nhất định nhằm mục đích thu lợi nhuận của các chủ thể kinh tế. Khủng hoảng tài chính là vấn đề mà bất kì quốc gia nào cũng có nguy cơ gặp phải trong quá trình phát triển của mình. Việc đưa ra một khái niệm cũng như những đặc điểm và những giải pháp ngăn chặn các cuộc khủng hoảng tài chính hiện vẫn là một bài toán lớn chưa có lời giải thống nhất của các nhà kinh tế học. Tuy nhiên, hiện nay, định nghĩa về khủng hoảng tài chính sau vẫn được đa số quốc gia chấp nhận [5, tr5] Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hoặc một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình. Hiểu đơn giản hơn, đó là tình huống trong đó có một bộ phận lớn các ngân hàng của một quốc gia đột ngột mất khả năng thanh toán cũng như khả năng trả nợ; tức là khi tình trạng tài chính (các dòng tiền vào/ ra; nhận/ thanh toán;… hình thành tài sản có, tài sản nợ) mất cân đối nghiêm trọng có thể dẫn đến sụp đổ quỹ. Điều này bắt nguồn từ các vụ phá sản, kinh doanh thua lỗ và các vấn đề chi tiêu của Chính phủ. Bản thân Chính phủ cũng gặp khó khăn trong việc tìm tài trợ khi mất khả năng thanh toán do những kỳ vọng không mấy sáng sủa, mặc dù trong điều kiện bình thường nền kinh tế hoàn toàn có khả năng chi trả. Sự mất khả năng thanh toán này thường có tính chất lan truyền kéo theo sự suy giảm của các thành phần kinh tế khác và hậu quả là cả nền kinh tế suy thoái nặng nề. Các dấu hiệu của khủng hoảng tài chính Khủng hoảng tài chính thực chất là khủng hoảng tiền tệ, là hậu quả của sự rối loạn nặng nề của hai bộ phận quan trọng của thị trường tái chính là hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán. Khi một quốc gia đang rơi vào khủng hoảng, có thể nhận thấy các biểu hiện sau thường xảy ra:  Sự mất giá nhanh chóng của đồng tiền so với các ngoại tệ mạnh (như USD, EUR…) dẫn đến sự chao đảo của thị trường chứng khoán: giá chứng khoán sụt giảm, thu hẹp thị trường phát hành;  Về phía ngân hàng: 8
  16. - Ngân hàng thương mại không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền; - Các khách hàng vay vốn, gồm cả các khách hàng hạng A, cũng không thể hoàn đủ các khoản vay cho ngân hàng;  Vay nợ nước ngoài tăng nhanh;  Sự rút vốn ồ ạt của các nhà đầu tư nước ngoài khi có biểu hiện mất giá đồng nội tệ; người gửi tiền ngân hàng cũng đồng loạt rút tiền từ ngân hàng, thu hẹp đáng kể quy mô tín dụng;  Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định. 2. Nguyên nhân của khủng hoảng tài chính Mỹ Tìm hiểu một số khái niệm và đặc điểm cơ bản của khủng hoảng tài chính để thấy rằng cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ không phải là quá bất ngờ với giới tài chính Mỹ nói riêng và thế giới nói chung. Chính những rủi ro liên tiếp của hệ thống tài chính – ngân hàng và những nguyên nhân mà thực chất là hệ quả của nhau đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tất yếu này. Cho đến thời điểm 2009; tức là sau 1 năm khi cuộc khủng hoảng chính thức lộ diện, khi chính phủ Mỹ đã phần nào khống chế được cục diện và nền kinh tế Mỹ đang có dấu hiệu phục hồi; chính là lúc cần giải đáp cho câu hỏi "Nguyên nhân nào đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính – đã làm tê liệt nền kinh tế của một cường quốc như Mỹ". Các chuyên gia kinh tế đã đưa ra rất nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân bắt nguồn từ sai lầm trong việc điều hành thị trường của Mỹ. Tựu chung lại, trong phạm vi của đề tài này, chúng ta có thể bàn đến 2 nguyên nhân được coi là trực tiếp nhất dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính 2008: Thứ nhất, đó là sự mất cân bằng của nền kinh tế vĩ mô Kể từ thập niên 1980, thị trường tài chính Mỹ và thế giới đã phát triển các công cụ chứng khoán phái sinh và mở rộng hoạt động chứng khoán hóa các khoản nợ và đầu tư. Chứng khoán phái sinh và chứng khoán hóa, mặc dù giúp tăng nguồn tài chính và phân tán rủi ro, song nó cũng dẫn đến việc giá cả của trái phiếu và cổ phiếu ngày càng xa rời giá trị đích thực của tài sản bảo đảm. Cùng lúc đó, vai trò của nền kinh tế tài chính cũng 9
  17. được khuếch đại, làm xuất hiện một tầng lớp rất đặc trưng là các nhà tư bản tài chính, ngày càng lớn lên cả về số lượng, chất lượng và sự giàu có. Các định chế tài chính, các quỹ tài chính cũng vì thế mà xuất hiện một cách vô chính phủ. Không một cơ quan nhà nước, đơn vị kiểm toán hay phân tích tín dụng và tài chính nào có đủ thông tin và khả năng để đánh giá chính xác giá trị và độ rủi ro của các khoản đầu tư và tài sản nằm trên sổ sách của các tổ chức tài chính – ngân hàng này. Sai lầm của Chính phủ Mỹ bắt đầu từ việc để thị trường tự do quá tầm kiểm soát của mình, hệ thống giám sát tài chính tỏ ra lỏng lẻo, bất lực và có quy mô quá hạn chế. Bên cạnh đó, năm 2001, sau khi khủng hoảng bong bóng công nghệ (năm 2000) và cuộc tấn công khủng bố 11/9 (năm 2001), Cục Dữ trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã liên tục hạ thấp và duy trì lãi suất trong một thời gian dài để giúp nền kinh tế khỏi trì trệ. Vào giữa năm 2000, lãi suất cơ bản của Fed là trên 6%, nhưng sau đó lãi suất này liên tục bị cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì còn 1% và giữ ở mức đó cho đến tháng 6/2004 [20]. Chính sự kết hợp của lãi suất thấp cùng với tình trạng thừa thanh khoản trên thị trường và sự giám sát lỏng lẻo của Chính phủ đã tạo ra sự bùng nổ trong lĩnh vực vay tín dụng trên thị trường bất động sản Mỹ năm 2008. Thứ hai, đó là sự phát triển của thị trường tài chính dẫn đến sự hình thành "siêu bong bóng" trong lĩnh vực tài chính và bất dộng sản. Có hai nguyên nhân hình thành nên bong bóng trên thị trường tài chính và bất động sản: đó là giá bất động sản tăng quá nhanh và sự ra đời của nghiệp vụ chứng khoán hóa.  Giá bất động sản tăng quá nhanh Từ lâu nay, đa số người Mỹ vay tiền từ các ngân hàng để mua nhà, và đến thời hạn hợp đồng từ 10 đến 30 năm sẽ phải trả cả lãi lẫn vốn. Chính vì vậy, có một mối liên hệ chặt chẽ giữa tình hình lãi suất với thị trường bất động sản. Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người dân đổ xô mua nhà, đẩy giá nhà lên cao; khi lãi suất cao thì giá nhà xuống thấp. Do đó quyết định hạ lãi suất xuống còn 1% của Fed vào năm 2001 đã khiến thị trường bất động sản của Mỹ bùng nổ. Lãi suất giảm dẫn đến việc các ngân hàng cũng hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản và tiền vay rẻ đã sinh ra bong bóng địa ốc. Nhu 10
  18. cầu nhà ở lên cao đỉnh điểm trong những năm 2001 – 2005. Giá nhà bình quân tăng đến 54% chỉ trong vòng 4 năm. Cùng giai đoạn này, theo thống kê, giá thị trường của những căn nhà có sẵn đã tăng hơn 50%. Năm 2005, 40% nhà mua vào không phải để làm nơi ở thường xuyên mà để đầu tư hoặc làm căn thứ hai; ước tính khoảng một nửa tăng trưởng GDP của Mỹ có dính líu đến nhà cửa cho dù là trực tiếp hay gián tiếp. Theo Martin Feldstein - cựu chủ tịch của Hội đồng Cố vấn Kinh tế - ước tính rằng từ năm 1997 tới năm 2006, người tiêu dùng đã rút ra hơn 9 ngàn tỉ đôla từ giá trị chủ sở hữu của họ trong nhà mua thế chấp. Một nghiên cứu khác do Cục Dữ trữ Liên bang tiến hành vào năm 2005, đã chỉ ra rằng suốt những năm 2000, tiền rút ra từ giá trị trong nhà mua thế chấp đã tài trợ cho 3% tiêu dùng cá nhân; và vào quý đầu 2006, tiền rút ra từ giá trị trong nhà thế chấp đã đóng góp gần 10% cho thu nhập khả dụng của cá nhân [6, tr21] Giá nhà tăng cao đã sinh ra đầu cơ, và theo giáo sư kinh tế học N.Gregory Mankiw: "Vấn đề cơ bản mà hệ thống tài chính Mỹ gặp phải là có rất nhiều người tin chắc rằng giá địa ốc không thể nào rớt đến 20% được". Hệ quả là người dân Mỹ sẵn sàng mua nhà với giá cao, bất kể giá trị thực và khả năng trả nợ sau này, vì họ nghĩ rằng nếu cần sẽ bán lại để trả nợ ngân hàng mà vẫn có lời. Có quá nhiều người kỳ vọng giống nhau nhưng lại phải đối mặt với tình hình thực tế trái ngược, khiến cho hệ thống tài chính sụt giảm nhanh chóng chỉ trong một thời gian ngắn. Đây chính là nguyên nhân đầu tiên làm thành hình một bong bóng trong thị trường bất động sản.  Sự ra đời của chứng khoán hóa dẫn đến cuộc khủng hoảng nợ dƣới chuẩn  Một số khái niệm cơ bản: Chứng khoán hóa (Securitisation) ra đời năm 1977 tại Mỹ song thực sự phát triển mạnh từ thập kỷ 90; là quá trình huy động vốn bằng cách sử dụng các tài sản có sẵn trên bảng cân đối kế toán làm tài sản đảm bảo cho việc phát hành các loại chứng khoán nợ. Có thể nói, chứng khoán hóa là quá trình phát hành chứng khoán nợ trên cơ sở đảm bảo bởi các dòng tiền mặt tương lai sẽ thu được từ một nhóm tài sản tài chính sẵn có [19]. Các tài sản tài chính có thể dùng để chứng khoán hóa rất đa dạng bao gồm các khoản cho vay thế chấp mua nhà, các khoản cho vay thương mại, các khoản phải thu thương mại, 11
  19. danh mục các khoản cho vay thẻ tín dụng, danh mục nợ dưới chuẩn, các trái phiếu hạng đầu cơ hay các khoản cho vay bất động sản thương mại. Chứng khoán hóa được đặt niềm tin là sẽ giúp giảm rủi ro thông qua phân hạng rủi ro và đa dạng hóa trên cơ sở vị trí địa lý. Nhưng trên thực tế biện pháp này lại làm gia tăng rủi ro do chúng đã chuyển quyền sở hữu của những khoản vay thế chấp từ những ngân hàng biết rõ khách hàng của mình sang những nhà đầu tư không rõ nguồn gốc. Nợ dưới chuẩn (Subprime) là các khoản cho vay với các đối tượng có mức tín nhiệm thấp. Theo cẩm nang hướng dẫn của Bộ tài chính Mỹ năm 2001, những đối tượng đi thuộc nhóm nợ dưới chuẩn thường là người nghèo, không có công ăn việc làm ổn định, vị thế xã hội thấp hoặc có quá khứ tín dụng yếu kém như thường có những khoản thanh toán quá hạn, và có thể có những vấn đề nghiêm trọng như phải ra tòa, phá sản. Những đối tượng này cũng có thể có khả năng thanh toán thấp xét trên những chỉ số như điểm tín dụng, tỷ lệ nợ trên thu nhập hoặc một số tiêu chí khác…[19]. Do đó họ rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng truyền thống chỉ dành cho những đối tượng trên chuẩn. Không có một tài liệu chính xác nào quy định cụ thể về người đi vay dưới chuẩn nhưng ở Mỹ hầu hết những người vay này có điểm tín dụng thấp hơn 620, chiếm gần 25% dân số Mỹ. Chính vì vậy, nợ dưới chuẩn có mức độ rủi ro tín dụng rất cao song bù lại có mức lãi suất rất hấp dẫn. Như đã đề cập ở trên, kể từ khi lãi suất cơ bản được điều chỉnh xuống rất thấp, các điều kiện cho vay để mua nhà ngày càng được nới lỏng, chính sách chung của chính phủ Mỹ lúc bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo và các nhóm dân da màu, dân nhập cư vào Mỹ được vay tiền để mua nhà. Đây chính là nhóm người thuộc vào thành phần được cho vay với loại lãi suất dưới chuẩn. Khủng hoảng nợ dưới chuẩn bắt nguồn từ sự bất cân đối về nguồn vốn tín dụng toàn cầu. Trong khi nguồn vốn tín dụng gia tăng từ các chính sách tiền tệ mở thì nhu cầu huy động vốn của các doanh nghiệp sau các bê bối tài chính Mỹ và khủng hoảng các công ty công nghệ thông tin từ năm 2001 lại suy giảm. Các chính phủ cũng ngày càng kiểm soát thâm hụt ngân sách để tránh việc vay nguồn vốn bên ngoài. Sự bất cân đối cung cầu về vốn dẫn đến việc thừa các nguồn vốn mà thị trường không sử dụng hiệu quả. 12
  20. Cho vay nợ dưới chuẩn là một giải pháp hữu hiệu để giải quyết bài toán thừa vốn nhằm tối đa hóa lợi nhuận.  Quá trình chứng khoán hóa: Chứng khoán hóa tồn tại dưới hai dạng: OTH (Orginate to hold) và OTD (Orginate to Distribute). Về nguyên tắc, các ngân hàng sẽ thực hiện cho vay bất động sản theo phương thức OTH. Theo đó, các khoản sau khi cho người dân vay sẽ được giữ nguyên tại ngân hàng theo sơ đồ khép kín sau: Hình 1.2: Mô hình chứng khoán hóa OTH (2) Ngƣời đi vay mua nhà (1) Ngân hàng (1): Khoản tiền mà người vay đi mua nhà phải hoàn trả lại cho ngân hàng (cả gốc lẫn lãi) (2): Tài sản thế chấp do người đi vay thế chấp cho ngân hàng Với mô hình OTH, chỉ có 2 đối tượng tham gia trong công cụ tài chính này. Tuy nhiên, những người đi vay mua nhà trong mô hình OTH cần phải đảm bảo đủ tiêu chuẩn cho vay (có khả năng tín dụng cao và có khả năng trả nợ). Tiêu chuẩn khắt khe cộng với lãi suất cho vay thấp đồng nghĩa với khả năng sinh lời thấp. Những người cho vay dần nới lỏng các tiêu chuẩn, sáng chế ra nhiều phương cách mới để kích thích kinh doanh và khuyến khích cả những người không đủ khả năng tài chính cũng đi vay tiền để mua nhà. Đó là các đối tượng thuộc nhóm "nợ dưới chuẩn". Mô hình OTH chuyển thành mô hình OTD. 13
ANTS
ANTS

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản