
► CHUYÊN ĐỀ LAO ►
97
PHARMACISTS' KNOWLEDGE, ATTITUDES AND CHALLENGES TOWARDS
COUNTERFEIT MEDICINE IN HO CHI MINH CITY: A CROSS-SECTIONAL STUDY
Tran Minh Thanh1, Vo Thi Bach Hue1, Vo Quang Trung2*, Doan Thao An2,
Huynh Thu Nguyet2, Ngo Hoang Yen Nhi3, Ngo Dinh Nhan3, Tran Quang Thai4
1Faculty of Pharmacy, Lac Hong University - No. 10, Huynh Van Nghe, Buu Long Ward, Dong Nai Province, Vietnam
2Faculty of Pharmacy, Pham Ngoc Thach University of Medicine -
02 Duong Quang Trung, Hoa Hung Ward, Ho Chi Minh City, Vietnam
3Ministry Office, Ministry of Health - No. 138A Giang Vo, Giang Vo Ward, Hanoi City, Vietnam
4Faculty of Pharmacy, Cuu Long University - National Highway 1A, Phu Quoi Commune, Vinh Long Province, Vietnam
Received: 17/04/2025
Revised: 12/05/2025; Accepted: 09/07/2025
ABSTRACT
Background: Counterfeit medicines (CFM) cause serious health consequences, increase
economic and social burdens and affect the reputation of national health systems.
Understanding the importance of pharmacists, their level of knowledge, attitude and
challenges of CFM and influencing factors is essential for effective CFM prevention
solutions.
Objective: To survey pharmacists’ knowledge, attitudes and challenges on CFM in Ho Chi
Minh City.
Method: A cross-sectional study was conducted on 398 pharmacists in Ho Chi Minh
City in December 2024. The study used an online survey questionnaire, attitudes and
perspectives were responded to via a 5-point Likert scale, attitude questions were
evaluated for consistency using Cronbach's alpha. Descriptive statistics and univariate
regression analysis were used to analyze the data, with p < 0.05 indicating a statistical
significance.
Results: The majority of pharmacists (64.1%) had received any training on CFM. The main
sources of information about CFM were their practice and the media (67.6%). The majority
of pharmacists had knowledge and understanding of CFM, and the mean score of
participants’ attitudes towards CFM was 19.1/25. Poor cross-border enforcement was
considered a challenge in CFM prevention. Years of experience, previous training and
pharmacy ownership influenced the mean score of pharmacist attitudes.
Conclusion: The study revealed findings on pharmacists’ knowledge, attitude and
challenges regarding CFM in Ho Chi Minh City. Strengthening the strength of the legal
system along with close coordination of management agencies is an effective solution in
preventing CFM.
Keywords: Attitudes, challenges, counterfeit medicine, Ho Chi Minh City, knowledge.
Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, No. 4, 97-105
*Corresponding author
Email: trungvq@pnt.edu.vn Phone: (+84) 988422654 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66i4.2878

www.tapchiyhcd.vn
98
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THÁCH THỨC CỦA DƯỢC SĨ
VỀ THUỐC GIẢ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2024
Trần Minh Thanh1, Võ Thị Bạch Huệ1, Võ Quang Trung2*, Đoàn Thảo Ân2,
Huỳnh Thu Nguyệt2, Ngô Hoàng Yến Nhi3, Ngô Đình Nhân3, Trần Quang Thái4
1Khoa Dược, Trường Đại học Lạc Hồng - Số 10, Huỳnh Văn Nghệ, P. Bửu Long, Tỉnh Đồng Nai, Việt Nam
2Khoa Dược, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch - 02 Dương Quang Trung, P. Hòa Hưng, Tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam
3Văn phòng Bộ, Bộ Y tế - Số 138A Giảng Võ, P. Giảng Võ, Tp. Hà Nội, Việt Nam
4Khoa Dược, Trường Đại học Cửu Long - Quốc Lộ 1A, Xã Phú Quới, Tỉnh Vĩnh Long, Việt Nam
Ngày nhận: 17/04/2025
Ngày sửa: 12/05/2025; Ngày đăng: 09/07/2025
ABSTRACT
Mở đầu: Thuốc giả (Counterfeit medicines - CFM) gây ra những hậu quả nghiệm trọng lên
sức khỏe, kinh tế - xã hội và uy tín của hệ thống y tế quốc gia. Hiểu được tầm quan trọng
của dược sĩ, mức độ hiểu biết, thái độ và thách thức của dược sĩ về CFM cùng các yếu tố
ảnh hưởng để có những giải pháp phòng chống CFM hiệu quả.
Mục tiêu: Khảo sát kiến thức, thái độ và thách thức của dược sĩ về CFM tại Thành phố Hồ
Chí Minh.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 398
dược sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh trong tháng 12/2024. Bộ câu hỏi khảo sát trực tuyến,
thái độ và thách thức được phản hồi thông qua thang đo Likert-5 điểm, câu hỏi được đánh
giá tính nhất quán bằng Cronbach’s alpha. Thống kê mô tả và phân tích hồi quy nhị phân
được sử dụng để phân tích dữ liệu, với p < 0,05 biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Kết quả nghiên cứu: Phần lớn dược sĩ (64,1%) đã từng được đào tạo về CFM. Nguồn thông
tin chính về CFM là quá trình hành nghề và các phương tiện truyền thông (67,6%). Phần lớn
dược sĩ có kiến thức và hiểu biết về CFM, điểm trung bình thái độ của người tham gia về
CFM là 19,1/25 điểm. Việc thực thi pháp luật xuyên biên giới kém được xem là thách thức
trong phòng chống CFM. Số năm kinh nghiệm, đã được đào tạo trước đó và chủ nhà thuốc
có ảnh hưởng đến điểm trung bình thái độ của dược sĩ.
Kết luận: Nghiên cứu chỉ ra những phát hiện trong kiến thức, thái độ và thách thức của
dược sĩ về CFM. Tăng cường sức mạnh của hệ thống luật pháp và giáo dục là giải pháp hiệu
quả trong phòng chống CFM.
Từ khóa: Kiến thức, thái độ, thuốc giả, thách thức, Thành phố Hồ Chí Minh.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc giả (Counterfeit medicines - CFM) là các
thuốc được sản xuất nhằm giả mạo và che dấu về
danh tính và nguồn gốc của thuốc, bao gồm các
sản phẩm không có dược chất; có dược chất không
đúng hoặc đúng nhưng không đủ hàm lượng; hoặc
có bao bì giả [1]. Sử dụng CFM có thể dẫn đến thất
bại điều trị, kháng thuốc làm tăng chi phí y tế hoặc
thậm chí là tử vong [2]. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
ước tính khoảng 10,5% thuốc ở các nước thu nhập
thấp và trung bình là các thuốc không đạt tiêu chuẩn
và CFM vào năm 2017 [3]. Trong đó, 19,1% làm giả
thuốc chống sốt rét và 12,4% làm giả kháng sinh
được báo cáo trong nghiên cứu của Ozawa (2018)
[2]. Tại Việt Nam, Định hướng công tác Kiểm tra
và giám sát chất lượng thuốc năm 2020 cho biết
tỷ lệ CFM thấp hơn so với các nước trong khu vực.
Tuy nhiên, một số lượng CFM đáng kể vẫn thường
xuyên được báo cáo [4]. Trước bối cảnh đó, nghiên
cứu của Mdege (2015) tại Zimbabwe đã chứng minh
tầm quan trọng của dược sĩ trong vai trò quản lý
chuỗi cung ứng và ngăn chặn CFM [5]. Đã có các
nghiên cứu báo cáo kiến thức, thái độ và ghi nhận
những thách thức trong công tác phòng chống CFM
của dược sĩ. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy
V.Q. Trung et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, No. 4, 97-105
*Tác giả liên hệ
Email: trungvq@pnt.edu.vn Điện thoại: (+84) 988422654 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66i4.2878

99
nhiều dược sĩ có kiến thức hạn chế và chưa được
đào tạo về CFM [6,7].
CFM là vấn đề toàn cầu và cấp thiết đối với sức khỏe
cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội. Trong khi đó,
Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là trung tâm kinh
tế, thương mại và dịch vụ lớn của cả nước, nhu cầu
đối với dịch vụ khám chữa bệnh và thị trường dược
phẩm ngày càng tăng sẽ là cơ hội cho các tội phạm
thuốc giả hành động. Việc đánh giá kiến thức, thái
độ của dược sĩ và xác định được những thách thức
về CFM giữ vai trò quan trọng trong việc đề xuất các
chính sách nhằm nâng cao nhận thức và phòng
chống CFM hiệu quả. Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên
cứu nào đánh giá kiến thức, thái độ của dược sĩ và
chỉ ra các thách thức trong việc đẩy lùi thực trạng
CFM ở Việt Nam. Do đó, nghiên cứu được thực hiện
với mục tiêu khảo sát kiến thức, thái độ và thách
thức của CFM ở dược sĩ tại TP.HCM.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu
tiến hành thu thập số liệu trong tháng 12/2024 tại
Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Đối tượng nghiên cứu:
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Dược sĩ làm việc trong ngành
dược tại TP.HCM và có thể truy cập vào nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ: (1) Phiếu khảo sát phản hồi
không điền đầy đủ thông tin khảo sát; (2) Người tham
gia trả lời 1 đáp án hoặc zigzắc.
2.3. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô
tả.
2.4. Cỡ mẫu: Nghiên cứu ước tính cỡ mẫu tối thiểu
theo hướng dẫn của WHO[8] như sau:
n = Z21-α/2
p(1 - p) = 1,9620,5 (1 - 0,5) = 385
d20,052
Trong đó:
+ Z1-α/2: phân phối chuẩn với độ tin cậy 95% (Z1-α/2 =
1,96);
+ P: tỷ lệ dược sĩ có kiến thức và thái độ tốt về CFM
(giả thuyết là 50%);
Cỡ mẫu tối thiểu cần thu thập là 385. Khi thực hiện
khảo sát, 398 dược sĩ đáp ứng đầy đủ các tiêu chí lựa
chọn đã được đưa vào nghiên cứu.
2.5. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi trực tuyến
được xây dựng từ các nghiên cứu đã thực hiện ở
Ethiopia1,6, Nigeria7 và được điều chỉnh phù hợp
với văn hóa - xã hội Việt Nam. Bộ câu hỏi bao gồm
bốn phần (20 câu): (1) Thông tin chung của người
tham gia; (2) Kiến thức của dược sĩ về CFM; (3) Thái
độ của dược sĩ về CFM và (4) Những thách thức liên
quan đến việc giảm thiểu lưu hành CFM. Các câu hỏi
kiến thức gồm hai lựa chọn “Đúng”/”Sai” với đáp án
sẵn có. Trả lời đúng với đáp án được xếp vào nhóm
kiến thức đúng và ngược lại. Các câu hỏi về thái
độ và thách thức được đánh giá bằng thang điểm
Likert-5, với năm mức lựa chọn từ “hoàn toàn đồng
ý” đến “hoàn toàn không đồng ý”, tương ứng với điểm
số từ 5 đến 1 cho từng câu, trừ các câu hỏi biểu thị
thái độ tiêu cực được tính điểm theo cách ngược lại.
Điểm trung bình được sử dụng để đánh giá thái độ
chung, dược sĩ đạt điểm trên hoặc bằng điểm trung
bình được phân loại là có thái độ tốt đối với CFM.
Nghiên cứu thẩm định bộ câu hỏi về thái độ trên 15
người tham gia bằng chỉ số Cronbach’s alpha, với hệ
số lớn hơn 0,7 thể hiện tính nhất quán giữa các câu
hỏi. Phần mềm SPSS phiên bản 26.0 được sử dụng
để mô tả tần suất và tỷ lệ phản hồi của dược sĩ. Hồi
quy nhị phân logistic được sử dụng để so sánh sự
khác biệt trong tỷ lệ phản hồi thái độ của dược sĩ. Giá
trị p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê.
2.6. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã được Hội đồng Y đức của Trường
Đại học Y tế Công cộng thông qua (Số 455/2024/
YTCC-HD3). Tất cả dược sĩ xác nhận tham gia bằng
phiếu đồng ý có cung cấp mục đích và ý nghĩa của
nghiên cứu. Nghiên cứu chỉ quan sát mà không can
thiệp nên không ảnh hưởng đến sức khỏe của người
tham gia.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1 trình bày đặc điểm của 398 dược sĩ đang
làm việc tại TP.HCM tham gia khảo sát. Phần lớn
dược sĩ thuộc nhóm tuổi 23-34 (49,5%), 75,6% có
trình độ đại học và sau đại học, chủ yếu là dược
sĩ cộng đồng (57,3%), có 5 đến dưới 15 năm kinh
nghiệm làm việc (40,7%) và 64,8% đã qua đào tạo
CFM trước đó. Các dược sĩ cộng đồng làm việc tại
nhà thuốc/ quầy thuốc tư nhân chiếm 53,3% và
59,2% giữ vai trò nhân viên, trung bình mỗi ngày
dược sĩ sẽ tiếp đón 20-50 khách hàng (39,0%). Hình
1 biểu diễn tỷ lệ phản hồi của dược sĩ về các nguồn
thông tin liên quan đến CFM. Phần lớn (67,6%) dược
sĩ cập nhật các thông tin về CFM trong khi hành nghề
và từ các phương tiện truyền thông/ mạng xã hội.
Bảng 2 trình bày tỷ lệ phản hồi về kiến thức đối với
CFM của dược sĩ. Tỷ lệ phản hồi đúng của dược sĩ
cao nhất ở các câu hỏi K4 (98,2%), K7 (97,5%), K9
(97,0%) và K5 (94,5%). Tuy nhiên, câu hỏi K3 và K6
có tỷ lệ phản hồi sai cao lần lượt là 45,2 % và 40,5%.
Bảng 3 cho biết mức độ đồng ý của dược sĩ về thái
độ đối với CFM. Điểm thái độ trung bình của dược
sĩ là 19,1/25. Các câu hỏi liên quan đến thái độ tích
V.Q. Trung et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, No. 4, 97-105

www.tapchiyhcd.vn
100
cực A1, A2 có tỷ lệ phản hồi hoàn toàn đồng ý cao
(82,2 %) . Ngược lại, các câu hỏi liên quan đến thái
độ tiêu cực có tỷ lệ phản hồi không đồng ý cao bao
gồm A3 (37,9%), A4 (38,2%), và A5 (41,0%). Bảng 4
cho biết tỷ lệ phản hồi của dược sĩ về thách thức
của CFM. Trong đó, phần lớn dược sĩ đồng ý và hoàn
toàn đồng ý với các thách thức về CFM được đưa
ra, đặc biệt là thách thức TT4 (lần lượt là 42,2% và
39,9%). Bảng 5 trình bày mối liên hệ giữa đặc điểm
nhân khẩu học và thái độ của dược sĩ đối với CFM.
Kết quả cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về
điểm thái độ giữa các tôn giáo khác, thời gian công
tác, đã được đào tạo CFM trước đó và dược sĩ với vai
trò chủ nhà thuốc (p<0,05).
Bảng 1. Đặc điểm chung của người tham gia (N=398)
Đặc điểm n (%)
Tuổi
23-34 197 (49,5)
35-44 143 (35,9)
≥ 45 58 (14,6)
Giới tính
Nam 112 (28,1)
Nữ 286 (71,9)
Tôn giáo
Không có tôn giáo 261 (65,6)
Công giáo 48 (12,1)
Phật giáo 80 (20,1)
Kháca9 (2,3)
Tình trạng hôn nhân
Độc thân/ Ly hôn/ Góa 162 (40,7)
Đã kết hôn 236 (59,3)
Trình độ học vấn
Sơ cấp/ Trung cấp/ Cao đẳng 97 (24,4)
Đại học/ Sau Đại họcb301 (75,6)
Sơ cấp/ Trung cấp/ Cao đẳng 97 (24,4)
Thu nhập cá nhân (triệu đồng/ tháng)
< 4,5 41 (10,3)
4,5 - < 7,5 62 (15,6)
7,5 - < 10,5 105 (26,4)
10,5 - < 15,0 88 (22,1)
≥ 15,0 102 (25,6)
Đặc điểm n (%)
Quan điểm về mức thu nhập
Có 243 (61,1)
Không 155 (38,9)
Đã từng được đào tạo CFM trước đó
Có 258 (64,8)
Không 140 (35,2)
Lĩnh vực công tác
Dược sĩ nhà thuốc cộng đồng 228 (57,3)
Dược sĩ bệnh viện 34 (8,5)
Trình dược viên 38 (9,5)
Nhà máy/ Xí nghiệp dược 58 (14,6)
Khácc40 (10,1)
Thời gian công tác
< 1 51 (12,8)
1 - < 5 114 (28,6)
5 - <10 162 (40,7)
10 - < 20 48 (12,1)
≥ 20 23 (5,8)
Số lượng khách hàng trung bình mỗi ngàyf
< 20 60 (26,3)
20 - 50 89 (39,0)
> 50 79 (34,6)
Loại hình nhà thuốcd
Nhà thuốc/ Quầy thuốc tư nhân 122 (53,5)
Nhà thuốc thuộc các chuỗi nhà
thuốc 106 (46,5)
Vai trò tại nhà thuốcd
Nhân viên 135 (59,2)
Quản lý 44 (19,3)
Dược sĩ phụ trách chuyên môn 46 (20,2)
Chủ nhà thuốc 66 (28,9)
Ghi chú: aHòa hảo, Tin lành, Cao đài; bThạc sĩ/ Tiến
sĩ/ Chuyên khoa I/ II; cNghiên cứu/ Giảng dạy, các
tổ chức phi chính phủ, công ty kinh doanh dược
phẩm, trạm y tế, phòng y tế, thủ kho vắc-xin, kiểm
nghiệm, marketing dược; dDược sĩ nhà thuốc cộng
đồng (n=228)
V.Q. Trung et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, No. 4, 97-105

101
Bảng 2. Phản hồi về kiến thức về thuốc giả của dược sĩ [n (%)]
Mã
số Câu hỏi Tỷ lệ phản hồi
Đúng Sai
K1 CFM là thuốc không
chứa hoạt chất có tác
dụng dược lý
356
(89,4) 42
(10,6)
K2 CFM là thuốc có thông
tin trên nhãn bị sửa đổi
trái phép
324
(81,4) 74
(18,6)
K3 CFM là thuốc bị thay đổi
hạn sử dụng 218
(54,8) 180
(45,2)
K4 CFM là mối đe dọa
nghiêm trọng đối với
ngành y tế trong nước
391
(98,2) 7 (1,8)
Mã
số Câu hỏi Tỷ lệ phản hồi
Đúng Sai
K5 Việc lưu hành CFM đã gia
tăng trong vài năm gần
đây
376
(94,5) 22
(5,5)
K6 CFM có thể gây nên tình
trạng đề kháng thuốc
kháng sinh
237
(59,5) 161
(40,5)
K7 CFM gây ảnh hưởng xấu
tới cơ hội khỏi bệnh của
bệnh nhân
388
(97,5) 10
(2,5)
K8 CFM góp phần gây tử
vong tại Việt Nam 346
(86,9) 52
(13,1)
K9 CFM có thể dẫn đến thất
bại điều trị 386
(97,0) 12
(3,0)
Hình 1. Các nguồn thông tin về thuốc giả
V.Q. Trung et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, No. 4, 97-105

