
1
2
3
Kỹ thuật chăm sóc và 4
nuôi dưỡng nái đẻ và heo 5
sơ sinh 6
7

1. Dấu hiệu nái sắp sinh 1
- Nái sắp sanh thường biểu hiện ăn ít hay không ăn, có tiếng kêu rền của nái 2
sắp đẻ. Nái thường ủi phá nền chuồng (hiện tượng quầng ổ). Để nái ít hao tốn 3
năng lượng do việc quầng ổ, ta nên rải rơm, cỏ khô hoặc bao bố sạch vào 4
chuồng cho nái nằm. 5
- Nái sắp sinh có thể tăng thân nhiệt, tăng nhịp thở, đi lại không yên trong 6
chuồng, đi phân, đi tiểu nhiều lần (gọi là đi mót) làm cho ô chuồng dơ bẩn. 7
Do đó cần vệ sinh và giữ chuồng luôn khô ráo để tránh nhiễm trùng cho heo 8
con và bộ phận sinh dục heo nái sau khi đẻ. 9
- Nái sắp đẻ có bộ vú phát triển rõ rệt,các núm vú dài ra, quầng núm rộng. 10
Heo sắc lông trắng thường có quầng núm vú và núm vú màu đỏ hồng, hai 11
hàng vú tạo thành hai bệ sữa chạy dọc đường giữa bụng, có rãnh phân chia rõ 12
rệt giữa hai hàng vú và các vú. 13
- Khi nặn đầu vú chưa thấy sữa non, chắc chắn nái chưa đẻ trong 4 – 6 giờ sắp 14
tới; nếu sữa non rịn ra đầu vú qua hai lỗ tia sữa, nái sẽ đẻ trong vòng 6 giờ. 15
Khi nặn các đầu vú đều có sữa non vọt thành tia dài, nái sẽ sinh trong vòng 2 16
giờ sau. Nếu bộ phận sinh dục có nước nhờn màu hồng và những hạt lợn cợn 17
như hạt đu đủ (cứt su do heo con thải ra), nửa giờ sau nái sẽ đẻ. Nếu nái nằm 18
nghiêng một bên, hơi thở đứt quãng, ép bụng, ép đùi, quẩy đuôi rặn đẻ thì chỉ 19
vài mươi giây sau nái sẽ đẻ. 20
2. Chăm sóc nái đẻ và heo con sơ sinh 21
- Nơi nái đẻ phải thoáng mát, yên tĩnh. Nhiệt độ cao, hầm nóng, không thông 22
thoáng làm cho nái thở mệt, lười rặn, đẻ chậm gây ngộp thai. Sự ồn ào, lạ 23
người chăm sóc, sự hiện diện của thú lạ như chó mèo có thể làm nái hoảng sợ 24
hoặc hung dữ, ngưng đẻ hoặc đẻ chậm, số heo con chết lúc đẻ tăng. 25

- Thông thường mỗi 15 – 20 phút nái đẻ 1 con, có khi nái đẻ liên tiếp nhiều 1
con rồi ngưng nghỉ một thời gian. Bình thường, khoảng 3 – 4 giờ nái đẻ hết số 2
con, nhau được tống ra sau cùng. Những nái tống nhau ra hàng loạt sau chót 3
thường ít bị viêm nhiễm đường sinh dục vì lá nhau như là chất “lau rửa” tống 4
khứ chất dịch hậu sản ra khỏi đường sinh dục. Trái lại nái có thai chết trước 5
khi sinh hoặc thai lớn còn nằm trong bọc nhau, thì nái ít rặn, chậm đẻ; những 6
thai này ảnh hưởng xấu đến những thai còn sống bên trong (tăng số heo con 7
ngộp, chết trong lúc sanh: chết tươi). 8
- Cần cảnh giác các trường hợp nái sinh con nhanh bỗng nhiên ngưng đẻ, 9
cường độ rặn yếu để có biện pháp can thiệp kịp thời tống những thai chết 10
trước khi sinh, cứu sống những thai sống trong bụng nái. Cũng có trường hợp 11
sau khi tống hết số nhau (bằng số con đẻ ra), vẫn còn sót thai. Nguyên nhân 12
do thai này to và cũng do nái mệt, ngủ nên không đẻ ra kịp. Hậu quả là thai 13
chết, thai bị sình thối gây viêm nhiễm trùng nặng cho nái; nái sốt cao, bỏ ăn, 14
mất sữa…; heo con chết vì đói. 15
- Không nên can thiệp bằng oxytocin khi chưa đẻ con đầu tiên. Nếu cần thiết, 16
nên thăm khám vùng chậu, không nên thọc tay sâu vào bên trong tử cung vì 17
dễ gây nhiễm trùng tử cung. Nếu thọc tay sâu vào tử cung nhiều lần gây rối 18
loạn nhu động, làm đau nái, nái tạm ngưng đẻ một thời gian. 19
- Nhiều trường hợp nái đẻ mà heo con vẫn còn nằm trong bọc nhau, cần 20
nhanh chóng xé bọc để heo thở, không bị chết ngộp. Sau khi nái đẻ hết con, 21
nhau sẽ tống ra (số lá nhau bằng số con). Nái cho con bú mà đuôi buông 22
thỏng thì xem như không còn sót con, sót nhau. Trái lại, khi cho con bú, nái 23
vẫn còn cong đuôi (đuôi quấn một vòng cong) và quan sát kỹ có thể thấy 24
thỉnh thoảng nái nín thở, ép bụng thì xem như vẫn còn sót con hay sót nhau. 25

Dấu hiệu cong đuôi thường báo hiệu rất chính xác tình trạng sót con, sót 1
nhau. Heo nái đẻ sót con xảy ra nhiều hơn sót nhau so với những thú khác. 2
- Trong khi đẻ, nhiều nái thường đứng dậy, đi uống nước, hoặc đi phân, đi 3
tiểu, trở thế nằm để tiếp tục đẻ. Nguyên nhân có thể do thai phân bố hai bên 4
sừng tử cung. Do vậy khi thấy nái đẻ một số con rồi ngưng nghỉ, ta nên nhẹ 5
nhàng đỡ nái đứng dậy đi một vòng và tác động các vú đối diện để cho nái trở 6
bề nằm (nếu muốn nái nằm bên phải thì xoa nắn bệ vú, hàng vú bên trái và 7
ngược lại). 8
- Trước khi nái đẻ cần vệ sinh sạch sẽ vùng hội âm (quãng giữa âm hộ với hậu 9
môn). Vùng này thường có nhiều nếp gấp, da chết, tích tụ chất bẩn hoặc phân 10
dính, chúng dễ vấy nhiễm vào âm đạo khi can thiệp móc thai. Nên cắt sạch 11
lông đuôi để tránh tình trạng nái quẩy đuôi khi rặn đẻ làm văng và phát tán 12
dịch nhày (sản dịch), hoặc dịch hậu sản, hoặc mủ (khi bị viêm đường sinh 13
dục). Việc cắt lông đuôi cũng có lợi cho chủ nuôi đoán biết khoảng cách giữa 14
hai lứa đẻ của nái (lông đuôi dài ra thì khoảng cách giữa hai lứa đẻ dài và 15
ngược lại). Một số trại, chủ trương cắt đuôi heo nái; như vậy khó phát hiện 16
tình trạng sót con, sót nhau sau khi đẻ. 17
- Chuồng trại hầm nóng, heo nái thở mệt, ít rặn đẻ. Chống nóng cho nái bằng 18
cách lau khăn mát nhiều lần, chườm lạnh vùng đầu, hoặc điều chỉnh bầu tiểu 19
khí hậu nếu có điều kiện, nhờ đó có thể giúp nái đẻ nhanh, ít gây chết thai. 20
Một số nái sắp đẻ thường bị sưng phù âm môn rất nặng và nếu nái rặn đẻ quá 21
mạnh hoặc dùng thuốc kích thích rặn đẻ, có thể gây vỡ âm môn, chảy máu; 22
cần có biện pháp cầm máu kịp thời (dùng kẹp kẹp mạch máu và chỉ cột mạch 23
máu), tránh tử vong cho nái. 24
- Sau khi đẻ, heo sơ sinh được xách dốc ngược đầu cho nước nhờn trong 25
xoang miệng và mũi chảy ra ngoài, không chảy ngược vào khí quản gây 26

nghẽn đường thở. Việc xách dốc ngược cũng giúp máu dồn về não ở những 1
con bị ngộp nhờ đó não không bị liệt. Nên nắm chặt cuống rốn, tránh chảy 2
máu sau khi cuống rốn đứt rời cuống nhau (lá nhau còn nằm trong bộ phận 3
sinh dục nái). Nên quan sát kỹ để phát hiện tình trạng heo con bị ngộp như da 4
tím tái, giãn cơ, heo mềm nhũn không cử động. Gặp trường hợp này phải 5
nhanh chóng dùng khăn sạch lau móc nhớt trong xoang miệng, mở rộng 6
miệng và dùng tay bóp lồng ngực 60 lần/phút để tạo sự thông khí phổi. Có thể 7
tác động như thế trong vòng 15 – 20 phút kết hợp với việc lau, mở rộng 8
miệng mỗi 2 – 3 phút/ lần, heo con có thể hồi phục; nên dành thời gian chăm 9
sóc những con kế tiếp. 10
- Khi thấy heo con bắt đầu loi nhoi cử động, ta tiến hành lau sạch chất nhày 11
toàn thân, cột rốn cách thành bụng 4 cm và cắt rốn cách chỗ cột 1 cm. Chỉ cột 12
rốn và kéo cắt rốn phải được sát trùng cẩn thận. Sau khi cắt rốn phải kiểm tra 13
xem có rỉ máu vì cột rốn không chặt. Nhúng rốn vào dung dịch cồn iốt 5% để 14
sát trùng. Heo sơ sinh được cắt bỏ 8 răng nhằm tránh gây đau vú mẹ khi bú. 15
- Có thể không cột và cắt rốn nếu nhúng rốn bằng bột ủ úm. Bột này cũng 16
được dùng sát trùng âm hộ nái sau đẻ, nhúng toàn thân heo con để giữ ấm (trừ 17
phần đầu). 18
- Nên úm heo con sơ sinh nếu nhiệt độ bên ngoài lạnh nhằm tránh tình trạng 19
heo con tiêu hao nhiều năng lượng để chống lạnh. Nhiệt độ úm khoảng 30 – 20
33 độ C. Ta nên cho heo con bú ngay khi chúng ủi nhau tìm bú vì heo con bắt 21
đầu đói. Không nên giữ lâu trong ổ úm, chúng có thể bú rốn lẫn nhau gây 22
nhiễm trùng rốn hoặc tuột chỉ cột rốn, gây chảy máu nguy hiểm cho con bú 23
rốn và con bị bú rốn. Khi heo con trong ổ úm tản ra nghĩa là nhiệt độ úm cao, 24
nên hạ nhiệt độ. 25

