
Dấu hiệu cong đuôi thường báo hiệu rất chính xác tình trạng sót con, sót 1
nhau. Heo nái đẻ sót con xảy ra nhiều hơn sót nhau so với những thú khác. 2
- Trong khi đẻ, nhiều nái thường đứng dậy, đi uống nước, hoặc đi phân, đi 3
tiểu, trở thế nằm để tiếp tục đẻ. Nguyên nhân có thể do thai phân bố hai bên 4
sừng tử cung. Do vậy khi thấy nái đẻ một số con rồi ngưng nghỉ, ta nên nhẹ 5
nhàng đỡ nái đứng dậy đi một vòng và tác động các vú đối diện để cho nái trở 6
bề nằm (nếu muốn nái nằm bên phải thì xoa nắn bệ vú, hàng vú bên trái và 7
ngược lại). 8
- Trước khi nái đẻ cần vệ sinh sạch sẽ vùng hội âm (quãng giữa âm hộ với hậu 9
môn). Vùng này thường có nhiều nếp gấp, da chết, tích tụ chất bẩn hoặc phân 10
dính, chúng dễ vấy nhiễm vào âm đạo khi can thiệp móc thai. Nên cắt sạch 11
lông đuôi để tránh tình trạng nái quẩy đuôi khi rặn đẻ làm văng và phát tán 12
dịch nhày (sản dịch), hoặc dịch hậu sản, hoặc mủ (khi bị viêm đường sinh 13
dục). Việc cắt lông đuôi cũng có lợi cho chủ nuôi đoán biết khoảng cách giữa 14
hai lứa đẻ của nái (lông đuôi dài ra thì khoảng cách giữa hai lứa đẻ dài và 15
ngược lại). Một số trại, chủ trương cắt đuôi heo nái; như vậy khó phát hiện 16
tình trạng sót con, sót nhau sau khi đẻ. 17
- Chuồng trại hầm nóng, heo nái thở mệt, ít rặn đẻ. Chống nóng cho nái bằng 18
cách lau khăn mát nhiều lần, chườm lạnh vùng đầu, hoặc điều chỉnh bầu tiểu 19
khí hậu nếu có điều kiện, nhờ đó có thể giúp nái đẻ nhanh, ít gây chết thai. 20
Một số nái sắp đẻ thường bị sưng phù âm môn rất nặng và nếu nái rặn đẻ quá 21
mạnh hoặc dùng thuốc kích thích rặn đẻ, có thể gây vỡ âm môn, chảy máu; 22
cần có biện pháp cầm máu kịp thời (dùng kẹp kẹp mạch máu và chỉ cột mạch 23
máu), tránh tử vong cho nái. 24
- Sau khi đẻ, heo sơ sinh được xách dốc ngược đầu cho nước nhờn trong 25
xoang miệng và mũi chảy ra ngoài, không chảy ngược vào khí quản gây 26