
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
142 TCNCYH 197 (12) - 2025
LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ
U LYMPHO TẾ BÀO B LỚN LAN TỎA THEO NGUỒN GỐC TẾ BÀO
Hà Văn Quang1,2,, Trần Thu Hiền3
1Bệnh viện Quân y 103
2Học viện Quân y
3Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội
Từ khoá: U lympho tế bào B lớn lan tỏa, Tế bào lympho B dòng trung tâm mầm, Tế bào lympho B dòng
hoạt hóa.
Xác định mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đáp ứng điều trị theo nguồn gốc tế bào ở
bệnh nhân u lympho tế bào B lớn lan tỏa (DLBCL). Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 142 bệnh
nhân được chẩn đoán và điều trị DLBCL tại Bệnh viện Quân y 103 giai đoạn 2019 - 2024. Thể GCB chiếm
35,2%, trong khi thể non-GCB chiếm 64,8%. Tỷ lệ bệnh nhân ở nhóm GCB có ECOG ≥ 2 và R-IPI ≥ 3 thấp
hơn có ý nghĩa thống kê so với ở nhóm non-GCB (p = 0,012; p = 0,037). Triệu chứng nhóm B gặp nhiều hơn ở
nhóm non-GCB so với nhóm GCB (p = 0,002). Nhóm non-GCB có tỷ lệ tăng nồng độ LDH và β2-microglobulin
trong huyết thanh cao hơn so với nhóm GCB (p = 0,028; p = 0,027). Tỷ lệ bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn
ở nhóm GCB đạt 78%, cao hơn rõ rệt so với 56,5% ở nhóm non-GCB (p = 0,036). Kết quả cho thấy có sự
khác biệt đáng kể về tiên lượng, đặc điểm sinh học và đáp ứng điều trị theo thể bệnh ở bệnh nhân DLBCL.
Tác giả liên hệ: Hà Văn Quang
Bệnh viện Quân y 103
Email: haquangss@gmail.com
Ngày nhận: 24/09/2025
Ngày được chấp nhận: 08/10/2025
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
U lympho tế bào B lớn lan tỏa (Diffuse
large B-cell lymphoma - DLBCL) chiếm khoảng
40% các ca u lympho không Hodgkin tế bào B
trưởng thành và là loại u lympho ác tính tiến
triển nhanh phổ biến nhất. Một trong những đặc
điểm nổi bật của DLBCL là tính dị hợp cao, thể
hiện qua hình thái mô bệnh học, biểu hiện lâm
sàng, đặc điểm sinh học phân tử và tiên lượng.
Điều này dẫn đến sự khác biệt rõ rệt về đáp ứng
điều trị và kết quả sống còn của bệnh nhân.1,2
Phác đồ điều trị R-CHOP đã mang lại những
cải thiện đáng kể về tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn,
thời gian sống thêm không bệnh và thời gian
sống thêm toàn bộ. Tuy nhiên, trên thực tế lâm
sàng, khoảng 1/3 bệnh nhân DLBCL dương
tính với CD20 không đạt được đáp ứng bền
vững với phác đồ này. Khi bệnh tái phát, tiên
lượng thường rất kém.3,4 Điều này cho thấy
hệ thống phân tầng nguy cơ như Chỉ số Tiên
lượng Quốc tế (International Prognostic Index
- IPI) là chưa đủ để dự báo chính xác kết quả
điều trị cho từng cá nhân.
Gần đây, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng
các yếu tố sinh học, bên cạnh chỉ số IPI, cũng
ảnh hưởng đến tiên lượng ở bệnh nhân DLBCL.
Phân tích biểu hiện gen (Gene Expression
Profiling: GEP) được coi là tiêu chuẩn vàng để
phân loại DLBCL thành các thể dựa trên nguồn
gốc tế bào (cell-of-origin - COO). Tuy nhiên,
do tính phức tạp và chi phí cao, GEP chủ yếu
được sử dụng trong các nghiên cứu chuyên
sâu. Trong thực hành lâm sàng, hóa mô miễn
dịch (Immunohistochemistry: IHC) là phương
pháp phổ biến và hiệu quả hơn. Phương pháp
này được ứng dụng rộng rãi trong chẩn đoán
lâm sàng nhờ tính khả dụng và chi phí hợp lý.

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
143TCNCYH 197 (12) - 2025
Cả hai phương pháp này đều nhằm mục đích
phân loại DLBCL thành hai thể chính dựa trên
nguồn gốc tế bào: thể tế bào B dòng trung tâm
mầm (Germinal Center B-cell-like: GCB) và thể
g tế bào B dòng hoạt hóa (Activated B-cell-like:
ABC).5-7 Thể DLBCL-GCB thường có tiên lượng
tốt hơn và đáp ứng khá tốt với phác đồ kinh điển
R-CHOP, trong khi thể DLBCL-ABC thường liên
quan đến tình trạng kháng điều trị và tiên lượng
xấu hơn.8 Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng
ghi nhận sự khác biệt về tuổi, triệu chứng B, chỉ
số thể trạng ECOG, giai đoạn bệnh theo Ann-
Arbor, nồng độ LDH và chỉ số IPI giữa hai thể
bệnh này.9 Sự khác biệt này đặt ra yêu cầu cấp
thiết về việc xác định phân nhóm COO để có
thể cá thể hóa chiến lược điều trị.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về DLBCL đã
được thực hiện tại nhiều cơ sở y tế. Tuy nhiên,
các dữ liệu nghiên cứu về việc áp dụng phân
loại COO bằng phương pháp IHC vàmối liên
quan của nó với các yếu tố lâm sàng, cận lâm
sàng và đáp ứng điều trị vẫn còn chưa được
quan tâm nhiều. Trong bối cảnh DLBCL là bệnh
lý ác tính hệ tạo máu có tỷ lệ mắc cao và xu
hướng ngày càng tăng, việc cập nhật dữ liệu cụ
thể tại các trung tâm trong nước là rất cần thiết.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này tại
Bệnh viện Quân y 103 với mục tiêu: Tìm hiểu
mối liên quan giữa một số đặc điểm lâm sàng,
cận lâm sàng và đáp ứng điều trị với thể bệnh ở
bệnh nhân DLBCL trong giai đoạn từ năm 2019
đến năm 2024.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
Nghiên cứu được thực hiện trên các bệnh
nhân chẩn đoán và điều trị DLBCL tại Bệnh viện
Quân y 103 trong giai đoạn từ năm 2019 đến
năm 2024.
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bệnh nhân được phân loại thể bệnh theo
thuật toán Hans trên hóa mô miễn dịch.6
- Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ hồ
sơ bệnh án và dữ liệu theo dõi trong giai đoạn
nghiên cứu.
- Bệnh nhân đã được điều trị đủ 01 liệu trình
hóa chất theo phác đồ R-CHOP hoặc R-CHOP-
like.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân DLBCL có chống chỉ định với
phác đồ R-CHOP.
- Bệnh nhân bị bệnh lý ác tính khác đang
điều trị tại thời điểm nghiên cứu.
- Bệnh nhân đã được điều trị DLBCL trước
đó hoặc bị DLBCL nguyên phát ở ở hệ thần
kinh trung ương hoặc tinh hoàn.
2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Cỡ mẫu nghiên cứu
Chọn cỡ mẫu toàn bộ.
Các chỉ số nghiên cứu và cách xác định
- Mặc dù có những hạn chế nhất định về độ
chính xác khi so sánh với các phương pháp phân
loại khác (Thuật toán Choi, NanoString và GEP).
Nhưng trong nghiên cứu này chúng sử dụng
thuật toán Hans để phân loại theo COO vì đây
là phương pháp phân loại khả thi, phổ biến, phù
hợp nhất với điều kiện thực tế về chi phí và trang
thiết bị tại Việt Nam hiện nay. Dựa trên kết quả
hóa mô miễn dịch (IHC) theo thuật toán Hans,
DLBCL được phân loại thành hai nhóm chính:
GCB (Germinal Center B-cell) và non-GCB:6
+ Nhóm GCB: CD10 dương tính (+). Hoặc
CD10 âm tính (-), nhưng BCL6 dương tính (+)
và MUM1 âm tính (-).
+ Nhóm non-GCB: CD10 âm tính (-), BCL6
âm tính (-) và MUM1 dương tính (+). Hoặc
CD10 âm tính (-), BCL6 dương tính (+) và
MUM1 dương tính (+).

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
144 TCNCYH 197 (12) - 2025
- Các chỉ tiêu về tuổi, giới, triệu chứng nhóm
B (sốt, gầy sút cân và ra mồ hôi trộm), chỉ số
tổng trạng ECOG và các chỉ tiêu về xét nghiệm
tổng phân tích tế bào máu ngoại vi, nồng độ
albumin, LDH, β2-Microglobulin, mô bệnh học,
hóa mô miễn dịch, PET/CT được thu thập tại
thời điểm chẩn đoán xác định và trước khi bệnh
nhân bắt đầu bất kỳ phương pháp điều trị đặc
hiệu nào. Các xét nghiệm được thực hiện theo
đúng quy trình tại các khoa cận lâm sàng ở
Bệnh viện Quân y 103. Giai đoạn bệnh được
phân loại theo tiêu chuẩn Ann-Arbor 1971 và
phân nhóm nguy cơ theo tổng điểm R-IPI.
- Bệnh nhân được đánh giá đáp ứng điều trị
sau khi kết thúc 01 liệu trình hóa chất theo tiêu
chuẩn Lugano 2014.10
Bảng 1. Tiêu chuẩn Lugano 202410
Yếu tố đánh giá Tiêu chí Điểm
Tuổi > 60 tuổi 1
Giai đoạn Ann-Arbor Giai đoạn III hoặc IV 1
LDH huyết thanh Tăng cao so với giới hạn bình thường 1
Chỉ số toàn trạng ECOG ECOG ≥ 2 1
Số vị trí ngoài hạch > 1 vị trí ngoài hạch 1
Tổng điểm R-IPI (Cộng tất cả các điểm trên) 0-5
Phân nhóm nguy cơ theo tổng điểm R-IPI:
Nguy cơ rất tốt (Very good): 0-1 điểm; Nguy cơ
tốt (Good): 2-3 điểm và Nguy cơ xấu (Poor):
4-5 điểm.
Xử lý số liệu
Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm
SPSS 25.0. Các số liệu được mô tả dưới dạng
số lượng, tỷ lệ (%) và giá trị trung vị. Sử dụng
kiểm định Chi bình phương hoặc Fisher’s Exact
để so sánh tỷ lệ giữa 2 nhóm nghiên cứu cho
phù hợp. Kiểm định Chi bình phương được sử
dụng để so sánh tần suất giữa các nhóm độc
lập khi các ô có tần suất kỳ vọng ≥ 5, trong khi
kiểm định Fisher’s Exact được áp dụng thay thế
khi có > 20% ô có tần suất kỳ vọng < 5. Kiểm
định Mann-Whitney U được sử dụng để so
sánh hai nhóm độc lập đối với biến định lượng
không phân bố chuẩn. Giá trị p < 0,05 được coi
là có ý nghĩa thống kê.
3. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục
đích bổ sung thông tin về bệnh DLBCL, không
can thiệp gì trên đối tượng nghiên cứu. Chúng
tôi cam kết không có xung đột lợi ích trong
nghiên cứu.
III.KẾT QUẢ
4
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích bổ sung thông tin về bệnh DLBCL, không can
thiệp gì trên đối tượng nghiên cứu. Chúng tôi cam kết không có xung đột lợi ích trong nghiên cứu.
III.KẾT QUẢ
Biểu đồ 1. Tỷ lệ bệnh nhân theo thể bệnh
Thể non-GCB chiếm 64,8% và là thể phổ biến hơn trong quần thể nghiên cứu, trong khi thể GCB chỉ
chiếm 35,2%.
Bảng 2. Đặc điểm chung của bệnh nhân theo thể bệnh
Chỉ tiêu nghiên cứu
GCB (n = 50)
Non-GCB (n = 92)
χ2
p
Tuổi
≤ 60
33 (66%)
53 (57,6%)
0,955
0,328
> 60
17 (34%)
39 (42,4%)
Giới (Nam %)
Nữ
25 (50%)
50 (54,3%)
0,246
0,620
Nam
25 (50%)
42 (45,7%)
ECOG PS ≥2 (%)
≤ 1
45 (90%)
66 (71,7%)
6,33
0,012
≥ 2
5 (10%)
26 (28,3%)
Giai đoạn Ann Arbor (I–II / III–IV)
I-II
24 (48%)
53 (57,6%)
1,205
0,272
III-IV
26 (52%)
39 (42,4%)
R-IPI ≥3 (%)
0-2
40 (80%)
58 (63%)
4,356
0,037
3-5
10 (20%)
34 (37%)
* Giá trị p được xác định bằng kiểm định Chi bình phương
Nhóm GCB có tỷ lệ ECOG ≥ 2 và R-IPI ≥ 3 thấp hơn đáng kể so với nhóm non-GCB, với các giá
trị của p tương ứng lần lượt là p = 0,012 và p = 0,037. Tuy nhiên, i không có sự khác biệt về tuổi, giới và
giai đoạn bệnh theo Ann Arbor giữa hai nhóm hai nhóm, với p > 0,05.
Bảng 3. Liên quan giữa một số đặc điểm lâm sàng với thể bệnh
Chỉ tiêu nghiên cứu
GCB (n = 50)
Non-GCB (n = 92)
χ2
p
4
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích bổ sung thông tin về bệnh DLBCL, không can
thiệp gì trên đối tượng nghiên cứu. Chúng tôi cam kết không có xung đột lợi ích trong nghiên cứu.
III.KẾT QUẢ
Biểu đồ 1. Tỷ lệ bệnh nhân theo thể bệnh
Thể non-GCB chiếm 64,8% và là thể phổ biến hơn trong quần thể nghiên cứu, trong khi thể GCB chỉ
chiếm 35,2%.
Bảng 2. Đặc điểm chung của bệnh nhân theo thể bệnh
Chỉ tiêu nghiên cứu
GCB (n = 50)
Non-GCB (n = 92)
χ2
p
Tuổi
≤ 60
33 (66%)
53 (57,6%)
0,955
0,328
> 60
17 (34%)
39 (42,4%)
Giới (Nam %)
Nữ
25 (50%)
50 (54,3%)
0,246
0,620
Nam
25 (50%)
42 (45,7%)
ECOG PS ≥2 (%)
≤ 1
45 (90%)
66 (71,7%)
6,33
0,012
≥ 2
5 (10%)
26 (28,3%)
Giai đoạn Ann Arbor (I–II / III–IV)
I-II
24 (48%)
53 (57,6%)
1,205
0,272
III-IV
26 (52%)
39 (42,4%)
R-IPI ≥3 (%)
0-2
40 (80%)
58 (63%)
4,356
0,037
3-5
10 (20%)
34 (37%)
* Giá trị p được xác định bằng kiểm định Chi bình phương
Nhóm GCB có tỷ lệ ECOG ≥ 2 và R-IPI ≥ 3 thấp hơn đáng kể so với nhóm non-GCB, với các giá
trị của p tương ứng lần lượt là p = 0,012 và p = 0,037. Tuy nhiên, i không có sự khác biệt về tuổi, giới và
giai đoạn bệnh theo Ann Arbor giữa hai nhóm hai nhóm, với p > 0,05.
Bảng 3. Liên quan giữa một số đặc điểm lâm sàng với thể bệnh
Chỉ tiêu nghiên cứu
GCB (n = 50)
Non-GCB (n = 92)
χ2
p
Biểu đồ 1. Tỷ lệ bệnh nhân theo thể bệnh

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
145TCNCYH 197 (12) - 2025
Thể non-GCB chiếm 64,8% và là thể phổ biến hơn trong quần thể nghiên cứu, trong khi thể GCB
chỉ chiếm 35,2%.
Bảng 2. Đặc điểm chung của bệnh nhân theo thể bệnh
Chỉ tiêu nghiên cứu GCB
(n = 50)
Non-GCB
(n = 92)
χ2p
Tuổi ≤ 60 33 (66%) 53 (57,6%) 0,955 0,328
> 60 17 (34%) 39 (42,4%)
Giới
(Nam %)
Nữ 25 (50%) 50 (54,3%) 0,246 0,620
Nam 25 (50%) 42 (45,7%)
ECOG PS ≥2
(%)
≤ 1 45 (90%) 66 (71,7%) 6,33 0,012
≥ 2 5 (10%) 26 (28,3%)
Giai đoạn Ann Arbor
(I-II / III-IV)
I-II 24 (48%) 53 (57,6%) 1,205 0,272
III-IV 26 (52%) 39 (42,4%)
R-IPI ≥3
(%)
0-2 40 (80%) 58 (63%) 4,356 0,037
3-5 10 (20%) 34 (37%)
* Giá trị p được xác định bằng kiểm định Chi bình phương
Nhóm GCB có tỷ lệ ECOG ≥ 2 và R-IPI ≥ 3
thấp hơn đáng kể so với nhóm non-GCB, với
các giá trị của p tương ứng lần lượt là p = 0,012
và p = 0,037. Tuy nhiên, i không có sự khác biệt
về tuổi, giới và giai đoạn bệnh theo Ann Arbor
giữa hai nhóm hai nhóm, với p > 0,05.
Bảng 3. Liên quan giữa một số đặc điểm lâm sàng với thể bệnh
Chỉ tiêu nghiên cứu GCB
(n = 50)
Non-GCB
(n = 92)
χ2p
Triệu chứng nhóm B Không 41 (82%) 52 (56,5%) 9,305 0,002
Có 9 (18%) 40 (43,5%)
Tổn thương lách Không 32 (64%) 65 (70,7%) 0,662 0,416
Có 18 (36%) 27 (29,3%)
Tổn thương ngoài
hạch (≥ 1 vị trí)
Không 29 (58%) 63 (68,5%) 1,559 0,212
Có 21 (42%) 29 (31,5%)
* Giá trị p được xác định bằng kiểm định Chi bình phương
Tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng nhóm B ở
nhóm non-GCB cao hơn so với nhóm GCB, sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê, với p = 0,002.
Trong khi đó, tổn thương lách và tổn thương
ngoài hạch không có sự khác biệt giữa hai
nhóm, với p > 0,05.

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
146 TCNCYH 197 (12) - 2025
Bảng 4. Liên quan giữa một số chỉ tiêu cận lâm sàng với thể bệnh
Chỉ tiêu nghiên cứu GCB (n = 50) Non-GCB (n = 92) p
Bạch cầu (G/L),
trung vị (25 -75%)
8,2
(6,1 - 9,2)
7,3
(5,0 - 8,9) 0,18
Neutrophils (G/L),
trung vị (25 -75%)
4,3
(3,2 - 5,8)
4,0
(2,9 - 5,9) 0,68
Lymphocytes (G/L),
trung vị (25 -75%)
1,8
(1,3 - 2,6)
1,6
(1,2 - 2,3) 0,137
Hemoglobin (g/L),
trung vị (25 -75%)
128,5
(113,8 - 136,0)
129,0
(119,5 - 138,0) 0,54
Tiểu cầu (G/L),
trung vị (25 -75%)
217,5
(158,8 - 292,8)
232,5
(175,0 - 281,0) 0,709
LDH (U/L) Bình thường 33 (66%) 43 (46%) 0,028
Tăng 17 (34%) 49 (54%)
β2-microglobulin
(g/L)
Bình thường 24 (48%) 27 (29,3%) 0,027
Tăng 26 (52%) 65 (70,7%)
Albumin (g/L) Bình thường 42 (84%) 76 (82,6%) 0,833
Tăng 8 (16%) 16 (17,4%)
* Giá trị p được xác định bằng kiểm định Chi bình phương và kiểm định Mann-Whitney
Tỷ lệ bệnh nhân tăng nồng độ LDH và β2-
microglobulin ở nhóm non-GCB cao hơn có ý
nghĩa thống kê so với nhóm GCB, với các giá
trị của p tương ứng lần lượt làp =0,028 và p
=0,027. Các chỉ số khác như số lượng bạch
cầu, bạch cầu trung tính, bạch cầu lymphocytes,
hemoglobin, tiểu cầu và albumin không ghi
nhận sự khác biệt giữa hai nhóm, với p >0,05.
Bảng 5. Liên quan giữa đáp ứng điều trị với thể bệnh
Đáp ứng điều trị GCB (n = 50) Non-GCB (n = 92) p
Hoàn toàn 39 (78,0%) 52 (56,5%)
0,036
Một phần 5 (10%) 13 (14,1%)
Ổn định 1 (2%) 13 (14,1%)
Tiến triển 5 (8,3%) 14 (15,2%)
* Giá trị p được xác định bằng kiểm định Fisher’s Exact
Nhóm GCB đạt tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn
cao hơn so với nhóm non-GCB (78,0% so với
56,5%). Trong khi đó, tỷ lệ đáp ứng một phần,
bệnh ổn định và tiến triển ở nhóm GCB đều cao
hơn ở nhóm non-GCB, sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p = 0,036).

