
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
97TCNCYH 197 (12) - 2025
KẾT QUẢ HỒI SỨC SAU GHÉP GAN Ở TRẺ TEO MẬT BẨM SINH
TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
Đặng Ánh Dương, Vũ Thị Thanh
Bệnh viện Nhi Trung ương
Từ khoá: Teo mật bẩm sinh, ghép gan, hồi sức, biến chứng.
Ghép gan là phương pháp điều trị duy nhất giúp phục hồi chức năng gan và kéo dài sự sống cho trẻ teo
mật bẩm sinh giai đoạn cuối. Giai đoạn hồi sức sau mổ có vai trò quyết định trong duy trì hoạt động mảnh
ghép, kiểm soát biến chứng và ổn định toàn trạng. Nghiên cứu trên 39 bệnh nhi được ghép gan tại Bệnh viện
Nhi Trung ương (01/2019 - 06/2024) nhằm mô tả kết quả điều trị giai đoạn hồi sức cho thấy thời gian thở máy
trung bình 24,7 ± 17,1 giờ. Có 35,9% trẻ không gặp biến chứng ngoại khoa; 35,9% chảy máu sau mổ. Trên
50% có tràn dịch màng phổi, 117,9% nhiễm trùng ổ bụng và 12,8% dò dưỡng chấp. Men gan và bilirubin tăng
trong 1 - 2 ngày đầu, sau đó giảm dần và gần trở về bình thường khi ra viện. Các chỉ số huyết học, đông máu,
albumin và chức năng thận hồi phục ổn định. Cần tăng cường theo dõi biến chứng, chuẩn hóa quy trình hồi sức
và phối hợp đa chuyên khoa nhằm phát hiện sớm, xử trí kịp thời, tối ưu hiệu quả và tiên lượng sau ghép gan.
Tác giả liên hệ: Đặng Ánh Dương
Bệnh viện Nhi trung ương
Email: danganhduong74@gmail.com
Ngày nhận: 08/10/2025
Ngày được chấp nhận: 12/11/2025
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Teo mật bẩm sinh (TMBS) là một trong
những nguyên nhân hàng đầu gây suy gan
mạn tính và chỉ định ghép gan ở trẻ em.1,2 Mặc
dù, phẫu thuật Kasai được xem là phương
pháp điều trị đầu tiên nhằm phục hồi lưu thông
mật, song hiệu quả thường chỉ mang tính tạm
thời, nhiều bệnh nhi vẫn tiến triển đến xơ gan
giai đoạn cuối và cần ghép gan sớm. Đây được
xem là phương pháp điều trị triệt để duy nhất
giúp phục hồi chức năng gan và kéo dài sự
sống cho bệnh nhi TMBS giai đoạn cuối.3,4
Kết quả sau ghép gan phụ thuộc không chỉ
vào kỹ thuật phẫu thuật và chất lượng mảnh
ghép mà còn vào hiệu quả hồi sức sau mổ -
giai đoạn then chốt quyết định ổn định huyết
động, hoạt động của mảnh ghép và kiểm soát
biến chứng sớm.5 Nghiên cứu của Qi-Gen Li
ghi nhận 23,8% trẻ sau ghép gặp biến chứng,
gồm huyết khối tĩnh mạch cửa 9,2%, rò mật
4,1%, hẹp đường mật 2,5%, thủng tiêu hoá
3,3% và nhiễm trùng phổi 24,6%.6 Nghiên cứu
của Sieders Sieders cho thấy các biến chứng
mạch máu là 21%, trong đó huyết khối động
mạch gan 10%, tĩnh mạch cửa 4%, tắc đường
ra tĩnh mạch 6%.7 Các nghiên cứu cũng nhấn
mạnh vai trò của hồi sức sau ghép gan, việc
kiểm soát tốt rối loạn đông máu, nhiễm trùng,
tổn thương hô hấp và cân bằng dịch giúp giảm
đáng kể tỷ lệ tử vong sớm sau ghép.8,9
Các dữ liệu cụ thể về kết quả điều trị trong
giai đoạn hồi sức sau ghép gan ở trẻ TMBS còn
hạn chế, đặc biệt tại các quốc gia đang phát
triển. Ở Việt Nam, phần lớn nghiên cứu tập
trung mô tả kết quả lâu dài sau ghép, trong khi
thông tin chi tiết về giai đoạn hồi sức - nơi quyết
định thành công ban đầu của ca ghép - chưa
được khai thác nhiều. Từ thực tế đó, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu với mục tiêu: Mô tả kết
quả điều trị trong giai đoạn hồi sức sau phẫu
thuật ghép gan ở trẻ teo mật bẩm sinh tại Bệnh
viện Nhi Trung ương.

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
98 TCNCYH 197 (12) - 2025
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
phẫu thuật: biến định lượng, khai thác lại hồ sơ
bệnh án, phần ghi chép giai đoạn hồi sức của
bác sĩ.
- Diễn biến chỉ số xét nghiệm huyết học sau
ghép gan: Hemoglobin (g/l); Bạch cầu (G/l);
Tiểu cầu (G/l); Prothorombin (%) trong 7 ngày
sau ghép và khi ra viện.
- Diễn biến chỉ số chức năng gan sau ghép:
GOT (U/l); GPT (U/l); Bilirubin TP (µmol/l) trong
7 ngày sau ghép và khi ra viện.
- Các biến chứng ngoại khoa sau phẫu thuật:
+ Tắc động mạch gan: tắc động mạch gan
gây suy gan cấp, men gan tăng đột ngột, giảm
tiết mật; chẩn đoán bằng siêu âm Doppler và
chụp mạch.
+ Thải ghép cấp: biểu hiện sốt, mệt, tăng
men gan, bilirubin, giảm yếu tố đông máu; xác
định bằng xét nghiệm, nồng độ thuốc ức chế
miễn dịch và sinh thiết gan.
+ Hẹp và tắc TM cửa: Nghi ngờ khi có tăng
transminase, xuất huyết tiêu hoá, ascites, lách
to. Xác định bằng siêu âm Doppler, chụp động
mạch, tĩnh mạch cửa xuyên qua da.
+ Chảy máu trong ổ bụng: khi hemoglobin
giảm trên 3g/d1 so với xét nghiệm nền sau mổ,
và/hoặc cần truyền khối hồng cầu, và/hoặc cần
được can thiệp hoặc mổ lại.10
+ Rò mật: bilirubin dịch dẫn lưu ≥ 3 lần huyết
thanh, cần phẫu thuật dẫn lưu.11
+ Tràn dịch màng phổi: chủ yếu dựa vào
xquang ngực và siêu âm màng phổi sau ghép.
- Các biến chứng nội khoa:
+ Rò dưỡng chấp: Là tình trạng tràn dịch
dưỡng chấp ổ bụng sau ghép gan, được chẩn
đoán khi có chylomicron (tiêu chuẩn vàng) hoặc
triglyceride ≥ 187 mg/dL trong dịch màng bụng
trong 60 ngày sau mổ, không kèm cấy dịch
dương tính.12
1. Đối tượng
Tất cả các bệnh nhi TMBS được thực hiện
phẫu thuật ghép gan tại Bệnh viện Nhi Trung
ương từ tháng 01/2019 đến hết tháng 6/2024.
Tiêu chuẩn lựa chọn
Gồm các bệnh nhi được chẩn đoán TMBS
được thực hiện phẫu thuật ghép gan tại bệnh
viện Nhi trung ương trong thời gian nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhi phẫu thuật ghép gan không do
TMBS.
2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh, hồi cứu
trong thời gian nghiên cứu.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Khoa Điều trị
tích cực ngoại khoa, Bệnh viện Nhi Trung ương
từ tháng 01/2019 đến hết tháng 6/2024.
Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu thuận tiện, lấy tất cả các trẻ đủ tiêu
chuẩn chọn vào nghiên cứu trong thời gian
nghiên cứu trên.
Các bước tiến hành nghiên cứu
- Bước 1: Thiết kế bệnh án nghiên cứu, để
đảm bảo tối đa các thông tin thu thập là chính
xác.
- Bước 2: Thông qua bệnh án của các bệnh
nhân sau phẫu thuật ghép gan để thu thập đầy
đủ các thông tin cần thiết vào bệnh án nghiên
cứu.
- Bước 3: Nhập số liệu, xử lý kết quả và viết
báo cáo.
Các biến số, chỉ số nghiên cứu
- Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
- Thời gian thở máy, thời gian có phân sau
phẫu thuật, thời điểm ăn đường miệng sau

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
99TCNCYH 197 (12) - 2025
+ Nhiễm khuẩn huyết: khi có triệu chứng lâm
sàng như sốt cao hoặc hạ thân nhiệt, nhịp tim
nhanh, thở nhanh, thay đổi ý thức và các kết
quả xét nghiệm cận lâm sàng như tăng hoặc
giảm bạch cầu, tăng CRP (C-reactive protein),
tăng Procalcitonin (PCT), đặc biệt là cấy máu
dương tính.
+ Nhiễm khuẩn ổ bụng: kết hợp khám lâm
sàng (đau bụng, sốt, chướng bụng, phản ứng
thành bụng, dấu hiệu cảm ứng phúc mạc), xét
nghiệm máu (tăng bạch cầu, CRP, PCT), chẩn
đoán hình ảnh (siêu âm, CT-scan bụng), và xét
nghiệm vi sinh (cấy máu, cấy dịch ổ bụng) để
xác định tình trạng nhiễm trùng và nguyên nhân
gây bệnh.
Nhập và phân tích số liệu
Bệnh án nghiên cứu được kiểm tra trước
khi nhập liệu. Số liệu được nhập bằng phần
mềm Epidata 3.1. Sử dụng phần mềm SPSS
22.0 để xử lý và phân tích số liệu. Kết quả
nghiên cứu được trình bày bằng bảng số liệu,
tỷ lệ phần trăm (%).
3. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành dưới sự tuân thủ
về mặt y đức, được thông qua Hội đồng Đạo
đức bệnh viện Nhi Trung ương. Nghiên cứu chỉ
nhằm phục vụ cho việc nâng cao khám chữa
bệnh, ngoài ra không có mục đích nào khác.
Mọi thông tin liên quan đến bệnh nhi được giữ
bí mật. Các số liệu trong nghiên cứu trung thực,
chính xác.
II. KẾT QUẢ
Bảng 1. Một số đặc điểm của bệnh nhi tham gia nghiên cứu (n = 39)
Đặc điểm Số lượng (n) %
Giới Nam 15 38,5
Nữ 24 61,5
Nhóm tuổi
< 12 tháng 512,8
12 - 23 tháng 15 38,5
24 - <60 tháng 12 30,8
≥ 60 tháng 717,9
Tuổi trung vị khi nhập viện (tháng) 22 (9 - 168)
Thời gian trung bình từ khi vào viện đến khi phẫu thuật (ngày) 7,9 ± 6,1 (1 - 33)
Thời gian trung bình phẫu thuật (phút) 555,9 ± 73,0 (420 - 730)
Thời gian thở máy sau phẫu thuật (giờ) 24,7 ± 17,1 (4,0 - 83,0)
Thời điểm có phân sau phẫu thuật (giờ) 71,3 ± 50,7 (10 - 292)
Thời điểm ăn đường miệng sau phẫu thuật (giờ) 84,8 ± 76,1 (10 - 472)
Cai thở máy trước 24 giờ (%) 74,4%
Trong số 39 trẻ tham gia nghiên cứu có
38,5% trẻ trai; 61,5% trẻ gái. 12,8% trẻ dưới
12 tháng tuổi; 38,5% trẻ từ 12 đến 23 tháng
tuổi; 30,8% trẻ từ 24 đến dưới 60 tháng tuổi và
17,9% trẻ từ trên 60 tháng tuổi. Thời gian trung
bình từ khi vào viện đến khi được phẫu thuật
là 7,9 ± 6,1 ngày. Thời gian trung bình phẫu
thuật 555,9 ± 73,0 phút (420 - 730). Thời gian

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
100 TCNCYH 197 (12) - 2025
thở máy trung bình là 24,7 ± 17,1 giờ (4,0 -
83). Thời điểm có phân sau phẫu thuật là 71,3
± 50,7 giờ. Thời điểm ăn đường miệng sau
phẫu thuật trung bình là 84,8 ± 76,1 giờ (10
- 472). Có 74,4% trẻ cai thở máy được trước
24h sau ghép
Bảng 2. Diễn biến chỉ số xét nghiệm huyết học sau ghép gan của trẻ (n = 39)
Diễn biến Hemoglobin (g/l) Bạch cầu (G/l) Tiểu cầu (G/l) Prothorombin (%)
Ngày 0 95,15 ± 18,61 7,05 ± 5,55 68,64 ± 36,68 52,26 ± 12,29
Ngày 1 98,08 ± 20,01 10,78 ± 6,41 65,56 ± 44,59 41,05 ± 12,82
Ngày 2 92,59 ± 20,07 7,55 ± 4,80 55,28 ± 34,22 42,20 ± 13,51
Ngày 3 95,03 ± 14,72 6,27 ± 3,66 54,46 ± 37,84 52,49 ± 14,79
Ngày 4 98,21 ± 16,74 6,27 ± 3,53 63,31 ± 40,25 54,38 ± 13,94
Ngày 5 103,26 ± 19,21 8,53 ± 5,14 72,15 ± 41,69 54,59 ± 14,47
Ngày 6 106,03 ± 18,42 10,21 ± 6,32 74,95 ± 41,76 56,33 ± 16,78
Ngày 7 106,89 ± 21,79 12,08 ± 6,29 78,15 ± 45,11 56,79 ± 17,19
Ra viện 105,72 ± 14,83 9,09 ± 4,79 146,0 ± 68,18 73,06 ± 19,90
Hemoglobin có xu hướng tăng dần qua các
ngày điều trị. Số lượng bạch cầu giảm ở ngày
thứ 3,4 và có xu hướng tăng hơn vào ngày thứ
6, 7 và lúc ra viện là 9,09 ± 4,79 G/L. Số lượng
tiểu cầu cải thiện dần, tại thời điểm ra viện
trở về bình thường (146,0 ± 68,18 G/l). Tỷ lệ
prothorombin thấp trong các ngày đầu tiên sau
ghép, sau đó có xu hướng cải thiện qua các
ngày điều trị và về mức ổn định bình thường
khi ra viện.
Bảng 3. Diễn biến chỉ số chức năng gan sau ghép gan của trẻ (n = 39)
Diễn biến theo ngày GOT (U/l) GPT (U/l) Bilirubin TP (µmol/l)
Ngày 0 385,39 ± 305,07 621,21 ± 415,24 117,46 ± 133,51
Ngày 1 401,04 ± 295,79 395,28 ± 183,98 128,61 ± 64,53
Ngày 2 334,63 ± 290,12 196,98 ± 134,53 103,31 ± 60,72
Ngày 3 253,11 ± 234,69 110,06 ± 88,69 105,15 ± 58,45
Ngày 4 197,46 ± 194,15 81,19 ± 64,39 99,83 ± 57,75
Ngày 5 161,82 ± 145,56 64,03 ± 34,68 103,37 ± 72,58
Ngày 6 130,01 ± 104,43 64,79 ± 41,83 92,07 ± 62,83
Ngày 7 104,99 ± 88,9 54,80 ± 36,66 78,33 ± 54,39
Ra viện 50,97 ± 38,39 38,45 ± 15,33 28,54 ± 16,53

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
101TCNCYH 197 (12) - 2025
Men gan tăng đạt ngưỡng cao nhất vào
ngày đầu tiên sau mổ, sau đó giảm dần vào
các ngày tiếp theo và đạt ngưỡng ổn định vào
ngày ra viện với giá trị trung bình GOT, GPT là
50,97 ± 38,39 U/l và 38,45 ± 15,33 U/l. Bilirubin
toàn phần cũng tăng cao trong 2 ngày đầu sau
ghép và có xu hướng giảm dần trong tuần đầu
tiên, giá trị trung bình trở về mức 28,54 ± 16,53
µmol/l vào ngày ra viện.
Bảng 4. Biến chứng ngoại khoa sau ghép (n = 39)
Biến chứng ngoại khoa
Bất đồng
nhóm máu (n = 6)
Không bất đồng
nhóm máu (n = 33) Chung (n = 39)
SL %SL %SL %
Không có biến chứng 0 0,0 14 42,4 14 35,9
Hẹp động mạch gan 0 0,0 13,0 12,6
Hẹp tĩnh mạch cửa 116,7 13,0 2 5,1
Hẹp tĩnh mạch gan 116,7 39,1 410,3
Tắc động mạch gan 0 0,0 13,0 12,6
Tắc tĩnh mạch cửa 0 0,0 0 0,0 0 0,0
Tắc tĩnh mạch gan 0 0,0 0 0,0 0 0,0
Hẹp đường mật 0 0,0 0 0,0 0 0,0
Rò mật 0 0,0 0 0,0 0 0,0
Thủng đường tiêu hóa 0 0,0 0 0,0 0 0,0
Chảy máu sau mổ 466,7 10 30,3 14 35,9
Khác 0 0,0 13,0 12,6
35,9% trẻ sau ghép gan không gặp phải
biến chứng ngoại khoa, trong đó nhóm không
bất đồng nhóm máu ABO có tỷ lệ trẻ không gặp
biến chứng cao hơn so với nhóm có bất đồng.
Biến chứng hay gặp nhất là chảy máu sau mổ
với 35,9%; 10,3% hẹp tĩnh mạch gan; 5,1% hẹp
tĩnh mạch cửa; 2,6% hẹp động mạch gan/tắc
động mạch gan.
Bảng 5. Biến chứng nội khoa sau ghép (n = 39)
Biến chứng
ngoại khoa
Bất đồng
nhóm máu (n = 6)
Không bất đồng
nhóm máu (n = 33)
Chung
(n = 39)
SL %SL %SL %
Không gặp biến chứng 116,7 8 24,2 923,1
Nhiễm trùng viết mổ 0 0,0 0 0,0 0 0,0
Rò dưỡng chấp 0 0,0 5 15,2 5 12,8

