TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
863TCNCYH 197 (12) - 2025
BIẾN CHỨNG HOẠI TỬ DA THÀNH BỤNG
SAU PHẪU THUẬT HÚT MỠ TẠO HÌNH THÀNH BỤNG:
HAI TRƯỜNG HỢP VÀ TỔNG QUAN Y VĂN
Hoàng Tuấn Anh1,2, Vũ Thị Dung1, Nguyễn Hợp Nhân1
Trần Thị Diệu Linh1 và Nguyễn Ngọc Dương1,
1Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
2Trường Đại học Y Hà Nội
Từ khóa: Hoại tử da thành bụng, hút mỡ kết hợp tạo hình thành bụng, xử lý biến chứng.
Hoại tử da thành bụng là một biến chứng nghiêm trọng sau phẫu thuật hút mỡ kết hợp tạo hình thành bụng.
Nguyên nhân chủ yếu bao gồm hút mỡ quá mức vùng trung tâm thành bụng, thao tác kỹ thuật không phù hợp
đóng vạt da với độ căng quá lớn. Điều trị biến chứng này đòi hỏi thời gian chăm sóc kéo dài can thiệp
phẫu thuật nhiều lần. Trong bài báo này, chúng tôi báo cáo hai trường hợp hoại tử da thành bụng sau phẫu
thuật hút mỡ tạo hình được thực hiện tại cơ sở tư nhân khác. Cả hai bệnh nhân đều được điều trị trong khoảng
hai tháng trải qua hai lần phẫu thuật. Phẫu thuật lần đầu bao gồm cắt lọc tổ chức hoại tử đặt hệ thống
hút áp lực âm tại vị trí khuyết tổ chức. Phẫu thuật lần hai nhằm che phủ khuyết hổng bằng phương pháp ghép
da dày toàn bộ hoặc sử dụng vạt xoay tại chỗ từ hai bên thành bụng. Biến chứng này ảnh hưởng đáng kể đến
tâm lý bệnh nhân, kết quả thẩm mỹ và làm tăng chi phí điều trị. Bài báo với mục tiêu đưa ra các nguyên nhân
phương phổ biến điều trị biến chứng hoại tử da thành bụng sau phẫu thuật hút mỡ kết hợp tạo hình thành bụng.
Tác giả liên hệ: Nguyễn Ngọc Dương
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Email: ngocduong218@gmail.com
Ngày nhận: 30/10/2025
Ngày được chấp nhận: 04/12/2025
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Hiệp hội Phẫu thuật Thẩm mỹ Hoa Kỳ,
phẫu thuật tạo hình thành bụng (abdominoplasty)
phẫu thuật thẩm mỹ phổ biến thứ năm tại Hoa
Kỳ.1,2 Phẫu thuật này giúp khắc phục tình trạng
lỏng lẻo của cân thành bụng loại bỏ lớp da
mỡ thừa vùng thành bụng dưới. Trong khi đó,
hút mỡ thủ thuật loại bỏ mỡ dưới da thông
qua một ống hút áp lực âm, được đưa vào qua
các vết rạch nhỏ trên da. Kết quả của các phẫu
thuật này thường có tỷ lệ hài lòng cao, giúp cải
thiện hình thể cho bệnh nhân, ngay cả khi
các biến chứng xảy ra.
Abdominoplasty là một ca phẫu thuật lớn và
thường nhiều biến chứng tiềm ẩn.2-4 Hoại
tử da thành bụng một biến chứng gặp phải
sau phẫu thuật với tỷ lệ 3 -4,4%. Biến chứng
này xuất hiện khi cấp máu không đủ cho vạt da
thành bụng, thể biểu hiện dưới dạng vùng
hoại tử chuyển màu tím hoặc đen, giảm nhiệt
độ thời gian hồi lưu mao mạch kéo dài.4-6
Nguyên nhân chính của biến chứng này thường
liên quan đến việc tưới máu không đủ do sự
gián đoạn lưu thông mạch máu, việc sử dụng
áo định hình quá chật hoặc các tình trạng bệnh
lý làm chậm quá trình lành vết thương như tiểu
đường, béo phì hoặc lupus. Điều quan trọng
bác phẫu thuật phải kiến thức chuyên
sâu về hệ thống mạch máu vùng thành bụng
để đảm bảo vạt da trong phẫu thuật tạo hình
thành bụng được cung cấp máu đầy đủ. Một
nguyên nhân khác bệnh nhân thường thiếu
kiến thức khi lựa chọn sở phẫu thuật đủ
tiêu chuẩn về chuyên môn chăm sóc hậu
phẫu phù hợp. Các biến chứng phát sinh từ
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
864 TCNCYH 197 (12) - 2025
những ca phẫu thuật không đạt chuẩn gây ra
gánh nặng đáng kể cho hệ thống y tế.7,8
Bài báo này trình bày hai trường hợp hoại
tử da thành bụng sau khi thực hiện phẫu thuật
hút mỡ tạo hình thành bụng tại một cơ sở thẩm
mỹ khác. Quá trình hồi phục các can thiệp
chỉnh sửa sau hoại tử da ban đầu mất khoảng
hai tháng để ổn định, điều này cho thấy những
khó khăn về mặt tinh thần, thể chất và tài chính
mà bệnh nhân phải đối mặt.
II. GIỚI THIỆU CA BỆNH
Loạt ca lâm sàng gồm 2 bệnh nhân bị hoại tử
thành bụng tại sở tư nhân khác. Cả 2 bệnh
nhân đều được thực hiện 2 lần phẫu thuật: lần
1 cắt lọc tổ chức hoại tử, hút áp lực âm lần
2 che phủ tổn khuyết bằng ghép da hoặc vạt tại
chỗ tùy tình trạng của mỗi bệnh nhân.
Trường hợp 1
Bệnh nhân nữ, 28 tuổi, đến Bệnh viện Đại
học Y Nội với hoại tử da thành bụng dưới
vết mổ không liền sau hút mỡ kết hợp tạo hình
thành bụng tại sở nhân (Hình 1A). Sau
phẫu thuật 19 ngày, vùng da dưới rốn đổi màu,
tím sẫm hoại tử, vết mổ không liền. Trước
khi nhập viện, bệnh nhân đã được chăm sóc
vết thương bằng gạc ẩm oxy cao áp nhưng
không cải thiện.
Bệnh nhân BMI 28,7 kg/m², không bệnh
kèm theo, xét nghiệm và sinh tồn bình thường.
Tổn thương kích thước 14×10cm, hoại tử toàn
bộ da và mô dưới da, chảy dịch vàng.
Phẫu thuật lần 1: Cắt lọc toàn bộ hoại
tử, lấy dịch làm kháng sinh đồ, rửa sạch và đặt
hút áp lực âm liên tục (Hình 1B).
Phẫu thuật lần 2: Sau 2 tuần, tổn thương
sạch, tổ chức hạt tốt, tiến hành ghép da dày
toàn bộ từ mặt trong đùi.
Kết quả: Sau 2 tuần, da ghép sống hoàn
toàn; sau 2 tháng, vết thương liền ổn định (Hình
1C). Sau 1 năm, vùng da ghép lõm và tăng sắc
tố so với da xung quanh.
phu thut to nh thành bng đưc cung cp máu đy đ. Mt nguyên nhân khác là bnh nhân
thưng thiếu kiến thc khi la chn s phu thut có đ tiêu chun v chuyên môn chăm
sóc hu phu phù hp. Các biến chng phát sinh t nhng ca phu thut không đt chun gây ra
gánh nng đáng k cho h thng y tế.7,8
Bài báo này trình bày hai trưng hp hoi t da thành bng sau khi thc hin phu thut hút
m to nh thành bng ti mt cơ s thm m khác. Qtrình hi phc các can thip chnh
sa sau hoi t da ban đu mt khong hai tháng đ n đnh, điu này cho thy nhng khó khăn
v mt tinh thn, th cht và i chính mà bnh nhân phi đi mt.
II. GII THIU CA BNH
Lot ca lâm sàng gm 2 bnh nhân b hoi t thành bng ti cơ s tư nhân khác. C 2 bnh nhân
đu đưc thc hin 2 ln phu thut: ln 1 ct lc t chc hoi t, hút áp lc âm ln 2 che ph
tn khuyết bng ghép da hoc vt ti ch y tình trng ca mi bnh nhân.
Trưng hợp 1
Bệnh nhân nữ, 28 tuổi, đến Bệnh viện Đại học Y Hà Nội với hoại t da thành bụng i vết m
không liền sau hút m kết hợp to hình thành bụng ti cơ stư nhân (nh 1A). Sau phu thut 19
ngày, vùng da i rốn đổi màu, tím sẫm hoại t, vết mkhông liền. Trưc khi nhập viện, bệnh
nhân đã đưc chăm sóc vết thương bằng gạc ẩm oxy cao áp nhưng không cải thiện.
Bệnh nhân BMI 28,7 kg/m², không bệnh lý kèm theo, xét nghiệm sinh tồn nh tng. Tổn
thương kích thước 14×10cm, hoại t toàn bộ da mô i da, chảy dịch vàng.
Phẫu thuật ln 1: Cắt lọc toàn bộ mô hoại tử, ly dch làm kháng sinh đ, rửa sch và đt
hút áp lc âm liên tục (Hình 1B).
Phẫu thuật ln 2: Sau 2 tuần, tổn tơng sạch, tchức hạt tốt, tiến nh ghép da dày
toàn b tmt trong đùi.
Kết quả: Sau 2 tuần, da ghép sống hoàn toàn; sau 2 tháng, vết thương lin n đnh (nh 1C). Sau
1 năm, vùng da ghép lõm tăng sắc tso với da xung quanh.
A B C
Hình 1. (A) Thành bng hoi t sau phu thut 19 ngày. (B) Ct lc t chc hoi t thành bng.
(C) Kết qu sau ghép da thành bng 2 tháng
Trưng hợp 2
Bệnh nhân nữ, 33 tuổi, nhập viện sau 6 ngày phẫu thuật hút m to hình thành bụng tại cơ s
nhân với vùng da thành bụng i thiu dưỡng, phỏng c hoại t(nh 2A). Bệnh nhân có
BMI 21,1 kg/m², không bệnh lý kèm theo. Tổn tơng ch tc 10×5cm, lcân thành bụng.
Phẫu thuật ln 1: Cắt lọc mô hoại tử, rửa sạch và đặt hút áp lực âm (Hình 2B).
Hình 1. (A) Thành bụng hoại tử sau phẫu thuật 19 ngày. (B) Cắt lọc tổ chức hoại tử thành
bụng. (C) Kết quả sau ghép da thành bụng 2 tháng
Trường hợp 2
Bệnh nhân nữ, 33 tuổi, nhập viện sau 6
ngày phẫu thuật hút mỡ tạo hình thành bụng
tại cơ sở tư nhân với vùng da thành bụng dưới
thiểu dưỡng, phỏng nước và hoại tử (Hình 2A).
Bệnh nhân BMI 21,1 kg/m², không bệnh
kèm theo. Tổn thương kích thước 10×5cm, lộ
cân cơ thành bụng.
Phẫu thuật lần 1: Cắt lọc hoại tử, rửa
sạch và đặt hút áp lực âm (Hình 2B).
Phẫu thuật lần 2: Sau 2 tuần, tổn thương nhỏ
lại (7×4cm), tiến hành vạt xoay A-T để che phủ.
Kết quả: Sau 2 tuần, vết mổ liền phần lớn,
còn vài điểm chậm liền. Sau gần 2 tháng, vết
thương ổn định hoàn toàn (Hình 2C), tuy
thêm đường sẹo dọc từ rốn xuống.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
865TCNCYH 197 (12) - 2025
Trong những năm 1980 - 1990, việc kết hợp
hút mỡ với tạo hình thành bụng được xem
nguy cao do lo ngại ảnh hưởng đến tuần
hoàn vạt da. Tuy nhiên, Brauman cộng sự
đã chứng minh hút mỡ chủ yếu bảo tồn các
mạch máu lớn, chỉ ảnh hưởng đến mạch nhỏ.
Năm 1996, kỹ thuật lipoabdominoplasty (LAA)
ra đời, kết hợp hút mỡ bóc tách hạn chế,
giúp bảo tồn cấp máu cho da.9 Tại Việt Nam, kỹ
thuật này ngày càng phổ biến nhưng các phẫu
thuật viên áp dụng chưa đúng kỹ thuật lạm
dụng quá mức, dẫn đến nhiều biến chứng, đặc
biệt là hoại tử da.
Nguyên nhân chính dẫn đến biến chứng
hoại tử da thành bụng là việc hút mỡ quá nhiều
vùng trung tâm thành bụng, không đúng kỹ
thuật, gây tổn thương da hệ thống mạch cấp
máu cho vạt da thành bụng. Các khuyến cáo
hiện tại cho rằng độ dày da mỡ sau khi hút
vùng trung tâm bụng nên đạt từ 2 - 3cm, với
ống hút kích thước 3 - 3,5mm.9 Tuy nhiên, trong
hai trường hợp hoại tử mà chúng tôi điều trị, độ
dày da mỡ vùng trung tâm thành bụng <
2cm. Ngoài ra, vị trí hút mỡ vùng trung tâm
thành bụng thường nằm trong mặt phẳng giữa
lớp mạc sâu và lớp mạc Scarpa, tuy nhiên, các
phẫu thuật viên thường hút mỡ ngay cả phần
lớp mỡ nằm phía trên lớp mạc Scarpa, dẫn đến
tổn thương hệ mạch nông cung cấp máu trực
tiếp cho da.9
Trong quá trình hút mỡ lớp sâu, tiếp xúc với
cân thành bụng giải phóng các dây chằng
bám da vẫn bảo tồn các mạch máu nuôi
da, phương pháp bóc tách bằng hút mỡ “lipo-
dissect” lựa chọn hiệu quả. Các dây chằng
bám da liên kết da với mạc sâu, tạo thành các
nếp gấp trên thành bụng. Khi da thành bụng
bị kéo căng, các dây chằng này sẽ căng dễ
dàng bị rách trong quá trình hút mỡ. Các mạch
máu linh hoạt sẽ không bị tổn thương, việc
giải phóng các dây chằng giữ da đủ để đảm
bảo khả năng di động của vạt da, giúp vết mổ
khi đóng không bị căng.10 Tuy nhiên, trong hai
trường hợp này, vạt da thành bụng khi đóng vết
mổ quá căng đã dẫn đến hoại tử da thành bụng.
Chính vậy, trong phẫu thuật tạo hình thành
bụng để vạt da quá căng cũng một nguyên
nhân dẫn tới biến chứng hoại tử thành bụng.
Vạt da thành bụng căng do chưa giải phóng các
dây chằng bám từ da đến mạc sâu cắt da
thừa quá nhiều.
Các phương pháp điều trị hiện nay cho da
thành bụng hoại tử bao gồm liệu pháp oxy áp
lực cao liệu pháp áp lực âm để hỗ trợ đóng
Phẫu thuật ln 2: Sau 2 tuần, tổn tơng nhỏ lại (7×4cm), tiến hành vạt xoay AT để che
phủ.
Kết quả: Sau 2 tuần, vết mliền phần ln, còn vài điểm chậm liền. Sau gần 2 tng, vết tơng ổn
định hoàn toàn (Hình 2C), tuy thêm đưng sẹo dọc t rốn xuống.
A B C
Hình 2. (A) Thành bng hoi t sau phu thut 19 ngày (B) Ct lc t chc hoi t thành bng (C)
Kết qu đóng thành bng sau 2 tun
III. BÀN LUN
Trong nhng năm 1980 1990, vic kết hp hút m vi to nh thành bng đưc xem là
nguy cao do lo ngi nh ng đến tun hoàn vt da. Tuy nhiên, Brauman và cng s đã
chng minh hút m ch yếu bo tn các mch máu ln, ch nh ng đến mch nh. m 1996,
k thut lipoabdominoplasty (LAA) ra đi, kết hp hút m bóc tách hn chế, giúp bo tn cp
máu cho da.9 Ti Vit Nam, k thut này ngày càng ph biến nhưng các phu thut viên áp dng
chưa đúng k thut và lm dng quá mc, dn đến nhiu biến chng, đc bit là hoi t da.
Nguyên nhân cnh dẫn đến biến chứng hoại tda thành bụng là việc hút mquá nhiu
vùng trung tâm thành bụng, không đúng k thut, gây tn thương da và h thng mch cp máu
cho vạt da thành bụng. Các khuyến cáo hiện tại cho rằng độ dày da m sau khi hút vùng trung
tâm bụng nên đạt t 2 - 3cm, với ống hút ch tc 3 - 3,5mm.9 Tuy nhiên, trong hai trưng hợp
hoại t mà chúng tôi điều tr, độ dày da m vùng trung tâm thành bụng là < 2cm. Ngoài ra, vị trí
hút mvùng trung tâm thành bụng thường nằm trong mt phng giữa lớp mạc sâu lp mạc
Scarpa (Hình 3), tuy nhiên, các phẫu thuật viên thường hút m ngay cphần lp m nằm phía
trên lp mạc Scarpa, dn đến tn thương h mch nông cung cấp máu trực tiếp cho da.9
Trong quá trình hút m lp sâu, tiếp xúc với cân thành bụng giải phóng các dây
chằng bám da mà vẫn bảo tồn các mạch máu nuôi da, phương pháp bóc tách bằng hút m lipo-
dissect là la chọn hiệu quả. Các dây chằng bám da liên kết da vi mạc sâu, to thành các nếp
gấp trên thành bụng. Khi da thành bụng bị kéo căng, các dây chằng này sẽ căng dễ dàng bị
rách trong quá trình hút m. Các mạch máu linh hoạt skhông bị tổn thương, và việc giải phóng
các dây chằng gi da đủ đđảm bảo khả năng di động của vạt da, giúp vết mkhi đóng không bị
căng.10 Tuy nhiên, trong hai trưng hợp này, vạt da thành bụng khi đóng vết mquá căng đã dẫn
đến hoại t da thành bụng. Cnh vì vậy, trong phu thut to hình thành bng đ vt da quá căng
Hình 2. (A) Thành bụng hoại tử sau phẫu thuật 19 ngày
(B) Cắt lọc tổ chức hoại tử thành bụng (C) Kết quả đóng thành bụng sau 2 tuần
III. BÀN LUẬN
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
866 TCNCYH 197 (12) - 2025
vết thương. Đối với hai bệnh nhân này, chúng
tôi đã thực hiện tương tự như các báo cáo trước
đó: cắt lọc tổ chức hoại tử, chăm sóc vết thương
bằng hệ thống hút áp lực âm đóng vết thương
thứ cấp là phương pháp điều trị chính.11
Sau khoảng 2 tuần chăm sóc vết thương
bằng hút áp lực âm, chúng tôi tiến hành che
phủ tổn khuyết vùng thành bụng dưới. Tùy
thuộc vào kích thước tổn thương, chúng tôi
đã lựa chọn phương pháp điều trị khác nhau.
Bệnh nhân số 1 tổn khuyết lớn (chiều dài
14cm chiều rộng 9cm) kèm theo vạt da thành
bụng căng, xung quanh tổn khuyết cũng bị tổn
thương, nên việc chuyển hoặc xoay vạt 2 bên
thành bụng không đủ che phủ. Vì vậy, chúng tôi
đã thực hiện ghép da dày toàn bộ từ vùng đùi
bên phải để che phủ tổn khuyết. Vùng da ghép
thường lõm tăng sắc tố hơn vùng da thành
bụng lành. Bệnh nhân số 2 tổn khuyết nhỏ
hơn (chiều dài 7cm và chiều rộng 4cm), vạt da
thành bụng xung quanh tổn khuyết mềm mại
di động tốt, do đó chúng tôi đã sử dụng vạt
xoay A-T để che phủ tổn khuyết. Tuy nhiên, do
vạt da thành bụng bị tác động bởi hút mỡ, máu
cung cấp cho mép vạt hơi yếu, dẫn đến việc
vết mổ chưa liền hoàn toàn sau 2 tuần, và cần
thêm 2 tuần chăm sóc vết mổ tại chỗ để lành
hẳn. Đối với phương pháp sử dụng vạt xoay tại
chỗ thì da thành bụng đồng đều về màu sắc và
độ phẳng. Chính vị vậy nếu độ rộng tổn khuyết
vừa phải, da tổ chức xung quanh di động tốt thì
nên sử dụng vạt tại chỗ để đảm bảo tính thẩm
mỹ. Cả 2 trường hợp này, viện phí gần bằng
so với chi phí hút mỡ tạo hình thành bụng, ảnh
hưởng lớn đến kinh tế của bệnh nhân.
Từ tổng hợp y văn kinh nghiệm lâm sàng,
chúng tôi rút ra một số khuyến nghị để giảm
thiểu biến chứng hoại tử da thành bụng sau
phẫu thuật hút mỡ tạo hình thành bụng:
- Hút mỡ vùng trung tâm thành bụng nên
thực hiện trong mặt phẳng giữa lớp mạc sâu
lớp mạc Scarpa, với độ dày da mỡ từ 2 - 3cm.
- Bóc tách vạt da thành bụng chỉ cần đủ để
khâu thu cân cơ thành bụng bị giãn.
- Giảm độ căng của vạt da thành bụng khi
đóng vết mổ bằng cách giải phóng các dây
chằng bám da từ lớp mạc sâu và kết hợp khâu
néo từ vạt da vào cân thẳng bụng, tạo các
liên kết mới.
Hạn chế đeo đai bụng chặt trong giai đoạn
hậu phẫu, để tránh tình trạng ứ trệ tĩnh mạch.
IV. KẾT LUẬN
Hoại tử da thành bụng sau hút mỡ kết hợp
tạo hình thành bụng biến chứng nặng, ảnh
hưởng đến tâm lý, thẩm mỹ kinh tế người
bệnh. Hút mỡ sai vị trí quá mức làm tăng
nguy dẫn đến biến chứng hoại tử thành
bụng sau phẫu thuật.
Quá trình điều trị thường kéo dài 1,5 - 2
tháng, đòi hỏi phẫu thuật viên có kinh nghiệm:
- Với tổn khuyết nhỏ, da xung quanh di động
tốt: ưu tiên vạt xoay để đạt kết quả thẩm mỹ.
- Với tổn khuyết lớn (> 10cm), da căng: nên
ghép da dày toàn bộ để đảm bảo liền thương
nhanh và an toàn.
Việc tuân thủ kỹ thuật đúng, hạn chế hút mỡ
quá mức vùng trung tâm, giảm căng khi đóng
vạt và chăm sóc hậu phẫu hợp lý là các yếu tố
quan trọng nhằm phòng ngừa biến chứng này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. American Society of Plastic Surgeons.
2018 Plastic Surgery Statistics Report.
Available from: https://www.plasticsurgery.
org/documents/News/Statistics/2018/plastic-
surgery-statistics-full-report-2018.pdf.
2. Zhitny VP, Iftekhar N, Zide B, Stile F.
Anatomic reconstruction for major tissue loss
following abdominoplasty: a case report. Int J
Surg Case Rep. 2020; 72: 241-244.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
867TCNCYH 197 (12) - 2025
3. Chia CT, Neinstein RM, Theodorou SJ.
Evidence-based medicine: liposuction. Plast
Reconstr Surg. 2017; 139(1): 267e-274e.
doi:10.1097/PRS.0000000000002859.
4. Vidal P, Berner JE, Will PA. Managing
complications in abdominoplasty: a literature
review. Arch Plast Surg. 2017; 44(5): 457-468.
5. Neaman KC, Armstrong SD, Baca
ME, Albert M, Vander Woude DL, Renucci
JD. Outcomes of traditional cosmetic
abdominoplasty in a community setting. Plast
Reconstr Surg. 2013; 131(3): 403e-410e.
6. Matarasso A, Swift RW, Rankin M.
Abdominoplasty and abdominal contour
surgery: a national plastic surgery survey. Plast
Reconstr Surg. 2006; 117(6): 1797-1808.
7. Farid M, Nikkhah D, Little M, Edwards
D, Needham W, Shibu M. Complications of
cosmetic surgery abroad: cost analysis and
patient perception. Plast Reconstr Surg Glob
Open. 2019; 7(6): e2281.
8. Ross KM, Moscoso AV, Bayer LR,
Rosselli-Risal L, Orgill DP. Plastic surgery
complications from medical tourism treated in a
U.S. academic medical center. Plast Reconstr
Surg. 2018; 141(4): 517e-523e.
9. Brauman D, van der Hulst RWJ, van der
Lei B. Liposuction-assisted abdominoplasty:
an enhanced abdominoplasty technique. Plast
Reconstr Surg Glob Open. 2018; 6(9): e1940.
10. Cárdenas-Camarena L, et al.
Lipoabdominoplasty: what we have
implemented and what we have modified over
26 years. Plast Reconstr Surg Glob Open.
2023; 11(2): e4805.
11. Zhitny VP, et al. Abdominal flap necrosis
and wound dehiscence following a medical
tourist tummy tuck. Case Rep Surg. 2020;
2020: 8819102.
Summary
ABDOMINAL WALL SKIN NECROSIS FOLLOWING
LIPOSUCTION-ABDOMINOPLASTY: TWO CASE REPORTS
AND A LITERATURE REVIEW
Abdominal wall skin necrosis is a severe complication that may occur after liposuction combined
with abdominoplasty. The main contributing factors include excessive liposuction of the central
abdominal region, inappropriate surgical techniques, and excessive tension during abdominal flap
closure. Management of this complication typically requires prolonged wound care and multiple
surgical interventions. We report two cases of abdominal wall skin necrosis following liposuction-
abdominoplasty performed at private medical facilities. Both patients required approximately two
months of treatment and underwent two operations. The first procedure involved surgical debridement
of necrotic tissue combined with negative pressure wound therapy at the defect site. The second
procedure aimed to achieve defect coverage using either a full-thickness skin graft or local rotational
flaps from both sides of the abdominal wall. These cases highlight that abdominal wall necrosis
significantly affects patients’ psychological well-being, aesthetic outcomes, and increases the overall
cost of the treatment. The aim of this study is to describe the causes and current management
approaches for abdominal wall skin necrosis after liposuction-assisted abdominoplasty.
Keywords: Abdominal wall skin necrosis, liposuction-abdominoplasty, complication
management.