
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
863TCNCYH 197 (12) - 2025
BIẾN CHỨNG HOẠI TỬ DA THÀNH BỤNG
SAU PHẪU THUẬT HÚT MỠ TẠO HÌNH THÀNH BỤNG:
HAI TRƯỜNG HỢP VÀ TỔNG QUAN Y VĂN
Hoàng Tuấn Anh1,2, Vũ Thị Dung1, Nguyễn Hợp Nhân1
Trần Thị Diệu Linh1 và Nguyễn Ngọc Dương1,
1Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
2Trường Đại học Y Hà Nội
Từ khóa: Hoại tử da thành bụng, hút mỡ kết hợp tạo hình thành bụng, xử lý biến chứng.
Hoại tử da thành bụng là một biến chứng nghiêm trọng sau phẫu thuật hút mỡ kết hợp tạo hình thành bụng.
Nguyên nhân chủ yếu bao gồm hút mỡ quá mức vùng trung tâm thành bụng, thao tác kỹ thuật không phù hợp
và đóng vạt da với độ căng quá lớn. Điều trị biến chứng này đòi hỏi thời gian chăm sóc kéo dài và can thiệp
phẫu thuật nhiều lần. Trong bài báo này, chúng tôi báo cáo hai trường hợp hoại tử da thành bụng sau phẫu
thuật hút mỡ tạo hình được thực hiện tại cơ sở tư nhân khác. Cả hai bệnh nhân đều được điều trị trong khoảng
hai tháng và trải qua hai lần phẫu thuật. Phẫu thuật lần đầu bao gồm cắt lọc tổ chức hoại tử và đặt hệ thống
hút áp lực âm tại vị trí khuyết tổ chức. Phẫu thuật lần hai nhằm che phủ khuyết hổng bằng phương pháp ghép
da dày toàn bộ hoặc sử dụng vạt xoay tại chỗ từ hai bên thành bụng. Biến chứng này ảnh hưởng đáng kể đến
tâm lý bệnh nhân, kết quả thẩm mỹ và làm tăng chi phí điều trị. Bài báo với mục tiêu đưa ra các nguyên nhân và
phương phổ biến điều trị biến chứng hoại tử da thành bụng sau phẫu thuật hút mỡ kết hợp tạo hình thành bụng.
Tác giả liên hệ: Nguyễn Ngọc Dương
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Email: ngocduong218@gmail.com
Ngày nhận: 30/10/2025
Ngày được chấp nhận: 04/12/2025
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Hiệp hội Phẫu thuật Thẩm mỹ Hoa Kỳ,
phẫu thuật tạo hình thành bụng (abdominoplasty)
là phẫu thuật thẩm mỹ phổ biến thứ năm tại Hoa
Kỳ.1,2 Phẫu thuật này giúp khắc phục tình trạng
lỏng lẻo của cân cơ thành bụng và loại bỏ lớp da
mỡ thừa ở vùng thành bụng dưới. Trong khi đó,
hút mỡ là thủ thuật loại bỏ mô mỡ dưới da thông
qua một ống hút áp lực âm, được đưa vào qua
các vết rạch nhỏ trên da. Kết quả của các phẫu
thuật này thường có tỷ lệ hài lòng cao, giúp cải
thiện hình thể cho bệnh nhân, ngay cả khi có
các biến chứng xảy ra.
Abdominoplasty là một ca phẫu thuật lớn và
thường có nhiều biến chứng tiềm ẩn.2-4 Hoại
tử da thành bụng là một biến chứng gặp phải
sau phẫu thuật với tỷ lệ 3 -4,4%. Biến chứng
này xuất hiện khi cấp máu không đủ cho vạt da
thành bụng, có thể biểu hiện dưới dạng vùng
hoại tử chuyển màu tím hoặc đen, giảm nhiệt
độ và thời gian hồi lưu mao mạch kéo dài.4-6
Nguyên nhân chính của biến chứng này thường
liên quan đến việc tưới máu không đủ do sự
gián đoạn lưu thông mạch máu, việc sử dụng
áo định hình quá chật hoặc các tình trạng bệnh
lý làm chậm quá trình lành vết thương như tiểu
đường, béo phì hoặc lupus. Điều quan trọng
là bác sĩ phẫu thuật phải có kiến thức chuyên
sâu về hệ thống mạch máu vùng thành bụng
để đảm bảo vạt da trong phẫu thuật tạo hình
thành bụng được cung cấp máu đầy đủ. Một
nguyên nhân khác là bệnh nhân thường thiếu
kiến thức khi lựa chọn cơ sở phẫu thuật có đủ
tiêu chuẩn về chuyên môn và chăm sóc hậu
phẫu phù hợp. Các biến chứng phát sinh từ

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
864 TCNCYH 197 (12) - 2025
những ca phẫu thuật không đạt chuẩn gây ra
gánh nặng đáng kể cho hệ thống y tế.7,8
Bài báo này trình bày hai trường hợp hoại
tử da thành bụng sau khi thực hiện phẫu thuật
hút mỡ tạo hình thành bụng tại một cơ sở thẩm
mỹ khác. Quá trình hồi phục và các can thiệp
chỉnh sửa sau hoại tử da ban đầu mất khoảng
hai tháng để ổn định, điều này cho thấy những
khó khăn về mặt tinh thần, thể chất và tài chính
mà bệnh nhân phải đối mặt.
II. GIỚI THIỆU CA BỆNH
Loạt ca lâm sàng gồm 2 bệnh nhân bị hoại tử
thành bụng tại cơ sở tư nhân khác. Cả 2 bệnh
nhân đều được thực hiện 2 lần phẫu thuật: lần
1 cắt lọc tổ chức hoại tử, hút áp lực âm và lần
2 che phủ tổn khuyết bằng ghép da hoặc vạt tại
chỗ tùy tình trạng của mỗi bệnh nhân.
Trường hợp 1
Bệnh nhân nữ, 28 tuổi, đến Bệnh viện Đại
học Y Hà Nội với hoại tử da thành bụng dưới và
vết mổ không liền sau hút mỡ kết hợp tạo hình
thành bụng tại cơ sở tư nhân (Hình 1A). Sau
phẫu thuật 19 ngày, vùng da dưới rốn đổi màu,
tím sẫm và hoại tử, vết mổ không liền. Trước
khi nhập viện, bệnh nhân đã được chăm sóc
vết thương bằng gạc ẩm và oxy cao áp nhưng
không cải thiện.
Bệnh nhân có BMI 28,7 kg/m², không bệnh lý
kèm theo, xét nghiệm và sinh tồn bình thường.
Tổn thương kích thước 14×10cm, hoại tử toàn
bộ da và mô dưới da, chảy dịch vàng.
Phẫu thuật lần 1: Cắt lọc toàn bộ mô hoại
tử, lấy dịch làm kháng sinh đồ, rửa sạch và đặt
hút áp lực âm liên tục (Hình 1B).
Phẫu thuật lần 2: Sau 2 tuần, tổn thương
sạch, tổ chức hạt tốt, tiến hành ghép da dày
toàn bộ từ mặt trong đùi.
Kết quả: Sau 2 tuần, da ghép sống hoàn
toàn; sau 2 tháng, vết thương liền ổn định (Hình
1C). Sau 1 năm, vùng da ghép lõm và tăng sắc
tố so với da xung quanh.
phẫu thuật tạo hình thành bụng được cung cấp máu đầy đủ. Một nguyên nhân khác là bệnh nhân
thường thiếu kiến thức khi lựa chọn cơ sở phẫu thuật có đủ tiêu chuẩn về chuyên môn và chăm
sóc hậu phẫu phù hợp. Các biến chứng phát sinh từ những ca phẫu thuật không đạt chuẩn gây ra
gánh nặng đáng kể cho hệ thống y tế.7,8
Bài báo này trình bày hai trường hợp hoại tử da thành bụng sau khi thực hiện phẫu thuật hút
mỡ tạo hình thành bụng tại một cơ sở thẩm mỹ khác. Quá trình hồi phục và các can thiệp chỉnh
sửa sau hoại tử da ban đầu mất khoảng hai tháng để ổn định, điều này cho thấy những khó khăn
về mặt tinh thần, thể chất và tài chính mà bệnh nhân phải đối mặt.
II. GIỚI THIỆU CA BỆNH
Loạt ca lâm sàng gồm 2 bệnh nhân bị hoại tử thành bụng tại cơ sở tư nhân khác. Cả 2 bệnh nhân
đều được thực hiện 2 lần phẫu thuật: lần 1 cắt lọc tổ chức hoại tử, hút áp lực âm và lần 2 che phủ
tổn khuyết bằng ghép da hoặc vạt tại chỗ tùy tình trạng của mỗi bệnh nhân.
Trường hợp 1
Bệnh nhân nữ, 28 tuổi, đến Bệnh viện Đại học Y Hà Nội với hoại tử da thành bụng dưới và vết mổ
không liền sau hút mỡ kết hợp tạo hình thành bụng tại cơ sở tư nhân (Hình 1A). Sau phẫu thuật 19
ngày, vùng da dưới rốn đổi màu, tím sẫm và hoại tử, vết mổ không liền. Trước khi nhập viện, bệnh
nhân đã được chăm sóc vết thương bằng gạc ẩm và oxy cao áp nhưng không cải thiện.
Bệnh nhân có BMI 28,7 kg/m², không bệnh lý kèm theo, xét nghiệm và sinh tồn bình thường. Tổn
thương kích thước 14×10cm, hoại tử toàn bộ da và mô dưới da, chảy dịch vàng.
Phẫu thuật lần 1: Cắt lọc toàn bộ mô hoại tử, lấy dịch làm kháng sinh đồ, rửa sạch và đặt
hút áp lực âm liên tục (Hình 1B).
Phẫu thuật lần 2: Sau 2 tuần, tổn thương sạch, tổ chức hạt tốt, tiến hành ghép da dày
toàn bộ từ mặt trong đùi.
Kết quả: Sau 2 tuần, da ghép sống hoàn toàn; sau 2 tháng, vết thương liền ổn định (Hình 1C). Sau
1 năm, vùng da ghép lõm và tăng sắc tố so với da xung quanh.
A B C
Hình 1. (A) Thành bụng hoại tử sau phẫu thuật 19 ngày. (B) Cắt lọc tổ chức hoại tử thành bụng.
(C) Kết quả sau ghép da thành bụng 2 tháng
Trường hợp 2
Bệnh nhân nữ, 33 tuổi, nhập viện sau 6 ngày phẫu thuật hút mỡ tạo hình thành bụng tại cơ sở tư
nhân với vùng da thành bụng dưới thiểu dưỡng, phỏng nước và hoại tử (Hình 2A). Bệnh nhân có
BMI 21,1 kg/m², không bệnh lý kèm theo. Tổn thương kích thước 10×5cm, lộ cân cơ thành bụng.
Phẫu thuật lần 1: Cắt lọc mô hoại tử, rửa sạch và đặt hút áp lực âm (Hình 2B).
Hình 1. (A) Thành bụng hoại tử sau phẫu thuật 19 ngày. (B) Cắt lọc tổ chức hoại tử thành
bụng. (C) Kết quả sau ghép da thành bụng 2 tháng
Trường hợp 2
Bệnh nhân nữ, 33 tuổi, nhập viện sau 6
ngày phẫu thuật hút mỡ tạo hình thành bụng
tại cơ sở tư nhân với vùng da thành bụng dưới
thiểu dưỡng, phỏng nước và hoại tử (Hình 2A).
Bệnh nhân có BMI 21,1 kg/m², không bệnh lý
kèm theo. Tổn thương kích thước 10×5cm, lộ
cân cơ thành bụng.
Phẫu thuật lần 1: Cắt lọc mô hoại tử, rửa
sạch và đặt hút áp lực âm (Hình 2B).
Phẫu thuật lần 2: Sau 2 tuần, tổn thương nhỏ
lại (7×4cm), tiến hành vạt xoay A-T để che phủ.
Kết quả: Sau 2 tuần, vết mổ liền phần lớn,
còn vài điểm chậm liền. Sau gần 2 tháng, vết
thương ổn định hoàn toàn (Hình 2C), tuy có
thêm đường sẹo dọc từ rốn xuống.

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
865TCNCYH 197 (12) - 2025
Trong những năm 1980 - 1990, việc kết hợp
hút mỡ với tạo hình thành bụng được xem là
nguy cơ cao do lo ngại ảnh hưởng đến tuần
hoàn vạt da. Tuy nhiên, Brauman và cộng sự
đã chứng minh hút mỡ chủ yếu bảo tồn các
mạch máu lớn, chỉ ảnh hưởng đến mạch nhỏ.
Năm 1996, kỹ thuật lipoabdominoplasty (LAA)
ra đời, kết hợp hút mỡ và bóc tách hạn chế,
giúp bảo tồn cấp máu cho da.9 Tại Việt Nam, kỹ
thuật này ngày càng phổ biến nhưng các phẫu
thuật viên áp dụng chưa đúng kỹ thuật và lạm
dụng quá mức, dẫn đến nhiều biến chứng, đặc
biệt là hoại tử da.
Nguyên nhân chính dẫn đến biến chứng
hoại tử da thành bụng là việc hút mỡ quá nhiều
ở vùng trung tâm thành bụng, không đúng kỹ
thuật, gây tổn thương da và hệ thống mạch cấp
máu cho vạt da thành bụng. Các khuyến cáo
hiện tại cho rằng độ dày da mỡ sau khi hút ở
vùng trung tâm bụng nên đạt từ 2 - 3cm, với
ống hút kích thước 3 - 3,5mm.9 Tuy nhiên, trong
hai trường hợp hoại tử mà chúng tôi điều trị, độ
dày da mỡ ở vùng trung tâm thành bụng là <
2cm. Ngoài ra, vị trí hút mỡ ở vùng trung tâm
thành bụng thường nằm trong mặt phẳng giữa
lớp mạc sâu và lớp mạc Scarpa, tuy nhiên, các
phẫu thuật viên thường hút mỡ ngay cả phần
lớp mỡ nằm phía trên lớp mạc Scarpa, dẫn đến
tổn thương hệ mạch nông cung cấp máu trực
tiếp cho da.9
Trong quá trình hút mỡ lớp sâu, tiếp xúc với
cân cơ thành bụng và giải phóng các dây chằng
bám da mà vẫn bảo tồn các mạch máu nuôi
da, phương pháp bóc tách bằng hút mỡ “lipo-
dissect” là lựa chọn hiệu quả. Các dây chằng
bám da liên kết da với mạc sâu, tạo thành các
nếp gấp trên thành bụng. Khi da thành bụng
bị kéo căng, các dây chằng này sẽ căng và dễ
dàng bị rách trong quá trình hút mỡ. Các mạch
máu linh hoạt sẽ không bị tổn thương, và việc
giải phóng các dây chằng giữ da đủ để đảm
bảo khả năng di động của vạt da, giúp vết mổ
khi đóng không bị căng.10 Tuy nhiên, trong hai
trường hợp này, vạt da thành bụng khi đóng vết
mổ quá căng đã dẫn đến hoại tử da thành bụng.
Chính vì vậy, trong phẫu thuật tạo hình thành
bụng để vạt da quá căng cũng là một nguyên
nhân dẫn tới biến chứng hoại tử thành bụng.
Vạt da thành bụng căng do chưa giải phóng các
dây chằng bám từ da đến mạc sâu và cắt da
thừa quá nhiều.
Các phương pháp điều trị hiện nay cho da
thành bụng hoại tử bao gồm liệu pháp oxy áp
lực cao và liệu pháp áp lực âm để hỗ trợ đóng
Phẫu thuật lần 2: Sau 2 tuần, tổn thương nhỏ lại (7×4cm), tiến hành vạt xoay A–T để che
phủ.
Kết quả: Sau 2 tuần, vết mổ liền phần lớn, còn vài điểm chậm liền. Sau gần 2 tháng, vết thương ổn
định hoàn toàn (Hình 2C), tuy có thêm đường sẹo dọc từ rốn xuống.
A B C
Hình 2. (A) Thành bụng hoại tử sau phẫu thuật 19 ngày (B) Cắt lọc tổ chức hoại tử thành bụng (C)
Kết quả đóng thành bụng sau 2 tuần
III. BÀN LUẬN
Trong những năm 1980 – 1990, việc kết hợp hút mỡ với tạo hình thành bụng được xem là
nguy cơ cao do lo ngại ảnh hưởng đến tuần hoàn vạt da. Tuy nhiên, Brauman và cộng sự đã
chứng minh hút mỡ chủ yếu bảo tồn các mạch máu lớn, chỉ ảnh hưởng đến mạch nhỏ. Năm 1996,
kỹ thuật lipoabdominoplasty (LAA) ra đời, kết hợp hút mỡ và bóc tách hạn chế, giúp bảo tồn cấp
máu cho da.9 Tại Việt Nam, kỹ thuật này ngày càng phổ biến nhưng các phẫu thuật viên áp dụng
chưa đúng kỹ thuật và lạm dụng quá mức, dẫn đến nhiều biến chứng, đặc biệt là hoại tử da.
Nguyên nhân chính dẫn đến biến chứng hoại tử da thành bụng là việc hút mỡ quá nhiều ở
vùng trung tâm thành bụng, không đúng kỹ thuật, gây tổn thương da và hệ thống mạch cấp máu
cho vạt da thành bụng. Các khuyến cáo hiện tại cho rằng độ dày da mỡ sau khi hút ở vùng trung
tâm bụng nên đạt từ 2 - 3cm, với ống hút kích thước 3 - 3,5mm.9 Tuy nhiên, trong hai trường hợp
hoại tử mà chúng tôi điều trị, độ dày da mỡ ở vùng trung tâm thành bụng là < 2cm. Ngoài ra, vị trí
hút mỡ ở vùng trung tâm thành bụng thường nằm trong mặt phẳng giữa lớp mạc sâu và lớp mạc
Scarpa (Hình 3), tuy nhiên, các phẫu thuật viên thường hút mỡ ngay cả phần lớp mỡ nằm phía
trên lớp mạc Scarpa, dẫn đến tổn thương hệ mạch nông cung cấp máu trực tiếp cho da.9
Trong quá trình hút mỡ lớp sâu, tiếp xúc với cân cơ thành bụng và giải phóng các dây
chằng bám da mà vẫn bảo tồn các mạch máu nuôi da, phương pháp bóc tách bằng hút mỡ “lipo-
dissect” là lựa chọn hiệu quả. Các dây chằng bám da liên kết da với mạc sâu, tạo thành các nếp
gấp trên thành bụng. Khi da thành bụng bị kéo căng, các dây chằng này sẽ căng và dễ dàng bị
rách trong quá trình hút mỡ. Các mạch máu linh hoạt sẽ không bị tổn thương, và việc giải phóng
các dây chằng giữ da đủ để đảm bảo khả năng di động của vạt da, giúp vết mổ khi đóng không bị
căng.10 Tuy nhiên, trong hai trường hợp này, vạt da thành bụng khi đóng vết mổ quá căng đã dẫn
đến hoại tử da thành bụng. Chính vì vậy, trong phẫu thuật tạo hình thành bụng để vạt da quá căng
Hình 2. (A) Thành bụng hoại tử sau phẫu thuật 19 ngày
(B) Cắt lọc tổ chức hoại tử thành bụng (C) Kết quả đóng thành bụng sau 2 tuần
III. BÀN LUẬN

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
866 TCNCYH 197 (12) - 2025
vết thương. Đối với hai bệnh nhân này, chúng
tôi đã thực hiện tương tự như các báo cáo trước
đó: cắt lọc tổ chức hoại tử, chăm sóc vết thương
bằng hệ thống hút áp lực âm và đóng vết thương
thứ cấp là phương pháp điều trị chính.11
Sau khoảng 2 tuần chăm sóc vết thương
bằng hút áp lực âm, chúng tôi tiến hành che
phủ tổn khuyết vùng thành bụng dưới. Tùy
thuộc vào kích thước tổn thương, chúng tôi
đã lựa chọn phương pháp điều trị khác nhau.
Bệnh nhân số 1 có tổn khuyết lớn (chiều dài
14cm và chiều rộng 9cm) kèm theo vạt da thành
bụng căng, xung quanh tổn khuyết cũng bị tổn
thương, nên việc chuyển hoặc xoay vạt 2 bên
thành bụng không đủ che phủ. Vì vậy, chúng tôi
đã thực hiện ghép da dày toàn bộ từ vùng đùi
bên phải để che phủ tổn khuyết. Vùng da ghép
thường lõm và tăng sắc tố hơn vùng da thành
bụng lành. Bệnh nhân số 2 có tổn khuyết nhỏ
hơn (chiều dài 7cm và chiều rộng 4cm), vạt da
thành bụng xung quanh tổn khuyết mềm mại
và di động tốt, do đó chúng tôi đã sử dụng vạt
xoay A-T để che phủ tổn khuyết. Tuy nhiên, do
vạt da thành bụng bị tác động bởi hút mỡ, máu
cung cấp cho mép vạt hơi yếu, dẫn đến việc
vết mổ chưa liền hoàn toàn sau 2 tuần, và cần
thêm 2 tuần chăm sóc vết mổ tại chỗ để lành
hẳn. Đối với phương pháp sử dụng vạt xoay tại
chỗ thì da thành bụng đồng đều về màu sắc và
độ phẳng. Chính vị vậy nếu độ rộng tổn khuyết
vừa phải, da tổ chức xung quanh di động tốt thì
nên sử dụng vạt tại chỗ để đảm bảo tính thẩm
mỹ. Cả 2 trường hợp này, viện phí gần bằng
so với chi phí hút mỡ tạo hình thành bụng, ảnh
hưởng lớn đến kinh tế của bệnh nhân.
Từ tổng hợp y văn và kinh nghiệm lâm sàng,
chúng tôi rút ra một số khuyến nghị để giảm
thiểu biến chứng hoại tử da thành bụng sau
phẫu thuật hút mỡ tạo hình thành bụng:
- Hút mỡ vùng trung tâm thành bụng nên
thực hiện trong mặt phẳng giữa lớp mạc sâu và
lớp mạc Scarpa, với độ dày da mỡ từ 2 - 3cm.
- Bóc tách vạt da thành bụng chỉ cần đủ để
khâu thu cân cơ thành bụng bị giãn.
- Giảm độ căng của vạt da thành bụng khi
đóng vết mổ bằng cách giải phóng các dây
chằng bám da từ lớp mạc sâu và kết hợp khâu
néo từ vạt da vào cân cơ thẳng bụng, tạo các
liên kết mới.
Hạn chế đeo đai bụng chặt trong giai đoạn
hậu phẫu, để tránh tình trạng ứ trệ tĩnh mạch.
IV. KẾT LUẬN
Hoại tử da thành bụng sau hút mỡ kết hợp
tạo hình thành bụng là biến chứng nặng, ảnh
hưởng đến tâm lý, thẩm mỹ và kinh tế người
bệnh. Hút mỡ sai vị trí và quá mức làm tăng
nguy cơ dẫn đến biến chứng hoại tử thành
bụng sau phẫu thuật.
Quá trình điều trị thường kéo dài 1,5 - 2
tháng, đòi hỏi phẫu thuật viên có kinh nghiệm:
- Với tổn khuyết nhỏ, da xung quanh di động
tốt: ưu tiên vạt xoay để đạt kết quả thẩm mỹ.
- Với tổn khuyết lớn (> 10cm), da căng: nên
ghép da dày toàn bộ để đảm bảo liền thương
nhanh và an toàn.
Việc tuân thủ kỹ thuật đúng, hạn chế hút mỡ
quá mức vùng trung tâm, giảm căng khi đóng
vạt và chăm sóc hậu phẫu hợp lý là các yếu tố
quan trọng nhằm phòng ngừa biến chứng này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. American Society of Plastic Surgeons.
2018 Plastic Surgery Statistics Report.
Available from: https://www.plasticsurgery.
org/documents/News/Statistics/2018/plastic-
surgery-statistics-full-report-2018.pdf.
2. Zhitny VP, Iftekhar N, Zide B, Stile F.
Anatomic reconstruction for major tissue loss
following abdominoplasty: a case report. Int J
Surg Case Rep. 2020; 72: 241-244.

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
867TCNCYH 197 (12) - 2025
3. Chia CT, Neinstein RM, Theodorou SJ.
Evidence-based medicine: liposuction. Plast
Reconstr Surg. 2017; 139(1): 267e-274e.
doi:10.1097/PRS.0000000000002859.
4. Vidal P, Berner JE, Will PA. Managing
complications in abdominoplasty: a literature
review. Arch Plast Surg. 2017; 44(5): 457-468.
5. Neaman KC, Armstrong SD, Baca
ME, Albert M, Vander Woude DL, Renucci
JD. Outcomes of traditional cosmetic
abdominoplasty in a community setting. Plast
Reconstr Surg. 2013; 131(3): 403e-410e.
6. Matarasso A, Swift RW, Rankin M.
Abdominoplasty and abdominal contour
surgery: a national plastic surgery survey. Plast
Reconstr Surg. 2006; 117(6): 1797-1808.
7. Farid M, Nikkhah D, Little M, Edwards
D, Needham W, Shibu M. Complications of
cosmetic surgery abroad: cost analysis and
patient perception. Plast Reconstr Surg Glob
Open. 2019; 7(6): e2281.
8. Ross KM, Moscoso AV, Bayer LR,
Rosselli-Risal L, Orgill DP. Plastic surgery
complications from medical tourism treated in a
U.S. academic medical center. Plast Reconstr
Surg. 2018; 141(4): 517e-523e.
9. Brauman D, van der Hulst RWJ, van der
Lei B. Liposuction-assisted abdominoplasty:
an enhanced abdominoplasty technique. Plast
Reconstr Surg Glob Open. 2018; 6(9): e1940.
10. Cárdenas-Camarena L, et al.
Lipoabdominoplasty: what we have
implemented and what we have modified over
26 years. Plast Reconstr Surg Glob Open.
2023; 11(2): e4805.
11. Zhitny VP, et al. Abdominal flap necrosis
and wound dehiscence following a medical
tourist tummy tuck. Case Rep Surg. 2020;
2020: 8819102.
Summary
ABDOMINAL WALL SKIN NECROSIS FOLLOWING
LIPOSUCTION-ABDOMINOPLASTY: TWO CASE REPORTS
AND A LITERATURE REVIEW
Abdominal wall skin necrosis is a severe complication that may occur after liposuction combined
with abdominoplasty. The main contributing factors include excessive liposuction of the central
abdominal region, inappropriate surgical techniques, and excessive tension during abdominal flap
closure. Management of this complication typically requires prolonged wound care and multiple
surgical interventions. We report two cases of abdominal wall skin necrosis following liposuction-
abdominoplasty performed at private medical facilities. Both patients required approximately two
months of treatment and underwent two operations. The first procedure involved surgical debridement
of necrotic tissue combined with negative pressure wound therapy at the defect site. The second
procedure aimed to achieve defect coverage using either a full-thickness skin graft or local rotational
flaps from both sides of the abdominal wall. These cases highlight that abdominal wall necrosis
significantly affects patients’ psychological well-being, aesthetic outcomes, and increases the overall
cost of the treatment. The aim of this study is to describe the causes and current management
approaches for abdominal wall skin necrosis after liposuction-assisted abdominoplasty.
Keywords: Abdominal wall skin necrosis, liposuction-abdominoplasty, complication
management.

