TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
284 TCNCYH 197 (12) - 2025
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TẠO PHÔI CỦA NOÃN NON
TRƯỞNG THÀNH BẰNG RESCUE IVM
Đoàn Phương Thảo1, Nguyễn Văn Mạnh1, Nguyễn Ngọc Kim Thoa1
Đoàn Thành Đạt1, Nguyễn Hữu Thành1 và Nguyễn Khang Sơn2,
1Bệnh viện Đa khoa Hà Nội
2Trường Đại học Y Hà Nội
Từ khoá: Trưởng thành noãn non trong ống nghiệm cứu hộ, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ tạo phôi nang.
Đánh giá hiệu quả tạo phôi của noãn non trưởng thành trong ống nghiệm cứu hộ (rescue IVM). Nghiên cứu
tả hồi cứu trên đối tượng 207 phụ nữ làm thụ tinh trong ống nghiệm với 2231 noãn (1514 noãn trưởng thành
và 717 noãn non) tại Trung tâm hỗ trợ sinh sản và Y học Giới tính, Bệnh viện Đa khoa Hà Nội từ tháng 1/2024
đến tháng 12/2024. Tỷ lệ noãn trưởng thành in vivo là 67,13%, tỷ lệ noãn non là 32,87% (MI là 27,46% và GV
5,41%), tỷ lệ trưởng thành khi nuôi noãn non (MI, GV) qua đêm 87,22%. Khi tạo phôi bằng noãn MII sau
tách và noãn MII rescue IVM nhận thấy tỷ lệ thụ tinh không sự khác biệt giữa 2 nhóm (89,01% 86,12%)
nhưng tỷ lệ tạo phôi nang của nhóm MII rescue IVM thấp hơn ý nghĩa thống so với tỷ lệ tạo phôi nang
của noãn MII đã trưởng thành sau tách trứng (11,59% 62,79%). Không nhận thấy mối liên quan giữa tuổi
và tổng liều FSH với tỷ lệ noãn đã trưởng thành và tỷ lệ noãn trưởng thành muộn sau khi nuôi cấy qua đêm (p
> 0,05). Tỷ lệ thụ tinh của noãn MII rescue IVM cao, không khác biệt so với bình thường nhưng tỷ lệ tạo phôi
thấp. Việc chỉ định nuôi cấy noãn non qua đêm để rescue IVM nên được thể hoá trong từng trường hợp.
Tác giả liên hệ: Nguyễn Khang Sơn
Trường Đại học Y Hà Nội
Email: khangson@hmu.edu.vn
Ngày nhận: 28/10/2025
Ngày được chấp nhận: 19/11/2025
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Rescue IVM thuật thu thập các noãn
chưa trưởng thành từ các chu kỳ IVF/ICSI thông
thường nuôi cấy chúng trong ống nghiệm
đến giai đoạn trưởng thành (MII) để thực hiện
thụ tinh nuôi cấy phôi sau đó. Rescue IVM
thể giúp bệnh nhân tận dụng tối đa các noãn
chưa trưởng thành thường bị loại bỏ trong các
chu kỳ IVF/ICSI, để có thêm cơ hội thành công.
Đặc biệt, đối với những bệnh nhân có giảm dự
trữ buồng trứng, thì mỗi noãn hoặc phôi trưởng
thành bổ sung đều ý nghĩa lâm sàng đáng
kể.1 Hiệu quả tiềm năng tính an toàn của các
noãn MII thu được bằng rescue IVM vẫn còn
gây tranh cãi.2
Hiệu quả ràng nhất của rescue IVM
làm gia tăng số lượng noãn trưởng thành. Tuy
nhiên, liệu nhiều noãn hơn đồng nghĩa
hiệu quả của chu kỳ IVF tốt hơn hay không vẫn
còn đang được tranh luận. Trong điều trị IVF,
người ta đã thống nhất rằng số lượng noãn lấy
ra yếu tố dự báo thai kỳ. Nhiều nghiên cứu
cho thấy, số lượng noãn thu được từ 12 - 18
tối ưu để tỷ lệ sinh sống cao nhất trong các
chu kỳ IVF tươi (fLBR).3 Một số quan điểm cho
rằng tỷ lệ sinh sống tích lũy (CLBR) tăng tỷ lệ
thuận theo số lượng noãn. Tuy nhiên, một số
nghiên cứu cũng chỉ ra rằng CLBR không tăng
khi số lượng noãn tăng.4
Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung
vào mối quan hệ giữa tổng số noãn thu được
tỷ lệ sinh sống (fLBR) hoặc CLBR, tổng
số noãn thu được luôn phản ánh phản ứng
của buồng trứng.5 Tuy nhiên, trong các phác
đồ điều trị IVF thường quy của hầu hết các
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
285TCNCYH 197 (12) - 2025
sở y tế, noãn MII được sử dụng trực tiếp để
thụ tinh nuôi cấy phôi sau đó do khả năng
thụ tinh và phát triển phôi tốt hơn, trong khi các
noãn chưa trưởng thành (GV hoặc MI) thể
được sử dụng bởi rescue IVM thường bị loại
bỏ. Hiện chưa sự đồng thuận về việc liệu
những trường hợp IVF thông thường được
hưởng lợi từ việc rescue IVM hay không. Một
số nghiên cứu đã kết luận rằng rescue IVM hầu
như không giá trị thực tiễn, nhưng cũng
những nghiên cứu cho thấy rescue IVM giúp
cải thiện kết quả sinh sản trong IVF.6 Câu
hỏi đặt ra là: nên rescue những noãn chưa
trưởng thành không hiệu quả tạo phôi sau
ICSI noãn MII rescue như thế nào? Nghiên cứu
này được thực hiện với mục tiêu: Đánh giá hiệu
quả tạo phôi của noãn non trưởng thành bằng
rescue IVM này nhằm trả lời cho những câu
hỏi trên.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
- 207 phụ nữ được làm thụ tinh trong ống
nghiệm có sử dụng kỹ thuật ICSI tại Trung tâm
Hỗ trợ sinh sản Y học Giới tính, Bệnh viện
Đa khoa Hà Nội.
- 2231 noãn bao gồm 1514 noãn MII trưởng
thành 717 noãn non (noãn MI GV) của
207 phụ nữ trên.
Phương pháp lấy mẫu
Lấy mẫu chủ đích toàn bộ đối tượng phù
hợp tiêu chuẩn trong thời gian nghiên cứu.
Tiêu chuẩn lựa chọn
Tất cả các chu IVF/ICSI trong thời gian
nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Người chồng hình thái tinh trùng bất
thường nặng, tinh trùng trích xuất.
- Các cặp vợ chồng bệnh di truyền hoặc
có bất thường di truyền được xác định trước.
- Các noãn thoái hoá, noãn bất thường nặng
(đa cực cầu, noãn khổng lồ...).
2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả hồi cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm hỗ
trợ sinh sản Y học Giới tính, Bệnh viện Đa
khoa Nội trong 12 tháng, từ tháng 1/2024
đến tháng 12/2024.
Quy trình nghiên cứu
- Các cặp vợ chồng được chỉ định thụ tinh
trong ống nghiệm bằng phương pháp ICSI
được kích thích buồng trứng bằng phác đồ
antagonist. Tiêm trưởng thành noãn (trigger)
khi ít nhất 1 nang trên 18mm hoặc 2 nang
trên 17mm. Chọc hút trứng tại thời điểm 36 giờ
sau khi tiêm trigger. Các khối phức hợp noãn
tế bào hạt (COC) được 2 giờ trong môi
trường G-IVF plus (Vitrolife) trong tủ cấy CO2
(37ºC, 6% CO2, 5% O2). Sau tách noãn bằng
môi trường chứa hyaluronidase (Hyase-10XTM),
noãn tiếp tục được ủ 1 giờ trong môi trường G-
IVF plus. Sau đó, các noãn trưởng thành (MII)
được thực hiện ICSI, trong khi các noãn non
tiếp tục được theo dõi qua đêm (20h sau ICSI).
Sau thời gian theo dõi, các noãn non phát triển
lên MII sẽ được thực hiện ICSI, nuôi cấy
đánh giá thụ tinh, tạo phôi tương tự như các
noãn MII trưởng thành đúng nhịp.
- Môi trường nuôi cấy noãn non (MI, GV)
chỉ môi trường nuôi cấy phôi đơn thuần
Continuous Single CultureNX (CSC, FUJIFILM
Irvine Scientific); nuôi theo nhóm 3 - 4 noãn sau
ICSI/giọt, thể tích 50 μl/giọt không kết hợp bổ
sung nội tiết.
- Đánh giá tỷ lệ thụ tinh, hình thái phôi ngày
5 theo Gardner D.K (1999) của 2 nhóm noãn
MII trưởng thành thu được ban đầu noãn MII
thu được sau rescue IVM.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
286 TCNCYH 197 (12) - 2025
Biến số nghiên cứu
- Đặc điểm chung: Tuổi, BMI, tổng liều FSH,
thời gian chờ ICSI (từ khi trigger đến khi ICSI).
- Đặc điểm noãn thu được của chu kích
trứng: Tổng số noãn thu được, số noãn trưởng
thành, số noãn MI, GV, số noãn trưởng thành
qua đêm.
- Đặc điểm phôi học:
+ Tỷ lệ MII = số noãn MII in vivo/tổng số
noãn thu được sau tách trứng.
+ Tỷ lệ MII rescue = số noãn trưởng thành
sau nuôi rescue IVM/số noãn nuôi rescue IVM.
+ Tỷ lệ thụ tinh = số noãn thụ tinh/tổng số
MII được ICSI.
+ Tỷ lệ tạo phôi nang = số phôi nang/số
noãn thụ tinh.
+ Tỷ lệ tạo phôi nang hữu hiệu = số phôi
nang tốt trung bình (phân loại 3BB)/tổng
noãn thụ tinh.
Xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm SPSS 20.0. Sử dụng
Test χ2 để so sánh các tỷ lệ, đánh giá liên quan
với p < 0,05 có ý nghĩa thống kê.
3. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu thuộc loại tả hồi cứu không
có tác động trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu.
Những noãn non được nuôi trưởng thành qua
đêm được thực hiện quá trình thụ tinh theo
rõi riêng biệt không ảnh hưởng tới quá trình nuôi
cấy của các noãn MII trưởng thành đúng nhịp.
III. KẾT QUẢ
Nghiên cứu 207 trường hợp được thực hiện
IVF/ICSI với 2231 noãn (1514 MII 707 MI,
GV) thu được kết quả:
1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
3
Sơ đ 1. Sơ đ nghiên cu
Biến s nghiên cu
- Đc đim chung: Tui, BMI, tng liu FSH, thi gian ch ICSI (t khi trigger đến khi ICSI).
- Đc đim noãn thu đưc ca chu ch trng: Tng s noãn thu đưc, s noãn trưng thành, s
noãn MI, GV, s noãn trưng thành qua đêm.
- Đc đim phôi hc:
o T l MII = s noãn MII in vivo/tng s noãn thu đưc sau tách trng.
o T l MII rescue = s noãn trưng thành sau nuôi rescue IVM/s noãn nuôi rescue IVM.
o T l th tinh = s noãn th tinh/tng s MII đưc ICSI.
o T l to phôi nang = s phôi nang/s noãn th tinh.
o T l to phôi nang hu hiu = s phôi nang tt và trung bình (phân loi 3BB)/tổng noãn thụ
tinh.
X s liu
S dụng phần mềm SPSS 20.0. S dng Test χ2 đ so sánh các t l, đánh giá liên quan vi p <
0,05 ý nghĩa thng kê.
3. Đo đc nghiên cu
Nghiên cu thuc loi t hi cu không tác đng trc tiếp đến đi tưng nghiên cu. Nhng
noãn non đưc nuôi trưng thành qua đêm đưc thc hin quá trình th tinh và theo rõi riêng bit không
nh ng ti quá trình nuôi cy ca các noãn MII trưng thành đúng nhp.
III. KẾT QUẢ
Nghiên cứu 207 trường hợp được thực hin IVF/ICSI với 2231 noãn (1514 MII 707 MI, GV) thu
đưc kết quả:
3.1. Đặc điểm chung của đối tưng nghiên cu
Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng tham gia nghiên cứu (n = 207)
Đc đim
Trung bình
(X ± SD)
Min
Max
Mode
Tui (năm)
33,85 ± 5,75
21
49
36
BMI (kg/MII)
20,65 ± 3,44
16,77
35,57
21,03
Thi gian vô sinh (m)
3,69 ± 1,11
1
14
3
Tng liu FSH (UI)
3381,16 ± 334,17
1200
4950
4500
Thi gian ICSI tính t khi trigger (gi)
39,5 ± 1,03
38
43
39
Sơ đồ 1. Sơ đồ nghiên cứu
Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng tham gia nghiên cứu (n = 207)
Đặc điểm Trung bình
(X
± SD) Min Max Mode
Tuổi (năm) 33,85 ± 5,75 21 49 36
BMI (kg/MII) 20,65 ± 3,44 16,77 35,57 21,03
Thời gian vô sinh (năm) 3,69 ± 1,11 1 14 3
Tổng liều FSH (UI) 3381,16 ± 334,17 1200 4950 4500
Thời gian ICSI tính từ khi trigger (giờ) 39,5 ± 1,03 38 43 39
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
287TCNCYH 197 (12) - 2025
Phụ nữ trong nghiên cứu chủ yếu nằm
trong nhóm tuổi sinh sản (33,85 ± 5,75 tuổi).
Nhóm tuổi phổ biến 36 tuổi. BMI trung bình
trong giới hạn bình thường. Thời gian sinh
trung bình 3,69 ± 1,11 năm, biệt bệnh
nhân mong con 14 năm. Tất cả các trường
hợp đều được kích trứng bằng phác đồ GnRH
antagonist. Tổng liều FSH trung bình 3381,16 ±
334,17UI. Thời gian ICSI trung bình vào 39,5 ±
1,03 giờ sau trigger trong đó đa phần vào thời
điểm 39 giờ.
2. Đặc điểm noãn và kết quả tạo phôi
Bảng 2. Đặc điểm noãn của các chu kì kích trứng (n = 2231)
Đặc điểm noãn Trung bình
(X
± SD) Max Min Mode Tỷ lệ (%)
Số noãn thu được mỗi chu kỳ 11,07 ± 6,17 29 210
Số noãn trưởng thành 7,14 ± 5,18 18 0 667,13
Số MI 3,08 ± 1,22 12 0227,46
Số GV 1,03 ± 1,31 10 0 0 5,41
Số noãn trưởng thành qua đêm 3,21 ± 1,44 16 1 2 87,22
Số noãn trung bình thu được của phụ nữ
trong nghiên cứu này 11,07 ± 6,17 noãn,
nhiều nhất 29 ít nhất 2. Trong đó tỷ lệ
noãn trưởng thành tại thời điểm chọc hút noãn
là 67,13% và có tới 32,87% noãn non sau tách
(27,46% noãn MI 5,41% noãn GV), biệt
trường hợp toàn bộ noãn thu được trong chu kì
là noãn non. Khi được tiến hành nuôi qua đêm
trong môi trường nuôi cấy đơn thuần không bổ
sung FSH, LH 87,22% các noãn non (MI,
GV) tiếp tục trưởng thành đến giai đoạn MII
được rescue ICSI.
Bảng 3. So sánh kết quả ICSI và tạo phôi giữa noãn MII và MII trưởng thành qua đêm
MII MII- rescue p value
Số noãn ICSI 1514 620
Tỷ lệ thụ tinh (%) 89,01 86,12 0,269
Tỷ lệ tạo phôi nang (%) 62,79 11,59 < 0,01
Tỷ lệ phôi nang hữu hiệu (%) 46,39 5,78 < 0,01
Kết quả tạo phôi cho thấy các noãn MII
rescue tỷ lệ thụ tinh thấp hơn nhưng không
đáng kể so với tỷ lệ thụ tinh của các noãn đã
trưởng thành tại thời điểm tách noãn. Tuy nhiên,
tỷ lệ tạo phôi nang (11,59%) phôi nang hữu
hiệu (5,78%) thấp hơn đáng kể ý nghĩa thống
kê với nhóm MII trưởng thành từ đầu.
3. Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ trưởng
thành qua đêm
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
288 TCNCYH 197 (12) - 2025
Bảng 4. Liên quan giữa tuổi và tỷ lệ trưởng thành noãn
Nhóm tuổi Tỷ lệ noãn đã trưởng thành
(%)
Tỷ lệ noãn trưởng thành
khi nuôi qua đêm (%)
Dưới 35 tuổi (n = 104) 67,86 88,38
Từ 35 tuổi trở lên (n = 103) 65,39 86,05
p 0,592 0,328
Nhóm tuổi dưới 35 tuổi tỷ lệ noãn đã
trưởng thành trưởng thành sau rescue IVM
qua đêm (67,86% 88,38%) có xu hướng cao
hơn so với nhóm tuổi trên 35 (65,39 và 86,05),
tuy nhiên khác biệt không ý nghĩa thống
(p > 0,05).
Bảng 5. Liên quan giữa tổng liều FSH và tỷ lệ noãn trưởng thành noãn
Tổng liều FSH Tỷ lệ noãn đã trưởng thành
(%)
Tỷ lệ noãn trưởng thành
khi nuôi qua đêm (%)
Tổng liều FSH dưới 2500 IU
(n = 56) 67,82 84,05
Tổng liều FSH từ 2500 IU
trở lên (n = 151) 66,07 87,33
p p = 0,167 p = 0,732
Tỷ lệ noãn trưởng thành thu được sau tách
trứng ở nhóm có tổng liều FSH cao (66,07%)
xu hướng thấp hơn so với nhóm tổng liều FSH
thấp (67,82%). Tỷ lệ noãn non trưởng thành sau
nuôi cấy qua đêm nhóm tổng liều FSH cao
(87,33%) lại xu hướng cao hơn nhóm tổng
liều FSH thấp (84,05%). Tuy nhiên, các khác biệt
này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu nhận thấy số lượng noãn thu
được trung bình 11,07 ± 6,17 (Bảng 2), tương
tự kết quả thu được từ một số nghiên cứu khác,
đồng thời nằm trong nhóm tỷ lệ thai sinh sống
cao.4 Nghiên cứu thu được tỷ lệ noãn non cao
(32,87%) cao hơn khuyến cáo của ESHRE
2017.7 Điều này có thể lý giải: Thứ nhất, nghiên
cứu của chúng tôi tuổi trung bình khá cao
(33,85 ± 5,75 tuổi (Bảng 1) trong đó các ca
tuổi trên 30 chiếm tới 74,4%, đa phần là 35, 36
tuổi, biệt trường hợp 49 tuổi. Theo Lee
cộng sự (2012), những bệnh nhân dưới
30 tuổi, tỷ lệ noãn chưa trưởng thành là 37,9%
trong khi tỷ lệ này lên tới 52% những bệnh
nhân trên 41 tuổi.8 Thêm vào đó, tổng liều FSH
được sử dụng cho bệnh nhân tương đối cao,
nhiều bệnh nhân phải tăng liều trong quá trình
kích trứng cho thấy các trường hợp đáp ứng
kém với kích thích buồng trứng cũng chiếm tỷ
lệ cao trong đối tượng nghiên cứu của chúng
tôi. Điều này làm giảm tỷ lệ noãn trưởng thành
thu được. Theo Lee cộng sự (2016) tỷ lệ
noãn chưa bệnh nhân đáp ứng kém với kích
thích buồng trứng 63,2% trong khi tỷ lệ này
ở những bệnh nhân đáp ứng buồng trứng bình
thường là 29,3%.1
Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ noãn
non trưởng thành khi nuôi qua đêm 87,22%