
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
499TCNCYH 197 (12) - 2025
KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH
CÁC TRƯỜNG HỢP TĂNG KHOẢNG SÁNG SAU GÁY
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI
Mai Trọng Hưng1, Đinh Thúy Linh1, Lương Hoàng Thành1,2
và Vương Hùng1,
1Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
2Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
Từ khóa: Khoảng sáng sau gáy, chẩn đoán trước sinh.
Nghiên cứu hồi cứu nhằm mô tả kết quả chẩn đoán trước sinh ở các trường hợp thai có tăng khoảng
sáng sau gáy (KSSG) được thực hiện trên hồ sơ thai phụ siêu âm từ 11 đến 13 tuần 6 ngày (chiều dài đầu
mông 45 - 84mm) có KSSG ≥ 3mm tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh - Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ
tháng 1/2023 đến tháng 12/2024. Tuổi thai phụ trung bình là 29,57 ± 4,89 tuổi, không có mối liên quan có
ý nghĩa thống kê giữa tuổi mẹ và độ dày KSSG. Trong số các trường hợp được khảo sát, 41% có KSSG
từ 3,5 - 4,4mm và 3,5% có KSSG ≥ 6,5mm. Thời điểm chọc ối chủ yếu ở tuổi thai 16 - 20 tuần. Tỷ lệ
bất thường nhiễm sắc thể tăng dần theo độ dày KSSG, cao nhất ở nhóm ≥ 6,5mm. Nhóm thai có KSSG
≥ 4,0mm có tỷ lệ bất thường hình thái trên siêu âm cao hơn rõ rệt so với nhóm < 4,0mm (p = 0,003).
KSSG tăng là dấu hiệu cảnh báo sớm cần được theo dõi hình thái chi tiết và chẩn đoán di truyền kịp thời.
Tác giả liên hệ: Vương Hùng
Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
Email: Hoangthanh9794@gmail.com
Ngày nhận: 05/11/2025
Ngày được chấp nhận: 15/11/2025
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Khoảng sáng sau gáy (KSSG) là hình ảnh
siêu âm của một khối chất lỏng dưới da phía
sau cổ thai nhi trong tam cá nguyệt đầu tiên của
thai kỳ. ở thai nhi có bất thường về nhiễm sắc
thể, khuyết tật tim và nhiều hội chứng di truyền,
KSSG thường tăng lên.1 Các nghiên cứu gần
đây cũng ghi nhận mối liên quan giữa KSSG
tăng với các bất thường hình thái của thai nhi,
đặc biệt là các tạng trong lồng ngực như cấu
trúc tim và phù thai, ngay cả khi nhiễm sắc
thể đồ của thai nhi bình thường.2,3 Hơn nữa,
sự phát triển của các kỹ thuật di truyền hiện
đại như giải trình tự toàn bộ bộ gen đã giúp
làm rõ hơn giá trị tiên lượng của chỉ số KSSG
trong phát hiện bất thường thai.4,5 Ở việt nam,
đã có một số nghiên cứu khảo sát mối liên quan
giữa tăng KSSG với bất thường di truyền và
kết cục thai kỳ, tuy nhiên còn thiếu các nghiên
cứu quy mô lớn, cập nhật trong bối cảnh thực
hành chẩn đoán trước sinh hiện đại. Do đó,
nghiên cứu “Kết quả chẩn đoán trước sinh các
trường hợp tăng khoảng sáng sau gáy tại Bệnh
viện Phụ sản Hà Nội năm 2023 - 2024” được
tiến hành nhằm mục tiêu: Mô tả kết quả chẩn
đoán trước sinh của những trường hợp có tăng
khoảng sáng sau gáy.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
Các trường hợp thai phụ được siêu âm
trong khoảng tuổi thai 11 tuần đến 13 tuần 6
ngày (chiều dài đầu mông 45 - 84mm) với kích
thước KSSG ≥ 3mm tại TTCĐTS - Bệnh viện
Phụ sản Hà Nội từ tháng 01/2023 đến tháng
12/2024.

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
500 TCNCYH 197 (12) - 2025
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Hồ sơ bệnh án ghi chép đầy đủ.
- Đơn thai sống.
- Thai nhi có kích thước KSSG ≥ 3mm.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn trên.
- Đa thai.
2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả hồi cứu.
Địa điểm nghiên cứu
- Tại Trung tâm Sàng lọc, Chẩn đoán trước
sinh và sơ sinh, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 01/2023 đến hết tháng 12/2024.
Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
n = Z2
(1-α/2)
p . (1 - p)
d2
Với p = 0,206 là tỷ lệ bất thường hình thái
trên những trường hợp có tăng KSSG trong
nghiên cứu của Nguyễn Hải Long.6 α = 0,05 và
d = 0,05.
n = 251 (Thực tế nghiên cứu chúng tôi thu
thập được 261 trường hợp).
Kỹ thuật chọn mẫu
Chọn mẫu toàn bộ.
Biến số nghiên cứu
Tuổi mẹ, kết quả KSSG (ngưỡng ≥ 3mm phù
hợp với khuyến cáo của ACOG), kết quả NST
đồ (được lấy từ kết quả chọc ối), kết quả siêu
âm (lấy từ kết quả siêu âm hình thái quý II).6
Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được xử lý và phân tích bằng
chương trình thống kê y học SPSS Statistics 25.
Phương pháp thống kê tính tỉ lệ phần trăm (%).
Kiểm định χ2 để xác định mức độ khác nhau có
ý nghĩa thống kê hay không khi so sánh hai tỷ
lệ. Sự khác nhau về kết quả giữa các biến số
được coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.
3. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu không can thiệp trực
tiếp trên bệnh nhân, tiến hành khi được thông
qua Hội đồng khoa học của BVPSHN (Mã số
HĐĐĐ: CS/PSHN/DD/25/22) và sự cho phép
của ban lãnh đạo Bệnh viện Phụ sản Hà Nội,
lãnh đạo TTSLCĐTS. Các thông tin về đối
tượng nghiên cứu được đảm bảo bí mật và chỉ
phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học.
Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở trung
thực, khách quan.
III. KẾT QUẢ
Bảng 1. Phân bố tuổi mẹ theo nhóm kích thước KSSG
Tuổi mẹ
Kích thước KSSG
< 35 tuổi ≥ 35 tuổi p
n%n%
< 4,0mm 115 83,9 22 16,1 0,73
≥ 4,0mm 106 85,5 18 14,5
Tổng số 221 84,7 40 15,3
Nhận xét: Tỷ lệ thai phụ < 35 tuổi trong nhóm có kết quả đo KSSG ở thai nhi < 6,5mm là 84,1%.
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
501TCNCYH 197 (12) - 2025
Bảng 2. Phân bố kích thước của KSSG
KSSG Số lượng (n) Tỉ lệ %
3 - 3,4mm 88 33,7
3,5 - 4,4mm 107 41,0
4,5 - 5,4mm 34 13,0
5,5 - 6,4mm 23 8,8
≥ 6,5mm 9 3,5
Tổng số 261 100
X
±
SD (Min - Max) 4,11 ± 1,08 (3,0 - 9,9)
Nhận xét: Kích thước KSSG trung bình là
4,11 ± 1,08mm, nhỏ nhất là 3,0 mm và lớn nhất
là 9,9mm. Nhóm KSSG 3,5 - 4,4mm chiếm tỷ
lệ cao nhất với 41,0 %. Nhóm KSSG ≥ 6,5mm
chiếm tỷ lệ thấp nhất với 3,5%.
3
Bảng 2. Phân bố kích thước của KSSG
KSSG
Số lượng (n)
Tỉ lệ %
3 - 3,4mm
88
33,7
3,5 - 4,4mm
107
41,0
4,5 - 5,4mm
34
13,0
5,5 - 6,4mm
23
8,8
≥ 6,5mm
9
3,5
Tổng số
261
100
X
±
SD (Min - Max)
4,11 ± 1,08 (3,0 - 9,9)
Nhận xét: Kích thước KSSG trung bình là 4,11 ± 1,08mm, nhỏ nhất là 3,0 mm và lớn nhất là 9,9mm.
Nhóm KSSG 3,5 - 4,4mm chiếm tỷ lệ cao nhất với 41,0 %. Nhóm KSSG ≥ 6,5mm chiếm tỷ lệ thấp nhất
với 3,5%.
Biểu đồ 1. Phân bố thời điểm chọc hút dịch ối
Nhận xét: Tuổi thai trung bình khi CHDO là 17,03 ± 1,03 tuần, nhỏ nhất là 15 tuần 3 ngày, lớn nhất là
21 tuần 6 ngày. CHDO vào thời điểm 16 - 20 tuần chiếm tỷ lệ 96,9%.
Bảng 3. Phân bố kết quả NST đồ theo nhóm kích thước KSSG
NST đồ
KSSG
Bất thường
Bình thường
p
n
%
n
%
3 - 3,4mm
8
9,1
80
90,9
0,069
3,5 - 4,4mm
11
10,3
96
89,7
4,5 - 5,4mm
5
14,7
29
85,3
5,5 - 6,4mm
3
13,0
20
87,0
≥ 6,5mm
4
44,4
5
55,6
Tổng số
31
11,9
230
88,1
Tỷ lệ bất thường NST tăng dần theo kích thước KSSG: từ 9,1% ở nhóm 3 - 3,4mm lên đến 44,4% ở
nhóm ≥ 6,5mm. Điều này phản ánh xu hướng chung được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu rằng NT
96,9
3,2
16 -20 tuần > 20 tuần
3
Bảng 2. Phân bố kích thước của KSSG
KSSG
Số lượng (n)
Tỉ lệ %
3 - 3,4mm
88
33,7
3,5 - 4,4mm
107
41,0
4,5 - 5,4mm
34
13,0
5,5 - 6,4mm
23
8,8
≥ 6,5mm
9
3,5
Tổng số
261
100
X
±
SD (Min - Max)
4,11 ± 1,08 (3,0 - 9,9)
Nhận xét: Kích thước KSSG trung bình là 4,11 ± 1,08mm, nhỏ nhất là 3,0 mm và lớn nhất là 9,9mm.
Nhóm KSSG 3,5 - 4,4mm chiếm tỷ lệ cao nhất với 41,0 %. Nhóm KSSG ≥ 6,5mm chiếm tỷ lệ thấp nhất
với 3,5%.
Biểu đồ 1. Phân bố thời điểm chọc hút dịch ối
Nhận xét: Tuổi thai trung bình khi CHDO là 17,03 ± 1,03 tuần, nhỏ nhất là 15 tuần 3 ngày, lớn nhất là
21 tuần 6 ngày. CHDO vào thời điểm 16 - 20 tuần chiếm tỷ lệ 96,9%.
Bảng 3. Phân bố kết quả NST đồ theo nhóm kích thước KSSG
NST đồ
KSSG
Bất thường
Bình thường
p
n
%
n
%
3 - 3,4mm
8
9,1
80
90,9
0,069
3,5 - 4,4mm
11
10,3
96
89,7
4,5 - 5,4mm
5
14,7
29
85,3
5,5 - 6,4mm
3
13,0
20
87,0
≥ 6,5mm
4
44,4
5
55,6
Tổng số
31
11,9
230
88,1
Tỷ lệ bất thường NST tăng dần theo kích thước KSSG: từ 9,1% ở nhóm 3 - 3,4mm lên đến 44,4% ở
nhóm ≥ 6,5mm. Điều này phản ánh xu hướng chung được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu rằng NT
96,9
3,2
16 -20 tuần > 20 tuần
Biểu đồ 1. Phân bố thời điểm
chọc hút dịch ối
Nhận xét: Tuổi thai trung bình khi CHDO là 17,03 ± 1,03 tuần, nhỏ nhất là 15 tuần 3 ngày, lớn nhất
là 21 tuần 6 ngày. CHDO vào thời điểm 16 - 20 tuần chiếm tỷ lệ 96,9%.
Bảng 3. Phân bố kết quả NST đồ theo nhóm kích thước KSSG
NST đồ
KSSG
Bất thường Bình thường p
n%n%
3 - 3,4mm 8 9,1 80 90,9
0,069
3,5 - 4,4mm 11 10,3 96 89,7
4,5 - 5,4mm 5 14,7 29 85,3
5,5 - 6,4mm 3 13,0 20 87,0
≥ 6,5mm 444,4 5 55,6
Tổng số 31 11,9 230 88,1
Tỷ lệ bất thường NST tăng dần theo kích
thước KSSG: từ 9,1% ở nhóm 3 - 3,4mm lên
đến 44,4% ở nhóm ≥ 6,5mm. Điều này phản
ánh xu hướng chung được ghi nhận trong
nhiều nghiên cứu rằng NT càng lớn thì nguy cơ
bất thường nhiễm sắc thể càng cao. Tuy nhiên,
giá trị p = 0,069 cho thấy sự khác biệt này chưa
đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
502 TCNCYH 197 (12) - 2025
Bảng 4. Phân bố kết quả siêu âm theo nhóm kích thước KSSG
KQ siêu âm
Kích thước KSSG
Bất thường Bình thường POR
(95%CI)
n%n%
< 4,0mm 14 10,2 123 89,8 0,003 0,36
(0,18 - 0,71)
≥ 4,0mm 30 24,2 94 75,8
Tổng số 44 16,9 217 83,1
Nhận xét: Tỷ lệ bất thường hình thái trên
siêu âm ở nhóm KSSG ≥ 4,0mm là 24,2%,
cao hơn rõ rệt so với nhóm KSSG < 4,0mm
(10,2%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p =
0,003). Nhóm KSSG < 4,0mm có nguy cơ xuất
hiện bất thường trên siêu âm thấp hơn 0,36
lần so với nhóm KSSG ≥ 4,0mm (OR = 0,36,
95%CI: 0,18 - 0,71).
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi tại Bệnh viện Phụ
sản Hà Nội (n = 261) liên quan tới thai có KSSG
≥ 3mm ở tuổi thai 11 - 13 tuần 6 ngày cho thấy
điểm nổi bật là: không tìm thấy mối liên hệ có ý
nghĩa thống kê giữa tuổi mẹ và độ dày KSSG;
KSSG trung bình là 4,11 ± 1,08mm; theo đó,
tỷ lệ bất thường NST có xu hướng tăng theo
độ dày KSSG (nhóm ≥ 6,5mm: 44,4%) mặc dù
chưa đạt ý nghĩa thống kê; quan trọng hơn,
nhóm KSSG ≥ 4,0mm có tỷ lệ bất thường hình
thái trên siêu âm rõ ràng cao hơn nhóm < 4,0
mm (24,2% so với 10,2%, p = 0,003).
Tuổi mẹ và độ dày khoảng sáng sau gáy
(KSSG): Việc không tìm thấy sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê giữa nhóm KSSG < 4,0mm
và ≥ 4,0mm về tuổi mẹ cho thấy rằng trong bối
cảnh khảo sát tại BVPSHN, tuổi mẹ (dưới hoặc
trên 35) không ảnh hưởng rõ đến độ dày KSSG
(Bảng 1). Mối liên quan giữa tuổi mẹ và độ dày
khoảng sáng sau gáy (KSSG) hiện vẫn còn
nhiều tranh cãi và kết quả không thống nhất
giữa các nghiên cứu. Một số tác giả ghi nhận
rằng KSSG có xu hướng tăng nhẹ theo tuổi mẹ,
có thể do sự gia tăng tỷ lệ bất thường nhiễm
sắc thể ở nhóm sản phụ lớn tuổi, dẫn đến tỷ lệ
đo KSSG cao hơn trong nhóm này.7nasal bone
(NB Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khác lại cho
thấy tuổi mẹ không ảnh hưởng đáng kể đến giá
trị KSSG, khi độ dày KSSG chủ yếu phụ thuộc
vào tuổi thai, chiều dài đầu-mông (CRL) và
yếu tố kỹ thuật đo.8,9particularly in women with
previous histories\nof infertility, are associated
with fetal abnormalities. Methods such as the
nuchal translucency (NT Một phân tích quy mô
lớn gần đây của Hoa Kỳ cũng cho thấy dù một
số đặc điểm nhân trắc của mẹ (như BMI, chủng
tộc) có thể ảnh hưởng nhẹ đến giá trị KSSG
trung bình, nhưng tuổi mẹ không phải là yếu
tố quyết định độc lập sau khi đã hiệu chỉnh các
biến liên quan.10 Do đó, có thể xem rằng tuổi mẹ
và KSSG phản ánh hai cơ chế nguy cơ khác
nhau: tuổi mẹ liên quan đến quá trình phân chia
giảm nhiễm của noãn, trong khi KSSG phản
ánh thay đổi hình thái và huyết động của thai
nhi. Vì vậy, trong mô hình đánh giá nguy cơ bất
thường nhiễm sắc thể, tuổi mẹ nên được xem
là một biến độc lập, thay vì là yếu tố ảnh hưởng
trực tiếp đến KSSG.
Tăng KSSG và bất thường nhiễm sắc thể:
Phân tích cho thấy xu hướng tăng của tỷ lệ bất
thường nhiễm sắc thể (NST) khi độ mờ da gáy
(KSSG) tăng. Đặc biệt, ở nhóm có KSSG > 6,5
mm, tỷ lệ bất thường NST lên tới 44,4% (Bảng
3). Các nghiên cứu quốc tế cũng ghi nhận kết
quả tương tự. Ví dụ, nghiên cứu quy mô lớn
tại OKSSGario (Canada) trên 414.268 thai kỳ

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
503TCNCYH 197 (12) - 2025
cho thấy nguy cơ bất thường NST tăng dần
theo KSSG, với RR hiệu chỉnh là 20,3 (95% CI:
17,58 - 23,52) ở nhóm KSSG 3,0 - 3,5mm so với
KSSG < 2,0mm (JAMA Network Open, 2024).11
Tại Trung Quốc, Zhang và cộng sự (2023) cũng
báo cáo rằng tỷ lệ bất thường NST là 8,8%
ở nhóm KSSG ≥ 2,5mm so với 1,3% ở nhóm
KSSG < 2,5mm (FroKSSGiers in Medicine,
2023).12 Tuy nhiên, sự khác biệt này không có
ý nghĩa thống kê, cho thấy rằng vẫn có nhiều
trường hợp thai nhi có KSSG tăng nhưng bộ
nhiễm sắc thể hoàn toàn bình thường. Nói cách
khác, KSSG tăng không đồng nghĩa chắc chắn
với bất thường NST, mà chỉ phản ánh xu hướng
nguy cơ cao hơn. Vì vậy, thai phụ nên được tư
vấn đầy đủ và chỉ định xét nghiệm chẩn đoán
phù hợp thay vì chỉ dựa vào kết quả siêu âm.
Ngoài ra, cỡ mẫu trong nghiên cứu, đặc biệt
ở các nhóm có KSSG lớn (≥ 6,5mm), còn hạn
chế, làm giảm sức mạnh thống kê và khả năng
phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa.
Tăng KSSG và bất thường hình thái trên
siêu âm: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy tỷ lệ bất thường hình thái trên siêu âm ở
nhóm thai có KSSG ≥ 4,0mm là 24,2%, cao
hơn rõ rệt so với nhóm KSSG < 4,0mm (10,2%)
(Bảng 4). Điều này cho thấy KSSG tăng là dấu
hiệu cảnh báo sớm các bất thường hình thái,
đặc biệt là dị tật tim bẩm sinh, phù thai, và các
dị tật cấu trúc khác, ngay cả khi nhiễm sắc thể
bình thường. Các nghiên cứu trước đây trên
dân số quốc tế cũng ghi nhận mối liên quan
này: thai nhi có KSSG ≥ 4mm có nguy cơ phát
hiện bất thường hình thái trên siêu âm cao hơn
so với nhóm KSSG thấp hơn, với OR khoảng 2
- 4 lần.12 Điểm mới của nghiên cứu chúng tôi là
phân tích ngưỡng 4,0mm, một mốc chưa được
nhiều nghiên cứu trong nước phân nhóm chi
tiết, và chứng minh mối liên quan có ý nghĩa
thống kê với bất thường hình thái. Tuy nhiên,
cần lưu ý rằng giá trị KSSG chịu ảnh hưởng bởi
tuổi thai và chiều dài đầu mông (CRL). KSSG
có xu hướng tăng sinh lý theo tuổi thai và CRL,
do đó nếu không chuẩn hóa theo bách phân vị,
có thể dẫn đến đánh giá sai lệch. Ngoài ra, các
yếu tố kỹ thuật như tư thế thai, mặt cắt đo và
kinh nghiệm của người thực hiện cũng có thể
gây sai số trong đo đạc. Vì vậy, kết quả cần
được diễn giải thận trọng, và việc đo KSSG
nên tuân thủ các khuyến cáo của ISUOG hoặc
FMF để hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố
nhiễu. Kết quả này gợi ý rằng khi siêu âm quý
I thấy KSSG ≥ 4,0mm, cần tư vấn xét nghiệm
di truyền kết hợp theo dõi hình thái chi tiết, đặc
biệt siêu âm tim thai, để phát hiện sớm các bất
thường tiềm ẩn.
Điểm mạnh, hạn chế và hướng nghiên
cứu trong tương lai: Điểm mạnh của nghiên
cứu là cỡ mẫu tương đối lớn (261 trường hợp),
được đo khoảng sáng sau gáy (KSSG) bằng
phương pháp siêu âm chuẩn, và phân tích chi
tiết theo ngưỡng 4,0mm, điều ít được thực hiện
trong các nghiên cứu trong nước. Nghiên cứu
cũng kết hợp kết quả NST đồ và siêu âm hình
thái, giúp đánh giá toàn diện mối liên quan giữa
KSSG tăng và bất thường hình thái thai nhi.
Hạn chế của nghiên cứu bao gồm thiết kế hồi
cứu, dẫn đến khả năng mất dữ liệu hoặc sai
sót ghi chép; không theo dõi dài hạn các kết
cục thai sau sinh; nghiên cứu được thực hiện
tại một trung tâm duy nhất, do đó kết quả có
thể khó khái quát hóa cho toàn bộ dân số Việt
Nam; và không đánh giá được mối liên quan
giữa xét nghiệm NIPT và KSSG cũng như các
bất thường hình thái, trong khi hiện nay NIPT là
công cụ sàng lọc di truyền không xâm lấn phổ
biến. Gợi ý cho các nghiên cứu trong tương lai
là nên triển khai nghiên cứu tiến cứu đa trung
tâm, theo dõi kết cục thai dài hạn, kết hợp các
xét nghiệm di truyền tiên tiến, bao gồm NIPT,
và phân tích sâu các nhóm KSSG khác nhau
để xác định các ngưỡng nguy cơ tối ưu, từ đó
hỗ trợ tốt hơn cho hướng dẫn lâm sàng và tư
vấn thai phụ.

