
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
73TCNCYH 197 (12) - 2025
ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA ÁP XE NÃO
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN – HÀ NỘI
Dương Trung Kiên1,, Nguyễn Mạnh Hùng1, Nguyễn Việt Đức1,2
Vũ Ngọc Anh1, Đinh Trung Thành1
1Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, Hà Nội
2 Trường Đại học Y Hà Nội
Từ khóa: Áp xe não, phẫu thuật bóc ổ áp xe, chọc hút ổ áp xe.
Điều trị ngoại khoa áp xe não giúp loại bỏ khối choán chỗ nội sọ, đồng thời cho phép định danh vi khuẩn
gây bệnh. Từ tháng 1/2015 đến tháng 1/2025, chúng tôi điều trị 27 trường hợp áp xe não. Số người bệnh
trên 60 tuổi chiếm 48,1%. Triệu chứng đau đầu, liệt nửa người và động kinh lần lượt là 77,7% - 51,8% và
29,6%. Vị trí ổ áp xe nằm trên lều chiếm 88,9%, đa ổ áp xe chiếm 25,9%, ổ áp xe có đường kính trên 2cm
là 81,5%. 77,8% bệnh nhân được phẫu thuật bóc ổ áp xe. Vi khuẩn gây bệnh Staphylococcus aureus gặp
ở 25,9% các trường hợp, 10/27 trường hợp không định danh được vi khuẩn. Có 1 trường hợp tử vong trong
27 trường hợp nghiên cứu, số người bệnh có kết quả điều trị tốt (GOS IV-V) tại thời điểm ra viện và sau
3 tháng lần lượt là 81,4% - 85,2%. Điều trị ngoại khoa cho kết quả khả quan trong điều trị áp xe não. Với
những trường hợp tổn thương nằm sâu trong nhu mô, sử dụng siêu âm trong mổ là một lựa chọn khả thi.
Tác giả liên hệ: Dương Trung Kiên
Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
Email: duongtkien@gmail.com
Ngày nhận: 11/09/2025
Ngày được chấp nhận: 08/10/2025
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Áp xe não được định nghĩa là tình trạng
nhiễm trùng nội sọ, bao gồm nhiễm trùng ở
dưới màng cứng, trong nhu mô não, hoặc
trong não thất. Tỷ lệ mắc áp xe não từ 0,4 đến
0,9 trường hợp/100.000 dân số.1 Ba nguyên
nhân gây bệnh chính, đó là áp xe não do chấn
thương (vết thương sọ não, nhiễm khuẩn sau
phẫu thuật), áp xe não do nhiễm khuẩn từ cơ
quan lân cận (viêm xương chũm, viêm tai giữa,
viêm xoang trán xoang sàng) và áp xe não do
vi khuẩn theo đường máu (haematogenous
infection). Vi khuẩn thường gặp nhất là vi
khuẩn sinh mủ (bacteroides, liên cầu, tụ cầu,
Enterobacteriace), nấm (Aspergillus), hoặc ký
sinh trùng (Toxoplasma gondii).2,3 Việc điều trị
áp xe não là một thách thức và đòi hỏi sự phối
hợp đa chuyên khoa, bao gồm các chuyên gia
về bệnh truyền nhiễm, phẫu thuật thần kinh, vi
sinh và dược lâm sàng. Khi ổ áp xe gây triệu
chứng, bao gồm dấu hiệu của tăng áp lực nội
sọ, gây hiệu ứng khối... can thiệp ngoại khoa
được đặt ra. Nền tảng của điều trị bao gồm kiểm
soát ổ nhiễm khuẩn tại chỗ thông qua hút hoặc
cắt bỏ ổ áp xe, kết hợp với điều trị kháng sinh
kéo dài từ 6 đến 8 tuần.1,3 Chúng tôi thực hiện
nghiên cứu “Điều trị ngoại khoa áp xe não tại
Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn - Hà Nội” nhằm
hai mục tiêu: (1) mô tả đặc điểm lâm sàng, hình
ảnh chụp cộng hưởng từ sọ não có tiêm thuốc
và đặc điểm vi khuẩn học của bệnh nhân áp xe
não, (2) kết quả điều trị ngoại khoa bệnh nhân
áp xe não tại khoa Phẫu thuật Thần kinh - Bệnh
viện Đa khoa Xanh Pôn, Hà Nội.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Các bệnh nhân được chẩn đoán là áp xe
não bằng chụp cộng hưởng từ sọ não có tiêm

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
74 TCNCYH 197 (12) - 2025
thuốc đối quang từ, có kết quả giải phẫu bệnh
khẳng định áp xe não, có kết quả cấy khuẩn,
không phân biệt tuổi, giới, được khám lại kiểm
tra tối thiểu 1 lần tại thời điểm 3 tháng sau điều
trị (được chụp phim cộng hưởng từ sọ não có
tiêm thuốc kiểm tra tại thời điểm này).
Tiêu chuẩn loại trừ
Các bệnh nhân hoặc người đại diện từ chối
tiếp tục tham gia nghiên cứu; các trường hợp u
não áp xe hóa, áp xe não có nguồn gốc bệnh lý
tim mạch, các trường hợp áp xe não đã điều trị
tại các bệnh viện khác.
2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả lâm sàng không đối chứng, có theo
dõi dọc (3 tháng sau phẫu thuật).
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Khoa Phẫu thuật Thần kinh - Bệnh viện Đa
khoa Xanh Pôn, từ tháng 1/2015 đến tháng
1/2025.
Phương pháp chọn mẫu
Thuận tiện, lựa chọn được 27 bệnh nhân.
Nội dung nghiên cứu
Tuổi, giới, triệu chứng lâm sàng, nguồn gốc
ổ áp xe, đặc điểm hình ảnh trên cộng hưởng
từ có tiêm thuốc, phương pháp phẫu thuật, kết
quả cấy khuẩn và kết quả điều trị (theo thang
điểm Glasgow Outcome Scale) tại thời điểm ra
viện và sau 3 tháng được thu thập theo bệnh
án mẫu.
Chỉ định can thiệp ngoại khoa
+ Phẫu thuật bóc ổ áp xe: những ổ áp xe
nằm ở nông dưới 1cm tính từ bề mặt vỏ não,
gây hiệu ứng khối.1,3
+ Chọc dẫn lưu: những ổ áp xe nằm sâu
trên 1cm tính từ bề mặt vỏ não, ổ áp xe ở bán
cầu ưu thế của người bệnh.1,3
3. Đạo đức nghiên cứu
Tất cả các trường hợp tham gia nghiên
cứu đều được bảo mật về thông tin liên quan
đến người bệnh theo quy định hiện hành. Các
số liệu thu thập được chỉ được sử dụng vào
mục đích khoa học. Nhóm nghiên cứu không
có bất kỳ xung đột lợi ích nào trong công bố
nghiên cứu.
III. KẾT QUẢ
1. Đặc điểm chung của nhóm đối tượng
nghiên cứu
Trong 27 trường hợp áp xe não được điều
trị ngoại khoa, tỷ lệ nam/nữ là 2/1, nhóm tuổi
gặp nhiều nhất là trên 60 tuổi, chiếm 48,1%.
Trường hợp cao tuổi nhất là 72 tuổi, bệnh nhân
trẻ nhất là 4 tuổi. Triệu chứng lâm sàng quan
trọng nhất trong nhóm nghiên cứu là đau đầu,
chiếm 77,7%. Các dấu hiệu khác như liệt nửa
người, động kinh chiếm lần lượt là 51,8% và
29,6%. Có 5/27 bệnh nhân nhập viện trong tình
trạng hôn mê.
Trong số 17 trường hợp tìm ra nguồn gốc ổ
áp xe bao gồm 7 trường hợp có nguồn gốc từ
tai mũi họng (25,9%), 7 trường hợp xuất hiện
sau chấn thương (25,9%) và 3 trường hợp sau
các phẫu thuật chấn thương sọ não (11,2%).
Tuy nhiên có 10 bệnh nhân, chúng tôi không
tìm ra được nguồn gốc gây bệnh.
2. Đặc điểm hình ảnh áp xe não
Bảng 1. Đặc điểm hình ảnh áp xe não trên phim cộng hưởng từ sọ não
Số người bệnh Tỷ lệ (%)
Vị trí Trên lều 24 88,9
Dưới lều 3 11,1

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
75TCNCYH 197 (12) - 2025
Số người bệnh Tỷ lệ (%)
Số ổ áp xe Một ổ 20 74,1
Đa ổ 7 25,9
Đường kính < 2cm 5 18,5
≥ 2cm 22 81,5
Thông với não thất Có 3 11,1
Không 24 88,9
Các ổ áp xe nằm trên lều chiếm 88,9%, số ổ áp xe có đường kính trên 2cm chiếm 81,5% và có 3
trường hợp ổ áp xe thông với não thất.
3. Phương pháp điều trị
Bảng 2. Các phương pháp điều trị ngoại khoa áp xe não
Phương pháp điều trị Số người bệnh Tỷ lệ (%)
Phẫu thuật 21 77,8
Chọc hút Free-hand technique 4 14,8
Dưới hướng dẫn của siêu âm 27,4
77,8% các trường hợp được phẫu thuật bóc
toàn bộ ổ áp xe. Chọc dẫn lưu ổ áp xe được
tiến hành trong 6 trường hợp, trong đó có 2
trường hợp được thực hiện dưới hướng dẫn
của siêu âm trong mổ.
4. Kết quả cấy khuẩn
Bảng 3. Các vi khuẩn gây bệnh
Vi khuẩn định danh Số người bệnh Tỷ lệ (%)
Staphylococcus aureus 7 25,9
Klebsiella pneumoniae 5 18,5
Escherichia coli 4 14,8
Toxocara sp. 1 3,8
Không phân lập được vi khuẩn 10 37,0
37% trường hợp chúng tôi không định danh được vi khuẩn, vi khuẩn Gram dương chiếm 25,9%,
có 1 trường hợp áp xe do sán.

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
76 TCNCYH 197 (12) - 2025
5. Kết quả điều trị
Bảng 4. Kết quả điều trị tại thời điểm ra viện và 3 tháng sau phẫu thuật
Kết quả điều trị Thời điểm ra viện Sau 3 tháng
Số người bệnh Tỷ lệ Số người bệnh Tỷ lệ
Kết quả tốt GOS V 13 48,1 15 55,6
GOS IV 9 33,3 8 29,6
Kết quả xấu
GOS III 3 11,0 27,2
GOS II 1 3,8 1 3,8
GOS I 1 3,8 1 3,8
Có 1 trường hợp tử vong trong nhóm nghiên
cứu, số người bệnh có kết quả điều trị tốt (GOS
IV-V) tại thời điểm ra viện và sau 3 tháng lần
lượt là 81,4% - 85,2%.
IV. BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm tuổi
trên 60 chiếm tỷ lệ cao nhất (48,1%), phù hợp
với xu hướng đã được ghi nhận trong các tài
liệu trước đó, cho thấy nguy cơ mắc áp xe
não tăng theo tuổi do sự suy giảm miễn dịch
và bệnh lý nền. Tỷ lệ nam/nữ là 2:1, điều này
phù hợp với nghiên cứu của Nathoo và cộng
sự (2011), cho thấy nam giới có nguy cơ cao
hơn do các yếu tố hành vi và tiếp xúc với yếu
tố nguy cơ chấn thương cao hơn.2 Nghiên cứu
của Zhang và cộng sự (2014) cho biết độ tuổi
trung bình của người bệnh áp xe não là 47,33 ±
2,18 tuổi, với tỷ lệ nam giới mắc bệnh cao gấp
3 lần nữ giới.4
Triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất là đau
đầu (77,7%), tiếp theo là liệt nửa người (51,8%)
và động kinh (29,6%). Hôn mê gặp ở 18,5%
bệnh nhân, cho thấy một tỷ lệ đáng kể bệnh
nhân đến viện trong tình trạng nặng. Các triệu
chứng này phản ánh đặc điểm điển hình của
áp xe não, tuy nhiên tỷ lệ động kinh thấp hơn
một số nghiên cứu quốc tế có thể do đặc điểm
dân số hoặc thời điểm nhập viện khác biệt. Tỷ
lệ người bệnh nhập viện trong tình trạng hôn
mê trong các nghiên cứu của Nathoo và cộng
sự (2011) là 10,3%, Zhang và cộng sự (2014)
là 8%.2,4
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nguồn gốc
ổ áp xe chủ yếu là từ tai mũi họng (25,9%) và
sau chấn thương (25,9%), nhưng đáng lưu ý
có đến 37% trường hợp không xác định được
nguồn gốc, điều này phản ánh tính phức tạp
trong chẩn đoán nguyên nhân cũng như sự cần
thiết của việc khai thác tiền sử bệnh lý tỉ mỉ. Tỷ
lệ này cao hơn so với một số nghiên cứu trước
đây và có thể liên quan đến hạn chế trong khả
năng phát hiện vi sinh vật hoặc thiếu dữ liệu
bệnh sử rõ ràng. Bên cạnh đó, tình trạng nhập
viện của các bệnh nhân trong nghiên cứu đòi
hỏi việc xử trí sớm cũng là một rào cản về mặt
thời gian trong việc tìm hiểu nguyên nhân gây
bệnh. Kameda-Smith và cộng sự (2022) nhận
thấy 17,3% trường hợp áp xe não xuất hiện sau
các phẫu thuật sọ não nói chung, đặc biệt là tỷ
lệ mắc áp xe não sau dẫn lưu não thất ra ngoài
và dẫn lưu não thất ổ bụng là 2,2%.5 Trong
973 người bệnh, mà Nathoo và cộng sự (2011)
công bố nguyên nhân gây áp xe não từ tai mũi
họng chiếm 38,6%, sau chấn thương là 32,8%,
sau phẫu thuật sọ não gặp 3,2%, chỉ có 8,6%
trường hợp không tìm ra nguồn gốc gây bệnh.2
Về đặc điểm hình ảnh học, phần lớn các ổ

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
77TCNCYH 197 (12) - 2025
áp xe nằm trên lều (88,9%) và đơn ổ (74,1%),
với đường kính ≥ 2cm chiếm đa số (81,5%).
Đây là các yếu tố quan trọng quyết định chỉ
định phẫu thuật. Chúng tôi chủ trương can
thiệp phẫu thuật bóc ổ áp xe để có thể giải
quyết được nguyên nhân gây tăng áp lực nội
sọ, đồng thời vẫn cho phép lấy bệnh phẩm để
định danh vi khuẩn. Với những trường hợp
ổ áp xe thông với não thất (11,1%), một yếu
tố tiên lượng xấu đã được chứng minh trong
nhiều nghiên cứu trước, chúng tôi chủ trương
tiến hành can thiệp cấp cứu, đồng thời với sử
dụng kháng sinh phổ rộng liều cao ngay từ
đầu.5,6 Ngoài việc bóc ổ áp xe, chúng tôi đặt
dẫn lưu não thất ra ngoài tại vị trí cùng bên với
phẫu thuật. Sau đó, dựa vào kết quả vi sinh và
kháng sinh đồ để điều chỉnh cho phù hợp với
từng trường hợp cụ thể. Với 1 trường hợp tử
vong trong nghiên cứu cũng thuộc nhóm có ổ
áp xe thông với não thất.
Phẫu thuật bóc toàn bộ ổ áp xe là phương
pháp được áp dụng chủ yếu (77,8%), trong khi
kỹ thuật chọc hút (free-hand hoặc có hướng
dẫn) chỉ chiếm 22,2%. Chọc dẫn lưu ổ áp
xe dưới định vị thần kinh (neuro-navigation)
hoặc định vị khung (stereotactic) được các tác
giả khuyến cáo thực hiện với những ổ áp xe
nằm sâu, đường kính nhỏ, vị trí ở bán cầu ưu
thế.1,3,6 Tuy nhiên, đây là hai phương tiện không
phổ biến ở đa số các cơ sở ngoại Thần kinh.
Chúng tôi sử dụng siêu âm trong mổ để xác
định hướng tiếp cận với tổ chức áp xe cần chọc
dẫn lưu. Đây là phương pháp được một số tác
giả trên thế giới công bố.7,8 Chúng tôi nhận thấy
siêu âm cho phép quan sát trực tiếp tại thời
điểm can thiệp, cũng như có thể phát hiện sớm
biến chứng chảy máu sau chọc hút. Đây là giá
trị lớn nhất của siêu âm đem lại cho phẫu thuật
viên cũng như người bệnh. Tuy nhiên cần có
sự phối hợp tốt giữa người cầm đầu dò siêu âm
định hướng đường vào với phẫu thuật viên để
đảm bảo sự chính xác của phương pháp này.
Kameda-Smith và cộng sự (2022) lại cho
thấy, dẫn lưu ổ áp xe không triệt để cần phải
can thiệp phẫu thuật bóc ổ áp xe chiếm 9%
trong nghiên cứu.5 Tuy nhiên, nhóm tác giả này
nhận thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê về tỷ lệ tử vong giữa hai nhóm phẫu
thuật và dẫn lưu ổ áp xe. Nếu nguyên nhân gây
áp xe não được xác định là do dị vật, hoặc áp
xe đa ổ không thông với nhau thì phẫu thuật lại
là lựa chọn đầu tay.4,9 Kết quả cấy vi khuẩn cho
thấy 37% không phân lập được tác nhân, điều
này phổ biến trong thực hành lâm sàng do sử
dụng kháng sinh trước nhập viện hoặc hạn chế
về kỹ thuật. Staphylococcus aureus (25,9%) và
Klebsiella pneumoniae (18,5%) là các vi khuẩn
thường gặp, phù hợp với nhóm vi khuẩn sinh
mủ thường thấy trong áp xe não. Ghi nhận một
trường hợp do Toxocara sp. cho thấy cần lưu ý
đến các nguyên nhân ký sinh trùng, đặc biệt ở
vùng lưu hành. Nghiên cứu của Nguyễn Xuân
Phương và cộng sự (2025) cũng nhận thấy
Streptococcus là nhóm vi khuẩn được phân lập
nhiều nhất, với 47,1% không xác định được vi
khuẩn cũng tương đồng với nghiên cứu của
chúng tôi.6 Với tất cả các trường hợp sau khi
lấy mủ từ ổ áp xe được gửi soi tươi để có thể
định hướng kháng sinh sử dụng trong khi đợt
kết quả khẳng định về vi khuẩn gây bệnh cũng
như kháng sinh đồ.
Về kết quả điều trị, tỷ lệ bệnh nhân đạt kết
quả tốt (GOS IV-V) tại thời điểm ra viện là 81,4%
và sau 3 tháng là 85,2%, cho thấy hiệu quả
tương đối khả quan của can thiệp ngoại khoa
kết hợp điều trị kháng sinh. Tỷ lệ tử vong 3,8%
là thấp so với một số nghiên cứu quốc tế, có thể
phản ánh hiệu quả phối hợp đa chuyên khoa và
phát hiện sớm, cũng như số lượng bệnh nhân
còn hạn chế. Tỷ lệ tử vong chung của bệnh lý
này từ 8% đến 53% tùy từng nghiên cứu.4,9 Một
số yếu tốt liên quan đến nguy cơ tử vong như
ổ áp xe vỡ vào não thất, thiếu máu não do hiệu
ứng chèn ép, áp xe não đa ổ.2,5,6,9

