TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
868 TCNCYH 197 (12) - 2025
VAI TRÒ CỦA ĐỘT BIẾN RYR2 TRONG PHÂN BIỆT
HỘI CHỨNG QT DÀI VÀ NHỊP NHANH THẤT ĐA HÌNH
PHỤ THUỘC CATECHOLAMINE: BÁO CÁO CA BỆNH
Quách Tiến Bảng1,, Nguyễn Thanh Hải1, Lương Minh Cảnh1
Phạm Văn Xướng1, Trần Quốc Hoàn1, Đoàn Thị Linh2
1Bệnh viện Nhi Trung ương
2Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
Từ khóa: Đột tử, hội chứng QT dài bẩm sinh, nhịp nhanh thất đa hình phụ thuộc catecholamin.
Nhịp nhanh thất đa hình phụ thuộc catecholamin (Catecholaminergic polymorphic ventricular tachycardia -
CPVT) và hội chứng QT dài (long QT syndrome - LQTS) là hai bệnh lý rối loạn di truyền bẩm sinh, đặc trưng là
kéo dài thời gian khử cực và tái cực tâm thất. Trong nghiên cứu này, chúng tôi trình bày hai ca bệnh là anh em
song sinh trong đó 1 bệnh nhi bị ngừng tim ngoại viện nguyên nhân do CPVT. Phân tích gen phát hiện đột biến
RYR2 (ryanodine receptor type 2) ở cả hai anh em. CPVT có thể nhận biết nhầm ở những bệnh nhân ngất hoặc
ngừng tim chẩn đoán LQTS không điển hình nhưng diễn biến lâm sàng nặng nề tỷ lệ tử vong cao hơn LQTS.
Tác giả liên hệ: Quách Tiến Bảng
Bệnh viện Nhi Trung ương
Email: bangnhp@gmail.com
Ngày nhận: 09/10/2025
Ngày được chấp nhận: 06/11/2025
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngoại tâm thu thất (NTTT) tạo nhịp
ngọai vị nằm thất, đặc trưng bằng nhát bóp
đến sớm và biến dạng (QRS > 0,12s), các xung
động ngoại vị thường xuất phát từ những vùng
đầu xa trong hệ thống His-Purkinje.1 Chẩn
đoán Nhịp nhanh thất: khi có > 3 ngoại tâm thu
thất liên tiếp xảy ra. Nhịp nhanh thất kéo dài
tới 30 giây hoặc làm rối loạn huyết động, tụt
huyết áp, được gọi ngoại tâm thu thất dai
dẳng. Ngoại tâm thu thất đa hình phản ánh sự
xuất phát từ nhiều vùng khác nhau trong thất
và có thể liên quan đến các hội chứng di truyền
hoặc bệnh cơ tim ở trẻ có thể dẫn đến rối loạn
chức năng thất trái, bệnh tim, thậm chí làm
khởi phát loạn nhịp thất nguy hiểm trong đó có
CPVT.1,2
Nhịp nhanh thất đa hình phụ thuộc
catecholamin (CPVT) lần đầu tiên được tả
vào năm 1975 là một hội chứng loạn nhịp tim di
truyền hiếm gặp và đặc thù.2
Đến năm 1999,
chế di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường đã
được xác định, với locus gen đầu tiên nằm tại
vùng 1q42-43. Phần lớn các trường hợp CPVT
liên quan đến các biến thể của gen RYR2.
Gen RYR2 hóa thụ thể ryanodine typ 2, một
kênh phóng thích ion canxi (Ca²+) nằm trên lưới
tương của tế bào tim, giữ vai trò trung
tâm trong điều hòa chu trình co giãn của tim.
Các biến thể bệnh của gen RYR2 làm thay
đổi tính ổn định của kênh, dẫn đến rỉ Ca²+
nội bào bất thường trong thì tâm trương, tạo
ra các dòng khử cực muộn kích hoạt các
phát nhịp tự phát trong tim. Khi nồng độ
catecholamine tăng trong gắng sức hoặc xúc
động, các kênh RYR2 bất thường sẽ phóng
thích Ca²+ ạt từ lưới tương, gây mất cân
bằng điện thế tế bào. Hậu quả hình thành các
rối loạn nhịp thất đa hình do catecholamine, nó
là một trong những nguyên nhân hàng đầu của
đột tử do tim ở trẻ em và người trẻ khỏe mạnh
có tim cấu trúc bình thường.1,3,4
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
869TCNCYH 197 (12) - 2025
Song song đó, hội chứng QTc kéo dài
(LQTS) một trong những nguyên nhân gây
đột tử trẻ em. LQTS bẩm sinh thường biểu
hiện từ tuổi nhỏ bằng ngất không nguyên
nhân, co giật giả động kinh hoặc đột tử khi
gắng sức, giật mình trong lúc ngủ. Trẻ tiền
sử thành viên trong gia đình bị đột tử thì khả
năng mắc bệnh sẽ cao hơn.5
Việc phân biệt CPVT với LQTS trẻ em
khó vì cả hai đều có thể biểu hiện bằng hồi hộp
trống ngực, ngất bất thường trên điện tâm
đồ. Cả 2 hội chứng đều cần được theo dõi
điều trị dự phòng bằng chẹn beta giao cảm,
tránh các thuốc kéo dài QT, có thể cần đặt máy
tạo nhịp (Implantable Cardioverter Defibrillator-
ICD) để phòng ngừa ngưng tim, trong đó CPVT
nguy đột tử cao hơn so với LQTS, do đó
bệnh nhân cần được ưu tiên can thiệp đặt máy
tạo nhịp ICD sớm hơn, một số trường hợp chưa
can thiệp được cần tối ưu thuốc loạn nhịp, khi
phối hợp dùng Flecanide bn LQTS phải hết
sức cẩn thận theo dõi sát thuốc thể gây
QT dài. Việc chẩn đoán xác định đúng không
chỉ giúp định hướng điều trị cá thể hóa mà còn
góp phần giảm tỷ lệ tử vong ở bệnh nhi.5-7
II. GIỚI THIỆU CA BỆNH
1. Case 1
Trẻ nam Hoàng K.N 7 tuổi, tiền sử gia
đình ông bà, bố mẹ bình thường, không
ai bệnh tim hoặc đột tử.
Vào tháng 9 năm 2024, trẻ 1 cơn gồng
cứng kéo dài 3 phút tại nhà khi đang ngủ được
cấp cứu tại bệnh viện tuyến trước. Sau cấp cứu
trẻ tỉnh, dấu hiệu sinh tồn ổn định, được thăm
siêu âm tim, điện tâm đồ bề mặt 12 chuyển
đạo không thấy bất thường.
Tháng 4/2025, trẻ đang ngủ với bố mẹ đột
ngột gồng cứng tứ chi lần 2, gọi hỏi không đáp
ứng, gia đình ép tim thổi ngạt khoảng 15 phút
sau đó đưa đến bệnh viện gần nhà được chẩn
đoán ngừng tim, ép tim bóp bóng 20 phút tim
trở lại, trên đường vận chuyển đến Bệnh viện
Nhi Trung ương trẻ nhiều lần ngừng tim.
Thời điểm vào viện, trẻ lơ mơ, Glassgow 12
điểm, đồng tử 2 bên đều 1mm, phản xạ ánh
sáng (+); mạch 110 lần/ phút, HA 90/50 mmHg;
mạch quay bắt rõ, tim nhịp đều, tiếng thổi tâm
thu 2/6 tại mỏm; siêu âm tim Doppler ghi nhận:
Thất trái giãn nhẹ, LVDd 38mm, EF 65%. Điện
tim bề mặt 12 chuyển đạo nhịp xoang 110 ck/
ph, QTc 515ms. Xét nghiệm hoá sinh AST 216
UI/L; ALT 52 UI/L; Ure: 6,7 mmol/L; Creatinin:
73,7 mmol/L, Lactat 3,1; Các xét nghiệm máu
khác trong giới hạn bình thường.
Trẻ được chẩn đoán: Ngừng thở ngừng tim/
TD hội chứng QTc kéo dài
Trẻ được điều trị thở máy, hạ thân nhiệt chủ
động, truyền dịch, kháng sinh, milrinone, lợi
tiểu, propranolon. Sau 4 giờ điều trị, điện tim
ghi nhận nhiều ngoại tâm thu thất đa hình. Sau
6 ngày trẻ tỉnh, cai thở máy, điện tâm đồ không
ghi nhận bất thường.
Trẻ hồi phục tốt sau 2 tuần điều trị
chỉ định cấy máy tạo nhịp ICD nhưng cân
nặng thấp (17kg) nên được dùng Propranolol,
Flecanide kết hợp tránh sử dụng thuốc và thức
ăn làm kéo dài khoảng QTc.
Sau 5 tháng điều trị, trẻ dung nạp tốt, không
triệu chứng lâm sàng với khoảng QTc trong
giới hạn bình thường (414ms). Trẻ được đeo
Holter điện tâm đồ 7 ngày ghi nhận nhịp cơ bản
nhịp xoang. Xuất hiện nhiều ngoại tâm thu
thất đa hình thái (3 hình thái) chiếm 0,02%:
2 chùm đôi, còn lại dưới dạng đơn lẻ, nhịp đôi,
nhịp ba, không R on T. Không có ngoại tâm thu
nhĩ. Không có cơn tim nhanh.
Nghiệm pháp gắng sức điện tâm đồ: Nhịp
tim đạt 90% tần số đích, chạy được 5ph05
giây. Không có ngoại tâm thu, không có cơn tim
nhanh khi gắng sức.
Trẻ được chỉ định làm xét nghiệm gen, kết
quả ghi nhận có đột biến gen RYR2
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
870 TCNCYH 197 (12) - 2025
Hình 1. Kết quả phân tích đột biến gen của bệnh nhân
Hình 2. Hình ảnh điện tâm đồ lúc vào viện vi QTc 515ms kéo dài
Hình 3. Hình ảnh điện tâm đ sau điều tr4 giờ, xuất hiện ngoại tâm thu đa nh thái
Hình 1. Kết quả phân tích đột biến gen của bệnh nhân
Hình 2. Hình ảnh điện tâm đồ lúc vào viện vi QTc 515ms kéo dài
Hình 3. Hình ảnh điện tâm đ sau điều tr4 giờ, xuất hiện ngoại tâm thu đa nh thái
Hình 1. Kết quả phân tích đột biến gen của bệnh nhân
Hình 2. Hình ảnh điện tâm đồ lúc vào viện với QTc 515ms kéo dài
Hình 3. Hình ảnh điện tâm đ sau điều tr4 giờ, xuất hiện ngoại tâm thu đa nh thái
Hình 1. Kết quả phân tích đột biến gen của bệnh nhân
Hình 2. Hình ảnh điện tâm đồ lúc vào viện vi QTc 515ms kéo dài
Hình 3. Hình ảnh điện tâm đ sau điều tr4 giờ, xuất hiện ngoại tâm thu đa nh thái
Hình 1. Kết quả phân tích đột biến gen của bệnh nhân
Hình 2. Hình ảnh điện tâm đồ lúc vào viện với QTc 515ms kéo dài
Hình 3. Hình ảnh điện tâm đồ sau điều trị 4 giờ, xuất hiện ngoại tâm thu đa hình thái
Hình 4. Hình ảnh holter 9 ngày ghi nhận ngoại tâm thu thất đa hình thái (3 hình thái)
chiếm 0,02%: có 2 chùm đôi, còn lại dưới dạng đơn lẻ, nhịp đôi, nhịp ba, không R on T
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
871TCNCYH 197 (12) - 2025
2. Case 2
Anh trai song sinh ngất 3 lần/2 năm, cơn
ngất kéo dài 3 - 5 phút. Trong lúc ngất, trẻ
không co giật, không tím môi đầu chi, không rối
loạn tròn. Trẻ đến viện khám trong tình trạng
lâm sàng ổn định, không ghi nhận bất thường,
siêu âm tim, điện tâm đồ bề mặt bình thường.
Trẻ được đề xuất đeo máy Holter 9 ngày và
xét nghiệm di truyền phát hiện cơn nhanh thất
ngắn và nhịp nhanh thất đa hình thái, ghi nhận
mang đột biến gen RYR2 giống em trai. Bệnh
nhân điều trị Propranolol, từ khi điều trị đến nay
chưa tái phát cơn ngất.
Xét nghiệm gene của bố/mẹ và chị gái ruột:
không thấy đột biến gene RYR2.
Hình 4. Hình ảnh holter 9 ngày ghi nhận ngoại tâm thu thất đa nh thái (3 nh thái) chiếm 0,02%:
2 chùm đôi, còn lại i dạng đơn lẻ, nhịp đôi, nhịp ba, không R on T
Case 2
Anh trai song sinh ngất 3 lần/2 năm, n ngất kéo dài 3 - 5 phút. Trong lúc ngất, trkhông co giật,
không tím môi đầu chi, không rối loạn tròn. Trđến viện khám trong tình trạng lâm sàng ổn định,
không ghi nhận bất tng, siêu âm tim, điện tâm đồ bề mặt nh tng.
Trđưc đề xuất đeo máy Holter 9 ngày xét nghiệm di truyền phát hiện n nhanh tht ngn và
nhịp nhanh thất đa nh thái, ghi nhận mang đột biến gen RYR2 giống em trai. Bệnh nhân điều tr
Propranolol, t khi điều tr đến nay chưa tái phát n ngất.
Xét nghiệm gene của bố/mchị gái ruột: không thấy đột biến gene RYR2.
Hình 5. Đin tâm đ 12 chuyn đo không ghi nhn bt thường
Hình 6. Hình ảnh holter 9 ngày ghi nhận n nhanh thất ngắn nhịp nhanh thất đa nh thái
III. BÀN LUN
Chẩn đoán của LQTS và nhịp nhanh thất đa nh dựa vào điện tâm đồ xét nghiệm gen. Trên điện
tâm đ b mt, ngoại tâm thu thất, xuất phát nằm trên thành của một trong hai thất, phức bộ QRS
biến dạng không sóng p sớm, nhưng hai nhĩ hoạt động nh tng, t xoang nhĩ nên các sóng p
Hình 4. Hình ảnh holter 9 ngày ghi nhận ngoại tâm thu thất đa nh thái (3 nh thái) chiếm 0,02%:
2 chùm đôi, còn lại i dạng đơn lẻ, nhịp đôi, nhịp ba, không R on T
Case 2
Anh trai song sinh ngất 3 lần/2 năm, n ngất kéo dài 3 - 5 phút. Trong lúc ngất, trkhông co giật,
không tím môi đầu chi, không rối loạn tròn. Trđến viện khám trong tình trạng lâm sàng ổn định,
không ghi nhận bất tng, siêu âm tim, điện tâm đồ bề mặt nh tng.
Trđưc đề xuất đeo máy Holter 9 ngày xét nghiệm di truyền phát hiện n nhanh tht ngn
nhịp nhanh thất đa nh thái, ghi nhận mang đột biến gen RYR2 giống em trai. Bệnh nhân điều tr
Propranolol, t khi điều tr đến nay chưa tái phát n ngất.
Xét nghiệm gene của bố/mchị gái ruột: không thấy đột biến gene RYR2.
Hình 5. Đin tâm đ 12 chuyn đo không ghi nhn bt thường
Hình 6. Hình ảnh holter 9 ngày ghi nhận n nhanh thất ngắn nhịp nhanh thất đa nh thái
III. BÀN LUN
Chẩn đoán của LQTS và nhịp nhanh thất đa nh dựa vào điện tâm đồ xét nghiệm gen. Trên điện
tâm đ b mt, ngoại tâm thu thất, xuất phát nằm trên thành của một trong hai thất, phức bộ QRS
biến dạng không sóng p sớm, nhưng hai nhĩ hoạt động nh tng, t xoang nhĩ nên các sóng p
Hình 5. Điện tâm đồ 12 chuyển đạo không ghi nhận bất thường
Hình 6. Hình ảnh holter 9 ngày ghi nhận cơn nhanh thất ngắn
và nhịp nhanh thất đa hình thái
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
872 TCNCYH 197 (12) - 2025
III. BÀN LUẬN
Chẩn đoán của LQTS nhịp nhanh thất đa
hình dựa vào điện tâm đồ xét nghiệm gen.
Trên điện tâm đồ bề mặt, ngoại tâm thu thất,
xuất phát nằm trên thành của một trong hai
thất, phức bộ QRS biến dạng không sóng
p sớm, nhưng hai nhĩ hoạt động bình thường,
từ xoang nhĩ nên các sóng p có thể tùy trường
hợp theo sau QRS hay xuất hiện cùng lúc với
QRS. Đánh giá mức độ nặng của ngoại tâm thu
thất (NTTT): thường theo phân độ của Lown:
độ 0: không có NTTT, độ I: có dưới 1 ngoại tâm
thu thất đơn dạng/phút hoặc dưới 30 NTTT/giờ,
độ II: trên 1 ngoại tâm thu thất đơn dạng/
phút hoặc trên 30 NTTT/giờ, độ III: ngoại tâm
thu thất đa dạng, độ IV A: ngoại tâm thu thất
cặp đôi, độ IV B: ngoại tâm thu thất chuỗi, độ
Bảng 1. Thang điểm Schwartz
Đặc điểm điện tim Điểm
QTc (tính theo công thức Bazett)
+ ≥ 480ms 3
+ 460 - 470ms 2
+ 450ms và ở giới nam 1
QTc ở phút thứ 4 giai đoạn hồi phục khi làm trắc nghiệm gắng sức ≥ 480ms 1
Xoắn đỉnh 2
Sóng T luân chuyển 1
Sóng T có khấc ở 3 chuyển đạo 1
Tần số tim theo tuổi thấp (trẻ em). Tần số tim thấp dưới bách phân vị thứ 2 theo tuổi 0,5
Bệnh sử lâm sàng
Ngất (không tính điểm cho đồng thời ngất và xoắn đỉnh)
+ Có stress 2
+ Không có stress 1
Điếc bẩm sinh 0,5
V: ngoại tâm thu thất đến sớm, hiện tượng R/T
(ngoại tâm thu thất rơi vào sóng T của phức độ
QRST trước đó).8
Đặc trưng của LQTS là khoảng thời gian QT
hiệu chỉnh (corrected QT, QTc) kéo dài, cơn tim
nhanh thất đa hình thái, xoắn đỉnh đột tử.9
Thang điểm Schwartz sử dụng điện tâm đồ, dấu
hiệu lâm sàng, tiều sử gia đình có thể được sử
dụng để đánh giá khả năng mắc LQTS: chẩn
đoán xác định nếu 3,5 điểm, khả năng cao
mắc nếu ở mức 1 - 3,5 điểm và khả nằng thấp
mắc nếu 1 điểm. Tuy nhiên, các trường hợp
có điểm Schwartz ≥ 3,5 hoặc QTc ≥ 500ms cần
được làm xét nghiệm gen để chẩn đoán chính
xác LQTS và thể bệnh.4,5,9