
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
405TCNCYH 197 (12) - 2025
THAY VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ KHÔNG KHÂU
Ở BỆNH NHÂN VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ HAI LÁ VAN HẸP KHÍT
TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI
Phạm Quốc Đạt, Ma Nguyễn Thái Hoàng, Ngô Phi Long
Bệnh viện Bạch Mai
Từ khóa: Van ĐMC không khâu, Perceval Plus, van ĐMC hai lá van.
Nghiên cứu nhằm báo cáo kinh nghiệm bước đầu triển khai kỹ thuật thay van động mạch chủ (ĐMC)
không khâu trên van ĐMC loại hai lá van. Cỡ mẫu gồm 3 bệnh nhân (BN) bệnh van ĐMC hai lá van được
phẫu thuật thay van bằng van ĐMC không khâu Perceval Plus tại Bệnh viện Bạch Mai. Chỉ định phẫu
thuật trên nhóm van ĐMC hai lá van type 1 (phân loại theo Sievers). Tất cả các trường hợp đều tiếp cận
qua đường mở xương ức, cắt bỏ van bệnh lý, lấy vôi vòng van, đo kích thước và thay van theo quy trình
chuẩn. Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT) và cặp ĐMC trung bình lần lượt là 88,7 ± 18,1 và
64,0 ± 21,9 phút. Hậu phẫu thuận lợi. Thời điểm ra viện, siêu âm tim cho thấy diện tích lỗ van hiệu quả
cải thiện rõ, chênh áp qua van thấp. Thay van ĐMC không khâu trên van ĐMC hai lá van là một lựa chọn
khả thi, giúp rút ngắn thời gian phẫu thuật, đảm bảo hiệu quả huyết động và an toàn cho bệnh nhân.
Tác giả liên hệ: Phạm Quốc Đạt
Bệnh viện Bạch Mai
Email: dr.phamquocdat@gmail.com
Ngày nhận: 10/09/2025
Ngày được chấp nhận: 08/10/2025
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Van ĐMC hai lá van là dị tật bẩm sinh
thường gặp nhất của van ĐMC, chiếm khoảng
1 - 2% dân số. Van ĐMC hai lá van thường đi
kèm raphe - dính giữa 2 lá van, vòng van bất
đối xứng và dễ vôi hóa sớm, khiến bệnh nhân
có nguy cơ hẹp khít van ĐMC từ độ tuổi trung
niên. Đáng chú ý, có tới hơn 50% các trường
hợp thay van ĐMC do hẹp khít liên quan đến
bệnh lý van ĐMC hai lá van.1
Trong thập kỷ qua, van ĐMC không khâu ra
đời với ưu điểm rút ngắn thời gian cặp ĐMC và
THNCT, đặc biệt có ý nghĩa ở bệnh nhân lớn
tuổi hoặc nhiều bệnh phối hợp. Van Perceval
Plus với khung nitinol tự giãn nở bọc màng
tim bò giúp loại bỏ hoàn toàn bước khâu vòng
van, tối ưu hóa huyết động và đơn giản hóa
quy trình mổ.2 Giống như thay van ĐMC qua
đường ống thông, thời gian đầu triển khai, van
ĐMC không khâu được khuyến cáo không nên
áp dụng cho van ĐMC hai lá van do lo ngại về
các vấn đề giải phẫu gốc ĐMC phức tạp, vòng
van không cân đối và mức độ vôi hóa nặng.
Những yếu tố này có thể làm tăng nguy cơ hở
cạnh van, di lệch van hoặc biến chứng kỹ thuật
khác sau mổ. Tuy nhiên, khi đường cong học
tập đạt được, các phẫu thuật viên đã mở rộng
chỉ định thay van ĐMC không khâu cho loại
bệnh lý van ĐMC hai lá van. Mặc dù vậy, hiệu
quả trên nhóm van ĐMC hai lá van vẫn còn gây
tranh cãi. Một số nghiên cứu báo cáo kết quả
khả quan, trong khi một số khác cảnh báo nguy
cơ tăng hở cạnh van hoặc di lệch do bất đối
xứng gốc ĐMC.3,4
Theo phân loại Sievers, van ĐMC không
khâu được khuyến cáo chủ yếu cho type 1,
khi các mép van có chiều cao tương đối đồng
đều. Ngược lại, type 0 (không có raphe) thường
được coi là chống chỉ định tương đối do vòng
van có hình ê-líp và không nằm trên cùng một

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
406 TCNCYH 197 (12) - 2025
bình diện. Như vậy, mặc dù van ĐMC hai lá van
không còn được xem là chống chỉ định tuyệt
đối, việc triển khai thay van ĐMC không khâu
trên nhóm này vẫn đòi hỏi kinh nghiệm phẫu
thuật, đánh giá kỹ hình thái giải phẫu và kỹ
thuật xử lý vòng van.5
Tại Việt Nam, bệnh viện Bạch Mai đã bước
đầu triển khai thành công các ca thay van
Perceval Plus trên bệnh nhân van ĐMC có ba
lá van. Tuy nhiên, dựa vào kết quả khả quan
của các nghiên cứu trên thế giới đã đạt được
trên đối tượng van ĐMC hai lá van. Chúng
tôi tiến hành nghiên cứu van không khâu trên
nhóm bệnh van ĐMC hai lá van, nhằm mở ra
một lựa chọn mới trong điều trị cho bệnh nhân.
Mặt khác, chia sẻ kinh nghiệm ban đầu, phân
tích các yếu tố kỹ thuật quan trọng và so sánh
với y văn quốc tế để đánh giá tính khả thi và an
toàn của phương pháp.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
Gồm 3 bệnh nhân được phẫu thuật thay van
ĐMC không khâu trên bệnh van ĐMC hai lá van
bằng van Perceval Plus tại Bệnh viện Bạch Mai
trong tháng 6/2025.
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bệnh van ĐMC hai lá van hẹp hoặc hẹp-hở
phối hợp, có chỉ định phẫu thuật.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh van ĐMC hai lá van type 0.
- Viêm nội tâm mạc nhiễm trùng van ĐMC.
- Giãn lớn gốc ĐMC hoặc vòng van không
đủ điều kiện kỹ thuật.
Chọn mẫu: trong tổng số 8 bệnh nhân bệnh
van ĐMC có hai lá van được lựa chọn, có 2
bệnh nhân van ĐMC hai lá van type 0; 3 bệnh
nhân giãn gốc ĐMC hoặc ĐMC lên không đủ
điều kiện thay van ĐMC không khâu, còn lại
3 bệnh nhân đủ điều kiện thay van ĐMC bằng
van Perceval Plus được chọn vào nghiên cứu.
2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả loạt ca lâm sàng.
Cấu tạo van ĐMC không khâu Perceval
Plus: gồm 3 phần (Hình1):
- Khung giá đỡ: bằng hợp kim Nitinol tự
giãn nở, có khả năng nhớ hình, giúp van được
nén gọn trong bộ thả và tự mở rộng, bám chắc
vào vòng van khi thả van.
- Lá van sinh học: gồm ba lá làm từ màng
tim bò, khâu cố định vào khung.
- Cổ van: bọc màng tim bò, với viền cổ
phía trên tạo gờ mềm “tựa” lên vòng van để bịt
kín, phần nền cổ nằm trong đường ra thất trái,
giống như một chiếc nút chai đặt vào đường
ra thất trái và vòng van ĐMC và cũng là điểm
neo chính của van cùng với vị trí nối xoang ống
của giá đỡ neo vào ĐMC lên. Trên nền cổ có
ba khuyên chỉ màu xanh giúp định hướng van
khi đặt.
3
Hình 1. Cấu trúc của van ĐMC không khâu Perceval Plus (Corcym, Italy)6
Quy trình kĩ thuật: Tất cả các BN được làm các xét nghiệm trước mổ như thường quy và chụp
cắt lớp vi tính ĐMC trước mổ để đánh giả khả năng thay van không khâu Perceval Plus, cũng như dự trù
lựa chọn kích thước van trước mổ.
BN được gây mê, mở xương ức, thiết lập THNCT, cặp ĐMC và mở ĐMC theo chiều ngang, chỗ
mở cao hơn so với chỗ nối xoang ống 1 - 1,5cm, bảo vệ cơ tim bằng máu ấm trực tiếp lỗ động mạch vành.
Van ĐMC được cắt và gặm bỏ vôi vòng van tối đa. Đo kích thước van và quyết định kích thước
van theo các cỡ S, M, L, XL. Dùng dụng cụ đo van, để đánh dấu 3 điểm tương ứng với 3 mũi chỉ khâu định
hướng, đảm bảo chia vòng van thành 3 góc 120o đều nhau, với điểm đầu tiên được đặt giữa xoang không
vành.
Chuẩn bị van và triển khai van vào vị trí, đảm bảo phần viền cổ van ở vị trí phía trên vòng van còn
phần nền cổ van nằm trong vòng van và đường ra thất trái.
Nong bóng, kiểm tra van nở hết, không còn hở cạnh van (hình 2).
Đóng ĐMC, thả cặp ĐMC, cai máy THNCT và đóng xương ức.
Hình 2. Thay van ĐMC không khâu
Hình 1. Cấu trúc của van ĐMC không khâu
Perceval Plus (Corcym, Italy)6
Quy trình kĩ thuật: Tất cả các bệnh nhân
được làm các xét nghiệm trước mổ như thường
quy và chụp cắt lớp vi tính ĐMC trước mổ
để đánh giả khả năng thay van không khâu
Perceval Plus, cũng như dự trù lựa chọn kích
thước van trước mổ.
Bệnh nhân được gây mê, mở xương ức,

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
407TCNCYH 197 (12) - 2025
thiết lập THNCT, cặp ĐMC và mở ĐMC theo
chiều ngang, chỗ mở cao hơn so với chỗ nối
xoang ống 1 - 1,5cm, bảo vệ cơ tim bằng máu
ấm trực tiếp lỗ động mạch vành.
Van ĐMC được cắt và gặm bỏ vôi vòng van
tối đa. Đo kích thước van và quyết định kích
thước van theo các cỡ S, M, L, XL. Dùng dụng
cụ đo van, để đánh dấu 3 điểm tương ứng với
3 mũi chỉ khâu định hướng, đảm bảo chia vòng
van thành 3 góc 120o đều nhau, với điểm đầu
tiên được đặt giữa xoang không vành.
Chuẩn bị van và triển khai van vào vị trí, đảm
bảo phần viền cổ van ở vị trí phía trên vòng van
còn phần nền cổ van nằm trong vòng van và
đường ra thất trái.
Nong bóng, kiểm tra van nở hết, không còn
hở cạnh van (hình 2).
Đóng ĐMC, thả cặp ĐMC, cai máy THNCT
và đóng xương ức.
3
Hình 1. Cấu trúc của van ĐMC không khâu Perceval Plus (Corcym, Italy)6
Quy trình kĩ thuật: Tất cả các BN được làm các xét nghiệm trước mổ như thường quy và chụp
cắt lớp vi tính ĐMC trước mổ để đánh giả khả năng thay van không khâu Perceval Plus, cũng như dự trù
lựa chọn kích thước van trước mổ.
BN được gây mê, mở xương ức, thiết lập THNCT, cặp ĐMC và mở ĐMC theo chiều ngang, chỗ
mở cao hơn so với chỗ nối xoang ống 1 - 1,5cm, bảo vệ cơ tim bằng máu ấm trực tiếp lỗ động mạch vành.
Van ĐMC được cắt và gặm bỏ vôi vòng van tối đa. Đo kích thước van và quyết định kích thước
van theo các cỡ S, M, L, XL. Dùng dụng cụ đo van, để đánh dấu 3 điểm tương ứng với 3 mũi chỉ khâu định
hướng, đảm bảo chia vòng van thành 3 góc 120o đều nhau, với điểm đầu tiên được đặt giữa xoang không
vành.
Chuẩn bị van và triển khai van vào vị trí, đảm bảo phần viền cổ van ở vị trí phía trên vòng van còn
phần nền cổ van nằm trong vòng van và đường ra thất trái.
Nong bóng, kiểm tra van nở hết, không còn hở cạnh van (hình 2).
Đóng ĐMC, thả cặp ĐMC, cai máy THNCT và đóng xương ức.
Hình 2. Thay van ĐMC không khâu
Chỉ số nghiên cứu
- Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trước
mổ, đặc điểm trong mổ.
- Đặc điểm sớm sau mổ, và kết quả siêu
âm tim.
3. Đạo đức nghiên cứu
Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân được
bác sĩ giải thích tất cả các phương án điều trị
thay thế van ĐMC, nguy cơ, rủi ro cũng như ưu,
nhược điểm của từng phương pháp trước khi
Hình 2. Thay van ĐMC không khâu
(A):chuẩn bị thả van; (B):nong bóng sau khi thả van; (C): kiểm tra van)
AB C
lựa chọn phương pháp phẫu thuật thay thế van
ĐMC bằng van động mạch không khâu. Nghiên
cứu không đem lại nguy cơ cho người bệnh và
tuân thủ nguyên tắc giữ bí mật thông tin.
III. KẾT QUẢ
Nghiên cứu gồm 3 bệnh nhân (1 nam, 2 nữ),
tuổi trung bình 68,7 ± 4,0. Tất cả đều được chẩn
đoán hẹp khít van ĐMC có hoặc không kèm hở
van. Đặc điểm chẩn đoán bệnh van ĐMC được
trình bày trong (bảng 1).

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
408 TCNCYH 197 (12) - 2025
Bảng 1. Đặc điểm chung của bệnh nhân trước mổ
BN Tuổi Giới Bệnh
kèm theo
Tổn
thương
Van ĐMC
LVEF
(%)
Chênh áp
(mmHg)
tối đa/
trung bình
Diện tích
(cm²)
Tổn thương
VHL
171 Nam COPD Hẹp khít,
hở vừa 33% 102/62 0,49 Không
264 Nữ COPD,
THA
Hẹp khít,
hở nhiều 46% 96/61 0,93 Không
371 Nữ Hen,
THA
Hẹp khít,
hở nhẹ 60% 132/94 0,45 HoHL
vừa
Các bệnh nhân đều được chụp cắt lớp để
đánh giá hình thái van ĐMC, kích thước vòng
van, đoạn nối xoang ống, vị trí động mạch vành
và góc giữa van hai lá và ĐMC. Tất cả các ca
đều là van ĐMC hai lá van type 1 R-L (1 raphe
lá vành trái với lá vành phải). Các kích thước
đều nằm trong giới hạn khuyến cáo của nhà
sản xuất. Dựa vào các thông số để dự trù kích
thước van (bảng 2).
Bảng 2. Đặc điểm cắt lớp vi tình trước mổ
BN Phân loại
Đường kính (mm) Tỷ lệ
STJ/vòng
van
Chiều cao (mm) Cỡ van
dự kiến
Vòng
van STJ ĐMC
lên STJ Vành
trái
Vành
phải
1Type 1, R-L 26,5 31,4 33,7 1,18 31,4 16,6 21,6 XL
2Type 1, R-L 26,1 27,2 31,2 1,04 27,2 20,8 22,1 XL
3Type 1, R-L 21,8 24,0 29,3 1,10 24 15,8 13,1 M
Các bệnh nhân được mở dọc giữa toàn bộ
xương ức. Thời gian THNCT và cặp chủ trung
bình: 88,7 ± 18,1 và 64,0 ± 21,9 phút. Kích
thước van sử dụng: 2 ca cỡ XL, và 1 ca cỡ S.
Một bệnh nhân thay đổi cỡ van so với dự kiến
(dự trù thay van cỡ M nhưng thực tế thay van
cỡ S). Không có trường hợp phải chuyển sang
thay van ĐMC khâu truyền thống hoặc cặp chủ
lại, thả lại van trong mổ. Có 1 bệnh nhân mổ
sửa van hai lá kèm theo. Tất cả bệnh nhân
được cai máy THNCT ngay trong mổ, không
cần hỗ trợ cơ học sau mổ.
Bảng 3. Đặc điểm phẫu thuật
BN Đường mổ Thời gian (phút) Cỡ van Phẫu thuật
kèm theo
Biến chứng
trong mổ
THNCT Cặp ĐMC Dự kiến Thực tế
1Toàn bộ xương ức 96 55 XL XL Không Không

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
409TCNCYH 197 (12) - 2025
BN Đường mổ Thời gian (phút) Cỡ van Phẫu thuật
kèm theo
Biến chứng
trong mổ
THNCT Cặp ĐMC Dự kiến Thực tế
2Toàn bộ xương ức 68 48 XL XL Không Không
3Toàn bộ xương ức 102 89 MSSửa VHL Không
BN sau mổ được chuyển về, theo dõi hậu
phẫu tại khoa hồi sức, không có biến chứng
sau phẫu thuật, không có bệnh nhân nào phải
đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn. Không có tử vong
tại viện. Tình trạng lâm sàng ổn định, xuất viện
8 - 12 ngày sau phẫu thuật. Siêu âm tim sau
mổ cho thấy chênh áp qua van thấp, với chênh
áp tối đa trong khoảng 16 - 23mmHg và chênh
áp trung bình 9 - 12mmHg, diện tích lỗ van
hiệu dụng (EOA) trong khoảng 1,51 - 1,71cm2,
không ghi nhận hở cạnh van.
Bảng 4. Đặc điểm sau phẫu thuật
BN
Thời gian Biến
chứng
Chênh áp
(mmHg)
Tối đa/trung bình
EOA
(cm2)
LVEF
(%)
Thở máy
(giờ)
Hồi sức
(ngày)
Nằm viện
(ngày)
118 210 Không 21/11 1,71 40%
214 2 12 Không 23/12 1,69 64%
314 18 Không 16/09 1,51 65%
IV. BÀN LUẬN
Van ĐMC không khâu ra đời dựa trên
nguyên lý của thay van ĐMC qua đường ống
thông nhằm rút ngắn thời gian phẫu thuật, đồng
thời khắc phục được những điểm hạn chế của
thay van qua da. Chính vì vậy, chỉ định của van
ĐMC không khâu thường được lựa chọn cho
các bệnh nhân nằm ở “vùng xám” chồng lấn
giữa chỉ định mổ mở truyền thống và thay van
qua da. Cụ thể là các bệnh nhân có nguy cơ
phẫu thuật cao nhưng giải phẫu lại không phù
hợp với thay van qua da, hoặc không đủ điều
kiện kinh tế để thay van van qua da. Các bệnh
nhân trong nghiên cứu của chúng tôi đều cao
tuổi, nguy cơ phẫu thuật cao, giải phẫu van
ĐMC 2 lá van không thuận lợi cho thay van qua
đường ống thông nên được chỉ định thay van
ĐMC không khâu.
Kết quả bước đầu tại Bệnh viện Bạch Mai
cho thấy, thay van ĐMC không khâu bằng van
Perceval Plus ở bệnh nhân van ĐMC hai lá van
hoàn toàn khả thi và an toàn. Cả ba bệnh nhân
trong loạt ca này đều được phẫu thuật thành
công, không có tử vong sau mổ, không ghi
nhận hở cạnh van; cũng như không có trường
hợp nào phải đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn. Thời
điểm ra viện, siêu âm tim cho thấy diện tích
lỗ van hiệu dụng cải thiện rõ và chênh áp qua
van thấp. Kết quả này phù hợp với báo cáo
từ dữ liệu quốc tế thay van ĐMC không khâu
(Sutureless and Rapid-Deployment Aortic Valve
Replacement International Registry/SURD-IR)
trên 191 bệnh nhân van ĐMC hai lá van được
thay van không khâu (Perceval hoặc Intuity).
Nghiên cứu này ghi nhận tỷ lệ tử vong 30 ngày

