
130
LỊCH SỬ Y HỌC
MỤC TIÊU
1. Trình bày được những nét khái quát về một số danh nhân y học.
2. Trình bày được những nét chính của quá trình phát triển y học Việt Nam.
NỘI DUNG
Y học là khoa học và nghệ thuật chữa bệnh, bao gồm nhiều phương pháp chăm
sóc sức khỏe nhằm duy trì, hồi phục cơ thể từ việc phòng ngừa và chữa bệnh.
Cho đến nay, nhiều tác giả cho rằng lịch sử y học có thể đã ra đời cùng với lịch sử phát
sinh bệnh tật và lịch sử người thầy thuốc. Y học thời tiền sử dùng thảo mộc, thể tạng
động vật hay khoáng chất để chữa trị mà nhiều khi chúng được người chữa trị (như tu
sĩ, thầy thuốc) mô tả như là những chất thần diệu.Y học hiện đại ứng dụng các ngành
khoa học sức khỏe, y sinh học, công nghệ y học để chẩn đoán và chữa trị bệnh tật bằng
thuốc, phẫu thuật hoặc bằng phương pháp trị liệu khác. Sự phát triển y học thế giới và
của Việt nam gắn liền với tên tuổi của các danh y như Hypocrates, Galen, Louis Pasteur,
Lê Hữu Trác….
1. MỘT SỐ DANH NHÂN Y HỌC THẾ GIỚI
1.1. Hypocrates (460-377 trước công nguyên)
Ông là thầy thuốc Hy Lạp, được thừa nhận là ông tổ của ngành Y. Người ta cho
rằng ông sinh ra ở đảo Cos, một hòn đảo nằm ven bờ biển Tiểu Á, gần Rhodes. Ông đã
học nghề y từ người cha, vốn là một thầy thuốc. Ông đã từng đi một số nơi, có lẽ là
Athen, để nghiên cứu, và sau đó ông trở lại đảo Cos để thành nghề, giảng dạy và viết
sách. Trường phái Hypocrates, hay trường phái Cos hình thành xung quanh ông đã đóng
vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tách y học ra khỏi những suy luận mê tín và triết
học, đưa y học thành phạm trù khoa học chính xác dựa trên quan sát khách quan và lập
luận suy diễn chặt chẽ.
Mặc dù Hypocrates theo quan niệm thời bấy giờ cho rằng bệnh tật là hậu quả của
sự mất cân bằng của bốn loại thể dịch, ông kiên trì quan điểm rằng sự rối loạn chịu sự
ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài cơ thể và thể dịch là chất tiết ra từ các tuyến.
Ông tin rằng mục đích của y học là bồi đắp sức khoẻ cho bệnh nhân thông qua chế độ
ăn hợp lý và các biện pháp vệ sinh, và chỉ nên sử dụng các biện pháp điều trị quyết liệt
hơn khi các triệu chứng bắt buộc phải làm như vậy. Quan niệm này trái ngược với
trường phái Cnidus cùng thời, nhấn mạnh đến việc chuẩn đoán chi tiết và phân loại mà
bỏ qua bệnh nhân. Có lẽ Hypocrates đã có ý niệm mơ hồ về các yếu tố Mendel và bộ
ghen trong di truyền, vì ông không chỉ chú ý đến dấu hiệu của bệnh, mà còn đến các
triệu chứng biểu hiện trong gia đình hoặc trong cộng đồng, thậm chí biểu hiện qua nhiều
thế hệ liên tiếp.
Trong bộ sách đồ sộ gồm những tác phẩm viết tắt bắt nguồn từ trường phái Cos,
chỉ một số ít được cho là do chính Hypocrates viết ra, mặc dù người ta có thể cảm nhận

131
được ảnh hưởng xuyên suốt của ông. Trong số này, cuốn “Cách ngôn”, tóm tắt những
quan sát và suy luận của ông, cùng với cuốn “Không khí, Nước và Nơi sống”, thừa nhận
mối liên quan giữa môi trường và bệnh tật, được xem là quan trọng hơn cả. Bộ sách này
đã được dịch thành một số văn bản, trong đó nổi tiếng là bản dịch của Littré.
Mặc dù lời thề Hypocrates không trực tiếp mang lại danh tiếng cho ông, song
không nghi ngờ gì nữa, nó tiêu biểu cho những tư tưởng và nguyên tắc của ông. Vẫn chi
phối việc thực hành y đức của bác sỹ ngày nay, lời thể Hypocrates thường vang lên tại
lễ tốt nghiệp của các trường y. Lời thề quy đinh chi tiết quyền được giữ bí mật của bệnh
nhân, yêu cầu người thầy thuốc phải có cuộc sống riêng tư và nghề nghiệp đáng kính
trọng và đòi hỏi họ điều trị chỉ với mục đích chữa khỏi bệnh.
Lời thề Hypocrates
Tôi xin thề trước Apollon thần chữa bệnh, trước Es – culape thần y học, trước
thần Hygie và Panacée, và trước sự chứng giám của tất cả các nam nữ thiên thần, là tôi
sẽ đem hết sức lực và khả năng để làm trọn lời thề và lời cam kết sau đây:
Tôi sẽ coi các thầy học của tôi ngang hàng với các bậc thân sinh ra tôi. Tôi sẽ
chia sẻ với các vị đó của cải của tôi. Tôi sẽ coi con của thầy như anh em ruột thịt của
tôi, và nếu họ muốn học nghề y thì tôi sẽ dạy cho họ không lấy tiền công mà cũng không
hề giấu nghề. Tôi sẽ truyền đạt cho họ những nguyên lý, những bài học truyền miệng và
tất cả vốn hiểu biết của tôi cho các con tôi, các con của thầy dạy tôi và cho tất cả các
môn đệ cùng gắn bó bởi một lời thề đúng với Y luật mà không truyền cho một ai khác.
Tôi sẽ chỉ dẫn mọi chế độ có lợi cho người bệnh tuỳ theo khả năng và sự phán
đoán của tôi, tôi sẽ tránh mọi điều xấu và bất công.
Tôi sẽ không trao thuốc độc cho bất kỳ ai, kể cả khi họ yêu cầu và cũng không
tự mình gợi ý cho họ; cũng như vậy, tôi cũng sẽ không trao cho bất cứ người phụ nữ nào
thuốc sảy thai.
Tôi suốt đời hành nghề trong sự vô tư và thân thiết.
Tôi sẽ không thực hiện những phẫu thuật mở bàng quang mà dành công việc đó
cho những người chuyên.
Dù vào bất cứ nhà nào, tôi cũng chỉ vì lợi ích của người bệnh, tránh mọi hành vi
xấu xa, cố ý và đồi bại nhất là tránh cám dỗ phụ nữ và thiếu niên tự do hay nô lệ.
Dù tôi có nhìn hoặc nghe thấy gì trong xã hội, trong và cả ngoài lúc hành nghề
của tôi, tôi sẽ xin im lặng trước những điều không bao giờ cần để lộ ra và coi sự kín đáo
trong trường hợp đó như là một nghĩa vụ.
Nếu tôi làm trọn lời thề này và không có gì vi phạm tôi sẽ được hưởng một cuộc
sống sung sướng và sẽ được hành nghề trong sự quý trọng mãi mãi của mọi người. Nếu
tôi vi phạm lời thề này hay tôi tự phản bội, thì tôi sẽ phải chịu một số phận khổ sở ngược
lại.
1.2. Louis Pasteur
Louis Pasteur sinh ngày 27/12/1821 ở Dole, một vùng của Jura, Pháp. Khám phá
của ông cho rằng hầu hết các bệnh nhiễm trùng là do những mầm bênh, mang tên “lý
thuyết về mầm bệnh”, là một trong sự khám phá quan trọng nhất trong lịch sử y học.

132
Sự nghiệp của ông trở thành nền móng cho ngành vi sinh, và là cột mốc đánh dấu bước
ngoặt của y học hiện đại.
Tóm tắc những đóng góp to lớn của Louis Pasteur cho vi sinh và y học:
Thứ nhất, ông đấu tranh đòi thay đổi thực hành trong bệnh viện để giảm thiểu lây
lan do bệnh vi khuẩn. Thứ hai, ông phát hiện ra rằng có thể dùng dạng vi khuẩn đã làm
yếu để chủng ngừa chống lại dạng vi khuẩn độc. Thứ ba, Louis Pasteur thấy rằng bệnh
dại lây nhiễm nhờ một tác nhân rất nhỏ không nhìn thấy dưới kính hiển vi, nhờ đó mở
ra thế giới các virut. Kết quả là ông đã triển khai được kỹ thuật tiêm vaccin cho chó
chống bệnh dại và điều trị người bị chó dại cắn. Thứ tư, Pasteur đã phát triển phương
pháp “tiệt trùng kiểu Pasteur”, một quy trình dùng sức nóng để tiêu diệt vi khuẩn có
hại trong các loại thực phẩm dễ thiu thối mà không làm hỏng thực phẩm.
Sự nghiệp của Pasteur
Mỗi khám phá trong sự nghiệp của Pasteur đều là những mắt xích của một chuỗi
không tách rời bắt đầu bằng tính bất đối xứng phân tử và kết thúc bằng phòng bệnh dại,
theo con đường nghiên cứu trên men, tằm, bệnh của rượu và bia, vô trùng và vaccin.
Từ tinh thể học tới phân tử bất đối xứng
Năm 1847 ở tuổi 26, Pasteur tiến hành công trình đầu tiên về tính bất đối xứng
phân tử, nêu lên cùng một lúc các nguyên lý của tinh thể học, hoá học và quan học. Ông
đã đề ra định luật cơ bản: tính bất đối xứng phân chia thế giới hữu cơ với thế giới vô cơ.
Nói một cách khác, các phân tử bất đối xứng luôn là sản phẩm của sinh thể sống. Công
trình của ông trở thành cơ sở cho một ngành khoa học mới-ngành khoá học lập thể.
Nghiên cứu sự lên men và sự tự sinh
Theo yêu cầu của một nhà sản xuất rượu tên là Bigo ở miền bắc nước Pháp,
Pasteur bắt đầu nghiên cứu xem tại sao rượu lại bị nhiễm những chất ngoài ý muốn trong
quá trình lên men. Ông đã sớm chứng minh được rằng mỗi giai đoạn của quá trình lên
men đều liên quan với sự tồn tại của một loại vi sinh vật đặc thù hay con men - một
sinh vật mà người ta có thể nghiên cứu bằng cách nuôi cấy trong môi trường vô trùng
thích hợp. Nhận định sáng suốt này là cơ sở của ngành si vinh.
Pasteur đã giáng một đòn quyết định vào thuyết tự sinh, học thuyết đã từng tồn
tại trong 20 thế kỷ cho rằng cuộc sống có thể tự nảy sinh từ những chất liệu hữu cơ. Ông
cũng phát triển lý thuyết mầm bệnh. Cùng thời gian này, ông khám phá ra sự tồn tại của
sự sống trong điều kiện không có oxy. “Lên men là hậu quả của sự sống không có không
khí”. Khám phá về sự sống yếm khí đã mở ra con đường nghiên cứu những mầm bệnh
gây nhiễm trùng huyết và bệnh hoại thư, cùng với nhiều bệnh nhiễm trùng khác. Nhờ
Pasteur, người ta có thể phát minh ra những kỹ thuật tiêu diệt vi khuẩn và kiểm soát ô
nhiễm.
Kỹ thuật tiệt trùng kiểu Pasteur
Hoàng đế Napoleon III đề nghị Pasteur nghiên cứu những bệnh ảnh hưởng đến
rượu đang gây thiệt hại cho ngành sản xuất rượu. Năm 1864, Pasteur tới khu vườn nho
ở Arbois để nghiên cứu vấn đề này. Ông đã chứng minh rằng bệnh của rượu là do vi
sinh vật gây ra, những vi sinh vật này có thể bị tiêu diệt bằng cách đun nóng rượu đến

133
nhiệt độ 550C trong vài phút. áp dụng cho bia và sữa, cách xử lý này, được đặt tên là
“tiệt trùng kiểu Pasteur” đã nhanh chóng thông dụng trên khắp thế giới.
Nghiên cứu bệnh nhiễm trùng ở người và động vật
Năm 1865, Pasteur bắt đầu nghiên cứu những bệnh của tằm đang làm lụi bại
ngành tằm tơ ở Pháp. Ông đã tìm ra tác nhân gây bệnh và cách lan truyền những tác
nhân này- theo quy luật lây và di truyền- và cách ngăn ngừa bệnh. Bổ xung thêm nghiên
cứu về sự lên men, giờ đây ông có thể khẳng định mỗi bệnh là do một vi khuẩn đặc
trưng gây ra và những vi khuẩn này là những yếu tố ngoại lai. Với hiểu biết này, Pasteur
có thể đặt ra những quy tắc cơ bản của tiệt trùng. Ngăn ngừa được lây nhiễm, phương
pháp tiệt trùng của ông đã cách mạng hoá ngành ngoại khoa và sản khoa.
Từ năm 1877-1887, Pasteur vận dụng cơ sở vi sinh học vào cuộc chiến chống các
bệnh nhiễm trùng. Ông tiếp tục tìm ra ba vi khuẩn gây bệnh cho người: tụ cầu, liên cầu
và phế cầu.
Điều trị và phòng ngừa bệnh dại
Louis Pasteur đã tìm ra phương pháp làm yếu các vi sinh vật độc là cơ sở cho
chủng ngừa. Ông đã phát triển các vaccin chống bệnh tả ở gà, bệnh than và bệnh lợn
đóng dấu. Sau khi nắm vững phương pháp chủng ngừa, ông đã áp dụng khái niệm này
vào bệnh dại. Ngày 6/7/1885, lần đầu tiên Pasteur đã thử phương pháp điều trị bệnh dại
của mình cho người: bé Joseph Meister đã được cứu sống.
Thành lập viện Pasteur
Ngày 1/3/1886, Pasteur trình bày kết quả phương pháp điều trị bệnh dại của ông
trước Viện Hàn lâm Khoa học Pháp và kêu gọi thành lập một trung tâm vaccin dại. Đông
đảo dân chúng và cộng đồng quốc tế đã vận động cho việc xây dựng Viện Pasteur, một
viện nghiên cứu tư đầu tiên được Tổng thống Pháp Jules Gresvy công nhận năm 1887
và được người kế nhiệm là ông Sadi Carnot khánh thành năm 1888. Theo mong ước của
Pasteur, Viện được xây dựng thành một cơ sở điều trị bệnh dại, một trung tâm nghiên
cứu các bệnh nhiễm trùng và một trung tâm giảng dạy.
Nhà khoa học 66 tuổi đã dành trọn 7 năm cuối cùng của cuộc đời cho Viện nghiên
cứu vẫn mang tên ông. Trong thời gian này, Pasteur cũng được hưởng niềm vui của
danh tiếng và được tôn vinh khắp thế giới bằng những huân, huy chương có uy tín.
Sự nghiệp của ông được tiếp tục và được mở rộng trên khắp thế giới nhờ lớp lớp học trò.
Con người của tự do và nghiêm ngặt
Sự nghiệp của Pasteur không đơn thuần là phép cộng những khám phá của ông.
Nó còn tiêu biểu cho cuộc cách mạng phương pháp luận khoa học. Pasteur đặt lên trên
hết hai nguyên tắc không thể bàn cãi của nghiên cứu hiện đại: tự do sáng tạo nhất thiết
phải đi với thử nghiệm nghiêm ngặt. Ông đã dạy các học trò của mình: “Đừng có đưa
ra điều gì mà không thể chứng minh bằng thực nghiệm”.
Louis Pasteur là người theo chủ nghĩa nhân văn, luôn luôn làm việc theo hướng
cải thiện địa vị của con người. Ông là một người tự do chưa bao giờ ngập ngừng khi
nhận những vấn đề mà trong thời đại của ông người ta vẫn thường cho rằng chúng sẽ
thất bại.

134
Ông đặc biệt coi trọng việc phổ biến kiến thức và ứng dụng nghiên cứu. Trong
cuộc đời của một nhà khoa học, lý thuyết và phương pháp của Pasteur đã được đưa vào
thực tiễn vượt xa khỏi biến giới nước Pháp.
Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng quốc tế của sự nghiệp ông, các học trò của
Pasteur đã đi khắp thế giới tới bất cứ nơi nào cần đến sự giúp đỡ của họ. Năm 1881,
Viện Pasteur ngoài nước Pháp đầu tiên được thành lập ở Sài Gòn (nay là thành phố Hồ
Chí Minh, Việt Nam), mở đầu cho mạng lưới các Viện Pasteur quốc tế.
Vì ông đã làm thay đổi vĩnh viễn thế giới, tổ quốc quê hương ông và cả thế giới
luôn coi ông là một ân nhân của nhân loại.
Sự tiến bộ của nhân loại
“Tôi cầu khẩn các bạn dành sự quan tâm cho những lãnh địa thiêng liêng rất nhạy
cảm có tên là các phòng thí nghiệm. Mong sao những lãnh địa này sẽ nhiều hơn và chúng
sẽ được tô điểm trở thành những ngôi đền của tương lai, của thịnh vượng và sức khoẻ.
Đây là nơi nhân loại sẽ lớn lên, vững mạnh và hoàn thiện. Ở đây, loài người sẽ học cách
đọc được sự phát triển và sự hài hoà cá nhân trong những công việc của tự nhiên, trong
khi công việc của chính loài người lại thường man rợ, cuồng tín và phá hoại:- Louis
Pasteur.
1.3. Alexandre-émile-John Yersin
Cuộc đời
Alexandre Yesin, tên gọi đầy đủ Alexandre-émile-John Yersin, sinh năm 1863 ở
Vaul-Morger, Thuỵ Sỹ. Năm 1882 ông nhận bằng tú tài văn khoa. Năm 1888, sau khi
tốt nghiệp trường y Paris, ông đã chính thức nhập quốc tịch Pháp. Cũng thời gian này,
ông tham gia nhóm nghiên cứu của bác sỹ Louis Pasteur. Sau đó, bác sỹ Yersin trở nên
nổi tiếng qua nhiều công trình tiên phong do nhóm nghiêm cứu của Pasteur tiến hành.
Niềm say mê du lịch đã đưa ông tới Việt Nam.
Tháng 7/ 1891, khi tới thám hiểm những cao nguyên ở Việt Nam, ông đã phát
hiện ra Đà Lạt và sau đó là nhiều nguồn nước khu vực này. Ông cũng nổi tiếng vì đã
khám phá ra nhiều bí ẩn của vùng cao nguyên phía tây Việt Nam.
Mặc dù Yersin yêu Đà Lạt, nhưng ngôi nhà của ông lại nằm ở Nha Trang. Tại
Nha Trang, Yersin đã xây dựng Viện Pasteur, mang tên người thầy của ông. Bác sỹ
Yersin cũng có một nông trại ở Nha Trang. Ông nuôi ngựa để tiến hành nghiên cứu về
miễn dịch. Ông cũng có đóng góp to lớn cho ngành cao su Việt Nam. Vì chính ông là
người đưa cây cao su Braxin vào Việt Nam. Alexander Yersin cũng là người xây dựng
những đồn điền canh ki na đầu tiên ở Việt Nam, từ đây người ta sản xuất ra quinin.
Bác sỹ Yersin sống giản dị ở Nha Trang. Ông được người dân địa phương yêu
mến vì đức khiêm tốn và sự chăm sóc mà ông dành cho mọi người. Ông mua một khu
trang trại bỏ hoang và sơn nó thành màu trắng. Đây vừa là nhà vừa là phòng thí nghiệm
của ông. Dân địa phương thân mật gọi ngôi nhà là Lầu Ông năm hay Tháp Ngà.
Năm 1940, sức khoẻ đã giảm sút, Alexander Yersin về Pháp lần cuối. Năm 1941,
ông trở lại ngôi nhà thân thương ở Nha Trang, ở đây ông đã sống những ngày còn lại và
trút hơi thở cuối cùng vào ngày 3/1/1943, thọ 80 tuổi. Trong di chúc, ông yêu cầu được

