HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MINH LOAN
LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MINH LOAN
LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành
: Kinh tế chính trị
Mã số
: 62 31 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS NGUYỄN KHẮC THANH
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận án là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ
theo đúng quy định.
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Loan
MỤC LỤC
Trang
1 6 MỞ ĐẦU Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI
6 13 24 1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 1.2. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước 1.3. Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài và những
vấn đề đặt ra cần phải tiếp tục nghiên cứu 29
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
2.1. Lý luận về lợi ích kinh tế 2.2. Lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu 29 36 tư nước ngoài 2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người lao động trong các 50
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam 69
76
2.4. Kinh nghiệm một số tỉnh của Việt Nam về việc giải quyết lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Chương 3: THỰC TRẠNG LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 76
3.1. Những thuận lợi và khó khăn thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội 3.2. Tình hình thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh 82 nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội 100
118
3.3. Đánh giá chung về thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 118
4.1. Những quan điểm cơ bản nhằm bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội 127
4.2. Các giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội
148 151
152 KẾT LUẬN DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ luật lao động
:
BLLĐ
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
:
Chủ nghĩa tư bản
CNTB
:
Doanh nghiệp
:
CNH, HĐH
DN
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
:
DNCVĐTNN
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
:
FIE
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá
:
ISO
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
:
FDI
Tổng sản phẩm quốc nội
GDP
:
KCN
:
Khu công nghiệp
:
Lợi ích kinh tế
LIKT
:
Quan hệ sản xuất
:
Sản xuất kinh doanh
QHSX
SXKD
:
Trật tự an toàn xã hội
TTATXH
:
Đô la Mỹ
USD
:
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Các quốc gia có số vốn đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam 6 61
tháng đầu năm 2014
Bảng 3.1: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp vào sự 88
tăng trưởng của GDP
Bảng 3.2: Mức lương tối thiểu vùng đối với doanh nghiệp FDI 90
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1: Đánh giá trình độ chuyên môn của lực lượng lao động 78
thành phố Hà Nội năm 2013
89 Biểu đồ 3.2: Mức độ hài lòng về các chế độ cho công nhân
92 Biểu đồ 3.3: Lý do chưa hài lòng của người lao động
94 Biểu đồ 3.4: Nguyên nhân đình công của người lao động
96 Biểu đồ 3.5: Các tổ chức đại diện đấu tranh cho người lao động trong
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Biểu đồ 3.6: Hoàn cảnh cư trú của người lao động trong các doanh 98
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Hà Nội
Sơ đồ 2.1: Mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa người lao động, 59
doanh nghiệp, nhà nước
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tình hình hiện nay trước sự bùng nổ về khoa học kỹ thuật thông tin
và xu thế toàn cầu hóa kinh tế đã tạo cho nền kinh tế thế giới phát triển năng
động mạnh mẽ hơn, cùng với xu thế chung đó đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng đã có sự gia tăng hơn trước rất nhiều.
Sự gia tăng đó do nhiều yếu tố khách quan tác động, đặc biệt là sự tác
động của nền kinh tế thế giới bước đầu thoát ra khỏi khủng hoảng. Lạm phát ở
một số nước Châu Á giảm, tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trong khu vực đã có
chiều hướng gia tăng. Đầu tư nước ngoài vào thành phố Hà Nội có sự khởi sắc
đã tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Đáng chú ý là các dự
án đầu tư được thực hiện đã góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm cho
số lượng lớn lao động của thành phố Hà Nội.
Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DNCVĐTNN) đã quan tâm
đến lợi ích của người lao động làm việc ở cơ sở sản xuất của họ, trả lương cho công
nhân ở mức thoả đáng đáp ứng nhu cầu tái sản xuất sức lao động, quan tâm đến điều
kiện môi trường làm việc của công nhân và đã có những hoạt động nhằm nâng cao
đời sống tinh thần cho công nhân. Phần lớn người lao động trong các DNCVĐTNN
có thu nhập khá ổn định, tiền thưởng tăng lên, lợi ích kinh tế (LIKT) của người lao
động được bảo đảm, đời sống của họ từng bước được cải thiện, góp phần thực hiện
mục tiêu ổn định kinh tế - xã hội ở Thủ đô và các tỉnh lân cận.
Tuy nhiên, bên cạnh các DNCVĐTNN có sự quan tâm đối với đời sống vật
chất, tinh thần cho người lao động, cũng còn không ít các chủ doanh nghiệp (DN)
do chạy theo lợi nhuận, mưu lợi cho mình nên đã hạn chế, không quan tâm tới lợi ích
chính đáng của người lao động làm việc trong cơ sở sản xuất của mình, trả lương cho
công nhân thấp, lương không bảo đảm tái sản xuất sức lao động ở mức bình thường,
điều kiện, môi trường làm việc độc hại không được xử lý, trang thiết bị cho người lao
động không bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn lao động. Nhiều DNCVĐTNN
không lo được chỗ ở cho công nhân, phần lớn công nhân tự thuê nhà, phòng trọ để cư
trú, các nhà trọ gần với khu vực làm việc của công nhân, nhưng mang tính tạm bợ, bố
2
trí trong không gian chật hẹp, thiếu điện nước thường xuyên. Đời sống tinh thần của
công nhân cũng rất hạn chế, ngoài giờ làm việc công nhân ít được tiếp xúc với các
phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, phim ảnh, ti vi…
Nhìn chung, tình trạng một số DNCVĐTNN vẫn chưa quan tâm thích đáng
đến lợi ích kinh tế của người lao động cụ thể là:
- Vi phạm lợi ích kinh tế trực tiếp của người lao động: Tiền công; tiền
thưởng; quỹ phúc lợi, bảo hiểm.
- Vi phạm lợi ích kinh tế gián tiếp: Điều kiện môi trường làm việc độc hại,
trang thiết bị cho người lao động không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn lao
động thấp; đời sống tinh thần thiếu thốn.
- Xuất hiện nhiều hiện tượng tiêu cực trong quá trình sử dụng lao động, lừa
đảo, đánh đập người lao động, không thể hiện sự quan tâm đến lợi ích kinh tế của
người lao động...
Do điều kiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong các
DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội không được bảo đảm dẫn tới tình trạng
người lao động trong nhiều DN đình công, đấu tranh đòi tăng lương, cải thiện môi
trường làm việc, yêu cầu các chủ DN quan tâm tới các nhu cầu và lợi ích chính
đáng của công nhân. Mặt khác, cũng do lợi ích của công nhân bị xâm hại, mức
lương thấp, điều kiện cuộc sống khó khăn đã có một bộ phận công nhân sa vào các
tệ nạn xã hội trộm cắp, cờ bạc, lừa đảo… Tất cả các hiện tượng tiêu cực nảy sinh
trong đời sống của người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố
Hà Nội đã tác động không tốt đối với sự phát triển kinh tế và trật tự an toàn xã hội
(TTATXH) trên địa bàn thành phố.
Trước thực trạng trên dẫn đến có nhiều cuộc đình công, bãi công, của người
lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Do tích tụ mâu
thuẫn trong giải quyết lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNCVĐTNN
xuất hiện những xung đột xã hội, gây ra những biến động xấu về kinh tế, chính trị.
Đây không chỉ là vấn đề bức xúc mà còn là vấn đề phải giải quyết cơ bản lâu dài
trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài và bảo đảm lợi ích kinh tế cho người lao
động, cần phải được nghiên cứu và có những giải pháp cần thiết. Vì vậy, nghiên cứu
3
sinh lựa chọn vấn đề: "Lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội", để làm đề tài luận án
Tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
sâu sắc.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về LIKT của người lao động trong
các DNCVĐTNN. Luận án đánh giá thực trạng LIKT của người lao động trong
các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội trong những năm qua. Trên cơ
sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm bảo đảm LIKT của người lao động trong
các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn về LIKT và LIKT của người lao
động trong các DNCVĐTNN.
- Phân tích, đánh giá thực trạng LIKT của người lao động trong các
DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm LIKT của người lao
động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020 và tầm
nhìn đến năm 2030.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án: Luận án tập trung nghiên cứu về
LIKT mà người lao động có được khi làm việc trong các DNCVĐTNN trên địa bàn
thành phố Hà Nội.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
- Về nội dung: Trên địa bàn thành phố Hà Nội có vốn đầu tư nói chung, mà
chỉ nghiên cứu trong DN thuộc loại 100% vốn đầu tư nước ngoài.
- Về không gian: Trên địa bàn thành phố Hà Nội ở 3 khu công nghiệp
(KCN): KCN Bắc Thăng Long huyện Đông Anh, Hà Nội; KCN Nội Bài huyện Sóc
Sơn, Hà Nội, và KCN Quang Minh huyện Mê Linh, Hà Nội.
- Về thời gian: Luận án nghiên cứu từ năm 2000 đến 2014 và đề xuất giải
pháp đến năm 2020.
4
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận của luận án
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, chủ
trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhà
nước; kết quả của những công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu có liên quan đến
LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN. Từ đó, xây dựng cơ sở lý luận
cho đề tài của luận án.
4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án
- Về phương pháp luận: Luận án sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá khoa học để phân
tích các vấn đề lý luận và thực tiễn.
- Về phương pháp nghiên cứu cụ thể: Sử dụng các phương pháp thống kê,
phân tích, lô gíc kết hợp với lịch sử, khảo sát thực tiễn.
- Kế thừa một cách có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình khoa
học đã được công bố, đồng thời cập nhật, bổ sung những tư liệu mới về chủ đề
nghiên cứu.
5. Những đóng góp mới của luận án
- Làm rõ khái niệm, bản chất, đặc trưng và cơ cấu LIKT của người lao động
trong các DNCVĐTNN.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến LIKT của người lao động trong các
DNCVĐTNN.
- Đánh giá thực trạng LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN trên
địa bàn thành phố Hà Nội. Chỉ ra được những nguyên nhân gây nên xung đột về lợi
ích giữa người lao động với các chủ DNCVĐTNN.
- Đề xuất các quan điểm nhằm bảo đảm LIKT của người lao động trong các
DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Đề xuất 03 nhóm giải pháp nhằm bảo đảm LIKT của người lao động trong
các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong
giảng dạy, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến LIKT của người lao động nói
chung và người lao động trong các DNCVĐTNN nói riêng.
5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về mặt lý luận, luận án đã hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề lý
luận cơ bản về LIKT như: Khái niệm về lợi ích, LIKT, LIKT của người lao động
trong các DNCVĐTNN, đặc điểm, cơ cấu, các nhân tố ảnh hưởng đến LIKT của
người lao động. Trên cơ sở đó, luận án góp phần tạo ra cơ sở lý luận vững chắc về
LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN ở Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn, từ phân tích thực trạng LIKT của người lao động trong
các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2000 - 2014, luận án chỉ
ra những kết quả đạt được, những mặt hạn chế chủ yếu và nguyên nhân của những
hạn chế đó, đưa ra các quan điểm và giải pháp có tính khả thi, nhằm bảo đảm LIKT
của người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Vì vậy,
luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo tốt cho thành phố Hà Nội nói riêng để
vận dụng vào giải quyết mối quan hệ LIKT giữa người lao động, DNCVĐTNN và
các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 4 chương, 12 tiết.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
1.1.1. Một số tác phẩm nghiên cứu về lợi ích kinh tế tiêu biểu của
nước ngoài
Trong tác phẩm "The wealth of nations" (Của cải của các dân tộc) [3, tr.65]
của A.Smith, cho rằng: Sự tiến bộ vĩ đại nhất trong quá trình phát triển sức sản xuất
của lao động và tỷ lệ đáng kể của nghệ thuật, kỹ năng và trí thông minh, rõ ràng đã
được xuất hiện nhờ kết quả của việc phân công lao động. Ông đã quan sát quá trình
làm việc của các xưởng thủ công thấy rõ khi có sự phân công chuyên môn hoá thì
năng suất của mỗi người trong điều kiện phân công chuyên môn hoá đã tăng gấp
nhiều lần. Điều quan trọng hơn cả là thông qua việc sản xuất theo lối phân công
chuyên môn hoá lao động, sẽ phát hiện ra cơ sở lợi ích. LIKT và phân công lao
động chính là hai phạm trù có mối quan hệ gắn bó với nhau, vì lợi ích cá nhân mà
con người thực hiện thông qua việc phân công lao động để mỗi người tự trau dồi
nghề nghiệp của mình một cách chuyên sâu đến mức độ hoàn hảo, khiến việc lao
động mang lại hiệu quả cao nhất. Mặt khác, khi tham gia vào phân công lao động sẽ
làm cho lợi ích cá nhân gia tăng.
Hơn nữa, A.Smith còn có một quan điểm hết sức độc đáo và thực tế so với
đương thời khi ông cho rằng động lực thúc đẩy con người lao động để làm ra của
cải vật chất cho xã hội, tạo ra sự phồn thịnh của mọi quốc gia, mọi dân tộc chính là
LIKT của mỗi cá nhân, lòng ham tư lợi, vị kỷ của cá nhân, ham làm giàu. Đây là
quan điểm rất tiến bộ và thực tế, nhưng A.Smith đã bị các nhà kinh tế đương thời
phê bình khá gay gắt.
A.Smith đã làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lợi ích chung của toàn dân tộc,
toàn quốc gia và LIKT của mỗi cá nhân. Ông khẳng định quốc gia sẽ trở nên phồn
thịnh nếu mọi cá nhân không ngừng nỗ lực để cải thiện sinh hoạt của riêng mình tức
thực hiện lợi ích cá nhân của mình. Mọi người lao động, phục vụ người khác chính
là vì lợi ích riêng của họ, do đó khi muốn họ làm việc, phục vụ thì chúng ta không
7
bao giờ nói với họ về những nhu cầu của chúng ta, mà chỉ nói với họ về mối tư lợi
của họ. Đây thực sự là một quan niệm đặc biệt về LIKT, tính thực tiễn và tiến bộ
của quan điểm đặc biệt này đã được thực tế chứng minh.
Theo A.Smith, trong quá trình hoạt động kinh tế, mỗi người đều theo đuổi lợi
ích cá nhân, đều nỗ lực cải thiện mức sống của mình, như thế tất yếu sẽ dẫn đến làm
tăng của cải xã hội. Nhưng xuất phát từ tính vị kỷ của con người, lợi ích của cá
nhân này bị hạn chế bởi lợi ích của cá nhân khác và trong quá trình thực hiện LIKT,
tất cả các chủ thể đều có mối quan hệ với nhau. A.Smith đã viết: "Anh cho tôi thứ
mà tôi thích, anh sẽ có thứ mà anh yêu cầu, đó chính là ý nghĩa của trao đổi" [3,
tr.65]. Từ quan điểm đó, A.Smith đã chỉ rõ: Đó chính là toàn bộ ý nghĩa quan hệ
kinh tế và cũng chính bằng cách này mà người ta nhận được phần lớn các dịch vụ
cần thiết trong cuộc sống. Như vậy, lần đầu tiên ông đã nghiên cứu các lợi ích trong
mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng, Ông cho rằng, bất cứ lợi ích nào cũng chỉ được
đáp ứng trong trường hợp nó không mâu thuẫn với tăng năng suất của tư bản. Tiền
lương cao không mâu thuẫn với lợi ích xã hội, vì theo mức tăng tiền lương thì năng
suất lao động cũng sẽ được tăng lên. Mặt tích cực trong lý luận lợi ích của A. Smith
là ở chỗ: LIKT được coi là động lực cơ bản của sự phát triển sản xuất xã hội, ông
thừa nhận yếu tố khách quan trong nội dung của LIKT với tư cách là đầu mối trong
hoạt động kinh tế của con người [3].
Nhà kinh tế David Ricardo (1772 - 1823) đã khẳng định: Lợi ích kinh tế của
các giai cấp khác nhau được xây dựng trên cơ sở lý luận về giá trị, tiền lương và lợi
nhuận chỉ là bộ phận của giá trị và cũng là nguồn gốc của lao động. Do đó, việc
tăng hay giảm tiền lương sẽ không ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa, mà chỉ ảnh
hưởng đến việc phân phối giá trị đã được tạo ra giữa công nhân và tư bản, vì vậy sẽ
ảnh hưởng đến lợi ích của họ. Khi giá trị vật phẩm tiêu dùng thiết yếu giảm xuống,
tiền công lao động giảm, lợi nhuận của nhà tư bản tăng lên. Điều đó thể hiện trong
số giá trị mới được tạo ra, phần của công nhân nhỏ hơn, còn phần của người sử
dụng lao động (nhà tư bản) thì lớn hơn, đây là mối quan hệ tỷ lệ nghịch về lợi ích,
nếu lợi ích của người đi thuê công nhân tăng thì lợi ích của người đi làm thuê sẽ
giảm và ngược lại [82]. Phát hiện này của ông có ý nghĩa rất lớn đối với việc nghiên
cứu quan hệ lợi ích giữa chủ và thợ trong các cơ sở sản xuất có thuê mướn lao động.
8
Laprinmenco (1978), Những vấn đề lợi ích trong chủ nghĩa Mác - Lênin
Trong tác phẩm này, tác giả đã đưa ra quan niệm về lợi ích mang tính triết học, theo
ông, "Lợi ích chính là mối quan hệ xã hội khách quan của sự tự khẳng định xã hội
của chủ thể" [48, tr.16-30]. Về bản chất của lợi ích, ông cho rằng nghiên cứu quá
trình tự khẳng định bản thân trong đời sống xã hội sẽ hiểu được bản chất và nội
dung lợi ích khách quan của chủ thể. Bởi vì, hoạt động tự khẳng định bản thân trong
xã hội là nhân tố quan trọng nhất của những hoạt động có mục đích của con người.
Khi thực hiện các hoạt động này, con người sẽ bộc lộ những đặc tính thể hiện rõ sự
phù hợp của họ với vị trí và vai trò của mình trong xã hội. Họ thấy mình thuộc vào
giai cấp, tầng lớp nào? Đó chính là nội dung của lợi ích và LIKT. Tóm lại, nội dung
của LIKT là phương thức tự khẳng định xã hội của anh ta, thể hiện trước hết ở
phương thức thỏa mãn những nhu cầu vật chất (kinh tế) của chủ thể.
Phân tích mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích để soi sáng quá trình hình
thành quan hệ lợi ích trong xã hội. Ông cho rằng, lợi ích và nhu cầu luôn gắn bó
hữu cơ với nhau, quan hệ lợi ích chỉ xuất hiện khi có quan hệ nhu cầu, lợi ích xuất
phát từ nhu cầu và đồng thời là phương tiện để thoả mãn nhu cầu. Ông cũng phân
tích những đặc tính của lợi ích nói chung, LIKT nói riêng và đã tán thành quan điểm
của V.I.Lênin khi cho rằng LIKT là một hiện tượng có thực, biểu hiện của các mối
quan hệ kinh tế khách quan. Tính khách quan của lợi ích thể hiện ở chỗ, nó xuất
hiện bên ngoài chủ thể, không phụ thuộc vào nhận thức của chủ thể, lợi ích cũng
mang tính lịch sử cụ thể và tính giai cấp. Những quan điểm về LIKT của ông chủ
yếu xuất phát từ việc phân tích, phát triển các chỉ dẫn của Lênin về vấn đề này.
B.B.Radaev (1971), Lợi ích kinh tế trong chủ nghĩa xã hội [10], trong tác
phẩm này tác giả bên cạnh việc phân tích bản chất của LIKT, tác giả còn nhận diện
hệ thống LIKT đặc thù của xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) và đi sâu phân tích vai
trò động lực phát triển xã hội của LIKT trong môi trường xã hội XHCN của Liên
Xô (cũ). Ông cũng nhìn thấy mối quan hệ biện chứng của LIKT với lợi ích tinh
thần, LIKT riêng và lợi ích chung của xã hội, nếu điều tiết hợp lý hệ thống các mối
quan hệ LIKT này sẽ tạo động lực phát triển của xã hội.
Tóm lại, những công trình nghiên cứu tiêu biểu về LIKT của các tác giả nước
9
ngoài đã thể hiện rõ những quan điểm dưới góc độ nghiên cứu khác nhau về lợi ích
và LIKT nói chung. Nhưng cũng đã có nhiều ý kiến đồng nhất, đặc biệt là vai trò
của LIKT với tư cách là một động lực phát triển xã hội.
1.1.2. Một số tác phẩm tiêu biểu ở nước ngoài nghiên cứu về đầu tư và
mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp và người lao động
Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908 - 1970), đã đưa ra thuyết về nhu cầu
nổi tiếng vào những năm 1950 (Thuyết nhu cầu của Maslow). Học thuyết này chỉ
rõ: Lợi ích nhu cầu - động lực kinh tế, bổ sung gắn kết động lực nhu cầu - LIKT,
mọi lợi ích đều xuất phát từ nhu cầu của con người mong muốn và luôn đấu tranh
để thoả mãn đáp ứng những nhu cầu đó. Nhu cầu của con người có hai nhóm chính:
nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs). Theo đó, nhu cầu
bậc thấp bao giờ cũng cần thiết và quan trọng hơn, đóng vai trò định hướng của mục
tiêu cá nhân. Khi nhu cầu bậc thấp được thoả mãn, những nhu cầu bậc cao sẽ là
động cơ hành động và khi những nhu cầu chưa được thoả mãn ở bậc dưới sẽ lấn át
những nhu cầu chưa được thoả mãn ở bậc cao hơn và chúng cần được thoả mãn
trước khi một cá nhân tiến lên các bậc cao hơn của tháp nhu cầu.
Theo Harold Meyerson (Mỹ), "Công nhân cũng xứng đáng hưởng lợi ích từ
năng suất lao động của họ" [124]. Đây là một bài báo dựa trên quan điểm cá nhân
của Harold Meyerson, được đăng trên trang điện tử của tạp chí danh tiếng
Washington Post - về dự luật của Đảng Dân chủ, mang tên nhà Dân chủ Chris Van
Hollen, dự luật Hollen. Dựa trên thực tế của nước Mỹ hiện tại, khi mà mức tăng
lương, thu nhập của người công nhân không tương xứng với năng suất lao động mà
họ đã tạo ra, dự luật Hollen yêu cầu, mức lương của công nhân sẽ được tăng tương
xứng với năng suất họ tạo ra. Lấy dẫn chứng trong khoảng thời gian từ năm 1942
đến 1972, năng suất tăng 97% còn tiền lương trung bình tăng 95%, sau đó, cùng với
sự suy giảm quyền lực của các tổ chức lao động mà trong khoảng thời gian từ 1979
đến 2011, năng suất tăng 75% nhưng tiền lương trung bình chỉ tăng 5%. Trong khi
đó, lương của các CEO (Chief Executive Officer - Tổng giám đốc) lại tăng rất cao,
từ 1978 đến 2013, lương của các CEO tăng đến 937%. Dự luật này đưa ra, theo tác
giả - dự kiến sẽ gặp rất nhiều những phản ứng từ giới CEO, phố Wall cũng như là
thách thức đối với ứng viên tổng thống đảng Dân chủ năm 2016 tới đây.
10
Daniel S. Hamermesh, Daiji Kawaguchi, Jungmin Lee (2014), Does labour
legislation benefit workers? Well-being after an hours reduction. (Author: Daniel S.
Hamermesh, Daiji Kawaguchi, Jungmin Lee [113]. Trong nội dung nghiên cứu này,
nhóm tác giả đã căn cứ vào câu hỏi "Phải chăng, trong nền kinh tế hiện đại, người
công nhân đang phải làm việc quá vất vả? Liệu họ có cảm thấy tốt hơn nếu cân bằng
được số lượng giờ lao động?" Nhóm tác giả đã kiểm tra sự hài lòng về cuộc sống
của người Hàn Quốc và Nhật Bản trong một giai đoạn, khi họ bất ngờ phải đối mặt
với án phạt khi làm quá giờ. Sử dụng phương pháp nghiên cứu mặt cắt ngang, nhóm
tác giả nhận thấy được sự hài lòng của công nhân từ điều luật này; phát hiện tương
tự cũng được tìm ra tại Hàn Quốc khi sử dụng phương pháp dữ liệu theo chiều dọc,
đó là người vợ hạnh phúc hơn khi chồng phải làm việc ít hơn. Nhìn chung, theo
nghiên cứu này, việc luật hoá để giảm giờ lao động của công nhân sẽ mang lại lợi
ích và sự hài lòng cho người lao động.
N.Driffield và K. Taylor (2000), "FDI and the labour market: a review of the
evidence and policy implications" [119] khẳng định, loạt các kết quả liên quan đến
tác động thị trường lao động và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Anh. Bài viết
chứng minh rằng một trong những tác động quan trọng của FDI là tăng sự bất bình
đẳng tiền lương và sử dụng lao động có tay nghề tương đối nhiều tại các DN trong
nước. Kết quả này do sự kết hợp của hai tác động: 1) Sự gia nhập của DN đa quốc
gia (MNE: Multi-national Enterprises) làm tăng nhu cầu về công nhân lành nghề
trong một ngành công nghiệp hoặc khu vực, do đó làm tăng sự bất bình đẳng tiền
lương; 2) Sự phát triển của công nghệ xảy ra từ nước ngoài tác động tới các DN
trong nước, là kết quả của những tác động lan toả, nhu cầu về công nhân lành nghề
tăng lên ở các công ty trong nước, tiếp tục tạo thêm sự bất bình đẳng tiền lương.
Nghiên cứu cũng xem xét các tác động của vốn FDI và sự khác biệt về năng suất lao
động giữa các DN trong và ngoài nước; các tác động này sẽ được thảo luận, dựa
trên quan điểm của phát triển khu vực và hiệu quả khả năng thu hút nguồn vốn FDI
để giảm thất nghiệp cơ cấu.
Dirk Willem te Velde và Oliver Morrissey (2002), "Foreign Direct
Investment, Skills and Wage Inequality in East Asia" [116]. Công trình nghiên cứu về
11
những tác động của FDI đến tiền lương và những bất công về tiền lương ở 5 quốc gia
Đông Á giai đoạn 1985-1995. Theo đó, sự bất công về lương giảm dần ở một vài
nước, nhưng không phải ở tất cả quốc gia Đông Á. Nghiên cứu dựa trên dữ liệu ILO
(International Labour Organization) của nhóm tác giả không tìm ra được nhiều những
bằng chứng mạnh mẽ cho thấy FDI làm giảm sự bất công bằng về tiền lương, điển
hình FDI làm tăng sự bất công này ở Thái Lan. Qua nghiên cứu này, nhóm tác giả
khẳng định: muốn tận dụng lợi thế của FDI thì các quốc gia cần quan tâm đầu tư hơn
nữa về chất lượng nguồn nhân lực.
Viện Nghiên cứu phát triển hải ngoại của Anh (ODI) (2002), "Foreign
Direct Investment: Who gains?" (ODI Briefing Paper; Publication) [114]. Nghiên
cứu này dựa trên tình hình của các DN FDI tại 5 quốc gia Đông Á và 5 quốc gia
châu Phi; qua đó cho thấy: về cơ bản các DN FDI đã trả công cho người lao động
cao hơn các DN trong nước, tuy nhiên chỉ đối với Mỹ nhóm công nhân có trình độ
chuyên môn, tay nghề cao, tạo ra khoảng cách chênh lệch về thu nhập ngày càng
rõ rệt giữa lao động trong các DNCVĐTTN (FDI) với lao động ở DN trong nước.
Nghiên cứu cũng đưa ra 4 giải pháp về chính sách cho các quốc gia tiếp nhận vốn
FDI, đồng thời nhằm hạn chế mặt trái của nó mang lại.
Timothy BesleyRobin Burgess (2008), "Labor Regulation Hinder Economic
Performance? Evidence from India - 2008" [121]. Bài báo này tập trung vào phân tích
quan hệ lao động trong các bang của Ấn Độ đã ảnh hưởng đến mô hình tăng trưởng
sản xuất trong giai đoạn 2005 - 2008. Những vấn đề về: Tranh chấp luật theo hướng
ủng hộ công nhân có kinh nghiệm giảm sản lượng, việc làm, đầu tư và năng suất,
ngược lại, sản lượng sản xuất không đăng ký hoặc không chính thức tăng lên. Điều
chỉnh theo hướng ủng hộ công nhân cũng có liên quan với sự gia tăng nghèo đô
thị. Vấn đề này cho thấy, những nỗ lực khắc phục tình trạng mất cân bằng quyền
lực giữa vốn và lao động có thể dẫn tới làm tổn thương người nghèo.
Khondoker Abdul Mottaleb and Kaliappa Kalirajan (2010), "Determinants of
Foreign Direct Investment in Developing Countries: A Comparative Analysis"
[117]. Các tác giả đã chỉ ra, bằng việc thu hẹp khoảng cách giữa tiết kiệm nội địa và
đầu tư cùng việc đưa công nghệ mới nhất và quản lý bí quyết từ các nước phát triển,
12
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc đạt
được tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở các nước đang phát triển. Các quốc gia
đang phát triển đã không được coi là địa điểm thuận lợi cho FDI như các nước phát
triển, chẳng hạn như Trung Quốc, Ấn Độ, Nigeria và Sudan đang tiếp nhận phần
lớn nguồn FDI. Mặt khác, đã sử dụng dữ liệu từ 68 nước đang phát triển có thu
nhập thấp và trung bình thấp, xác định các yếu tố quyết định dòng vốn FDI vào các
nước đang phát triển. Dựa trên một cuộc thảo luận so sánh tập trung vào lý do tại
sao một số nước thành công trong việc thu hút FDI, trong khi những nước có GDP
lớn hơn, tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn, tỷ lệ của thương mại quốc tế cao hơn và
môi trường kinh doanh thân thiện hơn là thành công hơn trong việc thu hút FDI.
Behzad Azarhoushang (2013), The effects of FDI on China’s economic
development; case of Volkswagen in China. (Behzad Azarhoushang- Institute of
Management Berlin, Publication) [112]. Trong nội dung nghiên cứu này, tác giả đưa
ra một cái nhìn tổng quan về tình hình đầu tư FDI ở Trung Quốc, lấy điển hình là DN
ô tô Volkswagen. Nghiên cứu đã chỉ ra những tác động của FDI đến mọi mặt của
kinh tế Trung Quốc: sản lượng, nguồn lao động, tiền lương, tình hình xuất khẩu.
Nguồn nhân lực chất lượng cao, sự cạnh tranh của DN FDI với DN trong nước về
việc thu hút nhân lực, cũng như sự mất cân đối về tiền lương trả cho 3 nhóm công
nhân: Công nhân lành nghề, công nhân bán chuyên và công nhân không có tay nghề.
Abhirup Bhunia (2013), Labour in times of rising foreign direct investment
in developing countries [111]. Tác giả đưa ra những đánh giá về tác động của FDI
đến tình trạng tiền lương, tiền thưởng và thu nhập của công nhân các quốc gia tiếp
nhận vốn đầu tư có sự hấp dẫn về nguồn lao động giá rẻ. Tuy nhiên, lợi thế này đã
không còn phát huy tác dụng trong bối cảnh hiện nay, mà là chất lượng lao động,
môi trường, đầu tư, chính sách ưu đãi…
Layna Mosley (2013), Labour rights and Multinational Production [118].
Trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu mối quan hệ về lao động trong các tập đoàn đa
quốc gia, những tranh cãi về "cuộc đua tới đáy", cạnh tranh toàn cầu đang làm giảm
sự bảo vệ đối với hầu hết người lao động ở các nước đang phát triển. Tác giả đã có
một nghiên cứu xuyên quốc gia về quyền lợi lao động tập thể, đầu tư nước ngoài và
13
thương mại. Để làm điều này, Layna Mosley xây dựng một cơ sở dữ liệu toàn diện
mới về vi phạm quyền lao động ở các nước đang phát triển. Nội dung của cơ sở dữ
liệu tập trung vào quyền lợi tập thể, bao gồm cả cơ hội để liên hiệp, thương lượng tập
thể, tổ chức các cuộc đình công và quyền hợp pháp. Dữ liệu của tác giả xây dựng dựa
trên 90 quốc gia trong giai đoạn 1985-2002, dựa trên cơ sở 3 nguồn: Báo cáo quốc
gia về tình hình nhân quyền (Bộ ngoại giao Mỹ); báo cáo của Uỷ ban chuyên gia về
việc áp dụng Công ước và Khuyến nghị của Tổ chức Lao động quốc tế; khảo sát về
hành vi vi phạm của Tổ chức quốc tế về thương mại tự do.
Nguyễn Từ Phương (2014), Reforming labour relations in Vietnam [122].
Trong đó, tác giả đánh giá cao việc thành lập Uỷ ban Quan hệ lao động của Tổng
Liên đoàn lao động Việt Nam, điều này phản ánh một quá trình liên tục của cải cách
pháp luật và quy định giải quyết tranh chấp lao động chủ yếu dưới dạng các cuộc
đình công của người lao động ở Việt Nam. Mục tiêu hoạt động của Uỷ ban cho thấy
sự nhận thức đúng đắn của chính quyền đến những lợi ích và nhu cầu của công nhân
làm việc trong các DN. Từ những nội dung cải cách về công đoàn, chính sách tiền
lương nhằm hạn chế các cuộc đình công vốn chủ yếu xuất phát từ vấn đề lương
thưởng. Bài viết cho thấy sự thay đổi tích cực trong quan hệ lao động ở Việt Nam
thời gian gần đây, nhờ sự can thiệp của Nhà nước.
Tóm lại, những công trình nghiên cứu về FDI và quan hệ giữa chủ DN và
người lao động của các tác giả nước ngoài thể hiện rõ những quan điểm khác nhau
về FDI ở các quốc gia khác nhau trên nhiều lĩnh vực, nhưng tất cả đều có mục đích
chung là tìm kiếm lợi nhuận. Từ đó, gây ra mâu thuẫn giữa chủ DN và người lao
động về LIKT, để giải quyết được cần phải có sự điều tiết, can thiệp của Nhà nước,
cơ quan chức năng liên quan và các tổ chức chính trị xã hội.
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA CÁC TÁC GIẢ TRONG NƯỚC
1.2.1. Một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về lợi ích kinh tế
Ở nước ta, trước Đại hội IV (1976), vấn đề LIKT đã được quan tâm nhưng
chưa đúng mức, do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, đặt lợi ích dân tộc lên trên
LIKT đối với cá nhân người lao động. Đến thập niên 80 thập kỷ XX, LIKT đối với
lao động nông nghiệp được quan tâm. Thể hiện ở Chỉ thị số 100/CT-TW của Ban Bí
14
thư Trung ương Đảng (khoá IV) về khoán sản phẩm trong nông nghiệp ngày
13/1/1981, với phương hướng: "Khuyến khích hơn nữa lợi ích chính đáng của
người lao động". Qua đó, đã tạo ra động lực thúc đẩy để người nông dân hăng say
sản xuất, làm cho năng suất và sản lượng lương thực có sự tăng vượt trội so với
những năm trước.
- Nghị quyết 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IV (1979) đã đặt
ra vấn đề kết hợp 3 LIKT: Nhà nước, tập thể và cá nhân người lao động, đây chính
là điểm mốc mở đầu cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về LIKT từ năm 1981 đến nay.
- Nghị quyết Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, ngày
5/4/1988 nhấn mạnh: "Giải quyết đúng đắn các mối quan hệ về lợi ích, nhất là đảm
bảo lợi ích chính đáng của người sản xuất trước.., không ngừng cải thiện đời sống
nhân dân lao động, góp phần tích luỹ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội".
Như vậy, ở Việt Nam vấn đề LIKT được chú ý nhiều từ Hội nghị Trung
ương lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương khoá IV (7- 1979). Nhưng đến Nghị
quyết lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương khoá VI (1989) mới thật sự khẳng
định: "Lợi ích của người sản xuất kinh doanh là động lực trực tiếp đối với hoạt động
kinh tế và tạo cơ sở cho việc đáp ứng các lợi ích khác".
Trong thập niên 80 - 90 của thế kỷ 20, vấn đề LIKT đã thu hút được mối
quan tâm của nhiều nhà kinh tế học và triết học, một số công trình chuyên luận và
các chuyên đề về LIKT đã được xuất bản. Các công trình tiêu biểu:
- Bàn về lợi ích kinh tế là một tuyển tập gồm nhiều bài viết của một số nhà
nghiên cứu lý luận của Việt Nam như Đào Duy Tùng, Phạm Thành, Vũ Hữu Ngoạn,
Lê Xuân Tùng, Nguyễn Duy Bảy [86]. Cuốn sách ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu cần
phải có những cơ sở lý luận khoa học để hoàn thiện hệ thống quản lý kinh tế. Với
nhận thức rõ ràng về vai trò, động lực thúc đẩy phát triển hoạt động kinh tế của lợi
ích, một mắt xích quan trọng trong cơ chế tác động của các quy luật kinh tế khách
quan, các tác giả của cuốn sách mong muốn tìm ra những phương thức hữu hiệu để
có thể kết hợp các lợi ích xã hội với lợi ích cá nhân trong nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung bao cấp.
Bên cạnh đó, các tác giả cũng đánh giá thực trạng của việc quản lý kinh tế
nhà nước trong việc quan tâm đến các LIKT, trong hệ thống LIKT cá nhân, LIKT
15
tập thể và xã hội, chỉ ra nguyên nhân sự trì trệ của giai đoạn này chính là sự quan
tâm chưa đúng mức đến vai trò của lợi ích cá nhân và ý thức của mỗi người dân đối
với lợi ích xã hội còn thấp. Chính vì vậy, việc chăm lo cho lợi ích tập thể trở thành
hiện tượng "cha chung không ai khóc". Những đề xuất của các tác giả đều là: Nhận
thức đúng vai trò của mỗi lợi ích trong hệ thống lợi ích xã hội, xây dựng cơ chế
quản lý nhằm điều tiết và quan tâm đúng mức đến mỗi lợi ích trong hệ thống ba lợi
ích đó.
Nguyễn Linh Khiếu (1999), Lợi ích động lực phát triển xã hội [44]. Tác giả
đã tổng kết lại nhiều nghiên cứu khác nhau về lợi ích trong nước và ngoài nước.
Tác giả đã đưa ra một cách tiếp cận mới về khái niệm lợi ích: "Lợi ích chỉ có ý
nghĩa là lợi ích trong các quan hệ lợi ích cụ thể. Ngoài quan hệ lợi ích nó không
còn là lợi ích nữa mà chỉ là cái có lợi hay có ích đối với các chủ thể ở một hoàn
cảnh nhất định. Trong trường hợp này, nó cũng giống như các đối tượng thoả mãn
nhu cầu hoặc chính là các đối tượng thoả mãn nhu cầu" [44, tr.48-50]. Từ sự phân
tích trên, tác giả đã đưa ra khái niệm về quan hệ lợi ích như một khái niệm trung
gian để giải thích khái niệm lợi ích. Ông viết: "Quan hệ lợi ích là mối quan hệ
khách quan giữa các chủ thể có cùng nhu cầu và cùng đối tượng thoả mãn nhu cầu
như nhau trong việc thực hiện nhu cầu ấy". Quan hệ lợi ích chỉ nảy sinh trong một
hoàn cảnh xã hội nhất định và chỉ nảy sinh khi quan hệ nhu cầu trở nên không trực
tiếp thực hiện được.
Ngoài ra, tác giả còn phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích vật chất và
lợi ích tinh thần; giữa lợi ích chung và lợi ích riêng; giữa lợi ích trước mắt và lợi ích
lâu dài. Mối quan hệ biện chứng giữa các lợi ích tiêu biểu với tư cách là động lực
của xã hội đã được ông biện giải rất rành mạch và thuyết phục. Về quan hệ giữa lợi
ích vật chất (LIKT) và lợi ích tinh thần, tác giả khẳng định: "Xét đến cùng thì các
lợi ích vật chất đóng vai trò quyết định và là tiền đề, là cơ sở để thực hiện các lợi
ích tinh thần. Và thực hiện được các lợi ích tinh thần sẽ tạo ra những khả năng mới
trong sự nảy sinh cũng như làm xuất hiện những phương thức thực hiện lợi ích vật
chất mới" [44, tr.70]. Khi phân tích bản chất, vai trò của lợi ích chung và lợi ích
riêng, tác giả nhận thấy rõ vai trò, động lực trực tiếp của lợi ích riêng trong việc thôi
16
thúc cá nhân hoạt động, nó chính là nhân tố quyết định con người tích cực tham gia
hoạt động xã hội, vì vậy nó là cơ sở để thực hiện lợi ích chung. Ngược lại, khi lợi
ích chung của mọi thành viên trong xã hội được thực hiện nó sẽ đóng vai trò là điều
kiện và định hướng cho lợi ích riêng, cho nên, chỉ khi tạo lập được mối quan hệ hài
hoà giữa lợi ích chung và lợi ích riêng mới có thể tạo ra sự phát triển của mỗi cá
nhân và của cả xã hội. Nguyễn Linh Khiếu cũng tổng kết lại quá trình sử dụng vai
trò, động lực của lợi ích trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đây là một công trình
khoa học vừa mang tính lý luận quan trọng về lợi ích nói chung vừa nghiên cứu về
LIKT nói riêng.
Nguyễn Linh Khiếu (2002), Góp phần nghiên cứu quan hệ lợi ích [45]. Tác giả đi
sâu phân tích cụ thể hơn về vai trò của LIKT trong phát triển kinh tế xã hội Việt Nam
và cho rằng "Quan hệ kinh tế của một xã hội biểu hiện tập trung nhất của các quan hệ
lợi ích" [45, tr.122]. Từ việc nghiên cứu mối quan hệ kinh tế thể hiện cụ thể các
quan hệ LIKT, tác giả cho rằng: Trong nền kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay có
những xu hướng vận động cụ thể như: Kinh tế nhà nước vận động theo xu hướng
mà nhà nước ta mong muốn: "định hướng xã hội chủ nghĩa"; kinh tế tập thể vận
động theo cơ chế thị trường; kinh tế tư bản nhà nước và tư bản tư nhân vận động
theo xu hướng phát triển tư bản chủ nghĩa; kinh tế cá thể, tiểu chủ cũng vận động
theo hướng tư nhân. Mỗi xu hướng vận động lại có một hệ thống LIKT riêng. Các
xu hướng phát triển này theo nhiều hướng khác nhau, với thực trạng kinh tế xã hội
hiện nay, thấy rằng tất cả các xu hướng đều đưa nền kinh tế nước ta ngày một phát
triển. Đó là một sự vận động theo hướng tổng lực các thành phần kinh tế, trong đó
xu hướng XHCN đang đóng vai trò chủ đạo.
Đỗ Huy Hà (2013), Giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình đô thị
hoá ở nước ta hiện nay [36]. Tác giả đã đi sâu nghiên cứu về quá trình đô thị hoá và
việc thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp, người nông dân không còn hoặc còn rất ít đất
để sản xuất. Do bị mất đất, người nông dân khó khăn tìm nghề kiếm sống vì họ chỉ
quen với sản xuất nông nghiệp, trình độ văn hoá thấp và sự thay đổi cách sống, lề
thói, phong tục tập quán, kéo theo nhiều hệ luỵ…Tác giả đã đưa ra khái niệm: Lợi ích
kinh tế là những quan hệ kinh tế phản ánh những nhu cầu, động cơ khách quan về sự
17
hoạt động của các chủ thể khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội và do hệ
thống quan hệ sản xuất quyết định [36, tr.10]. Tác giả đã nghiên cứu những kết quả
tích cực về xử lý quan hệ LIKT, từ đó cũng thấy được những hạn chế, khó khăn về
việc xử lý các quan hệ LIKT phát sinh trong quá trình đô thị hoá ở Hà Nội; tác giả đã
đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm giải quyết mối quan hệ LIKT trong quá trình đô
thị hoá, để giải quyết hài hoà các quan hệ về LIKT giữa các chủ thể.
Hoàng Văn Luận (2000), Lợi ích động lực của sự phát triển bền vững [57].
Luận án đã đi sâu phân tích, khảo sát nhu cầu và những hoạt động của con người
nhằm thoả mãn nhu cầu làm cơ sở để nghiên cứu về lợi ích. Tác giả chỉ rõ hoạt
động thoả mãn nhu cầu của con người bao gồm: Hoạt động tạo ra của cải vật chất
cụ thể và hoạt động trao đổi các của cải vật chất ấy để đáp ứng tốt nhất và đầy đủ
nhất nhu cầu của mình. Tác giả khẳng định: Lợi ích không những chỉ xuất hiện
trong mối quan hệ giữa các chủ thể có cùng nhu cầu giống nhau và có chung đối
tượng thoả mãn nhu cầu. Đây là khâu cơ bản nhất để khảo sát về lợi ích, lợi ích
không những chỉ xuất hiện trong mối quan hệ giữa các chủ thể có cùng nhu cầu
giống nhau và có chung đối tượng thoả mãn nhu cầu ấy. Từ những phân tích như
trên, tác giả đã đưa ra khái niệm về lợi ích như sau: Lợi ích là một khái niệm
mang tính lịch sử - xã hội dùng để chỉ phần giá trị của nhu cầu được thoả mãn
thông qua trao đổi hoạt động với các chủ thể nhu cầu khác trong những điều kiện
lịch sử nhất định.
Trần Thị Lan (2012), Quan hệ LIKT trong thu hồi đất của nông dân để xây
dựng các khu công nghiệp và khu đô thị mới ở Hà Nội [54]. Luận án trình bày thực
trạng giải quyết các quan hệ các mối quan hệ LIKT giữa các chủ thể kinh tế, nảy
sinh trong thu hồi đất của nông dân để xây dựng các KCN và khu đô thị mới ở Hà
Nội. Tác giả luận án đưa ra khái niệm: Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách
quan, phản ánh phần giá trị để thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, được quy định bởi các
quan hệ kinh tế nhất định và được hiện thực hóa bằng các khoản thu nhập cũng như
quyền sử dụng các nguồn lực, yếu tố vật chất cần thiết để duy trì hoạt động và
không ngừng tái tạo ra thu nhập bảo đảm cho chủ thể kinh tế tồn tại, hoạt động và
phát triển.
18
1.2.2. Các công trình nghiên cứu về quan hệ giữa lợi ích kinh tế và sự
hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
1.2.2.1. Nghiên cứu về thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động với tư
cách là một chủ thể trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Về hướng nghiên cứu quan hệ LIKT của người lao động và hoạt động của các
DNCVĐTNN ở Việt Nam, có một số công trình tiêu biểu của các tác giả sau đây:
Trần Minh Yến (2007), "Đình công, tiền lương - hai vấn đề nổi bật trong lĩnh
vực lao động, việc làm ở nước ta hiện nay" [102, tr.43-52]. Tác giả bài viết đã phân
tích về đặc điểm cơ bản của các cuộc đình công ở nước ta hiện nay, đình công có xu
hướng tăng nhanh về số lượng, lớn về quy mô, có tính chất lan tỏa và ngày càng gay
gắt, phức tạp hơn. Đình công đã xảy ra ở các thành phần kinh tế và mọi loại hình
DN, nguyên nhân chủ yếu xảy ra ở DNCVĐTNN (điển hình là DN Đài Loan và DN
Hàn Quốc), đó là: Thứ nhất, về phía DNCVĐTNN (người sử dụng lao động), thực
tế hầu hết các cuộc đình công đều xuất phát từ sự vi phạm pháp luật lao động, vi
phạm những cam kết từ phía người sử dụng lao động. Thứ hai, về phía người lao
động, do người lao động hiểu biết pháp luật còn hạn chế và do thu nhập thấp, mức
lương tối thiểu thấp, thiếu nhà ở, điều kiện sinh hoạt khó khăn. Thứ ba, về phía cơ
quan quản lý nhà nước, chưa làm tốt việc tổ chức và phối hợp thực hiện, kiểm tra,
thanh tra thực hiện các quy định pháp luật về lao động, tiền lương nên việc vi phạm
lao động còn nhiều. Thứ tư, vai trò của công đoàn còn yếu và mờ nhạt, chưa lãnh
đạo được các cuộc đình công theo đúng trình tự của BLLĐ quy định.
Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp giảm thiểu đình công: Tăng cường hoàn
thiện hệ thống pháp luật lao động; nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý Nhà
nước để luật pháp đã được ban hành phải được tuân thủ một cách nghiêm túc triệt
để; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp; đối với DN phải chấp
hành đầy đủ các qui định về chế độ tiền lương, trả lương thấp; đối với người lao
động, phải tăng cường hiểu biết kiến thức về pháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ
pháp luật lao động.
Đỗ Thị Vân Anh (2010), "Nguyên nhân đình công ở một số DN trong thời
gian qua"[2]. Trong đó, đã phân tích một hiện tượng xã hội mới xuất hiện, đó là mối
19
quan hệ vừa đấu tranh, vừa hợp tác giữa người sử dụng lao động và người lao động.
Đình công là hiện tượng không mới trong quá trình công nghiệp hóa trên thế giới,
nhằm bảo đảm sự công bằng xã hội, tuy nhiên cách xử lý nó như thế nào lại phản
ánh bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XNCH mà Việt Nam đang đặt
ra. Đây cũng là vấn đề phức tạp đã và đang được tranh luận khá sôi nổi ở một số
diễn đàn khoa học trong nước, để góp phần vào việc giảm thiểu xung đột giữa
người lao động và giới chủ, tiến tới loại bỏ đình công, việc tìm hiểu những nguyên
nhân dẫn tới đình công trong các DN, cả nhà nước lẫn tư nhân là rất cần thiết. Hầu
hết các lý do mà công nhân đưa ra để họ tổ chức đình công ở tất cả các DN đều tập
trung vào các vấn đề như làm tăng ca, điều kiện làm việc, sinh hoạt không bảo đảm,
lương thưởng quá thấp, không lo đủ cho cuộc sống, thực hiện một số nội quy, quy
định quá khắc nghiệt đối với người lao động nên không những không khuyến khích
người lao động tăng năng suất mà còn có tác động ngược trở lại... Tác giả đã đưa ra
một số nội dung khác như: Bảo đảm trả đúng hạn lương sẽ loại bỏ yếu tố gây bãi
công cao nhất; các chế độ phúc lợi và quyền lợi vật chất, chế độ bảo hộ lao động,
thời gian làm việc, nghỉ ngơi, nội quy lao động trái với quy định của pháp luật,
người sử dụng lao động không thực hiện đúng những quy định của pháp luật.
Để tiếp tục thúc đẩy sản xuất phát triển, cải thiện, tạo sự hài hòa trong quan
hệ lợi ích giữa hai tầng lớp xã hội, người sử dụng lao động và người lao động, tác
giả đã đưa ra cần giải quyết một số vấn đề cơ bản sau: khuyến khích người sử dụng
lao động thu lợi nhuận chính đáng; tăng cường kiểm tra, đẩy lùi tiêu cực; có chính
sách phân chia lợi nhuận công bằng; biểu dương chủ DN có thành tích cải thiện đời
sống người lao động; quan tâm và giúp đỡ người có thu nhập thấp; người sử dụng
lao động và người lao động có sự thống nhất và minh bạch về lợi ích; công đoàn
cần thực hiện đúng vai trò và nhiệm vụ của mình trong DN.
Nhìn chung, các bài viết trên đã đi sâu nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến đình
công của người lao động trong các DN. Tuy nhiên còn chưa toàn diện sâu sắc, chỉ
nêu ra những vấn đề chung mà người lao động quan tâm là tiền lương, tiền thưởng,
một số giải pháp nêu ra chưa giải quyết được triệt để về điều kiện làm việc, cơ hội
thăng tiến trong nghề nghiệp của người lao động.
20
1.2.2.2. Nghiên cứu sự hoạt động của các doanh nghiệp có 100% vốn nước
ngoài đầu tư vào Việt Nam
Cùng với những văn bản quy phạm pháp luật thể hiện rõ đường lối chính
sách của Đảng và Nhà nước đối với người lao động làm việc trong các
DNCVĐTNN, bên cạnh đó cũng có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về cơ chế
và chính sách giải quyết vấn đề này. Các công trình nghiên cứu về tác động của đầu
tư nước ngoài tập trung giải quyết những vấn đề nhận thức luận về đầu tư nước
ngoài. Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như:
Mai Đức Lộc (1994), Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển kinh
tế ở Việt Nam [56]. Luận án phân tích một cách toàn diện vấn đề đầu tư trực tiếp
nước ngoài trong việc phát triển kinh tế, tìm ra mối liên hệ khách quan giữa việc
phát triển kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Tác động của đầu tư nước ngoài
trong việc phát triển kinh tế Việt Nam, thành tựu cũng như tồn tại của hoạt động
triển khai Luật Đầu tư nước ngoài; xu hướng vận động chủ yếu của các dòng đầu tư
nhập vào Việt Nam. Từ đó, tác giả của luận án đã đề ra phương hướng và những
biện pháp chủ yếu nhằm thu hút và phát huy có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại Việt Nam.
Nguyễn Duy Quang (2007), Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Liên minh châu
Âu vào Việt Nam [81]. Luận án đã trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn của
việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Liên minh châu Âu vào Việt Nam; đánh
giá thực trạng đầu tư trực tiếp của Liên minh châu Âu vào Việt Nam; những yếu tố
tác động, nguyên nhân thành công và hạn chế; khả năng phát triển quan hệ đầu tư
giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu; tác giả luận án đưa ra những phương hướng
và một số kiến nghị, giải pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ Liên minh châu Âu vào Việt Nam.
- Trong diễn đàn tháng 6/2012, "Tạo dựng một làn sóng FDI" [73, tr.12-13].
Trong 25 năm qua, dòng vốn FDI đã góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế Việt
Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, thực tiễn nguồn vốn FDI vào
Việt Nam cũng bộc lộ không ít hạn chế, tiêu cực trong quá trình đầu tư. Với định
hướng đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại, thì chính sách thu hút FDI phải được đổi mới. Theo Lê Đăng Doanh
21
(nguyên Viện trưởng Viện quản lý Kinh tế Trung ương): Nếu chậm trễ nâng cấp
dòng vốn FDI, Việt Nam sẽ gánh chịu hậu quả xấu. Ông khẳng định: chúng ta phải
đổi mới tư duy và tăng cường hành động để làm mới, nâng cấp dòng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam, tạo nên một hình ảnh mới về địa điểm đầu tư
Việt Nam gắn với chất lượng và hiệu quả. Từng Bộ, ngành, địa phương cần thực
hiện nghiêm túc các yêu cầu sửa đổi bổ sung hệ thống pháp luật liên quan đến đầu
tư - kinh doanh, tạo dựng môi trường đầu tư, cơ chế chính sách thuận lợi cho các
nhà đầu tư chất lượng cao theo định hướng mới của nền kinh tế.
Theo tác giả Nguyễn Mại (Chủ tịch Hội DN đầu tư nước ngoài): Cần đổi
mới đồng bộ để nâng cao chất lượng nguồn vốn FDI [73, tr.12-13]. Hiện nay, có
6 vấn đề đang nổi lên trong hoạt động FDI, gồm: Công nghệ lạc hậu của một số
nhà đầu tư nước ngoài; ô nhiễm môi trường; chuyển giá; mâu thuẫn giữa DN và
người lao động; phân cấp quản lý đầu tư; Phát triển ồ ạt KCN, khu kinh tế.
Những hạn chế bất cập trong việc thu hút, sử dụng và quản lý nguồn vốn FDI
đang đặt ra yêu cầu cấp bách như nâng cao chất lượng nguồn vốn này theo
hướng coi trọng hơn chất lượng, hiệu quả và phát triển bền vững. Chất lượng và
hiệu quả sử dụng của các dự án FDI cần được xem xét dưới góc độ phù hợp với
mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của từng ngành,
vùng lãnh thổ và địa phương.
Trần Quang Lâm, An Như Hải (2006), Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở
Việt Nam hiện nay [49]. Trong cuốn sách này các tác giả đã nêu rõ lý do nghiên
cứu: Quốc gia nào thu hút được nhiều nguồn vốn quốc tế và sử dụng có hiệu quả,
thì có nhiều cơ hội tăng trưởng kinh tế hơn, qua đó rút ngắn nhanh hơn khoảng cách
tụt hậu so với các nước phát triển. Chính vì vậy, các nước đang phát triển phải cạnh
tranh trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhờ đó, nguồn vốn đầu tư
nước ngoài đã tăng lên và có tác động tích cực vào sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Các tác giả khẳng định: Để phát triển và sử dụng có hiệu quả kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài, đặc biệt nguồn vốn FDI, thì chúng ta phải nỗ lực nhiều phương diện,
Đảng ta đã nhận định: Nguồn vốn nước ngoài chưa trở thành nguồn lực quan trọng
để phát triển kinh tế ở nước ta. Vì vậy, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu về: Kinh tế
22
có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. Nội dung được thể hiện: Cơ sở lý
luận và thực tiễn về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FIE) trong nền kinh tế thị
trường: Nguồn gốc và bản chất của FIE ở Việt Nam hiện nay; các hình thức và đặc
trưng kinh tế của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Thực trạng phát triển và sử
dụng FIE ở Việt Nam từ năm 1988 đến năm 2005: Thực trạng hoạt động của FIE
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam; đánh giá tổng quát
hoạt động của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam; vai trò cơ bản của khu
vực FIE trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam; kinh nghiệm ở
một số nước trong việc thu hút và sử dụng FIE, các tác giả lấy kinh nghiệm của các
nước sau: Kinh nghiệm của Trung Quốc; Hàn Quốc; Thái Lan; xu thế, triển vọng và
giải pháp phát triển, sử dụng khu vực FIE ở Việt Nam: Xu thế và triển vọng của khu
vực FIE ở Việt Nam; những quan điểm cơ bản về phát triển và sử dụng FIE trong
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta; những giải pháp phát triển, mở
rộng và sử dụng khu vực FIE để phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Vũ Hoàng Dương (2011), "Một số vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
ở Việt Nam" [24]. Tác giả đi sâu nghiên cứu về thực trạng FDI của Việt Nam, xu
hướng vận động của dòng vốn vào Việt Nam tính đến cuối năm 2010 với số lượng
vốn và số lượng dự án ngày càng tăng. Bài viết đã khẳng định điểm khác biệt giữa
hai cuộc khủng hoảng: Cuộc khủng hoảng năm 1997 không làm thay đổi bản chất
của FDI, luồng vốn từ nơi dư tới nơi thiếu trên tất cả các lĩnh vực, từ đó nhà đầu tư
thu được lợi nhuận cũng như tăng thêm nguồn vốn; nhưng cuộc khủng hoảng mới
đây, nguồn vốn FDI có xu hướng tập trung vào công nghệ xanh, đặc biệt là các
nước đang phát triển. Tác giả đã phân chia được cơ cấu đầu tư FDI tính đến năm
2010 và được phân chia: FDI đầu tư theo ngành; FDI đầu tư theo hình thức đầu tư;
FDI đầu tư theo đối tác đầu tư.
Từ đó, tác giả bài viết đã rút ra sự tác động của FDI đến phát triển kinh tế
Việt Nam, những tác động tích cực: FDI và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; FDI với
tăng trưởng xuất khẩu và mở rộng thị trường quốc tế; tác động của FDI với chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực sản xuất trong khu vực công nghiệp và
dịch vụ; khả năng tạo việc làm của DN FDI; đóng góp tương đối tốt vào ngân sách
23
nhà nước. Qua đó đã rút ra được những hạn chế: Tác động lan tỏa của FDI đến các
DN trong nước còn hạn chế; hạn chế trong việc thúc đẩy chuyển giao công nghệ và
nâng cao năng lực quản lý; một vấn đề là giá trị gia tăng tạo ra thấp. Bên cạnh
những đóng góp của khu vực FDI, tác giả đã đưa ra hàng loạt những số liệu cho
thấy sự đầu tư của FDI vào Việt Nam hiện nay chỉ như một công xưởng lắp ráp chứ
không hề tạo ra nhiều giá trị; vấn đề trách nhiệm xã hội của DN FDI với tài nguyên,
môi trường.
Từ sự phân tích ở trên, tác giả đã đi tới kết luận về thực trạng FDI tại Việt
Nam trong thời gian qua, khẳng định sự đóng góp của FDI đối với sự phát triển của
nền kinh tế trong thời gian qua. Tuy nhiên, cho tới thời điểm này những hạn chế từ
nguồn vốn FDI đang ngày càng lộ rõ, Việt Nam vẫn phải thu hút nguồn vốn FDI
nhưng cần có sự chọn lọc, tránh tình trạng bão hòa và không hiệu quả.
Nguyễn Văn Dần (2014), Khủng hoảng kinh tế toàn cầu những khuyến nghị
nhằm thu hút FDI của Việt Nam [25, tr.63-65]. Tác giả khẳng định mặc dù khủng
hoảng kinh tế toàn cầu nhưng kết quả thu hút vốn FDI vào Việt Nam trong những năm
qua vẫn rất khả quan. Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư trực tiếp
nước ngoài, đặc biệt Hà Nội là một trong các thành phố có nhiều lợi thế về thu hút
nguồn vốn FDI trên cả các phương diện về số lượng, quy mô vốn dự án. Để nâng cao
hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI vào các KCN Hà Nội thời gian tới cần đảm
bảo phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô đến năm 2020, tầm nhìn 2050.
Tác giả đã khẳng định: Dòng vốn quốc tế vào các nước đang phát triển; FDI
vào Việt Nam trong những năm gần đây; thu hút FDI vào các KCN Hà Nội. Từ đó,
đưa ra một số khuyến nghị chính sách về thu hút nguồn vốn FDI đối với thành phố
Hà Nội đến năm 2020 như sau: Thu hút FDI phải gắn với các khâu đột phá của
thành phố là: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; cải cách hành chính với mục
tiêu xây dựng chính quyền đô thị, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu; ưu tiên thu hút các dự
án có công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường, sử dụng hiệu quả nguồn tài
nguyên, khoáng sản, đất đai, tạo điều kiện và tăng cường liên kết với các DN trong
nước; Hà Nội cần phấn đấu đi đầu, nhanh chóng thực hiện tốt đầy đủ vị trí trung
tâm của cả nước về chính trị, kinh tế văn hóa, khoa học kỹ thuật đồng thời là hạt
24
nhân của phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và các tỉnh phía Bắc; giai đoạn
trước mắt cần tập trung các mục tiêu hiện đại hóa, nâng cao chất lượng phát triển và
thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Khuyến khích đầu tư nước ngoài vào đổi
mới công nghệ, ứng dụng công nghệ hiện đại, phát triển theo chiều sâu, chủ động
hội nhập quốc tế; thu hút FDI vào các KCN Hà Nội cần giải quyết đồng thời ba
nhiệm vụ: Phát triển kinh tế, tạo động lực mạnh cho phát triển kinh tế vùng và cả
nước; phát triển bền vững, bảo đảm sự ổn định về chính trị, trật tự an ninh quốc
phòng, sự lành mạnh môi trường văn hóa sinh thái; phát triển có hiệu quả về kinh
tế, xã hội và môi trường, coi hiệu quả tổng thể, lâu dài chi phối hiệu quả cụ thể,
trước mắt.
1.3. ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN PHẢI TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.3.1. Những vấn đề có liên quan đến đề tài đã có sự thống nhất
Nghiên cứu chủ đề về LIKT đã có nhiều nhà kinh tế học và triết học Việt
Nam đã công bố các công trình chuyên sâu liên quan đến vấn đề LIKT. Mỗi tác giả
nghiên cứu tiếp cận và làm sáng tỏ về LIKT ở những góc độ khác nhau nhưng về cơ
bản các tác giả đã có những vấn đề thống nhất sau đây:
* Về cơ sở lý luận:
- Các công trình nghiên cứu đã làm rõ khái niệm LIKT, LIKT của người
lao động.
- Các tác giả đều xác định LIKT có vai trò và tầm quan trọng to lớn đối với
các hoạt động kinh tế của cá nhân, nó đóng vai trò là động lực thúc đẩy sản xuất xã
hội phát triển.
- Các tác giả luận giải được một số đặc trưng của lợi ích kinh tế của người
lao động, cụ thể:
+ Lợi ích kinh tế luôn gắn liền với nhu cầu kinh tế. Các tác giả có những đánh
giá khác nhau về mức độ gắn kết LIKT với nhu cầu kinh tế (nhu cầu vật chất). Một
số tác giả cho LIKT chính là nhu cầu kinh tế, số khác lại cho LIKT tuy gắn bó với
nhu cầu kinh tế nhưng có nội hàm khác hẳn. Nhưng tất cả đều thống nhất quan điểm
LIKT và nhu cầu kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau. LIKT bắt nguồn từ nhu
25
cầu và là cái để đáp ứng nhu cầu kinh tế, nhu cầu kinh tế làm nảy sinh LIKT.
+ Lợi ích kinh tế có tính khách quan. Có rất nhiều tác giả cùng chung quan
điểm khẳng định tính khách quan của LIKT. Lợi ích tồn tại như một mối quan hệ xã
hội khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của con người, điển hình như tác giả
Khổng Doãn Hợi, Vũ Hữu Ngoạn cũng khẳng định: LIKT là một phạm trù kinh tế
khách quan, là hình thức biểu hiện trước hết của quan hệ sản xuất, nó không tùy
thuộc vào ý chí, lòng ham muốn của con người. LIKT là cơ chế tác động chung của
tất cả các quy luật kinh tế.
+ Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của QHSX, do QHSX quyết định.
Con người khi tham gia vào mối quan hệ kinh tế trao đổi các giá trị để thỏa
mãn nhu cầu kinh tế của mình. Trong QHSX, trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu
sản xuất, việc thực hiện LIKT của chủ thể phụ thuộc vào vị trí của họ trong xã hội.
Người nào nắm tư liệu sản xuất, quyền điều phối QHSX sẽ có cơ hội thỏa mãn lợi
ích của mình tốt hơn. Theo quan điểm của tác giả Đào Duy Tùng thì: Lợi ích kinh tế
là hình thức biểu hiện những quan hệ kinh tế, quan hệ giữa người và người trong
sản xuất [86, tr.9]. Điều này thể hiện: Người nào nắm tư liệu sản xuất, điều hành
quá trình sản xuất, quyết định phân phối sản phẩm cũng chính là người giữ vai trò
quyết định trong hệ thống sản xuất.
+ Trong mỗi xã hội tồn tại các lợi ích kinh tế khác nhau.
Trong LIKT là dạng lợi ích vật chất, xét theo tiêu chí đối tượng thỏa mãn. Dưới
góc độ khái quát nhất, có thể phân chia LIKT thành LIKT cá nhân; LIKT tập thể và
toàn xã hội. Giải quyết một cách hợp lý các quan hệ lợi ích này sẽ tạo động lực cho sự
phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội. Nếu lợi ích được kết hợp với nhau hài hòa
sẽ tạo động lực cho sự phát triển, nếu có mâu thuẫn sẽ triệt tiêu động lực phát triển.
+ Lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy con người hoạt động tạo ra sự phát
triển kinh tế - xã hội. Dù không có sự đồng nhất quan điểm về khái niệm lợi ích
nhưng các tác giả đều có quan điểm thống nhất về vai trò động lực xã hội của lợi ích.
Những tác giả đại diện cho xu hướng coi lợi ích chính là nhu cầu thì cho rằng lợi ích
chính là những nhu cầu có điều kiện thực hiện của con người trong xã hội và khi đó
nhu cầu sẽ biểu hiện ở động cơ thúc đẩy con người hành động để thỏa mãn nhu cầu
26
đó. Hay nói cách khác thì lợi ích chính là những nhu cầu trở thành động cơ của hành
động [82]. Những tác giả cho lợi ích chính là phương tiện thỏa mãn nhu cầu cũng
khẳng định lợi ích là động cơ thúc đẩy con người trong xã hội hành động. Tuy việc
phân tích của họ có khác nhau giữa các tác giả, nhưng theo họ thì tính chất động lực
của nhu cầu được thực hiện không phải một cách trực tiếp mà thông qua khâu lợi ích,
còn lợi ích là khâu trực tiếp hơn cả trong việc làm hình thành nên động cơ tư tưởng
thúc đẩy con người ta hành động nhằm giành lấy cái thỏa mãn nhu cầu.
Cũng đồng nhất với Lê Hữu Tầng, Nguyễn Trọng Chuẩn cho rằng con người
hành động là nhằm đạt được những cái để thỏa mãn một hệ thống đa dạng các nhu
cầu với những mức độ cấp thiết cần được thỏa mãn khác nhau, vào những giai đoạn,
những thời điểm khác nhau và trong những hoàn cảnh khác nhau. Tuy nhiên, trước
sau nhu cầu vẫn là một sức mạnh thúc đẩy con người hoạt động. Phương tiện để
thỏa mãn nhu cầu là lợi ích, cho nên lợi ích quyết định hành vi, quyết định hoạt
động con người [58, tr.35]. Các tác giả thuộc xu hướng thứ ba, nằm trung giữa xu
hướng thứ nhất cho lợi ích là một dạng nhu cầu và xu hướng thứ hai cho lợi ích có
tính khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của con người. Tác giả Lê Xuân
Tùng "Lợi ích kinh tế là cái biểu hiện những động cơ, mục đích, những nhân tố
khách quan thúc đẩy hoạt động lao động của con người" [86, tr.94].
* Về cơ sở thực tiễn: Các công trình nghiên cứu về LIKT của người lao động
làm việc trong các DNCVĐTNN dưới các dạng sách, luận án, bài báo, nhìn chung
cơ bản đã có sự thống nhất về một số nội dung sau đây:
Một là: Các công trình nghiên cứu đã phân tích, đánh giá hoạt động của các
DNCVĐTNN trên phạm vi cả nước. Đồng thời đã làm rõ quan hệ LIKT của người
lao động trong các DNCVĐTNN.
Hai là: Thực trạng của quan hệ LIKT trong các DNCVĐTNN và các giải
pháp nhằm giải quyết hài hòa quan hệ LIKT của người lao động trong các
DNCVĐTNN.
Ba là: Các tác giả nghiên cứu về việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam, những đóng góp của sự đầu tư đó đối với nền kinh tế quốc dân. Để thu
hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài trong đó giải pháp về vai trò của Nhà
nước đề ra những chính sách phù hợp cho hoạt động đầu tư nước ngoài đạt hiệu quả
27
cao luôn được chú trọng.
Bốn là: Nguyên nhân đình công của người lao động ở một số DNCVĐTNN
là do mức thu nhập (lương) của người công nhân còn quá thấp, tiền lương danh
nghĩa so với tiền lương thực tế còn quá chênh lệch, vấn đề nhà ở của những người
lao động trong các DNCVĐTNN còn khó khăn, phần lớn công nhân phải đi thuê
nhà, chỗ ở chật chội, nóng bức, đời sống của người công nhân chưa thật sự được
giới chủ quan tâm.
1.3.2. Những nội dung có liên quan đến đề tài chưa có sự thống nhất
Bên cạnh những quan điểm đã thống nhất ở trên đây, việc nghiên cứu về
LIKT người lao động trong các DNCVĐTNN vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra, nhất là
trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Có thể khái quát một số nội
dung chủ yếu chưa thống nhất về LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN
ở Việt Nam là:
Thứ nhất: Chưa đưa ra những tiêu chí đánh giá về LIKT của người lao động.
Do đó, các công trình nghiên cứu về LIKT tập trung chủ yếu vào phân tích mối
quan hệ lợi ích và LIKT, mối quan hệ giữa các chủ thể trong quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh (SXKD).
Thứ hai: Chưa phân tích làm rõ được một cách đầy đủ các nguyên nhân gây
cản trở cho việc thực hiện LIKT của người lao động làm việc trong các
DNCVĐTNN.
Thứ ba: Quy định về mức lương tối thiểu đối với DNCVĐTNN còn nhiều
bất cập. Các chủ doanh nghiệp lợi dụng những quy định này đề ra mức lương cho
người lao động, dẫn tới sự chênh lệch giữa lương và thu nhập thực tế, thu nhập của
người lao động thấp là nguyên nhân dẫn đến đình công, bãi công gây mất
TTATXH.
Thứ tư: Mối quan hệ giữa LIKT và vấn đề tăng năng suất lao động cá nhân.
Các chủ DNCVĐTNN cũng lợi dụng để chỉ đóng bảo hiểm theo lương cơ bản gây
thiệt hại về lợi ích cho người lao động.
1.3.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và các bài viết đã công bố tuy có
nhiều nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về LIKT, LIKT người lao động, đầu tư
28
nước ngoài vào Việt Nam, nhưng chưa có công trình nào phân tích một cách có hệ
thống cơ sở lý luận và khảo sát thực tiễn về LIKT của người lao động trong các
DNCVĐTNN. Thực tế hiện nay cho thấy, LIKT của người lao động trong các
DNCVĐTNN ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng
vẫn còn nhiều bất cập, vấn đề việc làm, thu nhập, mất TTATXH, cản trở quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) của Thủ đô. Vì vậy, LIKT của người
lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội cần được tiếp tục
nghiên cứu và làm sáng rõ ở những khía cạnh sau:
Một là: Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận về LIKT, đặc biệt
làm rõ nội hàm của khái niệm LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN,
Hai là: Phân tích cơ cấu và các nhân tố ảnh hưởng đến LIKT của người lao
động trong các DNCVĐTNN.
Ba là: Chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện LIKT của
người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Bốn là: Đánh giá thực trạng LIKT của người lao động trong các
DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Từ đó thấy được những vấn đề đặt ra
cần được giải quyết trong việc bảo đảm LIKT của người lao động ở khu vực này.
Năm là: Đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm lợi ích kinh tế
của người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng
và cả nước nói chung.
29
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
2.1. LÝ LUẬN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ
2.1.1. Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi
ích kinh tế
2.1.1.1. Quan niệm của C.Mác (1818 - 1883) và Ph.Ăngghen (1820 - 1895)
Khi nghiên cứu vai trò động lực phát triển của LIKT, các nhà kinh điển của
chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ thừa nhận tính chất, động lực của LIKT trong phát
triển nền kinh tế - xã hội do A.Smith đã phát hiện ra mà còn chứng minh vai trò của
LIKT trong cuộc cách mạng xã hội, trong đấu tranh giai cấp. LIKT chính là mục đích
có tính cốt lõi của cuộc đấu tranh giai cấp chứ không phải quyền lực chính trị. Chính
sự không công bằng trong sự phân chia LIKT trong xã hội là nguyên nhân nảy sinh ra
các mâu thuẫn dẫn đến các cuộc cách mạng và đấu tranh giai cấp.
Trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức", C.Mác và Ph. Ănghen đã giải quyết
một cách duy vật biện chứng vấn đề cơ bản của Triết học, các ông công khai
thừa nhận rằng: Đã xuất phát một cách có ý thức từ những tiền đề nhất định, hơn
nữa những tiền đề không phải giáo điều, tư biện mà là thực tế hiện thực. Tiền đề
đầu tiên là con người phải có khả năng sống, sau đó mới làm ra mọi sản phẩm
vật chất và tinh thần, nói cách khác là con người muốn sáng tạo ra lịch sử thì
trước hết phải tồn tại, tồn tại là tiền đề để phát triển và sáng tạo nhưng muốn
sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở quần áo và một vài
thứ cần thiết nữa. Như vậy, hành động lịch sử đầu tiên là con người sản xuất ra
những tư liệu sinh hoạt thỏa mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời
sống vật chất, đây là một điều kiện cơ bản của lịch sử. Theo C.Mác, con người
muốn tồn tại và làm ra lịch sử thì trước hết phải tham gia vào việc sản xuất ra
bản thân ra những thứ đó, ông cho rằng:
… hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa
mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất và đó
30
là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà hiện nay
cũng như hàng nghìn năm về trước người ta phải thực hiện hàng ngày,
hàng giờ chỉ để nhằm duy trì con người [59, tr.286-287].
Từ việc nghiên cứu vai trò quyết định của quá trình sản xuất ra những nhu cầu
đầu tiên đối với sự tồn tại và phát triển của lịch sử, C.Mác chỉ rõ sự phát triển của lịch
sử là do vai trò của con người, trong đó động lực thúc đẩy con người hoạt động là nhu
cầu và nhu cầu nảy sinh xuất hiện cùng với sự tồn tại phát triển của xã hội. Hơn nữa,
C.Mác còn nghiên cứu lợi ích và đi đến kết luận: Tất cả những gì con người để giành
lấy đều dính liền với lợi ích của họ.
Như vậy, nhu cầu và lợi ích là những động lực chủ yếu của hoạt động của con
người, trong đó lợi ích có vai trò đặc biệt. Nếu nhu cầu là nguồn gốc đầu tiên của
hoạt động thì lợi ích là khâu trung gian chuyển hóa những nhu cầu khách quan của
thế giới bên ngoài vào lực lượng bên trong kích thích con người hoạt động. Trong
lời nói đầu của Tác phẩm "Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen", nói tới tác
dụng "động lực xã hội" của các lợi ích, C. Mác và Ăngghen cũng đã phân tích rõ: Ở
đâu không có lợi ích chung thì ở đó không có sự thống nhất về mục đích, càng
không thể thống nhất về hành động.
Tiếp đó trong tác phẩm "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" (1848), khi so sánh
(Cuộc cách mạng cộng sản) do giai cấp công nhân tiến hành với các cuộc cách
mạng khác, C.Mác và Ăngghen chỉ rõ:
Các cuộc cách mạng trước kia là những cuộc cách mạng do một
thiểu số các giai cấp bóc lột, vì lợi ích thiểu số đó; còn cuộc cách mạng
cộng sản do giai cấp công nhân lãnh đạo là cuộc cách mạng do đa số và
vì lợi ích của đại đa số con người - giai cấp công nhân, nhân dân lao
động các dân tộc. Do vậy, lợi ích được hiểu dưới góc độ giải phóng con
người [60, tr.366 -367].
Trong cuộc đấu tranh giai cấp, LIKT nắm vai trò là yếu tố điều tiết cơ bản mà
các yếu tố khác đều phải tuân theo. Ph.Ănghen đã đưa ra một luận điểm nổi tiếng đó
là "Những quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định nào đó biểu hiện trước hết dưới
hình thức lợi ích" [61, tr.376].
31
Rõ ràng, lợi ích lớn nhất và đầu tiên của con người ở trong xã hội trước hết là
sự tồn tại với việc thỏa mãn những nhu cầu của đời sống vật chất - kinh tế, nghĩa là
có tính chất hiện thực, sau đó với vai trò của chủ thể sáng tạo có mục đích, có ý
thức, con người có những lợi ích mới về tinh thần, đạo đức, đạo lý. Với lôgic đó có
thể thấy, vấn đề LIKT trong tính xuyên suốt của đời sống xã hội, trên cơ sở hiện
thực của những mối quan hệ khách quan của lực lượng sản xuất và QHSX đã xem
xét sự vận động chuyển hóa giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, giữa lợi ích cá
nhân và lợi ích xã hội.
Ph.Ăngghen cho rằng: Lợi ích kinh tế là nguyên tắc điều tiết cơ bản mà tất cả
mọi nguyên tắc phải tuân theo. Do đó, bất cứ hoạt động nào của con người cũng bị
chi phối bởi hai động lực chính đó là: Động lực vật chất (kinh tế) và động lực tinh
thần, để đạt được những kết quả cao trong hoạt động kinh tế, không chỉ duy nhất là
động lực kinh tế, mà còn cả động lực tinh thần. Trong đó, hoạt động kinh tế luôn giữ
vai trò quyết định nhất, là động lực quan trọng thúc đẩy hoạt động của con người. Vì
mọi hoạt động của con người có mối quan hệ phụ thuộc trực tiếp và chặt chẽ vào hai
yếu tố đó là: Khả năng của con người và động lực kích thích. Cho nên, các chính sách
kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế bao giờ cũng phải đặc biệt quan tâm đến lợi ích thiết
thân của người lao động, tức là LIKT vì nó luôn là động lực kích thích đối với con
người, đối với tập thể và đối với toàn xã hội. Đồng thời, khi LIKT được thực hiện thì
nó cũng tạo cơ sở, tiền đề để thực hiện các loại lợi ích khác.
2.1.1.2. Quan niệm của V.I.Lênin (1870-1924)
Trong tác phẩm "Bút ký Triết học" V.I.Lênin đã đề cao tư tưởng của Hêghen
và có sự thống nhất về mặt động lực xã hội của vấn đề lợi ích, thể hiện: "lợi ích, nếu
được xét hài hòa, nó sẽ liên kết được mọi con người lại với nhau; nó sẽ thúc đẩy cả
một dân tộc, cả nhân loại…". V.I.Lênin viết: "Một khi chiếm được chính quyền nhà
nước, giai cấp vô sản có một lợi ích căn bản nhất, sống còn nhất là phải tăng số
lượng sản phẩm, phải nâng cao sức sản xuất của xã hội" [53, tr.433]. Do đó, để tìm
nguồn gốc của những hiện tượng xã hội trong những QHSX và phải quy những hiện
tượng ấy vào lợi ích của những giai cấp nhất định.
Trong quá trình xây dựng CNXH, V.I.Lênin luôn kế thừa, phát triển tư tưởng
của C.Mác và Ănghghen về lợi ích, nhất là lợi ích của hai giai cấp trong liên minh
32
công - nông khi xây dựng chính quyền của mình, nền sản xuất: chủ nghĩa xã hội là
một công trường khiến cho người lao động - công - nông, tri thức.., có thể thi thố tài
năng lao động sáng tạo.., lần đầu tiên họ đứng thẳng người, tự thấy mình là con
người.., và lần đầu tiên lao động cho chính mình… V.I.Lênin cũng cho rằng: Lợi
ích của giai cấp này hay giai cấp khác được xác định một cách khách quan theo vai
trò mà họ có trong hệ thống quan hệ sản xuất, theo những hoàn cảnh và điều kiện
sống của họ.
Quan điểm của V.I.Lênin về LIKT còn được trình bày ở nhiều tác phẩm khác
nhau như: "Những nhiệm vụ của chính quyền Xô viết", "Bàn về thuế lương thực";
"Về chế độ hợp tác xã"… Tư tưởng nổi bật được thể hiện là lợi ích của công nhân,
nông dân và các tầng lớp lao động khác là động lực, là đòn bẩy của cuộc các mạng
hiện đại.
Như vậy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đều thấy rõ lợi ích
quan trọng nhất của những người lao động không phải là lợi ích về chính trị, mà
chính là LIKT. Vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển và trường tồn của xã hội do
những người vô sản tạo dựng nên thì việc nâng cao LIKT, đảm bảo cho nhân dân lao
động một cuộc sống no đủ, hạnh phúc chính là việc quan trọng nhất.
2.1.1.3. Quan niệm của Hồ Chí Minh về lợi ích kinh tế
Trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh khẳng định: Cần
phải nhận thức, vận dụng phát huy tất cả các động lực, trong đó thông qua động lực
của con người với tư cách là cộng đồng và cá nhân. Nghiên cứu về nhu cầu và lợi
ích, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Hành động của con người luôn gắn liền với nhu cầu
và lợi ích: "Tục ngữ có câu: Dân dĩ thực vi thiên, lại có câu: Có thực mới vực được
đạo; nghĩa là không có ăn thì chẳng làm gì được cả" [66, tr.572]; hay "Bởi vì dân
lấy ăn làm gốc, có thực mới vực được đạo, nếu bụng đói thì các cô chú nói gì hay
mấy cũng không ai nghe" [67, tr.411]. Từ quan điểm đó, theo Người bất cứ một
công việc gì phải biết kích thích đến lợi ích cá nhân, lợi ích của người lao động,
luôn coi trọng lợi ích cá nhân và luôn phải kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và
lợi ích xã hội. Nói về lợi ích cá nhân, Người nhấn mạnh: "phải thực hiện ba khoán,
một thưởng, nếu ai thực hiện vượt mức quy định thì được thưởng. Có như thế mới
33
kích thích mọi người cố gắng hơn nữa, thưởng, phạt phải công bằng" [69, tr.411].
Trái lại, "nếu làm xấu, làm hỏng, có khi phải bồi thường lại cho nhà nước, Chính
phủ không phát lương cho những người ăn không" [67, tr.338]
Khi tìm hiểu về lợi ích, Người viết: "Lợi ích của giai cấp công nhân và lợi
ích của nhân dân là nhất trí" [68, tr.288] và "Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động, Đảng ta không có lợi ích nào khác" [68, tr.286]; "Nhưng thực tế
thì chỉ có chế độ của chúng ta mới thật sự phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là
nhân dân lao động, bảo đảm mọi quyền lợi của nhân dân" [68, tr.593]. Quan điểm
về lợi ích của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ được người đề cập nhấn mạnh trong
cách mạng giải phóng dân tộc, trong công cuộc xây dựng kiến thiết đất nước mà bao
trùm lên tất cả Người đã chỉ rõ việc gì có lợi cho dân dù khó khăn cũng phải cố
gắng làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh. Ngay cả trong lĩnh vực giữ
gìn an ninh trật tự Người cũng nêu rõ:
Giữ gìn trật tự an ninh trước hết là công việc của công an, bộ
đội, cảnh sát, nhưng chính quyền ta là chính quyền của dân, bất cứ
việc to việc nhỏ đều dựa vào lực lượng của nhân dân để phụng sự lợi
ích của nhân dân, việc giữ gìn trật tự an ninh càng phải dựa vào sáng
kiến và lực lượng của nhân dân. Mọi công dân, bất kỳ già, trẻ, gái,
trai bất kỳ làm việc gì đều có nhiệm vụ giúp chính quyền giữ gìn trật
tự an ninh và trật tự an ninh trực tiếp quan hệ đến lợi ích của bản
thân của mọi người [65, tr.9].
2.1.2. Quan niệm của các nhà nghiên cứu và của tác giả luận án về lợi
ích kinh tế
Khi bàn về lợi ích các nhà nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước từ nhiều
góc độ tiếp cận khác nhau đã nêu lên nhiều vấn đề về LIKT, đặc biệt là khái niệm
lợi ích: "Lợi ích từ tiếng la tinh Interest, nghĩa là: Có ý nghĩa quan trọng, là nguyên
nhân hiện thực của các hành động xã hội, các sự kiện, thành tựu ẩn dấu đằng sau
những sự thúc đẩy trực tiếp động cơ, ý đồ, lý tưởng của các cá nhân, tập đoàn xã
hội, giai cấp tham gia vào những hành động đó" [33, tr.321-322].
Bàn về LIKT các nhà nghiên cứu khoa học trong nước và ngoài nước từ
nhiều góc độ tiếp cận khác nhau đã nêu lên những khái niệm về LIKT:
34
V.P Ca-man-kin cho rằng: "LIKT của một chủ thể nhất định là sự tác động
lẫn nhau giữa các nhu cầu kinh tế của chủ thể đó" [12, tr.13].
Theo tác giả Đào Duy Tùng: LIKT là hình thức biểu hiện những quan hệ
kinh tế, quan hệ giữa người và người trong sản xuất [86, tr.9]. Điều này thể hiện:
người nào nắm tư liệu sản xuất, điều hành quá trình sản xuất, quyết định phân phối
sản phẩm cũng chính là người giữ vai trò quyết định trong hệ thống sản xuất.
Vũ Hữu Ngoạn khẳng định: LIKT là một phạm trù kinh tế khách quan, là
hình thức biểu hiện trước hết của quan hệ sản xuất… LIKT là cơ chế tác động
chung của tất cả các quy luật kinh tế [72, tr.54].
Khoa Minh lại cho rằng: LIKT là sự biểu hiện của những quan hệ kinh tế đối
với việc thoả mãn những nhu cầu vật chất cần thiết cho đời sống dưới hình thức mục
đích xác định của hoạt động kinh tế của con người. LIKT là hình thức biểu hiện cụ
thể các quan hệ kinh tế và quy luật phản ánh các quan hệ kinh tế đó [71, tr.296].
Theo Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin (Bộ Giáo dục và đào tạo):
LIKT là lợi ích vật chất, nó phản ánh mục đích và động cơ khách quan của các chủ
thể kinh tế khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội và do hệ thống quan hệ
sản xuất quyết định [6, tr.289].
Từ những khái niệm khác nhau trên có thể khẳng định rằng: Trong bất cứ xã
hội nào con người muốn tồn tại phải thỏa mãn nhu cầu về ăn mặc, ở, đi lại, bảo vệ
sức khỏe, học tập và giải trí. Nói cách khác, con người muốn sống, tồn tại cần thoả
mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần để phát triển thể lực và trí lực của mình.
Toàn bộ những nhu cầu đó được biểu hiện dưới một hình thức chung nhất chính là
LIKT, nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển kinh tế xã hội.
Trong xã hội có nhiều động lực như động lực kinh tế, chính trị.., song động
lực chủ yếu, suy cho cùng, là động lực kinh tế vì nó có ý nghĩa quyết định thúc đẩy
con người hành động, chi phối nội dung các động lực khác. Cuộc sống của con
người bao giờ cũng đòi hỏi nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần ngày càng cao.
Nhưng không phải bất kỳ nhu cầu nào của con người cũng được thỏa mãn và đều là
LIKT, mà chỉ có những nhu cầu mang tính hiện thực mới được thỏa mãn và mới
thuộc phạm trù LIKT. Nhu cầu đó phụ thuộc vào trình độ phát triển nhất định của
phương thức sản xuất, hay nói một cách khác là: Không phải bản thân nhu cầu là
35
LIKT, mà nhu cầu khi được xác định về mặt xã hội mới trở thành LIKT. Do đó,
LIKT có liên quan đến nhu cầu của con người nhưng không phải mọi nhu cầu của
con người đều trở thành LIKT, mà chỉ có những nhu cầu vật chất (nhu cầu kinh tế)
mới trở thành LIKT. Vì vậy, LIKT là một phạm trù kinh tế khách quan, LIKT muốn
được thực hiện phải thông qua hoạt động có nhận thức của con người, và con người
càng nhận thức tự giác được phạm trù LIKT, thì hoạt động của họ càng thu được kết
quả cao.
Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của QHSX, là một khâu chính của cơ
chế tác động chung của quy luật kinh tế do QHSX sinh ra. Không có LIKT thuần
tuý tồn tại ngoài con người hoặc là con người không ý thức gì về lợi ích. Do vậy,
cái khách quan được biểu hiện dưới dạng chủ quan, mang hình thức chủ quan, cái
chủ quan do khách quan quy định. Trong thực tế, các động cơ hành động kinh tế
của con người có vẻ chủ quan nhưng thực ra nó lại là động cơ mang tính khách
quan, một mặt, thông qua LIKT, con người mưu cầu đời sống; mặt khác, thông qua
LIKT mà xu hướng phát triển khách quan của sản xuất xã hội được thực hiện.
Lợi ích kinh tế được quy định một cách khách quan bởi phương thức sản
xuất và hệ thống quan hệ sản xuất; V.I.Lênin cũng cho rằng lợi ích của giai cấp này
hay giai cấp khác được xác định một cách khách quan theo vai trò mà họ có trong
hệ thống QHSX, theo những hoàn cảnh và điều kiện sống của họ.
Như vậy, LIKT là hình thức biểu hiện của QHSX, LIKT thể hiện trong bốn
khâu của quá trình tái sản xuất xã hội: Sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng; ở
đâu có hoạt động SXKD thì ở đó có LIKT và chủ thể tham gia vào SXKD cũng là
chủ thể của LIKT.
Xuất phát từ những quan niệm trên, tác giả luận án khẳng định: Lợi ích kinh
tế là một phạm trù kinh tế khách quan nó phát sinh và tồn tại trên cơ sở của một
quan hệ sản xuất nhất định, là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất và phản
ánh mặt bản chất nhất của quan hệ sản xuất. Lợi ích kinh tế không tuỳ thuộc vào
yếu tố chủ quan của con người, không tuỳ thuộc ở chỗ là con người có nhận thức
được nó hay không, mà do địa vị của họ trong quan hệ sản xuất quyết định.
Trong hệ thống LIKT: Cá nhân, tập thể và xã hội thì LIKT cá nhân là động
36
lực trực tiếp, mạnh mẽ nhất thúc đẩy các chủ thể tham gia một cách tích cực vào các
hoạt động kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả kinh tế của chúng. Vì LIKT cá nhân
là lợi ích thiết thực nhất, gắn liền với từng cá nhân, từng chủ thể; nó tạo điều kiện
để thực hiện và nâng cao lợi ích văn hóa, tinh thần của từng cá nhân; nó là cơ sở
thực hiện LIKT tập thể và lợi ích xã hội và dân có giàu thì nước mới mạnh.
2.2. LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
2.2.1. Bản chất lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Sau gần ba mươi năm, từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
(12/1987) đến nay, hoạt động đầu tư nước ngoài, đặc biệt đầu tư trực tiếp nước
ngoài (Foreing Direct Investment - FDI) ngày càng trở thành một trong những
nguồn lực quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
ngày càng tăng lên đã thật sự có tác động tích cực vào sự tăng trưởng chung của nền
kinh tế nhiều thành phần.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân
hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở SXKD. Cá nhân hay
công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở SXKD này.
Tại khoản 6, điều 3, Luật Đầu tư chỉ rõ:
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm: DN do nhà đầu tư nước
ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; DN Việt Nam do nhà
đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại [76, tr.9].
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm: Các DN có thể 100% vốn
nước ngoài, có thể liên kết, liên doanh với DN nhà nước hoặc DN tư nhân của nước
ta. DNCVĐTNN có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta, cho phép những
nước đang phát triển tranh thủ được các nguồn lực lớn từ bên ngoài về vốn, công
nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường, tạo việc làm, phát triển
nhanh nền kinh tế quốc dân.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) đã xác định: Kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài là một bộ phận cấu thành nền kinh tế nước ta: "Tạo điều kiện để kinh tế
37
có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết
cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc
làm. Cải thiện môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư nước
ngoài" [29, tr.99]. Để khẳng định tầm quan trọng của chính sách khuyến khích thu
hút đầu tư, trên tinh thần thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa trong
kinh tế đối ngoại, Đại hội lần thứ X (2006) của Đảng tiếp tục khẳng định: Kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN. Đại hội lần thứ XI (2011) của Đảng tiếp tục nhấn mạnh:
"Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển" [32, tr.99].
Thực tế cho thấy, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam đã
có tốc độ phát triển nhanh, đóng góp ngày càng lớn cho tổng sản phẩm trong nước.
Việc thu hút vốn FDI đã góp phần to lớn vào quá trình thay đổi cơ cấu của nền kinh
tế, thực hiện CNH, HĐH đưa Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế. Việt Nam là
một nước đang phát triển, do đó cần phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong
đó thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một tất yếu. Văn kiện Đại hội đại
biểu của Đảng lần thứ XI (2011) đã nêu rõ: "Thu hút mạnh đầu tư trực tiếp của
nước ngoài vào những ngành, lĩnh vực kinh tế phù hợp với quy hoạch và chiến lược
phát triển của đất nước, nhất là các lĩnh vực công nghệ cao" [32, tr.209].
Các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng muốn tiến hành
hoạt động SXKD và kinh doanh có lãi thì tất yếu phải có sự thuê mướn lao động.
Khi quan hệ này được xác lập sẽ nảy sinh quan hệ lợi ích giữa các chủ DN với
người lao động. Ở đây có sự xuất hiện LIKT của những người lao động và lợi ích
của các chủ DN. Cũng như tất cả những người lao động làm việc trong các lĩnh vực
khác, người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN cũng mong muốn có được
LIKT thỏa đáng để bảo đảm cuộc sống của bản thân và gia đình của mình. LIKT
của người lao động trong các DNCVĐTNN là tất cả các yếu tố nhằm đáp ứng, thỏa
mãn những nhu cầu kinh tế (nhu cầu vật chất) của họ và gia đình họ.
Từ khi có sự xuất hiện của loài người trong lịch sử, con người đã phải tiến
hành các hoạt động sản xuất để duy trì cuộc sống của mình và góp phần phát triển
xã hội; con người cá nhân nói riêng cũng như toàn xã hội muốn tồn tại để phát triển
38
thì trước hết phải duy trì các hoạt động sống, muốn vậy cần phải có những thứ thiết
yếu cần thiết về ăn, mặc, ở, đi lại và nhiều tư liệu sinh hoạt cần thiết khác và để đáp
ứng nhu cầu cần phải có phương tiện để đáp ứng. Do vậy, hoạt động kinh tế luôn
luôn giữ vai trò trung tâm trong mọi hoạt động xã hội, nó là cơ sở cho các hoạt động
khác. Trong hoạt động kinh tế, con người luôn có động cơ nhất định, động cơ thúc
đẩy con người hoạt động, mức độ hành động (mạnh hay yếu) tùy thuộc vào mức độ
chín muồi của động cơ - tùy thuộc vào nhận thức của họ. Như vậy, mỗi cá nhân
trong xã hội muốn tồn tại và phát triển thì rõ ràng họ cần phải có những yếu tố cần
thiết đó là những nhu cầu phải được đáp ứng, trong các nhu cầu đó có những nhu
cầu về kinh tế.
Những nhu cầu về kinh tế được đáp ứng đó chính là LIKT, LIKT bắt nguồn
từ nhu cầu kinh tế và là cơ sở để đáp ứng nhu cầu kinh tế, nhu cầu kinh tế làm nảy
sinh LIKT; cũng giống như LIKT của con người nói chung LIKT gắn liền với nhu
cầu, song không phải là nhu cầu bất kỳ mà là nhu cầu kinh tế (nhu cầu vật chất) chỉ
có nhu cầu kinh tế mới làm nảy sinh LIKT. Để đáp ứng nhu cầu kinh tế (thỏa mãn
nhu cầu) con người phải tham gia vào các hoạt động kinh tế để thỏa mãn nhu cầu
kinh tế.
Qua nghiên cứu cho thấy, LIKT là một phạm trù kinh tế khách quan biểu thị
những mối quan hệ kinh tế được phản ánh trong ý thức của con người trở thành
động cơ thôi thúc những người lao động tham gia vào các hoạt động sản xuất nhằm
thỏa mãn tốt nhất nhu cầu kinh tế (nhu cầu vật chất) của các chủ thể tham gia vào
các hoạt động kinh tế.
Từ những quan niệm chung về LIKT, tác giả luận án cho rằng: Lợi ích kinh
tế của người lao động trong các DNCVĐTNN là phạm trù kinh tế, thể hiện mối
quan hệ kinh tế giữa những người lao động với chủ DNCVĐTNN; phản ánh những
nhu cầu, động cơ khách quan của người lao động tham gia vào các hoạt động kinh
tế trong DNCVĐTNN.
Lợi ích kinh tế của người lao động thể hiện trên hai nội dung chủ yếu:
Thứ nhất: Người lao động phát huy được khả năng sáng tạo trong một môi
trường chính trị - xã hội ưu việt. Thể hiện, người lao động sẽ lao động một cách tự
39
giác, sáng tạo và có hiệu quả ngày càng cao vì lợi ích của chính người lao động, của
tập thể, của cộng đồng. Tuy nhiên, muốn biến khả năng đó thành hiện thực, cần
phải có một cơ chế, hình thức kết hợp hài hòa các LIKT trong một hệ thống, nhằm
khơi dậy phát huy một sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, của từng tập thể và của
từng cá nhân người lao động.
Thứ hai: Thoả mãn tốt hơn những nhu cầu về vật chất, tinh thần cá nhân và
gia đình người lao động. Trong thực tế lao động sản xuất và cuộc sống nói chung,
đa phần những người lao động không chỉ quan tâm đến mức độ thỏa mãn các nhu
cầu về đời sống vật chất (thu nhập thông qua tiền lương, tiền thưởng và các sản
phẩm của lao động), mà còn biểu hiện thông qua việc hưởng thụ các phúc lợi xã hội
như: quyền có việc làm, quyền phát triển nghề nghiệp, chăm sóc y tế, các khoản phụ
cấp, trợ cấp khác.
Như vậy, LIKT của người lao động gắn liền với khả năng lao động và thành
quả lao động, với cách thức, mức độ thỏa mãn những nhu cầu về đời sống vật chất
cũng như đời sống tinh thần của người lao động. Khi LIKT của người lao động được
thực hiện sẽ tạo ra động lực to lớn thúc đẩy sản xuất, kinh tế - xã hội phát triển. Đồng
thời, phát triển kinh tế - xã hội sẽ tạo ra tiền đề, khả năng thỏa mãn ngày càng tốt hơn
nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần của người lao động và ngược lại trên cơ sở
đó tạo ra niềm tin, niềm phấn khởi thúc đẩy người lao động hăng say trong lao động
thúc đẩy sản xuất phát triển.
Trong các DNCVĐTNN, người lao động là người trực tiếp tiến hành quá
trình sản xuất để sản xuất ra hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội, tập thể và
của bản thân mình, nên họ là người trực tiếp thực hiện các LIKT. Do vậy LIKT cá nhân
là lợi ích trực tiếp của người lao động, nó là mục đích trực tiếp của hoạt động sản xuất
của người lao động, là động cơ trực tiếp thôi thúc họ phải tiến hành sản xuất.
2.2.2. Đặc điểm lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNCVĐTNN và phản ánh
quan hệ kinh tế giữa người lao động với các chủ DNCVĐTNN.
Trong quá trình người lao động tham gia vào các hoạt động SXKD cho chủ
40
DN và được các chủ DN trả lương, ngoài tiền lương còn có các khoản thu nhập
khác người lao động có thể được hưởng thông qua các hợp đồng lao động của mình
đối với chủ DN như tiền thưởng, tiền ăn giữa ca, các khoản chi phí về bảo hộ lao
động, tạo môi trường làm việc thông thoáng, đảm bảo an toàn trong lao động…
Lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNCVĐTNN phản ánh mối
quan hệ giữa chủ và thợ, giữa người lao động làm thuê với người thuê mướn lao
động, biểu thị thái độ của chủ DN đối với những người lao động thông qua các
hành vi đối xử của các chủ DN đối với những người lao động, thông qua các quan
hệ lợi ích có thể thấy rõ khả năng quan tâm của chủ đối với người lao động hay
khả năng đáp ứng vấn đề LIKT của chủ DN đối với người lao động. Quan hệ này
là quan hệ mua bán hàng hóa sức lao động giữa những người lao động với chủ
DN. Người lao động làm việc trong DN phải được chủ DN trả lương và nhiều
khoản chi trả khác để bảo đảm cho người lao động tái tạo lại sức lao động tiếp tục
làm việc cho các chủ DN.
Theo C.Mác, các khoản chi trả này là nhu cầu cần thiết nhằm tái tạo ra năng
lực lao động cho người lao động. Trong CNTB, giá cả của hàng hóa sức lao động
mà nhà tư bản phải trả cho người công nhân, giá cả này là sự biểu hiện bằng tiền
của giá trị của hàng hóa sức lao động còn giá trị của hàng hóa sức lao động được đo
bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân và gia
đình họ. Giá trị đó cũng bao hàm cả những chi phí để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao
trình độ tay nghề cho công nhân. Phạm trù giá trị của hàng hóa sức lao động dưới
CNTB bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, những vấn đề C.Mác nghiên cứu về giá trị
của hàng hóa sức lao động dưới CNTB nếu được đặt trong quan hệ hợp đồng lao
động giữa người lao động với các chủ DN. Điều đó cho thấy: Để người lao động
làm việc cho các chủ DN thì các chủ DN phải có những chi phí để người lao động
khôi phục tái tạo lại năng lực lao động của mình, các khoản đó là tiền công, tiền
thưởng, cho phí về bảo hiểm, về an toàn lao động.., các khoản này cũng chính là
những yếu tố cấu thành nên LIKT của người lao động làm việc trong các
DNCVĐTNN. Nếu các khoản chi trả này của chủ DNCVĐTNN đối với người lao
động được đảm bảo và thỏa đáng, cũng tức là LIKT của người lao động làm việc ở
đây được bảo đảm ngược lại LIKT của người lao động sẽ bị xâm hại.
41
Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động được xem như là một loại "hàng
hóa đặc biệt". Do đó, việc mua bán hàng hóa sức lao động cần phải tuân thủ nguyên
tắc thỏa thuận theo giá cả thị trường. Việc các chủ DNCVĐTNN trả lương cho người
lao động quá rẻ là vi phạm nguyên tắc này, tất yếu nảy sinh mâu thuẫn. Nếu nguyên
tắc này không được đảm bảo, tiền công của người công nhân không được nhận xứng
đáng với công sức của họ bỏ ra, dẫn tới người lao động sẽ đình công. Ngược lại, khi
người lao động được trả thù lao xứng đáng, quyền lợi của họ được đảm bảo, họ sẽ
yên tâm làm việc, từ đó kết quả SXKD của DNCVĐTNN cũng đảm bảo.
Các khoản chi phí về tiền công tiền thưởng, tiền bảo đảm an toàn trong lao
động, tạo môi trường và nơi làm việc thông thoáng.., là những yếu tố cấu thành
nên LIKT của người lao động, đối với những người lao động các khoản này mà họ
được thừa hưởng càng tăng lên thì lợi ích của họ càng được bảo đảm hơn. Ngược
lại, đối với các chủ DN, chi phí về tiền công và bảo hộ, an toàn lao động, lại là chi
phí sản xuất (chi về các yếu tố đầu vào của sản xuất). Những khoản chi phí này
càng tăng thì người lao động càng được hưởng lợi, song đối với các chủ DN
những khoản chi này tăng lên tức là chi phí cho sản xuất tăng lên sẽ dẫn tới lợi
nhuận của họ thu được sẽ giảm đi. Do đó, giữa LIKT của những người lao động
với chi phí sản xuất của các chủ DN có mối quan hệ tỷ lệ nghịch, chế ngự lẫn
nhau. Hay nói cụ thể hơn giữa LIKT của người lao động làm việc trong các DN
với chủ đầu tư, xét trong quan hệ này là không đồng thuận và có mâu thuẫn. Quan
hệ này xét thuần túy dưới dạng trao đổi, mua bán thì ở đây người lao động cung
cấp sức lao động của mình để lao động cho các chủ đầu tư, ngược lại các chủ đầu
tư phải trả lại cho người lao động tiền công và nhiều chi phí khác để người lao
động tái tạo lại sức lao động tiếp tục làm việc cho các nhà đầu tư. Trong quan hệ
trao đổi bao giờ người tham gia trao đổi cũng muốn được hưởng lợi về mình, vì
vậy cần có sự thỏa thuận để "gặp nhau ở một điểm" mà cả hai đều chấp nhận
được. Trong quan hệ giữa LIKT của người lao động với các chủ DN cũng vậy,
người lao động với chủ DN cần có sự thỏa thuận, trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể
để đi đến sự đồng thuận về lợi ích, nguyên tắc để đi tới sự đồng thuận ở đây là
phải trên cơ sở nhận thức quy luật trong trao đổi đòi hỏi phải có sự trao đổi ngang
42
giá. Về phía chủ DN phải thấy được sự trả công thỏa đáng cho những người lao
động theo đúng các hợp đồng lao động là tất yếu, để người lao động tái tạo sức lao
động, hơn nữa nếu người lao động được trả tiền công thỏa đáng đáp ứng công sức
của họ đã bỏ ra, sẽ tạo ra động lực thúc đẩy họ lao động tốt hơn cho các chủ đầu tư,
trong đó cũng có lợi ích của người lao động. Như vậy, khi chủ DN quan tâm tới lợi
ích của những người lao động, không chỉ đơn thuần vì lợi ích của những người lao
động mà còn vì lợi ích của chính các chủ DN nữa. Còn nếu chủ DN chỉ quan tâm
tới việc theo đuổi lợi nhuận tối đa của mình không chú trọng tới lợi ích chính đáng
của người lao động bằng việc cắt giảm, bớt xén tiền công, tiền thưởng, không chú
trọng đến tiền thưởng, điều kiện môi trường làm việc của người lao động thì có thể
trước mắt các chủ DN có được lợi nhuận cao, song đối với người lao động khi lợi
ích của họ không được bảo đảm sẽ làm triệt tiêu động lực làm việc cho các chủ đầu
tư. Khi đó, chẳng những lợi ích của người lao động không bảo đảm mà về phía các
chủ đầu tư trong các DNCVĐTNN về sản xuất cũng sẽ giảm sút.
- Lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNCVĐTNN là một phạm trù
kinh tế khách quan
Cũng như LIKT nói chung, LIKT của người lao động làm việc trong các
DNCVĐTNN là một phạm trù kinh tế khách quan, biểu thị mối quan hệ giữa người
lao động với các chủ DNCVĐTNN. Mối quan hệ đó xuất hiện trong điều kiện cụ
thể, trở thành mục đích, động cơ thôi thúc họ tham gia vào các hoạt động sản xuất
của các DNCVĐTNN để nhằm thỏa mãn một cách tốt nhất những nhu cầu vật chất
(nhu cầu kinh tế) của họ đã đề ra.
Lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNCVĐTNN ở nước ta bắt
nguồn từ những nhu cầu kinh tế chính đáng, khách quan cần phải có trong việc duy
trì các hoạt động sống của con người. Để tồn tại phát triển, duy trì sự sống, sự phát
triển chung của xã hội, mọi cá nhân trong xã hội trong đó có những con người lao
động làm việc trong các DNCVĐTNN bao giờ cũng phải thực hiện một quá trình trao
đổi liên tục với môi trường xung quanh. Có khi dưới dạng vật chất có khi dưới dạng
tinh thần nhằm giải tỏa những trạng thái thiếu hụt, ứ thừa của bản thân, đó là quá
trình khôi phục lại trạng thái mất cân bằng giữa chủ thể và khách thể, giữa con người
43
với môi trường xung quanh. Để khôi phục lại trạng thái mất cân bằng con người tất
yếu đòi hỏi cần phải có những yếu tố cần thiết để lặp lại đó. Những người lao động
làm việc trong các DNCVĐTNN cũng không nằm ngoài trạng thái đó, trong hoạt
động sản xuất cho các chủ DN, bản thân và gia đình họ cũng luôn luôn cần phải đáp
ứng những nhu cầu để nhằm khôi phục lại những trạng thái mất cân bằng trong quá
trình làm việc cho chủ DN. Các trạng thái mất cân bằng phải được khôi phục thì con
người mới có thể tiếp tục duy trì mọi hoạt động bình thường của mình được.
Để khôi phục lại các trạng thái mất cân bằng người lao động cần phải được
đáp ứng những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống đó là những thứ cần thiết để duy
trì sự sống, sự tồn tại phát triển của mỗi cá nhân trong xã hội muốn tồn tại phát triển
được thì trước hết họ cần phải có ăn, mặc, ở và nhiều tư liệu sinh hoạt cần thiết
khác. Những nhu cầu trên đây đối với con người là cần thiết, nó mang tính khách
quan, đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Như vậy, LIKT của
người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN không phải là một cái gì trừu
tượng và có tính chất chủ quan mà cơ sở của LIKT của người lao động làm việc
trong các DNCVĐTNN là mang tính chất khách quan, nó bắt nguồn, từ những nhu
cầu khách quan của những người lao động.
- Lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNCVĐTNN có tính giai cấp
và lịch sử
Tính giai cấp, lợi ích biểu hiện mối quan hệ giữa người lao động và các chủ
DN. Để tối đa hóa lợi nhuận buộc họ phải quan hệ với nhau bằng cách này hay cách
khác để hai bên đều được hưởng thụ phần lợi ích do quá trình lao động sản xuất tạo
ra. Mối quan hệ này cũng có thể là sự thỏa thuận hòa bình, hai bên cùng có lợi;
cũng có thể là sự đấu tranh gay gắt, nảy sinh mâu thuẫn; Tính lịch sử, lợi ích thể
hiện gắn liền với hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể, gắn liền với hiệu quả hoạt
động SXKD của DNCVĐTNN và sự phát triển chung của kinh tế nước ta cũng như
kinh tế thế giới trong điều kiện hiện nay. Do vậy, về phía người lao động cần nhận
thức rõ: Lợi ích kinh tế là một phạm trù có tính lịch sử đó là quyền không thể đòi
hỏi hưởng thụ cao hơn, khả năng mà hiện thực có được. Trong "biện chứng của tự
nhiên" Ăngghen cho rằng: Con người sáng tạo ra hoàn cảnh như thế nào thì hoàn
44
cảnh cũng sáng tạo con người thế ấy. C.Mác cũng đã chứng minh tính "lịch sử của
tự nhiên" của các hình thái các chế độ xã hội có những hệ thống nhu cầu riêng, cho
nên cũng làm nảy sinh một hệ thống lợi ích riêng và ở đó xét một cách chung nhất
thì quan hệ hạn chế của con người ta với tự nhiên quyết định quan hệ hạn chế của
con người ta với nhau.
Như vậy, theo quan điểm của C. Mác và Ăngghen đối với những người lao
động trong các DNCVĐTNN ở nước ta, khi mà lực lượng sản xuất chưa phát triển,
năng suất lao động còn ở mức thấp, thì vấn đề bảo đảm LIKT cũng phải trên cơ sở
diễn biến thực tế ở Việt Nam và mức doanh lợi mà các DNCVĐTNN đạt được. Một
khi có sự hiểu biết sâu sắc và điều kiện và hoàn cảnh cụ thể về DNCVĐTNN, các chủ
đầu tư, cũng như những điều kiện hoàn cảnh cụ thể của người lao động thì giữa chủ
DNCVĐTNN và người lao động sẽ có sự đồng thuận để mang lại lợi ích cho cả đôi bên.
Phần lớn các DNCVĐTNN khi đầu tư vào Việt Nam đã tuân thủ tương đối
tốt các quy định luật pháp, nội dung của Bộ Luật Lao động, Luật Đầu tư, Luật Bảo
hiểm xã hội.., và bảo đảm được quyền lợi của người lao động làm việc tại
DNCVĐTNN. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một số DNCVĐTNN kinh doanh kiểu
"chụp giật", lợi dụng sức lực của người lao động để thu lợi nhuận, không quan tâm
đến LIKT của người lao động, dẫn tới các cuộc đình công, bãi công đòi tăng lương,
giảm giờ làm của người lao động đối với giới chủ. Đây là một vấn đề bức xúc hiện
nay đòi hỏi các ngành chức năng giải quyết triệt để, làm sao người lao động yên tâm
làm việc và được hưởng đúng với quyền lợi công sức của mình.
Hiện nay, do nắm bắt được vai trò LIKT đối với người lao động là một tất
yếu, để thực hiện mục tiêu lợi nhuận của mình phần lớn các chủ DN đã biết quan
tâm chăm lo phát huy yếu tố con người. Coi trọng những lợi ích thiết thân của
người lao động, dựa vào lực lượng khoa học kỹ thuật, trình độ công nhân, đặt lòng
tin, khắc phục sự kỳ thị, đảm bảo thu nhập xứng đáng với khả năng đóng góp của
người lao động, tìm ra cơ chế quản lý phù hợp, coi trọng việc sử dụng các quỹ khen
thưởng, quỹ phúc lợi, cải thiện điều kiện lao động, để người lao động yên tâm làm
việc, phát huy tính sáng tạo, đưa lại hiệu quả sản xuất cao cho DNCVĐTNN, đồng
thời quan tâm đến lợi ích người lao động.
45
2.2.3. Cơ cấu lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài
Về cơ bản LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN gồm hai bộ
phận: LIKT trực tiếp và LIKT gián triếp.
2.2.3.1. Lợi ích kinh tế trực tiếp
Lợi ích kinh tế trực tiếp của người lao động, biểu hiện dưới hình thức thu nhập
bằng tiền bao gồm tiền lương (tiền công), tiền thưởng, quỹ phúc lợi, bảo hiểm.
- Tiền công là bộ phận chủ yếu của LIKT trực tiếp của người lao động trong tất
cả các DN nói chung kể cả DNCVĐTNN. Nó là một bộ phận giá cả của sức lao động.
Theo lý luận tiền công của C.Mác, việc mua bán hàng hóa sức lao động được
thực hiện thông qua thỏa thuận giữa người lao động và chủ DN có nhu cầu sử dụng
sức lao động đó.
Trên thực tế, việc mua bán sức lao động diễn ra trước quá trình sản xuất, số tiền
công mà người lao động nhận được sau khi đã tiến hành sản xuất hoặc một thời gian
nhất định. Đúng như C.Mác đã viết: "giá trị sức lao động là giá trị của những tư liệu
sinh hoạt cần thiết để duy trì cuộc sống của người có sức lao động ấy" [59, tr.256].
Về nguyên tắc, số tiền công đó phải đảm bảo giá trị của toàn bộ tư liệu sinh
hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động, để duy trì cuộc sống của người lao động
và gia đình họ. Vì vậy, số lượng giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết đó cũng khác
nhau phụ thuộc vào giá trị sức lao động của từng người lao động bỏ ra: "hao phí
càng nhiều thì việc bù đắp lại càng lớn" [59, tr.256].
Khi cuộc sống của người lao động và gia đình họ được ổn định, họ sẽ yên tâm
lao động, sáng tạo, cống hiến sức lực cho DNCVĐTNN. Trong mỗi DNCVĐTNN có
mục đích riêng, do đó tuỳ theo tính chất công việc mà DNCVĐTNN yêu cầu sẽ có
mức tiền công khác nhau. Tiền công cơ bản của từng người lao động là cơ sở để xác
định đơn giá tiền công trong đơn vị sản phẩm hoặc đơn vị thời gian. Việc trả tiền
công theo đơn vị sản phẩm hay đơn vị thời gian có tác dụng kích thích người lao
động tăng cường độ và năng suất lao động phát huy tinh thần sáng tạo, có ý thức
trách nhiệm với công việc của DNCVĐTNN.
Trong DNCVĐTNN tính chất thị trường của tiền công được thể hiện rõ nét,
tiền công chịu sự chi phối rất lớn của thị trường và thị trường lao động. Tiền công
46
trong khu vực này cho dù vẫn nằm trong khuôn khổ pháp luật và theo những chính
sách của Nhà nước Việt Nam, nhưng là những hợp đồng trực tiếp giữa chủ DN và
người lao động, hay là giữa bên làm thuê và một bên đi thuê thông qua quan hệ thuê
mướn lao động - trả thù lao theo thỏa thuận.
Tiền công là bộ phận chính của giá cả sức lao động của người lao động, cho
nên nó cũng bị tác động của quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Điều đó đôi khi
cũng gây nên những biến động lớn về tiền công của người lao động, nó có thể lên
xuống tuân theo quy luật cung - cầu về lao động. Một mặt, các chủ DN đã lợi dụng
tình hình cung lớn hơn cầu về lao động mà trả tiền công dưới giá trị sức lao động,
thậm chí trả dưới mức tối thiểu của giá trị sức lao động để thu lợi nhuận cao, nhất là
đối với các DNCVĐTNN hoạt động với mục đích lợi nhuận là trên hết. Điều đó dễ
gây ra cảnh bất công, bần cùng hóa người lao động, dẫn đến đình công, bãi công đòi
tăng tiền lương, dẫn đến xung đột xã hội và tác động tiêu cực đến quá trình sản
xuất. Mặt khác, nếu cung nhỏ hơn cầu về loại hình lao động nào đó, thì người lao
động dễ gây áp lực đòi tiền công cao hơn giá trị sức lao động, điều này sẽ làm tăng
chi phí sản xuất và gây bất lợi cho chủ DN.
Hiện nay, ở nước ta để bảo vệ người lao động, BLLĐ (2013) đã quy định rõ
tiền lương trong Chương VI gồm 14 điều, quy định về tiền lương cho người lao
động. Mặc dù tiền công trong các DNCVĐTNN là do sự thoả thuận giữa chủ DN và
người lao động thông qua hợp đồng lao động, tiền công đó trả theo năng suất, chất
lượng và hiệu quả công việc, song BLLĐ đã quy định tiền lương của người lao
động không thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định tại Điều 90
BLLĐ, cụ thể như sau:
Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm
công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải
đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Mức
lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ và được xác lập theo
vùng, ngành [78, tr.65].
Như vậy, tiền công mặc dù do cơ chế thị trường và các quy luật kinh tế chi
phối nhưng cũng không thể thấp hơn mức lương tối thiểu theo BLLĐ ban hành.
Tiền công của người lao động nhận được là kết quả phân phối lần đầu, thể hiện ở
47
quy luật phân phối theo lao động, có liên quan đến lợi ích của DNCVĐTNN. Chủ
DN chỉ đồng ý tăng tiền công cho người lao động khi nào lợi ích của họ không bị vi
phạm, tiền công được xác định vào chi phí sản xuất. Lợi ích của người sản xuất,
DNCVĐTNN thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận, lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu
và chi phí sản xuất. Như vậy, việc tăng tiền công sẽ làm tăng chi phí sản xuất, nếu
doanh thu không tăng thì sẽ làm cho lợi nhuận giảm. Do đó, DN chỉ đồng ý tăng
tiền công cho người lao động khi có giải pháp vừa đảm bảo tăng tiền công cho
người lao động, vừa có lợi nhuận cho DNCVĐTNN mà thôi. Đây là một mâu thuẫn,
chủ DN thì luôn hướng tới lợi nhuận, còn người lao động luôn mong muốn đảm bảo
LIKT. Mâu thuẫn này nếu không được giải quyết hài hòa sẽ dẫn đến đình công, bãi
công của người lao động.
- Tiền thưởng
Đối với người lao động bên cạnh tiền công cơ bản thì tiền thưởng cũng là
một bộ phận quan trọng trong thu nhập bằng tiền, tại Điều 103 chương VI, BLLĐ
quy định: Tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người
lao động căn cứ vào kết quả SXKD hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của
người lao động [78, tr.71].
Vì thực chất tiền thưởng là phần thưởng cho người lao động khi làm tốt công
việc của mình hơn mức trung bình, nó kích thích người lao động hăng say làm việc,
cống hiến và sáng tạo, thúc đẩy tăng năng suất lao động. Tiền thưởng là một bộ phận
của giá cả sức lao động, nó không cố định, được tính toán theo một tỷ lệ nhất định
trên tiền công cơ bản và thông thường là thấp hơn tiền công cơ bản rất nhiều, đồng
thời người lao động nhận được nó thông qua phân phối lại từ quỹ khen thưởng được
trích lập từ lợi nhuận của DN. Nhưng thực tế tiền thưởng của người lao động luôn bị
cắt xén hoặc có nhưng không đáng kể. Chính tiền thưởng của người lao động trong
các DNCVĐTNN thường xuyên bị cắt xén dưới các hình thức là một trong những
nguyên nhân dẫn đến đình công, bãi công gây mất TTATXH trong các KCN.
- Quỹ phúc lợi, bảo hiểm
Trong quá trình SXKD của các DNCVĐTNN càng phát triển, hiệu quả kinh
tế đưa lại càng cao, thì quy mô của các quỹ phúc lợi và bảo hiểm càng lớn, từ đó các
48
DN sẽ có điều kiện thực hiện từ các quỹ này. Người lao động nhận được thu nhập,
hay thực hiện được LIKT của mình từ quỹ phúc lợi và quỹ bảo hiểm thông qua quá
trình tái phân phối các quỹ đó dưới hình thức bằng tiền như (thăm hỏi hiếu, hỷ, lễ
tết, trợ cấp khó khăn, sinh đẻ, ốm đau..,) hoặc được hưởng lợi ích của mình thông
qua hình thức tham quan, nghỉ mát. Ngoài ra, từ quỹ phúc lợi DNCVĐTNN trích ra
một phần gọi là tiền phụ cấp là số tiền bổ sung thể hiện trách nhiệm của người lao
động, bù đắp cho người lao động làm việc trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm,
độc hại. Các DNCVĐTNN còn có trách nhiệm trích một phần tiền từ quỹ phúc lợi
cùng với người lao động đóng góp và mua bảo hiểm y tế; bảo hiểm xã hội, cho
người lao động, bảo đảm đúng quyền lợi và nghĩa vụ đối với người lao động.
2.2.3.2. Lợi ích kinh tế gián tiếp
Đó là bộ phận lợi ích người lao động không phải trực tiếp nhận được như
tiền công, tiền thưởng mà là được hưởng thông qua dưới các hình thức khác chủ DN
mang lại cho họ. LIKT gián tiếp của người lao động trong quá trình làm việc thể
hiện ở những nội dung: Điều kiện môi trường làm việc (môi trường tự nhiên, môi
trường xã hội); đào tạo nâng cao tay nghề; đảm bảo đời sống tinh thần, được thực
hiện thông qua hoạt động sản xuất ở DNCVĐTNN.
- Về điều kiện môi trường làm việc
Khi nghiên cứu về tiền công, để có thu nhập người lao động phải làm việc
một thời gian nhất định hoặc tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của chủ
DNCVĐTNN. Khi ký kết hợp đồng lao động bên cạnh việc đảm bảo tiền công cho
người lao động thì DN còn cần phải thực hiện tốt điều kiện môi trường làm việc
theo tiêu chuẩn.
Trong BLLĐ dành riêng chương IX quy định về: An toàn lao động, vệ sinh
lao động, cho người lao động. Tại Điều 133, Tuân thủ pháp luật về an toàn lao
động, vệ sinh lao động: Mọi DN, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lao
động, sản xuất phải tuân theo quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh
lao động [78, tr.88].
Tiếp đó, tại Điều 138 BLLĐ quy định rõ nghĩa vụ của người sử dụng lao
động, người lao động đối với công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động:
49
Người sử dụng lao động có nghĩa vụ sau đây: Bảo đảm nơi làm
việc đạt yêu cầu về không gian, độ thoáng, bụi, hơi, khí độc, phóng xạ,
điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung và các yếu tố có hại khác được quy
định tại các quy chuẩn kỹ thuật liên quan và các yếu tố đó phải được
định kỳ kiểm tra, đo lường [78, tr.90].
- Về đào tạo nâng cao tay nghề
Hiện nay, theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong
khu vực FDI có khoảng gần ba triệu lao động, những người lao động vào làm việc
trong khu vực này, được tuyển dụng trực tiếp từ các nguồn chính:
Một là: Lao động có kỹ thuật cao (người lao động có trình độ học vấn, sinh
viên tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học…).
Hai là: Lao động phổ thông từ mọi miền quê khác nhau, độ tuổi từ 18 đến 40 tuổi.
Ba là: Người lao động có hộ khẩu thường trú tại địa phương nơi DNCVĐTNN
đóng trên địa bàn sở tại.
Xuất phát từ nền sản xuất nhỏ, tiểu nông, lực lượng lao động Việt Nam tuy
nhiều nhưng chất lượng chưa cao, lao động chưa qua đào tạo chiếm tới 73%, người
lao động quen với lề thói làm việc tự do, tính tự giác thấp, nên ý thức kỷ luật lao
động kém. Do đó, khi các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng lao động Việt Nam để đạt
mục đích kinh doanh có lãi, thì trước hết họ cần phải đào tạo cho người lao động có
trình độ chuyên môn nhất định, để đảm nhận được công việc của DN. Các DN đã có
mở các lớp dạy nghề, đào tạo chuyên môn theo ngành nghề sản xuất của mình. Bên
cạnh đó, đội ngũ lao động có trình độ cao, quản lý, cũng được các chủ DN cho đi
đào tạo tại chỗ hoặc đào tạo ở nước ngoài nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, tiếp
thu công nghệ mới, đáp ứng sự phát triển của khoa học công nghệ. Thế nhưng, thực
tế vẫn còn một số DNCVĐTNN đã lợi dụng danh nghĩa dạy nghề, truyền nghề để
trục lợi, bóc lột sức lao động trái pháp luật.
- Về đời sống tinh thần
Con người là tổng hòa mối quan hệ xã hội, bên cạnh những nhu cầu vật chất thì
nhu cầu tinh thần cũng đóng vị trí rất quan trọng trong đời sống hàng ngày. Ngoài thời
gian lao động sản xuất, con người phải có thời gian nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí để phục
50
hồi sức khoẻ của mình. Chính việc nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí sẽ giúp người lao động
thoải mái, thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng và lấy lại trạng thái cân bằng
của con người để tiếp tục lao động, làm việc tốt hơn. Đồng thời, thông qua những
hoạt động đó mà người lao động có điều kiện giao lưu, học hỏi, thưởng thức và
sáng tạo giá trị văn hóa nghệ thuật thông qua thực tiễn lao động sản xuất.
Ở đây, người lao động trong các DNCVĐTNN hàng ngày với áp lực công
việc rất lớn, tác phong làm việc công nghiệp, họ cần được đảm bảo có một đời sống
tinh thần tốt, đảm bảo sức khoẻ. Vị trí các DNCVĐTNN phần lớn nằm trong các
KCN, cho nên người lao động làm việc trong các DN này thường ở trong các khu
lưu trú chung của DN hoặc thuê nhà trọ gần nơi làm việc. Nhiều DNCVĐTNN đã
quan tâm đến người lao động, như xây khu lưu trú cho công nhân, tổ chức tham
quan, du lịch.., nhằm đảm bảo cho người lao động thật sự có được thể chất và tinh
thần, hay săng làm việc với năng suất lao động cao. Bên cạnh đó vẫn còn một số
DNCVĐTNN đầu tư kiểu "chụp giật", trả lương công nhân với mức thấp và chưa
quan tâm đến đời sống tinh thần của họ. Phần lớn công nhân tự tìm thuê nhà phòng
trọ gần nơi làm việc của mình, với mức lương khoảng 200 USD, họ phải chọn giải
pháp vài người chung nhau thuê một phòng. Khu nhà trọ này đều được xây dựng
một cách tạm bợ, không gian chật hẹp, ẩm thấp, điện nước thường xuyên thiếu thốn
và không hề có ti vi, báo chí, phim ảnh, giao lưu tập thể, thiếu những thông tin về
xã hội. Hầu hết các DNCVĐTNN không xây dựng các công trình văn hóa cho
người lao động, chợ, trường học cho con em công nhân.
2.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI
LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở
VIỆT NAM
2.3.1. Nhóm các nhân tố ảnh hưởng gián tiếp
2.3.1.1 Hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với các DNCVĐTNN là
nhóm các nhân tố có ảnh hưởng lớn đến LIKT của người lao động.
Như vậy, hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước hay nói bao quát hơn
51
là thể chế kinh tế của Nhà nước được xác lập có tác động lớn tới sự hoạt động của
các DNCVĐTNN. Sự hoạt động hiệu quả hay không hiệu quả của các DN lại tác
động tới lợi nhuận của các chủ DN và LIKT của người lao động. Cụ thể:
- Hệ thống chính sách của Nhà nước là yếu tố quan trọng nhất tác động đến
kết quả thực hiện LIKT của người lao động trong DN. Nhà nước quy định mức tiền
lương tối thiểu (chung, vùng) để làm căn cứ cho các DN xác định mức lương trả
cho người lao động; ban hành nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng lương phù
hợp với đặc điểm SXKD của mỗi DN; đưa ra các quy định về xây dựng đơn giá tiền
lương, xác định quỹ tiền lương, quy định về trả lương làm thêm. Do vậy, hệ thống
chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến LIKT của người lao động trong
các DN. Nếu hệ thống chính sách của Nhà nước đồng bộ, khoa học, phù hợp sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho DN phát triển, thu được lợi nhuận cao và LIKT của người
lao động sẽ được bảo đảm và ngược lại.
- Hệ thống pháp luật của Nhà nước được xây dựng, đặc biệt là Luật Kinh tế,
Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Lao động, Luật Công Đoàn, Luật Bảo hiểm
xã hội, đều có liên quan tới quyền và lợi ích chính đáng của những người lao động
làm việc trong các DN Việt Nam và các DNCVĐTNN tại địa bàn thành phố Hà
Nội. Hệ thống luật pháp được xây dựng trên cơ sở điều kiện thực tế của Việt Nam,
thể hiện và bảo đảm được việc thực hiện LIKT cho người lao động làm việc trong
các DNCVĐTNN. Nhà nước phải tạo ra hành lang pháp luật cho hoạt động kinh tế
của các DN nói chung và DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng,
bằng cách đặt ra các điều luật cơ bản về bảo đảm lợi ích chính đáng, hợp pháp của
những người lao động trong các DNCVĐTNN. Khuôn khổ luật pháp của Nhà nước
thiết lập, có tác động sâu sắc tới hoạt động kinh tế của các DNCVĐTNN đối với
việc bảo đảm lợi ích chính đáng cho những người lao động.
- Sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý. Cùng với các quy định và
chế tài xử lý vi phạm tới LIKT của người lao động cần phải có cơ chế kiểm tra,
kiểm soát cụ thể, thường xuyên để kịp thời phát hiện những vi phạm của các chủ
DN xâm hại LIKT chính đáng của người lao động theo những quy định của luật
pháp Việt Nam và những vấn đề mà chủ DNCVĐTNN đã cam kết thỏa thuận đối
52
với người lao động. Như vậy, vai trò quản lý Nhà nước (ở các tổ chức có liên quan)
có ý nghĩa to lớn trong việc bảo đảm LIKT cho những người lao động. Vai trò này
được thể hiện tổng quát ở việc xây dựng hệ thống pháp luật, xây dựng thể chế bảo
vệ lợi ích chính đáng của những người lao động, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và
xây dựng hệ thống quy định, chế tài xử lý vi phạm và cơ chế, kiểm tra giám sát việc
thực hiện bảo đảm LIKT cho những người lao động làm việc trong các DN.
2.3.1.2. Vai trò của Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, Nhà
nước có vai trò chức năng quản lý kinh tế quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô.
Vai trò đó thể hiện ở chỗ Nhà nước đảm bảo sự ổn định về chính trị, kinh tế xã hội
và thiết lập khuôn khổ pháp luật để tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế, vì
ổn định chính trị xã hội là điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế đất nước nói
chung và cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố
Hà Nội phát triển. Các DNCVĐTNN phát triển kinh tế có hiệu quả, lợi nhuận của
chủ DN tăng lên sẽ tác động với việc thực hiện LIKT của những người lao động.
Mặt khác, nếu vai trò và chức năng kinh tế của Nhà nước hạn chế, các chủ trương
chính sách của nhà nước không phù hợp với điều kiện thực tế khách quan, trái với
sự vận động khách quan của các quy luật hoạt động trong nền kinh tế thị trường sẽ
hạn chế đối với sự phát triển, thậm chí có khi là lực cản kìm hãm sự phát triển kinh
tế trong đó có DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Khi kinh tế kém phát
triển, sản xuất của các DNCVĐTNN bị sa sút, lợi nhuận của các chủ DN thu được
giảm sút, sẽ dẫn tới LIKT của người lao động không được bảo đảm.
- Công tác quản lý nhà nước về lao động có vai trò rất quan trọng trong việc
hướng dẫn, điều tiết, kiểm tra, giám sát DNCVĐTNN và người lao động thực hiện
nghiêm túc các quy định của pháp luật lao động. Để nâng cao hiệu lực của pháp luật
lao động thì công tác quản lý nhà nước về lao đông cần được tăng cường.
- Việc bảo đảm LIKT cho người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN
còn được thể hiện ở chỗ căn cứ vào điều kiện tình hình cụ thể về hoạt động sản xuất
của các DN, về khả năng phát triển kinh tế của Việt Nam và mức sống của người
lao động để có thể xây dựng những thiết chế, quy định những tiêu chí về mức sống
53
cho những người lao động. Gắn với quy định bảo đảm LIKT cho người lao động, là
những chế tài để xử lý những vi phạm của các chủ DNCVĐTNN xâm hại lợi ích
chính đáng của những người lao động. Hệ thống các chế tài xử lý vi phạm của chủ
DN đối với người lao động phải bảo đảm được tính thực tiễn, tính khả thi cao, có
sức răn đe ngăn chặn các chủ đầu tư phải luôn quan tâm đến LIKT chính đáng cho
người lao động.
2.3.1.3. Môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội
Các nhân tố thuộc về môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến
lợi ích kinh tế của người lao động, cụ thể:
- Về điều kiện môi trường làm việc: việc bảo đảm an toàn lao động, tiêu
chuẩn lao động, về không gian, độ thoáng, độ sáng, vệ sinh lao động về khói bụi,
khí độc, phóng xạ, nóng, ẩm, ồn, độ rung.., phải đạt tiêu chuẩn cho phép, áp dụng
quy trình ISO (International Standards Organization) thì sẽ đảm bảo được điều kiện
môi trường làm việc cho người lao động và lợi ích của người lao động sẽ được đảm
bảo và ngược lại.
- Môi trường kinh tế xã hội có tác động tới hiệu quả kinh tế - xã hội của DN.
Nếu nó thuận lợi, thông thoáng sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư đưa vốn vào sản xuất kinh
doanh tạo năng suất cao, góp phần giải quyết các vấn đề an sinh xã hội và việc làm.
2.3.2. Nhóm các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp
2.3.2.1. Các nhân tố thuộc về người lao động
Các nhân tố thuộc về người lao động, bao gồm: trình độ văn hóa, trình độ
chuyên môn kỹ thuật, sự hiểu biết pháp luật, sức khỏe, tâm lý lao động, tác phong
làm việc, tiềm năng phát triển của người lao động. Những nhân tố này phản ánh chất
lượng của nhân lực trong các DN, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động
hiệu quả công việc, khả năng đảm nhận mức độ các công việc.., từ đó ảnh hưởng đến
lợi ích của người lao động.
Người lao động nói chung và người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN
ở Việt Nam đều mong muốn có được LIKT trong các hoạt động lao động sản xuất
của mình. Thông qua các hoạt động lao động của họ cho các DN người lao động thu
về được các lợi ích, những thứ người lao động có được như tiền lương, tiền thưởng,
các khoản thu từ các quỹ phúc lợi trợ cấp, môi trường lao động sản xuất của họ
54
được đảm bảo vệ sinh, không bị ô nhiễm, đời sống tinh thần được quan tâm, đều
nằm trong cơ cấu lợi ích của họ.
Như vậy, LIKT của người lao động gồm nhiều yếu tố cấu thành, việc bảo
đảm LIKT cho họ ở đây chính là đảm bảo thỏa mãn một cách tốt nhất những nhu
cầu cần thiết mà họ mong muốn tất yếu có được. Trong các hoạt động lao động sản
xuất cho các DNCVĐTNN đó là những nhu cầu kinh tế người lao động tất yếu được
hưởng trong các hoạt động lao động sản xuất cho giới chủ.
Ở Việt Nam thì người lao động đa số xuất thân từ nông thôn, họ là những
nông dân, học sinh tốt nghiệp cấp 2, cấp 3 không tiếp tục học nâng cao trình độ có
nhu cầu việc làm để có thu nhập trang trải cuộc sống. Trong thời gian qua, đầu tư
nước ngoài vào Việt Nam tuy tốc độ phát triển không đều, nhưng lực lượng lao
động làm việc trong khu vực này qua các năm đều tăng. DNCVĐTNN là nơi tạo
việc làm cho rất nhiều lao động, bên cạnh số ít lao động trình độ chuyên môn cao,
giữ vị trí then chốt trong DN thì phần lớn lao động thu hút vào làm việc trong khu
vực này là lao động chưa qua đào tạo và bộ phận từ khu vực nông nghiệp, nông
thôn (có thu nhập thấp). Khi được tuyển dụng vào làm việc thu nhập của họ cũng
được tăng theo quy định của tăng lương cơ bản.
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, điều tra lao động và việc làm Việt Nam
năm 2014 [7]: Tỷ trọng lao động qua đào tạo ở nước ta vẫn còn thấp, trong 51,4
triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động, chỉ có hơn 8 triệu người
(15,6%) đã được đào tạo, chiếm 15,6% tổng lực lượng lao động. Như vậy, tuy
nguồn nhân lực của Việt Nam trẻ và dồi dào nhưng trình độ tay nghề và chuyên
môn kỹ thuật thấp. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo cao nhất là ở Hà Nội (30,7%) và
thấp nhất là đồng bằng sông Cửu Long (8,6%). Tỷ trọng lực lượng lao động có trình
độ đại học trở lên khác nhau đáng kể giữa các vùng. Nơi có tỷ trọng này cao nhất là
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (17,0%), đồng bằng sông Cửu Long có tỷ trọng
lực lượng lao động có trình độ đại học trở lên thấp nhất (3,4%). Kết quả cho thấy,
phần lớn lao động tại các DNCVĐTNN trên mới tốt nghiệp trung học phổ thông
chiếm 80%. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo rất thấp, trên 57% lao động chưa đào tạo.
Thực tế cho thấy: Lực lượng nhân công không có chuyên môn kỹ thuật dư
55
thừa trong khi đó lại thiếu lao động chuyên môn kỹ thuật. Thị trường sức lao động
Việt Nam nói chung và địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng vẫn nằm trong giai đoạn
hình thành và phát triển chưa cao, sự chuyển dịch lao động giữa các ngành kinh tế
khác nhau tương đối thấp so với các nước. Việc yêu cầu các DNCVĐTNN phải
tuyển dụng lao động trong nước thông qua các cơ quan tuyển dụng có chức năng đã
hạn chế tính linh hoạt của thị trường sức lao động.
Theo báo cáo của Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO), tháng
6/2008, tiền lương bình quân tháng theo USD của công nhân Việt Nam năm 2005:
là 130 USD; kỹ sư: 302 USD; cán bộ quản lý bậc trung là 685 USD; trong khi lương
bình quân chung ở khu vực với công nhân là: 205 USD; kỹ sư: 546 USD và cán bộ
quản lý là: 1.129 USD. Cũng theo Tổ chức JETRO, đầu năm 2014 tiền lương bình
quân của công nhân ở Thủ đô Hà Nội của Việt Nam là 200 USD/ tháng, thấp hơn
3,2 lần so với mức 640 USD của công nhân ở Thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc
[7], do đó nhiều công ty công nghệ cao của thế giới đã và đang có kế hoạch chuyển
nhà máy sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam.
Trong số lao động làm việc trong các DNCVĐTNN có nhiều lao động chưa
được qua đào tạo. Lao động trong các DNCVĐTNN được tuyển chọn từ nhiều
nguồn khác nhau. Họ được làm việc trong hệ thống dây chuyền công nghiệp hiện
đại và đòi hỏi tuân thủ kỷ luật lao động cao. Đây cũng chính là môi trường tốt để
đào tạo đội ngũ lao động, có phong cách làm việc phù hợp với công việc hiện đại và
kinh doanh tiên tiến. Nhiều DN đã tạo cho lao động Việt Nam có điều kiện được
đào tạo nâng cao tay nghề, tiếp cận kỹ năng, công nghệ và kinh nghiệm hoặc được
gửi đi đào tạo ở nước ngoài. Người lao động cũng được rèn luyện về kỷ luật, tác
phong công nghiệp và thích ứng dần với cơ chế quản lý mới. Qua một thời gian làm
việc cho DN, sẽ hình thành đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
Qua số liệu thống kê cho thấy: có 6.000 cán bộ quản lý, 25.000 cán bộ kỹ thuật và
trình độ tay nghề của hàng chục vạn công nhân ở các DNCVĐTNN có vốn đầu tư
được nâng lên rõ rệt [7].
Thông qua các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, nhiều công nghệ mới, tiên
tiến hiện đại được sử dụng ở nước ta, đã góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật và
56
công nghệ cho nhiều ngành sản xuất, tạo điều kiện góp phần nâng cao trình độ
tay nghề, kinh nghiệm quản lý sản xuất, nhân sự, kinh nghiệm kinh doanh trên
phạm vi quốc tế, làm tiền đề để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước.
Nguồn lao động có tay nghề cao đang là vấn đề được đặt ra giữa DN trong
nước và DNCVĐTNN. Vì các DNCVĐTNN có ưu thế về lương, thưởng cao hơn
DN trong nước, nên đã thu hút được một lượng lao động có tay nghề cao và trình độ
chuyên môn vững vào làm việc, dẫn tới "chảy máu chất xám" từ khu vực kinh tế
vốn trong nước. Thực tế cũng cho thấy, còn có hiện tượng một số DNCVĐTNN
gian lận, trốn thuế, lấn át bên Việt Nam. Đặc biệt đối với Công ty liên doanh, hiện
tượng các đối tác nước ngoài ngăn chặn sự phát triển của DN, đẩy chi phí đầu vào
tăng, kéo dài thua lỗ để bên không đủ khả năng tài chính đành rút lui và bán cổ phần
cho họ, trở thành DN 100% vốn nước ngoài.
Hiện nay, có gần ba triệu lao động trong các DNCVĐTNN. Trong BLLĐ đã
quy định đầy đủ phương thức hợp đồng lao động giữa đại diện DN và người lao
động, cách tính tiền lương và trả lương, bảo hiểm xã hội, quyền và nghĩa vụ của
người lao động đối với DN, kể cả quyền được đình công, bãi công… Lợi ích của
người lao động được thể hiện với tư cách là từng cá nhân, đồng thời với tư cách là
tập thể thông qua các tổ chức công đoàn. Việc bảo vệ lợi ích của người lao động
trong các DNCVĐTNN đồng thời cũng là trách nhiệm của các cán bộ bên Việt Nam
làm trong liên doanh hoặc cán bộ là người Việt Nam trong các DN 100% vốn nước
ngoài. Do đó, người lao động cần có nhận thức đúng quyền lợi và nghĩa vụ của
mình trong các DNCVĐTNN, bởi thành công của DN cũng đồng thời là sự bảo đảm
việc làm và thu nhập ngày càng tăng và điều kiện làm việc ngày càng được cải thiện
đối với họ. Các DNCVĐTNN thường áp dụng các phương pháp lôi cuốn người lao
động tham gia quá trình sáng tạo trong SXKD, như tăng lương trước thời hạn,
thưởng tháng lương thứ 13… Trong trường hợp xảy ra mâu thuẫn lợi ích giữa chủ
DN và người lao động, thì tổ chức công đoàn của DN đó sẽ đứng ra giải quyết, nếu
mâu thuẫn quá gay gắt, thì cần phải kịp thời giải quyết theo pháp luật hiện hành,
tránh làm tổn hại đến LIKT của DNCVĐTNN cũng như người lao động.
57
Về phía người sử dụng lao động, hiện nay, ở một số DNCVĐTNN, phần lớn
là DNCVĐTNN nhỏ đến từ các quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc..,
nhiều nơi giới chủ đã và đang có những tác động bất lợi đối với người lao động
trong DNCVĐTNN như: Kỷ luật có tính cưỡng bức, thời gian lao động căng thẳng
và kéo dài, lương thấp, khả năng phát triển, khả năng nâng cao trình độ bị hạn chế.
Do đó, phần lớn các cuộc đình công xảy ra do giới chủ đã vi phạm các quy định đối
với người lao động về tiền lương, thời gian lao động và nghỉ ngơi, tuyển dụng lao
động, không ký hợp đồng với người lao động, hoặc nếu có thì nội dung sơ sài, vi
phạm luật lao động Việt Nam, trong quá trình làm việc thực hiện không đầy đủ các
quy định về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động, vi phạm an toàn và vệ
sinh lao động, không có cơ hội phát triển nghề nghiệp, có khi còn vi phạm đến danh
dự, nhân phẩm của người lao động. Hầu hết các lý do mà người lao động đưa ra để
họ tổ chức đình công ở tất cả các DNCVĐTNN đều tập trung vào các vấn đề như
làm tăng ca, điều kiện làm việc, sinh hoạt không đảm bảo, lương thưởng quá thấp
không lo đủ cho cuộc sống, thực hiện một số nội quy, quy định quá khắc nghiệt đối
với người lao động, đình công là hành động cực chẳng đã, là biện pháp cuối cùng
của họ. Do trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề của người lao động thấp chưa
được đào tạo cơ bản nên thường bị các chủ DN trả lương thấp, đây cũng là nhân tố
tác động dẫn tới các cuộc đình công của người lao động.
2.3.2.2. Hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở
Hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở trong các DN nói chung và
DNCVĐTNN có vai trò tác động rất lớn đối với việc thực hiện bảo đảm quyền và
LIKT chính đáng cho những người lao động. Qua thực tế đấu tranh bảo vệ và xây
dựng đất nước cho thấy, ở đâu tổ chức công đoàn được xác lập và hoạt động mạnh
có tổ chức thì ở đó các phong trào cách mạng do Đảng khởi xướng giành được
nhiều thắng lợi.
Trong các DNCVĐTNN, ở nơi nào có tổ chức công đoàn được xây dựng đi
vào hoạt động có tổ chức theo quy định của pháp luật, công đoàn thật sự là người
đứng ra bảo đảm quyền và LIKT chính đáng của người lao động thì ở đó LIKT của
người lao động được bảo đảm tốt hơn. Ngược lại, nếu ở DNCVĐTNN nào tổ chức
58
công đoàn chưa được xác lập hoặc xác lập rồi nhưng sự tồn tại của công đoàn trên
thực tế chỉ là hình thức, khi những LIKT chính đáng của những người lao động bị
xâm hại, hoặc có những xung đột về lợi ích giữa chủ DN với những người lao động
dẫn tới mâu thuẫn giữa chủ và thợ gây lên những bất ổn đối với đời sống kinh tế xã
hội, thì ở đó LIKT của những người lao động không được bảo đảm.
Xem xét một cách toàn diện đối với các DN có thể đánh giá một cách tổng
quát, hiện nay hầu hết trong các DN nhiều tổ chức công đoàn đã được xác lập, nhiều
tổ chức đi vào hoạt động có hiệu quả thực sự, là người bảo đảm quyền lợi cho
những người lao động làm việc tại các DNCVĐTNN đó. Tuy nhiên, cũng còn rất
nhiều các tổ chức công đoàn đã được thành lập song vai trò của nó trong thực tế rất
mờ nhạt, khi LIKT chính đáng của người lao động bị xâm hại hoặc có sự xung đột
giữa chủ DN và người lao động về LIKT, tổ chức công đoàn không tham gia giải
quyết, hoặc giải quyết không hiệu quả. Cá biệt có những tổ chức công đoàn lại
không đứng về phía những người lao động để đòi quyền lợi chính đáng, tiếp tay cho
chủ DN trong việc xâm hại LIKT của người lao động.
Để ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực nảy sinh trong các quan hệ giữa chủ
DNCVĐTNN với người lao động, cần tiếp tục hoàn thiện và bổ sung những vấn đề
chưa phù hợp với thực tế. Luật Công đoàn cần quy định rõ và cụ thể hơn chức năng,
nhiệm vụ của tổ chức công đoàn các DNCVĐTNN trong việc bảo đảm LIKT cho
những người lao động.
2.3.2.3. Các nhân tố thuộc về thị trường lao động
Các nhân tố thuộc về thị trường lao động bao gồm: Quan hệ cung - cầu về
lao động trên thị trường, nhu cầu sử dụng lao động, mức lương của các vị trí
công việc theo từng ngành nghề, khu vực… Nguồn cung lao động cho các
DNCVĐTNN được xem là nhân tố có ảnh hưởng đối với việc bảo đảm LIKT cho
những người lao động. Nếu khả năng cung cấp lao động cho các DNCVĐTNN
dồi dào nhưng khả năng thu hút lao động bị hạn chế sẽ dẫn tới tình trạng tiền
công của người lao động sẽ có xu hướng giảm và LIKT của người lao động
không được bảo đảm. Mặt khác, nếu nguồn cung về lao động cho các
DNCVĐTNN bị hạn chế nhưng nhu cầu lao động trong các DNCVĐTNN gia
59
tăng, tiền công cho người lao động sẽ có xu hướng tăng theo. Do đó, LIKT của
người lao động sẽ được bảo đảm tốt hơn.
Nếu thị trường sức lao động phát triển, nhu cầu sử dụng lao động cao thì tất
yếu sẽ diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các DN trên thị trường nhằm thu hút được
lượng lao động nhiều, trình độ cao đáp ứng được công việc phức tạp; do vậy DN phải
trả lương xứng đáng cho người lao động, thu nhập của người lao động sẽ cao, LIKT
của họ được bảo đảm.
Sơ đồ 2.1: Mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa người lao động,
doanh nghiệp, nhà nước
THỊ TRƯỜNG
NHÀ NƯỚC
- Tiền công, tiền lương
- Tiền thưởng
DOANH
- Phúc lợi xã hội
NGƯỜI
LAO ĐỘNG
- Bảo hiểm xã hội
NGHIỆP CÓ VỐN
(CÔNG
- Hỗ trợ nhà ở
NHÂN)
ĐẦU TƯ NƯỚC
- Hỗ trợ phương tiện
NGOÀI
- Điều kiện lao động
- Môi trường làm việc
- Đời sống tinh thần của
người lao động…
TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN
60
2.3.2.4. Các nhân tố thuộc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Các nhân tố thuộc về DN như: Quy mô của DN, trình độ trang bị kỹ thuật
của DN, hình thức sở hữu của DN, hiệu quả SXKD của DN, quan điểm trả lương
của chủ DN là những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến LIKT của người lao động trong
DN, cụ thể:
- Trình độ trang bị kỹ thuật của doanh nghiệp: Đây là yếu tố có tác động lớn
đến năng suất lao động và ảnh hưởng đến LIKT của người lao động. Nếu DN trang
bị máy móc, thiết bị hiện đại thì năng suất lao động tăng lên và ngược lại.
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Đây là nhân tố ảnh hưởng
lớn đến LIKT của người lao động. DN hoạt động SXKD hiệu quả cao, thu được lợi
nhuận thì sẽ bảo đảm được LIKT cho người lao động và ngược lại. Đối với
DNCVĐTNN lợi thế cơ bản là công nghệ sản xuất tiên tiến, năng suất lao động cao,
thị trường bán hàng chủ động, nên mức thu nhập trả cho người lao động cao hơn các
loại hình DN khác, đặc biệt là cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật trình độ cao.
Hiệu quả hoạt động SXKD của DNCVĐTNN là nhân tố ảnh hưởng rất lớn
đối với doanh thu và lợi nhuận thu được của các DNCVĐTNN. Nếu DNCVĐTNN
"làm ăn" phát đạt, có doanh thu lớn. Bên cạnh đó, kinh tế trong nước và thế giới
phát triển cũng là nhân tố đóng vai trò quan trọng đối với việc mang lại LIKT cho
người lao động. Khi DNCVĐTNN hoạt động SXKD có hiệu quả, lợi nhuận dồi dào
sẽ có điều kiện thuận lợi hơn đối với việc tăng tiền công và thực hiện nhiều những
nhu cầu chính đáng của người lao động. Trên cơ sở đó LIKT của người lao động sẽ
bảo đảm tốt hơn.
- Quan điểm trả lương của chủ doanh nghiệp: Đây là nhân tố ảnh hưởng lớn
đến LIKT của người lao động, cụ thể theo chiều hướng bình quân hay có sự phân
biệt lớn giữa các loại lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật khác nhau. Đặc biệt
trong các DNCVĐTNN việc trả lương như thế nào chịu sự áp đặt của chủ DN là rất
lớn, còn thông tin thị trường lao động chỉ là tham khảo.
- Năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh của chủ DNCVĐTNN: Đây là nhân
tố có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến hiệu quả sản xuất kinh
61
doanh của DN. Nếu tổ chức sản xuất kinh doanh khoa học, hiệu quả thì DN sẽ nâng
cao lợi nhuận và từ đó lợi ích của người lao động sẽ được bảo đảm, là điều kiện tiên
quyết cho sự tồn tại và phát triển của DN.
- Quy mô của doanh nghiệp: Vốn, lao động, không gian như mặt bằng hoạt
động, địa bàn hoạt động, lĩnh vực hoạt động… Thực tiễn hoạt động đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam có một số đặc điểm sau:
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có vốn lớn thường đến từ các quốc
gia như Mỹ, Nhật, Pháp.., để đầu tư SXKD nhưng luôn được giám sát chặt chẽ,
nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn ISO. Điểm tích cực ở các DNCVĐTNN có vốn lớn
luôn tạo cơ hội cho người lao động được đi học, có không ít người làm cho
DNCVĐTNN sau đó đã có trình độ chuyên môn cao, học được quản trị hiện đại của
DN, ra ngoài lập nghiệp, có người được cất nhắc lên làm quản lý. Về tiền lương các
DNCVĐTNN thường tạo việc làm và trả lương người lao động cao hơn mặt bằng
chung, các chế độ đãi ngộ đối với người lao động như tiền thưởng, phụ cấp, bảo
hiểm.., ổn định để họ yên tâm làm việc lâu dài với DN.
Nhưng vấn đề đặt ra là vẫn còn có nhiều DNCVĐTNN vừa và nhỏ chủ yếu
đến từ các nước như Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Malaisia, thường trả lương
người lao động thấp hơn mức trung bình.
Theo báo cáo của Cục đầu tư nước ngoài, Bộ kế hoạch đầu tư trong quý I
năm 2014 đến nay đã có 36 quốc gia và cùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam.
Các nhà đầu tư nước ngoài đăng ký đầu tư vào Việt Nam 4,855 tỷ USD, bằng
59,1% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, các quốc gia có số vốn đầu tư lớn nhất
đó là: Hàn Quốc; Nhật Bản, Singapore.
Bảng 2.1: Các quốc gia có số vốn đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam
6 tháng đầu năm 2014
Vốn đầu tư Tỷ lệ % so với tổng TT Quốc gia ( USD) đầu tư nước ngoài
1 Hàn Quốc 1,12 tỷ 23,1
2. Nhật Bản 537 triệu 11,1
3. Singapore 479,18 triệu 9,9
Nguồn: [7].
62
Từ năm 2006 đến nay, môi trường kinh doanh của nước ta ngày càng được
cải thiện, ngoài triển khai luật Đầu tư, luật Doanh nghiệp cùng các nghị định hướng
dẫn được ban hành đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động đầu tư, nhiều
biện pháp đã được tiến hành nhằm hạn chế và khắc phục tình trạng yếu kém của hệ
thống kết cấu hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…
Trong thời gian qua, cùng với các thành phần kinh tế khác, thì khu vực kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài đã thu hút được một số lượng lao động lớn, nếu năm
2005 khu vực này tạo việc làm cho gần 1,2 triệu lao động trực tiếp, thì đến 6 tháng
đầu năm 2014 số lượng việc làm trong khu vực này đã tăng lên trên hai triệu lao
động trực tiếp và gần ba triệu lao động gián tiếp. Với sự phát triển của khu vực kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài, lao động thu hút vào làm việc chủ yếu là lao động giản
đơn chưa qua đào tạo, do đó mà tăng được thu nhập cho tầng lớp dân cư nghèo, góp
phần quan trọng vào tăng GDP và ổn định trật tự xã hội.
Những năm qua, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tuy tốc độ phát triển
không đều, nhưng số lượng lao động làm việc trong khu vực này qua các năm đều
tăng. DNCVĐTNN là nơi tạo việc làm cho rất nhiều lao động, đến từ các vùng miền
nhưng phần lớn lao động thu hút vào làm việc trong khu vực này là lao động chưa
qua đào tạo và đến từ khu vực nông nghiệp, nông thôn (có thu nhập thấp). Khi được
tuyển dụng vào làm việc thu nhập của họ tăng lên. Theo số liệu của Tổng cục thống
kê, thu nhập của người lao động ở khu vực này cũng có xu hướng tăng, nếu năm
1994, 1995, thu nhập bình quân một lao động ở khu vực này là 70 - 80 USD/tháng
thì đến năm 2000 đã tăng lên khoảng 100 USD, đến năm 2005 là hơn 110 USD, đến
2010 tăng lên 150USD/tháng, năm 2013 là 200USD/tháng/người [107].
Trong các DNCVĐTNN, quan hệ giữa người sử dụng lao động - người chủ
và người lao động được thực hiện thông qua hợp đồng lao động, cũng như hợp đồng
lao động tập thể giữa đại diện chủ sở hữu và đại diện người lao động thông qua thoả
ước lao động. Một thực tế thường xảy ra là: Khi các DNCVĐTNN mới bắt đầu đi
vào hoạt động, hoặc khi gặp khó khăn về SXKD, thì các chủ DN thường muốn trả
công cho người lao động thấp hơn so với số mà họ đáng được hưởng; ngược lại
người lao động muốn làm việc 8h/ngày nhưng được trả công cao hơn. Mâu thuẫn
này nếu không được giải quyết thông qua thương lượng giữa chủ DN với đại diện
63
của người lao động sẽ dẫn đến tình trạng đình công, bãi công làm thiệt hại cho DN,
cũng như người lao động.
Thông qua các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, nhiều công nghệ mới, tiên tiến
hiện đại được ứng dụng ở nước ta, đã góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật và công
nghệ cho nhiều ngành sản xuất, tạo điều kiện góp phần nâng cao trình độ tay nghề,
kinh nghiệm quản lý sản xuất, nhân sự, kinh nghiệm kinh doanh trên phạm vi quốc tế,
làm tiền đề để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Đối với ngành công nghiệp, các DN đầu tư nước ngoài chiếm 38% sản lượng
công nghiệp chung của cả nước và có tốc độ tăng trưởng 20%/năm. Đầu tư nước
ngoài đã góp phần mở ra những ngành công nghiệp mới với công nghệ và phương
thức kinh doanh tiên tiến tại Việt Nam, thể hiện: Về khai thác dầu thô (100%), 80%
công nghệ sản xuất ô tô, máy giặt, máy điều hòa nhiệt độ; 60% sản lượng thép cán;
30% xi-măng; 33% thiết bị điện tử; 76% dụng cụ y tế chính xác; 49% da giày; 25%
thực phẩm đồ uống… [7].
Bất cứ một hoạt động kinh tế nào đều gắn liền với lợi ích, đầu tư trực tiếp
nước ngoài liên quan đến lợi ích của DNCVĐTNN và người lao động, DN có thể
hoạt động đầu tư vào bất kỳ lĩnh vực nào, ngành nghề nào mà pháp luật nước sở tại
cho phép, với mục đích cuối cùng là thu lợi nhuận ngày càng cao. Do đó, khu vực
nào, ngành nghề nào tạo ra điều kiện thuận lợi, thì khu vực đó, ngành nghề đó sẽ
thu hút được vốn đầu tư nước ngoài nhiều. Bên cạnh đó, nước chủ nhà có quyền ban
hành luật pháp riêng cho các nhà đầu tư nước ngoài, còn luật pháp có hấp dẫn họ
hay không tuỳ thuộc vào lợi nhuận mà họ sẽ thu được trong quá trình đầu tư SXKD.
Với mục đích là tối đa hóa lợi nhuận, chủ DN luôn ý thức được rằng, muốn
cho DNCVĐTNN ngày càng phát triển, thì cần phải thường xuyên duy trì mối quan
hệ đặc biệt giữa chủ DN và người lao động phải dựa trên cơ sở bình đẳng, cùng có
lợi. Trong sản xuất, người lao động vừa là động lực, vừa là đối tượng phục vụ sản
xuất. Muốn có năng suất lao động và lợi nhuận cao, chủ DN cần tranh thủ khai thác
thể lực và trí lực của người lao động, để không ngừng tăng khả năng tích lũy và mở
rộng quá trình sản xuất. Do đó, nhiều DNCVĐTNN vì sự phát triển điều họ quan
tâm là vấn đề tái sản xuất sức lao động của người công nhân, họ không quá đối lập
giữa lợi nhuận của DN với lợi ích của người lao động.
64
Đầu tư nước ngoài ở nước ta đã thu hút hàng nghìn DNCVĐTNN của các
nước trên thế giới và vùng lãnh thổ. Điều đó cho thấy tính hấp dẫn của môi trường
đầu tư Việt Nam, đồng thời cũng thể hiện tính đa dạng của các nền văn hóa trong
quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong các DNCVĐTNN.
Tất cả những vấn đề thuộc quan hệ giữa những người sử dụng lao động và
người lao động được ký kết theo hợp đồng lao động và thông qua thương lượng trên
tinh thần hòa giải, nhân nhượng lẫn nhau, tạo sự hiểu biết giữa các nền văn hóa, tập
quán sinh hoạt của các dân tộc, hướng đến tạo ra lợi nhuận cao cho DNCVĐTNN,
đồng thời nâng dần thu nhập của người lao động, cải thiện điều kiện làm việc và
sinh hoạt của họ.
Trong những năm gần đây, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã thực hiện đúng
luật pháp Việt Nam đối với cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và người lao động, chú
trọng việc nâng cao thu nhập của người lao động, cải thiện điều kiện lao động và sinh
hoạt của công nhân trong DNCVĐTNN. Nhưng thực tế còn có nhiều trường hợp chủ
DN áp dụng các phương thức thiếu văn minh như kéo dài thời gian lao động, không
đảm bảo an toàn lao động và điều kiện lao động tối thiểu, trả lương thấp hơn mức
bình quân, kéo dài thời gian học nghề của công nhân từ đó DNCVĐTNN có lợi
nhuận cao hơn, đối với DNCVĐTNN như vậy cần được kiểm tra và xử lý.
Trong DNCVĐTNN, mối quan hệ lao động dựa trên cơ sở sức lao động và tư
liệu sản xuất tách rời nhau. Nhưng để tạo việc làm cho người lao động, tranh thủ
nguồn vốn, công nghệ, cách quản lý của tư bản nước ngoài.., vào sự phát triển kinh
tế của đất nước, trong chừng mực nhất định, phải thừa nhận có quan hệ bóc lột sức
lao động, nhưng đây là hình thức bóc lột cần thiết trong điều kiện hiện nay của đất
nước và của người lao động. Bên cạnh đó, sự hoạt động của DNCVĐTNN tồn tại
trong sự kiểm soát của pháp luật của Nhà nước, do đó lao động làm thuê ở đây, có
một phần cũng là làm cho mình và cho xã hội.
Mối quan hệ lao động trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện
nay, đó là mối quan hệ giữa người sử dụng lao động (chủ DN) và người lao động.
Theo quy định tại Chương I, BLLĐ (2013) thì: Chủ DN có quyền tuyển chọn, bố
trí, điều hành lao động theo yêu cầu SXKD, có quyền khen thưởng và xử lý các vi
65
phạm kỷ luật theo quy định của luật lao động, việc trả lương lao động được thực
hiện theo quyền hạn của DN với sự thỏa thuận của người lao động và chủ DN trên
cơ sở lợi ích mà bên này tìm thấy ở bên kia.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động được quy định ở Chương IV-
BLLĐ, phần lớn các DNCVĐTNN đều thực hiện đúng những gì đã cam kết trong
hợp đồng với người lao động. Nhiều chủ DN bên cạnh việc trả lương cho người lao
động, còn quan tâm đến khen thưởng, sử dụng những người có kỹ thuật cao, đào tạo
tay nghề, mở rộng quy mô sản xuất, tăng lương…
Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng một số DNCVĐTNN trong quá trình thực hiện
đã vi phạm hợp đồng, trái với quy ước tại điều 29 của BLLĐ; đó là vấn đề, ngoài
tiền công ra, thì các chủ DN đã không quan tâm đến điều kiện về an toàn lao động,
vệ sinh lao động và bảo hiểm đối với người lao động, điều đó làm cho người lao
động không yên tâm làm việc trong DN. Việc thừa nhận sự tồn tại thành phần kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài là thừa nhận sự bóc lột lao động trong phạm vi quản lý
của các cơ quan chức năng. Việc các chủ DNCVĐTNN chạy theo mục đích lợi
nhuận là một điều tất yếu. Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động luôn nảy
sinh mâu thuẫn về lợi ích giữa chủ DNCVĐTNN và người lao động, DNCVĐTNN
bao giờ cũng muốn trả tiền công cho người lao động và các chi phí với giá thấp,
ngược lại người lao động mong được trả công cao hơn và các khoản phúc lợi khác.
Các chủ DN có chiến lược kinh doanh lâu dài bao giờ họ cũng ý thức được
rằng, muốn cho DNCVĐTNN phát triển, không còn con đường nào tốt hơn là xây
dựng mối quan hệ chủ - thợ bình đẳng, cùng có lợi. Người lao động là động lực của
quá trình sản xuất, do đó, phải biết tranh thủ, khai thác sức lực, trí tuệ của người lao
động để tạo ra năng suất và lợi nhuận cao. Vì mục tiêu không ngừng tăng tích luỹ,
tái sản xuất mở rộng của các DNCVĐTNN, chủ DN càng phải quan tâm tới vấn đề
tái sản xuất sức lao động, của người công nhân.
- Những vi phạm lợi ích của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài
Quá trình hoạt động của các DNCVĐTNN ở các thành phố lớn trọng điểm của
cả nước, đặc biệt ở thành phố Hà Nội, hầu hết các DNCVĐTNN đều thực hiện những
66
quy định trong giấy phép kinh doanh và hợp đồng lao động. Các DNCVĐTNN luôn
luôn ý thức được rằng, muốn cho DN phát triển thì phải xây dựng mối quan hệ hài
hòa giữa chủ - thợ tương đối bình đẳng, hai bên cùng có lợi; do nắm bắt được vai
trò LIKT đối với người lao động là một tất yếu, để thực hiện mục tiêu lợi nhuận tối
đa của mình các chủ DN đã biết quan tâm chăm lo phát huy yếu tố con người, coi
trọng những lợi ích thiết thân của người lao động, dựa vào lực lượng khoa học kỹ
thuật, công nhân lành nghề, đặt lòng tin, khắc phục sự kỳ thị, đảm bảo thu nhập
xứng đáng với khả năng đóng góp của người lao động, tìm ra cơ chế quản lý phù
hợp, coi trong việc sử dụng các quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, cải thiện điều kiện
lao động.., để người lao động yên tâm làm việc, phát huy tính sáng tạo, đưa lại hiệu
quả sản xuất cao cho DNCVĐTNN.
Nhiều DNCVĐTNN đã có sự hài hòa giữa "ba loại ích": Chủ DN có lợi
nhuận, người lao động có việc làm và tăng thu nhập; Nhà nước tăng thu thuế đóng
góp vào ngân sách. Xong, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số DNCVĐTNN kinh
doanh kiểu "chụp giật", lợi dụng sức lực của người lao động để thu lợi nhuận,
không quan tâm đến LIKT của người lao động. Dẫn tới các cuộc đình công, bãi
công đòi tăng lương của người lao động đối với giới chủ. Đây là một vấn đề bức
xúc hiện nay đòi hỏi các ngành chức năng giải quyết triệt để, làm sao người lao
động yên tâm làm việc và được hưởng đúng với quyền lợi của mình.
Trong BLLĐ Việt Nam đã quy định đầy đủ phương thức hợp đồng lao động
giữa đại diện DN và người lao động, cách tính tiền lương và trả lương, bảo hiểm xã
hội, quyền và nghĩa vụ của người lao động đối với DNCVĐTNN, kể cả quyền được
đình công, bãi công. Lợi ích của người lao động được thể hiện với tư cách là từng
cá nhân, đồng thời với tư cách là tập thể thông qua các tổ chức công đoàn.Việc bảo
vệ lợi ích của người lao động trong các DNCVĐTNN đồng thời cũng là trách nhiệm
của các cán bộ, lãnh đạo là người Việt Nam làm việc trong các DN 100% vốn nước
ngoài. Do đó, người lao động cần có nhận thức đúng quyền lợi và nghĩa vụ của
mình trong các DNCVĐTNN, bởi thành công của DNCVĐTNN cũng đồng thời là
sự bảo đảm thu nhập ngày càng tăng và điều kiện ngày càng được cải thiện đối với
họ. Các DNCVĐTNN thường áp dụng các phương pháp lôi cuốn người lao động
67
tham gia quá trình sáng tạo trong SXKD, như tăng lương trước thời hạn, thưởng
tháng lương thứ 13…
Mối quan hệ giữa lợi ích của người lao động trong các DNCVĐTNN và
TTATXH bị chi phối bởi những mối quan hệ trên. Đối với các DNCVĐTNN do
mục đích là tối đa hóa lợi nhuận ngày càng nhiều dẫn đến:
Thứ nhất: Về phía người sử dụng lao động, ở một số DNCVĐTNN, nhiều nơi
giới chủ đã và đang có những tác động bất lợi đối với người lao động trong
DNCVĐTNN như: Kỷ luật có tính cưỡng bức, kéo dài thời gian lao động và tăng
cường độ lao động… Do đó, phần lớn các cuộc đình công xảy ra do giới chủ đã vi
phạm các quy định đối với người lao động về tiền lương, thời gian lao động và nghỉ
ngơi, tuyển dụng lao động, không ký hợp đồng với người lao động, hoặc nếu có thì
nội dung sơ sài, vi phạm luật lao động Việt Nam, trong quá trình làm việc thực hiện
không đầy đủ các quy định về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động, vi
phạm an toàn và vệ sinh lao động, có khi còn vi phạm đến danh dự, nhân phẩm của
người lao động.
Trong khi đó, chủ DN lại áp dụng các biện pháp quản lý hà khắc với người
lao động, khiến họ không thể chịu đựng được. Nhà xưởng toàn lợp tôn nóng bức,
nhưng không được trang bị quạt gió cho công nhân, bởi giới chủ sợ gió làm bay vải,
ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Theo phản ánh của người lao
động thì đã nhiều trường hợp công nhân bị ngất ngay tại nơi làm việc, do phải làm
việc trong điều kiện lao động tồi tệ. Ngoài ra, công nhân buộc phải nộp tiền Bảo
hiểm y tế, nhưng không được Công ty phát thẻ bảo hiểm y tế. Không những vậy,
một số chủ còn áp dụng các kiểu hình phạt rất thô bạo với người lao động mỗi khi
họ bị sai sót trong công việc, đó là phạt công nhân đứng im cả buổi ngay trong
xưởng, hành vi vi phạm pháp luật này cần bị lên án. Đây chính là những nguyên
nhân dẫn đến những cuộc đình công, bãi công tại các KCN, đồng thời gây mất
TTATXH trên địa bàn.
Thứ hai: Về phía chủ DN, do sự khác biệt về tập quán kinh doanh, về phong
tục, về sinh hoạt văn hoá. Chủ DN đã quen với cơ chế thị trường, với sự cạnh tranh
gay gắt, với quan hệ của ông chủ và người làm thuê, những điều này đối với người
68
lao động Việt Nam còn khá mới mẻ nên đôi khi đã xảy ra xung đột giữa chủ DN và
người làm thuê. Mặt khác, do bất đồng về ngôn ngữ đã gây ra những bất lợi cho cả
hai phía, gây nên những hiểu lầm nhau.
Trong khu vực FDI, để tạo việc làm cho người lao động, tranh thủ nguồn
vốn, công nghệ, cách quản lý của tư bản nước ngoài vào sự phát triển kinh tế của
đất nước, trong chừng mực nhất định, phải thừa nhận có quan hệ bóc lột sức lao
động, nhưng đây là hình thức bóc lột cần thiết trong điều kiện hiện nay của đất nước
và của người lao động. Bên cạnh đó, khu vực FDI tồn tại trong sự kiểm soát của
pháp luật của Nhà nước, do đó, lao động làm thuê ở đây một phần cũng là làm cho
mình và cho xã hội.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động được quy định ở Chương IV-
BLLĐ, phần lớn các DNCVĐTNN đều thực hiện đúng những gì đã cam kết trong
hợp đồng với người lao động. Nhiều chủ DN ngoài việc trả lương cho người lao
động, còn quan tâm đến khen thưởng, sử dụng những người có kỹ thuật cao, đào tạo
tay nghề, mở rộng quy mô sản xuất, tăng lương… Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng
một số DNCVĐTNN trong quá trình thực hiện đã vi phạm hợp đồng, trái với quy
ước tại Điều 29 của BLLĐ: đó là ngoài tiền công ra thì các chủ DNCVĐTNN đã
không quan tâm đến điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm
đối với người lao động, điều đó làm cho người lao động không yên tâm làm việc
trong DNCVĐTNN. Rõ ràng là việc thừa nhận sự tồn tại thành phần kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài, là thừa nhận sự bóc lột lao động trong phạm vi quản lý của các cơ
quan chức năng, việc các chủ DN chạy theo mục đích lợi nhuận là một điều tất nhiên.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động luôn nảy sinh mâu thuẫn về lợi ích giữa
chủ DN và người lao động, DNCVĐTNN bao giờ cũng muốn trả tiền công cho người
lao động và các chi phí với giá thấp, và ngược lại người lao động mong được trả công
cao hơn và các khoản phúc lợi khác. Điều này là nguyên nhân chính dẫn đến đình
công, bãi công của những người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN.
Như vậy nhìn tổng thể cho thấy, các DNCVĐTNN đầu tư vào Việt Nam
trong những năm qua phần lớn hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước và các cơ
quan chức năng đã góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh
69
tế - xã hội. Nhưng bên cạnh đó, mối quan hệ giữa các chủ DN với người lao động
luôn xảy những mâu thuẫn và đều bắt nguồn từ vấn đề LIKT. Các cơ quan chức
năng cần có những biện pháp quản lý chặt chẽ để ngày càng thu hút đầu tư nước
ngoài, đồng thời bảo đảm LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN.
2.4. KINH NGHIỆM MỘT SỐ TỈNH CỦA VIỆT NAM VỀ VIỆC GIẢI
QUYẾT LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
2.4.1. Kinh nghiệm của một số tỉnh ở Việt Nam
2.4.1.1. Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng thuộc trung du miền núi phía Bắc, dân số khoảng 1,1 triệu người, diện tích tự nhiên là 1.238,6 km2, cách
trung tâm thủ đô Hà Nội 20km và cách sân bay quốc tế Nội Bài 25km. Vĩnh Phúc là
tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế phát triển nhanh, cơ chế chính sách khá thông
thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty nước ngoài vào đầu tư SXKD ngày
càng nhiều. Qua đó đã thu hút được rất nhiều lao động trong và ngoài tỉnh đến làm
việc. Mục tiêu của tỉnh phấn đấu đến năm 2020 có đủ các yếu tố cơ bản của một
tỉnh công nghiệp.
Tính đến năm 2014, số lượng các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở tỉnh Vĩnh Phúc là 124 doanh nghiệp, tạo việc làm cho 38.000 lao động.
[13]. Trong quá trình sử dụng lao động, có doanh nghiệp cũng đã quan tâm đến lợi
ích kinh tế trực tiếp và gián tiếp đối với người lao động, cụ thể như sau:
- Về tiền công, tiền lương:
Hiện nay phần lớn các DNCVĐTNN ở Việt Nam nói chung đều áp dụng
hình thức trả lương theo sản phẩm, vừa đảm bảo sự công bằng trong phân phối theo
lao động, qua đó số lượng, chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao. Đối với
tỉnh Vĩnh Phúc, tiền lương bình quân của người lao động trong các DNCVĐTNN từ
3,8 triệu đến 4,6 triệu đồng/tháng, so với giá cả thị trường ngày càng tăng, chi phí
của người công nhân ngày càng nhiều thì tiền lương nhận được chưa đủ để đáp ứng
cho đời sống của họ. Hơn nữa, cũng có thời gian người lao động làm việc 2 tháng
mới nhận được tiền lương, tiền công.
70
- Về tiền thưởng và các chế độ phúc lợi, bảo hiểm khác: Nhìn chung, các
DNCVĐTNN ở tỉnh Vĩnh Phúc cũng cam kết và thực hiện theo BLLĐ, các chính
sách khác liên quan đến quyền lợi của người lao động do Nhà nước ban hành. Tuy
nhiên, số tiền thưởng không nhiều so với sức lao động của người công nhân bỏ ra.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng quan tâm duy trì chế độ ăn trưa, ăn ca đều đặn,
nhưng chất lượng bữa ăn chưa đảm bảo yêu cầu, trong khi người công nhân thường
xuyên bị ép làm tăng ca để đảm bảo lợi ích kinh tế cho chủ doanh nghiệp. Vì vậy,
vẫn xảy ra tình trạng công nhân bãi công, biểu tình.
- Về điều kiện, môi trường làm việc: Trong các DNCVĐTNN ở tỉnh Vĩnh
Phúc nói riêng cũng thường được đầu tư những máy móc, trang thiết bị đã hết khấu
hao, lạc hậu ở nước ngoài vào Việt Nam, cho nên gây ô nhiễm môi trường, tiếng ồn,
khói bụi, nước thải công nghiệp, mặc dù một số doanh nghiệp được trang bị bảo hộ
lao động cho người công nhân, nhưng vẫn tác động ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khỏe người lao động, làm cho tỷ lệ người mắc bệnh nghề nghiệp rất cao. Mặt khác,
vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên nhiều doanh nghiệp cũng không chịu đầu tư mua
sắm những thiết bị hỗ trợ người công nhân, xây nhà ở, xe đưa đón công nhân. Hiện
nay, số lượng công nhân là người địa phương đang làm việc tại các DVCVĐTNN ở
tỉnh Vĩnh Phúc chỉ chiếm 34%, còn lại là công nhân ở các tỉnh miền núi phía Bắc
đến làm việc. Trong khi số doanh nghiệp có nhà cho công nhân (chiếm 22%) thì giá
thuê cao hơn ở ngoài, không đảm bảo các điều kiện sinh hoạt, diện tích hẹp. Vì vậy,
nhiều công nhân ra ngoài thuê trọ và nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội phức tạp.
- Về đào tạo nâng cao tay nghề người lao động: Đây là công việc mà các
DNCVĐTNN quan tâm ngay từ khâu tuyển dụng lao động phù hợp với ngành nghề
mà các doanh nghiệp đang cần, đồng thời cũng thường xuyên mở các lớp ngắn hạn
nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng mềm cho người công nhân. Thông qua đó,
năng suất lao động ngày càng tăng, người công nhân cũng có nhập cao hơn.
- Về đời sống tinh thần: Các DNCVĐTNN ở tỉnh Vĩnh Phúc đều xây dựng
các phòng sinh hoạt tập thể, giao lưu văn hóa văn nghệ trong ngày lễ, tết, sinh nhật,
khu hoạt động thể thao, câu lạc bộ, hằng năm doanh nghiệp tổ chức cho công nhân
đi tham quan, nghỉ mát... Qua đó, người công nhân cũng bớt căng thẳng, mệt mỏi,
vui vẻ hơn, yên tâm làm việc.
71
2.4.1.2. Kinh nghiệm của thành phố Hải Phòng
Hải Phòng là một thành phố cảng và công nghiệp ở miền Bắc Việt Nam,
và là một trong 5 thành phố trực thuộc trung ương và là một trong 6 đô thị loại 1
của Việt Nam. Hải Phòng là đầu mối giao thông đường biển phía Bắc. Với lợi thế
cảng nước sâu nên vận tải biển rất phát triển, đồng thời là một trong những động lực
tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, lũy kế tới tháng 4 năm 2015, thành
phố Hải Phòng có 12 khu công nghiệp với 470 dự án FDI, tổng vốn đầu tư đăng ký
11,38 tỷ USD, đứng thứ 6/63 tỉnh, thành phố trong cả nước (tính cả khu vực dầu khí
ngoài khơi). Trong đó, tập trung vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 318 dự
án với 7,15 tỷ USD (chiếm 63%) [39].
Tiêu biểu như: Nhà máy sản xuất lốp xe Bridgestone (Nhật Bản) 1,2 tỷ USD,
LG (Hàn Quốc) 1,5 tỷ USD, GE (Mỹ) 110 triệu USD, Knauf (Đức) 50 triệu USD,
Fujixerox (Nhật Bản) 119 triệu USD, Nipro Pharma (Nhật Bản) 250 triệu USD,
Kyocera (Nhật Bản) 188 triệu USD… [40]
Giải quyết việc làm cho 42.127 người, trong đó lao động nữ là 28.397 người
(chiếm 67,4%). Phần lớn lao động tập trung làm việc tại các doanh nghiệp FDI chiếm
92,4%, chủ yếu là lao động trẻ có độ tuổi trung bình từ 18-27. Số lao động đã qua đào
tạo từ cao đẳng trở lên chỉ chiếm 12%, công nhân kỹ thuật trình độ trung cấp nghề trở
lên chiếm 17,2%. Còn lại là lao động phổ thông chiếm 70,8% do các doanh nghiệp
FDI hiện nay chủ yếu là gia công, lắp ráp, công nghệ chưa tiên tiến [93].
Trong quá trình sử dụng lao động, có doanh nghiệp cũng đã quan tâm đến lợi
ích kinh tế trực tiếp và gián tiếp đối với người lao động, cụ thể như sau:
- Về tiền công, tiền lương:
Qua khảo sát thực tế ở thành phố Hải Phòng, tiền lương, tiền công bình quân
của người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN khoảng từ 4,5 triệu đến 6,2 triệu
đồng/tháng. Với mức lương đó, tuy có cao hơn so với nhiều tỉnh, thành phố khác trên
cả nước, nhưng vẫn chưa đáp ứng được cuộc sống với mức giá cả sinh hoạt liên tục
tăng khiến người lao động phải tăng ca và muốn tăng ca nên không có thời gian nghỉ
ngơi để tái sản xuất sức lao động, do đó năng suất và chất lượng lao động chưa cao.
- Về tiền thưởng và các chế độ phúc lợi, bảo hiểm khác: Các DNCVĐTNN ở
thành phố Hải Phòng cũng quan tâm chăm lo đến lợi ích của người lao động, các
72
chế độ tiền thưởng, đóng bảo hiểm xã hội, y tế, thăm hỏi lúc ốm đau.Vì vậy, người
lao động cũng có thêm một phần thu nhập để trang trải cho cuộc sống.
- Về điều kiện, môi trường làm việc: Nhìn chung, các DNCVĐTNN ở thành
phố Hải Phòng đầu tư những máy móc, trang thiết bị, công nghệ tương đối hiện đại,
cho nên mức độ gây ô nhiễm môi trường thấp, phần lớn người công nhân được
trang bị bảo hộ lao động theo quy định. Ngoài ra, một số doanh nghiệp đã xây nhà ở
khang trang với mức giá cho công nhân thuê trung bình, có xe đưa đón công nhân
thuận lợi, tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho công nhân.
- Về đào tạo nâng cao tay nghề người lao động: Mỗi doanh nghiệp thường có
chương trình tuyển nhân sự riêng và sau khi tuyển được lao động họ sẽ có chương
trình đào tạo theo công việc của doanh nghiệp. Hằng năm khi thay đổi công nghệ,
chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất lao động, sẽ tiếp tục đào tạo người lao
động và đưa một số lao động ở vị trí quan trọng đi học tập, tiếp thu kiến thức mới ở
nước ngoài. Hơn nữa, các DNCVĐTNN còn chú trọng đào tạo các kỹ năng mềm
cần thiết cho người lao động.
- Về đời sống tinh thần: Để người lao động yên tâm làm việc, nhất là những
người giỏi, có tay nghề chuyên môn cao, thì các DNCVĐTNN ở thành phố Hải
Phòng cũng đã quan tâm đến đời sống tinh thần của người lao động, đầu tư xây
dựng các khu vui chơi thể thao, ca nhạc, giải trí, nhà ăn, sinh hoạt tập thể, tổ chức
cho công nhân đi tham quan, nghỉ mát, liên hoan, sinh nhật, thăm hỏi lúc ốm đau,
bệnh tật, trợ cấp khó khăn... Làm cho người công nhân cũng bớt căng thẳng, mệt
mỏi sau mỗi ngày làm việc.
2.4.1.3. Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương
Bình Dương là một tỉnh miền Đông nam bộ, tổng dân số là 1.873.558 người
(2014), trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 1.532.663 người (chiếm 81,8%
tổng dân số của tỉnh) [22, tr.27, 31]. Đây là một lợi thế rất lớn để thu hút đầu tư nước
ngoài. Số liệu thống kê năm 2014 cho thấy, Bình Dương có tổng số 2.615 dự án đầu tư
trực tiếp nước ngoài được cấp phép, với tổng số vốn đăng ký là 20.010,48 triệu USD
Mỹ [22, tr.77]. Thu hút 538.324 lao động (chiếm 35,1%) [22, tr.33].
- Về tiền công, tiền lương: Mặc dù tỉnh Bình Dương rất thành công trong việc
thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài, làm tăng cầu về lao động, nhưng tiền lương
của người công nhân vẫn thấp (bình quân 4,6 triệu đồng/tháng/người). Trong khi đó,
73
thời gian làm việc bình quân trên 10 tiếng/ngày, 18% làm từ 8-10 tiếng, chỉ có 52%
lao động làm việc 8 tiếng/ngày. Nhưng lại có khoảng 65% lao động làm việc 6
ngày/tuần, 25% làm 7 ngày/tuần [11].
Thực tế cho thấy, đã xảy ra liên tục các vụ việc tranh chấp lao động và đình
công trong doanh nghiệp FDI. Điển hình: Ngày 29/8/2014 có hơn 1.000 công nhân
Công ty Beautec Vina (100% vốn Hàn Quốc, chuyên sản xuất hàng may mặc tại
Khu công nghiệp Sóng Thần II, Dĩ An, Bình Dương) đã đình công đòi tăng lương.
Thống kê của Viện Công nhân và công đoàn, từ năm 2004 đến năm 2013 thì
DNCVĐTNN trên cả nước đã xảy ra 878/1333 cuộc đình công (chiếm 65,8%) [11].
Như vậy, việc cải thiện chế độ tiền lương, tiền công và giám sát việc thực hiện các
chế độ, chính sách cho người lao động ở khu vực FDI cũng cần có các giải pháp.
- Về tiền thưởng và các chế độ phúc lợi, bảo hiểm khác: Nhìn chung mức
tiền thưởng mà các DNCVĐTNN trả cho người lao động đã từng bước được nâng
lên. Qua đó, tạo động lực cho người lao động nâng cao năng suất lao động, chất
lượng sản phẩm. Vì vậy, các doanh nghiệp ở tỉnh Bình Dương luôn quan tâm đến
lợi ích của người lao động, tiền thưởng cho người lao động chủ yếu từ việc nâng
cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm tốt hơn, sáng kiến tiết kiệm chi phí sản
xuất của người lao động…Tuy nhiên, số tiền thưởng mà người công nhân nhận
được còn ít và không thường xuyên, nên nhìn chung tổng thu nhập còn thấp. Hơn
nữa, số lao động đang làm việc ở Bình Dương chủ yếu là di chuyển từ các tỉnh
Miền Bắc vào, cho nên phải tốn kém chi phí tiền thuê nhà, mua sắm đồ dùng sinh
hoạt, phương tiện, về quê thăm gia đình…
- Về điều kiện, môi trường làm việc: Bình Dương là một tỉnh có nhiều
DNCVĐTNN lớn vào sản xuất kinh doanh, do đó cũng đã quan tâm đầu tư xây
dựng nhà xưởng, dây truyền sản xuất, thiết bị, công nghệ tương đối đồng bộ, hiện
đại, người công nhân làm việc được an toàn, thoải mái, ít mắc các bệnh do ảnh
hưởng môi trường làm việc gây ra. Đây cũng là một yếu tố thuận lợi làm cho năng
xuất, chất lượng lao động ngày càng tăng và quan hệ lao động giữa người công
nhân với doanh nghiệp ngày càng chặt chẽ hơn.
Tuy nhiên, cũng còn những DNCVĐTNN quy mô vừa và nhỏ về cơ sở vật
chất và điều kiện làm việc của công nhân chưa được tốt như nhiều DN không có bố
trí phòng nghỉ trưa cho công nhân hoặc có phòng nghỉ trưa nhưng chưa thật sự sạch
74
sẽ, không chú trọng đến xây dựng phòng tắm, phòng vệ sinh, phòng thay quần áo
cho nữ công nhân... Môi trường làm việc trong các doanh nghiệp trong những năm
gần đây cũng đã được cải thiện xong vẫn chưa đảm bảo yêu cầu.
- Về đào tạo nâng cao tay nghề: Đây là vấn đề được các DNCVĐTNN quan
tâm hàng đầu, họ thường xuyên đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho người
lao động trong quá trình làm việc, tổ chức dạy kỹ năng mềm, ngoại ngữ. Từ đó,
người lao động cũng làm việc tốt hơn, tiền công, tiền lương ngày càng tăng, đời
sống vật chất được nâng cao.
- Về đời sống tinh thần: Nhiều DNCVĐTNN trong các khu công nghiệp,
khu chế xuất ở tỉnh Bình Dương đã xây dựng và phát triển dịch vụ công cộng như
giáo dục, y tế, khu vui chơi giải trí…Tổ chức công đoàn doanh nghiệp chủ động,
thường xuyên đứng ra tổ chức các buổi giao lưu văn hóa,văn nghệ, thể dục, thể
thao, tham quan, nghỉ mát. Từ đó, tạo ra không khí vui tươi, thân thiện giữa chủ
doanh nghiệp với người công nhân.
2.4.2. Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm của các tỉnh có thể vận dụng
vào giải quyết lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội
Qua tìm hiểu kinh nghiệm giải quyết lợi ích kinh tế của người lao động trong
các DNCVĐTNN của một số địa phương trong nước, có thể rút ra một số bài học
vận dụng đối với thành phố Hà Nội.
- Thứ nhất: Cần nhận thức đầy đủ hơn nữa vai trò, mối quan hệ lợi ích kinh
tế - xã hội của người lao động và người sử dụng lao động trong các DNCVĐTNN
trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước và chủ động hội nhập quốc tế. Từ đó, tiếp tục thể chế hóa hệ thống pháp lý, bổ
sung chính sách cho phù hợp, đảm bảolợi ích cả hai bên và gắn với mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của thành phố trong từng giai đoạn.
- Thứ hai: Tăng quyền tự chủ của DNCVĐTNN trong trả lương, gắn trả
lương với hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN. Tăng cường kiểm tra và giải quyết
kịp thời những kiến nghị, bức xúc của công nhân về tiền lương, tiền thưởng, đóng
bảo hiểm, thỏa ước lao động tập thể và các chế độ khác theo quy định. Thường
xuyên phối hợp giữa Tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ trong các
DNCVĐTNN để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của người lao
75
động, qua đó đàm phán với chủ DN nhằm giảm bớt các tranh chấp về lao động, bãi
công, biểu tình.
- Thứ ba: Nhà nước cần có cơ chế, chính sách tiền lương, thu nhập cho phù
hợp với khu vực DN nói chung và DNCVĐTNN nói riêng. Nhà nước tạo hành lang
pháp luật thuận lợi cho DN và người lao động thỏa thuận tiền lương phù hợp với
mức lương trên thị trường và quy định của pháp luật. Nhà nước cần có những biện
pháp thích hợp kiểm soát và quản lý việc thực thi những quy trình của pháp luật lao
động đã được ban hành nhằm bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm của người lao động.
Đồng thời, tăng cường vai trò của thỏa ước lao động tập thể trong việc thực hiện
chính sách tiền lương để bảo đảm tiền lương gắn với kết quả hoạt động của các DN
và cá nhân.
- Thứ tư: Môi trường lao động tốt và điều kiện làm việc thuận lợi là tiền đề
quan trọng bảo đảm LIKT của người lao động. Kinh nghiệm của DNCVĐTNN nào
có trang thiết bị tiên tiến, hiện đại, bảo đảm các điều kiện an toàn, đời sống vật chất
và tinh thần cho người lao động thì hiệu quả hoạt động của DN sẽ cao và người lao
động sẽ được hưởng một phần lợi ích của DN mang lại. Do đó, cần phối hợp kiểm
tra thường xuyên điều kiện, môi trường làm việc của công nhân trong các
DNCVĐTNN, nhất là những cơ sở, nhà máy sản xuất hàng hóa gây ô nhiễm môi
trường cao và không an toàn lao động, cháy nổ…
- Thứ năm: Cần quan tâm đến giáo dục và đào tạo, dạy nghề cho người lao
động theo đúng yêu cầu của doanh nghiệp trước khi cấp giấy phép đầu tư và thực
hiện đúng theo hợp đồng lao động. Đồng thời, người lao động nâng cao trình độ, ý
thức trách nhiệm trong công việc thì sẽ đem lại năng suất lao động cao cho DN, từ
đó giúp người lao động có thêm thu nhập, ổn định việc làm, phát huy tính sáng tạo
trong công việc.
76
Chương 3
THỰC TRẠNG LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN THỰC HIỆN LỢI ÍCH KINH
TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1.1. Những thuận lợi của Hà Nội trong thực hiện lợi ích kinh tế của
người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
3.1.1.1. Về điều kiện tự nhiên
Khi chọn đối tác đầu tư vào Việt Nam, nhất là Thủ đô Hà Nội, các
DNCVĐTNN đã nghiên cứu rất kỹ về đặc điểm tự nhiên; vì đối với các DN nước
ngoài, việc tìm kiếm các cơ hội để đầu tư khai thác trở thành ưu tiên trong chiến
lược kinh doanh. Theo đánh giá của tổ chức JETRO của Nhật Bản có bốn lý do để
các DNCVĐTNN quan tâm đầu tư tại Việt Nam trong đó đặc biệt là Thủ đô Hà
Nội, đó là: vị trí địa lý (kết nối hai thị trường lớn Trung Quốc và ASEAN), ổn định
chính trị, tiền công thấp, lao động cần cù... Từ sự đánh giá trên cho thấy, các
DNCVĐTNN khi đầu tư vào Hà Nội đã tìm hiểu và nghiên cứu kỹ địa bàn đầu tư,
điều đó được thể hiện: Sự thuận lợi về vị trí địa lý, khí hậu ôn hòa. Về vị trí địa lý:
Hà Nội nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng, có vị trí địa lý, chính trị quan trọng, có diện tích 3.324,92 km2. Từ Hà Nội đi các tỉnh, thành phố trong cả nước rất
dễ dàng bằng cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không, thành phố
Hà Nội có hai sân bay (một sân bay quốc tế), là đầu mối giao thông của 4 tuyến
đường sắt, 5 tuyến đường quốc lộ. Đây là những yếu tố gắn bó chặt chẽ thành phố
Hà Nội với các trung tâm trong cả nước đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho thành
phố Hà Nội phát triển mạnh giao lưu buôn bán với nước ngoài, tiếp nhận kịp thời
với thông tin, thành tựu khoa học công nghệ của thế giới, tham gia vào quá trình
phân công lao động quốc tế, khu vực và cùng hội nhập vào quá trình phát triển năng
động của vùng lòng chảo Đông Á - Thái Bình Dương.
77
3.1.1.2. Về điều kiện kinh tế - xã hội
Thành phố Hà Nội luôn tạo những cơ chế, chính sách ưu đãi đối với các nhà
đầu tư, tạo điều kiện tốt nhất cho các DN về thủ tục hành chính, hạ tầng trong quá
trình triển khai, xây dựng dự án, duy trì tăng trưởng kinh tế hợp lý. Thành phố đã và
đang quyết liệt thực hiện cải cách hành chính, tháo gỡ khó khăn cho các DN và tạo
mọi điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư, tạo lập lòng tin và tăng cường mối
quan hệ thân thiện hợp tác giữa nhà đầu tư với các cơ quan quản lý nhà nước; tập
trung hỗ trợ thông tin, xúc tiến đầu tư; tăng cường khả năng tiếp cận đất đai, mặt
bằng SXKD cho DN; thực hiện các hỗ trợ đầu tư khác như: Lao động, hạ tầng ngoài
hàng rào, điện, nước, công nghệ thông tin...
Thành phố Hà Nội đã quan tâm thỏa đáng tới mục tiêu nâng cao chất lượng
môi trường đầu tư, phát huy thế mạnh của thành phố thông qua những biện pháp, cụ
thể như: Lãnh đạo thành phố đã gặp mặt định kỳ với DNCVĐTNN, nắm tình hình,
tháo gỡ và giải quyết khó khăn cho DN. Hằng năm, thành phố Hà Nội đã tổ chức
đối thoại giữa chính quyền thành phố với nhà đầu tư nước ngoài nhằm mục đích
thắt chặt quan hệ, cùng có lợi giữa hai bên thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, nhất là tạo nguồn thu, việc làm trên địa bàn.
Là trung tâm kinh tế của cả nước có nhiều nhà máy, xí nghiệp các công ty,
các cơ sở kinh tế đóng và hoạt động trên địa bàn hàng năm đóng góp rất lớn vào
tăng trưởng GDP của cả nước.
Về xã hội, so với thủ đô của nhiều nước thì thành phố Hà Nội là địa bàn có
tình hình an ninh chính trị và TTATXH đảm bảo, ít và hầu như không xảy ra khủng
bố, gây rối TTATXH. Sống trên địa bàn có nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội khác
nhau, tuyệt đại đa số có nguồn gốc và xuất thân từ nông nghiệp, nông thôn, đều
mang những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, có tinh thần đoàn
kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, trọng lẽ phải…
Nguồn lao động của Hà Nội có đức tính cần cù, sáng tạo và có ý thức được
rằng: Nhờ có lao động mà con người và xã hội mới tồn tại, phát triển; lao động
được đánh giá là một tiêu chí cơ bản của một con người chân chính. Tính đến năm
2015, dân số thành phố Hà Nội là 7.113.161 người, trong đó 3.995.000 người lao
động (chiếm 56,16%). Chất lượng lao động ở thành phố Hà Nội ngày càng được
78
nâng cao (45% lao động qua đào tạo) lao động qua đào tạo cao nhất cả nước với
46%. Hà Nội có lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật, chuyên gia và công nhân lành
nghề đông đảo (số cán bộ tốt nghiệp đại học trở lên chiếm 68,6% so với cả nước và
chiếm 90,1% so với vùng đồng bằng sông Hồng). Trình độ chuyên môn của lao
động trên địa bàn thành phố Hà Nội thể hiện ở bảng dưới đây.
Biểu đồ 3.1: Đánh giá trình độ chuyên môn của lực lượng lao động Hà Nội (2013)
Nguồn: [106].
Từ bảng số liệu trên cho thấy lao động được đào tạo: Trình độ chuyên môn
của lao động thành phố Hà Nội được đánh giá cao nhất trong toàn quốc, đây là điều
kiện thuận lợi đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cho các nhà
máy, xí nghiệp, các DNCVĐTNN khi có nhu cầu tuyển dụng lao động.
Lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội đến từ rất
nhiều tỉnh thành trong cả nước, phần lớn ở độ tuổi lao động trẻ, trình độ lao động
phổ thông chiếm tỷ lệ cao. Theo kết quả điều tra của tác giả cho thấy: Những người
lao động trong các DNCVĐTNN phần lớn có nguồn gốc xuất thân từ nông thôn,
miền núi với 397 người (chiếm 81,5%); số còn lại có nguồn gốc từ thành phố, thị xã
với 79 người (chiếm 16,2%).
- Về độ tuổi: Công nhân trong các DNCVĐTNN tương đối trẻ, đang ở độ
tuổi có sức lao động tốt, nhiệt tình làm việc, tuổi đời từ 18 -24 tuổi là 221/487 người
(chiếm 45,4%), độ tuổi 25 - 34 tuổi là 228/487 người (chiếm 46,8%).
- Về giới tính: Lao động nữ có 295 người (chiếm 60,5%), lao động nam có
192 người (chiếm 39,4%).
- Về thành phần gia đình: Người lao động xuất thân từ thành phần gia đình
nông dân là chủ yếu với 375 người (chiếm 77,0%), thành phần gia đình công nhân 81
79
người (chiếm 16,6%) và thành phần gia đình cán bộ công chức 28 người (chiếm 5,7%).
- Về tình trạng hôn nhân: Có đến một nửa số người lao động làm việc trong
DNCVĐTNN tại KCN chưa lập gia đình ở mức 249/487 người (chiếm 51.6%).
- Về vị trí công tác: Phần lớn người lao động là nhân viên trong các DN với
tỉ lệ 438/487 người (chiếm 89,9%), vị trí quản lý ở các cấp là 24/487 người (chiếm
4,9%). Số còn lại làm ở các vị trí khác chiếm 5,1%.
- Về chuyên môn, tay nghề: Theo số liệu phiếu điều tra thì người lao động
phần lớn có trình độ tay nghề bậc là 3/7 (chiếm 23,6%); trình độ tay nghề bậc 2/7
(chiếm 15,2%); trình độ tay nghề bậc 4/7 (chiếm 13,8%).
- Vấn đề học vấn: Phần lớn người lao động có trình độ tốt nghiệp trung học phổ
thông có 312 người (chiếm 64,1%); trình độ sơ, trung cấp 74 người (chiếm 15,2%).
- Về nơi đào tạo tay nghề: Tỷ lệ người lao động khi vào làm việc đã được DN đào
tạo chiếm 62,8%; còn người lao động được đào tạo trước khi vào DN chiếm 26,9%.
Tóm lại, người lao động trong các DNCVĐTNN ở các KCN tuổi đời tương
đối trẻ, số lượng lao động là nữ giới chiếm phần lớn, lao động chưa lập gia đình
chiếm đa số. Do người lao động chủ yếu đến từ các miền quê và xuất thân từ các gia
đình thành phần là nông dân. Những người lao động chủ yếu là làm việc ở bộ phận
sản xuất và vị trí là nhân viên, công nhân trong DNCVĐTNN.
3.1.2. Những khó khăn của Hà Nội trong thực hiện lợi ích kinh tế của
người lao động ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Trong bối cảnh chung của nền kinh tế lạm phát được kiềm chế nhưng có
nguy cơ tăng trở lại, hoạt động SXKD của các DN vừa và nhỏ còn gặp nhiều khó
khăn. Trong thời gian qua, môi trường đầu tư của thành phố Hà Nội đã được cải
thiện tích cực, các thủ tục một cửa liên thông ngày càng đơn giản, thông thoáng
và minh bạch. Kỳ vọng có nhiều tập đoàn đa quốc gia đầu tư dự án quy mô lớn
vào thành phố Hà Nội chưa được như mong muốn, có nhiều nguyên nhân nhưng
trong đó cũng một phần là do nền kinh tế thế giới và trong nước còn gặp khó
khăn. Thành phố Hà Nội lại mới được mở rộng từ năm 2008, nhiều quy hoạch
còn đang chờ được thông qua, nên chưa đủ cơ sở để tập trung thu hút đầu tư.
Những bất cập từ cơ chế chính sách, thiếu tính nhất quán, thủ tục và thời gian
thực thi pháp luật còn dài, nguồn nhân lực cung cấp còn hạn chế, nguyên phụ
80
kiện, đặc biệt là trong lĩnh vực linh kiện điện tử, thiết bị công nghiệp, phần lớn
các DNCVĐTNN vẫn còn giải quyết bằng con đường nhập khẩu; đó là một cản
trở cho các DN trong quá trình SXKD.
3.1.2.1. Trình độ tay nghề của người lao động còn thấp
Một điều hiển nhiên dễ thấy đó là năng suất lao động và hiệu quả sản xuất
phụ thuộc một phần rất lớn vào trình độ thành thạo, nghiệp vụ chuyên môn của
người lao động. Khi đề cập tới những nhân tố có tác động và ảnh hưởng tới năng
suất lao động C.Mác đã đưa ra nhiều nhân tố, đó là trình độ khéo léo của người lao
động, công cụ lao động, sự phát triển của khoa học kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất,
sự kết hợp xã hội của sản xuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất, các điều kiện tự nhiên.
Trong đó, trình độ khéo léo của người lao động được ông đặc biệt nhấn mạnh và
được đặt lên vị trí hàng đầu. Trình độ khéo léo chính là trình độ tay nghề, nghiệp vụ
chuyên môn kỹ thuật, là khả năng ứng dụng những vấn đề lý thuyết, quy trình công
nghệ vào quá trình hoạt động sản xuất.
Trình độ khéo léo và thuần thục của người lao động làm việc trong các
DNCVĐTNN càng cao thì người lao động càng tạo ra năng suất lao động cao và
hiệu quả của sản xuất càng lớn dẫn tới lợi nhuận các chủ DN thu được cũng sẽ dồi
dào hơn, DNCVĐTNN làm ăn phát đạt sẽ có nhiều điều kiện hơn trong việc chăm
lo tới đời sống của người lao động và LIKT của họ sẽ được bảo đảm hơn. Mặt khác,
nếu trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động bị hạn chế, người lao dộng
không được đào tạo cơ bản về chuyên môn kỹ thuật, tay nghề thấp, khả năng ứng
dụng công nghệ vào sản xuất của họ bị hạn chế sẽ dẫn tới năng suất lao động thấp,
hiệu quả kinh tế không cao, DNCVĐTNN bị hạn chế trong phát triển, lợi nhuận và
mức doanh thu thấp sẽ có tác động và ảnh hưởng xấu đối với việc thực hiện LIKT
của người lao động.
Đối với đội ngũ những người lao động trong các DNCVĐTNN tại địa bàn
thành phố Hà Nội hiện nay, qua thực tế điều tra, khảo sát cho thấy đa số là lực lượng
lao động xuất thân từ các vùng nông thôn các tỉnh phía Bắc được di chuyển đến địa
bàn thành phố Hà Nội để tìm việc làm. Trong đó, đa phần là lao động nữ chưa lập gia
đình, có người chưa học hết chương trình phổ thông 12 năm và có rất nhiều người
chưa qua trường lớp đào tạo cơ bản nên trình độ tay nghề, nghiệp vụ chuyên môn kỹ
81
thuật của đội ngũ người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành
phố Hà Nội bị hạn chế rất nhiều, trình độ chuyên môn thấp, lực lượng chưa qua đào
tạo nhiều, lại đa phần là nữ giới sức khỏe bị hạn chế so với nam giới. Do vậy không
thể tạo ra năng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm tốt cho DN. Đây là một trong
những nhân tố tác động rất lớn đới với việc thực hiện LIKT cho người lao động,
chính những mặt hạn chế về tay nghề, về giới tính, dẫn tới năng suất lao động chưa
cao mà các chủ đầu tư viện cớ để trả lương thấp cho những người lao động, tình trạng
này đã ảnh hưởng không tốt đối với việc thực hiện LIKT của họ.
3.1.2.2. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố Hà Nội chưa bền vững
Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, bền vững thì mức sống và chất lượng
cuộc sống của người dân sẽ được cải thiện và không ngừng được nâng cao. Ngược
lại khi kinh tế phát triển không ổn định, tốc độ tăng trưởng thấp thì mức sống của
những người lao động sẽ bị hạn chế. Đối với LIKT của người lao động làm việc
trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng bị chi phối bởi tốc độ
tăng trưởng kinh tế. Trong những năm qua, do tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu mà tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hà Nội có phần chậm lại, nên
tình hình hoạt động SXKD của các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội
cũng gặp không ít khó khăn, dẫn tới sản xuất cầm chừng, sản phẩm làm ra tiêu thụ
chậm, giá cả các yếu tố đầu vào tăng cao đã tác động và ảnh hưởng xấu tới mức
doanh thu của DN, tình trạng này cũng gây nên ảnh không tốt đối với việc bảo
đảm LIKT cho những người lao động làm việc ở đây. Khi đó DNCVĐTNN bị suy
giảm, doanh thu và mức lợi nhuận thấp thì khả năng trả tiền công cũng như việc
bảo đảm thực hiện LIKT của người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN sẽ
không được thực hiện tốt.
3.1.2.3. Cơ chế kiểm tra giám sát của các cơ quan chức năng còn nhiều
hạn chế
Cơ chế kiểm tra giám sát các hoạt động SXKD của các DN trên địa bàn
thành phố Hà Nội có tác động rất lớn đối với việc thực hiện LIKT cho những người
lao động. Khi cơ chế kiểm tra giám sát không chặt chẽ, dẫn tới một số
DNCVĐTNN vi phạm pháp luật các cơ quan chức năng không biết được, LIKT của
người lao động bị xâm hại không ai đứng lên bảo vệ là mối nguy hại đối với họ.
82
Hiện nay, ở thành phố Hà Nội đã có cơ quan chức năng quản lý nhà nước đối với
các DNCVĐTNN, song nhìn chung vai trò và chức năng quản lý nhà nước đối với
việc bảo đảm LIKT cho những người lao động còn rất hạn chế. Nguyên nhân một
phần do hệ thống các văn bản pháp luật, quy chế điều hành còn nhiều bất cập nhưng
mặt khác tính chủ động, sáng tạo của các cơ quan chức năng cũng còn hạn chế nên
vai trò thể hiện trong thực tế còn rất mờ nhạt. Do vậy, cần tăng cường công tác kiểm
tra giám sát các hoạt động SXKD của các DN nhằm bảo đảm cho các hoạt động của
các DN diễn ra theo đúng những quy định của luật pháp Việt Nam. Trên cơ sở đó,
bảo đảm LIKT chính đáng cho những người lao động làm việc trong những cơ sở
sản xuất của DN trên địa bàn thành phố Hà Nội.
3.2. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.2.1. Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài và hoạt động của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội
3.2.1.1. Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố
Hà Nội
Hà Nội là địa phương tiên phong cùng cả nước mở cửa "gọi" các nhà đầu tư
nước ngoài, Sau gần 30 năm đến nay kết quả thu hút nguồn vốn duy trì khá đều đặn
qua từng năm, và trở thành nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế. Thành phố
Hà Nội không ngừng tạo lập môi trường đầu tư theo hướng thông thoáng, minh bạch,
phù hợp tiến trình hội nhập quốc tế; thực hiện các giải pháp hỗ trợ, giải quyết vướng
mắc cho các DNCVĐTNN đang hoạt động trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho
các nhà đầu tư kinh doanh làm ăn thành công và lâu dài tại Thủ đô. Hiện nay, trên địa
bàn thành phố Hà Nội có 63 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia đầu tư với số lượng
hơn 2.806 dự án, với tổng số vốn đầu tư gần 22 tỷ USD; trong đó, Nhật Bản là quốc
gia dẫn đầu về số dự án cũng như vốn đầu tư, có khoảng 520 dự án đầu tư của Nhật
Bản với số vốn hơn 4,6 tỷ USD, chiếm 22% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
địa bàn. Trong khu vực đầu tư nước ngoài, các DN của Nhật Bản chiếm tỷ trọng 74%
doanh thu, 61,3% thuế nộp ngân sách; thu hút và giải quyết việc làm cho hơn 130
nghìn lao động, chiếm 75% số lao động trong khối đầu tư FDI. Đến nay, trên địa bàn
83
thành phố Hà Nội có 19 KCN, khu công nghệ cao với tổng diện tích quy hoạch gần
3.500 ha đã được Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư. Hiện các KCN, khu công
nghệ cao đã và đang đi vào hoạt động và triển khai xây dựng hạ tầng, trong đó có 8
KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên là 1235 ha; 5 KCN đang
triển khai thủ tục đền bù và xây dựng cơ sở hạ tầng [Phụ lục 3].
Theo báo cáo về việc tổng kết 25 năm thu hút đầu tư nước ngoài (từ năm
1989 đến năm 2011) trên toàn địa bàn thành phố Hà Nội đã thu hút được 2.304 dự
án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 22,38 tỷ USD. Có 41 quốc gia và vùng lãnh
thổ tham gia đầu tư; trong đó Hàn Quốc dẫn đầu về số dự án đăng ký với 665 dự án,
tổng vốn đầu tư đăng ký là 3,83 tỷ USD; còn Nhật Bản dẫn đầu về vốn đầu tư đăng
ký với 4,22 tỷ USD và 471 dự án. Hà Nội là địa phương đứng thứ 3 trên cả nước về
thu hút FDI, chiếm khoảng 12% tổng vốn đầu tư đăng ký của cả nước, đứng sau
thành phố Hồ Chí Minh (32,23 tỷ USD), Bà Rịa Vũng Tàu (25,96 tỷ USD) [99].
Tiếp đó là kết quả thu hút đầu tư nước ngoài số liệu tính đến tháng 12 năm
2014, thành phố Hà Nội đã thu hút được 418 dự án đầu tư và tăng vốn, với tổng số vốn
đầu tư đăng ký là 1.397,2 triệu USD, tăng 26% so với năm 2013 và tăng 7,4 so với kế
hoạch năm 2014 (1.300 triệu USD). Trong đó: Tình hình cấp mới giấy chứng nhận đầu
tư năm 2014 là 313 dự án với tổng vốn đăng ký là 651,2 triệu USD; tình hình điều
chỉnh tăng vốn đầu tư dự án: Năm 2014 toàn Thành phố có 105 lượt dự án điều chỉnh
tăng vốn với giá trị vốn tăng là 746 triệu USD (tăng 20% so với năm 2013 [105].
Qua khảo sát một số DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội ở 3 KCN:
KCN Nội Bài; KCN Quang Minh; KCN Thăng Long:
- Công ty Canon thuộc KCN Bắc Thăng Long, Huyện Đông Anh, Hà Nội:
chuyên sản xuất máy ảnh, máy in phun.
- Công ty Coldtech thuộc KCN Quang Minh, huyện Mê Linh, Hà Nội:
chuyên sản xuất các thiết bị điện tử, lắp ráp tủ lạnh...
- Công ty Yamaha Motor thuộc KCN Nội Bài, Huyện Sóc Sơn Hà Nội:
Chuyên sản xuất lắp ráp xe máy nhãn hiệu Yamaha linh kiện phụ tùng xe máy và
cung cấp dịch vụ sửa chữa xe máy [Phụ lục 3].
Kết quả thấy rằng: Mặc dù các công ty có mô hình quản lý điều hành DN
không giống nhau, nhưng nhìn chung đều chú trọng đến ứng dụng khoa học công
84
nghệ vào sản xuất, liên tục cải tiến chất lượng sản phẩm, đồng thời không ngừng
mở rộng SXKD tại Việt Nam. Điển hình là công ty Canon Việt Nam và Công ty
Yamaha Motor Việt Nam sau một thời gian hoạt động SXKD tại Việt Nam đều xin
phép Bộ Kế hoạch và Đầu tư mở rộng dự án đầu tư. Công ty Yamaha Motor Việt
Nam tính đến hết năm 2013, công ty đã thực hiện hơn 102 triệu USD vốn đầu tư,
thu hút hơn 2.300 lao động, trong đó 70% là lao động địa phương. Sản lượng đạt
260.000 xe các loại, với tỷ lệ nội địa hóa khoảng 70% nộp ngân sách hơn 41,4 triệu
USD. Trong năm 2014, công ty đã xin phép được mở rộng dự án đầu tư từ 80,2
triệu USD lên 123,3 triệu USD, đồng thời mở rộng các phân xưởng sản xuất nhằm
tăng sản lượng lên 700.000 xe các loại, với tỷ lệ nội địa hóa 90%. Đối với Công ty
Canon là một trong 10 DNCVĐTNN có vốn đầu tư lớn nhất ở Hà Nội, hiện nay
Công ty đã xin mở rộng đầu tư sản xuất thêm 110 triệu USD, nâng tổng vốn đầu tư
của Canon tại Việt Nam lên gần 300 triệu USD [101]. Mục đích xây dựng Việt Nam
là "cứ điểm" đầu tư lớn nhất cho sản xuất máy in phun ngoài Nhật Bản. Trong quá
trình đầu tư các DNCVĐTNN đã tìm thấy đức tính cần cù, chịu khó và thông minh,
nhạy bén của nguồn nhân lực Việt Nam. Chính điều này cộng với sự tăng trưởng ấn
tượng của nền kinh tế Việt Nam và môi trường chính trị ổn định là nguyên nhân
chính để các chủ DNCVĐTNN tiếp tục đầu tư mở rộng quá trình sản xuất và làm ăn
lâu dài với Việt Nam.
Lợi ích của việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI có một vị trí rất quan
trọng đó là: Bổ sung cho nguồn vốn cho nền kinh tế trong nước, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế; các DN FDI giúp tạo việc làm, cải thiện nguồn nhân lực; tiếp thu
công nghệ và bí quyết quản lý; tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu, giúp mở rộng
thị trường, thúc đẩy xuất khẩu; tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công, nguồn
thu ngân sách lớn.
3.2.1.2. Hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên
địa bàn thành phố Hà Nội
Hiện nay, thành phố Hà Nội có hơn 2.806 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký là 21,1 tỷ USD [101]. Hàng loạt dự
án FDI có quy mô lớn đã và đang làm thay đổi một phần bộ mặt đô thị của thành
phố, cũng như góp phần không nhỏ trong thúc đẩy SXKD, phát triển kinh tế.
85
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động kinh tế đối ngoại
quan trọng của thành phố Hà Nội. Không chỉ có nhiều lợi thế và môi trường đầu tư
hấp dẫn, thành phố Hà Nội còn đang nỗ lực viết tiếp câu chuyện thành công trong thu
hút FDI bằng cam kết mạnh mẽ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, coi khu vực
DNCVĐTNN là bộ phận quan trọng cấu thành của nền kinh tế, đồng thời xem FDI là
một nhân tố quyết định để tái cơ cấu nền kinh tế và tăng sức cạnh tranh của Thủ đô.
Trong quá trình đầu tư nhiều DN đã tích cực đổi mới công nghệ, nâng cao
năng suất lao động, mở rộng đầu tư nên vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá, tạo
thêm nhiều việc làm cho người lao động và đóng góp nguồn thu cho ngân sách lớn.
Điển hình là các DN: Marumitsu (KCN Quang Minh I) đầu tư thêm 12 triệu USD,
tăng thêm 800 công nhân; Công ty MHI Acrospale Việt Nam (KCN Thăng Long)
khánh thành dây chuyền sản xuất linh kiện máy bay Boeing; Công ty Cheewah
(KCN Phú Nghĩa) đầu tư thêm 3 triệu USD tăng thêm 600 công nhân; Công ty
Yamaha (KCN Nội Bài) đầu tư thêm 32 triệu USD; Công ty điện tử Hanel (KCN
Sài Đồng B) đầu tư tăng 105 tỷ đồng; Công ty điện tử Meiko (KCN Thạch Thất -
Quốc Oai) đưa dây chuyền 1 vào hoạt động [10198]. Các DN đầu tư mới và mở
rộng sản xuất đã tạo thêm hàng vạn việc làm cho người lao động trong và ngoài
thành phố; cung cấp một số lượng hàng hóa công nghiệp, nhu cầu thiết yếu cho sản
xuất và đời sống nhân dân, cho xuất khẩu.
Tuy vậy, khả năng thực tế đầu tư, phát triển các DNCVĐTNN còn chưa
tương xứng với tiềm năng của Thủ đô mở rộng. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng kỹ thuật
và xã hội của các DNCVĐTNN hiện có vẫn chưa đồng bộ. Việc phát triển các khu,
DNCVĐTNN mới hiện chưa có quy hoạch đúng tầm và mô hình thích hợp, trong
khi các quy chế hoạt động, quy chế xây dựng, trong các KCN còn đang hoàn thiện
nên còn nhiều khó khăn trong quản lý. Trong bối cảnh phải đối mặt những khó khăn
của nền kinh tế thế giới, cũng như những khó khăn của nền kinh tế nước ta do vấn
đề lạm phát và lãi suất vay vốn ngân hàng cao, hạ tầng cơ sở chậm lại, thiếu lao
động kỹ thuật, sẽ khiến công tác thu hút FDI hiện nay đang phải đối mặt với những
thách thức sau đây.
- Thứ nhất: Do sự phát triển của cơ sở hạ tầng, hiện nay cơ sở hạ tầng chưa
đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế cũng như chưa tạo điều kiện tốt nhất
86
đủ sức hấp dẫn thêm nhiều vốn đầu tư mới cũng như đảm bảo cho DNCVĐTNN
đang hoạt động phát huy hiệu quả cao. Nhằm giải quyết vấn đề này, Chính phủ đã chỉ
đạo xây dựng "Đề án phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ" chuẩn bị cho giai đoạn phát
triển mới. Thủ tướng cũng đã ban hành Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg về quy chế
thí điểm đầu tư theo hình thức đó nhằm huy động tối đa nguồn lực của khu vực tư
nhân trong nước cũng như nước ngoài cho phát triển hạ tầng.
- Thứ hai: Nguồn nhân lực Việt Nam có tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo lớn.
Trong một nghiên cứu mới đây do Cục đầu tư nước ngoài phối hợp với Tổ chức
Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) tiến hành, thì 32% các nhà đầu tư
nước ngoài cho rằng thiếu công nhân kỹ thuật cao là nguyên nhân quan trọng khiến
họ không khai thác được toàn bộ công suất. Giảm chi phí sản xuất trong đó có chi
phí thuê lao động là mối quan tâm hàng đầu khi nhà đầu tư quyết định lựa chọn
điểm đầu tư và lợi thế chi phí lao động rẻ của Việt Nam ngày càng mất đi. Để cải
thiện tình hình này, Việt Nam đang tích cực thực hiện đề án "Đổi mới và phát triển
dạy nghề đến năm 2020" nhằm nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 55%
vào năm 2020. Trong năm 2014 Cục quản lý vốn FDI sẽ chú trọng và tăng cường
đầu tư theo hướng: Khu vực kinh tế FDI được phát triển theo quy hoạch, ưu tiên thu
hút các dự án có công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng có hiệu quả
các nguồn tài nguyên, khoáng sản, đất đai...
Nhìn chung về tình hình hoạt động SXKD của các DNCVĐTNN trên địa bàn
thành phố Hà Nội có thể thấy:
Các DNCVĐTNN ngày càng phát triển và đã có những đóng góp quan trọng,
từng bước trở thành một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế Thủ đô, ngày càng khẳng
định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam nói chung và
Hà Nội nói riêng, là khu vực có tốc độ phát triển năng động nhất. Ngoài những tác
động và đóng góp trực tiếp, FDI có vai trò cầu nối giữa khu vực nội địa và nền kinh
tế thế giới, còn có tác động thu hẹp khoảng cách phát triển về trình độ công nghệ,
trình độ quản lý, trình độ tay nghề lao động giữa Việt Nam và quốc tế.
Các DNCVĐTNN với ưu thế tiềm lực về vốn, công nghệ đã góp phần đặc biệt
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội thời gian qua của Thủ đô Hà Nội nói
riêng và Việt Nam nói chung; cụ thể qua các khía cạnh đóng góp cơ bản như sau:
87
Việc thu hút các DNCVĐTNN đã góp phần to lớn vào quá trình thay đổi cơ cấu
của nền kinh tế, thực hiện CNH, HĐH đưa Hà Nội chủ động hội nhập quốc tế. Cùng
với sự phát triển tích cực của quan hệ ngoại giao với các nước, năm 2006 vị thế của
Việt Nam trên thế giới tiếp tục nâng cao, nhất là sau khi trở thành thành viên thứ 150
của WTO, tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14 tại Hà Nội và Hoa
Kỳ thông qua Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR), từ đó đến nay càng
làm tăng mối quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đối với thành phố Hà Nội.
Thực tiễn hoạt động đầu tư nước ngoài tại Hà Nội chỉ rõ rằng: Xét về khía
cạnh lợi nhuận có sự khác nhau trong hoạt động đầu tư của các DN vừa và nhỏ và
các công ty xuyên quốc gia, do các DN vừa và nhỏ có vốn đầu tư hạn chế nên
thường thực hiện các dự án qui mô nhỏ và trung hạn. Nếu trong trường hợp nước
đến đầu tư bị khủng hoảng kinh tế thì các DN đó dễ rút vốn về nước, hoặc không
triển khai dự án đầu tư mới. Còn công ty xuyên quốc gia lớn có chiến lược toàn cầu
và mục tiêu dài hạn, nên các dự án đầu tư khi đã lựa chọn thường được thực hiện kể
cả trong trường hợp có khủng hoảng kinh tế. Từ đó, việc xác định lợi nhuận của hai
DN này cũng có sự khác nhau. Nếu như DN vừa và nhỏ cần phải tạo ra được lợi
nhuận nhanh, thì các công ty xuyên quốc gia có thể chịu thua lỗ trong một thời gian
nhất định, miễn là sau đó có lãi và toàn bộ chu kỳ của dự án đầu tư thu được lợi
nhuận trung bình trên từng thị trường. Từ những đặc điểm trên, khi lợi ích của nước
chủ nhà phù hợp với lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài thì dự án đầu tư được thực
hiện thuận lợi. Từ năm 2006 - 2014, môi trường kinh doanh của nước ta tiếp tục cải
thiện. Ngoài triển khai Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, cùng các nghị định hướng
dẫn được ban hành đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động đầu tư, nhiều
biện pháp đã được tiến hành nhằm hạn chế và khắc phục tình trạng yếu kém của hệ
thống kết cấu hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực… Kết quả đã cho thấy
qua 6 tháng đầu năm 2014 các đối tác đầu tư vốn lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn
Quốc, với sự gia tăng các dự án của những tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới.
Các DNCVĐTNN là lực lượng quan trọng hỗ trợ cho các khu vực kinh tế
khác trong nền kinh tế quốc dân và đã đóng góp lớn vào đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng kinh tế. Với hơn gần 30 năm hoạt động, nhưng DNCVĐTNN đã đóng góp
một phần không nhỏ vào GDP theo hướng tăng tích cực [Xem bảng 3.1].
88
Bảng 3.1: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp
vào sự tăng trưởng của GDP
Đơn vị tính: %
TT
Tỷ lệ % GDP
TT
Năm
Năm
Tỷ lệ % GDP
1
6,3
11
15,7
1995
2005
2
7,8
12
17,78
1996
2006
3
9,07
13
18,02
1997
2007
4
10,12
14
19,08
1998
2008
5
12,3
15
17,09
1999
2009
6
13,3
16
18,04
2000
2010
7
13,5
17
18,17
2001
2011
8
13,91
18
18,83
2002
2012
9
14,47
19
18,96
2003
2013
10
14,8
20
19,01
2004
2014
Nguồn: [8]
Từ bảng số liệu trên cho thấy, các DNCVĐTNN đã đóng góp vào sự tăng
trưởng của GDP vào nguồn ngân sách Nhà nước, đặc biệt có tỷ trọng lớn trong giá
trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu. Sự đóng góp này đã tạo điều kiện
để nền kinh tế Việt Nam thực hiện chiến lược công nghiệp hóa hướng ngoại. Khẳng
định vị trí, tầm quan trọng của DNCVĐTNN, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
(năm 2006) khẳng định: "Cải thiện môi trường pháp lý và kinh tế, đa dạng hóa các
hình thức và cơ chế để thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài vào
những ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh quan trọng" [31, tr.87].
3.2.2. Cơ cấu lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội
3.2.2.1. Tiền lương và tiền thưởng
Tiền lương là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với người lao động làm việc
trong các DNCVĐTNN ở địa bàn thành phố Hà Nội, nó liên quan thiết thực đối với
đời sống hàng ngày của bản thân và gia đình của họ. Nhưng hiện nay, mức lương
mà các chủ DN trả cho người lao động còn ở mức thấp, chưa tương xứng với sức
lao động mà họ bỏ ra và chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng hàng ngày trong
89
cuộc sống. Nhìn chung trên địa bàn thành phố Hà Nội thì mức lương trung bình mà
người lao động hiện đang nhận được là 3,7 triệu đến 4 triệu đồng/tháng [Phụ lục 1]
chưa đủ để đáp ứng cho đời sống của họ. Bên cạnh đó, mức lương này hầu như
không dựa trên thỏa thuận giữa chủ DN và người lao động mà là sự áp đặt theo
hướng bám chặt vào mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Qua điều tra khảo
sát tại các DNCVĐTNN ở 3 KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội, thu nhập của
người lao động, thể hiện mức độ hài lòng về các chế độ chính sách cho công nhân
[Xem biểu đồ 3.2].
Biểu đồ 3.2: Mức độ hài lòng về các chế độ cho công nhân
Đơn vị tính: %
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
1. Tiền lương
7. Tiền tiết kiệm hàng tháng
2. Tiền thưởng
8. Thời gian tăng ca
3. Phụ cấp (bằng tiền)
9. Chế độ bồi dưỡng tăng ca
4. Du lịch, nghỉ mát
10. Mức ăn trưa, ăn ca
5. Bảo hiểm xã hội
11. Nhà ở cho công nhân
6. Trợ cấp khi ốm đau, tai nạn
Chú thích:
Từ bảng số liệu trên cho thấy:
- Về vấn đề tiền lương: Đa phần người lao động có thái độ bình thường với mức
lương thu nhập của mình chiếm 68,9%, số người lao động không hài lòng với mức lương
90
của mình 22,2% và có 8,9 % người lao động hài lòng với mức thu nhập của mình.
- Về tiền thưởng: Số công nhân không hài lòng với tiền thưởng của mình lên
tới 22,2%, có 64% người lao động có thái độ bình thường với mức tiền thưởng của
DN, có 5,8% là hài lòng với mức thưởng hiện tại.
Người lao động có thái độ bình thường với tiền lương hàng tháng nhưng về
tiền thưởng và các loại phụ cấp và các chế độ đãi ngộ thì phần lớn người lao động
không hài lòng, bởi mức thưởng có nhưng không nhiều và chỉ những công nhân đủ
điểm chuyên cần mới được thưởng, và mức thưởng rất thấp. Đây cũng là nguyên
nhân chính dẫn đến các cuộc đình công, bãi công của người lao động trong các
DNCVĐTNN trong các KCN.
Từ thực tế trên, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có công văn quy
định rõ mức lương tối thiểu trong DNCVĐTNN chỉ áp dụng cho người lao động
làm công việc giản đơn nhất không phải học nghề trong điều kiện lao động bình
thường. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 23/2011/TT-
BLĐTBXH hướng dẫn mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở
công ty, DN, tổ chức.., có thuê mướn lao động căn cứ theo Nghị định số 182/2013
của Chính phủ. Theo đó, mức lương tối thiểu vùng có hiệu lực từ ngày 31/12/2013.
Mức lương tối thiểu tại khoản 1 điều 3 Nghị định này được áp dụng từ ngày
1/1/2014 của Chính phủ được áp dụng như sau:
Bảng 3.2: Mức lương tối thiểu vùng đối với doanh nghiệp FDI
Đơn vị tính: VNĐ
Mức áp dụng Mức lương tối thiểu Tăng trưởng (%)
(Vùng I) 1.350.000
Từ 01/01/2011
2.000.000
32,5%
Từ 01/10/2011
2.350.000
14,89%
Từ 20/01/2013
2.700.000
12,96%
Từ 01/01/2014
Nguồn: [16], [17], [18], [19].
Như vậy, mức lương tối thiểu vùng năm 2014 cao hơn mức lương 2013
khoảng từ 250.000 - 350.000 đồng/tháng (12,96%). Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội đặc biệt lưu ý, khi áp dụng mức lương tối thiểu ở vùng này, DNCVĐTNN
91
không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm
thêm giờ, làm việc vào ban đêm, tiền lương hoặc phụ cấp làm việc trong điều kiện
lao động nặng nhọc, độc hại, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với các chức danh
nghề nặng nhọc, độc hại và các chế độ khác theo quy định của BLLĐ. Phần lớn các
DNCVĐTNN đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật Việt Nam về mức tiền
lương tối thiểu. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số DNCVĐTNN hoạt động kiểu
"chụp giật" đã tìm mọi cách để hạ thấp tiền lương của người lao động. Trong quan
hệ lợi ích giữa người lao động với các chủ DNCVĐTNN ở địa bàn thành phố Hà Nội
phần lớn các DN đều có chế độ trả lương thăng chức theo thâm niên và tinh thần làm
việc. Do vậy, các DNCVĐTNN cũng có quan tâm về vật chất, đời sống tình cảm, tinh
thần của người lao động, để hướng tới việc đạt được lợi nhuận tối đa, vững chắc và
lâu dài, tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của DNCVĐTNN. Điều đó, đã thu hút được một
lực lượng lao động đáng kể vào làm việc tại các DNCVĐTNN. Tuy nhiên, để đạt
mục đích trong SXKD các chủ DNCVĐTNN đã tìm mọi cách tối đa hóa lợi nhuận,
mặc dù là có tăng lương, nhưng tăng lương cùng với tăng định mức. Qua khảo sát
thực tiễn ở Công ty TNHH COLDTECH (KCN Quang Minh): Ngày 31.12.2013,
ngày đầu tiên lương tối thiểu mới có hiệu lực, khi nhắc đến lương, dường như không
có nhiều niềm vui trên những gương mặt các công nhân. KCN Quang Minh, Mê
Linh, công nhân cho biết, sau 3 năm làm việc mức lương của họ là 3,5 triệu đồng/
tháng. Thực hiện lương mới, công nhân đã được tăng thêm 300.000 cộng với phụ cấp
hàng tháng, thu nhập của người lao động ước tính khoảng 4.000.000 đồng/tháng.
Tính toán vậy nhưng thực tế không dễ để đạt được mức đó. Những người lao động
cho biết: Đi kèm với tăng lương sẽ là tăng định mức, cùng kỳ năm trước định mức
của một công nhân (tính cả ca) khoảng 1850 sản phẩm/chuyền/ngày nhưng đến nay
định mức khoán (chưa thể tăng ca) là 2000 sản phẩm/chuyền/ngày; định mức thưởng
là 2300 sản phẩm/chuyền/ngày. Nếu hoàn thành định mức khoán thì ngoài tiền lương
và tiền ăn giữa ca, người lao động mới được hưởng phụ cấp chuyên cần. Để trả đủ
định mức ấy, nhiều công nhân khác phải chấp nhận ăn trưa thật nhanh hay hạn chế vệ
sinh cá nhân và làm việc liên tục từ 8 - 10h/ ngày. Nếu không đủ định mức thì công
nhân bị cắt điểm chuyên cần và thu nhập.
92
Bên cạnh đó, công nhân nhà máy Nissei Electric. Hanoi tại KCN Bắc Thăng
Long, Đông Anh, Hà Nội cho biết: Định mức tăng ca cùng kỳ năm ngoái chỉ là 4500
sản phẩm/chuyền/ngày nhưng năm nay phải đạt 5000-6000 sản phẩm/chuyền/ngày.
Như vậy, công nhân phải làm cật lực hơn với năng suất lao động tăng từ 20 - 25%
mà lương chỉ tăng thêm 350.000/ tháng. Tuy nhiên, với định mức này nhiều công
nhân lành nghề vẫn làm không đủ sản lượng mà có nguy cơ trừ lương, trừ thưởng.
Tóm lại, lương tháng của người lao động nhận được không khá hơn trước đây trong
khi giá cả đã tăng gấp nhiều lần hơn thế.
Biểu đồ 3.3: Lý do chưa hài lòng của người lao động
Đơn vị tính: %
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
1. Lương thấp
9. Không hoặc ít hỗ trợ khi công nhân đau ốm
2. Chậm lương
10. Không hoặc ít quan tâm đến gia đình công nhân
3. Thiếu cơ hội thăng tiến
11. Công việc bấp bênh, không ổn định
4. Chế độ đãi ngộ thiếu công bằng
12. Thời gian tăng ca nhiều
5. Thiếu minh bạch, dân chủ
13. Chế độ bồi dưỡng (tiền, thưởng,…) khi tăng ca kém
6. Ít quan tâm đến công nhân
14. Không đảm bảo an toàn lao động
7. Không hỗ trợ chỗ ở cho công nhân
15. Môi trường lao động ô nhiễm ảnh hưởng không
8. Chế độ ăn trưa, ăn ca kém
tốt đến sức khỏe
Chú thích:
Từ bảng điều tra trên cho thấy, thu nhập bằng lương vẫn là mối quan tâm
chính của người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN, tiếp đó là cơ hội thăng
tiến trong quá trình làm việc của người lao động không được giới chủ tạo điều kiện.
Bên cạnh đó, một vấn đề đó là chủ DN ít quan tâm đến người lao động, đây cũng
93
chính là nguyên nhân dẫn tới khoảng cách lớn giữa chủ DN và người lao động và
đây cũng là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn đồng thời là tiền đề cho các cuộc đình
công, bãi công của người lao động.
Theo khảo sát của viện Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện mới đây: Việc
"ép" công nhân với định mức mới khi tăng lương giúp DN không phải lo quá nhiều
tiền để chi trả lương mới mà vẫn tính được bị các cơ quan chức năng "xử lý", việc
xử lý cũng không dễ bởi vì do pháp luật hiện không có quy định về định mức làm
việc tại các ngành mà do thoả thuận giữa đại diện của người lao động và DN và
được ghi rõ trong thoả ước lao động tập thể.
Thực tế cho thấy, sự gắn kết giữa DN với công nhân còn lỏng lẻo. Tại nhiều
DN, công nhân chưa tha thiết làm việc và không có được tâm lý ổn định, họ luôn
chuẩn bị tâm thế "nhảy việc" để kiếm mức thu nhập cao hơn. Trong khi lương chưa
tăng, nhưng theo quy luật thị trường, giá cả tăng kéo theo các chi phí khác tăng
theo, khiến đời sống công nhân đã khó khăn, lại chồng chất khó khăn.
Ngoài lợi ích về tiền lương, tiền thưởng cũng cần xem xét đến các lợi ích
khác của người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN.
Hầu hết các DNCVĐTNN có quy định về ngày nghỉ giữ nguyên lương cho
người lao động như sau: Nếu người lao động làm việc cho DN với thời gian từ 1 năm
trở lên và tỷ lệ tham gia công việc là trên 80% thì có quyền xin nghỉ 10 ngày phép có
lương. Theo luật không kể quy mô công ty lớn hay nhỏ, người công nhân có đủ điều
kiện trên có quyền xin nghỉ phép có lương vào bất kỳ lúc nào. Thời gian nghỉ phép sẽ
tăng dần lên theo thời gian người lao động làm việc cho DN. Cụ thể như sau: Thời
gian làm việc từ 1 năm đến 3 năm được nghỉ phép 10 ngày/năm, từ trên 3 năm đến 5
năm được nghỉ 12 ngày và từ 5 năm trở lên được nghỉ 15 ngày phép.
Nguyên nhân về LIKT vẫn là nguyên nhân đầu tiên, người lao động đình công
vì nhiều lý do, trong đó 80% liên quan trực tiếp đến chế độ tiền lương như mức lương
thấp, không phù hợp với giá cả sức lao động, tiền lương không phù hợp với công sức
mà họ bỏ ra. Bên cạnh đó, người sử dụng lao động còn không tăng lương theo cam
kết, kéo dài thời gian, trong khi giá cả, lạm phát tăng nhanh khiến người lao động gặp
khó khăn trong cuộc sống, nảy sinh mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng
lao động, những người lao động liên kết nhau lại đấu tranh đòi tăng lương.
94
Biểu đồ 3.4: Nguyên nhân đình công của người lao động
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Chú thích
1. Lương thấp
5. Phạt trừ lương, thưởng khi vi phạm
2.Thường phải tăng cường độ lao động
6. Thường phải tăng ca
3. Chế độ đãi ngộ kém
7. Lý do khác
4. Bị ép thời gian làm việc
Đơn vị tính: %
Từ bảng điều tra trên thấy rằng: nguyên nhân chính dẫn đến đình công của
người lao động trong các DNCVĐTNN đó là tiền lương, là thường xuyên phải tăng
cường độ lao động, là chế độ đãi ngộ kém, là bị ép thời gian làm việc. Những nguyên
nhân đó đều liên quan trực tiếp tới LIKT của người lao động, do đó cần đưa ra các giải
pháp để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chủ DNCVĐTNN và người lao động.
3.2.2.2. Các chế độ đãi ngộ của chủ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài đối với người lao động
Phần lớn DNCVĐTNN đóng trên địa bàn thành phố Hà Nội, đã có chế độ đãi
ngộ người lao động ở mức độ nhất định, thể hiện ở các mặt như: Môi trường tự
nhiên, môi trường xã hội, đào tạo tay nghề, sinh hoạt [Phụ lục 3].
Qua khảo sát thực tiễn của tác giả cho thấy: Chế độ đãi ngộ của chủ
DNCVĐTNN của Nhật Bản đối với người lao động tương đối tốt so với DN mà chủ
đầu tư là các nước khác, đây là mô hình cần nhân rộng trong các DNCVĐTNN
95
trong KCN ở thành phố Hà Nội. Trong quá trình làm việc cho chủ DN nếu làm tốt
đúng quy định thì người lao động sẽ được hưởng tiền lương, tiền thưởng theo sức
lao động và thời gian lao động của mình. Tuy nhiên quá trình làm việc công nghiệp
hiện nay bên cạnh lợi ích vật chất thì người lao động cần được đảm bảo cả về môi
trường tự nhiên và môi trường xã hội. Nói chung các DNCVĐTNN nếu áp dụng các
máy móc thiết bị tiên tiến hiện đại, là những tư liệu lao động tốt thì người lao động
có lợi trong quá trình sản xuất. Vì vậy, người lao động yên tâm sản xuất, phát huy
khả năng lao động của mình, thể hiện:
Về môi trường tự nhiên: Các chủ DNCVĐTNN đã chú trọng đến điều kiện
làm việc của người lao động tại nhà máy như tiếng ồn, khói, bụi, đều nằm trong
phạm vi cho phép. Làm trong môi trường như vậy, không gây ảnh hưởng tới sức
khỏe của người lao động, tạo ra năng suất lao động cao cho DN.
Về môi trường xã hội: Một số DN đã quan tâm đến đời sống của người lao
động, có xe đưa đón nhân viên hàng ngày hoặc xây dựng những khu nhà tập thể cho
công nhân nghỉ giữa ca.
Về đào tạo nâng cao tay nghề: Từ góc độ coi các chi phí đào tạo là một phần
giá trị sức lao động, để người công nhân có một nghề nghiệp chuyên môn nhất định,
có thể coi những khóa học do DNCVĐTNN tổ chức, người lao động được nâng cao
trình độ chuyên môn, tay nghề nhằm đáp ứng được công việc hiện tại, đồng thời sẵn
sàng đảm nhiệm các công việc đòi hỏi trình độ cao hơn. Qua đó, người lao động
luôn có cơ hội phấn đấu nâng bậc lương, đảm bảo thu nhập ngày càng cao.
Đối với DNCVĐTNN: Hằng năm đa số các DNCVĐTNN có kế hoạch đào
tạo cho người lao động, một mặt, tổ chức các lớp đào tạo nâng cao tay nghề, nâng
cao ý thức trách nhiệm trong việc đảm bảo chất lượng sản phẩm cho toàn thể công
nhân tại DNCVĐTNN do các chuyên gia nước ngoài giảng dạy. Mặt khác,
DNCVĐTNN cũng chú trọng đào tạo lại và đào tạo nâng cao cho đội ngũ các cấp
quản trị, các chuyên gia trong từng lĩnh vực trong và ngoài nước, tạo niềm tin cho
họ trong quá trình bổ nhiệm các cấp quản trị cao hơn.
Về đời sống tinh thần: Tuy thời gian làm việc tuân thủ tác phong công
nghiệp nhưng các DNCVĐTNN đều quan tâm đến đời sống tinh thần của người lao
động. Hầu hết các DNCVĐTNN tại Hà Nội như công ty Canon và Công ty Yamaha
96
Motor đều có phòng sinh hoạt tập thể, là nơi để người lao động giao lưu văn hóa
văn nghệ trong những ngày lễ, tết. Ngoài ra, các DNCVĐTNN còn xây dựng các
khu hoạt động thể thao, rèn luyện thể chất, câu lạc bộ báo chí, trong các hoạt động
trên luôn có sự tham gia nhiệt tình của giới chủ DN.
Về hoạt động công đoàn: Trong BLLĐ đã quy định ở chương 13 về chức
năng nhiệm vụ của công đoàn. Bất cứ DNCVĐTNN nào khi được cấp giấy phép
kinh doanh đều phải thành lập tổ chức công đoàn, chậm nhất là sau 6 tháng. Thực tế
cho thấy, một số DNCVĐTNN hoạt động rất lâu nhưng không thành lập công đoàn
điển hình như công ty Coldtech là vi phạm luật lao động đã quy định. Bên cạnh đó,
một số các tổ chức công đoàn trong DNCVĐTNN không những thực hiện tốt vai trò
bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động mà còn tích cực trong việc xây dựng và
giám sát thực hiện đầy đủ các điều khoản trong Thỏa ước lao động tập thể đối với
chủ DN. Ngoài ra, tổ chức công đoàn còn đứng ra tổ chức cho người lao động được
tham quan nghỉ mát mỗi năm một lần. Đây là mô hình của phần lớn các công ty có
vốn Nhật Bản đầu tư với mục đích làm ăn lâu dài hai bên cùng có lợi tại Việt Nam.
Biểu 3.5: Các tổ chức đại diện đấu tranh cho người lao động trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
97
Phần lớn các cuộc đình công, bãi công của người lao động trong các
DNCVĐTNN thì đa phần tổ chức công đoàn sẽ đứng ra hòa giải và bảo vệ quyền
lợi và lợi ích cho người lao động.
Như vậy, ở nơi nào lợi ích như tiền lương, tiền thưởng các loại phụ cấp đã
được đảm bảo, người lao động yên tâm làm việc. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn
một số DNCVĐTNN vẫn chưa thật sự quan tâm đến người lao động, như không
nâng lương đúng kỳ hạn cho người lao động, cố tình lách luật để sa thải người
lao động… Do đó, cần tìm ra những vấn đề tồn tại đang diễn ra ở một số
DNCVĐTNN và các biện pháp khắc phục nhằm bảo vệ LIKT chính đáng của
người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN. Mặt khác, các DNCVĐTNN vì
mục đích lợi nhuận đặt ra những quy định không phù hợp với văn hóa Việt Nam,
áp dụng chính sách tại nơi làm việc không rõ ràng, xử lý kỷ luật, sa thải lao động
không đúng qui định là nguyên nhân gây ra các cuộc đình công, bãi công, tranh
chấp lao động.
3.2.2.3. Về nhà ở cho người lao động
Hàng năm, số lao động làm việc trong các KCN trên địa bàn Hà Nội đã
đi vào hoạt động tăng nhanh, chỉ tính năm 2006 gấp 5,6 lần năm 2001, năm
2012 tăng gấp đôi năm 2006. Tập trung đông nhất ở KCN Bắc Thăng Long với
60.581 người, chiếm 33% tổng số lao động trong các KCN trên địa bàn. Trong
đó, chủ yếu là lao động trẻ, lao động nữ và lao động di cư ở độ tuổi từ 18 - 35
tuổi [99]. Do đặc thù địa bàn KCN là rất ít nhà ở cho công nhân, nên phần lớn
công nhân phải đi thuê nhà trọ trong các làng, xã lân cận. Hằng năm, với một
số lượng người ngoại tỉnh (công nhân) ngày càng tăng, lực lượng công an
huyện, xã rất khó khăn trong việc quản lý địa bàn, không nắm rõ được nhân
khẩu trong các khu nhà trọ...
Qua khảo sát của tác giả luận án tại các DNCVĐTNN trên địa bàn thành
phố Hà Nội thì vấn đề nhà ở của người lao động thực sự chưa được các chủ DN
quan tâm.
98
Biểu đồ 3.6: Hoàn cảnh cư trú của người lao động trong các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Hà Nội
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Do DNCVĐTNN chưa có hệ thống nhà ở cho công nhân nên tỷ lệ người lao
động phần lớn là đi thuê nhà trọ chiếm 70,8% , người lao động phải đi thuê nhà gần
DN nơi mình làm việc.
Theo số liệu thống kê của Vụ quản lý các khu kinh tế (Bộ kế hoạch và đầu
tư), hiện nay số người lao động làm việc trực tiếp tại các KCN là gần 2 triệu,
ngoài ra còn hàng triệu lao động làm việc tại các xí nghiệp, cơ sở sản xuất thuộc
các cụm công nghiệp. Nhưng chỉ khoảng 20% công nhân là có việc làm ổn định,
còn khoảng 80% [101] đang phải đi thuê trong điều kiện ăn ở tồi tệ. Do chỗ ở tạm
bợ, không đảm bảo điều kiện sống tối thiểu, đã gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và
đời sống tinh thần của người lao động, đồng thời làm xáo trộn tình hình TTATXH
tại nhiều KCN.
Theo khảo sát của tác giả cho thấy: Ngoài thời gian làm việc căng thẳng ở
nhà máy thì cuộc sống của công nhân còn rất khó khăn, lương thấp, thời gian làm
việc kéo dài, cường độ lao động tăng, không có cơ hội phát triển nghề nghiệp…
Trong các DNCVĐTNN nằm trên địa bàn thành phố Hà Nội điển hình nhất là KCN
Bắc Thăng Long tại xã Kim Chung huyện Đông Anh, Hà Nội đã xây dựng và đưa
99
vào hoạt động khu nhà chung cư cho công nhân làm việc tại các DNCVĐTNN
trong KCN đó thuê làm nhà ở. Khu chung cư này được đưa vào sử dụng từ năm
2007, có 20 dãy nhà 5 tầng, 03 tòa 15 tầng tổng là 1008 phòng, có khoảng 3.200
công nhân thuê ở trong khu nhà ở xã hội. Đây cũng là mô hình nhà ở dành cho công
nhân mà KCN Bắc Thăng Long nói riêng và Hà Nội nói chung xây dựng nhằm giải
quyết và đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người lao động. Nhưng với số lượng phòng
hiện nay chỉ giải quyết được hơn 3.200/200.000 chỗ ở lao động (đã giải quyết được
16% chỗ ở cho người lao động) số còn lại (84%) người lao động phải tự đi thuê nhà
bên ngoài rất khó khăn [100]. Đây là một vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến LIKT
người lao động và là một trong những nguyên nhân dẫn tới đình công, bãi công gây
mất trật tự nơi công cộng.
Hiện nay, vấn đề nhà ở cho công nhân còn nhiều bất cập thể hiện:
Chất lượng nhà trọ cho công nhân thuê quanh KCN với chất lượng thấp,
không đảm bảo điều kiện vệ sinh, môi trường và sức khỏe cho người lao động. Hầu
hết không đảm bảo các chỉ tiêu như mật độ xây dựng, không có chỗ nấu ăn, chỗ giặt
nằm trong phạm vi phòng ở, các phòng thiếu ánh sáng, không có diện tích cây xanh,
không đảm bảo về diện tích bình quân đầu người, không có trần chống nóng; không
đảm bảo an toàn về phòng cháy.., ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, năng suất và
chất lượng lao động và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp.
Ngoài những mặt hạn chế trên, hiện nay các DNCVĐTNN phần lớn đều nằm
trong các KCN nên nhà ở cho người lao động đang là vấn đề bức xúc mà hầu hết
các DN chưa giải quyết được. Ở Hà Nội có 18 KCN, phải cần đến 160 ngàn chỗ ở
cho công nhân nhưng chỉ đáp ứng mới được 3.000 chỗ ở (khoảng 2%). Theo báo
cáo của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, hiện mới có khoảng 2% trong số hơn 1
triệu công nhân tại các KCN, của cả nước được thuê nhà do chủ DN và tổ chức
công đoàn xây dựng. Còn lại hơn 90% phải sống trong các khu nhà tạm bợ, thiếu
thốn, không đảm bảo an ninh trật tự, đời sống văn hóa, tinh thần nghèo nàn dễ phát
sinh các tệ nạn xã hội [100].
Thực tế sau sự đồ sộ, hiện đại của các KCN là một thế giới hoàn toàn trái
ngược, đó là các khu nhà ở chật hẹp, lộn xộn không theo một quy hoạch nào của
công nhân đang làm việc tại chính những KCN. Hầu hết các khu nhà trọ chỉ rộng
100
10-15m2, mái lợp phibrôxmăng, dột và ẩm thấp khi trời mưa, khi trời nắng lại
không khác gì lò nung, điện nước thiếu thốn, không đảm bảo tiện nghi sinh hoạt
bình thường và thời gian thuê nhà không ổn định. Họ cũng không mong gì hơn có
một nơi để "đặt lưng sau một ngày quần quật", bởi đồng lương chừng gần bốn triệu
đồng họ không được phép lựa chọn gì hơn. Muốn có thêm thu nhập người lao động
phải làm thêm, có thể cuộc sống mới tạm ổn. Công nhân phải sống tằn tiện thì cuối
tháng mới tiết kiệm 300.000 đồng - 500.000 đồng gửi về gia đình.
Tại các xã lân cận ở KCN Bắc Thăng Long xung quanh khu vực có khoảng
350 hộ có nhà cho thuê với số công nhân thuê khoảng 4.000 người (bằng 43,8% dân số toàn xã), diện tích ở bình quân 5m2/một người. Theo số liệu của Cục thống kê Hà
Nội, hàng năm, số lao động làm việc trong các KCN của Hà Nội đã đi vào hoạt
động tăng nhanh, chỉ tính năm 2010 gấp 5,6 lần năm 2005, tập trung đông nhất ở
KCN Bắc Thăng Long với 50.581 người, chiếm 50% tổng số lao động trong các
KCN trên địa bàn. Trong đó, chủ yếu là lao động trẻ, lao động nữ và lao động di cư
ở độ tuổi từ 18 đến 35 làm việc trong các DN. Do đó hiện nay nhà ở cho người lao
động là một vấn đề bức xúc, quan trọng cần được quan tâm và giải quyết [100].
3.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC HIỆN LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO
ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.3.1. Những kết quả đạt được
Trong những năm vừa qua, với hệ thống chính sách, pháp luật đúng đắn của
Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài,
nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã thực hiện đầu tư vào địa bàn thành phố Hà Nội, kết
quả của việc đầu tư này đã mang lại nhiều thành tựu đáng ghi nhận trong thực hiện
LIKT của người lao động, góp phần cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
thành phố Hà Nội. Cụ thể:
Thứ nhất: Giải quyết việc làm cho người lao động
Trước hết cùng với việc thu hút đầu tư, nhiều DNCVĐTNN đi vào hoạt
động trên địa bàn thành phố Hà Nội đã thu hút được một khối lượng rất lớn lao
động vào làm việc ở đây, việc thu hút lao động vào làm việc một mặt đã giải quyết
được những nhu cầu cấp bách bức xúc về việc làm đang đặt ra, góp phần làm bớt
101
nhu cầu căng thẳng về việc làm đang đặt ra ở nước ta và địa bàn thành phố Hà Nội
nói riêng trong tình hình hiện nay.
Thứ hai: Thu nhập của người lao động được tăng lên và khá ổn định
Thông qua việc lao động trong các DNCVĐTNN, người lao động đã có
được nguồn thu nhập khá ổn định và LIKT của những người lao động đã bước đầu
được thực hiện. Mặc dù mức thu nhập của những người lao động làm việc trong các
DNCVĐTNN còn ở mức thấp, song trong hoàn cảnh tình hình thực tế so với nhu cầu
chung của xã hội thì những khoản thu nhập của những người lao động đã góp phần
vào việc đáp ứng nhu cầu chung về cuộc sống trong xã hội khi nền kinh tế nước ta
chưa phát triển ở trình độ cao. Hơn nữa, không phải tất cả những người lao động làm
việc trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội đều có thu nhập thấp, đã
có nhiều DN trả công cho những người lao động ở mức cao so với mức thu nhập
trung bình chung của xã hội, đặc biệt đối với những người lao động có trình độ tay
nghề cao, làm việc trong các lĩnh vực đòi hỏi cần có sự hiểu biết nhiều về tri thức,
khoa học công nghệ.
Ngoài tiền công là nguồn thu nhập chính nhiều DNCVĐTNN cũng thực hiện
rộng rãi các hình thức trả thưởng để khuyến khích người lao động làm việc hăng
say, nhiệt tình có hiệu quả cho các chủ DN, LIKT của người lao động ở nhiều
DNCVĐTNN đã phản ánh thực chất hiệu quả lao động của họ đây cũng là sự thể
hiện rõ nguyên tắc phân phối theo mức độ đóng góp và cống hiến của những người
lao động. Từ đó khuyến khích, khích lệ những người lao động cần phải không
ngừng nâng cao trình độ tay nghề để mang lại hiệu quả kinh tế cho các chủ DN và
từ đó lợi ích của họ sẽ được đảm bảo hơn.
Thứ ba: Đời sống của người lao động được cải thiện
Trên cơ sở mức thu nhập của những lao động ở nhiều DNCVĐTNN có phần
cải thiện trong thời gian gần đây, đặc biệt là những lao động làm việc trong các DN
có đầu tư của Nhật Bản như Công ty Panasonic, Công ty TNHH HAL 3 Việt Nam.
Người lao động làm việc trong các DN này với mức lương trung bình là 7 triệu
đồng, nhiều người đã tiết kiệm được những khoản tiền gửi về cho gia đình, hoặc
mua sắm được những đồ dùng sinh hoạt đáp ứng nhu cầu cuộc sống của cá nhân và
gia đình. Đó là những thành tựu đáng ghi nhận những mặt tích cực trong việc thực
102
hiện LIKT cho những người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành
phố Hà Nội.
Thứ tư: Môi trường và điều kiện làm việc của người lao động được ngày
càng được cải thiện
Vì LIKT trực tiếp mà người lao động được hưởng, người lao động ở nhiều
DNCVĐTNN cũng đã bước đầu được các chủ DN quan tâm tới môi trường và điều
kiện làm việc. Bên cạnh các DNCVĐTNN có mức tiền công, tiền thưởng trả cho
người lao động quá thấp, không đảm bảo việc tái sản xuất sức lao động thì cũng có
nhiều DNCVĐTNN có mức tiền thưởng khá cao như Công ty TTHH HAL 3 Việt
Nam 100% vốn của Nhật Bản, chuyên sản xuất khuôn đúc và đúc nhôm cho ngành
ô tô đã thưởng 3 tháng lương cho người lao động vào dịp cuối năm. Ngoài việc
quan tâm tới đời sống vật chất, cuộc sống tinh thần và sự quan tâm tới gia đình,
người thân những người lao động cũng có bước đầu một số các DNCVĐTNN quan
tâm, hàng năm công ty đều tổ chức thăm quan, du lịch cho người lao động. Những
động thái này có tác dụng và có ý nghĩa to lớn đối với những người lao động làm
việc trong các DNCVĐTNN.
Nhìn chung mức tiền công, tiền thưởng mà các chủ DN trả cho người lao
động đã từng bước được nâng lên theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội về mức lương tối thiểu, nhờ đó mức sống và chất lượng lao động và gia đình
của họ cũng từng bước được cải thiện theo xu thế phát triển chung của xã hội. Đời
sống vật chất và tinh thần cũng như chất lượng cuộc sống của người lao động từng
bước được nâng lên ở nhiều DNCVĐTNN đã tạo điều kiện cho người lao động yên
tâm hơn gắn bó với DN. Trên cơ sở đó, giúp DNCVĐTNN có điều kiện để phát
triển sản xuất, góp phần ổn định xã hội, ổn định an ninh trật tự trên địa bàn Thủ đô.
3.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân
3.3.2.1. Những hạn chế
Một là: tiền lương, tiền thưởng còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu tối thiểu của
người lao động
Với mức lương hiện nay người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN
gần 4 triệu đồng/người/tháng, để có đủ năng lượng cho một ca lao động công
nghiệp, trung bình người công nhân phải có được và được bù đắp từ 3.500 - 4000
103
calo. Với mức giá sinh hoạt hiện nay ở Thủ đô, trung bình tiền lương để đạt mức
sống ấy phải là 5.000.000 - 5.500.000đ/người/tháng để đủ tái sản xuất sức lao động.
Nếu trước đây người lao động đình công đòi quyền của mình thì từ năm 2006 trở lại
đây, người lao động đình công có sự thay đổi từ đòi quyền sang đòi lợi ích. Các
cuộc đình công đều có chung mục đích đòi DN giải quyết: Tiền lương, tiền thưởng,
thời gian làm việc, nghỉ ngơi, bảo hiểm xã hội, định mức lao động và nguyên nhân
từ LIKT vẫn là nguyên nhân đầu tiên.
Hai là: Chủ DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội chưa quan tâm
thỏa đáng đến quyền lợi của người lao động
Về phụ cấp ăn trưa giữa ca cho người lao động: Nhiều DNCVĐTNN đã tổ
chức bữa ăn ca cho người lao động, tuy nhiên nhìn chung chất lượng bữa ăn còn
quá thấp, bữa ăn ca của người lao động chưa được giới chủ thật sự quan tâm. Ở một
số bếp tập thể suất ăn của người lao động chưa đảm bảo dinh dưỡng chỉ có
18.000đ/suất, đôi khi không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong điều kiện
nắng nóng, dẫn tới người lao động bị ngộ độc thức ăn phải đi cấp cứu. Chất lượng
bữa ăn không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và còn bị cắt xén khẩu phần, đây
cũng là hình thức xâm hại tới lợi ích của người lao động. Với suất ăn có giá hơn 10
nghìn đồng/bữa, nhưng trong bối cảnh giá cả tăng lên thì không khó hiểu nếu như
khẩu phần ăn bị cắt giảm. Người lao động mong muốn: không dám yêu cầu ngon,
bổ chỉ cần no và bảo đảm vệ sinh. Chất lượng bữa ăn với công nhân thực ra là vấn
đề không nhỏ, vì bữa ăn tại công ty là bữa ăn chính trong ngày.
Về chế độ thời gian lao động, môi trường làm việc, bảo vệ lao động đối với
người lao động: Hiện nay, một số DN vẫn còn sử dụng các hình thức vi phạm luật
lao động; kéo dài thời gian thử việc. Như DN đưa ra nhu cầu tuyển dụng khá chung
chung: Người lao động phải thử việc 3 tháng mới trúng tuyển, thậm chí có công ty
yêu cầu người sử dụng phải thử việc 6 tháng khi được tiếp nhận vào vị trí có trình
độ đại học như kế toán, nhân viên văn phòng (trong khi đó, BLLĐ quy định thử
việc không quá 60 ngày trình độ từ Cao đẳng trở lên). Ngoài những vi phạm về thời
gian thử việc, mức lương, các DN còn vi phạm ở các hình thức khác như: Không ký
hợp đồng lao động hoặc có ký hợp đồng lao động nhưng với những điều khoản
104
không rõ ràng; như tham gia đóng bảo hiểm xã hội; không tính lương khi người lao
động làm thêm giờ hay đi làm vào các ngày nghỉ, lễ, tết; phương tiện bảo hộ lao
động trang bị sơ sài, không đảm bảo điều kiện làm việc cho người lao động.
Về kéo dài thời gian thử việc: Theo BLLĐ tại Điều 26 quy định: Người sử
dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ
của hai bên trong thời gian thử việc, nếu có thỏa thuận về việc làm thử thì các bên
có thể giao kết hợp đồng thử việc [78, tr.24]. Điều 27 ghi rõ thời gian thử việc:
Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn,
kỹ thuật từ cao đẳng trở lên; không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh
nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp,
công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ; không quá 06 ngày làm việc đối với công
việc khác [78, tr.24-25].
Nhiều DN đã lợi dụng kẽ hở của BLLĐ để cố tình trì hoãn, vi phạm hoặc thực
hiện không đúng Luật lao động như: kéo dài thời gian thử việc, giao kết hợp đồng lao
động sai luật định, bắt buộc người lao động làm thêm giờ tùy tiện, định mức lao động
quá sức, không thực hiện nâng lương và trả thưởng trong dịp cuối năm, vi phạm luật
chi trả tiền lương làm thêm giờ, tiền phụ cấp làm ca đêm, phụ cấp độc hại.., khi
người lao động quá bức xúc thì dễ dẫn đến đình công tự phát.
Về cơ cấu giới tính và an sinh xã hội: Trong các DNCVĐTNN thì lao động
nữ chiếm đa số, nhiều vấn đề liên quan đến bảo vệ sức khỏe cho chị em không được
các chủ DN quan tâm. Một vấn đề nổi cộm cần được các chủ DN quan tâm hiện nay
của người lao động, đó là tình trạng mất cân đối giới tính trong các KCN. Do các
nhà đầu tư đều tập trung vào các ngành chế biến, dệt may, da giầy, nhằm khai thác
lao động phổ thông mà đa số là lao động nữ. Điều đó, làm mất cân bằng giới trong
KCN. Bên cạnh đó, do điều kiện làm việc căng thẳng trong các KCN tập trung, sau
khi tan ca họ chỉ về nhà trọ để nghỉ ngơi lấy lại sức khoẻ, không có thời gian và cơ
hội tiếp xúc với bên ngoài, dẫn tới nhiều lao động nữ đã lớn tuổi nhưng chưa xây
dựng gia đình hoặc ít có cơ hội để kết bạn... Với mức thu nhập thấp và điều kiện
nhà ở khó khăn hiện nay, người lao động rất thiếu điều kiện để thỏa mãn nhu cầu
vui chơi, giải trí, thể thao, nghỉ ngơi, học tập, giao lưu tình cảm. Đặc biệt, trong các
KCN có số lao động nữ nhiều, vấn đề hôn nhân và gia đình trở nên bức xúc nhưng
chưa được các DN, cơ quan, đoàn thể quan tâm thỏa đáng.
105
Như vậy, người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN nói riêng vẫn chưa
được quan tâm đúng mức. Đặc biệt là vấn đề nhà ở cho người lao động, vì không an
cư, khó "lập nghiệp", họ vẫn phải ở thuê trong những ngôi nhà không đảm bảo sức
khỏe. Bên cạnh đó, yếu tố tinh thần cũng rất quan trọng nhưng cũng chưa được quan
tâm xác đáng, như phim ảnh, báo chí, giao lưu văn hóa văn nghệ, đặc biệt yếu tố giới
tính của người lao động. Do đó, cần có những biện pháp nhằm cải thiện đời sống vật
chất cũng như tinh thần, để người lao động yên tâm làm việc cho DN.
- Ba là: Chất lượng nhà ở và đời sống tinh thần của người lao động
DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội chưa được bảo đảm
Về chất lượng nhà ở cho người lao động còn thấp: Sau thời gian làm việc
căng thẳng tại DN, người lao động cần có thời gian để nghỉ ngơi phục hồi sức khỏe
nhằm tái sản xuất ra sức lao động. Phần lớn người lao động làm việc trong các
DNCVĐTNN đều ở các khu nhà trọ chật chội, nóng bức về mùa hè, lạnh về mùa
đông, ẩm mốc, rất khó khăn thiếu thốn cho sinh hoạt hàng ngày.
Chưa quan tâm đến đời sống tinh thần của người lao động: Bên cạnh nhu cầu
vật chất là cần thiết đối với người lao động thì nhu cầu tinh thần cũng đóng vai trò
rất quan trọng. Trong nhiều DNCVĐTNN nhu cầu tinh thần thiết yếu của người lao
động không được thỏa mãn, nhiều công nhân chỉ biết "lầm lũi" với công việc theo
thời gian biểu lặp đi lặp lại: làm - ăn - ngủ.
Hiện nay, thành phố Hà Nội có 19 KCN - khu chế xuất với hơn 200.000 công
nhân, nhưng vấn đề chăm sóc đời sống cho người lao động tại các KCN sau giờ làm
việc như khu vui chơi giải trí, nhà văn hóa, thư viện, đặc biệt là chợ - nơi cung cấp
những nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người lao động vẫn chưa được quan tâm.
Điển hình như KCN Bắc Thăng Long (xã Kim Chung, Đông Anh) cũng chỉ có một
chợ tạm của thôn Bầu, nhếch nhác, bày bán những mặt hàng không rõ nguồn gốc, rẻ
tiền, không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Cách cầu Thăng Long khoảng 2km,
chợ tạm thôn Bầu được những công nhân ở đây ví là "chợ vòm ở Nga" với khoảng
40.000 người/1 chợ tạm, bởi mỗi ngày nó là nguồn cung cấp nhu yếu phẩm cho gần
20.000 lao động của KCN Bắc Thăng Long và trên 10.000 dân của xã Kim Chung.
Việc hình thành chợ tự phát tại đây là do các nhà quy hoạch KCN đã "quên" mất việc
106
xây dựng chợ phục vụ đời sống người lao động, sau giờ làm việc, hàng nghìn lao
động không biết mua thực phẩm ở đâu để phục vụ cuộc sống. Bên cạnh đó là thiếu
nhà trẻ trường học cho con em công nhân làm việc tại các KCN…
Như vậy, vẫn còn một số DNCVĐTNN vẫn chưa thật sự quan tâm đến người
lao động, như không nâng lương đúng kỳ hạn cho người lao động, cố tình lách luật
để sa thải người lao động… Do đó, cần tìm ra những vấn đề tồn tại đang diễn ra ở
một số DNCVĐTNN và các biện pháp khắc phục nhằm bảo đảm LIKT chính đáng
của người lao động trong các DNCVĐTNN. Mặt khác, các DNCVĐTNN vì mục
đích lợi nhuận đặt ra những quy định không phù hợp với văn hóa Việt Nam, áp
dụng chính sách tại nơi làm việc không rõ ràng, xử lý kỷ luật, sa thải lao động
không đúng quy định.
3.3.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế
Thứ nhất: Hệ thống cơ chế, chính sách bảo đảm LIKT của người lao động
chưa thực sự phù hợp, hoàn thiện. Chính sách tiền lương của Nhà nước chưa có cơ
chế điều tiết quan hệ giữa các ngành theo mức độ phức tạp của người lao động, dẫn
đến DNCVĐTNN ký kết hợp đồng lao động với người lao động không có sự khác
biệt về tiền lương giữa các ngành. Nhà nước còn thiếu cơ chế, thông tin quản lý thu
nhập trong các DNCVĐTNN; các biện pháp chế tài của Nhà nước chưa đủ mạnh để
buộc DN phải thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về thu nhập, dẫn đến
LIKT của người lao động chưa được bảo đảm, đặc biệt trong việc trả lương làm
thêm giờ, lao động nặng nhọc, nguy hiểm… Các văn bản pháp luật về đầu tư nước
ngoài và phát triển KCN còn thiếu đồng bộ, chưa theo kịp với sự phát triển của nền
kinh tế. Nhiều DNCVĐTNN đã "lách luật" để vi phạm lợi ích người lao động nhằm
thu lợi nhuận ngày càng cao.
Thứ hai: Đội ngũ lao động của Việt Nam còn yếu về trình độ năng lực
chuyên môn, rất nhiều người có trình độ học vấn thấp, ít được trang bị kiến thức
pháp luật về quyền và nghĩa vụ lao động, trình độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng
làm việc theo nhóm, chưa đáp ứng được yêu cầu SXKD cộng với ý thức chấp hành
kỷ luật, trong quá trình sản xuất vẫn còn thể hiện "tác phong nông nghiệp", môi
trường công nghệ, bị gò bó trong kỷ luật lao động công nghiệp, thu nhập thấp,
107
quyền lợi bị vi phạm nên dễ bị kích động dẫn tới phát sinh mâu thuẫn. Phần lớn
những người lao động do xuất thân từ nông thôn, chưa quen tác phong công nghiệp
nên hiện nay nhiều công nhân vẫn quen cách hành xử tùy tiện, thích thì làm, thích
nghỉ thì nghỉ. Bởi vậy, nâng cao nhận thức, rèn luyện tác phong công nghiệp cho
những "người thợ nông dân" chính là một nhiệm vụ cấp bách liên quan nhằm xây
dựng đội ngũ công nhân lớn mạnh đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
Trong quá trình làm việc ở một số công DN dệt may công nhân không đeo
khẩu trang vì trời nóng, mang khẩu trang vào rất khó chịu. Đối với các ngành thủy
sản, tiếp xúc hóa chất, ngành y tế khuyến cáo phải mang găng tay để tránh các bệnh
khớp hay hóa chất độc hại gây ảnh hưởng đến da nhưng công nhân vẫn không thực
hiện vì sợ vướng víu, làm giảm năng suất. Tại những nơi sản xuất có nhiều tiếng ồn
khi thấy cán bộ kiểm tra đến, công nhân đeo nút chống ồn vào nhưng khi cán bộ
quay lưng đi họ lại tháo ra. Nội quy của công ty là mang khẩu trang, buộc tóc gọn
gàng. Chủ yếu để đảm bảo an toàn cho chính người lao động, hơn nữa khi trang
phục gọn gàng thì năng suất, chất lượng sản phẩm cũng tăng lên. Tuy vậy, vẫn có
nhiều người lao động không thực hiện.
Thứ ba: Các tổ chức công đoàn cơ sở chưa phát huy hết được vai trò bảo vệ
quyền lợi chính đáng của người lao động. Trong quá trình hoạt động công đoàn cơ
sở trong DNCVĐTNN, đặt công đoàn trước mối quan hệ, DN, công đoàn và người
lao động, đã đặt cán bộ công đoàn trước sự lựa chọn khó khăn: Bảo vệ người lao
động hay tự bảo vệ mình? Một vấn đề đặt ra, nếu công đoàn cơ sở và DN không
chung tiếng nói thì khó tạo dựng được mối quan hệ lao động hài hòa trong DN và
công đoàn khó bảo vệ được quyền lợi người lao động. Hầu hết trong các
DNCVĐTNN cán bộ công đoàn cơ sở là kiêm nhiệm, hoạt động chủ yếu ngoài giờ,
hiếm có thời gian tập huấn nghiệp vụ công đoàn. Chủ DN không mặn mà với công
đoàn và chưa tạo điều kiện cho công đoàn hoạt động, còn người lao động cũng chưa
thiết tha với công đoàn, kinh phí hoạt động công đoàn hạn hẹp, dẫn tới là việc gì cũng
theo cơ chế xin cho. Thông thường, chủ DNCVĐTNN quan niệm cán bộ công đoàn
hưởng lương của họ thì không được phép yêu sách DN vì quyền lợi của người lao
động. Thực tế, nhiều cán bộ công đoàn chỉ vì nói thẳng, nói thật, để bảo vệ quyền lợi
108
của người lao động, không nghe theo sự áp đặt của lãnh đạo, nên đã bị giám đốc DN
trù úm, như tìm mọi cách vô hiệu hóa, nhiều lần buộc thuyên chuyển công việc với
mức lương ngày càng giảm, không được xét tăng lương và xét thưởng. Cần phải có
cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn khi bị chủ DN trù úm, sa thải.
Một số tổ chức công đoàn chưa thật sự có tiếng nói trong DN và chưa bảo vệ
được quyền lợi, lợi ích cho lao động, dẫn tới các cuộc đình công, bãi công của công
nhân trong các KCN. Công đoàn không phát huy được khả năng của mình bởi
quyền lợi của công đoàn gắn liền với quyền lợi của chủ sử dụng lao động, đặc biệt
là nhiều DNCVĐTNN vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tổ chức công đoàn nên chưa
tạo điều kiện thuận lợi cho công đoàn được thành lập. Thậm chí có trường hợp cán
bộ công đoàn cơ sở vì đứng ra bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động mà bị
chủ DN chấm dứt hợp đồng lao động, còn với công đoàn cấp trên cơ sở thì với cơ
chế như hiện nay, cấp này rất khó tiếp cận với người lao động. Một số các cuộc đình
công, bãi công khi đã xảy ra, công đoàn chưa kịp thời phối kết hợp với các cơ quan
chức năng, đặc biệt là với đồn Cảnh sát trong KCN, dẫn tới lợi ích người lao động
bị xâm hại, đồng thời gây mất ổn định TTATXH trên địa bàn.
Thứ tư: Tăng lượng lao động trong các DNCVĐTNN dẫn đến vượt quá khả
năng quản lý của các cơ quan chức năng gây mất TTATXH trên địa bàn, thể hiện
các loại tệ nạn ngày càng gia tăng, như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm... Bên
cạnh đó, số lượng lao động tạm trú với số lượng lớn, cũng gây khó khăn cho công
tác quản lý nhân khẩu, hộ khẩu trên địa bàn.
Thứ năm: Các DNCVĐTNN đầu tư vào thành phố Hà Nội đều nhằm mục
đích hướng tới thu lợi nhuận ngày càng cao. Để tối đa hóa lợi nhuận buộc các
nhà đầu tư phải giảm chi phí sản xuất, trong đó chủ DNCVĐTNN dùng cách tận
dụng quá mức cho phép sức lao động của công nhân làm thuê, hạn chế tới mức
thấp nhất các chi phí đảm bảo cho điều kiện lao động tối thiểu như: Nhà xưởng,
môi trường, tiếng ồn...
3.3.3. Những vấn đề đặt ra về lợi ích kinh tế của người lao động trong
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Hội
Lợi ích kinh tế của người lao động chưa được bảo đảm, dẫn tới nhiều tác
109
động xấu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trước
hết nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất tinh thần của người lao động và gia
đình họ. Do xung đột lợi ích giữa giới chủ và người lao động, các cuộc đình công
thường xuyên xảy ra ở DNCVĐTNN, phần lớn các cuộc đình công chủ yếu đều
xoay quanh những vấn đề cần giải quyết như: Tăng lương, tăng phụ cấp, nâng cao
chất lượng bữa ăn, tăng các chế độ phúc lợi xã hội, điều kiện làm việc.
Đời sống người lao động gặp rất nhiều khó khăn, trong bối cảnh lương công
nhân thấp, chỉ số tiêu dùng tăng cao, lợi ích của người lao động chưa được giải
quyết hài hòa, tình trạng vi phạm luật lao động của nhiều chủ DN như trả chậm
lương, nợ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội. Về thu nhập của người lao động trong các
DNCVĐTNN bao gồm tiền lương công việc và các khoản tiền làm thêm giờ, trợ
cấp, phụ cấp, hỗ trợ từ DN như tiền ăn ca, tiền chuyên cần, tiền thưởng…
3.3.3.1. Lợi ích kinh tế của người lao động chưa bảo đảm được các nhu
cầu sống tối thiểu, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần người lao động
Phần lớn các DN trong quá trình sản xuất đều trang bị bảo hộ lao động đảm
bảo an toàn cho công nhân. Theo nhận định của lãnh đạo Viện nghiên cứu khoa học
kỹ thuật bảo hộ lao động, có 80% số trang thiết bị đang bán trên thị trường không
đảm bảo chỉ tiêu an toàn, điều này cực kỳ nguy hiểm cho tính mạng và sức khoẻ của
người lao động. Vi phạm nhiều nhất là trường hợp chiếc khẩu trang, loại trang thiết
bị bảo hộ lao động thông dụng nhất với nhiều ngành nghề. Đa số các DNCVĐTNN
sử dụng những khẩu trang được may bằng vải phin, dày 2 - 3 lớp chỉ có khả năng
chống bụi hạt to, giá khoảng 3.000đ - 7.000đ/cái, trong khi đó loại khẩu trang do
Viện Bảo hộ lao động nghiên cứu, đảm bảo khả năng chống bụi, nhất là ở môi
trường dễ mắc bệnh bụi phổi Silic có giá 32.000đ/cái. Nguy hiểm hơn cả là việc
không rõ ràng giữa các chủng loại trang thiết bị dành cho các ngành nghề đặc thù,
đang trực tiếp ảnh hưởng tới sức khoẻ của người lao động. Không ít trường hợp
người lao động chỉ được trang bị ủng thường, thay vì ủng chống xăng dầu ăn mòn, sự
chênh lệch giá giữa 2 loại này là 25.000đ và 110.000đ. Qua đó cho thấy, sự chênh
lệch giá cả giữa bảo hộ lao động đủ và không đủ tiêu chuẩn. Các DNCVĐTNN đã
dùng loại bảo hộ lao động không đủ tiêu chuẩn, với chi phí giá thấp mà vẫn được
110
đánh giá trang bị đầy đủ cho người lao động. Hằng năm, số vụ tai nạn lao động và
người mắc bệnh nghề nghiệp vẫn không suy giảm, đặc biệt là người lao động hay
mắc các bệnh như bụi phổi silic, amiăng, phổi bông, nhiễm độc benzene, điếc do
ồn… Điều đó, cho thấy rằng, nhiều DNCVĐTNN đã cố tình không chịu chi phí cho
sản xuất bắt buộc và chưa thật sự quan tâm đến sức khoẻ của người lao động.
3.3.3.2. Lợi ích kinh tế của người lao động và chủ doanh nghiệp chưa
được giải quyết hài hòa, dẫn tới phát sinh mâu thuẫn
Các DNCVĐTNN trong quá trình SXKD đều có mục đích thu được lợi
nhuận tối đa, muốn thực hiện được điều đó phải giảm chi phí sản xuất, trong đó lợi
ích người lao động bị cắt giảm. Theo số liệu của Vụ Lao động - Tiền lương, Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội: Số các vụ đình công những năm gần đây trên toàn
quốc, chủ yếu xảy ra ở các DNCVĐTNN, năm 2005: 135 cuộc; năm 2006: 387
cuộc; năm 2007: 541 cuộc; năm 2008: 603 cuộc; năm 2009: 219 cuộc; năm 2010:
424 cuộc; năm 2011 là 220 cuộc; năm 2012: 309; năm 2013: 355 cuộc, 2 tháng đầu
năm 2014 có 30 cuộc đình công, bình quân mỗi năm cả nước có gần 245 cuộc đình
công, trong đó gần 90% số cuộc đình công, bãi công nguyên nhân chính liên quan
đến tiền lương [104]. Cần phải khẳng định, đình công là một hiện tượng kinh tế xã
hội tồn tại khách quan mà người lao động thực hiện nhằm đòi hỏi, bảo vệ quyền lợi
chính đáng của họ theo quy định của pháp luật. Phần lớn, lý do mà các công nhân
đưa ra để họ tổ chức đình công ở tất cả các DNCVĐTNN đều tập trung vào các vấn
đề như lương quá thấp không lo đủ cho cuộc sống phải làm tăng ca, điều kiện làm
việc, sinh hoạt không đảm bảo, chất lượng bữa ăn; thực hiện một số nội quy, quy
định quá khắt khe đối với người lao động không những không khuyến khích người
lao động tăng năng suất mà còn tác động ngược trở lại.
Bên cạnh mô hình đầu tư của phần lớn các DNCVĐTNN đến từ Nhật Bản có
nhiều ưu việt thì vẫn còn các nhà đầu tư đến từ Hàn Quốc, Đài Loan.., và một số DN
Nhật Bản trong quá trình đầu tư vì mục tiêu thu lợi nhuận cao đã không thực hiện
đúng và đầy đủ các quy định của BLLĐ. Những việc làm này đã gây phản ứng trong
xã hội, là nguyên nhân chính dẫn đến các cuộc đình công, làm mất TTATXH và tạo
ra cái nhìn không thiện cảm với các DNCVĐTNN ở thành phố Hà Nội.
111
Sự phát triển của nền kinh tế diễn ra ngày một năng động, thúc đẩy thị trường
phát triển mạnh mẽ khiến các DNCVĐTNN cạnh tranh nhau gay gắt và để chiếm ưu
thế trên thị trường buộc các chủ DN phải tìm mọi biện pháp tăng năng suất lao động,
hạ chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, trong khi đó người lao động lại muốn
được cải thiện điều kiện lao động, tăng lương, thưởng và các chế độ khác sẽ dẫn đến
mâu thuẫn phát sinh giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Điển hình là cuộc đình công xảy ra vào tháng 4/2010: gần 1.000 công nhân
công ty TNHH Young Past Việt Nam (khu công nghiệp Thạch Thất, Quốc Oai, Hà
Nội) đình công để phản đối một số chính sách của công ty liên quan đến việc không
thực hiện đúng cam kết khi tuyển lao động. Hoặc vụ đình công xảy ra vào ngày 5 và
6/5/2010: hơn 800 công nhân công ty Katolec (KCN Quang Minh, Mê Linh, Hà
Nội) chuyên sản xuất vi mạch điện tử đã đồng loạt nghỉ việc, tập trung trước cổng
công ty đình công để yêu cầu tăng lương cơ bản thêm 500.000 đồng/tháng, nghỉ
phép không bị trừ tiền chuyên cần [104].
Công ty Canon, ngày 7.6.2012, hàng ngàn công nhân ca đêm của nhà máy
Canon ở KCN Bắc Thăng Long, Hà Nội đã đồng loạt đình công để yêu cầu chủ tăng
lương, giảm giờ làm và cải thiện điều kiện làm việc. Các công nhân đã bao vây,
chặn lối ra vào Công ty đòi tăng lương, giảm giờ làm, đặc biệt là các công nhân ca
đêm của nhà máy Canon bắt đầu ca làm việc của mình từ 9 giờ tối và kết thúc vào 6
giờ sáng. Nhưng vào 4 giờ sáng ngày 7 tháng 6, toàn bộ công nhân ca này đã đồng
loạt ngừng làm việc và hô hào yêu cầu được tăng lương và cải thiện điều kiện làm
việc. Các công nhân của nhà máy Canon đều bất bình về điều kiện làm việc của nhà
máy, lương của công nhân thấp so với sản lượng, cường độ lao động cao, đo đó
công nhân mới đình công. Do DN lắp đặt thêm nhiều thiết bị, máy móc vào dây
chuyền sản xuất, trong khi nhân lực lại không được tăng cường, có bộ phận còn bị
cắt giảm nên công nhân thường xuyên phải làm việc 9 tiếng/ ngày, thời gian nghỉ
giải lao giữa ca quá ít từ 7 - 8 phút không đảm bảo phục hồi sức khỏe. Nếu người
lao động đi làm vào ca muộn vài phút là bị quản đốc mắng chửi thậm tệ, xúc phạm
công nhân.
Tháng 4 năm 2013, điển hình là vụ đình công của hơn 1.000 công nhân Công
ty Yangmin Enterprise - chuyên sản xuất phụ tùng xe máy của Đài Loan - Trung
112
Quốc có trụ sở tại Đông Anh. Lý do đình công của người lao động bị chủ DN buộc
phải làm việc thêm 2 giờ/ngày, làm thêm thứ bảy hoặc chủ nhật. Ngày 8.4.2013, từ
7h sáng hàng trăm công nhân của Công ty TNHH DOOJUNG Việt Nam (KCN Phú
Nghĩa, huyện Chương Mỹ, Hà Nội) đã đình công đòi lãnh đạo công ty này trả lời
việc không đóng bảo hiểm cho công nhân, đuổi việc những người có thai, làm tăng
ca quá nhiều… Tại Công ty TNHH DOOJUNG Việt Nam, các công nhân bức xúc
cho biết trong thời gian qua lãnh đạo đã đuổi việc các công nhân nữ đang có bầu.
Lý do được lãnh đạo công ty này đưa ra là vì những công nhân này không ở lại tăng
ca theo sự chỉ đạo của lãnh đạo công ty (mỗi ngày thường tăng ca từ 4-5 tiếng).
Nhiều công nhân cho biết, trong thời gian vừa qua Công ty đã bắt người lao động
làm việc quá thời gian quy định so với Luật Lao động, nếu công nhân không làm
tăng ca thì sẽ bị đuổi việc. Nhiều công nhân đã phải làm liên tục từ 7h sáng đến 5h
sáng của ngày hôm sau, nhiều lao động nữ trong thời gian mang thai đã bị chủ DN
cho nghỉ việc do không đáp ứng nhu cầu công việc là làm tăng ca [104].
Vụ đình công tại công ty Home Appliances Việt Nam ở KCN Thăng Long,
Đông Anh, Hà Nội vào ngày 27 tháng 1 năm 2013, lý do người lao động đình công
đó là đòi tăng lương, họ không chịu nổi mức lương "bèo bọt", lương của công nhân
suốt một năm qua chỉ có 3,4 triệu đồng cộng với phụ cấp chuyên cần 100 nghìn
đồng, phụ cấp đi lại là 100 nghìn đồng và phụ cấp nhà ở 60 nghìn đồng; Với số
lương ít ỏi đó so mức sống và giá cả sinh hoạt hiện nay, họ phải trang trải cuộc sống
của mình rất khó khăn [104].
Do những quan hệ lợi ích giữa người lao động và các DNCVĐTNN không
được giải quyết thỏa đáng, lợi ích của người lao động bị xâm hại đã dẫn tới nhiều
cuộc bãi công, đình công của công nhân. Nguyên nhân chủ yếu gây ra mâu thuẫn
giữa người sử dụng lao động trong các DNCVĐTNN và người lao động thường liên
quan đến điều kiện và môi trường làm việc, thời gian làm việc, tiền lương. Do sự khác
biệt về tập quán kinh doanh, về phong tục, về sinh hoạt văn hoá, chủ DNCVĐTNN
đã quen với cơ chế thị trường, với sự cạnh tranh gay gắt, với quan hệ của ông chủ
và người làm thuê.., những điều này đối với người lao động Việt Nam còn khá mới
mẻ nên đôi khi đã xảy ra xung đột giữa chủ DNCVĐTNN và người làm thuê. Mặt
khác, do sự bất đồng về ngôn ngữ giữa người quản lý DNCVĐTNN và người lao
113
động đã gây ra những bất lợi cho cả hai phía, gây nên những hiểu lầm lẫn nhau.
Nhìn chung, nguyên nhân của những cuộc đình công của công nhân trong
các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội chủ yếu do:
Thứ nhất: Chất lượng cuộc sống của người lao động còn thấp
Đây chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng đình công của công
nhân với mức độ và quy mô ngày một lớn, tính chất ngày một phức tạp hơn, đặc
biệt là sự lan truyền từ DN này sang DN khác, từ KCN này sang KCN khác.
Thực tế cho thấy, do chất lượng cuộc sống quá thấp nên người lao động mới
phải đình công. Lương thấp, định mức làm việc, điều kiện làm việc khắc nghiệt
(môi trường làm việc ô nhiễm, tiếng ồn, khói, bụi; làm thêm giờ, tăng ca quá mức
cho phép, áp lực tai nạn lao động luôn rình rập). Theo Uỷ ban các vấn đề xã hội của
Quốc hội thì 90% các cuộc đình công nhằm mục đích yêu cầu chủ DN khi sử dụng
lao động bảo đảm quyền lợi về tiền lương, tiền thưởng, thời gian làm việc, nghỉ
ngơi và các chế độ xã hội khác như bảo hiểm, ký kết hợp đồng lao động…
Thực trạng tồn tại là ở nhiều nơi DN chưa có chế độ tiền lương, thưởng xứng
đáng, chưa chăm sóc đúng mức cuộc sống cho người công nhân. Bữa ăn trưa và
giữa ca còn nghèo nàn, đạm bạc, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, không
đảm bảo tái tạo sức lao động, nước uống thiếu, quản lý lao động hà khắc. Bên cạnh
đó, vấn đề đang gây nhiều bức xúc hiện nay là an toàn lao động, cùng với đình
công, các vụ tai nạn lao động liên tiếp xảy ra gây thiệt hại về người và của. An toàn
lao động đã không được coi trọng, an toàn thực phẩm bữa ăn của công nhân càng bị
coi nhẹ. Như công ty TNHH Asmsthongs (KCN Nội Bài) công nhân phải tự túc bữa
cơm trưa với đồng lương quá ít ỏi.
Thứ hai: Thu nhập của người lao động thấp
Trong quá trình hoạt động nhiều DNCVĐTNN còn tồn tại tình trạng trả
lương, thưởng "treo", đã gây nhiều bức xúc. Một số DNCVĐTNN thưởng theo kiểu
đánh đố chỉ phát thưởng cho những người làm việc đến hết ngày 28 Tết. Đây là một
trong những hình thức các chủ DN áp dụng để cắt xén của công nhân. Tiền thưởng
Tết quá ít, ở nhiều đơn vị là 500.000 đồng - 1.000.000 đồng, một số DNCVĐTNN
còn "treo" một nửa ra ngoài Tết mới trả.
114
Thứ ba: Chưa xử lý nghiêm các DNCVĐTNN vi phạm Bộ luật Lao động
Nguyên nhân dẫn đến đình công tiếp tục xảy ra ngày càng tăng còn do
nhiều vụ việc vi phạm BLLĐ nhưng chưa được xử lý đúng mức với hậu quả gây
ra, định mức chế tài chưa đủ để các DNCVĐTNN "sợ", phần lớn theo hình phạt
cho tồn tại. Mức phạt quá thấp so với mức độ thiệt hại và số tiền phải bỏ ra nếu
đầu tư phương tiện bảo hộ lao động.., nên xảy ra một nghịch lý, nhiều
DNCVĐTNN muốn đóng phạt hơn là đầu tư thiết bị an toàn lao động và chăm lo
cuộc sống cho người lao động. Để khắc phục tình trạng này, cần có những biện
pháp phạt đúng mức, thậm chí nếu cần thiết, cần phải xử lý hình sự những vụ vi
phạm BLLĐ gây hậu quả nghiêm trọng.
Vấn đề xung đột lợi ích giữa một bên là người lao động, một bên là nhà đầu tư
nước ngoài là vấn đề không chỉ mang tính kinh tế mà còn mang tính chính trị - xã hội,
gây ấn tượng không tốt về lao động và môi trường đầu tư của thành phố Hà Nội.
3.3.3.3. Lợi ích kinh tế của người lao động chưa bảo đảm đủ tái sản xuất
sức lao động, dẫn đến nảy sinh các hiện tượng tiêu cực
Song song với sự gia tăng của các KCN thì sự gia tăng số lượng lao động
đến từ các miền quê khác nhau, do ở tập trung với số lượng đông, ngoài giờ làm
việc người lao động không có nơi sinh hoạt tập hoặc vui chơi giải trí nên con đường
dẫn đến các tệ nạn xã hội là điều không tránh khỏi. Trong địa bàn có nhà ở của công
nhân hoặc các khu nhà trọ gần KCN các tệ nạn xã hội ngày một gia tăng, các đối
tượng phần lớn là công nhân:
Một là: Tệ nạn cờ bạc
Đặc điểm ở các KCN là nơi ở của rất đông người lao động ở những miền quê
khác nhau, ngoài thời gian làm việc ở DN ra, thời gian nghỉ ngơi hay tụ tập đông
người, dẫn tới đánh bài, đánh bạc. Điển hình:
Khoảng 14h ngày 06.10.2012 Công an thị trấn Chi Đông bắt quả tang vụ
đáng bạc bằng hình thức sóc đĩa ăn tiền tại trạm bơm cánh đồng Bến thuộc thị trấn
Chi Đông - Mê Linh. Bắt tại chỗ 06 đối tượng, thu giữ tại chỗ 06 đánh bạc 5 triệu
đồng, thu trong người các đối tượng 4.050.000đ, 10 điện thoại, 3 xe máy và dụng cụ
phục vụ cho việc đánh bạc gồm; 1 bát, 1 đĩa, 04 quân bài [74]. Hiện nay, đã khởi tố
115
vụ án và các bị can theo quy định. Các đối tượng tham gia đánh bạc ăn tiền đều là
công nhân và lái xe cho các công ty trong KCN Quang Minh. Ngoài ra trong các
khu nhà trọ số vụ đánh bạc ngày càng gia tăng, do các công nhân nam ngoài giờ lao
động ra không biết làm gì, trong khi đó lại sống tập trung ở các khu nhà trọ. Vì vậy,
lực lượng Cảnh sát cần tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ khu ở của công nhân
nhằm giữ gìn trật tự.
Hai là: Tệ nạn mại dâm trong các khu công nghiệp
Ở trong các KCN, do số lượng lao động nữ chiếm phần lớn, nên cũng là nơi
nảy sinh các tệ nạn xã hội trong đó có tệ nạn mại dâm. Điển hình: Vào khoảng 11h
ngày 08.06.2014, đội Cảnh sát hình sự bắt quả tang vụ mại dâm tại nhà nghỉ Năm
Sơn ở tổ 8, thị trấn Quang Minh, Mê Linh, Hà Nội. Bắt quả tang tại phòng số 5 và
số 6 hai đôi nam nữ đang mua bán dâm, hai đối tượng nữ đều là công nhân làm việc
trong KCN Quang Minh [74]. Qua lấy lời khai của các đối tượng đều cho rằng vì
lương công nhân thấp không đủ trang trải cuộc sống, các nữ công nhân đã chấp
nhận bán dâm để có thêm thu nhập cải thiện cuộc sống.
Ba là: Trộm cắp
Trong các khu nhà trọ do số lượng người thuê ở đông dẫn đến tình trạng mất
ổn định TTATXH. Một số kẻ gian lợi dụng trà trộn vào khu ở của công nhân với
nhiều thủ đoạn để ăn cắp tài sản, hoặc cũng có một số đối tượng là công nhân lợi
dụng sơ hở trộm cắp tài sản của nhau. Điển hình: Vào khoảng 13h15’ ngày
28/10/2013, tại thị trấn Chi Đông xảy ra vụ trộm cắp tài sản. Bị hại có để chiếc xe
máy Wave RS ở sân nhà trọ, xe có khóa cổ khóa càng, khi ngủ dậy thì phát hiện xe
đã bị mất, trị giá tài sản khoảng 15.000.000đ (theo lời khai của bị hại). Sau khi nhận
được tin báo Công an thị trấn Chi Đông đã tiến hành điều tra xác minh sự việc, đến
ngày 01/11/2010, thì làm rõ đối tượng trộm cắp xe máy là người trọ cùng phòng.
Đối tượng khai nhận sau khi lấy trộm được xe đã mang xe đi cầm cố tại hiệu cầm
đồ ở phố Vọng, Hai Bà Trưng, Hà Nội được 2 triệu đồng để ăn tiêu [74]. Hiện công
an đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với đối tượng trên.
Bốn là: Gây thương tích xuất phát từ mâu thuẫn trong đời sống của công
nhân. Chính vì ở tập trung số lượng công nhân quá đông trong các nhà trọ và do
116
không có người quản lý, cho nên trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày khó tránh
khỏi những va chạm, dẫn đến những mâu thuẫn, điển hình: Khoảng 21h15’ ngày
27.5.2013, tại thị trấn Quang Minh xảy ra vụ cố ý gây thương tích [74]. Sau đó, cơ
quan điều tra đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối tượng, vụ việc được điều tra, khởi tố theo
quy định của pháp luật.
Như vậy, trong các khu trọ của công nhân bên cạnh những người lao động
chấp hành tốt những quy định của nơi tạm trú thì vẫn còn không ít những trường
hợp lợi dụng chỗ ở tập thể đông người đã có hành vi vi phạm pháp luật, gây mất
TTATXH trong các khu vực người lao động ở trọ. Đối tượng vi phạm pháp luật đa
phần là công nhân làm việc tại các KCN. Khi bị bắt các đối tượng đều khai do
lương thấp cộng với nhu cầu tiêu dùng cao dẫn tới thực hiện các hành vi vi phạm.
Do đó, lực lượng Công an cơ sở đóng vai trò rất quan trọng, nắm bắt tình hình,
phòng ngừa ngăn chặn và xử lý những đối tượng vi phạm nhằm giữ gìn TTATXH
trên địa bàn.
Trong 6 tháng đầu năm 2014, sau hàng loạt vụ việc gây rối an ninh trật tự ở
các KCN tại một số tỉnh phía Nam. Đây cũng là bài học kinh nghiệm của các cơ
quan quản lý KCN (các DNCVĐTNN) trong cả nước nói chung và địa bàn thành
phố Hà Nội nói riêng.
Từ sự việc trên, Công an thành phố Hà Nội đã chỉ đạo quyết liệt các đơn vị
nghiệp vụ, triển khai nhiều biện pháp đồng bộ, đảm bảo môi trường an ninh, an
toàn, tạo điều kiện cho các DN nước ngoài đầu tư hoạt động ổn định. Với sự vào
cuộc tích cực của lực lượng Công an, thời gian qua các DNCVĐTNN đã duy trì
hoạt động sản xuất một cách hiệu quả, đặc biệt là ngăn ngừa triệt để tình trạng đình,
lãn công quy mô lớn, duy trì tình hình an ninh trật tự ổn định [109].
Đối với KCN, đặc biệt là KCN Quang Minh là nơi tập trung nhiều công ty
nước ngoài hoạt động, Công an huyện Mê Linh xác định, việc ngăn ngừa tình trạng
đình công, lãn công là nhiệm vụ hàng đầu. Trước tiên là công tác nắm tình hình
phải chặt chẽ; tiếp đó là công tác tuyền truyền vận động; cuối cùng là việc phối hợp
với các Công đoàn cơ sở đề phòng ngừa ngăn chặn những đối tượng xấu lợi dụng
cuộc đình công, lãn công của người lao động làm mất trật tự an ninh trong khu vực.
117
KCN Quang Minh hiện có 159 DN hoạt động, trong đó có đến 81 công ty
100% vốn đầu tư nước ngoài. Cao điểm, có hơn 30.000 công nhân làm việc trong
KCN, tình hình an ninh trật tự từ đó cũng có những diễn biến phức tạp, đặc biệt là
tình trạng trộm cắp tại các cơ sở sản xuất. Tại KCN Bắc Thăng Long, lực lượng
Công an cũng xác định, mâu thuẫn về hợp đồng lao động, quyền lợi của lãnh đạo và
công nhân là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tình trạng đình công, lãn công.
Lực lượng Công an phải tham mưu và giám sát việc thực hiện các chính sách,
quyền lợi, hợp đồng lao động cho công nhân, đồng thời đối với khu vực nhà ở, công
tác đảm bảo an ninh trật tự và tuyên truyền cũng phải tiến hành thường xuyên, giao
cho công an xã, công an khu vực và chính quyền địa phương nắm bắt tình hình. Có
biện pháp ngăn ngừa kịp thời các đối tượng lợi dụng các cuộc đình công quy mô
lớn, các hoạt động gây rối, kích động, làm ảnh hưởng đến các DN cũng như người
lao động, ảnh hưởng đến môi trường ổn định, an toàn.
118
Chương 4
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM LỢI ÍCH KINH TẾ
CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
4.1. NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN NHẰM BẢO ĐẢM LỢI ÍCH KINH TẾ
CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
4.1.1. Lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài phải bảo đảm tái sản xuất sức lao động và cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần của người lao động
Trong quá trình sản xuất, sức lao động là yếu tố cơ bản quyết định đến năng
suất và chất lượng sản phẩm. Để phát huy tiềm năng của hàng hóa sức lao động -
một loại "hàng hóa đặc biệt" - phải bảo đảm cho người lao động có cuộc sống ổn
định. Trong quá trình sản xuất đã tỏ ra rất chăm chỉ, khéo léo và thông minh, đây là
yếu tố hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Do vai trò quan trọng của sức lao
động trong việc tạo ra lợi nhuận, nên trong quá trình SXKD, các DNCVĐTNN đều
có chiến lược: Chăm lo đời sống cho người lao động cả về vật chất và tinh thần, để
khi vào giờ làm việc họ thật sự yên tâm và dồn hết khả năng vào công việc, đem lại
lợi nhuận cao nhất cho DNCVĐTNN. Người lao động làm việc trong các
DNCVĐTNN đó, phần lớn đều được bảo đảm LIKT, thông qua tiền lương, tiền trợ
cấp, tiền thưởng cho những sáng kiến cải tiến… Chính đây là yếu tố quan trọng để
họ yên tâm gắn bó làm việc trong DNCVĐTNN.
Trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và các nước
trên thế giới, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi
cho các DNCVĐTNN, đồng thời cũng chú trọng tới lợi ích thiết thực của người lao
động. Đây là vấn đề tác động trực tiếp tới sự phát triển toàn diện của mỗi người, góp
phần xây dựng con người của chế độ xã hội mới, tạo động lực để thúc đẩy người lao
động quan tâm đến kết quả lao động. Xác định quy định làm việc của người lao động
là vấn đề quan trọng, được thể hiện trong Văn kiện Đại hội X (2006):
119
Tiếp tục hoàn chỉnh thể chế thị trường lao động, bảo đảm hài hòa
lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động. Đổi mới hệ thống
bảo hiểm xã hội, đa dạng hóa hình thức bảo hiểm và phù hợp với kinh tế
thị trường; xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp, thực hiện tốt chế độ
bảo hộ lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động [31, tr.216].
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI (2011): "Thực hiện tốt các chính sách về
lao động, việc làm, tiền lương, thu nhập nhằm khuyến khích và phát huy cao nhất
năng lực của người lao động. Bảo đảm quan hệ lao động hài hòa, cải thiện môi
trường và điều kiện lao động" [32, tr.125].
Tư tưởng quan tâm tới LIKT của người lao động, tập trung giải quyết tốt
chính sách lao động, việc làm và thu nhập được khẳng định trong Văn kiện Đại hội
XI (2011):
Kiên quyết khắc phục những bất hợp lý về tiền lương, tiền công, trợ
cấp xã hội phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước… Gắn tiền
lương của người lao động với hiệu quả kinh doanh của DN. Chăm lo bảo hộ
lao động, cải thiện điều kiện làm việc; hạn chế tai nạn lao động; tăng cường
thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật lao động, đưa việc
thi hành pháp luật lao động vào nền nếp; xây dựng quan hệ lao động ổn định,
hài hòa và tiến bộ [32, tr.228].
Nội dung của Chỉ thị số 22-CT/TW của Ban bí thư TW về xây dựng quan hệ
hài hòa, ổn định, tiến bộ trong DN chỉ rõ: Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng,
trong những năm qua nền kinh tế nước ta liên tục tăng trưởng cao, vốn đầu tư nước
ngoài tăng nhanh, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích
cực, hàng năm tạo nhiều việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động trong
các DN ngày càng được cải thiện, từng bước hình thành quan hệ lao động lành
mạnh trong DN, xuất hiện nhiều mô hình, nhiều DN có quan hệ tốt. Đó là kết quả
của việc thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN từng bước được hoàn thiện
như công tác quản lý Nhà nước, Tổ chức công đoàn đã trở thành người đại diện, bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động, giúp DN ổn định và phát triển SXKD.
Tiếp đó là Chỉ thị số 06/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường
120
chấp hành pháp luật lao động, xác định đúng trách nhiệm của các cấp chính quyền ở
địa phương theo quy định của pháp luật đối với các cuộc đình công của người lao
động xảy ra không đúng trình tự của pháp luật trên địa bàn, từ đó đề ra những biện
pháp thực hiện để tiếp tục chỉ đạo trong thời gian tới, nhằm hạn chế xảy ra tranh
chấp lao động.
Tuy nhiên, trong thời gian qua, tình trạng tranh chấp lao động dẫn đến đình
công tự phát có xu hướng gia tăng với quy mô, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, xã
hội và môi trường đầu tư, làm thiệt hại cho người lao động, cho DN và cho cả nền
kinh tế. Do đó: Cần tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước; có chương trình, kế hoạch đào tạo nâng cao trình độ
chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật cho công
nhân, chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động, hoàn thiện
chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quy hoạch các KCN, khu chế
xuất gắn với quy hoạch của khu dân cư, có giải pháp phát triển nhà ở và hạ tầng xã
hội nhằm cải thiện đời sống của người lao động. Bảo đảm LIKT cho người lao động
gắn liền với cải thiện điều kiện làm việc sẽ là động lực thúc đẩy DNCVĐTNN phát
triển, tác động trực tiếp tới sự gắn bó lâu dài của người lao động với DNCVĐTNN.
Đối với người lao động, một môi trường làm việc bảo đảm cho nhu cầu cuộc
sống và cân bằng công việc luôn là mong muốn của họ, mà không phải ép họ lựa
chọn hy sinh cái này để có cái khác. Quy chế quá cứng nhắc của DNCVĐTNN,
cộng thêm áp lực công việc chính là nguyên nhân khiến nhiều người lao động phải
lựa chọn rời bỏ công việc đang làm. Đây là vấn đề quan trọng mà các chủ
DNCVĐTNN đang rất quan tâm, vì nếu lao động bỏ việc, dây chuyền sản xuất sẽ bị
đình trệ, chủ DNCVĐTNN sẽ phải tốn nhiều chi phí để tuyển dụng lao động mới.
Mất đi một người thợ giỏi, năng suất lao động sẽ giảm theo, trong khi các chi phí
sản xuất lại không thay đổi mà có chiều hướng tăng lên. Do áp lực về kì hạn thời
gian giao hàng không thay đổi, để theo kịp, DN buộc phải tăng ca kéo dài giờ làm.
Khi tìm được người mới lại phải tiếp tục mất thêm một khoảng thời gian để người
lao động thích nghi.
Vấn đề môi trường lao động đã được các chủ DNCVĐTNN xếp vào mối
121
quan hệ của chuỗi kinh doanh bền vững. Ngoài mức lương, chính sách phúc lợi, họ
còn quan tâm đến điều kiện làm việc người lao động. Cụ thể là: Đảm bảo hạn chế
thấp nhất tiếng ồn, mức độ khói, bụi.., trong phạm vi cho phép; Nhà xưởng được
thông thoáng, đạt tiêu chuẩn về nhiệt độ, độ ẩm…
Văn hóa DN cũng là một vấn đề rất đáng được quan tâm trong hầu hết các
DNCVĐTNN lớn hiện nay. Nhiều DNCVĐTNN chú ý hơn tới việc tổ chức sinh
nhật cho công nhân, thăm hỏi họ khi ốm đau. Ngày càng có nhiều hơn các hoạt
động giao lưu thể thao, ca nhạc.., được các công ty tổ chức giúp người lao động
thấy thoải mái sau giờ làm việc căng thẳng. Sự quan tâm tới cuộc sống bên ngoài
công việc của công nhân còn đem lại kết quả tốt hơn hẳn những chính sách mang
tính bề nổi, bởi nó làm cho công nhân có cảm giác ở DNCVĐTNN họ vừa làm việc,
vừa sinh hoạt như ở gia đình.
Điều kiện làm việc của người lao động còn phải được thể hiện ở việc sử
dụng bảo hộ lao động, việc đảm bảo vệ sinh an toàn lao động, an toàn thực phẩm.
Nhiều DNCVĐTNN đã quá chú trọng lợi nhuận của mình, dẫn đến cắt giảm chi phí
sản xuất, nên vẫn chưa thực sự quan tâm đến việc trang bị bảo hộ lao động cho công
nhân, họ sử dụng thiết bị bảo hộ lao động trôi nổi trên thị trường, kém chất lượng
dẫn tới những tai nạn đáng tiếc, gây bức xúc trong tập thể người lao động. Việc sử
dụng thực phẩm không đảm bảo chất lượng cho bữa ăn ca trong các DN cũng dẫn
tới những hậu quả khôn lường, như ngộ độc thức ăn cho hàng loạt công nhân.
4.1.2. Bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn chặt chẽ với hoàn thiện chính sách,
pháp luật của Nhà nước
Để bảo đảm LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN thì vấn đề
hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước luôn được chú trọng theo hướng
phù hợp với thực tiễn Việt Nam và có tính đến thông lệ quốc tế. Chính sách tiền
lương trong các DNCVĐTNN phải được đổi mới, hoàn thiện theo hướng coi tiền
lương trả cho người lao động là sự đầu tư vào vốn nhân lực, là yếu tố quyết định
năng lực cạnh tranh của DN. Do vậy các DN phải luôn chú trọng đầu tư cho nguồn
nhân lực của DN.
122
Xây dựng nền kinh tế từ sản xuất nhỏ, lực lượng lao động Việt Nam tuy
nhiều nhưng chất lượng không cao, trình độ chuyên môn thấp, trên 75% lao động
chưa qua đào tạo, người lao động quen với lề thói làm việc tự do, tính tự giác thấp,
tính tự phát cao nên ý thức kỷ luật lao động kém. Do đó, các DNCVĐTNN khi sử
dụng lao động Việt Nam để đạt được mục đích kinh doanh có lãi thì trước hết, họ
phải đào tạo tay nghề cũng như ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm với công việc
cho người lao động. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động là một yếu
tố quan trọng quyết định đến năng suất lao động của DN, qua đó ảnh hưởng đến
hiệu quả SXKD và LIKT của người lao động.
Trước nguy cơ tụt hậu về khả năng cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa,
hơn bao giờ hết, yếu tố tay nghề cần được các DNCVĐTNN nhận thức một cách
đúng đắn và sử dụng hiệu quả hơn. Các DNCVĐTNN cần chú trọng đến việc đào
tạo kỹ năng sáng tạo, kỹ năng thích ứng với những biến đổi không ngừng của khoa
học kỹ thuật, công nghệ mới và nhu cầu luôn thay đổi của thị trường thế giới. Như
vậy, việc đào tạo nghề, nâng cao ý thức trách nhiệm cho người lao động không
những đem lại hiệu quả cho DNCVĐTNN mà còn giúp cho người lao động tăng thu
nhập, ổn định việc làm, phát huy tính sáng tạo, làm chủ khoa học kỹ thuật, tự tin
trong công việc.
Trong môi trường hội nhập quốc tế, Đảng ta đã đề ra chủ trương:
Phát triển mạnh mẽ hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh
quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp,
các vùng kinh tế động lực…Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy
nghề, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới [32, tr.96].
Hiện nay công tác dạy nghề ở thành phố Hà Nội ngày càng mở rộng và nâng
cao những vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. Kết quả khảo sát cho thấy, nhu cầu
tuyển dụng lao động có tay nghề, chuyên môn kỹ thuật của DN chiếm 80%, trong
khi nguồn cung ứng chỉ đáp ứng 10%. Chính vì thế, Nhà nước đang đầu tư mạnh
trên cơ sở quy hoạch lại mạng lưới dạy nghề, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng
đào tạo. Mục tiêu từ nay đến năm 2020 sẽ có 50%-60% lao động qua đào tạo, 2/3
trong số này là lao động qua đào tạo nghề. Để thực hiện mục tiêu cũng như tháo gỡ
123
những hạn chế trong đào tạo nghề, cần phải có chính sách đào tạo và sử dụng nguồn
nhân lực hiệu quả trên cơ sở dự báo thông tin thị trường, quản lý nguồn nhân lực; có
chiến lược quy hoạch, đầu tư mạnh cho dạy nghề phù hợp với phát triển kinh tế.
Lợi ích kinh tế của người lao động được bảo đảm phải trên cơ sở gắn kết chặt
chẽ với chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước đây là quan điểm có ý nghĩa thiết
thực trước mắt cũng như lâu dài đối với bảo đảm LIKT cho những người lao động
làm việc trong các DNCVĐTNN, nó thể hiện tính đúng đắn, nhất quán của Đảng và
Nhà nước ta trong việc quan tâm đối với sự phát triển toàn diện về mọi mặt đối với
người lao động. Việc quán triệt quan điểm này sẽ có tác dụng to lớn trong việc biến
các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trở thành hiện thực, có tác dụng rất
thiết thực đối với việc mang lại LIKT cho người lao động.
Hệ thống các quan điểm chính sách và những quy định của Nhà nước liên
quan đến các hoạt động đầu tư nước ngoài ở nước ta bao gồm các chính sách về tài
chính, tiền tệ, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách thu hút đầu tư. Trong đó có
các chủ trương chính sách về thu nhập liên quan đến LIKT của người lao động làm
việc trong các DN và lợi ích của nhà đầu tư. Nhà nước điều hành và giám sát các
hoạt động của DN và nhà đầu tư trên phương diện quản lý Nhà nước về kinh tế, các
chính sách, pháp luật thể hiện sự quan tâm ưu đãi đối với người lao động phải được
quán triệt và thực thi nghiêm túc trong các DNCVĐTNN.
Trong quan hệ thu hút đầu tư nước ngoài chính sách pháp luật cũng là yếu tố
tác động đối với thái độ của nhà đầu tư và cũng có tác động ảnh hưởng đối với
LIKT của những người lao động. Để điều chỉnh hành vi kinh doanh của các nhà đầu
tư và thái độ của nhà đầu tư đối với người lao động, Nhà nước cần phải có một hệ
thống luật quy định về hoạt động đầu tư, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, khuyến khích và ưu đãi đầu tư, quản lý
Nhà nước về đầu tư. Môi trường pháp lý đối với hoạt động đầu tư bao gồm toàn bộ
các văn bản, quy phạm pháp luật có liên quan đến các hoạt động đầu tư, từ hiến
pháp cơ bản đến các đạo luật cụ thể. Nhà nước giữ một vai trò quan trọng trong xây
dựng hệ thống chính sách pháp luật và tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận
lợi. Trong hệ thống chủ trương chính sách, có chính sách liên quan đến vấn đề thu
124
nhập, tiền lương, LIKT của những người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN.
LIKT của người lao động phải được thực hiện trên cơ sở quan điểm chủ trương
chính sách pháp luật của Nhà nước và phải gắn kết chặt chẽ với các hệ thống luật
pháp đã được ban hành như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Lao động v.v…
4.1.3. Bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động trong doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài nhằm duy trì hoạt động lâu dài của doanh nghiệp
Thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 05.6.2008 của Ban Bí thư về tăng cường
công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ
trong DN. Để chủ động hoàn thiện môi trường pháp lý hướng hoạt động đình công tại
các DN diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp trên cơ
sở thực hiện quan hệ lao động hài hoà, ổn định giữa người lao động và người sử dụng
lao động, đồng thời bảo đảm ổn định môi trường đầu tư và TTATXH.
Các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội mang lại nhiều lợi ích đối
với sự phát triển kinh tế xã hội cho Thủ đô Hà Nội và cả nước nói chung, góp phần
làm tăng GDP hàng năm cho đất nước, tạo nhiều sản phẩm hàng hóa đáp ứng cho
nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, cho phép tận dụng và giải phóng mọi
nguồn tiền này của địa phương vào mục tiêu phát triển sản xuất, đặc biệt các DN đã
tạo ra một số lượng rất lớn việc làm để thu hút hàng vạn lao động và làm việc góp
phần giải quyết những nhu cầu cấp thiết về việc làm đặt ra cho địa bàn Thủ đô và
các địa phương tiếp giáp thuộc khu vực đồng bằng Bắc bộ, nâng cao thu nhập cho
người lao động, góp phần phát triển và ổn định đất nước. Bên cạnh một số hạn chế
lợi ích trong hoạt động của các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội là rất
lớn, vì vậy việc không ngừng duy trì và tiếp tục mở rộng quy mô của các
DNCVĐTNN đảm bảo duy trì hoạt động lâu dài của các DNCVĐTNN ở địa bàn
Thủ đô là cần thiết. Bảo đảm LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN
nhằm duy trì hoạt động lâu dài của DN. DN có tồn tại và phát triển tốt hay không là
phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó nguồn nhân lực để duy trì mọi hoạt động
sản xuất giữ vai trò quan trọng, Lênin đã khẳng định: "Lực lượng sản xuất số một
của nhân loại là công nhân là người lao động". Để người lao động tiếp tục duy trì và
tái tạo lại năng lực lao động cho các DN đòi hỏi họ phải được bù đắp lại năng lực
125
lao động đã tiêu hao và những nhu cầu thiết yếu để bù đắp lại sức lao động đã tiêu
hao là cần thiết. Việc bảo đảm LIKT cho người lao động là nhằm thoả mãn những
nhu cầu thiết yếu cần thiết đối với người lao động. Khi LIKT của người lao động
được bảo đảm ổn định thoả đáng, người lao động sẽ yên tâm gắn bó lâu dài với DN
nhằm duy trì hoạt động sản xuất lâu dài của DN và sự tồn tại của DNCVĐTNN vừa
mang lại lợi ích cho các chủ DN nhưng đồng thời cũng tạo ra nhiều lợi ích đối với
sự phát triển của Thủ đô Hà Nội và địa bàn cả nước nói chung.
4.1.4. Bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động trong doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài phải thông qua thỏa ước tập thể và phát huy vai trò của
tổ chức công đoàn
Quan hệ giữa các chủ thể trong DNCVĐTNN ảnh hưởng trực tiếp đến LIKT
của chủ DN, LIKT của người lao động và lợi ích của quốc gia. Do đó, xây dựng
mối quan hệ này có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trong việc bảo đảm thực hiện LIKT
của người lao động trong các DNCVĐTNN, Nhà nước đóng vai trò quan trọng, tuy
nhiên các chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước sẽ đi vào thực tế và được
hiện thực hoá trong thực tế hơn nếu đi liền với việc ban hành các chủ trương chính
sách, tập thể những người lao động trong các DN còn có được tiếng nói chung về
quyền và lợi ích chính đáng của mình. Vì vậy bên cạnh vai trò của Nhà nước với tư
cách là "bà đỡ", là trọng tài thì tập thể những người lao động cần có sự thống nhất ý
chí và hành động của mình. Trong khuôn khổ pháp luật để yêu cầu các chủ DN đáp
ứng những nhu cầu và nguyện vọng chính đáng cho mình, người lao động làm việc
trong các DNCVĐTNN tuỳ theo đặc điểm điều kiện sản xuất, môi trường làm việc,
tính chất, mức độ nặng nhọc của công việc. Người lao động có thể thực hiện những
kiến nghị tập thể đề xuất và yêu cầu các chủ DN thực hiện những nguyện vọng
chính đáng của mình để nhằm bảo đảm LIKT chính đáng của chính bản thân và gia
đình mình. Để bảo đảm quyền lợi chính đáng cho mình tập thể những người lao
động cần có tiếng nói chung, phải thống nhất ý chí và hành động trên cơ sở, khuôn
khổ pháp luật cho phép. Sự thống nhất ý chí sẽ tạo ra sức mạnh để yêu cầu các chủ
DN đáp ứng những nguyện vọng chính đáng của những người lao động. Để bảo
đảm sự chắc chắn và chặt chẽ về quyền lợi của mình những yêu cầu và đòi hỏi của
126
những người lao động đối với các nhà đầu tư phải có cơ sở pháp lý dựa trên cơ sở
khuôn khổ pháp luật (không trái với những quy định của luật). Sự thoả thuận và điều
hoà lợi ích giữa những người lao động với các chủ DN phải được thực hiện bằng
những cam kết thông qua các văn bản mang tính pháp lý có sự thoả thuận ký kết giữa
các bên và bảo đảm bằng sự chứng thực của các cơ quan chức năng có thẩm quyền.
Khi những thoả thuận về quan hệ lợi ích giữa những người lao động với các
nhà đầu tư được thực hiện sẽ mang lại lợi ích cho cả đôi bên. Về phía người lao
động khi lợi ích chính đáng được bảo đảm sẽ giúp họ yên tâm hơn trong việc tham
gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ DN. Đối với chủ DN cũng
sẽ có được lợi ích nhờ quá trình lao động nhiệt tình lao động của những người lao
động mang lại cho DN.
Để bảo đảm kết hợp LIKT của người lao động đối với lợi ích của các chủ
đầu tư cần xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà và tiến bộ giữa chủ DN và người
lao động cần phải làm cho người lao động và các chủ DN thấy được giữa lợi ích của
những người lao động và lợi ích của các chủ DN có mối quan hệ, tác động qua lại.
Khi người lao động có được lợi ích thì DN cũng có lợi ích và sự ngược lại DN quan
tâm tới lợi ích chính đáng của người lao động cũng chính là quan tâm tới lợi ích và
kết quả lao động sản xuất của bản thân DN. Vì vậy, vấn đề này cần được sự quan
tâm ở cả hai phía người lao động và các chủ DN, bao quát rộng hơn là sự quan tâm
của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội.
Việc bảo đảm LIKT cho người lao động trong các DNCVĐTNN phải được
thực hiện trên cơ sở xây dựng mối quan hệ lao động mới theo hướng bảo đảm hài
hoà ổn định và tiến bộ, trong các DNCVĐTNN ở các KCN là vấn đề mang tính
chiến lược lâu dài nhưng đồng thời cũng mang tính cấp thiết. Xét về xu thế phát
triển và khả năng hội nhập quốc tế của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai đòi hỏi
chúng ta cần phải có những quy định cụ thể chặt chẽ về quan hệ lao động Việt Nam
làm việc trong các DNCVĐTNN. Mặt khác, trước những đòi hỏi cấp thiết về việc
bảo đảm LIKT cho người lao động hiện tại cũng cần phải có những chủ trương để
đáp ứng LIKT cho người lao động trong giai đoạn hiện tại. Như vậy, xây dựng mối
quan hệ thân thiện giữa người lao động với các chủ DN cũng đòi hỏi cần phải có lộ
127
trình cụ thể phù hợp với từng giai đoạn phát triển về lâu dài cần phải có một thể chế
hoàn hảo nhưng trước mắt phải có những quy định tạm thời để xây dựng mối quan
hệ tiến bộ giữa chủ DN và người lao động.
Xây dựng mối quan hệ lao động mới giữa các DN với những người lao động
theo hướng bảo đảm hài hoà, ổn định và tiến bộ trong các DNCVĐTNN đòi hỏi cần
phải triệt để phát huy vai trò của tổ chức công đoàn, công đoàn phải thật sự là lực
lượng tổ chức bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của những người lao
động đồng thời là lực lượng đóng vai trò cầu nối gắn kết và điều hoà các mối quan hệ
giữa những người lao động với các chủ DN. Để làm tốt chức năng của mình tổ chức
công đoàn phải thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động, thuyết phục để người lao
động và các chủ DN nhận thức rõ hơn vai trò của mình trong việc xây dựng mối quan
hệ mới tiến bộ giữa người lao động với các chủ DN theo hướng tiến bộ nhằm mang lại
lợi ích cho cả hai bên. Việc xây dựng quan hệ với tiến bộ này Nhà nước có vai trò đặc
biệt quan trọng Nhà nước không chỉ là "trọng tài", mà còn là "bà đỡ" cho sự hình thành
quan hệ lao động mới, hài hòa giữa các bên. Nhà nước không chỉ ban hành chính sách,
pháp luật, nghị định.., đảm bảo bình đẳng, công bằng giữa các chủ thể trong quan hệ
lao động tại các DNCVĐTNN, đồng thời giúp đỡ các DNCVĐTNN, người lao động
thực hiện tốt chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà nước.
4.2. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM BẢO ĐẢM LỢI ÍCH KINH TẾ
CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
4.2.1. Nhóm giải pháp về phía Nhà nước
4.2.1.1. Hoàn thiện môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội
Lợi ích kinh tế của người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN trước
hết tùy thuộc vào khả năng phát triển mở rộng, hay thu hẹp của các DNCVĐTNN.
Khả năng này lại phụ thuộc vào việc thu hút nguồn vốn đầu tư vào địa bàn. Nếu
nguồn vốn đầu tư vào thành phố Hà Nội tăng lên, số lượng các DNCVĐTNN tăng
lên, quy mô các DNCVĐTNN được mở rộng sẽ dẫn tới nhu cầu thu hút nguồn lao
động gia tăng, lượng cầu lao động tăng lên thì LIKT của người lao động được bảo
128
đảm hơn. Ngược lại, nguồn vốn FDI đầu tư vào địa bàn giảm sút, dẫn tới khả năng
phát triển của các DN sẽ bị hạn hẹp, nhu cầu thuê mướn lao động sẽ giảm, các chủ
đầu tư sẽ khắt khe hơn trong thuê mướn lao động (tiền công thuê lao động sẽ giảm)
và LIKT của người lao động sẽ không được bảo đảm tốt hơn.
Hiện nay, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới,
cộng đồng các nước ASEAN được thiết lập, Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược
xuyên Thái Bình Dương (viết tắt tiếng Anh là TPP - Trans - Pacific Strategic
Economic Partnership Agreement); đặc biệt là Cộng đồng kinh tế ASEAN (viết tắt
tiếng Anh là AEC - ASEAN Economic Community) sẽ được thành lập vào cuối
năm 2015, đây vừa là cơ hội thuận lợi cho người lao động có trình độ cao trên địa
bàn thành phố Hà Nội tự do di chuyển đến những nơi có nhu cầu lao động với điều
kiện làm việc tốt nhất, tiền công cao, chế độ ưu đãi hấp dẫn. Nhưng vừa là thách
thức lớn đối với người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp sẽ khó kiếm
được việc làm, nguy cơ thất nghiệp rất cao. Do đó, môi trường kinh doanh cho các
DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội ngày càng được cải thiện, thông
thoáng sẽ tạo điều kiện cho các DN hoạt động hiệu quả cao, thu hút lực lượng lao
động tham gia, tăng thu nhập cho người lao động.
Môi trường kinh doanh có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động của
các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Để cải thiện môi trường kinh
doanh trước hết phải không ngừng hoàn thiện thể chế kinh tế, hệ thống pháp luật,
các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạt động của các
DNCVĐTNN; cần xây dựng theo hướng thông thoáng có sức hấp dẫn đối với các
nhà đầu tư, cần tạo ra những điều kiện ưu đãi cho phép giúp các nhà đầu tư thực
hiện các quy trình, thủ tục thuận lợi trong việc tham gia hoạt động đầu tư. Phải tiếp
tục hoàn thiện môi trường thể chế chính sách, điều chỉnh những điều khoản chưa
hợp lý trong Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Công đoàn, sao cho vừa phù
hợp với điều kiện thực tế của thành phố Hà Nội, vừa đảm bảo LIKT của người lao
động và chủ DN. Cần rà soát lại các thủ tục, quy trình cấp phép đầu tư và các quy
chế trong hoạt động SXKD, cắt bỏ những khâu trung gian không cần thiết, các thủ
tục gây phiền hà cho các nhà đầu tư. Môi trường thể chế cho việc thu hút vốn tạo ra
những điều kiện tốt giúp các nhà đầu tư nước ngoài không quá khắt khe nhưng phải
129
chặt chẽ loại bỏ các đối tượng lợi dụng đầu tư nhằm xâm hại tới lợi ích quốc gia và
làm mất TTATXH. Do đó, cần có sơ đồ quy hoạch dự án dành riêng cho các
DNCVĐTNN, công khai trên các phương tiện thông tin. Điều này sẽ giúp cho các
DNCVĐTNN sẽ yên tâm đầu tư và người lao động cũng dự báo đón trước những
ngành nghề có nhu cầu, giảm được việc đào tạo chạy theo tâm lý đám đông, dư luận
xã hội. Bên cạnh đó, UBND thành phố Hà Nội cần tiếp tục đầu tư nâng cấp xây
dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật phục vụ SXKD của các
DNCVĐTNN, như: Hệ thống đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước cho thành
phố, hệ thống bến cảng Sông Hồng, sân bay, thông tin liên lạc… Từ đó, tạo ra môi
trường kinh doanh hấp dẫn hơn.
Hơn nữa, môi trường kinh doanh được ổn định, an toàn, an ninh chính trị và
TTATXH được bảo đảm, không có tội phạm, tệ nạn, khủng bố, sẽ tạo sự yên tâm
cho hoạt động của các DNCVĐTNN. Vì vậy, thành phố Hà Nội cần tiếp tục phối
hợp với các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, phát hiện những tổ chức, cá
nhân có hành vi vi phạm pháp luật, phải được ngăn chặn kịp thời.
Để bảo đảm sự ổn định về chính trị phải tăng cường vai trò lãnh đạo của
Đảng, chính quyền sở tại. Sự ổn định về chính trị là khẳng định vai trò uy tín của
Đảng lãnh đạo đối với xã hội, uy tín đó thể hiện ở chủ trương đường lối và vai trò
trong việc thực hiện đường lối, uy tín của Đảng đối với dân càng được củng cố tăng
cường, mối quan hệ giữa Đảng với dân càng gắn bó mật thiết thì càng tạo ra sự ổn
định vững chắc về chính trị. Việc bảo đảm an ninh chính trị và TTATXH có liên
quan mật thiết thì càng tạo ra sự ổn định vững chắc về chính trị; gắn với chức năng,
nhiệm vụ của lực lượng Công an nhân dân và các cơ quan bảo vệ pháp luật. Do vậy,
để có được một môi trường kinh doanh thuận lợi, lực lượng Công an nhân dân phải
nâng cao vai trò và ý thức trách nhiệm đối với việc giữ gìn an ninh chính trị và bảo
đảm TTATXH ở địa bàn cần xác định rõ việc bảo đảm giữ gìn an ninh quốc gia và
bảo đảm TTATXH không chỉ đơn thuần vì mục tiêu giữ gìn an ninh trật tự bảo đảm
cuộc sống bình yên, ổn định cho mọi người dân, mà còn có vai trò ý nghĩa to lớn
đối với việc phát triển kinh tế thu hút đầu tư nước ngoài ở trong địa bàn dân cư.
Cần tạo lập môi trường đầu tư, SXKD thuận lợi cho các DNCVĐTNN luôn
đảm bảo ổn định về chính trị, kinh tế cho hoạt động SXKD của các nhà đầu tư nước
130
ngoài. Giảm thiểu các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian cấp giấy phép, tạo mọi
điều kiện giúp DNCVĐTNN triển khai dự án nhanh chóng, tập trung nguồn lực
phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ.
4.2.1.2. Hoàn thiện cơ chế, chính sách hoạt động của các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội để bảo đảm lợi ích cho
người lao động
Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tới LIKT của người lao động, điều đó
được thể hiện ở việc xây dựng môi trường thể chế, việc hoạch định các chủ trương,
chính sách đối với người lao động. Các chủ trương, chính sách được ban hành bảo
đảm LIKT cho người lao động, cùng với các chủ trương, quy chế bảo đảm LIKT
cho người lao động và những chế tài xử lý các vi phạm của các chủ đầu tư được
thực hiện tốt, sẽ giúp cho LIKT của người lao động được bảo đảm tốt hơn. Đây
được xem là căn cứ để dự báo khả năng bảo đảm LIKT của người lao động nhưng
đồng thời cũng là giải pháp để thực hiện LIKT cho những người lao động.
Do đó, để tạo thuận lợi cho các DNCVĐTNN hoạt động thì trước hết
thành phố Hà Nội cần chủ động và quyết liệt chỉ đạo các cơ quan quản lý nhà nước
trên địa bàn tăng cường sự phối kết hợp cả trong xây dựng, triển khai thực hiện và
tiếp tục quá trình hoàn thiện chính sách; chủ động "lắng nghe thông tin phản hồi và
hành động"; tiếp thu kiến nghị và kịp thời chỉnh sửa, tháo gỡ những vướng mắc, bất
cập về cơ chế chính sách, gây khó khăn cho DNCVĐTNN.
Nhằm bảo đảm LIKT cho những người lao động làm việc trong các
DNCVĐTNN thì thành phố Hà Nội cần quan tâm nhiều hơn đến việc ban hành các
chế tài cụ thể để xử lý những DNCVĐTNN vi phạm đến quyền và lợi ích chính
đáng của những người lao động.
Thành phố Hà Nội cần xây dựng lộ trình chiến lược, quy hoạch, sử dụng hợp
lý vốn đầu tư FDI. Chính sách ưu tiên đối với các DNCVĐTNN sử dụng nhiều lao
động, công nghệ hiện đại, đầu tư vào lĩnh vực, ngành nghề có giá trị kinh tế cao,
chú trọng đến công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp sản xuất, phát triển hạ tầng.
Thành phố Hà Nội cần thể chế hóa hệ thống cơ chế, luật pháp, chính sách
liên quan đến hoạt động của DNCVĐTNN, theo hướng quy định trách nhiệm của
131
chủ DNCVĐTNN có sử dụng lao động giản đơn phải bố trí thời gian và điều kiện
để mỗi người lao động có thể vừa học vừa làm, nâng cao trình độ chuyên môn,
nhận thức hiểu biết pháp luật. Thực hiện tốt nội dung này góp phần lợi cho
DNCVĐTNN, vì làm giảm thiểu nguy cơ do hiểu biết không đúng dẫn đến xung
đột, hành động tự phát của những người lao động giản đơn. Nhà nước và các cơ
quan chức năng không phải chi phí giải quyết, người lao động cũng yên tâm làm
việc có thu nhập ổn định.
Tiếp tục rà soát, chỉnh sửa các bộ luật (như BLLĐ; Luật Đầu tư, Luật Bảo
hiễm xã hội…) liên quan đến lợi ích người lao động, các chính sách ưu đãi đầu tư,
chính sách thuế.., nhằm ngày càng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các Nhà đầu tư
nước ngoài, đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của người lao động.
Các cơ quan chức năng cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát hoạt động SXKD
của DNCVĐTNN. Trong quá trình thực hiện SXKD các chủ DNCVĐTNN vì mục
đích lợi nhuận luôn hạ chi phí sản xuất dẫn tới: Gây ô nhiễm môi trường, cố tình sử
dụng các công nghệ lạc hậu, bắt tay với nhau để chuyển giá, trốn thuế, tranh chấp
quyền lợi giữa chủ DNCVĐTNN và người lao động, chủ DNCVĐTNN đối xử hà
khắc với người lao động. Do đó cần phải đào tạo, xây dựng đội ngũ kiểm tra, kiểm
soát đủ trình độ, năng lực phẩm chất, trang bị những phương tiện kỹ thuật tiên tiến,
hiện đại để kịp thời phát hiện ra những sai phạm, tạo cơ sở để xử lý nghiêm minh
những DNCVĐTNN vi phạm pháp luật.
Triển khai thực hiện đa dạng hóa, linh hoạt hoạt động đối ngoại, xây dựng
tình hữu nghị đoàn kết giữa thành phố Hà Nội với cộng đồng người nước ngoài
đang làm việc sinh sống trên địa bàn. Đây là cầu nối xây dựng lòng tin, tạo tâm lý
ổn định, yên tâm cho những nhà đầu tư là người nước ngoài đang triển khai các dự
án tại thành phố Hà Nội.
4.2.1.3. Hỗ trợ của nhà nước về đào tạo người lao động trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội
Hà Nội là trung tâm giáo dục và đào tạo lớn nhất cả nước, với nhiều trường
đại học, cao đẳng và trung tâm dạy nghề. Hằng năm đã cung ứng được hàng vạn lao
động có tay nghề và trình độ cao cho các DNCVĐTNN trong các KCN của Thủ đô
132
cũng như các tỉnh lân cận. Tuy nhiên, vấn đề đào tạo và sử dụng lao động còn có
nhiều hạn chế, như: chất lượng đào tạo còn thấp, chưa gắn với nhu cầu thực tế của
các DN, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho thí nghiệm, thực hành còn thiếu
đồng bộ, lạc hậu, chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, gây nên tình trạng
nguồn nhân lực “vừa thiếu, vừa thừa” như hiện nay. Do đó, trước hết thành phố Hà
Nội cần rà soát các chính sách liên quan đến đào tạo người lao động, qua đó phát
hiện những nội dung nào không phù hợp, bất cập thì cần phải sửa đổi, bổ sung kịp
thời, bên cạnh đó, thành lập Ban liên ngành thường xuyên, đột xuất đi kiểm tra,
thanh tra các cơ sở đào tạo trên địa bàn thành phố Hà Nội, khi phát hiện thấy không
đủ tiêu chuẩn quy định sẽ cương quyết không cho hoạt động.
Nhà nước cần phải có các chính sách kết hợp với DNCVĐTNN, hai bên đều
phải có vai trò nhất định trong vấn đề đảm bảo nguồn lao động. Nhà nước và các cơ
quan chức năng cần quản lý tốt hệ thống đào tạo nguồn cung lao động, chủ động
tiến hành khảo sát, quy hoạch nắm chắc nguồn cầu lao động trong các
DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Phân bố và tăng cường các trường
dạy nghề trên địa bàn, mở rộng các hình thức đào tạo nghề đa dạng, gắn giữa lý
luận và thực tiễn, linh hoạt, năng động. Cần có sự kết hợp hài hòa, hợp lý giữa đào
tạo (đào tạo lại), thu hút và bồi dưỡng. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
phải dựa vào thế "ba chân kiềng", nhằm cung ứng ra thị trường nguồn lao động đảm
bảo về số lượng và chất lượng.
- Từng bước đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo nhằm phát triển nguồn
nhân lực, tạo nguồn lực có trình độ cao đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển đất
nước. Kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, để đối tượng đào tạo thực sự đáp
ứng được nhu cầu thực tiễn, cần có kế hoạch đào tạo lâu dài, bài bản, dự tính được
nhu cầu lao động đủ về số lượng và chất lượng cao phục vụ cho sự phát triển lâu dài
cuả nền kinh tế.
- Các cơ quan chức năng phải tăng cường giám sát theo dõi, quản lý lực lượng
lao động trong các DNCVĐTNN. Từ đó, đề ra những chính sách, kịp thời bổ sung
những thiếu hụt cho người lao động về trình độ chuyên môn, pháp luật, tác phong..,
ngày càng tạo lập một lực lượng lao động thật sự có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu
133
của các ngành nghề và các chủ DNCVĐTNN.
- Cần phải rà soát, bổ sung quy hoạch mạng lưới các cơ sở dạy nghề đáp ứng
nhu cầu lao động trong các DNCVĐTNN, trong đó khuyến khích thành lập cơ sở
dạy nghề trong các DNCVĐTNN, nhất là trong các DNCVĐTNN có quy mô sử
dụng lao động lớn. Theo mục tiêu trong giai đoạn 2015-2020, phấn đấu đạt tỷ lệ lao
động đã qua đào tạo 65%. Do đó, phát triển chương trình dạy nghề bao gồm: Xây
dựng và ban hành chương trình khung trình độ trung cấp nghề, trình độ cao đẳng
nghề, căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ năng nghề, phù hợp với tiến bộ kỹ thuật, công nghệ
sản xuất hiện đại. Bên cạnh việc đào tạo lao động lành nghề để làm việc trong khối
đầu tư nước ngoài, cần giải quyết tốt mối quan hệ cung - cầu và giá cả sức lao động,
tiến hành đào tạo theo địa chỉ, theo nhu cầu thị trường để đảm bảo nguồn nhân lực
được sử dụng ngay tới đó, tránh lãng phí cho xã hội.
4.2.1.4. Nâng cao trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, chính quyền địa
phương trong quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn
thành phố Hà Nội
Để bảo đảm LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn
thành phố Hà Nội, cần tập trung vào những nội dung sau:
Một là, tiếp tục duy trì chế độ giao ban định kỳ giữa các Bộ, ngành trung
ương với các địa phương có nhiều dự án đầu tư nước ngoài nhằm tăng cường quản
lý, điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài theo nguyên tắc tập trung, thống nhất
quản lý về quy hoạch, cơ cấu, chính sách và cơ chế, tiếp tục thực hiện chủ trương
phân cấp quản lý Nhà nước về đầu tư của các DNCVĐTNN, phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài.
Hai là, đẩy mạnh công tác hướng dẫn, kiểm tra, xử lý các trường hợp vi
phạm pháp luật, chính sách, quy hoạch. Chú trọng việc quản lý dự án sau giấy phép,
nắm chắc tình hình thực hiện dự án, xử lý kịp thời những vướng mắc phát sinh để
các DN triển khai dự án thuận lợi.
Ba là, tạo môi trường kinh doanh tốt với các nhà đầu tư
- Xây dựng chính sách quản lý nguồn lực khoa học và phù hợp. Nguồn lực
cơ bản nhất như đất đai, tín dụng và kết cấu hạ tầng như điện, nước.., có ảnh hưởng
rất lớn tới quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư, đặc biệt đối với DNCVĐTNN.
134
- Cần phải minh bạch và nâng cao tính trách nhiệm của bộ máy quản lý địa
phương, nhiều DNCVĐTNN còn phàn nàn về thủ tục hành chính phức tạp gây tốn
kém thời gian và tiền bạc. Ví dụ: việc kiểm tra, thanh tra của các cán bộ công quyền
địa phương, hay việc xin cấp phép, vay vốn, cấp đất, đã làm tăng phí giao dịch của
DNCVĐTNN, nếu giảm thiểu được chi phí này sẽ giúp cho các DNCVĐTNN hoạt
động hiệu quả hơn.
- Chính quyền địa phương cần lưu ý đến việc được miễn tiền sử dụng đất cho
loại hình nhà ở xã hội để khuyến khích các DNCVĐTNN, tư nhân đầu tư xây dựng
nhà ở cho công nhân, hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng gần các KCN.
Bốn là, nâng cao hiệu quả quản lý của ban quản lý các KCN trên địa bàn
thành phố Hà Nội
Cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về các KCN, tiến tới ban hành Luật về
KCN làm cơ sở pháp lý ổn định và thống nhất cho việc tổ chức và hoạt động của
các KCN ở nước ta. Các công cụ chính sách đầu tư phát triển KCN phải rõ ràng,
minh bạch, đặc biệt phải nhất quán, có tầm nhìn dài hạn và toàn cục được xây dựng
trên cơ sở cân nhắc kỹ mục tiêu công nghiệp hoá cho từng thời kỳ. Ủy Ban nhân
dân thành phố Hà Nội cần áp dụng các biện pháp hỗ trợ đầu tư đối với các
DNCVĐTNN đầu tư vào lĩnh vực phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn như trợ
cấp vốn, miễn giảm thuế.
- Xác định rõ một trong các nhiệm vụ trọng tâm của thành phố là tập trung
phát triển kinh tế để sớm đưa Hà Nội trở thành thành phố công nghiệp theo hướng
hiện đại, đặc biệt là trong bối cảnh thành phố mới mở rộng, trong đó phát triển các
KCN là động lực chủ yếu. Ban Quản lý vừa tổ chức, sắp xếp lại bộ máy hợp nhất,
vừa cùng với các DN vượt qua khó khăn và tích cực đổi mới công tác quản lý, cải
cách thủ tục hành chính để trở thành điểm tựa cho các DNCVĐTNN có đà phát triển.
Phát huy bộ phận "một cửa" để đáp ứng phục vụ kịp thời các giao dịch trong KCN,
có 58 thủ tục hành chính áp dụng theo cơ chế một cửa phục vụ DNCVĐTNN tất cả
các khâu từ chứng nhận đầu tư đến hoạt động xuất nhập khẩu, quản lý lao động người
nước ngoài và trong nước, các thủ tục về quy hoạch và xây dựng cơ bản trong các
KCN, đã được Ủy ban nhân dân thành phố ban hành, giúp cho các DNCVĐTNN rút
ngắn thời gian giao dịch. Để tạo điều kiện cho các DNCVĐTNN trong KCN hoạt
135
động tốt, Ban Quản lý còn thường xuyên rà soát, cập nhật văn bản và phổ biến tập
huấn thường xuyên cho DN các văn bản mới để thực hiện. Trong đó, quan tâm đến
các quy định về môi trường, quan hệ giữa chủ DN và người lao động, giúp
DNCVĐTNN tiếp cận với nguồn vốn kích cầu của Chính phủ vượt qua khủng hoảng.
Với các DNCVĐTNN xây dựng hạ tầng KCN, Ban Quản lý đã thường xuyên
kiểm tra đôn đốc hoàn thiện kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hệ thống xử lý nước thải và
thành lập bộ phận quan trắc, quản lý môi trường của từng KCN. Đồng thời tổ chức
nghiên cứu đề xuất các cơ chế hỗ trợ ưu đãi đối với các DNCVĐTNN sử dụng công
nghệ cao, nhất là khu công nghệ cao sinh học nhằm khuyến khích các loại hình DN
này phát triển.
Ban quản lý các KCN Hà Nội đã đặt ra mục tiêu phấn đấu đạt mức tăng
trưởng hàng năm về giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN trên địa bàn thành
phố Hà Nội bình quân hàng năm trong giai đoạn 2015 - 2020 là 30%. Đồng thời thu
hút mỗi năm khoảng 5 vạn lao động nhằm góp phần quan trọng tăng GDP của
Thành phố Hà Nội lên trên 10%/năm và giải quyết việc làm hàng năm cho trên 10
vạn người đến độ tuổi lao động. Để đạt được những chỉ tiêu trên, vấn đề đặt ra cho
các KCN Hà Nội mỗi năm cần xây dựng thêm 500 - 1.000 ha KCN tập trung ở các
khu vực cực Bắc và cực Nam Thành phố. Trong đó, ưu tiên bố trí phát triển các sản
phẩm có hàm lượng chất xám cao, tạo mặt bằng để di dời các cơ sở sản xuất gây ô
nhiễm môi trường.
Trong thời gian tới, Ban Quản lý các KCN Hà Nội đang xây dựng kế hoạch
trình Thành phố chỉ đạo, tạo điều kiện để tiếp tục đổi mới công tác quản lý, phát huy
tốt cơ chế "một cửa, một dấu" tạo điều kiện thuận lợi cho các DN phát triển sản xuất,
cùng với việc tập trung xây dựng phát triển thêm các KCN. Dự kiến đến năm 2020 sẽ
có khoảng 20 KCN đi vào hoạt động với tổng diện tích khoảng 4.500 ha, trong đó tỷ
lệ lấp đầy KCN đạt 60% để mang lại tổng doanh thu khoảng 250.000 tỷ đồng, chiếm
trên 20% GDP của Thành phố [101], tạo việc làm mới cho nửa triệu lao động. Hiện
nay, Ban Quản lý các KCN Hà Nội đang tập trung triển khai các khâu công việc để
tham mưu cho Thành phố hoàn thành tốt các mục tiêu trên, góp phần nhanh chóng
đưa Thủ đô Hà Nội "ngàn năm văn hiến" tiến nhanh trên con đường CNH, HĐH và
thực sự là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước.
136
Nhìn lại gần hai nghìn cuộc đấu tranh tự phát có đông người lao động tham
gia trong thời gian qua, cho thấy: về bản chất, 90% các vụ "ngừng việc" có nguyên
nhân do chưa có biện pháp chế tài đủ mạnh buộc người sử dụng lao động phải
nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Vì vậy, phía người chủ lao động công khai xâm
hại quyền của người lao động về tiền lương, về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ
ngơi, về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… Trong khi đó, cơ quan quản lý lao động
đã yếu năng lực, còn thiếu nhân lực, không thể hạn chế chủ DNCVĐTNN phạm
pháp. Vì thế, chủ DNCVĐTNN càng vi phạm pháp luật thì càng có nhiều lợi nhuận.
Nếu người lao động không ngừng việc khi họ bị bóc lột thì chẳng khác nào họ tiếp
tay cho chủ DNCVĐTNN để khống chế người lao động. Trên thực tế, nếu người lao
động bị xâm hại quyền lợi mà không đấu tranh thì chủ DNCVĐTNN cũng không
bao giờ tự nguyện sửa sai. Tuy nhiên, sau khi người lao động ngừng việc để đấu
tranh, hầu hết các chủ DNCVĐTNN đều tỏ ra lo lắng, có tâm lý muốn hoà giải. Đặc
biệt, có các cơ quan chức năng, trong đó lực lượng Cảnh sát cùng tổ chức công đoàn
tiến hành hòa giải, phân tích sai phạm của chủ DNCVĐTNN và buộc họ giải quyết
thỏa đáng các yêu sách của người lao động, lập tức, quan hệ lao động sẽ ổn định trở
lại. Do đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho các DNCVĐTNN trong quá trình kinh
doanh, cũng như đảm bảo LIKT cho người lao động cần phải thực hiện tốt những
biện pháp sau:
- DNCVĐTNN và người lao động phải ký hợp đồng lao động đúng theo quy
định của BLLĐ Việt Nam, thực hiện đúng nội dung bản hợp đồng. Xây dựng thang,
bảng lương cụ thể phù hợp với cơ chế thị trường, áp dụng quy chế tiền thưởng căn
cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh và mức độ hoàn thành công việc của người lao
động, đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội. Nhằm đảm bảo chủ DNCVĐTNN làm
ăn có lãi, mở rộng sản xuất; người lao động ổn định việc làm, được hưởng đầy đủ
quyền lợi về vật chất và tinh thần, yên tâm làm việc.
- Các DNCVĐTNN sau khi được cấp giấy phép kinh doanh, tất cả các
DNCVĐTNN phải xây dựng tổ chức công đoàn. Tổ chức này sẽ giám sát quá trình
quan hệ lao động, bao gồm bản ký kết thỏa ước lao động tập thể; tham gia xây dựng
nội quy DNCVĐTNN, quy chế trả lương, trả thưởng, tham gia giải quyết các vấn đề
quan hệ lao động liên quan đến quyền lợi ích của người lao động. Giữa công nhân và
137
giới chủ nếu xảy ra mâu thuẫn thì tổ chức Công đoàn phải kịp thời hướng dẫn, hòa giải,
đồng thời phối kết hợp với các cơ quan chức năng để giải quyết kịp thời vụ việc tránh
những cuộc đình công, bãi công bất hợp pháp gây mất TTATXH trong các KCN.
4.2.1.5. Tăng cường sự kết hợp giữa các cơ quan chức năng trong giải
quyết vấn đề lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội
Nhằm giữ gìn TTATXH trong các KCN cũng như các khu vực nhà ở của
công nhân, lực lượng Cảnh sát không ngừng nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu
tranh tội phạm kinh tế trong lĩnh vực đầu tư của các DNCVĐTNN.
- Tăng cường xây dựng các Đồn công an tại các KCN với quy mô chính
quy và lực lượng chuyên nghiệp nhằm nắm bắt tình hình địa bàn. Bởi vì, KCN là
một trong những địa bàn đặc thù, với số lượng công nhân rất đông đến từ các
miền quê khác nhau, đồng thời có nhiều người nước ngoài với các quốc tịch khác
nhau. Lực lượng Công an cần nắm chắc tình hình cụ thể của địa bàn nhằm đảm
bảo TTATXH.
- Xây dựng cộng tác viên bí mật ở các DNCVĐTNN nhằm nắm tình hình
hoạt động SXKD của từng công ty, biết được công nhân làm việc trong môi trường
như thế nào, đồng thời nắm bắt được chủ DN sử dụng người lao động ra sao. Bên
cạnh đó, lực lượng Công an sẽ phòng ngừa, ngăn chặn được một số thế lực thù địch
lợi dụng chỗ đông người (công nhân) để tuyên tuyền, kích động, làm xấu hình ảnh
của Việt Nam nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng trước nhà đầu tư nước
ngoài, chống phá đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Mở hồ sơ điều tra cơ bản đối với các DNCVĐTNN hoạt động trong KCN
nhằm nắm tình hình: Chủ đầu tư? Vốn điều lệ? Tổng số người làm việc trong
DNCVĐTNN? Có bao nhiêu người nước ngoài? Quốc tịch? Số lượng công nhân là
bao nhiêu? Sản xuất ngành nghề gì? Tiền lương trung bình của công nhân làm việc
trong DNCVĐTNN được bao nhiêu? Các công ty vệ tinh (văn phòng phẩm; vận tải;
thực phẩm; bảo vệ...) hoạt động với DNCVĐTNN đó như thế nào?
- Tăng cường đảm bảo trật tự giao thông trong các KCN. Lực lượng Công an
phối kết hợp với chủ DNCVĐTNN; Ban quản lý KCN xây dựng hệ thống giao
138
thông đồng bộ trong KCN như cắm các biển báo, phân luồng giao thông giờ tan
ca... Lực lượng Công an phối hợp với DN hoạt động trong KCN tổ chức thường
xuyên các đợt tuyên truyền, phổ biến về chấp hành tốt luật giao thông.
- Lực lượng Công an phối kết hợp với các cơ quan chức năng như Ban
quản lý KCN, Liên đoàn lao động thành phố Hà Nội.., phòng ngừa và nắm bắt
kịp thời các cuộc đình công, bãi công tại các KCN, nhằm ổn định tình hình an
ninh trật tự tại KCN.
Qua các cuộc đình công, bãi công của công nhân trong các KCN chủ yếu tập
trung vào nội dung kiến nghị đòi tăng lương cơ bản và phụ cấp lao động. Đình công,
lãn công thường xảy ra theo hiệu ứng lan truyền từ công ty này tới công ty khác trong
các KCN. Khi các cuộc đình công xảy ra, lực lượng Công an phải nắm bắt kịp thời,
huy động lực lượng giữ gìn TTATXH, phối kết hợp với các cơ quan chức năng,
hướng dẫn, tuyên truyền cho công nhân đình công phải thực hiện theo trình tự pháp
luật, không được hủy hoại tài sản của giới chủ; cản trở giao thông...
- Lực lượng Công an phối kết hợp với DNCVĐTNN, chính quyền địa
phương, đặc biệt là lực lượng Công an xã làm tốt công tác tạm trú, tạm vắng, nắm
chắc được số lượng nhân khẩu trên địa bàn. Từ đó, đưa ra những biện pháp phòng
ngừa, xử lý kịp thời nhằm bảo đảm TTATXH trên địa bàn.
Như vậy, việc thu hút các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội là
vấn đề chiến lược có tầm cỡ quốc gia, để phát triển thủ đô ngày càng giàu mạnh,
chính quyền địa phương phải tạo môi trường đầu tư thuận lợi, các chế độ đãi ngộ
thu hút đầu tư. Bên cạnh đó, việc đảm bảo LIKT cho người lao động làm việc trong
các DNCVĐTNN, đòi hỏi phải có một đội ngũ lao động đã qua đào tạo, thường
xuyên rèn luyện nâng cao tay nghề, có ý thức kỷ luật lao động, làm việc theo nhóm,
nhằm nâng cao chất lượng lao động… Lực lượng Công an có sự phối kết hợp với
các cơ quan chức năng nhằm ổn định tốt TTATXH trên địa bàn KCN. Có thể nói,
hệ thống giải pháp trên mang tính thiết thực và khả thi. Thực hiện tốt các giải pháp
đó, chúng ta tin rằng thành phố Hà Nội sẽ là địa bàn thu hút đầu tư lớn nhất đối với
các DNCVĐTNN và sẽ cung ứng những lao động có chất lượng cao cho nhà đầu tư.
Đồng thời, với những hợp đồng lao động được ký kết chặt chẽ, LIKT của người lao
động trong các DNCVĐTNN được bảo đảm đúng quyền lợi, quan hệ lao động hài
139
hòa, khắc phục những DN có quan hệ lao động chưa được thiết lập chặt chẽ, quyền
công đoàn của người lao động còn bị vi phạm.
4.2.1.6. Khuyến khích, tôn vinh các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
trên địa bàn thành phố Hà Nội thực hiện tốt lợi ích kinh tế của người lao động
Trong quá trình đầu tư vào thành phố Hà Nội, đến nay đã có rất nhiều các
DNCVĐTNN thực hiện tốt các LIKT cho người lao động, như đóng bảo hiểm đầy
đủ, quan tâm đào tạo, nâng cao trình độ cho người lao động, thực hiện chế độ nghỉ
mát, câu lạc bộ thể dục thể thao, xây dựng nhà trẻ, nhà mẫu giáo cho con em người
lao động, hệ thống nhà ăn đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm. Điển
hình là các DN có vốn đầu tư của Nhật Bản tại KCN Bắc Thăng Long, huyện Đông
Anh, như Công ty TNHH Panasonic Home Appliances Việt Nam; Công ty TNHH
Fujikin Việt Nam; Công ty TNHH Tokyo Micro Việt Nam [104], đã thực hiện tốt
hợp đồng lao động (thực hiện đúng cam kết tiền lương, thưởng tương đối cao, có
khu nhà ở cho người lao động)
Chính vì vậy, để ghi nhận những công lao, thành tích của công ty, thành phố
Hà Nội tiếp tục triển khai với cách làm, hình thức tổ chức mới nhằm khích lệ, tôn
vinh, khen thưởng các DNCVĐTNN khi họ thực hiện đúng các hợp đồng lao động đã
được ký kết, các quyền và nghĩa vụ của DN đối với người lao động. Cần có chính
sách ưu đãi đối với những DNCVĐTNN vào thành phố Hà Nội, như: Cắt giảm một
phần giá thuê đất; giảm thuế, thủ tục nhanh gọn, đơn giản, tốn ít thời gian, chi phí.
4.2.2. Nhóm giải pháp về phía người lao động
4.2.2.1. Nâng cao trình độ văn hóa, tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ cho người lao
động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trong thời đại của cách mạng khoa học công nghệ, lao động phức tạp, lao động
được đào tạo có trình độ chuyên môn cao ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với mọi
quá trình sản xuất. Trong các DNCVĐTNN cũng vậy, trình độ chuyên môn của những
người lao động được các chủ DNCVĐTNN quan tâm chú trọng nhiều hơn.
Đối với DNCVĐTNN, họ đã tìm thấy ở người lao động Việt Nam nhiều
điểm tương đồng, thông minh, chăm chỉ. Nhưng thực tế người lao động còn gặp khó
khăn về trình độ, đặc biệt ở các vị trí quản lý hoặc lao động có tay nghề cao. Phần
lớn các DNCVĐTNN sau khi tuyển dụng lao động, họ đều phải tổ chức đào tạo lại
140
lao động, kể cả trình độ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ. Các DNCVĐTNN đều
thấy rằng, khả năng làm việc ở các khâu trình độ chuyên môn cao và tác phong
công nghiệp vẫn là những điểm yếu của lao động Việt Nam. Để đáp ứng được yêu
cầu tuyển dụng của các DCVĐTNN, thành phố Hà Nội cần phải thực hiện tốt các
yêu cầu sau:
Người lao động làm việc trong DNCVĐTNN phải tự nâng cao trình độ
chuyên môn, tay nghề, thành thạo vi tính, thích nghi với công nghệ máy móc tiên
tiến, có kỹ năng giao tiếp, làm việc theo nhóm, thích nghi với sự thay đổi và tình
huống mới mà DNCVĐTNN đặt ra.
Khi được tuyển dụng làm việc trong DNCVĐTNN, bên cạnh năng lực
nghiệp vụ chuyên môn, người lao động cần rèn luyện cho mình tác phong công
nghiệp, cần cù chịu khó, sáng tạo và biết cách làm việc theo nhóm. Tiếp tục triển khai
tốt cuộc vận động "Xây dựng nếp sống văn hóa trong công nhân viên chức lao động",
xây dựng đơn vị, người lao động có văn hóa. Đồng thời, DNCVĐTNN phải tạo điều
kiện về môi trường và điều kiện làm việc cho công nhân lao động, chấp hành nghiêm
pháp luật lao động, mặt khác phải có phương pháp quản lý tiên tiến, khoa học, trình
độ công nghệ hiện đại, những yếu tố cần thiết để xây dựng tác phong lao động cho
công nhân lao động. Bên cạnh đó, người lao động phải biết nâng cao trình độ mọi mặt
để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của DN.
4.2.2.2. Nâng cao hiểu biết pháp luật của người lao động làm việc trong
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội
Nâng cao hiểu biết pháp luật cho người lao động trong các DNCVĐTNN
nhằm từng bước hình thành thói quen hàng động theo pháp luật, giúp người lao
động giải quyết hài hòa các mối quan hệ xã hội, đặc biệt hạn chế tình trạng xung đột
trong mối quan hệ với người sử dụng lao động. Khi có hiểu biết pháp luật người lao
động sẽ có ý thức chấp hành và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, nhờ đó sẽ
giảm được đình công, kiện tụng.., trong mối quan hệ giữa chủ DNCVĐTNN và
người lao động.
Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho
người lao động các văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ và quyền
lợi của người lao động như: BLLĐ; Luật Công đoàn; Luật Bảo hiểm xã hội.., những
141
bài chính trị cơ bản dành cho công nhân lao động. Trong thời gian qua, do người lao
động kém hiểu biết pháp luật, nhất là những kiến thức liên quan đến quyền và nghĩa
vụ nên việc chấp hành nội quy, quy chế, kỷ luật lao động còn hạn chế, dẫn đến
người lao động bị chủ DNCVĐTNN áp dụng các hình thức xử phạt, gây nên sự bức
xúc dẫn đến đình công, lãn công. Tình trạng xung đột trong quan hệ lao động trong
DNCVĐTNN xảy ra không chỉ làm thiệt hại chính cho người lao động, chủ
DNCVĐTNN và cho cả Nhà nước.
Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật cho người lao động trong các
DNCVĐTNN phải trở thành thường xuyên mang tính tích lũy, hàng quý, hàng
tháng, để những người lao động nâng cao ý thức hiểu biết pháp luật, trên cơ sở đó
họ có thái độ đúng đắn trong ứng xử với giới chủ khi lợi ích chính đáng của họ bị
xâm hại. Ngoài pháp luật các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về các
quy định đãi ngộ đối với người lao động được ban hành cũng cần có sự phổ biến,
tuyên truyền cho mọi người hiểu rõ và hiểu đúng để họ có ý thức tốt hơn về quyền
và nghĩa vụ chính đáng của mình khi tham gia vào các hoạt động trong các
DNCVĐTNN. Để tuyên truyền giáo dục chính sách pháp luật cho người lao động,
cần phát huy vai trò của các tổ chức công đoàn và các cơ quan chức năng có liên
quan, trong đó không thể thiếu vai trò của lực lượng Công an nhân dân.
4.2.2.3. Nâng cao ý thức, kỷ luật của người lao động làm việc trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội
Người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà
Nội, trong đó, lao động phổ thông chiếm tỷ lệ nhất định. Vốn xuất thân từ nông
thôn, người lao động đã quen với nếp làm việc tự do, chưa từng làm việc trong môi
trường công nghiệp, không quen làm việc dưới sự quản lý, bị ràng buộc bởi nhiều
nội quy, quy chế, giờ giấc, thiếu tác phong công nghiệp… Do vậy, xây dựng cho
người lao động có tác phong công nghiệp rất quan trọng không chỉ mang lại lợi ích
cho DNCVĐTNN mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với người lao động. Khi ý thức
kỷ luật tốt, làm việc nghiêm túc, chịu khó học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn,
rèn luyện tay nghề… Người lao động sẽ nâng cao năng suất, tạo uy tín và nâng cao
thu nhập cho mình và cho chủ DNCVĐTNN thực hiện tốt nội quy, quy chế, hợp
đồng lao động của chủ DN.
142
Người lao động cần tôn trọng tính đặc thù của DNCVĐTNN, xây dựng sự
gắn bó lâu dài giữa người lao động với DNCVĐTNN, hạn chế nhảy việc, luôn có ý
thức đóng góp xây dựng DN phát triển vững mạnh.
Trong quá trình lao động, người lao động luôn phải nỗ lực hết mình để phù
hợp với văn hóa của DNCVĐTNN. Dù ở vị trí làm việc nào trong DN thì người lao
động luôn phải tự tìm hiểu, học hỏi, tiếp thu những kiến thức mới như kỹ năng giao
tiếp, thu thập và phân tích thông tin, kỹ năng giải quyết vấn đề, văn hóa, phong tục
tập quán Việt Nam và các nước không chỉ nhằm mở rộng kiến thức để nhanh chóng
hội nhập mà còn tránh được các xung đột văn hóa gây ra do sự khác biệt về ngôn
ngữ, giới tính, quốc tịch.
4.2.3. Nhóm giải pháp về phía doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
4.2.3.1. Nâng cao ý thức chấp hành luật pháp Việt Nam của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài SXKD trên địa bàn thành phố Hà
Nội cần phải tuân thủ và thực hiện đúng, đầy đủ các quy trình về thủ tục pháp lý về
Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Công đoàn, Luật Lao động để trên cơ sở đó
tiến hành thiết lập các dự án, ký kết các hợp đồng lao động đối với thành phố Hà
Nội. Ngoài việc nghiên cứu trên về luật pháp Việt Nam thì DNCVĐTNN cũng cần
tìm hiểu về truyền thống văn hóa về phong tục tập quán, lối sống, điều kiện sinh
hoạt của người lao động của thủ đô. Sau đó cần phải căn cứ vào số vốn đầu tư và
thế mạnh của mình trong hoạt động đầu tư để ký kết các hợp đồng theo sự đã thỏa
thuận với các cơ quan chức năng, tổ chức của Hà Nội.
Khi đi vào hoạt động SXKD các nhà đầu tư phải thực hiện đúng và đầy đủ
những điều kiện đã tham gia ký kết, thực hiện và chấp hành đúng và đầy đủ luật
pháp của Việt Nam cũng như các chủ trương, chính sách, những quy trình của Việt
Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài ở trên các lĩnh vực cụ thể về các khoản
đóng góp làm nghĩa vụ đối với thành phố Hà Nội và Nhà nước, về bảo vệ môi
trường, bảo đảm an ninh trật tự về các vấn đề trong quan hệ với các cơ sở sản xuất
(các DN của Việt Nam) trên địa bàn thành phố Hà Nội về các vấn đề giữ gìn an
ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư, không
lợi dụng đầu tư để thực hiện những việc làm sai trái với quy định đặc biệt là trên
lĩnh vực bảo đảm an ninh trật tự.
143
4.2.3.2. Xác định bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động đồng thời
cũng chính là bảo đảm lợi ích kinh tế cho chủ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội
Đối với những quan hệ lao động làm việc trong các DNCVĐTNN trên địa
bàn Hà Nội, các chủ DN cần phải xây dựng mối quan hệ gắn bó mật thiết tạo điều
kiện giúp đỡ lẫn nhau để đôi bên cùng có lợi. Trong việc bảo đảm thực hiện lợi ích
của những người lao động cần có thái độ quan tâm tới lợi ích chính đáng của những
người lao động, thông qua việc trả tiền công, tiền thưởng, tiền chi phí ăn giữa ca,
nâng cao tay nghề, tạo môi trường thông thoáng trong lao động và bảo đảm đời
sống tinh thần.., cho người lao động. Bên cạnh đó, trong quan hệ cư xử với những
người lao động, ngoài việc tuân thủ luật pháp của Nhà nước cần phải bảo đảm tính
nhân văn trong cách cư xử theo những truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt
Nam. Khi trong các DNCVĐTNN có xảy ra xung đột về LIKT giữa các chủ
DNCVĐTNN với những người lao động thì chủ DNCVĐTNN phải là người chủ
động trên cơ sở căn cứ vào đặc điểm, tính chất của vụ việc để có phương pháp giải
quyết ổn thỏa giữa chủ và thợ. Nếu vụ việc phức tạp cần có thể mời các cơ quan
chức năng có thẩm quyền của Việt Nam (Chính quyền sở tại, tổ chức công đoàn,
công an, các đơn vị được giao quản lý đối với các DNCVĐTNN…) cùng tham gia
giải quyết. Thông qua các cơ quan chức năng trung gian đóng vai trò trọng tài giữa
các chủ DNCVĐTNN và người lao động cần có sự đàm phán, thỏa thuận để không
làm phức tạp tình hình, bảo đảm lợi ích hài hòa cho người lao động và chủ đầu tư.
4.2.3.3. Phát huy vai trò của các tổ chức công đoàn cơ sở trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội
Lợi ích kinh tế của người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN trên địa
bàn thành phố Hà Nội có được bảo đảm đúng hay không? Chủ DN có thực hiện
đúng thỏa ước lao động hay không? còn phụ thuộc vào vai trò quan trọng của tổ
chức công đoàn và chính quyền sở tại, đặc biệt là những cơ quan đơn vị tham gia
vào việc quản lý, giám sát các hoạt động. Nếu tổ chức công đoàn và các cơ quan
đơn vị chức năng quan tâm đến LIKT của những người lao động, luôn luôn có thái
độ kiên quyết đấu tranh cho lẽ phải, trên cơ sở khuôn khổ pháp luật đối với các chủ
144
DNCVĐTNN trong những việc làm sai trái của họ có biểu hiện xâm hại tới LIKT
của những người lao động thì LIKT của người lao động sẽ được bảo đảm tốt hơn.
Để mang lại LIKT cho những người lao động thì các tổ chức công đoàn, các tổ chức
quản lý các DNCVĐTNN phải có thái độ công tâm, đấu tranh cho lẽ phải, đứng về
phía những người lao động. Vì quyền lợi của những người lao động và suy rộng ra thì
đó cũng là lợi ích của quốc gia dân tộc. Vai trò của tổ chức công đoàn cần phải phát
huy và làm đúng chức năng nhiệm vụ của mình theo những quy định của BLLĐ.
Công đoàn thật sự là một đoàn thể để bảo vệ lợi ích chính đáng cho người lao động.
Theo BLLĐ, các DNCVĐTNN sau khi hoạt động cần phải thành lập tổ chức
công đoàn để đại diện bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp cho người lao động.
Thực tế hiện nay cho thấy: Có 88% trong các DNCVĐTNN đã thành lập tổ chức
công đoàn, giúp cho người lao động đảm bảo được quyền lợi chính đáng của mình,
nhất là LIKT, do đó thành phố Hà Nội cần phải thực hiện một số nhiệm vụ sau:
Một là, đối với các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội chưa có tổ
chức công đoàn: Cần phải nhanh chóng xây dựng tổ chức công đoàn trong
DNCVĐTNN, đây là tổ chức đại diện của người lao động, bảo vệ quyền lợi hợp
pháp cho người lao động, để làm chỗ dựa cho người lao động, đồng thời là nơi đấu
tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động.
Hai là, đối với các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội đã có tổ
chức công đoàn: Định kỳ tổ chức sinh hoạt, Đại hội công đoàn đúng định kỳ. Tổ
chức cho cán bộ công đoàn trong DNCVĐTNN tìm hiểu và nắm vững các luật như:
Luật Lao động, Luật Công đoàn, Luật Bảo hiểm xã hội; thường xuyên nâng cao
trình độ tay nghề, chuyên môn, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp trong
sản xuất cho mọi người lao động.
Ba là, công đoàn cơ sở cần chủ động xây dựng quy chế làm việc và quy chế
phối kết hợp với người sử dụng lao động; thường xuyên định kỳ gặp gỡ người sử
đẻ trao đổi tình hình hoạt động, bàn bạc thống nhất giải quyết những vấn đề nảy
sinh liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động, những kiến nghị của
người lao động. Công đoàn cơ sở cần chú trọng phát triển đoàn viên công đoàn,
củng cố và nâng cao năng lực cán bộ công đoàn, chất lượng hoạt động của công
đoàn cơ sở.
145
Bốn là, công đoàn cần phải làm tốt việc xây dựng, thương thảo, ký kết Thỏa
ước lao động tập thể với DNCVĐTNN. Bởi Thỏa ước lao động tập thể là cơ sở thừa
nhận quyền của người lao động được thông qua đại diện của mình là công đoàn. Nó
sẽ là cơ chế tự kiểm soát, tự điều chỉnh quan hệ lao động nội bộ DNCVĐTNN trên
cơ sở pháp luật.
Năm là, là người đứng giữa DNCVĐTNN và người lao động, cán bộ công
đoàn cần phải có năng lực, sự nhiệt tình. Công đoàn cần lắng nghe và tham khảo ý
kiến của người lao động, chọn thời cơ đúng lúc đề đạt ý kiến của công đoàn với giới
chủ. Thường xuyên xây dựng chương tình công tác của Ban chấp hành công đoàn,
quy chế phối hợp làm việc giữa công đoàn với chủ DNCVĐTNN.
Sáu là, để người lao động yên tâm công tác, công đoàn cần chủ động tham
gia cùng DNCVĐTNN tạo việc làm ổn định, đảm bảo chế độ, chính sách bảo hiểm
y tế, bảo hiểm xã hội, hợp đồng lao động. Chủ tịch công đoàn cơ sở nên là những
người có vị trí lãnh đạo như tổ trưởng, nhóm trưởng thì tiếng nói mới có trọng
lượng và dành thời gian cho hoạt động công đoàn.
Tăng cường giám sát kiểm tra việc thực hiện các chế độ những chính sách
đối với người lao động. Chủ động phối hợp với người lao động để thành lập Hội
đồng hòa giải lao động cơ sở nhằm giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh và tăng
cường cơ chế đối thoại giữa người sử dụng lao động và người lao động.
4.2.3.4. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố
Hà Nội cần tạo môi trường làm việc sáng tạo và thân thiện trong doanh nghiệp
cho người lao động
Hiện nay, mô hình đầu tư sản xuất của các DNCVĐTNN trên địa bàn thành
phố Hà Nội ngày càng về số lượng, chất lượng, nhiều DNCVĐTNN hội tụ đầy đủ
những tiêu chuẩn quốc tế về đầu tư, về sản xuất, về chính sách đãi ngộ đối với
người lao động. Do đó, các chủ DNCVĐTNN để thực hiện tốt mục đích SXKD cần
quan tâm hơn nữa tới người lao động thể hiện:
- Về môi trường lao động: Cần tạo môi trường làm việc sáng tạo và thân
thiện, các chế độ bảo hiểm đầy đủ; đãi ngộ ưu việt và không bao giờ chậm lương
của người lao động.
146
- Về hoạt động đào tạo: Chủ DNCVĐTNN cần phải có chiến lược đào tạo
cho người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật tốt. Luôn có chủ trương, chính
sách đào tạo thường xuyên nâng cao kỹ năng, nhận thức tư duy mới cho người lao
động như: đào tạo định hướng; đào tạo ngoại ngữ thường xuyên cho người lao động
(tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hàn…); đào tạo Leadership cho các cấp quản lý,
trưởng bộ phận.
- Về nhà ăn cho người lao động: Xây dựng các nhà ăn sạch sẽ, thông thoáng.
Thực đơn mỗi ngày có sự thay đổi bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
và dinh dưỡng cho người lao động.
- Khích lệ người lao động: Hằng năm chủ DN nên tổ chức thăm quan du lịch
cho người lao động, quan tâm đến ngày sinh nhật của người lao động, đặc biệt có
chế độ chính sách cho người lao động đang mang thai…
- Các chủ DNCVĐTNN cần khuyến khích, phát huy tính sáng tạo của người
lao động "Trí tuệ Việt trong DNCVĐTNN".
4.2.3.5. Chủ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường xuyên tìm
hiểu về phong tục, tập quán, quan tâm thực hiện trách nhiệm xã hội đối với
người lao động trong doanh nghiệp
Quá trình đầu tư SXKD vào Việt Nam, các chủ DN nước ngoài cần tìm hiểu
rõ về đặc điểm tốt, xấu, phong tục tập quán của người Việt Nam đây là những vấn
đề để chủ DN quản lý và nâng cao năng suất, hiệu quả lao động, đây là cơ sở bảo
đảm lợi ích cho cả chủ DN lẫn LIKT của người lao động.
Chủ DNCVĐTNN thường xuyên tìm hiểu về phong tục, thói quen của người
lao động Việt Nam như: Người lao động Việt Nam hay đổi việc; "người lao động
ngủ trưa trong giờ nghỉ trưa", đây cũng là một vấn đề; khoảng cách giữa người
nghiêm túc làm việc và những người không nghiêm túc làm việc; người nghiêm túc
làm việc tuân thủ theo lệnh của cấp trên, hoàn thành tốt công việc được giao. Ngược
lại, những người không nghiêm túc thì tranh thủ lúc rảnh rỗi liền chơi game hoặc
chat với bạn bè trên mạng.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không yêu cầu gì nhiều đối với
người lao động, họ chỉ yêu cầu, trước tiên là "trong giờ làm phải nghiêm chỉnh làm
147
việc". Chủ DN luôn lắng nghe, thấu hiểu và chia sẻ với người lao động. Chủ
DNCVĐTNN cần xác định: DN tốt, đối xử với người lao động tốt, quản trị bài bản,
thường xuyên có những khóa học, tuyên truyền tăng thêm tính gắn bó giữa người
lao động với DN thì tất cả mọi thứ sẽ tốt.
Thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động trong DNCVĐTNN
được thể hiện ở những cam kết của DN trong việc hợp tác với người lao động, gia
đình, cộng đồng, địa phương và xã hội để cải thiện chất lượng cuộc sống của người
lao động, sao cho vừa có lợi ích cho DN, vừa có lợi ích cho sự phát triển kinh tế -
xã hội bền vững.
Thực hiện trách nhiệm xã hội là những quy định về trách nhiệm của DN
trong thực hiện một số nội dung chủ yếu liên quan đến lĩnh vực lao động và môi
trường. Cụ thể như: Chống phân biệt đối xử tại nơi làm việc, quyền tham gia công
đoàn và tham gia thương lượng tập thể, định mức tiền lương, chế độ thời gian làm
việc, an toàn vệ sinh lao động, khen thưởng, kỷ luật, an sinh xã hội… Việc thực
hiện trách nhiệm xã hội của DN sẽ tạo ra được lợi ích cho tất cả các bên tham gia.
148
KẾT LUẬN
Các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội trong những năm qua đã có
những đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu nhập, tạo việc
làm cho người lao động. Tuy nhiên, vấn đề phân phối tiền lương, thu nhập, chất
lượng cuộc sống, quyền lợi của người lao động, vẫn còn nhiều bất cập, cần có
những giải pháp nhằm bảo đảm LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN
trên địa bàn thành phố Hà Nội. Với bốn chương, tác giả luận án đã nghiên cứu, phân
tích, đánh giá và đưa ra một số kết luận sau:
1. Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan nó phát sinh và tồn tại
trên cơ sở của một quan hệ sản xuất nhất định, là hình thức biểu hiện của quan hệ sản
xuất và phản ánh mặt bản chất nhất của quan hệ sản xuất. LIKT không tuỳ thuộc vào
yếu tố chủ quan của con người (không tuỳ thuộc ở chỗ là con người có nhận thức
được nó hay không, mà do địa vị của họ trong QHSX quyết định).
2. Lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNCVĐTNN là phạm trù
kinh tế, thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người lao động với các chủ
DNCVĐTNN; phản ánh những nhu cầu, động cơ khách quan của người lao động
tham gia vào các hoạt động kinh tế trong DNCVĐTNN.
3. Lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNCVĐTNN mang những
đặc điểm sau: Biểu thị và phản ánh quan hệ lợi ích giữa người lao động với chủ DN;
là một phạm trù mang tính khách quan; mang tính giai cấp và lịch sử đậm nét. Cơ
cấu LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN bao gồm LIKT trực tiếp và
LIKT gián tiếp và hai nhóm nhân tố ảnh hưởng lợi ích trực tiếp, lợi ích gián tiếp
đến LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN. Đồng thời luận án nghiên
cứu kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về bảo đảm LIKT của người
lao động trong các DNCVĐTNN, từ đó rút ra năm bài học kinh nghiệm có giá trị
tham khảo cho thành phố Hà Nội.
4. Luận án đã phân tích những thuận lợi và khó khăn thực hiện LIKT của
người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trên cơ sở
làm rõ tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài và tình hình hoạt động SXKD của
149
các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội; luận án phân tích, đánh giá thực
trạng thực hiện LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành
phố Hà Nội thời gian qua, từ đó thấy được những kết quả đạt được nhất định. Tuy
nhiên, LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà
Nội cũng còn một số hạn chế như: Tiền lương, tiền thưởng còn thấp, chưa đáp ứng
nhu cầu tối thiểu của người lao động; chủ DNCVĐTNN chưa quan tâm thỏa đáng
đến quyền lợi của người lao động; chất lượng nhà ở và đời sống tinh thần của người
lao động chưa được bảo đảm. Nguyên nhân của những hạn chế trên chủ yếu là: Hệ
thống cơ chế, chính sách bảo đảm LIKT của người lao động chưa thực sự phù hợp,
hoàn thiện; trình độ đội ngũ người lao động còn yếu; các tổ chức công đoàn cơ sở
chưa phát huy vai trò bảo vệ của người lao động; sự gia tăng số lượng lao động lớn;
mục đích của các DNCVĐTNN là lợi nhuận cao. Từ đó đặt ra những vấn đề cần
quan tâm giải quyết là: LIKT của người lao động chưa bảo đảm được các nhu cầu
sống tối thiểu, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần người lao động; LIKT
của người lao động và chủ DN chưa được giải quyết hài hòa, dẫn tới phát sinh mâu
thuẫn; LIKT của người lao động chưa bảo đảm đủ tái sản xuất sức lao động, dẫn tới
nảy sinh các hiện tượng tiêu cực, đây là cơ sở quan trọng bảo đảm căn cứ khoa học
và thực tiễn cho việc giải quyết những nội dung tiếp theo.
5. Để bảo đảm LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa
bàn thành phố Hà Nội luận án đưa ra 4 quan điểm cần phải quán triệt: LIKT của
người lao động trong các DNCVĐTNN phải bảo đảm tái sản xuất sức lao động và
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động; bảo đảm LIKT của
người lao động trong các DNCVĐTNN phải gắn chặt chẽ với hoàn thiện chính
sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm LIKT của người lao động trong các
DNCVĐTNN nhằm duy trì hoạt động lâu dài của DN; bảo đảm LIKT của người lao
động trong DNCVĐTNN phải thông qua thỏa ước tập thể và phát huy vai trò của tổ
chức công đoàn.
Trên cơ sở những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, cùng những vấn đề
đặt ra cần giải quyết để bảo đảm LIKT của người lao động trong DNCVĐTNN luận
án đã đề xuất một hệ thống giải pháp gồm 3 nhóm: Nhóm giải pháp về phía Nhà
150
nước; nhóm giải pháp về phía người lao động; nhóm giải pháp đối với
DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Các nhóm giải pháp đưa ra đều dựa
trên cơ sở những căn cứ khoa học có những yếu tố mới được phân tích có cơ sở
khoa học, có tính khả thi giữa các giải pháp và các nhóm giải pháp có mối quan hệ
tác động lẫn nhau, để bảo đảm LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN.
Việc thực hiện đầy đủ đồng bộ các giải pháp trên sẽ góp phần bảo đảm LIKT
của người lao động trong các DNCVĐTNN được thực hiện tốt, không những đem
lại hình ảnh tốt đẹp cho các DNCVĐTNN trong con mắt người lao động Việt Nam
mà còn đem lại sự ổn định việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ tay nghề và ý
thức tổ chức kỷ luật của người lao động. Đồng thời, đây sẽ là mô hình để nhân rộng
ra cho các DNCVĐTNN khác trong cả nước, phấn đấu tới năm 2020 Việt Nam cơ
bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
151
NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1. Nguyễn Thị Minh Loan (2006), Xây dựng thương hiệu nhằm nâng cao khả năng
cạnh tranh của hệ thống doanh nghiệp nước ta hiện nay - Kỷ yếu Hội thảo khoa
học - Học viện Cảnh sát nhân dân.
2. Nguyễn Thị Minh Loan (2007), Tác động của kinh tế du lịch đối với vấn đề giữ
gìn trật tự an toàn xã hội ở Quảng Ninh, thực trạng và giải pháp, Chủ nhiệm đề
tài cấp cơ sở, Học viện cảnh sát nhân dân.
3. Nguyễn Thị Minh Loan (2007), "Phát triển kinh tế du lịch và những vấn đề đặt
ra đối với nhiệm vụ giữ gìn trật tự an toàn xã hội", Tạp chí Khoa học và giáo
dục trật tự xã hội, (10).
4. Phạm Thái Bình - Nguyễn Thị Minh Loan (2012), "Mấy vấn đề dạy và học theo
học chế tín chỉ ở các trường Công an nhân dân", Tạp chí Khoa học & Giáo dục
an ninh, (3).
5. Nguyễn Thị Minh Loan (2012), Lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với vấn đề giữa gìn trật tự an toàn xã hội trên địa
bàn Hà Nội, Chủ nhiệm đề tài cấp cơ sở, Học viện Cảnh sát nhân dân.
6. Nguyễn Thị Minh Loan (2014), "Một số giải pháp nâng cao chất lượng thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam", Tạp chí Thông tin và Dự báo Kinh tế -
Xã hội, (100), tr.9-13.
7. Nguyễn Thị Minh Loan (chủ biên) (2014), Hỏi và đáp môn Những nguyên lý cơ
bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin (Phần II), Học viện Cảnh sát nhân dân.
8. Nguyễn Thị Minh Loan (2014), "Một số giải pháp bảo vệ lợi ích kinh tế của
người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp
phần đảm bảo trật tự, an toàn xã hội", Tạp chí Cảnh sát nhân dân, 11/(102),
tr.56-58.
9. Nguyễn Thị Minh Loan, Đặng Thị Lệ Thu (2014), "Bảo vệ lợi ích người lao
động trong doanh nghiệp FDI tại Hà Nội", Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (24),
tr.45 - 47.
152
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Phần tài liệu tiếng Việt:
1. Phan An (2007), Đình công tại thành phố Hồ Chí Minh - thực trạng và giải
pháp, Hội thảo về đình công tại thành phố Hồ Chí Minh.
2. Đỗ Thị Vân Anh (2010), "Nguyên nhân đình công ở một số DN trong thời gian
qua", Tạp chí Cộng sản điện tử, [Truy cập ngày 08/6/2013].
3. Adam Smith (1997), Của cải của các dân tộc, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
4. Lê Xuân Bá (2006) Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng
kinh tế ở Việt Nam, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội.
5. Bộ Chính trị (2000), Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 15/12/2000 về phương
hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ 2001 -2010.
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin (Dùng
cho các khối ngành không chuyên Kinh tế - Quản trị kinh doanh trong các
trường đại học, cao đẳng), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
7. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014), Báo cáo tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào Việt Nam năm 2014, định hướng 2015, Hà Nội.
8. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê (2015), Báo cáo điều tra lao động
và việc làm Việt Nam năm 2014, Hà Nội.
9. Phạm Thị Thanh Bình, Trần Thu Phương (2012), "Đầu tư trực tiếp nước ngoài của
Hàn Quốc vào Việt Nam: Thực trạng và triển vọng", Tạp chí Cộng sản, (3).
10. B.B. Radaev (1971), Lợi ích kinh tế trong chủ nghĩa xã hội, Nxb Matxcơva.
11. "Bức xúc của lao động trong doanh nghiệp FDI", http://www.ncseif.gov.vn
[Truy cập ngày 10/8/2015].
12. V.P. Ca-man-kin (1982), Các lợi ích kinh tế dưới chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật,
Hà Nội.
13. "Các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc: Hoạt động ổn định trong năm 2014",
http://khucongnghiep.com.vn/kinhnghiem, [Truy cập ngày 6/8/2015].
14. Chính phủ (2006), Nghị định số 108/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng
dẫn một số điều luật của Luật đầu tư.
153
15. Chính phủ (2008), Quyết định số 1463/QĐ-TTg ngày 10/10 của Thủ tướng
chính phủ về thành lập Ban Quản lý dự án các khu công nghiệp và chế
xuất Hà Nội.
16. Chính phủ (2010), Nghị định số 108/2010/NĐ-CP ngày 29/10/2010, Nghị định
Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm
việc ỏ công ty, DN, hợp tác xã, tổ hợp tác xã, trang trại, gia đình, hộ gia
đình, cá nhân và cá tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.
17. Chính phủ (2011), Nghị định số 70/2011/NĐ-CP ngày 22/8/2011, Nghị định
Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm
việc ỏ công ty, DN, hợp tác xã, tổ hợp tác xã, trang trại, gia đình, hộ gia
đình, cá nhân và cá tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.
18. Chính phủ (2012), Nghị định số 103/2012/NĐ-CP ngày 04/12/2012, Nghị định
Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm
việc ỏ công ty, DN, hợp tác xã, tổ hợp tác xã, trang trại, gia đình, hộ gia
đình, cá nhân và cá tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.
19. Chính phủ (2013), Nghị định số 182/2013/NĐ-CP, ngày 14/11/2013, Nghị
định Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao
động làm việc ỏ công ty, DN, hợp tác xã, tổ hợp tác xã, trang trại, gia
đình, hộ gia đình, cá nhân và cá tổ chức khác của Việt Nam có thuê
mướn lao động.
20. Chính phủ (2013), Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 29/8 của Thủ tướng về định
hướng nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng và quản lý đầu tư trực tiếp
nước trong thời gian tới.
21. Chính phủ (2014), Nghị quyết số 19/NP-CP ngày 18/3/2014 về những nhiệm
vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng
lực cạnh tranh quốc gia.
22. Cục thống kê Bình Dương (2015), Niên giám thống kê năm 2014.
23. Mai Ngọc Cường (2000), Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Việt Nam, Nxb Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
24. Vũ Hoàng Dương (2011), "Một số vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở
Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (7), (398).
154
25. Nguyễn Văn Dần (2014), "Khủng hoảng kinh tế toàn cầu những khuyến nghị
nhằm thu hút FDI của Việt Nam", Tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán,
(2) (127), tr.63-65.
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (1989), Nghị quyết hội nghị lần thứ VI của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI ngày 29/3/1989 về việc kiểm điểm
hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và xác định phương hướng,
nhiệm vụ ba năm tới.
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp
hành Trung ương khóa VII.
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp
hành Trung ương khóa VII.
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
30. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
31. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
32. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
33. Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô - LIKT. Nguyễn Ái Quốc - Trường đảng cao
cấp), T10, M.1972, tr.321 - 321, tài liệu dịch số 43/1981), tr.2.
34. Nguyễn Bích Đạt (2006), Khu vực Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
35. Trần Ngọc Đức (2010), Hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế của Lực
lượng cảnh sát nhân dân trong các khu công nghiệp, Luận án Tiến sĩ
Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội.
36. Đỗ Huy Hà (2013), Giải quyết quan hệ LIKT trong quá trình đô thị hóa ở nước ta
hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội
37. Lê Thanh Hà (2008), "Đình công và quan hệ lao động ở Việt Nam - Thực
trạng và giải pháp", Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, (362).
155
38. Tiến Hải (2003), "Xây dựng đội ngũ cán bộ ngườiViệt Nam trong các DN có
vốn đầu tư nước ngoài", Tạp chí Cộng sản, (13).
39. ''Hải Phòng thu hút nhiều dự án vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo"
http://dautunuocngoai.gov.vn [Truy cập ngày 9/8/2015].
40. "Hải Phòng: Đột phá thu hút FDI" http://baocongthuong.com.vn [Truy cập
ngày 9/8/2015]
41. Đào Văn Hiệp (2012), "Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ngành tại Việt Nam", Nghiên cứu kinh tế (1), (404).
42. Trần Ngọc Hưng (2006), "Thành tựu và vai trò của các Khu công nghiệp, khu
chế xuất của Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội năm 2005", Tạp
chí Khu công nghiệp Việt Nam, (1).
43. Phạm Thị Xuân Hương (2008), LIKT của công nhân trong các DN có vốn đầu
tư nước ngoài tại miền đông Nam bộ hiện nay, Báo cáo tổng hợp kết quả
nghiên cứu Đề tài khoa học cấp bộ năm 2007, Học viện Chính trị - Hành
chính KVII.
44. Nguyễn Linh Khiếu (1999) Lợi ích động lực phát triển xã hội, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
45. Nguyễn Linh Khiếu (2002), Góp phần nghiên cứu quan hệ lợi ích, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
46. Phan Thanh Khôi (2003), Ý thức chính trị của công nhân trong một số DN ở Hà
Nội hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
47. Kỷ yếu khoa học (2010), 15 năm phát triển các khu công nghiệp và khu chế
xuất, khu công nghệ cao Hà Nội, Ban quản lý các khu công nghiệp và
chế xuất Hà Nội.
48. Laprinmenco (1978), Những vấn đề lợi ích trong chủ nghĩa Lênin, Nxb
Mátxcơva.
49. Trần Quang Lâm, An Như Hải (2006), Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở
Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
50. Lee, Chang Hee (2006), Quan hệ lao động và giải quyết tranh chấp lao động
tại Việt Nam, Văn phòng tổ chức lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam,
Hà Nội
156
51. V.I.Lênin (1997), Toàn tập, Tập 36, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
52. V.I.Lênin (2005), Toàn tập, Tập 27, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
53. V.I. Lênin (1978), Toàn tập, Tập 44, Nxb Tiến bộ, Matxcơva.
54. Trần Thị Lan (2012), Quan hệ LIKT trong thu hồi đất của nông dân để xây
dựng các khu công nhiệp và khu đô thị mới ở Hà Nội. Luận án Tiến sĩ, Học
viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
55. Hoàng Thị Bích Loan, Đinh Trung Sơn (2012), "Đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào Việt Nam: Những vấn đề đặt ra và gợi ý chính sách", Tạp chí Công
Nghiệp, (6), (tr.14 - 15, 19).
56. Mai Đức Lộc (1994), Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển kinh tế ở
Việt Nam, Luận án Tiến sĩ của, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
57. Hoàng Văn Luận (2000), Lợi ích động lực của sự phát triển bền vững, Luận án
tiến sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
58. C.Mác và Ănghghen (1993), Toàn tập, Tập 3. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
59. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, Tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
60. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
61. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 18, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
62. C.Mác và Ph.Ănghen (1978), Toàn tập, Tập 1, Nxb Sự thật, tr.98.
63. C.Mác và Ănghen (1982), Tuyển tập, Nxb Sự thật.
64. C.Mác và Ănghen (1984), Tuyển tập, Nxb Sự thật.
65. Hồ Chí Minh (1954), "Giữ gìn trật tự an ninh", Báo Nhân dân, (237).
66. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
67. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
68. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, Tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
69. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, Tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
70. Phạm Bình Minh (2011), Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai
đoạn mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
71. Khoa Minh (1995), LIKT và cơ chế hoạt động của các quy luật kinh tế - Về
LIKT, Nxb Thông tin lý luận, tr.296.
72. Vũ Hữu Ngoạn, Khổng Doãn Hợi (1983), Bàn về sự kết hợp các LIKT, Nxb
Thông tin lý luận, Hà Nội.
157
73. Nhóm Phóng viên thực hiện (2012), "Diễn đàn: Tạo dựng một làn sóng FDI
mới", Tạp chí Công nghiệp, (6), tr.12-13.
74. Phòng Cảnh sát hình sự, Công an thành phố Hà Nội (2013), Báo cáo tình hình
công tác năm 2012, 2013, 2014, Hà Nội.
75. Quốc hội (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
76. Quốc hội (2011), Luật Đầu tư, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội.
77. Quốc hội (2012), Luật Công Đoàn, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội.
78. Quốc hội (2013), Bộ Luật Lao động, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội.
79. Quốc hội (2014), Luật Bảo hiểm xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội.
80. Đình Quang (2005), Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam,
Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
81. Nguyễn Duy Quang (2007), "Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Liên minh Châu
Âu vào Việt Nam", Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh
82. David Ricardo (2002), Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa,
Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.
83. Thủ tướng Chính phủ (2011), Chỉ thị số 1617/CT - TTg ngày 19/9 về việc tăng
cường thực hiện và chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư trực tiếp nước
ngoài trong thời gian tới.
84. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 1601/QĐ - TTg ngày 29/10 về
việc phê duyệt đề án nâng cao hiệu quả công tác quản lý dòng vốn đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam
85. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định số 231/QĐ-TTg, ngày 13 tháng 02
năm 2015 về việc Phê duyệt đề án "Đẩy mạnh các hoạt động học tập
suốt đời trong công nhân lao động tại các DN đến năm 2020".
86. Tập thể tác giả (1982), Bàn về lợi ích kinh tế, Nxb Sự thật.
87. Lê Hữu Tầng (1991), Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt nam. Vấn đề nguồn
gốc và động lực, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
88. Nguyễn Huy Thám (1996), Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở các
nước ASEAN và vận dụng vào Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
158
89. Nguyễn Đăng Thành, Nguyễn Thanh Tuấn (2006), "Đình công và một số vấn
đề về quan hệ lao động của công nhân hiện nay", Tạp chí Lao động & Xã
hội, (293), tr.22.
90. Nguyễn Thị Thơm (2006), Thị trường lao động Việt Nam thực trạng và giải
pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
91. Đặng Thị Cẩm Thúy (1999), Tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước
ngoài tới tình hình trật tự an toàn xã hội, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Đại
học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội.
92. Sông Thương (2012), "Tăng Cường thu hút vốn FDI thiết thực và hiệu quả",
Tạp chí Công nghiệp, Kinh tế & Quản lý, (6).
93. "Thực trạng công tác tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài tại khu kinh tế, các khu công nghiệp Hải Phòng"
http://hoidaynghehaiphong.vn [Truy cập ngày 9/8/2015].
94. Hoàng Văn Trực (2007), Hoạt động phòng ngừa Tội phạm Kinh tế trong lĩnh
vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam của lực lượng Cảnh sát nhân
dân, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội.
95. Tresnôccôp, Đ.I (1973), Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tính cách là xã hội học
của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nxb Mátxcơva.
96. Bùi Anh Tuấn (2000), Tạo việc làm cho người lao động qua đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Việt Nam, Nxb Thống kê.
97. Nguyễn Văn Tuấn (2005), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở
Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
98. Trần Nguyên Tuyên (2005), Hoàn thiện môi trường và chính sách khuyến khích
đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
99. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2012), Báo cáo số 136/BC- UBND ngày
24/09/2012, về việc tổng kết 25 năm (1987-2011) thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội.
100. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2013), Báo cáo số 19/BC-UBND ngày
16/01/2013, báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài năm 2012 và xây dựng
kế hoạch 2013.
159
101. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2015), Báo cáo số 02/ BC - UBND, ngày
07/01/2015, Báo cáo Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2014 và
xây dựng kế hoạch năm 2015 trên địa bàn thành phố Hà Nội.
102. Trần Minh Yến (2007), "Đình công, tiền lương - hai vấn đề nổi bật trong lĩnh
vực lao động, việc làm ở nước ta hiện nay", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
(353), tr.43-52.
103. Nguyễn Trọng Xuân (2002), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc CNH,
HĐH ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
104. "Bộ Lao động thương binh và xã hội", www.molisa.gov.vn [Truy cập ngày
12/10/2014 ].
105. "Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội", www.hapi.gov.vn [Truy cập ngày 20/1/2015].
106. "Sở Lao động thương binh và xã hội Hà Nội", www.hanoi.gov.vn, [Truy cập
ngày 08/2/2015].
107. "Hiệp hội DN đầu tư nước ngoài", www.vafie.org.vn [Truy cập ngày 15/3/2015].
108. "Tổng Cục thống kê", www.gso.gov.vn, [Truy cập ngày 15/4/2015].
109. "Người lao động", http://nld.com.vn, [Truy cập ngày 20/4/2015].
110. "Tạp chí Cộng sản", www.tapchicongsan.org.vn/, [Truy cập ngày 6/5/2015].
* Phần tài liệu tiếng Anh
111. Abhirup Bhunia, 2013. "Labour in times of rising foreign direct investment in
developing countries", http://www.opendemocracy.net, [Accessed on
13/4/2014].
112. Behzad Azarhoushang (2013), "He effects of FDI on China’s economic
development; case of Volkswagen in China". Master’s thesis. Institute of
Management Berlin, Berlin.
113. Daniel S. Hamermesh, Daiji Kawaguchi, Jungmin Lee (2014), Does labour
legislation benefit workers? Well-being after an hours reduction.
(Author: Daniel S. Hamermesh, Daiji Kawaguchi, Jungmin Lee; NBER
working paper No 20389).
114. Dirk Willem te Velde (2002), "Foreign Direct Investment: Who gains". ODI
(Overseas Development Institute) Briefing Paper.
160
115. Dirk Willem te Velde và Oliver Morrissey (2002), "Foreign Direct Investment,
Skills and Wage Inequality in East Asia" (Dirk Willem te Velde and
Oliver Morrissey; Publication: March 2002; Presented at DESG
conference in Nottingham).
116. Dirk Willem te Velde and Oliver Morrissey (2002), "Foreign Direct
Investment, Skills and Wage Inequality in East Asia". Presented at DESG
conference in Nottingham, April 2002.
117. Khondoker Abdul Mottaleb and Kaliappa Kalirajan (2010), "Determinants of
Foreign Direct Investment in Developing Countries: A Comparative
Analysis". ASARC Working Paper 2010/13.
118. Layna Mosley (2013), "Labour rigths and Multinational Production".
Cambridge University Press, Cambridge, 306p.
119. N.Driffield and K.Taylor (2000), "FDI and the labour market: a review of the
evidence and policy implications". Paper prepared for special edition of
Oxford Review of Economic Policy on Globalisation and Labour
Markets.
120. Priit Vahter (2004), "The Effect Of Foreign Direct Investment On Labour
Productivity: Evidence From Estonia And Slovenia". U. of Tartu
Economics and Business Administration Working Paper No. 32.
121. Timothy BesleyRobin Burgess (2008), "Labor Regulation Hinder Economic
Performance? Evidence from India - 2008", Timothy BesleyRobin Burgess.
122. Tu Phuong Nguyen (2014), "Reforming labour relations in Vietnam".
http://www.eastasiaforum.org, [Accessed on 15/8/2014]
123. "Vietnam - Low skill, low cost labour strategy undermining the labour"
(2014). http://www.staffingindustry.com/, [Accessed on 09/06/2014]
124. Harold Meyerson (2014), "Workers deserve to benefit from their productivity,
too", http://www.washingtonpost.com, [Accessed on 28/12/2014].
125. The Conference Board Total Economy Database™ (2011),
http://www.conference-board.org/data/economydatabase.
PHỤ LỤC 1: MẪU PHIẾU KHẢO SÁT MỨC SỐNG CỦA CÔNG NHÂN
TRONG CÁC DNCVĐTTN
Xin chào anh/chị!
Chúng tôi đang tiến hành khảo sát về mức sống của công nhân
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Rất mong nhận
được ý kiến chính xác, khách quan của anh/chị vào phiếu hỏi này. Những
thông tin anh/chị cung cấp nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học
(anh/chị không phải điền tên vào phiếu).
Xin trân trọng cảm ơn anh/chị!
Câu 1: Anh/chị vui lòng cho biết một số thông tin về bản thân:
1. Tuổi:
3. 35-44
1. 18-24
4. Trên 44 tuổi
2. 25-34
2. Giới tính:
2. Nữ
1. Nam
3. Anh/chị đến từ:
1. Thành phố, thị xã
2. Nông thôn, miền núi
4. Thành phần gia đình:
1. Cán bộ, công chức
3. Nông dân
2. Công nhân
4. Khác (ghi rõ)…………………….
5. Tình trạng hôn nhân:
1. Đã lập gia đình
2. Chưa lập gia đình
6. Điều kiện cư trú:
1. Ở nhà riêng
3. Thuê nhà trọ
2. Ở tập thể (của cơ quan)
4. Khác (ghi rõ)……………………
7. Vị trí công tác:
1. Quản lý
2. Nhân viên
8. Trình độ tay nghề:
5. 5/7
1. 1/7
6. 6/7
2. 2/7
7. 7/7
3. 3/7
4. 4/7
9. Trình độ học vấn:
1. Tốt nghiệp cấp II
4. Tốt nghiệp cao đẳng- đại học
2. Tốt nghiệp cấp III
5. Sau đại học
3. Tốt nghiệp sơ- trung cấp
6. Khác (ghi rõ)…………………..
10. Nơi đào tạo nghề của anh/chị:
1. Tại công ty
2. Tại trung tâm dạy nghề, cơ sở đào tạo (trường học)
3. Tại cơ sở đào tạo liên kết
4. Khác (ghi rõ)………………………………………………………….
11. Số năm anh/chị làm việc tại công ty này? (vui lòng ghi rõ số năm): …………… năm
12. Mức lương khởi điểm của anh chị ở công ty này? (anh/ chị vui lòng ghi rõ số tiền):
……….. 000đ
13. Mức thu nhập hiện nay của anh/chị (vui lòng ghi rõ số tiền)? …………………. 000 đ
14. Anh/chị vui lòng cho biết thời gian được tăng lương của công ty anh/chị?
1. 1 lần/ 1 năm
3. 3 lần/ năm
2. 2 lần/ năm
4. Khác (ghi rõ)……………………………
15. Anh/chị cho biết mỗi lần tăng lương thì người lao động được tăng bao nhiêu tiền? (vui
lòng ghi rõ số tiền): ……….…. 000 đ
16. Trước khi vào làm ở doanh nghiệp này, anh/chị đã tham gia làm việc ở cơ quan nào
khác hay chưa?
1. Chưa đi làm ở đâu cả
4. DN vốn đầu tư nước ngoài
5. Khác (ghi rõ)…………………………….
2. DN nhà nước
3. DN tư nhân VN
Câu 2: Công ty anh/chị có vốn đầu tư từ quốc gia nào?
4. Singapore
1. Đài Loan
5. Hoa Kỳ
2. Hàn Quốc
6. Nước khác (ghi rõ)………………………
3. Nhật Bản
Câu 3: Ngành sản xuất của công ty anh/chị thuộc lĩnh vực nào?
1. Nông nghiệp
3. Dịch vụ lưu trú và ăn uống
2. Công nghiệp, xây dựng
4. Khác (ghi rõ)…………………………..
Câu 4: Anh/chị vui lòng cho biết mức độ hài lòng của mình về những nội dung dưới
đây ở công ty? (khoanh tròn vào 1 số ở mỗi hàng ngang)
Mức độ hài lòng
Nội dung
Bình
Không
Không có
Hài
lòng
thường
hài
lòng
1. Tiền lương
1
2
3
4
2. Tiền thưởng
1
2
3
4
3. Phụ cấp (bằng tiền)
1
2
3
4
4. Du lịch, nghỉ mát
1
2
3
4
5. Bảo hiểm xã hội
1
2
3
4
6. Trợ cấp khi ốm đau, tai nạn
1
2
3
4
7. Tiền tiết kiệm hàng tháng
1
2
3
4
8. Thời gian tăng ca
1
2
3
4
9. Chế độ bồi dưỡng tiền tăng ca
1
2
3
4
10. Mức ăn trưa, ăn ca
1
2
3
4
11. Nhà ở cho công nhân
1
2
3
4
Câu 5: Khi quyền lợi của công nhân trong công ty bị ảnh hưởng, ai là người đại diện
đấu tranh cho họ?
1. Công đoàn
4. Tổ chức khác
2. Đoàn TNCSHCM
5. Không ai cả
3. Công nhân tự đấu tranh
Câu 6: Anh/chị vui lòng cho biết những lý do khiến công nhân chưa hài lòng ở công ty
anh/chị?
1. Lương thấp
2. Chậm lương
3. Thiếu cơ hội thăng tiến
4. Chế độ đãi ngộ thiếu công bằng
5. Thiếu minh bạch, dân chủ
6. Ít quan tâm đến công nhân
7. Không hỗ trợ chỗ ở cho công nhân
8. Chế độ ăn trưa, ăn ca kém
9. Không hoặc ít hỗ trợ khi công nhân đau ốm
10. Không hoặc ít quan tâm đến gia đình công nhân
11. Công việc bấp bênh, không ổn định
12. Thời gian tăng ca nhiều
13. Chế độ bồi dưỡng (tiền, thưởng,…) khi tăng ca kém
14. Không đảm bảo an toàn lao động
15. Môi trường lao động ô nhiễm gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe (khói,
bụi, tiếng ồn,…)
16.Lý do khác (xin ghi rõ)……………………………………………………..
Câu 7: Công ty anh/chị đã từng xảy ra đình công chưa?
1. Đã từng xảy ra Trả lời câu 8, bỏ qua câu 9
2. Chưa từng xảy ra Bỏ qua câu 8, trả lời câu 9
Câu 8: Nếu đã từng xảy ra đình công thì vì lý do gì?
1. Lương thấp
2. Thường phải tăng cường độ lao động
3. Chế độ đãi ngộ kém
4. Bị ép thời gian làm việc
5. Phạt trừ lương, thưởng khi vi phạm
6. Thường phải tăng ca
7. Lý do khác (xin ghi rõ)………………………………………………….
Câu 9: Nếu chưa từng xảy ra đình công thì vì lý do gì?
1. Lương tốt
2. Thưởng tốt
3. Mọi người sợ bị mất việc
4. Lý do khác (xin ghi rõ)…………………………………………………
Câu 10: Anh/ chị vui lòng cho biết nhu cầu, nguyện vọng chủ yếu của công nhân
trong công ty anh/ chị hiện nay?
1. Nhà ở
7. Thời gian làm việc, nghỉ ngơi thoải mái
2. Tăng lương
8. Cơ hội học tập nâng cao trình độ
3. Giảm tăng ca
9. Công bằng, minh bạch về lương, thưởng
4. Cơ hội thăng tiến
10. Chế độ du lịch, nghỉ mát
5. Tăng mức thưởng
11. Được đóng bảo hiểm xã hội
6. Thu nhập ổn định
12.Khác (xin ghi rõ)…………………………
Câu 11: Những ý kiến khác về các chế độ đãi ngộ của công ty đối với công nhân?
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………….
Xin trân trọng cảm ơn anh/chị!
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT CỦA ĐỀ TÀI
1. KHÁI QUÁT MẪU ĐIỀU TRA
Cuộc khảo sát được tác giả thực hiện vào cuối tháng 5 năm 2014 tại 13
Doanh nghiệp FDI trên địa bàn Hà Nội:
-
Số phiếu phát ra 500 phiếu, tác giả thu về được 487 phiếu
- Số phiếu đưa vào xử lý thông tin: 487 phiếu
- Đây là ý kiến của người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có
vốn tư nước ngoài trên địa bàn Hà Nội tại 3 khu công nghiệp: KCN Nam Thăng Long,
Đông Anh Hà Nội, KCN Nội Bài, Sóc Sơn, Hà Nội, KCN Quang Minh, Mê Linh , Hà Nội.
Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được chọn phát
bảng hỏi đến từ các quốc giaĐài Loan;Hàn Quốc; Nhật Bản;Singapore; Hoa Kỳ và là
những người lao động trực tiếp trong lĩnh vực: cơ khí, điện tử, dệt may, da giầy..., để tìm
hiểu về lợi ích của họ. Cụ thể như sau:
PHỤ LỤC 3: KHẢO SÁT 3 DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ
Công ty
NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Canon
Coldtech
Credit Up
Nội dung
1. Môi trường tự nhiên
- Tiếng ồn
Các điều kiện đều
- Ít
- Ít
- Bụi, khói - Thông gió
đạt các tiêu chuẩn cho phép và tiêu
- Có - Có
- Không - Có
- Nhiệt độ, độ ẩm
chuẩn ISO
- Bình thường
- Có
2. Môi trường xã hội - Nhà ở.
- Có nhà ở cho nhân
- Không
- Không
- Phương tiện đi lại
viên làm ca - Không
- Không
- Không
3. Đào tạo nâng cao tay nghề - Trong nước (tại chỗ) - Nước ngoài
- Có - 6 tháng một đợt tuỳ
- Thi nâng bậc - Không
- Có - Không
theo vị trí công việc
4. Đời sống tinh thần - Báo chí, phim ảnh - Giao lưu tập thể
- Luôn cập nhật - Giao lưu các bộ
- Không - Có
- Có - Có
- Tham quan du lịch
phận và công ty - 1 lần / năm
- Có
- Có
- Có
- Có
- Có
5. Hoạt động công đoàn
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
PHỤ LỤC 4: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC KCN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐÃ VÀ ĐANG HOẠT ĐỘNG (8 KCN)
STT KCN KCN KCN KCN KCN Hà KCN KCN KCN
Thăng Sài Nam Nội Nội-Đài Thạch Phú Quang
Long Đồng B Thăng Bài Tư Thất- Nghĩa Minh 1
Long Quốc
Oai
1 Diện 274 ha 40 ha 30,4 ha 100 40 ha 155 ha 170 407
ha ha ha tích
2 90,3 120 tỷ 92 tỷ 35,05 150 tỷ 220 tỷ 250 tỷ 813 tỷ Vốn
đầu tư triệu $ đồng đồng triệu $ đồng đồng đồng đồng
3 Tỷ lệ 100% 100% 100% 100% 70% 100% 70% 80%
lấp đầy
4 KCN -KCN Bắc Thường Tín (470 ha)
đang -KCN Phụng Hiệp (174 ha)
triển -KCN Quang Minh II (266 ha)
khai -KCNC sinh học Từ Liêm
-Khu công viên công nghệ thông tin Him Lam
Nguồn: [101]
-KCN Sóc Sơn, KCN Phú Cát, KCN Đông Anh, KCN Kim Hoa.
Tên
PHỤ LỤC 5: CÔNG TY CANON VIETNAM
CÔNG TY CANON VIETNAM
doanh nghiệp:
Tên giao dịch:
Canon Vietnam
Lĩnh vực:
Khu Công nghiệp
Số giấy phép:
2198KCN
Ngày cấp:
11/04/2001
Địa chỉ:
Khu Công nghiệp Thăng Long
Loại hình đầu tư:
100% vốn
Tên quốc gia:
Nhật Bản
Thời hạn:
46 Năm
Tỉ lệ nước ngoài:
100 %
Vốn đầu tư:
176.700.000 (USD)
Vốn pháp định:
55.000.000 (USD)
Vốn vay:
121.700.000 (USD)
Điện thoại:
0438812111
Mục tiêu:
Sản xuất, xuất khẩu và tiêu thụ nội địa các loại máy in phun
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội
Tên doanh nghiệp:
PHỤ LỤC 6: CÔNG TY TNHH CREDIT UP VIỆT NAM
CÔNG TY TNHH CREDIT UP VIỆT NAM
Tên giao dịch:
Công ty TNHH Credit Up Việt Nam
Lĩnh vực:
Xe máy - phụ tùng
Số giấy phép:
2029
Ngày cấp:
21/11/2003
Khu công nghiệp Nội Bài, Hà Nội
Địa chỉ:
Loại hình đầu tư:
100% vốn
Tên quốc gia:
Đài Loan
Thời hạn:
50 năm
Vốn đầu tư:
80.268.000 (USD)
Vốn pháp định:
24.250.000 (USD)
Vốn vay:
56.018.000 (USD)
Mục tiêu:
Sản xuất Xe máy - phụ tùng.
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội
Tên doanh nghiệp:
PHỤ LỤC 7: CÔNG TY TNHH COLDTECH
CÔNG TY TNHH COLDTECH
Tên giao dịch:
COLDTECH
Lĩnh vực:
Khu Công nghiệp
Số giấy phép:
54KCN
Ngày cấp:
06/11/2003
Khu Công nghiệp Quang Minh, huyện Mê Linh, Hà nội
Địa chỉ:
Loại hình đầu tư:
100% vốn
Tên quốc gia:
Mỹ
Thời hạn:
44 Năm
Tỉ lệ nước ngoài:
100 %
Vốn đầu tư:
2.200.000 (USD)
Vốn pháp định:
1.000.000 (USD)
1.200.000 (USD)
Vốn vay:
Mục tiêu:
Sản xuất đồ điện tử, gia công và lắp tủ lạnh...
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội
PHỤ LỤC 8: BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI

