HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ MINH LOAN

LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2015

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ MINH LOAN

LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành

: Kinh tế chính trị

Mã số

: 62 31 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS NGUYỄN KHẮC THANH

HÀ NỘI - 2015

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu

của riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận án là trung

thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ

theo đúng quy định.

Tác giả

Nguyễn Thị Minh Loan

MỤC LỤC

Trang

1 6 MỞ ĐẦU Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI

6 13 24 1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 1.2. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước 1.3. Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài và những

vấn đề đặt ra cần phải tiếp tục nghiên cứu 29

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

2.1. Lý luận về lợi ích kinh tế 2.2. Lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu 29 36 tư nước ngoài 2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người lao động trong các 50

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam 69

76

2.4. Kinh nghiệm một số tỉnh của Việt Nam về việc giải quyết lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Chương 3: THỰC TRẠNG LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 76

3.1. Những thuận lợi và khó khăn thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội 3.2. Tình hình thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh 82 nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội 100

118

3.3. Đánh giá chung về thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 118

4.1. Những quan điểm cơ bản nhằm bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội 127

4.2. Các giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

148 151

152 KẾT LUẬN DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bộ luật lao động

:

BLLĐ

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

:

Chủ nghĩa tư bản

CNTB

:

Doanh nghiệp

:

CNH, HĐH

DN

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

:

DNCVĐTNN

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

:

FIE

Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá

:

ISO

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

:

FDI

Tổng sản phẩm quốc nội

GDP

:

KCN

:

Khu công nghiệp

:

Lợi ích kinh tế

LIKT

:

Quan hệ sản xuất

:

Sản xuất kinh doanh

QHSX

SXKD

:

Trật tự an toàn xã hội

TTATXH

:

Đô la Mỹ

USD

:

Xã hội chủ nghĩa

XHCN

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Các quốc gia có số vốn đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam 6 61

tháng đầu năm 2014

Bảng 3.1: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp vào sự 88

tăng trưởng của GDP

Bảng 3.2: Mức lương tối thiểu vùng đối với doanh nghiệp FDI 90

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ

Trang

Biểu đồ 3.1: Đánh giá trình độ chuyên môn của lực lượng lao động 78

thành phố Hà Nội năm 2013

89 Biểu đồ 3.2: Mức độ hài lòng về các chế độ cho công nhân

92 Biểu đồ 3.3: Lý do chưa hài lòng của người lao động

94 Biểu đồ 3.4: Nguyên nhân đình công của người lao động

96 Biểu đồ 3.5: Các tổ chức đại diện đấu tranh cho người lao động trong

các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Biểu đồ 3.6: Hoàn cảnh cư trú của người lao động trong các doanh 98

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Hà Nội

Sơ đồ 2.1: Mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa người lao động, 59

doanh nghiệp, nhà nước

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong tình hình hiện nay trước sự bùng nổ về khoa học kỹ thuật thông tin

và xu thế toàn cầu hóa kinh tế đã tạo cho nền kinh tế thế giới phát triển năng

động mạnh mẽ hơn, cùng với xu thế chung đó đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng đã có sự gia tăng hơn trước rất nhiều.

Sự gia tăng đó do nhiều yếu tố khách quan tác động, đặc biệt là sự tác

động của nền kinh tế thế giới bước đầu thoát ra khỏi khủng hoảng. Lạm phát ở

một số nước Châu Á giảm, tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trong khu vực đã có

chiều hướng gia tăng. Đầu tư nước ngoài vào thành phố Hà Nội có sự khởi sắc

đã tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Đáng chú ý là các dự

án đầu tư được thực hiện đã góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm cho

số lượng lớn lao động của thành phố Hà Nội.

Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DNCVĐTNN) đã quan tâm

đến lợi ích của người lao động làm việc ở cơ sở sản xuất của họ, trả lương cho công

nhân ở mức thoả đáng đáp ứng nhu cầu tái sản xuất sức lao động, quan tâm đến điều

kiện môi trường làm việc của công nhân và đã có những hoạt động nhằm nâng cao

đời sống tinh thần cho công nhân. Phần lớn người lao động trong các DNCVĐTNN

có thu nhập khá ổn định, tiền thưởng tăng lên, lợi ích kinh tế (LIKT) của người lao

động được bảo đảm, đời sống của họ từng bước được cải thiện, góp phần thực hiện

mục tiêu ổn định kinh tế - xã hội ở Thủ đô và các tỉnh lân cận.

Tuy nhiên, bên cạnh các DNCVĐTNN có sự quan tâm đối với đời sống vật

chất, tinh thần cho người lao động, cũng còn không ít các chủ doanh nghiệp (DN)

do chạy theo lợi nhuận, mưu lợi cho mình nên đã hạn chế, không quan tâm tới lợi ích

chính đáng của người lao động làm việc trong cơ sở sản xuất của mình, trả lương cho

công nhân thấp, lương không bảo đảm tái sản xuất sức lao động ở mức bình thường,

điều kiện, môi trường làm việc độc hại không được xử lý, trang thiết bị cho người lao

động không bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn lao động. Nhiều DNCVĐTNN

không lo được chỗ ở cho công nhân, phần lớn công nhân tự thuê nhà, phòng trọ để cư

trú, các nhà trọ gần với khu vực làm việc của công nhân, nhưng mang tính tạm bợ, bố

2

trí trong không gian chật hẹp, thiếu điện nước thường xuyên. Đời sống tinh thần của

công nhân cũng rất hạn chế, ngoài giờ làm việc công nhân ít được tiếp xúc với các

phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, phim ảnh, ti vi…

Nhìn chung, tình trạng một số DNCVĐTNN vẫn chưa quan tâm thích đáng

đến lợi ích kinh tế của người lao động cụ thể là:

- Vi phạm lợi ích kinh tế trực tiếp của người lao động: Tiền công; tiền

thưởng; quỹ phúc lợi, bảo hiểm.

- Vi phạm lợi ích kinh tế gián tiếp: Điều kiện môi trường làm việc độc hại,

trang thiết bị cho người lao động không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn lao

động thấp; đời sống tinh thần thiếu thốn.

- Xuất hiện nhiều hiện tượng tiêu cực trong quá trình sử dụng lao động, lừa

đảo, đánh đập người lao động, không thể hiện sự quan tâm đến lợi ích kinh tế của

người lao động...

Do điều kiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong các

DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội không được bảo đảm dẫn tới tình trạng

người lao động trong nhiều DN đình công, đấu tranh đòi tăng lương, cải thiện môi

trường làm việc, yêu cầu các chủ DN quan tâm tới các nhu cầu và lợi ích chính

đáng của công nhân. Mặt khác, cũng do lợi ích của công nhân bị xâm hại, mức

lương thấp, điều kiện cuộc sống khó khăn đã có một bộ phận công nhân sa vào các

tệ nạn xã hội trộm cắp, cờ bạc, lừa đảo… Tất cả các hiện tượng tiêu cực nảy sinh

trong đời sống của người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố

Hà Nội đã tác động không tốt đối với sự phát triển kinh tế và trật tự an toàn xã hội

(TTATXH) trên địa bàn thành phố.

Trước thực trạng trên dẫn đến có nhiều cuộc đình công, bãi công, của người

lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Do tích tụ mâu

thuẫn trong giải quyết lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNCVĐTNN

xuất hiện những xung đột xã hội, gây ra những biến động xấu về kinh tế, chính trị.

Đây không chỉ là vấn đề bức xúc mà còn là vấn đề phải giải quyết cơ bản lâu dài

trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài và bảo đảm lợi ích kinh tế cho người lao

động, cần phải được nghiên cứu và có những giải pháp cần thiết. Vì vậy, nghiên cứu

3

sinh lựa chọn vấn đề: "Lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội", để làm đề tài luận án

Tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

sâu sắc.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về LIKT của người lao động trong

các DNCVĐTNN. Luận án đánh giá thực trạng LIKT của người lao động trong

các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội trong những năm qua. Trên cơ

sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm bảo đảm LIKT của người lao động trong

các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

- Làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn về LIKT và LIKT của người lao

động trong các DNCVĐTNN.

- Phân tích, đánh giá thực trạng LIKT của người lao động trong các

DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội.

- Đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm LIKT của người lao

động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020 và tầm

nhìn đến năm 2030.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án: Luận án tập trung nghiên cứu về

LIKT mà người lao động có được khi làm việc trong các DNCVĐTNN trên địa bàn

thành phố Hà Nội.

3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án

- Về nội dung: Trên địa bàn thành phố Hà Nội có vốn đầu tư nói chung, mà

chỉ nghiên cứu trong DN thuộc loại 100% vốn đầu tư nước ngoài.

- Về không gian: Trên địa bàn thành phố Hà Nội ở 3 khu công nghiệp

(KCN): KCN Bắc Thăng Long huyện Đông Anh, Hà Nội; KCN Nội Bài huyện Sóc

Sơn, Hà Nội, và KCN Quang Minh huyện Mê Linh, Hà Nội.

- Về thời gian: Luận án nghiên cứu từ năm 2000 đến 2014 và đề xuất giải

pháp đến năm 2020.

4

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1. Cơ sở lý luận của luận án

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, chủ

trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhà

nước; kết quả của những công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu có liên quan đến

LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN. Từ đó, xây dựng cơ sở lý luận

cho đề tài của luận án.

4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án

- Về phương pháp luận: Luận án sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa

duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá khoa học để phân

tích các vấn đề lý luận và thực tiễn.

- Về phương pháp nghiên cứu cụ thể: Sử dụng các phương pháp thống kê,

phân tích, lô gíc kết hợp với lịch sử, khảo sát thực tiễn.

- Kế thừa một cách có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình khoa

học đã được công bố, đồng thời cập nhật, bổ sung những tư liệu mới về chủ đề

nghiên cứu.

5. Những đóng góp mới của luận án

- Làm rõ khái niệm, bản chất, đặc trưng và cơ cấu LIKT của người lao động

trong các DNCVĐTNN.

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến LIKT của người lao động trong các

DNCVĐTNN.

- Đánh giá thực trạng LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN trên

địa bàn thành phố Hà Nội. Chỉ ra được những nguyên nhân gây nên xung đột về lợi

ích giữa người lao động với các chủ DNCVĐTNN.

- Đề xuất các quan điểm nhằm bảo đảm LIKT của người lao động trong các

DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội.

- Đề xuất 03 nhóm giải pháp nhằm bảo đảm LIKT của người lao động trong

các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới.

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong

giảng dạy, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến LIKT của người lao động nói

chung và người lao động trong các DNCVĐTNN nói riêng.

5

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Về mặt lý luận, luận án đã hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề lý

luận cơ bản về LIKT như: Khái niệm về lợi ích, LIKT, LIKT của người lao động

trong các DNCVĐTNN, đặc điểm, cơ cấu, các nhân tố ảnh hưởng đến LIKT của

người lao động. Trên cơ sở đó, luận án góp phần tạo ra cơ sở lý luận vững chắc về

LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN ở Việt Nam.

- Về mặt thực tiễn, từ phân tích thực trạng LIKT của người lao động trong

các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2000 - 2014, luận án chỉ

ra những kết quả đạt được, những mặt hạn chế chủ yếu và nguyên nhân của những

hạn chế đó, đưa ra các quan điểm và giải pháp có tính khả thi, nhằm bảo đảm LIKT

của người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Vì vậy,

luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo tốt cho thành phố Hà Nội nói riêng để

vận dụng vào giải quyết mối quan hệ LIKT giữa người lao động, DNCVĐTNN và

các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận án

gồm 4 chương, 12 tiết.

6

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

1.1.1. Một số tác phẩm nghiên cứu về lợi ích kinh tế tiêu biểu của

nước ngoài

Trong tác phẩm "The wealth of nations" (Của cải của các dân tộc) [3, tr.65]

của A.Smith, cho rằng: Sự tiến bộ vĩ đại nhất trong quá trình phát triển sức sản xuất

của lao động và tỷ lệ đáng kể của nghệ thuật, kỹ năng và trí thông minh, rõ ràng đã

được xuất hiện nhờ kết quả của việc phân công lao động. Ông đã quan sát quá trình

làm việc của các xưởng thủ công thấy rõ khi có sự phân công chuyên môn hoá thì

năng suất của mỗi người trong điều kiện phân công chuyên môn hoá đã tăng gấp

nhiều lần. Điều quan trọng hơn cả là thông qua việc sản xuất theo lối phân công

chuyên môn hoá lao động, sẽ phát hiện ra cơ sở lợi ích. LIKT và phân công lao

động chính là hai phạm trù có mối quan hệ gắn bó với nhau, vì lợi ích cá nhân mà

con người thực hiện thông qua việc phân công lao động để mỗi người tự trau dồi

nghề nghiệp của mình một cách chuyên sâu đến mức độ hoàn hảo, khiến việc lao

động mang lại hiệu quả cao nhất. Mặt khác, khi tham gia vào phân công lao động sẽ

làm cho lợi ích cá nhân gia tăng.

Hơn nữa, A.Smith còn có một quan điểm hết sức độc đáo và thực tế so với

đương thời khi ông cho rằng động lực thúc đẩy con người lao động để làm ra của

cải vật chất cho xã hội, tạo ra sự phồn thịnh của mọi quốc gia, mọi dân tộc chính là

LIKT của mỗi cá nhân, lòng ham tư lợi, vị kỷ của cá nhân, ham làm giàu. Đây là

quan điểm rất tiến bộ và thực tế, nhưng A.Smith đã bị các nhà kinh tế đương thời

phê bình khá gay gắt.

A.Smith đã làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lợi ích chung của toàn dân tộc,

toàn quốc gia và LIKT của mỗi cá nhân. Ông khẳng định quốc gia sẽ trở nên phồn

thịnh nếu mọi cá nhân không ngừng nỗ lực để cải thiện sinh hoạt của riêng mình tức

thực hiện lợi ích cá nhân của mình. Mọi người lao động, phục vụ người khác chính

là vì lợi ích riêng của họ, do đó khi muốn họ làm việc, phục vụ thì chúng ta không

7

bao giờ nói với họ về những nhu cầu của chúng ta, mà chỉ nói với họ về mối tư lợi

của họ. Đây thực sự là một quan niệm đặc biệt về LIKT, tính thực tiễn và tiến bộ

của quan điểm đặc biệt này đã được thực tế chứng minh.

Theo A.Smith, trong quá trình hoạt động kinh tế, mỗi người đều theo đuổi lợi

ích cá nhân, đều nỗ lực cải thiện mức sống của mình, như thế tất yếu sẽ dẫn đến làm

tăng của cải xã hội. Nhưng xuất phát từ tính vị kỷ của con người, lợi ích của cá

nhân này bị hạn chế bởi lợi ích của cá nhân khác và trong quá trình thực hiện LIKT,

tất cả các chủ thể đều có mối quan hệ với nhau. A.Smith đã viết: "Anh cho tôi thứ

mà tôi thích, anh sẽ có thứ mà anh yêu cầu, đó chính là ý nghĩa của trao đổi" [3,

tr.65]. Từ quan điểm đó, A.Smith đã chỉ rõ: Đó chính là toàn bộ ý nghĩa quan hệ

kinh tế và cũng chính bằng cách này mà người ta nhận được phần lớn các dịch vụ

cần thiết trong cuộc sống. Như vậy, lần đầu tiên ông đã nghiên cứu các lợi ích trong

mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng, Ông cho rằng, bất cứ lợi ích nào cũng chỉ được

đáp ứng trong trường hợp nó không mâu thuẫn với tăng năng suất của tư bản. Tiền

lương cao không mâu thuẫn với lợi ích xã hội, vì theo mức tăng tiền lương thì năng

suất lao động cũng sẽ được tăng lên. Mặt tích cực trong lý luận lợi ích của A. Smith

là ở chỗ: LIKT được coi là động lực cơ bản của sự phát triển sản xuất xã hội, ông

thừa nhận yếu tố khách quan trong nội dung của LIKT với tư cách là đầu mối trong

hoạt động kinh tế của con người [3].

Nhà kinh tế David Ricardo (1772 - 1823) đã khẳng định: Lợi ích kinh tế của

các giai cấp khác nhau được xây dựng trên cơ sở lý luận về giá trị, tiền lương và lợi

nhuận chỉ là bộ phận của giá trị và cũng là nguồn gốc của lao động. Do đó, việc

tăng hay giảm tiền lương sẽ không ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa, mà chỉ ảnh

hưởng đến việc phân phối giá trị đã được tạo ra giữa công nhân và tư bản, vì vậy sẽ

ảnh hưởng đến lợi ích của họ. Khi giá trị vật phẩm tiêu dùng thiết yếu giảm xuống,

tiền công lao động giảm, lợi nhuận của nhà tư bản tăng lên. Điều đó thể hiện trong

số giá trị mới được tạo ra, phần của công nhân nhỏ hơn, còn phần của người sử

dụng lao động (nhà tư bản) thì lớn hơn, đây là mối quan hệ tỷ lệ nghịch về lợi ích,

nếu lợi ích của người đi thuê công nhân tăng thì lợi ích của người đi làm thuê sẽ

giảm và ngược lại [82]. Phát hiện này của ông có ý nghĩa rất lớn đối với việc nghiên

cứu quan hệ lợi ích giữa chủ và thợ trong các cơ sở sản xuất có thuê mướn lao động.

8

Laprinmenco (1978), Những vấn đề lợi ích trong chủ nghĩa Mác - Lênin

Trong tác phẩm này, tác giả đã đưa ra quan niệm về lợi ích mang tính triết học, theo

ông, "Lợi ích chính là mối quan hệ xã hội khách quan của sự tự khẳng định xã hội

của chủ thể" [48, tr.16-30]. Về bản chất của lợi ích, ông cho rằng nghiên cứu quá

trình tự khẳng định bản thân trong đời sống xã hội sẽ hiểu được bản chất và nội

dung lợi ích khách quan của chủ thể. Bởi vì, hoạt động tự khẳng định bản thân trong

xã hội là nhân tố quan trọng nhất của những hoạt động có mục đích của con người.

Khi thực hiện các hoạt động này, con người sẽ bộc lộ những đặc tính thể hiện rõ sự

phù hợp của họ với vị trí và vai trò của mình trong xã hội. Họ thấy mình thuộc vào

giai cấp, tầng lớp nào? Đó chính là nội dung của lợi ích và LIKT. Tóm lại, nội dung

của LIKT là phương thức tự khẳng định xã hội của anh ta, thể hiện trước hết ở

phương thức thỏa mãn những nhu cầu vật chất (kinh tế) của chủ thể.

Phân tích mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích để soi sáng quá trình hình

thành quan hệ lợi ích trong xã hội. Ông cho rằng, lợi ích và nhu cầu luôn gắn bó

hữu cơ với nhau, quan hệ lợi ích chỉ xuất hiện khi có quan hệ nhu cầu, lợi ích xuất

phát từ nhu cầu và đồng thời là phương tiện để thoả mãn nhu cầu. Ông cũng phân

tích những đặc tính của lợi ích nói chung, LIKT nói riêng và đã tán thành quan điểm

của V.I.Lênin khi cho rằng LIKT là một hiện tượng có thực, biểu hiện của các mối

quan hệ kinh tế khách quan. Tính khách quan của lợi ích thể hiện ở chỗ, nó xuất

hiện bên ngoài chủ thể, không phụ thuộc vào nhận thức của chủ thể, lợi ích cũng

mang tính lịch sử cụ thể và tính giai cấp. Những quan điểm về LIKT của ông chủ

yếu xuất phát từ việc phân tích, phát triển các chỉ dẫn của Lênin về vấn đề này.

B.B.Radaev (1971), Lợi ích kinh tế trong chủ nghĩa xã hội [10], trong tác

phẩm này tác giả bên cạnh việc phân tích bản chất của LIKT, tác giả còn nhận diện

hệ thống LIKT đặc thù của xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) và đi sâu phân tích vai

trò động lực phát triển xã hội của LIKT trong môi trường xã hội XHCN của Liên

Xô (cũ). Ông cũng nhìn thấy mối quan hệ biện chứng của LIKT với lợi ích tinh

thần, LIKT riêng và lợi ích chung của xã hội, nếu điều tiết hợp lý hệ thống các mối

quan hệ LIKT này sẽ tạo động lực phát triển của xã hội.

Tóm lại, những công trình nghiên cứu tiêu biểu về LIKT của các tác giả nước

9

ngoài đã thể hiện rõ những quan điểm dưới góc độ nghiên cứu khác nhau về lợi ích

và LIKT nói chung. Nhưng cũng đã có nhiều ý kiến đồng nhất, đặc biệt là vai trò

của LIKT với tư cách là một động lực phát triển xã hội.

1.1.2. Một số tác phẩm tiêu biểu ở nước ngoài nghiên cứu về đầu tư và

mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp và người lao động

Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908 - 1970), đã đưa ra thuyết về nhu cầu

nổi tiếng vào những năm 1950 (Thuyết nhu cầu của Maslow). Học thuyết này chỉ

rõ: Lợi ích nhu cầu - động lực kinh tế, bổ sung gắn kết động lực nhu cầu - LIKT,

mọi lợi ích đều xuất phát từ nhu cầu của con người mong muốn và luôn đấu tranh

để thoả mãn đáp ứng những nhu cầu đó. Nhu cầu của con người có hai nhóm chính:

nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs). Theo đó, nhu cầu

bậc thấp bao giờ cũng cần thiết và quan trọng hơn, đóng vai trò định hướng của mục

tiêu cá nhân. Khi nhu cầu bậc thấp được thoả mãn, những nhu cầu bậc cao sẽ là

động cơ hành động và khi những nhu cầu chưa được thoả mãn ở bậc dưới sẽ lấn át

những nhu cầu chưa được thoả mãn ở bậc cao hơn và chúng cần được thoả mãn

trước khi một cá nhân tiến lên các bậc cao hơn của tháp nhu cầu.

Theo Harold Meyerson (Mỹ), "Công nhân cũng xứng đáng hưởng lợi ích từ

năng suất lao động của họ" [124]. Đây là một bài báo dựa trên quan điểm cá nhân

của Harold Meyerson, được đăng trên trang điện tử của tạp chí danh tiếng

Washington Post - về dự luật của Đảng Dân chủ, mang tên nhà Dân chủ Chris Van

Hollen, dự luật Hollen. Dựa trên thực tế của nước Mỹ hiện tại, khi mà mức tăng

lương, thu nhập của người công nhân không tương xứng với năng suất lao động mà

họ đã tạo ra, dự luật Hollen yêu cầu, mức lương của công nhân sẽ được tăng tương

xứng với năng suất họ tạo ra. Lấy dẫn chứng trong khoảng thời gian từ năm 1942

đến 1972, năng suất tăng 97% còn tiền lương trung bình tăng 95%, sau đó, cùng với

sự suy giảm quyền lực của các tổ chức lao động mà trong khoảng thời gian từ 1979

đến 2011, năng suất tăng 75% nhưng tiền lương trung bình chỉ tăng 5%. Trong khi

đó, lương của các CEO (Chief Executive Officer - Tổng giám đốc) lại tăng rất cao,

từ 1978 đến 2013, lương của các CEO tăng đến 937%. Dự luật này đưa ra, theo tác

giả - dự kiến sẽ gặp rất nhiều những phản ứng từ giới CEO, phố Wall cũng như là

thách thức đối với ứng viên tổng thống đảng Dân chủ năm 2016 tới đây.

10

Daniel S. Hamermesh, Daiji Kawaguchi, Jungmin Lee (2014), Does labour

legislation benefit workers? Well-being after an hours reduction. (Author: Daniel S.

Hamermesh, Daiji Kawaguchi, Jungmin Lee [113]. Trong nội dung nghiên cứu này,

nhóm tác giả đã căn cứ vào câu hỏi "Phải chăng, trong nền kinh tế hiện đại, người

công nhân đang phải làm việc quá vất vả? Liệu họ có cảm thấy tốt hơn nếu cân bằng

được số lượng giờ lao động?" Nhóm tác giả đã kiểm tra sự hài lòng về cuộc sống

của người Hàn Quốc và Nhật Bản trong một giai đoạn, khi họ bất ngờ phải đối mặt

với án phạt khi làm quá giờ. Sử dụng phương pháp nghiên cứu mặt cắt ngang, nhóm

tác giả nhận thấy được sự hài lòng của công nhân từ điều luật này; phát hiện tương

tự cũng được tìm ra tại Hàn Quốc khi sử dụng phương pháp dữ liệu theo chiều dọc,

đó là người vợ hạnh phúc hơn khi chồng phải làm việc ít hơn. Nhìn chung, theo

nghiên cứu này, việc luật hoá để giảm giờ lao động của công nhân sẽ mang lại lợi

ích và sự hài lòng cho người lao động.

N.Driffield và K. Taylor (2000), "FDI and the labour market: a review of the

evidence and policy implications" [119] khẳng định, loạt các kết quả liên quan đến

tác động thị trường lao động và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Anh. Bài viết

chứng minh rằng một trong những tác động quan trọng của FDI là tăng sự bất bình

đẳng tiền lương và sử dụng lao động có tay nghề tương đối nhiều tại các DN trong

nước. Kết quả này do sự kết hợp của hai tác động: 1) Sự gia nhập của DN đa quốc

gia (MNE: Multi-national Enterprises) làm tăng nhu cầu về công nhân lành nghề

trong một ngành công nghiệp hoặc khu vực, do đó làm tăng sự bất bình đẳng tiền

lương; 2) Sự phát triển của công nghệ xảy ra từ nước ngoài tác động tới các DN

trong nước, là kết quả của những tác động lan toả, nhu cầu về công nhân lành nghề

tăng lên ở các công ty trong nước, tiếp tục tạo thêm sự bất bình đẳng tiền lương.

Nghiên cứu cũng xem xét các tác động của vốn FDI và sự khác biệt về năng suất lao

động giữa các DN trong và ngoài nước; các tác động này sẽ được thảo luận, dựa

trên quan điểm của phát triển khu vực và hiệu quả khả năng thu hút nguồn vốn FDI

để giảm thất nghiệp cơ cấu.

Dirk Willem te Velde và Oliver Morrissey (2002), "Foreign Direct

Investment, Skills and Wage Inequality in East Asia" [116]. Công trình nghiên cứu về

11

những tác động của FDI đến tiền lương và những bất công về tiền lương ở 5 quốc gia

Đông Á giai đoạn 1985-1995. Theo đó, sự bất công về lương giảm dần ở một vài

nước, nhưng không phải ở tất cả quốc gia Đông Á. Nghiên cứu dựa trên dữ liệu ILO

(International Labour Organization) của nhóm tác giả không tìm ra được nhiều những

bằng chứng mạnh mẽ cho thấy FDI làm giảm sự bất công bằng về tiền lương, điển

hình FDI làm tăng sự bất công này ở Thái Lan. Qua nghiên cứu này, nhóm tác giả

khẳng định: muốn tận dụng lợi thế của FDI thì các quốc gia cần quan tâm đầu tư hơn

nữa về chất lượng nguồn nhân lực.

Viện Nghiên cứu phát triển hải ngoại của Anh (ODI) (2002), "Foreign

Direct Investment: Who gains?" (ODI Briefing Paper; Publication) [114]. Nghiên

cứu này dựa trên tình hình của các DN FDI tại 5 quốc gia Đông Á và 5 quốc gia

châu Phi; qua đó cho thấy: về cơ bản các DN FDI đã trả công cho người lao động

cao hơn các DN trong nước, tuy nhiên chỉ đối với Mỹ nhóm công nhân có trình độ

chuyên môn, tay nghề cao, tạo ra khoảng cách chênh lệch về thu nhập ngày càng

rõ rệt giữa lao động trong các DNCVĐTTN (FDI) với lao động ở DN trong nước.

Nghiên cứu cũng đưa ra 4 giải pháp về chính sách cho các quốc gia tiếp nhận vốn

FDI, đồng thời nhằm hạn chế mặt trái của nó mang lại.

Timothy BesleyRobin Burgess (2008), "Labor Regulation Hinder Economic

Performance? Evidence from India - 2008" [121]. Bài báo này tập trung vào phân tích

quan hệ lao động trong các bang của Ấn Độ đã ảnh hưởng đến mô hình tăng trưởng

sản xuất trong giai đoạn 2005 - 2008. Những vấn đề về: Tranh chấp luật theo hướng

ủng hộ công nhân có kinh nghiệm giảm sản lượng, việc làm, đầu tư và năng suất,

ngược lại, sản lượng sản xuất không đăng ký hoặc không chính thức tăng lên. Điều

chỉnh theo hướng ủng hộ công nhân cũng có liên quan với sự gia tăng nghèo đô

thị. Vấn đề này cho thấy, những nỗ lực khắc phục tình trạng mất cân bằng quyền

lực giữa vốn và lao động có thể dẫn tới làm tổn thương người nghèo.

Khondoker Abdul Mottaleb and Kaliappa Kalirajan (2010), "Determinants of

Foreign Direct Investment in Developing Countries: A Comparative Analysis"

[117]. Các tác giả đã chỉ ra, bằng việc thu hẹp khoảng cách giữa tiết kiệm nội địa và

đầu tư cùng việc đưa công nghệ mới nhất và quản lý bí quyết từ các nước phát triển,

12

đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc đạt

được tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở các nước đang phát triển. Các quốc gia

đang phát triển đã không được coi là địa điểm thuận lợi cho FDI như các nước phát

triển, chẳng hạn như Trung Quốc, Ấn Độ, Nigeria và Sudan đang tiếp nhận phần

lớn nguồn FDI. Mặt khác, đã sử dụng dữ liệu từ 68 nước đang phát triển có thu

nhập thấp và trung bình thấp, xác định các yếu tố quyết định dòng vốn FDI vào các

nước đang phát triển. Dựa trên một cuộc thảo luận so sánh tập trung vào lý do tại

sao một số nước thành công trong việc thu hút FDI, trong khi những nước có GDP

lớn hơn, tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn, tỷ lệ của thương mại quốc tế cao hơn và

môi trường kinh doanh thân thiện hơn là thành công hơn trong việc thu hút FDI.

Behzad Azarhoushang (2013), The effects of FDI on China’s economic

development; case of Volkswagen in China. (Behzad Azarhoushang- Institute of

Management Berlin, Publication) [112]. Trong nội dung nghiên cứu này, tác giả đưa

ra một cái nhìn tổng quan về tình hình đầu tư FDI ở Trung Quốc, lấy điển hình là DN

ô tô Volkswagen. Nghiên cứu đã chỉ ra những tác động của FDI đến mọi mặt của

kinh tế Trung Quốc: sản lượng, nguồn lao động, tiền lương, tình hình xuất khẩu.

Nguồn nhân lực chất lượng cao, sự cạnh tranh của DN FDI với DN trong nước về

việc thu hút nhân lực, cũng như sự mất cân đối về tiền lương trả cho 3 nhóm công

nhân: Công nhân lành nghề, công nhân bán chuyên và công nhân không có tay nghề.

Abhirup Bhunia (2013), Labour in times of rising foreign direct investment

in developing countries [111]. Tác giả đưa ra những đánh giá về tác động của FDI

đến tình trạng tiền lương, tiền thưởng và thu nhập của công nhân các quốc gia tiếp

nhận vốn đầu tư có sự hấp dẫn về nguồn lao động giá rẻ. Tuy nhiên, lợi thế này đã

không còn phát huy tác dụng trong bối cảnh hiện nay, mà là chất lượng lao động,

môi trường, đầu tư, chính sách ưu đãi…

Layna Mosley (2013), Labour rights and Multinational Production [118].

Trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu mối quan hệ về lao động trong các tập đoàn đa

quốc gia, những tranh cãi về "cuộc đua tới đáy", cạnh tranh toàn cầu đang làm giảm

sự bảo vệ đối với hầu hết người lao động ở các nước đang phát triển. Tác giả đã có

một nghiên cứu xuyên quốc gia về quyền lợi lao động tập thể, đầu tư nước ngoài và

13

thương mại. Để làm điều này, Layna Mosley xây dựng một cơ sở dữ liệu toàn diện

mới về vi phạm quyền lao động ở các nước đang phát triển. Nội dung của cơ sở dữ

liệu tập trung vào quyền lợi tập thể, bao gồm cả cơ hội để liên hiệp, thương lượng tập

thể, tổ chức các cuộc đình công và quyền hợp pháp. Dữ liệu của tác giả xây dựng dựa

trên 90 quốc gia trong giai đoạn 1985-2002, dựa trên cơ sở 3 nguồn: Báo cáo quốc

gia về tình hình nhân quyền (Bộ ngoại giao Mỹ); báo cáo của Uỷ ban chuyên gia về

việc áp dụng Công ước và Khuyến nghị của Tổ chức Lao động quốc tế; khảo sát về

hành vi vi phạm của Tổ chức quốc tế về thương mại tự do.

Nguyễn Từ Phương (2014), Reforming labour relations in Vietnam [122].

Trong đó, tác giả đánh giá cao việc thành lập Uỷ ban Quan hệ lao động của Tổng

Liên đoàn lao động Việt Nam, điều này phản ánh một quá trình liên tục của cải cách

pháp luật và quy định giải quyết tranh chấp lao động chủ yếu dưới dạng các cuộc

đình công của người lao động ở Việt Nam. Mục tiêu hoạt động của Uỷ ban cho thấy

sự nhận thức đúng đắn của chính quyền đến những lợi ích và nhu cầu của công nhân

làm việc trong các DN. Từ những nội dung cải cách về công đoàn, chính sách tiền

lương nhằm hạn chế các cuộc đình công vốn chủ yếu xuất phát từ vấn đề lương

thưởng. Bài viết cho thấy sự thay đổi tích cực trong quan hệ lao động ở Việt Nam

thời gian gần đây, nhờ sự can thiệp của Nhà nước.

Tóm lại, những công trình nghiên cứu về FDI và quan hệ giữa chủ DN và

người lao động của các tác giả nước ngoài thể hiện rõ những quan điểm khác nhau

về FDI ở các quốc gia khác nhau trên nhiều lĩnh vực, nhưng tất cả đều có mục đích

chung là tìm kiếm lợi nhuận. Từ đó, gây ra mâu thuẫn giữa chủ DN và người lao

động về LIKT, để giải quyết được cần phải có sự điều tiết, can thiệp của Nhà nước,

cơ quan chức năng liên quan và các tổ chức chính trị xã hội.

1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA CÁC TÁC GIẢ TRONG NƯỚC

1.2.1. Một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về lợi ích kinh tế

Ở nước ta, trước Đại hội IV (1976), vấn đề LIKT đã được quan tâm nhưng

chưa đúng mức, do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, đặt lợi ích dân tộc lên trên

LIKT đối với cá nhân người lao động. Đến thập niên 80 thập kỷ XX, LIKT đối với

lao động nông nghiệp được quan tâm. Thể hiện ở Chỉ thị số 100/CT-TW của Ban Bí

14

thư Trung ương Đảng (khoá IV) về khoán sản phẩm trong nông nghiệp ngày

13/1/1981, với phương hướng: "Khuyến khích hơn nữa lợi ích chính đáng của

người lao động". Qua đó, đã tạo ra động lực thúc đẩy để người nông dân hăng say

sản xuất, làm cho năng suất và sản lượng lương thực có sự tăng vượt trội so với

những năm trước.

- Nghị quyết 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IV (1979) đã đặt

ra vấn đề kết hợp 3 LIKT: Nhà nước, tập thể và cá nhân người lao động, đây chính

là điểm mốc mở đầu cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về LIKT từ năm 1981 đến nay.

- Nghị quyết Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, ngày

5/4/1988 nhấn mạnh: "Giải quyết đúng đắn các mối quan hệ về lợi ích, nhất là đảm

bảo lợi ích chính đáng của người sản xuất trước.., không ngừng cải thiện đời sống

nhân dân lao động, góp phần tích luỹ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội".

Như vậy, ở Việt Nam vấn đề LIKT được chú ý nhiều từ Hội nghị Trung

ương lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương khoá IV (7- 1979). Nhưng đến Nghị

quyết lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương khoá VI (1989) mới thật sự khẳng

định: "Lợi ích của người sản xuất kinh doanh là động lực trực tiếp đối với hoạt động

kinh tế và tạo cơ sở cho việc đáp ứng các lợi ích khác".

Trong thập niên 80 - 90 của thế kỷ 20, vấn đề LIKT đã thu hút được mối

quan tâm của nhiều nhà kinh tế học và triết học, một số công trình chuyên luận và

các chuyên đề về LIKT đã được xuất bản. Các công trình tiêu biểu:

- Bàn về lợi ích kinh tế là một tuyển tập gồm nhiều bài viết của một số nhà

nghiên cứu lý luận của Việt Nam như Đào Duy Tùng, Phạm Thành, Vũ Hữu Ngoạn,

Lê Xuân Tùng, Nguyễn Duy Bảy [86]. Cuốn sách ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu cần

phải có những cơ sở lý luận khoa học để hoàn thiện hệ thống quản lý kinh tế. Với

nhận thức rõ ràng về vai trò, động lực thúc đẩy phát triển hoạt động kinh tế của lợi

ích, một mắt xích quan trọng trong cơ chế tác động của các quy luật kinh tế khách

quan, các tác giả của cuốn sách mong muốn tìm ra những phương thức hữu hiệu để

có thể kết hợp các lợi ích xã hội với lợi ích cá nhân trong nền kinh tế kế hoạch hoá

tập trung bao cấp.

Bên cạnh đó, các tác giả cũng đánh giá thực trạng của việc quản lý kinh tế

nhà nước trong việc quan tâm đến các LIKT, trong hệ thống LIKT cá nhân, LIKT

15

tập thể và xã hội, chỉ ra nguyên nhân sự trì trệ của giai đoạn này chính là sự quan

tâm chưa đúng mức đến vai trò của lợi ích cá nhân và ý thức của mỗi người dân đối

với lợi ích xã hội còn thấp. Chính vì vậy, việc chăm lo cho lợi ích tập thể trở thành

hiện tượng "cha chung không ai khóc". Những đề xuất của các tác giả đều là: Nhận

thức đúng vai trò của mỗi lợi ích trong hệ thống lợi ích xã hội, xây dựng cơ chế

quản lý nhằm điều tiết và quan tâm đúng mức đến mỗi lợi ích trong hệ thống ba lợi

ích đó.

Nguyễn Linh Khiếu (1999), Lợi ích động lực phát triển xã hội [44]. Tác giả

đã tổng kết lại nhiều nghiên cứu khác nhau về lợi ích trong nước và ngoài nước.

Tác giả đã đưa ra một cách tiếp cận mới về khái niệm lợi ích: "Lợi ích chỉ có ý

nghĩa là lợi ích trong các quan hệ lợi ích cụ thể. Ngoài quan hệ lợi ích nó không

còn là lợi ích nữa mà chỉ là cái có lợi hay có ích đối với các chủ thể ở một hoàn

cảnh nhất định. Trong trường hợp này, nó cũng giống như các đối tượng thoả mãn

nhu cầu hoặc chính là các đối tượng thoả mãn nhu cầu" [44, tr.48-50]. Từ sự phân

tích trên, tác giả đã đưa ra khái niệm về quan hệ lợi ích như một khái niệm trung

gian để giải thích khái niệm lợi ích. Ông viết: "Quan hệ lợi ích là mối quan hệ

khách quan giữa các chủ thể có cùng nhu cầu và cùng đối tượng thoả mãn nhu cầu

như nhau trong việc thực hiện nhu cầu ấy". Quan hệ lợi ích chỉ nảy sinh trong một

hoàn cảnh xã hội nhất định và chỉ nảy sinh khi quan hệ nhu cầu trở nên không trực

tiếp thực hiện được.

Ngoài ra, tác giả còn phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích vật chất và

lợi ích tinh thần; giữa lợi ích chung và lợi ích riêng; giữa lợi ích trước mắt và lợi ích

lâu dài. Mối quan hệ biện chứng giữa các lợi ích tiêu biểu với tư cách là động lực

của xã hội đã được ông biện giải rất rành mạch và thuyết phục. Về quan hệ giữa lợi

ích vật chất (LIKT) và lợi ích tinh thần, tác giả khẳng định: "Xét đến cùng thì các

lợi ích vật chất đóng vai trò quyết định và là tiền đề, là cơ sở để thực hiện các lợi

ích tinh thần. Và thực hiện được các lợi ích tinh thần sẽ tạo ra những khả năng mới

trong sự nảy sinh cũng như làm xuất hiện những phương thức thực hiện lợi ích vật

chất mới" [44, tr.70]. Khi phân tích bản chất, vai trò của lợi ích chung và lợi ích

riêng, tác giả nhận thấy rõ vai trò, động lực trực tiếp của lợi ích riêng trong việc thôi

16

thúc cá nhân hoạt động, nó chính là nhân tố quyết định con người tích cực tham gia

hoạt động xã hội, vì vậy nó là cơ sở để thực hiện lợi ích chung. Ngược lại, khi lợi

ích chung của mọi thành viên trong xã hội được thực hiện nó sẽ đóng vai trò là điều

kiện và định hướng cho lợi ích riêng, cho nên, chỉ khi tạo lập được mối quan hệ hài

hoà giữa lợi ích chung và lợi ích riêng mới có thể tạo ra sự phát triển của mỗi cá

nhân và của cả xã hội. Nguyễn Linh Khiếu cũng tổng kết lại quá trình sử dụng vai

trò, động lực của lợi ích trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đây là một công trình

khoa học vừa mang tính lý luận quan trọng về lợi ích nói chung vừa nghiên cứu về

LIKT nói riêng.

Nguyễn Linh Khiếu (2002), Góp phần nghiên cứu quan hệ lợi ích [45]. Tác giả đi

sâu phân tích cụ thể hơn về vai trò của LIKT trong phát triển kinh tế xã hội Việt Nam

và cho rằng "Quan hệ kinh tế của một xã hội biểu hiện tập trung nhất của các quan hệ

lợi ích" [45, tr.122]. Từ việc nghiên cứu mối quan hệ kinh tế thể hiện cụ thể các

quan hệ LIKT, tác giả cho rằng: Trong nền kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay có

những xu hướng vận động cụ thể như: Kinh tế nhà nước vận động theo xu hướng

mà nhà nước ta mong muốn: "định hướng xã hội chủ nghĩa"; kinh tế tập thể vận

động theo cơ chế thị trường; kinh tế tư bản nhà nước và tư bản tư nhân vận động

theo xu hướng phát triển tư bản chủ nghĩa; kinh tế cá thể, tiểu chủ cũng vận động

theo hướng tư nhân. Mỗi xu hướng vận động lại có một hệ thống LIKT riêng. Các

xu hướng phát triển này theo nhiều hướng khác nhau, với thực trạng kinh tế xã hội

hiện nay, thấy rằng tất cả các xu hướng đều đưa nền kinh tế nước ta ngày một phát

triển. Đó là một sự vận động theo hướng tổng lực các thành phần kinh tế, trong đó

xu hướng XHCN đang đóng vai trò chủ đạo.

Đỗ Huy Hà (2013), Giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình đô thị

hoá ở nước ta hiện nay [36]. Tác giả đã đi sâu nghiên cứu về quá trình đô thị hoá và

việc thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp, người nông dân không còn hoặc còn rất ít đất

để sản xuất. Do bị mất đất, người nông dân khó khăn tìm nghề kiếm sống vì họ chỉ

quen với sản xuất nông nghiệp, trình độ văn hoá thấp và sự thay đổi cách sống, lề

thói, phong tục tập quán, kéo theo nhiều hệ luỵ…Tác giả đã đưa ra khái niệm: Lợi ích

kinh tế là những quan hệ kinh tế phản ánh những nhu cầu, động cơ khách quan về sự

17

hoạt động của các chủ thể khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội và do hệ

thống quan hệ sản xuất quyết định [36, tr.10]. Tác giả đã nghiên cứu những kết quả

tích cực về xử lý quan hệ LIKT, từ đó cũng thấy được những hạn chế, khó khăn về

việc xử lý các quan hệ LIKT phát sinh trong quá trình đô thị hoá ở Hà Nội; tác giả đã

đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm giải quyết mối quan hệ LIKT trong quá trình đô

thị hoá, để giải quyết hài hoà các quan hệ về LIKT giữa các chủ thể.

Hoàng Văn Luận (2000), Lợi ích động lực của sự phát triển bền vững [57].

Luận án đã đi sâu phân tích, khảo sát nhu cầu và những hoạt động của con người

nhằm thoả mãn nhu cầu làm cơ sở để nghiên cứu về lợi ích. Tác giả chỉ rõ hoạt

động thoả mãn nhu cầu của con người bao gồm: Hoạt động tạo ra của cải vật chất

cụ thể và hoạt động trao đổi các của cải vật chất ấy để đáp ứng tốt nhất và đầy đủ

nhất nhu cầu của mình. Tác giả khẳng định: Lợi ích không những chỉ xuất hiện

trong mối quan hệ giữa các chủ thể có cùng nhu cầu giống nhau và có chung đối

tượng thoả mãn nhu cầu. Đây là khâu cơ bản nhất để khảo sát về lợi ích, lợi ích

không những chỉ xuất hiện trong mối quan hệ giữa các chủ thể có cùng nhu cầu

giống nhau và có chung đối tượng thoả mãn nhu cầu ấy. Từ những phân tích như

trên, tác giả đã đưa ra khái niệm về lợi ích như sau: Lợi ích là một khái niệm

mang tính lịch sử - xã hội dùng để chỉ phần giá trị của nhu cầu được thoả mãn

thông qua trao đổi hoạt động với các chủ thể nhu cầu khác trong những điều kiện

lịch sử nhất định.

Trần Thị Lan (2012), Quan hệ LIKT trong thu hồi đất của nông dân để xây

dựng các khu công nghiệp và khu đô thị mới ở Hà Nội [54]. Luận án trình bày thực

trạng giải quyết các quan hệ các mối quan hệ LIKT giữa các chủ thể kinh tế, nảy

sinh trong thu hồi đất của nông dân để xây dựng các KCN và khu đô thị mới ở Hà

Nội. Tác giả luận án đưa ra khái niệm: Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách

quan, phản ánh phần giá trị để thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, được quy định bởi các

quan hệ kinh tế nhất định và được hiện thực hóa bằng các khoản thu nhập cũng như

quyền sử dụng các nguồn lực, yếu tố vật chất cần thiết để duy trì hoạt động và

không ngừng tái tạo ra thu nhập bảo đảm cho chủ thể kinh tế tồn tại, hoạt động và

phát triển.

18

1.2.2. Các công trình nghiên cứu về quan hệ giữa lợi ích kinh tế và sự

hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

1.2.2.1. Nghiên cứu về thực hiện lợi ích kinh tế của người lao động với tư

cách là một chủ thể trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Về hướng nghiên cứu quan hệ LIKT của người lao động và hoạt động của các

DNCVĐTNN ở Việt Nam, có một số công trình tiêu biểu của các tác giả sau đây:

Trần Minh Yến (2007), "Đình công, tiền lương - hai vấn đề nổi bật trong lĩnh

vực lao động, việc làm ở nước ta hiện nay" [102, tr.43-52]. Tác giả bài viết đã phân

tích về đặc điểm cơ bản của các cuộc đình công ở nước ta hiện nay, đình công có xu

hướng tăng nhanh về số lượng, lớn về quy mô, có tính chất lan tỏa và ngày càng gay

gắt, phức tạp hơn. Đình công đã xảy ra ở các thành phần kinh tế và mọi loại hình

DN, nguyên nhân chủ yếu xảy ra ở DNCVĐTNN (điển hình là DN Đài Loan và DN

Hàn Quốc), đó là: Thứ nhất, về phía DNCVĐTNN (người sử dụng lao động), thực

tế hầu hết các cuộc đình công đều xuất phát từ sự vi phạm pháp luật lao động, vi

phạm những cam kết từ phía người sử dụng lao động. Thứ hai, về phía người lao

động, do người lao động hiểu biết pháp luật còn hạn chế và do thu nhập thấp, mức

lương tối thiểu thấp, thiếu nhà ở, điều kiện sinh hoạt khó khăn. Thứ ba, về phía cơ

quan quản lý nhà nước, chưa làm tốt việc tổ chức và phối hợp thực hiện, kiểm tra,

thanh tra thực hiện các quy định pháp luật về lao động, tiền lương nên việc vi phạm

lao động còn nhiều. Thứ tư, vai trò của công đoàn còn yếu và mờ nhạt, chưa lãnh

đạo được các cuộc đình công theo đúng trình tự của BLLĐ quy định.

Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp giảm thiểu đình công: Tăng cường hoàn

thiện hệ thống pháp luật lao động; nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý Nhà

nước để luật pháp đã được ban hành phải được tuân thủ một cách nghiêm túc triệt

để; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp; đối với DN phải chấp

hành đầy đủ các qui định về chế độ tiền lương, trả lương thấp; đối với người lao

động, phải tăng cường hiểu biết kiến thức về pháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ

pháp luật lao động.

Đỗ Thị Vân Anh (2010), "Nguyên nhân đình công ở một số DN trong thời

gian qua"[2]. Trong đó, đã phân tích một hiện tượng xã hội mới xuất hiện, đó là mối

19

quan hệ vừa đấu tranh, vừa hợp tác giữa người sử dụng lao động và người lao động.

Đình công là hiện tượng không mới trong quá trình công nghiệp hóa trên thế giới,

nhằm bảo đảm sự công bằng xã hội, tuy nhiên cách xử lý nó như thế nào lại phản

ánh bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XNCH mà Việt Nam đang đặt

ra. Đây cũng là vấn đề phức tạp đã và đang được tranh luận khá sôi nổi ở một số

diễn đàn khoa học trong nước, để góp phần vào việc giảm thiểu xung đột giữa

người lao động và giới chủ, tiến tới loại bỏ đình công, việc tìm hiểu những nguyên

nhân dẫn tới đình công trong các DN, cả nhà nước lẫn tư nhân là rất cần thiết. Hầu

hết các lý do mà công nhân đưa ra để họ tổ chức đình công ở tất cả các DN đều tập

trung vào các vấn đề như làm tăng ca, điều kiện làm việc, sinh hoạt không bảo đảm,

lương thưởng quá thấp, không lo đủ cho cuộc sống, thực hiện một số nội quy, quy

định quá khắc nghiệt đối với người lao động nên không những không khuyến khích

người lao động tăng năng suất mà còn có tác động ngược trở lại... Tác giả đã đưa ra

một số nội dung khác như: Bảo đảm trả đúng hạn lương sẽ loại bỏ yếu tố gây bãi

công cao nhất; các chế độ phúc lợi và quyền lợi vật chất, chế độ bảo hộ lao động,

thời gian làm việc, nghỉ ngơi, nội quy lao động trái với quy định của pháp luật,

người sử dụng lao động không thực hiện đúng những quy định của pháp luật.

Để tiếp tục thúc đẩy sản xuất phát triển, cải thiện, tạo sự hài hòa trong quan

hệ lợi ích giữa hai tầng lớp xã hội, người sử dụng lao động và người lao động, tác

giả đã đưa ra cần giải quyết một số vấn đề cơ bản sau: khuyến khích người sử dụng

lao động thu lợi nhuận chính đáng; tăng cường kiểm tra, đẩy lùi tiêu cực; có chính

sách phân chia lợi nhuận công bằng; biểu dương chủ DN có thành tích cải thiện đời

sống người lao động; quan tâm và giúp đỡ người có thu nhập thấp; người sử dụng

lao động và người lao động có sự thống nhất và minh bạch về lợi ích; công đoàn

cần thực hiện đúng vai trò và nhiệm vụ của mình trong DN.

Nhìn chung, các bài viết trên đã đi sâu nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến đình

công của người lao động trong các DN. Tuy nhiên còn chưa toàn diện sâu sắc, chỉ

nêu ra những vấn đề chung mà người lao động quan tâm là tiền lương, tiền thưởng,

một số giải pháp nêu ra chưa giải quyết được triệt để về điều kiện làm việc, cơ hội

thăng tiến trong nghề nghiệp của người lao động.

20

1.2.2.2. Nghiên cứu sự hoạt động của các doanh nghiệp có 100% vốn nước

ngoài đầu tư vào Việt Nam

Cùng với những văn bản quy phạm pháp luật thể hiện rõ đường lối chính

sách của Đảng và Nhà nước đối với người lao động làm việc trong các

DNCVĐTNN, bên cạnh đó cũng có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về cơ chế

và chính sách giải quyết vấn đề này. Các công trình nghiên cứu về tác động của đầu

tư nước ngoài tập trung giải quyết những vấn đề nhận thức luận về đầu tư nước

ngoài. Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như:

Mai Đức Lộc (1994), Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển kinh

tế ở Việt Nam [56]. Luận án phân tích một cách toàn diện vấn đề đầu tư trực tiếp

nước ngoài trong việc phát triển kinh tế, tìm ra mối liên hệ khách quan giữa việc

phát triển kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Tác động của đầu tư nước ngoài

trong việc phát triển kinh tế Việt Nam, thành tựu cũng như tồn tại của hoạt động

triển khai Luật Đầu tư nước ngoài; xu hướng vận động chủ yếu của các dòng đầu tư

nhập vào Việt Nam. Từ đó, tác giả của luận án đã đề ra phương hướng và những

biện pháp chủ yếu nhằm thu hút và phát huy có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài tại Việt Nam.

Nguyễn Duy Quang (2007), Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Liên minh châu

Âu vào Việt Nam [81]. Luận án đã trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn của

việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Liên minh châu Âu vào Việt Nam; đánh

giá thực trạng đầu tư trực tiếp của Liên minh châu Âu vào Việt Nam; những yếu tố

tác động, nguyên nhân thành công và hạn chế; khả năng phát triển quan hệ đầu tư

giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu; tác giả luận án đưa ra những phương hướng

và một số kiến nghị, giải pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả

nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ Liên minh châu Âu vào Việt Nam.

- Trong diễn đàn tháng 6/2012, "Tạo dựng một làn sóng FDI" [73, tr.12-13].

Trong 25 năm qua, dòng vốn FDI đã góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế Việt

Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, thực tiễn nguồn vốn FDI vào

Việt Nam cũng bộc lộ không ít hạn chế, tiêu cực trong quá trình đầu tư. Với định

hướng đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng

hiện đại, thì chính sách thu hút FDI phải được đổi mới. Theo Lê Đăng Doanh

21

(nguyên Viện trưởng Viện quản lý Kinh tế Trung ương): Nếu chậm trễ nâng cấp

dòng vốn FDI, Việt Nam sẽ gánh chịu hậu quả xấu. Ông khẳng định: chúng ta phải

đổi mới tư duy và tăng cường hành động để làm mới, nâng cấp dòng vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam, tạo nên một hình ảnh mới về địa điểm đầu tư

Việt Nam gắn với chất lượng và hiệu quả. Từng Bộ, ngành, địa phương cần thực

hiện nghiêm túc các yêu cầu sửa đổi bổ sung hệ thống pháp luật liên quan đến đầu

tư - kinh doanh, tạo dựng môi trường đầu tư, cơ chế chính sách thuận lợi cho các

nhà đầu tư chất lượng cao theo định hướng mới của nền kinh tế.

Theo tác giả Nguyễn Mại (Chủ tịch Hội DN đầu tư nước ngoài): Cần đổi

mới đồng bộ để nâng cao chất lượng nguồn vốn FDI [73, tr.12-13]. Hiện nay, có

6 vấn đề đang nổi lên trong hoạt động FDI, gồm: Công nghệ lạc hậu của một số

nhà đầu tư nước ngoài; ô nhiễm môi trường; chuyển giá; mâu thuẫn giữa DN và

người lao động; phân cấp quản lý đầu tư; Phát triển ồ ạt KCN, khu kinh tế.

Những hạn chế bất cập trong việc thu hút, sử dụng và quản lý nguồn vốn FDI

đang đặt ra yêu cầu cấp bách như nâng cao chất lượng nguồn vốn này theo

hướng coi trọng hơn chất lượng, hiệu quả và phát triển bền vững. Chất lượng và

hiệu quả sử dụng của các dự án FDI cần được xem xét dưới góc độ phù hợp với

mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của từng ngành,

vùng lãnh thổ và địa phương.

Trần Quang Lâm, An Như Hải (2006), Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở

Việt Nam hiện nay [49]. Trong cuốn sách này các tác giả đã nêu rõ lý do nghiên

cứu: Quốc gia nào thu hút được nhiều nguồn vốn quốc tế và sử dụng có hiệu quả,

thì có nhiều cơ hội tăng trưởng kinh tế hơn, qua đó rút ngắn nhanh hơn khoảng cách

tụt hậu so với các nước phát triển. Chính vì vậy, các nước đang phát triển phải cạnh

tranh trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhờ đó, nguồn vốn đầu tư

nước ngoài đã tăng lên và có tác động tích cực vào sự tăng trưởng của nền kinh tế.

Các tác giả khẳng định: Để phát triển và sử dụng có hiệu quả kinh tế có vốn đầu tư

nước ngoài, đặc biệt nguồn vốn FDI, thì chúng ta phải nỗ lực nhiều phương diện,

Đảng ta đã nhận định: Nguồn vốn nước ngoài chưa trở thành nguồn lực quan trọng

để phát triển kinh tế ở nước ta. Vì vậy, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu về: Kinh tế

22

có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. Nội dung được thể hiện: Cơ sở lý

luận và thực tiễn về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FIE) trong nền kinh tế thị

trường: Nguồn gốc và bản chất của FIE ở Việt Nam hiện nay; các hình thức và đặc

trưng kinh tế của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Thực trạng phát triển và sử

dụng FIE ở Việt Nam từ năm 1988 đến năm 2005: Thực trạng hoạt động của FIE

trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam; đánh giá tổng quát

hoạt động của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam; vai trò cơ bản của khu

vực FIE trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam; kinh nghiệm ở

một số nước trong việc thu hút và sử dụng FIE, các tác giả lấy kinh nghiệm của các

nước sau: Kinh nghiệm của Trung Quốc; Hàn Quốc; Thái Lan; xu thế, triển vọng và

giải pháp phát triển, sử dụng khu vực FIE ở Việt Nam: Xu thế và triển vọng của khu

vực FIE ở Việt Nam; những quan điểm cơ bản về phát triển và sử dụng FIE trong

nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta; những giải pháp phát triển, mở

rộng và sử dụng khu vực FIE để phát triển kinh tế ở Việt Nam.

Vũ Hoàng Dương (2011), "Một số vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

ở Việt Nam" [24]. Tác giả đi sâu nghiên cứu về thực trạng FDI của Việt Nam, xu

hướng vận động của dòng vốn vào Việt Nam tính đến cuối năm 2010 với số lượng

vốn và số lượng dự án ngày càng tăng. Bài viết đã khẳng định điểm khác biệt giữa

hai cuộc khủng hoảng: Cuộc khủng hoảng năm 1997 không làm thay đổi bản chất

của FDI, luồng vốn từ nơi dư tới nơi thiếu trên tất cả các lĩnh vực, từ đó nhà đầu tư

thu được lợi nhuận cũng như tăng thêm nguồn vốn; nhưng cuộc khủng hoảng mới

đây, nguồn vốn FDI có xu hướng tập trung vào công nghệ xanh, đặc biệt là các

nước đang phát triển. Tác giả đã phân chia được cơ cấu đầu tư FDI tính đến năm

2010 và được phân chia: FDI đầu tư theo ngành; FDI đầu tư theo hình thức đầu tư;

FDI đầu tư theo đối tác đầu tư.

Từ đó, tác giả bài viết đã rút ra sự tác động của FDI đến phát triển kinh tế

Việt Nam, những tác động tích cực: FDI và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; FDI với

tăng trưởng xuất khẩu và mở rộng thị trường quốc tế; tác động của FDI với chuyển

dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực sản xuất trong khu vực công nghiệp và

dịch vụ; khả năng tạo việc làm của DN FDI; đóng góp tương đối tốt vào ngân sách

23

nhà nước. Qua đó đã rút ra được những hạn chế: Tác động lan tỏa của FDI đến các

DN trong nước còn hạn chế; hạn chế trong việc thúc đẩy chuyển giao công nghệ và

nâng cao năng lực quản lý; một vấn đề là giá trị gia tăng tạo ra thấp. Bên cạnh

những đóng góp của khu vực FDI, tác giả đã đưa ra hàng loạt những số liệu cho

thấy sự đầu tư của FDI vào Việt Nam hiện nay chỉ như một công xưởng lắp ráp chứ

không hề tạo ra nhiều giá trị; vấn đề trách nhiệm xã hội của DN FDI với tài nguyên,

môi trường.

Từ sự phân tích ở trên, tác giả đã đi tới kết luận về thực trạng FDI tại Việt

Nam trong thời gian qua, khẳng định sự đóng góp của FDI đối với sự phát triển của

nền kinh tế trong thời gian qua. Tuy nhiên, cho tới thời điểm này những hạn chế từ

nguồn vốn FDI đang ngày càng lộ rõ, Việt Nam vẫn phải thu hút nguồn vốn FDI

nhưng cần có sự chọn lọc, tránh tình trạng bão hòa và không hiệu quả.

Nguyễn Văn Dần (2014), Khủng hoảng kinh tế toàn cầu những khuyến nghị

nhằm thu hút FDI của Việt Nam [25, tr.63-65]. Tác giả khẳng định mặc dù khủng

hoảng kinh tế toàn cầu nhưng kết quả thu hút vốn FDI vào Việt Nam trong những năm

qua vẫn rất khả quan. Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư trực tiếp

nước ngoài, đặc biệt Hà Nội là một trong các thành phố có nhiều lợi thế về thu hút

nguồn vốn FDI trên cả các phương diện về số lượng, quy mô vốn dự án. Để nâng cao

hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI vào các KCN Hà Nội thời gian tới cần đảm

bảo phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô đến năm 2020, tầm nhìn 2050.

Tác giả đã khẳng định: Dòng vốn quốc tế vào các nước đang phát triển; FDI

vào Việt Nam trong những năm gần đây; thu hút FDI vào các KCN Hà Nội. Từ đó,

đưa ra một số khuyến nghị chính sách về thu hút nguồn vốn FDI đối với thành phố

Hà Nội đến năm 2020 như sau: Thu hút FDI phải gắn với các khâu đột phá của

thành phố là: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; cải cách hành chính với mục

tiêu xây dựng chính quyền đô thị, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu; ưu tiên thu hút các dự

án có công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường, sử dụng hiệu quả nguồn tài

nguyên, khoáng sản, đất đai, tạo điều kiện và tăng cường liên kết với các DN trong

nước; Hà Nội cần phấn đấu đi đầu, nhanh chóng thực hiện tốt đầy đủ vị trí trung

tâm của cả nước về chính trị, kinh tế văn hóa, khoa học kỹ thuật đồng thời là hạt

24

nhân của phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và các tỉnh phía Bắc; giai đoạn

trước mắt cần tập trung các mục tiêu hiện đại hóa, nâng cao chất lượng phát triển và

thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Khuyến khích đầu tư nước ngoài vào đổi

mới công nghệ, ứng dụng công nghệ hiện đại, phát triển theo chiều sâu, chủ động

hội nhập quốc tế; thu hút FDI vào các KCN Hà Nội cần giải quyết đồng thời ba

nhiệm vụ: Phát triển kinh tế, tạo động lực mạnh cho phát triển kinh tế vùng và cả

nước; phát triển bền vững, bảo đảm sự ổn định về chính trị, trật tự an ninh quốc

phòng, sự lành mạnh môi trường văn hóa sinh thái; phát triển có hiệu quả về kinh

tế, xã hội và môi trường, coi hiệu quả tổng thể, lâu dài chi phối hiệu quả cụ thể,

trước mắt.

1.3. ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN PHẢI TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.3.1. Những vấn đề có liên quan đến đề tài đã có sự thống nhất

Nghiên cứu chủ đề về LIKT đã có nhiều nhà kinh tế học và triết học Việt

Nam đã công bố các công trình chuyên sâu liên quan đến vấn đề LIKT. Mỗi tác giả

nghiên cứu tiếp cận và làm sáng tỏ về LIKT ở những góc độ khác nhau nhưng về cơ

bản các tác giả đã có những vấn đề thống nhất sau đây:

* Về cơ sở lý luận:

- Các công trình nghiên cứu đã làm rõ khái niệm LIKT, LIKT của người

lao động.

- Các tác giả đều xác định LIKT có vai trò và tầm quan trọng to lớn đối với

các hoạt động kinh tế của cá nhân, nó đóng vai trò là động lực thúc đẩy sản xuất xã

hội phát triển.

- Các tác giả luận giải được một số đặc trưng của lợi ích kinh tế của người

lao động, cụ thể:

+ Lợi ích kinh tế luôn gắn liền với nhu cầu kinh tế. Các tác giả có những đánh

giá khác nhau về mức độ gắn kết LIKT với nhu cầu kinh tế (nhu cầu vật chất). Một

số tác giả cho LIKT chính là nhu cầu kinh tế, số khác lại cho LIKT tuy gắn bó với

nhu cầu kinh tế nhưng có nội hàm khác hẳn. Nhưng tất cả đều thống nhất quan điểm

LIKT và nhu cầu kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau. LIKT bắt nguồn từ nhu

25

cầu và là cái để đáp ứng nhu cầu kinh tế, nhu cầu kinh tế làm nảy sinh LIKT.

+ Lợi ích kinh tế có tính khách quan. Có rất nhiều tác giả cùng chung quan

điểm khẳng định tính khách quan của LIKT. Lợi ích tồn tại như một mối quan hệ xã

hội khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của con người, điển hình như tác giả

Khổng Doãn Hợi, Vũ Hữu Ngoạn cũng khẳng định: LIKT là một phạm trù kinh tế

khách quan, là hình thức biểu hiện trước hết của quan hệ sản xuất, nó không tùy

thuộc vào ý chí, lòng ham muốn của con người. LIKT là cơ chế tác động chung của

tất cả các quy luật kinh tế.

+ Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của QHSX, do QHSX quyết định.

Con người khi tham gia vào mối quan hệ kinh tế trao đổi các giá trị để thỏa

mãn nhu cầu kinh tế của mình. Trong QHSX, trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu

sản xuất, việc thực hiện LIKT của chủ thể phụ thuộc vào vị trí của họ trong xã hội.

Người nào nắm tư liệu sản xuất, quyền điều phối QHSX sẽ có cơ hội thỏa mãn lợi

ích của mình tốt hơn. Theo quan điểm của tác giả Đào Duy Tùng thì: Lợi ích kinh tế

là hình thức biểu hiện những quan hệ kinh tế, quan hệ giữa người và người trong

sản xuất [86, tr.9]. Điều này thể hiện: Người nào nắm tư liệu sản xuất, điều hành

quá trình sản xuất, quyết định phân phối sản phẩm cũng chính là người giữ vai trò

quyết định trong hệ thống sản xuất.

+ Trong mỗi xã hội tồn tại các lợi ích kinh tế khác nhau.

Trong LIKT là dạng lợi ích vật chất, xét theo tiêu chí đối tượng thỏa mãn. Dưới

góc độ khái quát nhất, có thể phân chia LIKT thành LIKT cá nhân; LIKT tập thể và

toàn xã hội. Giải quyết một cách hợp lý các quan hệ lợi ích này sẽ tạo động lực cho sự

phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội. Nếu lợi ích được kết hợp với nhau hài hòa

sẽ tạo động lực cho sự phát triển, nếu có mâu thuẫn sẽ triệt tiêu động lực phát triển.

+ Lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy con người hoạt động tạo ra sự phát

triển kinh tế - xã hội. Dù không có sự đồng nhất quan điểm về khái niệm lợi ích

nhưng các tác giả đều có quan điểm thống nhất về vai trò động lực xã hội của lợi ích.

Những tác giả đại diện cho xu hướng coi lợi ích chính là nhu cầu thì cho rằng lợi ích

chính là những nhu cầu có điều kiện thực hiện của con người trong xã hội và khi đó

nhu cầu sẽ biểu hiện ở động cơ thúc đẩy con người hành động để thỏa mãn nhu cầu

26

đó. Hay nói cách khác thì lợi ích chính là những nhu cầu trở thành động cơ của hành

động [82]. Những tác giả cho lợi ích chính là phương tiện thỏa mãn nhu cầu cũng

khẳng định lợi ích là động cơ thúc đẩy con người trong xã hội hành động. Tuy việc

phân tích của họ có khác nhau giữa các tác giả, nhưng theo họ thì tính chất động lực

của nhu cầu được thực hiện không phải một cách trực tiếp mà thông qua khâu lợi ích,

còn lợi ích là khâu trực tiếp hơn cả trong việc làm hình thành nên động cơ tư tưởng

thúc đẩy con người ta hành động nhằm giành lấy cái thỏa mãn nhu cầu.

Cũng đồng nhất với Lê Hữu Tầng, Nguyễn Trọng Chuẩn cho rằng con người

hành động là nhằm đạt được những cái để thỏa mãn một hệ thống đa dạng các nhu

cầu với những mức độ cấp thiết cần được thỏa mãn khác nhau, vào những giai đoạn,

những thời điểm khác nhau và trong những hoàn cảnh khác nhau. Tuy nhiên, trước

sau nhu cầu vẫn là một sức mạnh thúc đẩy con người hoạt động. Phương tiện để

thỏa mãn nhu cầu là lợi ích, cho nên lợi ích quyết định hành vi, quyết định hoạt

động con người [58, tr.35]. Các tác giả thuộc xu hướng thứ ba, nằm trung giữa xu

hướng thứ nhất cho lợi ích là một dạng nhu cầu và xu hướng thứ hai cho lợi ích có

tính khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của con người. Tác giả Lê Xuân

Tùng "Lợi ích kinh tế là cái biểu hiện những động cơ, mục đích, những nhân tố

khách quan thúc đẩy hoạt động lao động của con người" [86, tr.94].

* Về cơ sở thực tiễn: Các công trình nghiên cứu về LIKT của người lao động

làm việc trong các DNCVĐTNN dưới các dạng sách, luận án, bài báo, nhìn chung

cơ bản đã có sự thống nhất về một số nội dung sau đây:

Một là: Các công trình nghiên cứu đã phân tích, đánh giá hoạt động của các

DNCVĐTNN trên phạm vi cả nước. Đồng thời đã làm rõ quan hệ LIKT của người

lao động trong các DNCVĐTNN.

Hai là: Thực trạng của quan hệ LIKT trong các DNCVĐTNN và các giải

pháp nhằm giải quyết hài hòa quan hệ LIKT của người lao động trong các

DNCVĐTNN.

Ba là: Các tác giả nghiên cứu về việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào

Việt Nam, những đóng góp của sự đầu tư đó đối với nền kinh tế quốc dân. Để thu

hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài trong đó giải pháp về vai trò của Nhà

nước đề ra những chính sách phù hợp cho hoạt động đầu tư nước ngoài đạt hiệu quả

27

cao luôn được chú trọng.

Bốn là: Nguyên nhân đình công của người lao động ở một số DNCVĐTNN

là do mức thu nhập (lương) của người công nhân còn quá thấp, tiền lương danh

nghĩa so với tiền lương thực tế còn quá chênh lệch, vấn đề nhà ở của những người

lao động trong các DNCVĐTNN còn khó khăn, phần lớn công nhân phải đi thuê

nhà, chỗ ở chật chội, nóng bức, đời sống của người công nhân chưa thật sự được

giới chủ quan tâm.

1.3.2. Những nội dung có liên quan đến đề tài chưa có sự thống nhất

Bên cạnh những quan điểm đã thống nhất ở trên đây, việc nghiên cứu về

LIKT người lao động trong các DNCVĐTNN vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra, nhất là

trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Có thể khái quát một số nội

dung chủ yếu chưa thống nhất về LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN

ở Việt Nam là:

Thứ nhất: Chưa đưa ra những tiêu chí đánh giá về LIKT của người lao động.

Do đó, các công trình nghiên cứu về LIKT tập trung chủ yếu vào phân tích mối

quan hệ lợi ích và LIKT, mối quan hệ giữa các chủ thể trong quá trình hoạt động

sản xuất kinh doanh (SXKD).

Thứ hai: Chưa phân tích làm rõ được một cách đầy đủ các nguyên nhân gây

cản trở cho việc thực hiện LIKT của người lao động làm việc trong các

DNCVĐTNN.

Thứ ba: Quy định về mức lương tối thiểu đối với DNCVĐTNN còn nhiều

bất cập. Các chủ doanh nghiệp lợi dụng những quy định này đề ra mức lương cho

người lao động, dẫn tới sự chênh lệch giữa lương và thu nhập thực tế, thu nhập của

người lao động thấp là nguyên nhân dẫn đến đình công, bãi công gây mất

TTATXH.

Thứ tư: Mối quan hệ giữa LIKT và vấn đề tăng năng suất lao động cá nhân.

Các chủ DNCVĐTNN cũng lợi dụng để chỉ đóng bảo hiểm theo lương cơ bản gây

thiệt hại về lợi ích cho người lao động.

1.3.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và các bài viết đã công bố tuy có

nhiều nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về LIKT, LIKT người lao động, đầu tư

28

nước ngoài vào Việt Nam, nhưng chưa có công trình nào phân tích một cách có hệ

thống cơ sở lý luận và khảo sát thực tiễn về LIKT của người lao động trong các

DNCVĐTNN. Thực tế hiện nay cho thấy, LIKT của người lao động trong các

DNCVĐTNN ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng

vẫn còn nhiều bất cập, vấn đề việc làm, thu nhập, mất TTATXH, cản trở quá trình

công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) của Thủ đô. Vì vậy, LIKT của người

lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội cần được tiếp tục

nghiên cứu và làm sáng rõ ở những khía cạnh sau:

Một là: Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận về LIKT, đặc biệt

làm rõ nội hàm của khái niệm LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN,

Hai là: Phân tích cơ cấu và các nhân tố ảnh hưởng đến LIKT của người lao

động trong các DNCVĐTNN.

Ba là: Chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện LIKT của

người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Bốn là: Đánh giá thực trạng LIKT của người lao động trong các

DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Từ đó thấy được những vấn đề đặt ra

cần được giải quyết trong việc bảo đảm LIKT của người lao động ở khu vực này.

Năm là: Đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm lợi ích kinh tế

của người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng

và cả nước nói chung.

29

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

2.1. LÝ LUẬN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ

2.1.1. Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi

ích kinh tế

2.1.1.1. Quan niệm của C.Mác (1818 - 1883) và Ph.Ăngghen (1820 - 1895)

Khi nghiên cứu vai trò động lực phát triển của LIKT, các nhà kinh điển của

chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ thừa nhận tính chất, động lực của LIKT trong phát

triển nền kinh tế - xã hội do A.Smith đã phát hiện ra mà còn chứng minh vai trò của

LIKT trong cuộc cách mạng xã hội, trong đấu tranh giai cấp. LIKT chính là mục đích

có tính cốt lõi của cuộc đấu tranh giai cấp chứ không phải quyền lực chính trị. Chính

sự không công bằng trong sự phân chia LIKT trong xã hội là nguyên nhân nảy sinh ra

các mâu thuẫn dẫn đến các cuộc cách mạng và đấu tranh giai cấp.

Trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức", C.Mác và Ph. Ănghen đã giải quyết

một cách duy vật biện chứng vấn đề cơ bản của Triết học, các ông công khai

thừa nhận rằng: Đã xuất phát một cách có ý thức từ những tiền đề nhất định, hơn

nữa những tiền đề không phải giáo điều, tư biện mà là thực tế hiện thực. Tiền đề

đầu tiên là con người phải có khả năng sống, sau đó mới làm ra mọi sản phẩm

vật chất và tinh thần, nói cách khác là con người muốn sáng tạo ra lịch sử thì

trước hết phải tồn tại, tồn tại là tiền đề để phát triển và sáng tạo nhưng muốn

sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở quần áo và một vài

thứ cần thiết nữa. Như vậy, hành động lịch sử đầu tiên là con người sản xuất ra

những tư liệu sinh hoạt thỏa mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời

sống vật chất, đây là một điều kiện cơ bản của lịch sử. Theo C.Mác, con người

muốn tồn tại và làm ra lịch sử thì trước hết phải tham gia vào việc sản xuất ra

bản thân ra những thứ đó, ông cho rằng:

… hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa

mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất và đó

30

là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà hiện nay

cũng như hàng nghìn năm về trước người ta phải thực hiện hàng ngày,

hàng giờ chỉ để nhằm duy trì con người [59, tr.286-287].

Từ việc nghiên cứu vai trò quyết định của quá trình sản xuất ra những nhu cầu

đầu tiên đối với sự tồn tại và phát triển của lịch sử, C.Mác chỉ rõ sự phát triển của lịch

sử là do vai trò của con người, trong đó động lực thúc đẩy con người hoạt động là nhu

cầu và nhu cầu nảy sinh xuất hiện cùng với sự tồn tại phát triển của xã hội. Hơn nữa,

C.Mác còn nghiên cứu lợi ích và đi đến kết luận: Tất cả những gì con người để giành

lấy đều dính liền với lợi ích của họ.

Như vậy, nhu cầu và lợi ích là những động lực chủ yếu của hoạt động của con

người, trong đó lợi ích có vai trò đặc biệt. Nếu nhu cầu là nguồn gốc đầu tiên của

hoạt động thì lợi ích là khâu trung gian chuyển hóa những nhu cầu khách quan của

thế giới bên ngoài vào lực lượng bên trong kích thích con người hoạt động. Trong

lời nói đầu của Tác phẩm "Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen", nói tới tác

dụng "động lực xã hội" của các lợi ích, C. Mác và Ăngghen cũng đã phân tích rõ: Ở

đâu không có lợi ích chung thì ở đó không có sự thống nhất về mục đích, càng

không thể thống nhất về hành động.

Tiếp đó trong tác phẩm "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" (1848), khi so sánh

(Cuộc cách mạng cộng sản) do giai cấp công nhân tiến hành với các cuộc cách

mạng khác, C.Mác và Ăngghen chỉ rõ:

Các cuộc cách mạng trước kia là những cuộc cách mạng do một

thiểu số các giai cấp bóc lột, vì lợi ích thiểu số đó; còn cuộc cách mạng

cộng sản do giai cấp công nhân lãnh đạo là cuộc cách mạng do đa số và

vì lợi ích của đại đa số con người - giai cấp công nhân, nhân dân lao

động các dân tộc. Do vậy, lợi ích được hiểu dưới góc độ giải phóng con

người [60, tr.366 -367].

Trong cuộc đấu tranh giai cấp, LIKT nắm vai trò là yếu tố điều tiết cơ bản mà

các yếu tố khác đều phải tuân theo. Ph.Ănghen đã đưa ra một luận điểm nổi tiếng đó

là "Những quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định nào đó biểu hiện trước hết dưới

hình thức lợi ích" [61, tr.376].

31

Rõ ràng, lợi ích lớn nhất và đầu tiên của con người ở trong xã hội trước hết là

sự tồn tại với việc thỏa mãn những nhu cầu của đời sống vật chất - kinh tế, nghĩa là

có tính chất hiện thực, sau đó với vai trò của chủ thể sáng tạo có mục đích, có ý

thức, con người có những lợi ích mới về tinh thần, đạo đức, đạo lý. Với lôgic đó có

thể thấy, vấn đề LIKT trong tính xuyên suốt của đời sống xã hội, trên cơ sở hiện

thực của những mối quan hệ khách quan của lực lượng sản xuất và QHSX đã xem

xét sự vận động chuyển hóa giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, giữa lợi ích cá

nhân và lợi ích xã hội.

Ph.Ăngghen cho rằng: Lợi ích kinh tế là nguyên tắc điều tiết cơ bản mà tất cả

mọi nguyên tắc phải tuân theo. Do đó, bất cứ hoạt động nào của con người cũng bị

chi phối bởi hai động lực chính đó là: Động lực vật chất (kinh tế) và động lực tinh

thần, để đạt được những kết quả cao trong hoạt động kinh tế, không chỉ duy nhất là

động lực kinh tế, mà còn cả động lực tinh thần. Trong đó, hoạt động kinh tế luôn giữ

vai trò quyết định nhất, là động lực quan trọng thúc đẩy hoạt động của con người. Vì

mọi hoạt động của con người có mối quan hệ phụ thuộc trực tiếp và chặt chẽ vào hai

yếu tố đó là: Khả năng của con người và động lực kích thích. Cho nên, các chính sách

kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế bao giờ cũng phải đặc biệt quan tâm đến lợi ích thiết

thân của người lao động, tức là LIKT vì nó luôn là động lực kích thích đối với con

người, đối với tập thể và đối với toàn xã hội. Đồng thời, khi LIKT được thực hiện thì

nó cũng tạo cơ sở, tiền đề để thực hiện các loại lợi ích khác.

2.1.1.2. Quan niệm của V.I.Lênin (1870-1924)

Trong tác phẩm "Bút ký Triết học" V.I.Lênin đã đề cao tư tưởng của Hêghen

và có sự thống nhất về mặt động lực xã hội của vấn đề lợi ích, thể hiện: "lợi ích, nếu

được xét hài hòa, nó sẽ liên kết được mọi con người lại với nhau; nó sẽ thúc đẩy cả

một dân tộc, cả nhân loại…". V.I.Lênin viết: "Một khi chiếm được chính quyền nhà

nước, giai cấp vô sản có một lợi ích căn bản nhất, sống còn nhất là phải tăng số

lượng sản phẩm, phải nâng cao sức sản xuất của xã hội" [53, tr.433]. Do đó, để tìm

nguồn gốc của những hiện tượng xã hội trong những QHSX và phải quy những hiện

tượng ấy vào lợi ích của những giai cấp nhất định.

Trong quá trình xây dựng CNXH, V.I.Lênin luôn kế thừa, phát triển tư tưởng

của C.Mác và Ănghghen về lợi ích, nhất là lợi ích của hai giai cấp trong liên minh

32

công - nông khi xây dựng chính quyền của mình, nền sản xuất: chủ nghĩa xã hội là

một công trường khiến cho người lao động - công - nông, tri thức.., có thể thi thố tài

năng lao động sáng tạo.., lần đầu tiên họ đứng thẳng người, tự thấy mình là con

người.., và lần đầu tiên lao động cho chính mình… V.I.Lênin cũng cho rằng: Lợi

ích của giai cấp này hay giai cấp khác được xác định một cách khách quan theo vai

trò mà họ có trong hệ thống quan hệ sản xuất, theo những hoàn cảnh và điều kiện

sống của họ.

Quan điểm của V.I.Lênin về LIKT còn được trình bày ở nhiều tác phẩm khác

nhau như: "Những nhiệm vụ của chính quyền Xô viết", "Bàn về thuế lương thực";

"Về chế độ hợp tác xã"… Tư tưởng nổi bật được thể hiện là lợi ích của công nhân,

nông dân và các tầng lớp lao động khác là động lực, là đòn bẩy của cuộc các mạng

hiện đại.

Như vậy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đều thấy rõ lợi ích

quan trọng nhất của những người lao động không phải là lợi ích về chính trị, mà

chính là LIKT. Vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển và trường tồn của xã hội do

những người vô sản tạo dựng nên thì việc nâng cao LIKT, đảm bảo cho nhân dân lao

động một cuộc sống no đủ, hạnh phúc chính là việc quan trọng nhất.

2.1.1.3. Quan niệm của Hồ Chí Minh về lợi ích kinh tế

Trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh khẳng định: Cần

phải nhận thức, vận dụng phát huy tất cả các động lực, trong đó thông qua động lực

của con người với tư cách là cộng đồng và cá nhân. Nghiên cứu về nhu cầu và lợi

ích, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Hành động của con người luôn gắn liền với nhu cầu

và lợi ích: "Tục ngữ có câu: Dân dĩ thực vi thiên, lại có câu: Có thực mới vực được

đạo; nghĩa là không có ăn thì chẳng làm gì được cả" [66, tr.572]; hay "Bởi vì dân

lấy ăn làm gốc, có thực mới vực được đạo, nếu bụng đói thì các cô chú nói gì hay

mấy cũng không ai nghe" [67, tr.411]. Từ quan điểm đó, theo Người bất cứ một

công việc gì phải biết kích thích đến lợi ích cá nhân, lợi ích của người lao động,

luôn coi trọng lợi ích cá nhân và luôn phải kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và

lợi ích xã hội. Nói về lợi ích cá nhân, Người nhấn mạnh: "phải thực hiện ba khoán,

một thưởng, nếu ai thực hiện vượt mức quy định thì được thưởng. Có như thế mới

33

kích thích mọi người cố gắng hơn nữa, thưởng, phạt phải công bằng" [69, tr.411].

Trái lại, "nếu làm xấu, làm hỏng, có khi phải bồi thường lại cho nhà nước, Chính

phủ không phát lương cho những người ăn không" [67, tr.338]

Khi tìm hiểu về lợi ích, Người viết: "Lợi ích của giai cấp công nhân và lợi

ích của nhân dân là nhất trí" [68, tr.288] và "Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và

nhân dân lao động, Đảng ta không có lợi ích nào khác" [68, tr.286]; "Nhưng thực tế

thì chỉ có chế độ của chúng ta mới thật sự phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là

nhân dân lao động, bảo đảm mọi quyền lợi của nhân dân" [68, tr.593]. Quan điểm

về lợi ích của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ được người đề cập nhấn mạnh trong

cách mạng giải phóng dân tộc, trong công cuộc xây dựng kiến thiết đất nước mà bao

trùm lên tất cả Người đã chỉ rõ việc gì có lợi cho dân dù khó khăn cũng phải cố

gắng làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh. Ngay cả trong lĩnh vực giữ

gìn an ninh trật tự Người cũng nêu rõ:

Giữ gìn trật tự an ninh trước hết là công việc của công an, bộ

đội, cảnh sát, nhưng chính quyền ta là chính quyền của dân, bất cứ

việc to việc nhỏ đều dựa vào lực lượng của nhân dân để phụng sự lợi

ích của nhân dân, việc giữ gìn trật tự an ninh càng phải dựa vào sáng

kiến và lực lượng của nhân dân. Mọi công dân, bất kỳ già, trẻ, gái,

trai bất kỳ làm việc gì đều có nhiệm vụ giúp chính quyền giữ gìn trật

tự an ninh và trật tự an ninh trực tiếp quan hệ đến lợi ích của bản

thân của mọi người [65, tr.9].

2.1.2. Quan niệm của các nhà nghiên cứu và của tác giả luận án về lợi

ích kinh tế

Khi bàn về lợi ích các nhà nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước từ nhiều

góc độ tiếp cận khác nhau đã nêu lên nhiều vấn đề về LIKT, đặc biệt là khái niệm

lợi ích: "Lợi ích từ tiếng la tinh Interest, nghĩa là: Có ý nghĩa quan trọng, là nguyên

nhân hiện thực của các hành động xã hội, các sự kiện, thành tựu ẩn dấu đằng sau

những sự thúc đẩy trực tiếp động cơ, ý đồ, lý tưởng của các cá nhân, tập đoàn xã

hội, giai cấp tham gia vào những hành động đó" [33, tr.321-322].

Bàn về LIKT các nhà nghiên cứu khoa học trong nước và ngoài nước từ

nhiều góc độ tiếp cận khác nhau đã nêu lên những khái niệm về LIKT:

34

V.P Ca-man-kin cho rằng: "LIKT của một chủ thể nhất định là sự tác động

lẫn nhau giữa các nhu cầu kinh tế của chủ thể đó" [12, tr.13].

Theo tác giả Đào Duy Tùng: LIKT là hình thức biểu hiện những quan hệ

kinh tế, quan hệ giữa người và người trong sản xuất [86, tr.9]. Điều này thể hiện:

người nào nắm tư liệu sản xuất, điều hành quá trình sản xuất, quyết định phân phối

sản phẩm cũng chính là người giữ vai trò quyết định trong hệ thống sản xuất.

Vũ Hữu Ngoạn khẳng định: LIKT là một phạm trù kinh tế khách quan, là

hình thức biểu hiện trước hết của quan hệ sản xuất… LIKT là cơ chế tác động

chung của tất cả các quy luật kinh tế [72, tr.54].

Khoa Minh lại cho rằng: LIKT là sự biểu hiện của những quan hệ kinh tế đối

với việc thoả mãn những nhu cầu vật chất cần thiết cho đời sống dưới hình thức mục

đích xác định của hoạt động kinh tế của con người. LIKT là hình thức biểu hiện cụ

thể các quan hệ kinh tế và quy luật phản ánh các quan hệ kinh tế đó [71, tr.296].

Theo Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin (Bộ Giáo dục và đào tạo):

LIKT là lợi ích vật chất, nó phản ánh mục đích và động cơ khách quan của các chủ

thể kinh tế khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội và do hệ thống quan hệ

sản xuất quyết định [6, tr.289].

Từ những khái niệm khác nhau trên có thể khẳng định rằng: Trong bất cứ xã

hội nào con người muốn tồn tại phải thỏa mãn nhu cầu về ăn mặc, ở, đi lại, bảo vệ

sức khỏe, học tập và giải trí. Nói cách khác, con người muốn sống, tồn tại cần thoả

mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần để phát triển thể lực và trí lực của mình.

Toàn bộ những nhu cầu đó được biểu hiện dưới một hình thức chung nhất chính là

LIKT, nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển kinh tế xã hội.

Trong xã hội có nhiều động lực như động lực kinh tế, chính trị.., song động

lực chủ yếu, suy cho cùng, là động lực kinh tế vì nó có ý nghĩa quyết định thúc đẩy

con người hành động, chi phối nội dung các động lực khác. Cuộc sống của con

người bao giờ cũng đòi hỏi nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần ngày càng cao.

Nhưng không phải bất kỳ nhu cầu nào của con người cũng được thỏa mãn và đều là

LIKT, mà chỉ có những nhu cầu mang tính hiện thực mới được thỏa mãn và mới

thuộc phạm trù LIKT. Nhu cầu đó phụ thuộc vào trình độ phát triển nhất định của

phương thức sản xuất, hay nói một cách khác là: Không phải bản thân nhu cầu là

35

LIKT, mà nhu cầu khi được xác định về mặt xã hội mới trở thành LIKT. Do đó,

LIKT có liên quan đến nhu cầu của con người nhưng không phải mọi nhu cầu của

con người đều trở thành LIKT, mà chỉ có những nhu cầu vật chất (nhu cầu kinh tế)

mới trở thành LIKT. Vì vậy, LIKT là một phạm trù kinh tế khách quan, LIKT muốn

được thực hiện phải thông qua hoạt động có nhận thức của con người, và con người

càng nhận thức tự giác được phạm trù LIKT, thì hoạt động của họ càng thu được kết

quả cao.

Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của QHSX, là một khâu chính của cơ

chế tác động chung của quy luật kinh tế do QHSX sinh ra. Không có LIKT thuần

tuý tồn tại ngoài con người hoặc là con người không ý thức gì về lợi ích. Do vậy,

cái khách quan được biểu hiện dưới dạng chủ quan, mang hình thức chủ quan, cái

chủ quan do khách quan quy định. Trong thực tế, các động cơ hành động kinh tế

của con người có vẻ chủ quan nhưng thực ra nó lại là động cơ mang tính khách

quan, một mặt, thông qua LIKT, con người mưu cầu đời sống; mặt khác, thông qua

LIKT mà xu hướng phát triển khách quan của sản xuất xã hội được thực hiện.

Lợi ích kinh tế được quy định một cách khách quan bởi phương thức sản

xuất và hệ thống quan hệ sản xuất; V.I.Lênin cũng cho rằng lợi ích của giai cấp này

hay giai cấp khác được xác định một cách khách quan theo vai trò mà họ có trong

hệ thống QHSX, theo những hoàn cảnh và điều kiện sống của họ.

Như vậy, LIKT là hình thức biểu hiện của QHSX, LIKT thể hiện trong bốn

khâu của quá trình tái sản xuất xã hội: Sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng; ở

đâu có hoạt động SXKD thì ở đó có LIKT và chủ thể tham gia vào SXKD cũng là

chủ thể của LIKT.

Xuất phát từ những quan niệm trên, tác giả luận án khẳng định: Lợi ích kinh

tế là một phạm trù kinh tế khách quan nó phát sinh và tồn tại trên cơ sở của một

quan hệ sản xuất nhất định, là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất và phản

ánh mặt bản chất nhất của quan hệ sản xuất. Lợi ích kinh tế không tuỳ thuộc vào

yếu tố chủ quan của con người, không tuỳ thuộc ở chỗ là con người có nhận thức

được nó hay không, mà do địa vị của họ trong quan hệ sản xuất quyết định.

Trong hệ thống LIKT: Cá nhân, tập thể và xã hội thì LIKT cá nhân là động

36

lực trực tiếp, mạnh mẽ nhất thúc đẩy các chủ thể tham gia một cách tích cực vào các

hoạt động kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả kinh tế của chúng. Vì LIKT cá nhân

là lợi ích thiết thực nhất, gắn liền với từng cá nhân, từng chủ thể; nó tạo điều kiện

để thực hiện và nâng cao lợi ích văn hóa, tinh thần của từng cá nhân; nó là cơ sở

thực hiện LIKT tập thể và lợi ích xã hội và dân có giàu thì nước mới mạnh.

2.2. LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

2.2.1. Bản chất lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Sau gần ba mươi năm, từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

(12/1987) đến nay, hoạt động đầu tư nước ngoài, đặc biệt đầu tư trực tiếp nước

ngoài (Foreing Direct Investment - FDI) ngày càng trở thành một trong những

nguồn lực quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài

ngày càng tăng lên đã thật sự có tác động tích cực vào sự tăng trưởng chung của nền

kinh tế nhiều thành phần.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân

hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở SXKD. Cá nhân hay

công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở SXKD này.

Tại khoản 6, điều 3, Luật Đầu tư chỉ rõ:

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm: DN do nhà đầu tư nước

ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; DN Việt Nam do nhà

đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại [76, tr.9].

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm: Các DN có thể 100% vốn

nước ngoài, có thể liên kết, liên doanh với DN nhà nước hoặc DN tư nhân của nước

ta. DNCVĐTNN có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta, cho phép những

nước đang phát triển tranh thủ được các nguồn lực lớn từ bên ngoài về vốn, công

nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường, tạo việc làm, phát triển

nhanh nền kinh tế quốc dân.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) đã xác định: Kinh tế có vốn đầu tư

nước ngoài là một bộ phận cấu thành nền kinh tế nước ta: "Tạo điều kiện để kinh tế

37

có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết

cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc

làm. Cải thiện môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư nước

ngoài" [29, tr.99]. Để khẳng định tầm quan trọng của chính sách khuyến khích thu

hút đầu tư, trên tinh thần thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa trong

kinh tế đối ngoại, Đại hội lần thứ X (2006) của Đảng tiếp tục khẳng định: Kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị

trường định hướng XHCN. Đại hội lần thứ XI (2011) của Đảng tiếp tục nhấn mạnh:

"Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển" [32, tr.99].

Thực tế cho thấy, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam đã

có tốc độ phát triển nhanh, đóng góp ngày càng lớn cho tổng sản phẩm trong nước.

Việc thu hút vốn FDI đã góp phần to lớn vào quá trình thay đổi cơ cấu của nền kinh

tế, thực hiện CNH, HĐH đưa Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế. Việt Nam là

một nước đang phát triển, do đó cần phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong

đó thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một tất yếu. Văn kiện Đại hội đại

biểu của Đảng lần thứ XI (2011) đã nêu rõ: "Thu hút mạnh đầu tư trực tiếp của

nước ngoài vào những ngành, lĩnh vực kinh tế phù hợp với quy hoạch và chiến lược

phát triển của đất nước, nhất là các lĩnh vực công nghệ cao" [32, tr.209].

Các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng muốn tiến hành

hoạt động SXKD và kinh doanh có lãi thì tất yếu phải có sự thuê mướn lao động.

Khi quan hệ này được xác lập sẽ nảy sinh quan hệ lợi ích giữa các chủ DN với

người lao động. Ở đây có sự xuất hiện LIKT của những người lao động và lợi ích

của các chủ DN. Cũng như tất cả những người lao động làm việc trong các lĩnh vực

khác, người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN cũng mong muốn có được

LIKT thỏa đáng để bảo đảm cuộc sống của bản thân và gia đình của mình. LIKT

của người lao động trong các DNCVĐTNN là tất cả các yếu tố nhằm đáp ứng, thỏa

mãn những nhu cầu kinh tế (nhu cầu vật chất) của họ và gia đình họ.

Từ khi có sự xuất hiện của loài người trong lịch sử, con người đã phải tiến

hành các hoạt động sản xuất để duy trì cuộc sống của mình và góp phần phát triển

xã hội; con người cá nhân nói riêng cũng như toàn xã hội muốn tồn tại để phát triển

38

thì trước hết phải duy trì các hoạt động sống, muốn vậy cần phải có những thứ thiết

yếu cần thiết về ăn, mặc, ở, đi lại và nhiều tư liệu sinh hoạt cần thiết khác và để đáp

ứng nhu cầu cần phải có phương tiện để đáp ứng. Do vậy, hoạt động kinh tế luôn

luôn giữ vai trò trung tâm trong mọi hoạt động xã hội, nó là cơ sở cho các hoạt động

khác. Trong hoạt động kinh tế, con người luôn có động cơ nhất định, động cơ thúc

đẩy con người hoạt động, mức độ hành động (mạnh hay yếu) tùy thuộc vào mức độ

chín muồi của động cơ - tùy thuộc vào nhận thức của họ. Như vậy, mỗi cá nhân

trong xã hội muốn tồn tại và phát triển thì rõ ràng họ cần phải có những yếu tố cần

thiết đó là những nhu cầu phải được đáp ứng, trong các nhu cầu đó có những nhu

cầu về kinh tế.

Những nhu cầu về kinh tế được đáp ứng đó chính là LIKT, LIKT bắt nguồn

từ nhu cầu kinh tế và là cơ sở để đáp ứng nhu cầu kinh tế, nhu cầu kinh tế làm nảy

sinh LIKT; cũng giống như LIKT của con người nói chung LIKT gắn liền với nhu

cầu, song không phải là nhu cầu bất kỳ mà là nhu cầu kinh tế (nhu cầu vật chất) chỉ

có nhu cầu kinh tế mới làm nảy sinh LIKT. Để đáp ứng nhu cầu kinh tế (thỏa mãn

nhu cầu) con người phải tham gia vào các hoạt động kinh tế để thỏa mãn nhu cầu

kinh tế.

Qua nghiên cứu cho thấy, LIKT là một phạm trù kinh tế khách quan biểu thị

những mối quan hệ kinh tế được phản ánh trong ý thức của con người trở thành

động cơ thôi thúc những người lao động tham gia vào các hoạt động sản xuất nhằm

thỏa mãn tốt nhất nhu cầu kinh tế (nhu cầu vật chất) của các chủ thể tham gia vào

các hoạt động kinh tế.

Từ những quan niệm chung về LIKT, tác giả luận án cho rằng: Lợi ích kinh

tế của người lao động trong các DNCVĐTNN là phạm trù kinh tế, thể hiện mối

quan hệ kinh tế giữa những người lao động với chủ DNCVĐTNN; phản ánh những

nhu cầu, động cơ khách quan của người lao động tham gia vào các hoạt động kinh

tế trong DNCVĐTNN.

Lợi ích kinh tế của người lao động thể hiện trên hai nội dung chủ yếu:

Thứ nhất: Người lao động phát huy được khả năng sáng tạo trong một môi

trường chính trị - xã hội ưu việt. Thể hiện, người lao động sẽ lao động một cách tự

39

giác, sáng tạo và có hiệu quả ngày càng cao vì lợi ích của chính người lao động, của

tập thể, của cộng đồng. Tuy nhiên, muốn biến khả năng đó thành hiện thực, cần

phải có một cơ chế, hình thức kết hợp hài hòa các LIKT trong một hệ thống, nhằm

khơi dậy phát huy một sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, của từng tập thể và của

từng cá nhân người lao động.

Thứ hai: Thoả mãn tốt hơn những nhu cầu về vật chất, tinh thần cá nhân và

gia đình người lao động. Trong thực tế lao động sản xuất và cuộc sống nói chung,

đa phần những người lao động không chỉ quan tâm đến mức độ thỏa mãn các nhu

cầu về đời sống vật chất (thu nhập thông qua tiền lương, tiền thưởng và các sản

phẩm của lao động), mà còn biểu hiện thông qua việc hưởng thụ các phúc lợi xã hội

như: quyền có việc làm, quyền phát triển nghề nghiệp, chăm sóc y tế, các khoản phụ

cấp, trợ cấp khác.

Như vậy, LIKT của người lao động gắn liền với khả năng lao động và thành

quả lao động, với cách thức, mức độ thỏa mãn những nhu cầu về đời sống vật chất

cũng như đời sống tinh thần của người lao động. Khi LIKT của người lao động được

thực hiện sẽ tạo ra động lực to lớn thúc đẩy sản xuất, kinh tế - xã hội phát triển. Đồng

thời, phát triển kinh tế - xã hội sẽ tạo ra tiền đề, khả năng thỏa mãn ngày càng tốt hơn

nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần của người lao động và ngược lại trên cơ sở

đó tạo ra niềm tin, niềm phấn khởi thúc đẩy người lao động hăng say trong lao động

thúc đẩy sản xuất phát triển.

Trong các DNCVĐTNN, người lao động là người trực tiếp tiến hành quá

trình sản xuất để sản xuất ra hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội, tập thể và

của bản thân mình, nên họ là người trực tiếp thực hiện các LIKT. Do vậy LIKT cá nhân

là lợi ích trực tiếp của người lao động, nó là mục đích trực tiếp của hoạt động sản xuất

của người lao động, là động cơ trực tiếp thôi thúc họ phải tiến hành sản xuất.

2.2.2. Đặc điểm lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNCVĐTNN và phản ánh

quan hệ kinh tế giữa người lao động với các chủ DNCVĐTNN.

Trong quá trình người lao động tham gia vào các hoạt động SXKD cho chủ

40

DN và được các chủ DN trả lương, ngoài tiền lương còn có các khoản thu nhập

khác người lao động có thể được hưởng thông qua các hợp đồng lao động của mình

đối với chủ DN như tiền thưởng, tiền ăn giữa ca, các khoản chi phí về bảo hộ lao

động, tạo môi trường làm việc thông thoáng, đảm bảo an toàn trong lao động…

Lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNCVĐTNN phản ánh mối

quan hệ giữa chủ và thợ, giữa người lao động làm thuê với người thuê mướn lao

động, biểu thị thái độ của chủ DN đối với những người lao động thông qua các

hành vi đối xử của các chủ DN đối với những người lao động, thông qua các quan

hệ lợi ích có thể thấy rõ khả năng quan tâm của chủ đối với người lao động hay

khả năng đáp ứng vấn đề LIKT của chủ DN đối với người lao động. Quan hệ này

là quan hệ mua bán hàng hóa sức lao động giữa những người lao động với chủ

DN. Người lao động làm việc trong DN phải được chủ DN trả lương và nhiều

khoản chi trả khác để bảo đảm cho người lao động tái tạo lại sức lao động tiếp tục

làm việc cho các chủ DN.

Theo C.Mác, các khoản chi trả này là nhu cầu cần thiết nhằm tái tạo ra năng

lực lao động cho người lao động. Trong CNTB, giá cả của hàng hóa sức lao động

mà nhà tư bản phải trả cho người công nhân, giá cả này là sự biểu hiện bằng tiền

của giá trị của hàng hóa sức lao động còn giá trị của hàng hóa sức lao động được đo

bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân và gia

đình họ. Giá trị đó cũng bao hàm cả những chi phí để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao

trình độ tay nghề cho công nhân. Phạm trù giá trị của hàng hóa sức lao động dưới

CNTB bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, những vấn đề C.Mác nghiên cứu về giá trị

của hàng hóa sức lao động dưới CNTB nếu được đặt trong quan hệ hợp đồng lao

động giữa người lao động với các chủ DN. Điều đó cho thấy: Để người lao động

làm việc cho các chủ DN thì các chủ DN phải có những chi phí để người lao động

khôi phục tái tạo lại năng lực lao động của mình, các khoản đó là tiền công, tiền

thưởng, cho phí về bảo hiểm, về an toàn lao động.., các khoản này cũng chính là

những yếu tố cấu thành nên LIKT của người lao động làm việc trong các

DNCVĐTNN. Nếu các khoản chi trả này của chủ DNCVĐTNN đối với người lao

động được đảm bảo và thỏa đáng, cũng tức là LIKT của người lao động làm việc ở

đây được bảo đảm ngược lại LIKT của người lao động sẽ bị xâm hại.

41

Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động được xem như là một loại "hàng

hóa đặc biệt". Do đó, việc mua bán hàng hóa sức lao động cần phải tuân thủ nguyên

tắc thỏa thuận theo giá cả thị trường. Việc các chủ DNCVĐTNN trả lương cho người

lao động quá rẻ là vi phạm nguyên tắc này, tất yếu nảy sinh mâu thuẫn. Nếu nguyên

tắc này không được đảm bảo, tiền công của người công nhân không được nhận xứng

đáng với công sức của họ bỏ ra, dẫn tới người lao động sẽ đình công. Ngược lại, khi

người lao động được trả thù lao xứng đáng, quyền lợi của họ được đảm bảo, họ sẽ

yên tâm làm việc, từ đó kết quả SXKD của DNCVĐTNN cũng đảm bảo.

Các khoản chi phí về tiền công tiền thưởng, tiền bảo đảm an toàn trong lao

động, tạo môi trường và nơi làm việc thông thoáng.., là những yếu tố cấu thành

nên LIKT của người lao động, đối với những người lao động các khoản này mà họ

được thừa hưởng càng tăng lên thì lợi ích của họ càng được bảo đảm hơn. Ngược

lại, đối với các chủ DN, chi phí về tiền công và bảo hộ, an toàn lao động, lại là chi

phí sản xuất (chi về các yếu tố đầu vào của sản xuất). Những khoản chi phí này

càng tăng thì người lao động càng được hưởng lợi, song đối với các chủ DN

những khoản chi này tăng lên tức là chi phí cho sản xuất tăng lên sẽ dẫn tới lợi

nhuận của họ thu được sẽ giảm đi. Do đó, giữa LIKT của những người lao động

với chi phí sản xuất của các chủ DN có mối quan hệ tỷ lệ nghịch, chế ngự lẫn

nhau. Hay nói cụ thể hơn giữa LIKT của người lao động làm việc trong các DN

với chủ đầu tư, xét trong quan hệ này là không đồng thuận và có mâu thuẫn. Quan

hệ này xét thuần túy dưới dạng trao đổi, mua bán thì ở đây người lao động cung

cấp sức lao động của mình để lao động cho các chủ đầu tư, ngược lại các chủ đầu

tư phải trả lại cho người lao động tiền công và nhiều chi phí khác để người lao

động tái tạo lại sức lao động tiếp tục làm việc cho các nhà đầu tư. Trong quan hệ

trao đổi bao giờ người tham gia trao đổi cũng muốn được hưởng lợi về mình, vì

vậy cần có sự thỏa thuận để "gặp nhau ở một điểm" mà cả hai đều chấp nhận

được. Trong quan hệ giữa LIKT của người lao động với các chủ DN cũng vậy,

người lao động với chủ DN cần có sự thỏa thuận, trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể

để đi đến sự đồng thuận về lợi ích, nguyên tắc để đi tới sự đồng thuận ở đây là

phải trên cơ sở nhận thức quy luật trong trao đổi đòi hỏi phải có sự trao đổi ngang

42

giá. Về phía chủ DN phải thấy được sự trả công thỏa đáng cho những người lao

động theo đúng các hợp đồng lao động là tất yếu, để người lao động tái tạo sức lao

động, hơn nữa nếu người lao động được trả tiền công thỏa đáng đáp ứng công sức

của họ đã bỏ ra, sẽ tạo ra động lực thúc đẩy họ lao động tốt hơn cho các chủ đầu tư,

trong đó cũng có lợi ích của người lao động. Như vậy, khi chủ DN quan tâm tới lợi

ích của những người lao động, không chỉ đơn thuần vì lợi ích của những người lao

động mà còn vì lợi ích của chính các chủ DN nữa. Còn nếu chủ DN chỉ quan tâm

tới việc theo đuổi lợi nhuận tối đa của mình không chú trọng tới lợi ích chính đáng

của người lao động bằng việc cắt giảm, bớt xén tiền công, tiền thưởng, không chú

trọng đến tiền thưởng, điều kiện môi trường làm việc của người lao động thì có thể

trước mắt các chủ DN có được lợi nhuận cao, song đối với người lao động khi lợi

ích của họ không được bảo đảm sẽ làm triệt tiêu động lực làm việc cho các chủ đầu

tư. Khi đó, chẳng những lợi ích của người lao động không bảo đảm mà về phía các

chủ đầu tư trong các DNCVĐTNN về sản xuất cũng sẽ giảm sút.

- Lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNCVĐTNN là một phạm trù

kinh tế khách quan

Cũng như LIKT nói chung, LIKT của người lao động làm việc trong các

DNCVĐTNN là một phạm trù kinh tế khách quan, biểu thị mối quan hệ giữa người

lao động với các chủ DNCVĐTNN. Mối quan hệ đó xuất hiện trong điều kiện cụ

thể, trở thành mục đích, động cơ thôi thúc họ tham gia vào các hoạt động sản xuất

của các DNCVĐTNN để nhằm thỏa mãn một cách tốt nhất những nhu cầu vật chất

(nhu cầu kinh tế) của họ đã đề ra.

Lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNCVĐTNN ở nước ta bắt

nguồn từ những nhu cầu kinh tế chính đáng, khách quan cần phải có trong việc duy

trì các hoạt động sống của con người. Để tồn tại phát triển, duy trì sự sống, sự phát

triển chung của xã hội, mọi cá nhân trong xã hội trong đó có những con người lao

động làm việc trong các DNCVĐTNN bao giờ cũng phải thực hiện một quá trình trao

đổi liên tục với môi trường xung quanh. Có khi dưới dạng vật chất có khi dưới dạng

tinh thần nhằm giải tỏa những trạng thái thiếu hụt, ứ thừa của bản thân, đó là quá

trình khôi phục lại trạng thái mất cân bằng giữa chủ thể và khách thể, giữa con người

43

với môi trường xung quanh. Để khôi phục lại trạng thái mất cân bằng con người tất

yếu đòi hỏi cần phải có những yếu tố cần thiết để lặp lại đó. Những người lao động

làm việc trong các DNCVĐTNN cũng không nằm ngoài trạng thái đó, trong hoạt

động sản xuất cho các chủ DN, bản thân và gia đình họ cũng luôn luôn cần phải đáp

ứng những nhu cầu để nhằm khôi phục lại những trạng thái mất cân bằng trong quá

trình làm việc cho chủ DN. Các trạng thái mất cân bằng phải được khôi phục thì con

người mới có thể tiếp tục duy trì mọi hoạt động bình thường của mình được.

Để khôi phục lại các trạng thái mất cân bằng người lao động cần phải được

đáp ứng những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống đó là những thứ cần thiết để duy

trì sự sống, sự tồn tại phát triển của mỗi cá nhân trong xã hội muốn tồn tại phát triển

được thì trước hết họ cần phải có ăn, mặc, ở và nhiều tư liệu sinh hoạt cần thiết

khác. Những nhu cầu trên đây đối với con người là cần thiết, nó mang tính khách

quan, đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Như vậy, LIKT của

người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN không phải là một cái gì trừu

tượng và có tính chất chủ quan mà cơ sở của LIKT của người lao động làm việc

trong các DNCVĐTNN là mang tính chất khách quan, nó bắt nguồn, từ những nhu

cầu khách quan của những người lao động.

- Lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNCVĐTNN có tính giai cấp

và lịch sử

Tính giai cấp, lợi ích biểu hiện mối quan hệ giữa người lao động và các chủ

DN. Để tối đa hóa lợi nhuận buộc họ phải quan hệ với nhau bằng cách này hay cách

khác để hai bên đều được hưởng thụ phần lợi ích do quá trình lao động sản xuất tạo

ra. Mối quan hệ này cũng có thể là sự thỏa thuận hòa bình, hai bên cùng có lợi;

cũng có thể là sự đấu tranh gay gắt, nảy sinh mâu thuẫn; Tính lịch sử, lợi ích thể

hiện gắn liền với hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể, gắn liền với hiệu quả hoạt

động SXKD của DNCVĐTNN và sự phát triển chung của kinh tế nước ta cũng như

kinh tế thế giới trong điều kiện hiện nay. Do vậy, về phía người lao động cần nhận

thức rõ: Lợi ích kinh tế là một phạm trù có tính lịch sử đó là quyền không thể đòi

hỏi hưởng thụ cao hơn, khả năng mà hiện thực có được. Trong "biện chứng của tự

nhiên" Ăngghen cho rằng: Con người sáng tạo ra hoàn cảnh như thế nào thì hoàn

44

cảnh cũng sáng tạo con người thế ấy. C.Mác cũng đã chứng minh tính "lịch sử của

tự nhiên" của các hình thái các chế độ xã hội có những hệ thống nhu cầu riêng, cho

nên cũng làm nảy sinh một hệ thống lợi ích riêng và ở đó xét một cách chung nhất

thì quan hệ hạn chế của con người ta với tự nhiên quyết định quan hệ hạn chế của

con người ta với nhau.

Như vậy, theo quan điểm của C. Mác và Ăngghen đối với những người lao

động trong các DNCVĐTNN ở nước ta, khi mà lực lượng sản xuất chưa phát triển,

năng suất lao động còn ở mức thấp, thì vấn đề bảo đảm LIKT cũng phải trên cơ sở

diễn biến thực tế ở Việt Nam và mức doanh lợi mà các DNCVĐTNN đạt được. Một

khi có sự hiểu biết sâu sắc và điều kiện và hoàn cảnh cụ thể về DNCVĐTNN, các chủ

đầu tư, cũng như những điều kiện hoàn cảnh cụ thể của người lao động thì giữa chủ

DNCVĐTNN và người lao động sẽ có sự đồng thuận để mang lại lợi ích cho cả đôi bên.

Phần lớn các DNCVĐTNN khi đầu tư vào Việt Nam đã tuân thủ tương đối

tốt các quy định luật pháp, nội dung của Bộ Luật Lao động, Luật Đầu tư, Luật Bảo

hiểm xã hội.., và bảo đảm được quyền lợi của người lao động làm việc tại

DNCVĐTNN. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một số DNCVĐTNN kinh doanh kiểu

"chụp giật", lợi dụng sức lực của người lao động để thu lợi nhuận, không quan tâm

đến LIKT của người lao động, dẫn tới các cuộc đình công, bãi công đòi tăng lương,

giảm giờ làm của người lao động đối với giới chủ. Đây là một vấn đề bức xúc hiện

nay đòi hỏi các ngành chức năng giải quyết triệt để, làm sao người lao động yên tâm

làm việc và được hưởng đúng với quyền lợi công sức của mình.

Hiện nay, do nắm bắt được vai trò LIKT đối với người lao động là một tất

yếu, để thực hiện mục tiêu lợi nhuận của mình phần lớn các chủ DN đã biết quan

tâm chăm lo phát huy yếu tố con người. Coi trọng những lợi ích thiết thân của

người lao động, dựa vào lực lượng khoa học kỹ thuật, trình độ công nhân, đặt lòng

tin, khắc phục sự kỳ thị, đảm bảo thu nhập xứng đáng với khả năng đóng góp của

người lao động, tìm ra cơ chế quản lý phù hợp, coi trọng việc sử dụng các quỹ khen

thưởng, quỹ phúc lợi, cải thiện điều kiện lao động, để người lao động yên tâm làm

việc, phát huy tính sáng tạo, đưa lại hiệu quả sản xuất cao cho DNCVĐTNN, đồng

thời quan tâm đến lợi ích người lao động.

45

2.2.3. Cơ cấu lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài

Về cơ bản LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN gồm hai bộ

phận: LIKT trực tiếp và LIKT gián triếp.

2.2.3.1. Lợi ích kinh tế trực tiếp

Lợi ích kinh tế trực tiếp của người lao động, biểu hiện dưới hình thức thu nhập

bằng tiền bao gồm tiền lương (tiền công), tiền thưởng, quỹ phúc lợi, bảo hiểm.

- Tiền công là bộ phận chủ yếu của LIKT trực tiếp của người lao động trong tất

cả các DN nói chung kể cả DNCVĐTNN. Nó là một bộ phận giá cả của sức lao động.

Theo lý luận tiền công của C.Mác, việc mua bán hàng hóa sức lao động được

thực hiện thông qua thỏa thuận giữa người lao động và chủ DN có nhu cầu sử dụng

sức lao động đó.

Trên thực tế, việc mua bán sức lao động diễn ra trước quá trình sản xuất, số tiền

công mà người lao động nhận được sau khi đã tiến hành sản xuất hoặc một thời gian

nhất định. Đúng như C.Mác đã viết: "giá trị sức lao động là giá trị của những tư liệu

sinh hoạt cần thiết để duy trì cuộc sống của người có sức lao động ấy" [59, tr.256].

Về nguyên tắc, số tiền công đó phải đảm bảo giá trị của toàn bộ tư liệu sinh

hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động, để duy trì cuộc sống của người lao động

và gia đình họ. Vì vậy, số lượng giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết đó cũng khác

nhau phụ thuộc vào giá trị sức lao động của từng người lao động bỏ ra: "hao phí

càng nhiều thì việc bù đắp lại càng lớn" [59, tr.256].

Khi cuộc sống của người lao động và gia đình họ được ổn định, họ sẽ yên tâm

lao động, sáng tạo, cống hiến sức lực cho DNCVĐTNN. Trong mỗi DNCVĐTNN có

mục đích riêng, do đó tuỳ theo tính chất công việc mà DNCVĐTNN yêu cầu sẽ có

mức tiền công khác nhau. Tiền công cơ bản của từng người lao động là cơ sở để xác

định đơn giá tiền công trong đơn vị sản phẩm hoặc đơn vị thời gian. Việc trả tiền

công theo đơn vị sản phẩm hay đơn vị thời gian có tác dụng kích thích người lao

động tăng cường độ và năng suất lao động phát huy tinh thần sáng tạo, có ý thức

trách nhiệm với công việc của DNCVĐTNN.

Trong DNCVĐTNN tính chất thị trường của tiền công được thể hiện rõ nét,

tiền công chịu sự chi phối rất lớn của thị trường và thị trường lao động. Tiền công

46

trong khu vực này cho dù vẫn nằm trong khuôn khổ pháp luật và theo những chính

sách của Nhà nước Việt Nam, nhưng là những hợp đồng trực tiếp giữa chủ DN và

người lao động, hay là giữa bên làm thuê và một bên đi thuê thông qua quan hệ thuê

mướn lao động - trả thù lao theo thỏa thuận.

Tiền công là bộ phận chính của giá cả sức lao động của người lao động, cho

nên nó cũng bị tác động của quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Điều đó đôi khi

cũng gây nên những biến động lớn về tiền công của người lao động, nó có thể lên

xuống tuân theo quy luật cung - cầu về lao động. Một mặt, các chủ DN đã lợi dụng

tình hình cung lớn hơn cầu về lao động mà trả tiền công dưới giá trị sức lao động,

thậm chí trả dưới mức tối thiểu của giá trị sức lao động để thu lợi nhuận cao, nhất là

đối với các DNCVĐTNN hoạt động với mục đích lợi nhuận là trên hết. Điều đó dễ

gây ra cảnh bất công, bần cùng hóa người lao động, dẫn đến đình công, bãi công đòi

tăng tiền lương, dẫn đến xung đột xã hội và tác động tiêu cực đến quá trình sản

xuất. Mặt khác, nếu cung nhỏ hơn cầu về loại hình lao động nào đó, thì người lao

động dễ gây áp lực đòi tiền công cao hơn giá trị sức lao động, điều này sẽ làm tăng

chi phí sản xuất và gây bất lợi cho chủ DN.

Hiện nay, ở nước ta để bảo vệ người lao động, BLLĐ (2013) đã quy định rõ

tiền lương trong Chương VI gồm 14 điều, quy định về tiền lương cho người lao

động. Mặc dù tiền công trong các DNCVĐTNN là do sự thoả thuận giữa chủ DN và

người lao động thông qua hợp đồng lao động, tiền công đó trả theo năng suất, chất

lượng và hiệu quả công việc, song BLLĐ đã quy định tiền lương của người lao

động không thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định tại Điều 90

BLLĐ, cụ thể như sau:

Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm

công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải

đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Mức

lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ và được xác lập theo

vùng, ngành [78, tr.65].

Như vậy, tiền công mặc dù do cơ chế thị trường và các quy luật kinh tế chi

phối nhưng cũng không thể thấp hơn mức lương tối thiểu theo BLLĐ ban hành.

Tiền công của người lao động nhận được là kết quả phân phối lần đầu, thể hiện ở

47

quy luật phân phối theo lao động, có liên quan đến lợi ích của DNCVĐTNN. Chủ

DN chỉ đồng ý tăng tiền công cho người lao động khi nào lợi ích của họ không bị vi

phạm, tiền công được xác định vào chi phí sản xuất. Lợi ích của người sản xuất,

DNCVĐTNN thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận, lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu

và chi phí sản xuất. Như vậy, việc tăng tiền công sẽ làm tăng chi phí sản xuất, nếu

doanh thu không tăng thì sẽ làm cho lợi nhuận giảm. Do đó, DN chỉ đồng ý tăng

tiền công cho người lao động khi có giải pháp vừa đảm bảo tăng tiền công cho

người lao động, vừa có lợi nhuận cho DNCVĐTNN mà thôi. Đây là một mâu thuẫn,

chủ DN thì luôn hướng tới lợi nhuận, còn người lao động luôn mong muốn đảm bảo

LIKT. Mâu thuẫn này nếu không được giải quyết hài hòa sẽ dẫn đến đình công, bãi

công của người lao động.

- Tiền thưởng

Đối với người lao động bên cạnh tiền công cơ bản thì tiền thưởng cũng là

một bộ phận quan trọng trong thu nhập bằng tiền, tại Điều 103 chương VI, BLLĐ

quy định: Tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người

lao động căn cứ vào kết quả SXKD hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của

người lao động [78, tr.71].

Vì thực chất tiền thưởng là phần thưởng cho người lao động khi làm tốt công

việc của mình hơn mức trung bình, nó kích thích người lao động hăng say làm việc,

cống hiến và sáng tạo, thúc đẩy tăng năng suất lao động. Tiền thưởng là một bộ phận

của giá cả sức lao động, nó không cố định, được tính toán theo một tỷ lệ nhất định

trên tiền công cơ bản và thông thường là thấp hơn tiền công cơ bản rất nhiều, đồng

thời người lao động nhận được nó thông qua phân phối lại từ quỹ khen thưởng được

trích lập từ lợi nhuận của DN. Nhưng thực tế tiền thưởng của người lao động luôn bị

cắt xén hoặc có nhưng không đáng kể. Chính tiền thưởng của người lao động trong

các DNCVĐTNN thường xuyên bị cắt xén dưới các hình thức là một trong những

nguyên nhân dẫn đến đình công, bãi công gây mất TTATXH trong các KCN.

- Quỹ phúc lợi, bảo hiểm

Trong quá trình SXKD của các DNCVĐTNN càng phát triển, hiệu quả kinh

tế đưa lại càng cao, thì quy mô của các quỹ phúc lợi và bảo hiểm càng lớn, từ đó các

48

DN sẽ có điều kiện thực hiện từ các quỹ này. Người lao động nhận được thu nhập,

hay thực hiện được LIKT của mình từ quỹ phúc lợi và quỹ bảo hiểm thông qua quá

trình tái phân phối các quỹ đó dưới hình thức bằng tiền như (thăm hỏi hiếu, hỷ, lễ

tết, trợ cấp khó khăn, sinh đẻ, ốm đau..,) hoặc được hưởng lợi ích của mình thông

qua hình thức tham quan, nghỉ mát. Ngoài ra, từ quỹ phúc lợi DNCVĐTNN trích ra

một phần gọi là tiền phụ cấp là số tiền bổ sung thể hiện trách nhiệm của người lao

động, bù đắp cho người lao động làm việc trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm,

độc hại. Các DNCVĐTNN còn có trách nhiệm trích một phần tiền từ quỹ phúc lợi

cùng với người lao động đóng góp và mua bảo hiểm y tế; bảo hiểm xã hội, cho

người lao động, bảo đảm đúng quyền lợi và nghĩa vụ đối với người lao động.

2.2.3.2. Lợi ích kinh tế gián tiếp

Đó là bộ phận lợi ích người lao động không phải trực tiếp nhận được như

tiền công, tiền thưởng mà là được hưởng thông qua dưới các hình thức khác chủ DN

mang lại cho họ. LIKT gián tiếp của người lao động trong quá trình làm việc thể

hiện ở những nội dung: Điều kiện môi trường làm việc (môi trường tự nhiên, môi

trường xã hội); đào tạo nâng cao tay nghề; đảm bảo đời sống tinh thần, được thực

hiện thông qua hoạt động sản xuất ở DNCVĐTNN.

- Về điều kiện môi trường làm việc

Khi nghiên cứu về tiền công, để có thu nhập người lao động phải làm việc

một thời gian nhất định hoặc tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của chủ

DNCVĐTNN. Khi ký kết hợp đồng lao động bên cạnh việc đảm bảo tiền công cho

người lao động thì DN còn cần phải thực hiện tốt điều kiện môi trường làm việc

theo tiêu chuẩn.

Trong BLLĐ dành riêng chương IX quy định về: An toàn lao động, vệ sinh

lao động, cho người lao động. Tại Điều 133, Tuân thủ pháp luật về an toàn lao

động, vệ sinh lao động: Mọi DN, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lao

động, sản xuất phải tuân theo quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh

lao động [78, tr.88].

Tiếp đó, tại Điều 138 BLLĐ quy định rõ nghĩa vụ của người sử dụng lao

động, người lao động đối với công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động:

49

Người sử dụng lao động có nghĩa vụ sau đây: Bảo đảm nơi làm

việc đạt yêu cầu về không gian, độ thoáng, bụi, hơi, khí độc, phóng xạ,

điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung và các yếu tố có hại khác được quy

định tại các quy chuẩn kỹ thuật liên quan và các yếu tố đó phải được

định kỳ kiểm tra, đo lường [78, tr.90].

- Về đào tạo nâng cao tay nghề

Hiện nay, theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong

khu vực FDI có khoảng gần ba triệu lao động, những người lao động vào làm việc

trong khu vực này, được tuyển dụng trực tiếp từ các nguồn chính:

Một là: Lao động có kỹ thuật cao (người lao động có trình độ học vấn, sinh

viên tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học…).

Hai là: Lao động phổ thông từ mọi miền quê khác nhau, độ tuổi từ 18 đến 40 tuổi.

Ba là: Người lao động có hộ khẩu thường trú tại địa phương nơi DNCVĐTNN

đóng trên địa bàn sở tại.

Xuất phát từ nền sản xuất nhỏ, tiểu nông, lực lượng lao động Việt Nam tuy

nhiều nhưng chất lượng chưa cao, lao động chưa qua đào tạo chiếm tới 73%, người

lao động quen với lề thói làm việc tự do, tính tự giác thấp, nên ý thức kỷ luật lao

động kém. Do đó, khi các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng lao động Việt Nam để đạt

mục đích kinh doanh có lãi, thì trước hết họ cần phải đào tạo cho người lao động có

trình độ chuyên môn nhất định, để đảm nhận được công việc của DN. Các DN đã có

mở các lớp dạy nghề, đào tạo chuyên môn theo ngành nghề sản xuất của mình. Bên

cạnh đó, đội ngũ lao động có trình độ cao, quản lý, cũng được các chủ DN cho đi

đào tạo tại chỗ hoặc đào tạo ở nước ngoài nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, tiếp

thu công nghệ mới, đáp ứng sự phát triển của khoa học công nghệ. Thế nhưng, thực

tế vẫn còn một số DNCVĐTNN đã lợi dụng danh nghĩa dạy nghề, truyền nghề để

trục lợi, bóc lột sức lao động trái pháp luật.

- Về đời sống tinh thần

Con người là tổng hòa mối quan hệ xã hội, bên cạnh những nhu cầu vật chất thì

nhu cầu tinh thần cũng đóng vị trí rất quan trọng trong đời sống hàng ngày. Ngoài thời

gian lao động sản xuất, con người phải có thời gian nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí để phục

50

hồi sức khoẻ của mình. Chính việc nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí sẽ giúp người lao động

thoải mái, thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng và lấy lại trạng thái cân bằng

của con người để tiếp tục lao động, làm việc tốt hơn. Đồng thời, thông qua những

hoạt động đó mà người lao động có điều kiện giao lưu, học hỏi, thưởng thức và

sáng tạo giá trị văn hóa nghệ thuật thông qua thực tiễn lao động sản xuất.

Ở đây, người lao động trong các DNCVĐTNN hàng ngày với áp lực công

việc rất lớn, tác phong làm việc công nghiệp, họ cần được đảm bảo có một đời sống

tinh thần tốt, đảm bảo sức khoẻ. Vị trí các DNCVĐTNN phần lớn nằm trong các

KCN, cho nên người lao động làm việc trong các DN này thường ở trong các khu

lưu trú chung của DN hoặc thuê nhà trọ gần nơi làm việc. Nhiều DNCVĐTNN đã

quan tâm đến người lao động, như xây khu lưu trú cho công nhân, tổ chức tham

quan, du lịch.., nhằm đảm bảo cho người lao động thật sự có được thể chất và tinh

thần, hay săng làm việc với năng suất lao động cao. Bên cạnh đó vẫn còn một số

DNCVĐTNN đầu tư kiểu "chụp giật", trả lương công nhân với mức thấp và chưa

quan tâm đến đời sống tinh thần của họ. Phần lớn công nhân tự tìm thuê nhà phòng

trọ gần nơi làm việc của mình, với mức lương khoảng 200 USD, họ phải chọn giải

pháp vài người chung nhau thuê một phòng. Khu nhà trọ này đều được xây dựng

một cách tạm bợ, không gian chật hẹp, ẩm thấp, điện nước thường xuyên thiếu thốn

và không hề có ti vi, báo chí, phim ảnh, giao lưu tập thể, thiếu những thông tin về

xã hội. Hầu hết các DNCVĐTNN không xây dựng các công trình văn hóa cho

người lao động, chợ, trường học cho con em công nhân.

2.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI

LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở

VIỆT NAM

2.3.1. Nhóm các nhân tố ảnh hưởng gián tiếp

2.3.1.1 Hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với các DNCVĐTNN là

nhóm các nhân tố có ảnh hưởng lớn đến LIKT của người lao động.

Như vậy, hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước hay nói bao quát hơn

51

là thể chế kinh tế của Nhà nước được xác lập có tác động lớn tới sự hoạt động của

các DNCVĐTNN. Sự hoạt động hiệu quả hay không hiệu quả của các DN lại tác

động tới lợi nhuận của các chủ DN và LIKT của người lao động. Cụ thể:

- Hệ thống chính sách của Nhà nước là yếu tố quan trọng nhất tác động đến

kết quả thực hiện LIKT của người lao động trong DN. Nhà nước quy định mức tiền

lương tối thiểu (chung, vùng) để làm căn cứ cho các DN xác định mức lương trả

cho người lao động; ban hành nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng lương phù

hợp với đặc điểm SXKD của mỗi DN; đưa ra các quy định về xây dựng đơn giá tiền

lương, xác định quỹ tiền lương, quy định về trả lương làm thêm. Do vậy, hệ thống

chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến LIKT của người lao động trong

các DN. Nếu hệ thống chính sách của Nhà nước đồng bộ, khoa học, phù hợp sẽ tạo

điều kiện thuận lợi cho DN phát triển, thu được lợi nhuận cao và LIKT của người

lao động sẽ được bảo đảm và ngược lại.

- Hệ thống pháp luật của Nhà nước được xây dựng, đặc biệt là Luật Kinh tế,

Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Lao động, Luật Công Đoàn, Luật Bảo hiểm

xã hội, đều có liên quan tới quyền và lợi ích chính đáng của những người lao động

làm việc trong các DN Việt Nam và các DNCVĐTNN tại địa bàn thành phố Hà

Nội. Hệ thống luật pháp được xây dựng trên cơ sở điều kiện thực tế của Việt Nam,

thể hiện và bảo đảm được việc thực hiện LIKT cho người lao động làm việc trong

các DNCVĐTNN. Nhà nước phải tạo ra hành lang pháp luật cho hoạt động kinh tế

của các DN nói chung và DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng,

bằng cách đặt ra các điều luật cơ bản về bảo đảm lợi ích chính đáng, hợp pháp của

những người lao động trong các DNCVĐTNN. Khuôn khổ luật pháp của Nhà nước

thiết lập, có tác động sâu sắc tới hoạt động kinh tế của các DNCVĐTNN đối với

việc bảo đảm lợi ích chính đáng cho những người lao động.

- Sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý. Cùng với các quy định và

chế tài xử lý vi phạm tới LIKT của người lao động cần phải có cơ chế kiểm tra,

kiểm soát cụ thể, thường xuyên để kịp thời phát hiện những vi phạm của các chủ

DN xâm hại LIKT chính đáng của người lao động theo những quy định của luật

pháp Việt Nam và những vấn đề mà chủ DNCVĐTNN đã cam kết thỏa thuận đối

52

với người lao động. Như vậy, vai trò quản lý Nhà nước (ở các tổ chức có liên quan)

có ý nghĩa to lớn trong việc bảo đảm LIKT cho những người lao động. Vai trò này

được thể hiện tổng quát ở việc xây dựng hệ thống pháp luật, xây dựng thể chế bảo

vệ lợi ích chính đáng của những người lao động, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và

xây dựng hệ thống quy định, chế tài xử lý vi phạm và cơ chế, kiểm tra giám sát việc

thực hiện bảo đảm LIKT cho những người lao động làm việc trong các DN.

2.3.1.2. Vai trò của Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, Nhà

nước có vai trò chức năng quản lý kinh tế quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô.

Vai trò đó thể hiện ở chỗ Nhà nước đảm bảo sự ổn định về chính trị, kinh tế xã hội

và thiết lập khuôn khổ pháp luật để tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế, vì

ổn định chính trị xã hội là điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế đất nước nói

chung và cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố

Hà Nội phát triển. Các DNCVĐTNN phát triển kinh tế có hiệu quả, lợi nhuận của

chủ DN tăng lên sẽ tác động với việc thực hiện LIKT của những người lao động.

Mặt khác, nếu vai trò và chức năng kinh tế của Nhà nước hạn chế, các chủ trương

chính sách của nhà nước không phù hợp với điều kiện thực tế khách quan, trái với

sự vận động khách quan của các quy luật hoạt động trong nền kinh tế thị trường sẽ

hạn chế đối với sự phát triển, thậm chí có khi là lực cản kìm hãm sự phát triển kinh

tế trong đó có DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Khi kinh tế kém phát

triển, sản xuất của các DNCVĐTNN bị sa sút, lợi nhuận của các chủ DN thu được

giảm sút, sẽ dẫn tới LIKT của người lao động không được bảo đảm.

- Công tác quản lý nhà nước về lao động có vai trò rất quan trọng trong việc

hướng dẫn, điều tiết, kiểm tra, giám sát DNCVĐTNN và người lao động thực hiện

nghiêm túc các quy định của pháp luật lao động. Để nâng cao hiệu lực của pháp luật

lao động thì công tác quản lý nhà nước về lao đông cần được tăng cường.

- Việc bảo đảm LIKT cho người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN

còn được thể hiện ở chỗ căn cứ vào điều kiện tình hình cụ thể về hoạt động sản xuất

của các DN, về khả năng phát triển kinh tế của Việt Nam và mức sống của người

lao động để có thể xây dựng những thiết chế, quy định những tiêu chí về mức sống

53

cho những người lao động. Gắn với quy định bảo đảm LIKT cho người lao động, là

những chế tài để xử lý những vi phạm của các chủ DNCVĐTNN xâm hại lợi ích

chính đáng của những người lao động. Hệ thống các chế tài xử lý vi phạm của chủ

DN đối với người lao động phải bảo đảm được tính thực tiễn, tính khả thi cao, có

sức răn đe ngăn chặn các chủ đầu tư phải luôn quan tâm đến LIKT chính đáng cho

người lao động.

2.3.1.3. Môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội

Các nhân tố thuộc về môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến

lợi ích kinh tế của người lao động, cụ thể:

- Về điều kiện môi trường làm việc: việc bảo đảm an toàn lao động, tiêu

chuẩn lao động, về không gian, độ thoáng, độ sáng, vệ sinh lao động về khói bụi,

khí độc, phóng xạ, nóng, ẩm, ồn, độ rung.., phải đạt tiêu chuẩn cho phép, áp dụng

quy trình ISO (International Standards Organization) thì sẽ đảm bảo được điều kiện

môi trường làm việc cho người lao động và lợi ích của người lao động sẽ được đảm

bảo và ngược lại.

- Môi trường kinh tế xã hội có tác động tới hiệu quả kinh tế - xã hội của DN.

Nếu nó thuận lợi, thông thoáng sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư đưa vốn vào sản xuất kinh

doanh tạo năng suất cao, góp phần giải quyết các vấn đề an sinh xã hội và việc làm.

2.3.2. Nhóm các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp

2.3.2.1. Các nhân tố thuộc về người lao động

Các nhân tố thuộc về người lao động, bao gồm: trình độ văn hóa, trình độ

chuyên môn kỹ thuật, sự hiểu biết pháp luật, sức khỏe, tâm lý lao động, tác phong

làm việc, tiềm năng phát triển của người lao động. Những nhân tố này phản ánh chất

lượng của nhân lực trong các DN, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động

hiệu quả công việc, khả năng đảm nhận mức độ các công việc.., từ đó ảnh hưởng đến

lợi ích của người lao động.

Người lao động nói chung và người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN

ở Việt Nam đều mong muốn có được LIKT trong các hoạt động lao động sản xuất

của mình. Thông qua các hoạt động lao động của họ cho các DN người lao động thu

về được các lợi ích, những thứ người lao động có được như tiền lương, tiền thưởng,

các khoản thu từ các quỹ phúc lợi trợ cấp, môi trường lao động sản xuất của họ

54

được đảm bảo vệ sinh, không bị ô nhiễm, đời sống tinh thần được quan tâm, đều

nằm trong cơ cấu lợi ích của họ.

Như vậy, LIKT của người lao động gồm nhiều yếu tố cấu thành, việc bảo

đảm LIKT cho họ ở đây chính là đảm bảo thỏa mãn một cách tốt nhất những nhu

cầu cần thiết mà họ mong muốn tất yếu có được. Trong các hoạt động lao động sản

xuất cho các DNCVĐTNN đó là những nhu cầu kinh tế người lao động tất yếu được

hưởng trong các hoạt động lao động sản xuất cho giới chủ.

Ở Việt Nam thì người lao động đa số xuất thân từ nông thôn, họ là những

nông dân, học sinh tốt nghiệp cấp 2, cấp 3 không tiếp tục học nâng cao trình độ có

nhu cầu việc làm để có thu nhập trang trải cuộc sống. Trong thời gian qua, đầu tư

nước ngoài vào Việt Nam tuy tốc độ phát triển không đều, nhưng lực lượng lao

động làm việc trong khu vực này qua các năm đều tăng. DNCVĐTNN là nơi tạo

việc làm cho rất nhiều lao động, bên cạnh số ít lao động trình độ chuyên môn cao,

giữ vị trí then chốt trong DN thì phần lớn lao động thu hút vào làm việc trong khu

vực này là lao động chưa qua đào tạo và bộ phận từ khu vực nông nghiệp, nông

thôn (có thu nhập thấp). Khi được tuyển dụng vào làm việc thu nhập của họ cũng

được tăng theo quy định của tăng lương cơ bản.

Theo số liệu của Tổng cục thống kê, điều tra lao động và việc làm Việt Nam

năm 2014 [7]: Tỷ trọng lao động qua đào tạo ở nước ta vẫn còn thấp, trong 51,4

triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động, chỉ có hơn 8 triệu người

(15,6%) đã được đào tạo, chiếm 15,6% tổng lực lượng lao động. Như vậy, tuy

nguồn nhân lực của Việt Nam trẻ và dồi dào nhưng trình độ tay nghề và chuyên

môn kỹ thuật thấp. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo cao nhất là ở Hà Nội (30,7%) và

thấp nhất là đồng bằng sông Cửu Long (8,6%). Tỷ trọng lực lượng lao động có trình

độ đại học trở lên khác nhau đáng kể giữa các vùng. Nơi có tỷ trọng này cao nhất là

Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (17,0%), đồng bằng sông Cửu Long có tỷ trọng

lực lượng lao động có trình độ đại học trở lên thấp nhất (3,4%). Kết quả cho thấy,

phần lớn lao động tại các DNCVĐTNN trên mới tốt nghiệp trung học phổ thông

chiếm 80%. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo rất thấp, trên 57% lao động chưa đào tạo.

Thực tế cho thấy: Lực lượng nhân công không có chuyên môn kỹ thuật dư

55

thừa trong khi đó lại thiếu lao động chuyên môn kỹ thuật. Thị trường sức lao động

Việt Nam nói chung và địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng vẫn nằm trong giai đoạn

hình thành và phát triển chưa cao, sự chuyển dịch lao động giữa các ngành kinh tế

khác nhau tương đối thấp so với các nước. Việc yêu cầu các DNCVĐTNN phải

tuyển dụng lao động trong nước thông qua các cơ quan tuyển dụng có chức năng đã

hạn chế tính linh hoạt của thị trường sức lao động.

Theo báo cáo của Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO), tháng

6/2008, tiền lương bình quân tháng theo USD của công nhân Việt Nam năm 2005:

là 130 USD; kỹ sư: 302 USD; cán bộ quản lý bậc trung là 685 USD; trong khi lương

bình quân chung ở khu vực với công nhân là: 205 USD; kỹ sư: 546 USD và cán bộ

quản lý là: 1.129 USD. Cũng theo Tổ chức JETRO, đầu năm 2014 tiền lương bình

quân của công nhân ở Thủ đô Hà Nội của Việt Nam là 200 USD/ tháng, thấp hơn

3,2 lần so với mức 640 USD của công nhân ở Thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc

[7], do đó nhiều công ty công nghệ cao của thế giới đã và đang có kế hoạch chuyển

nhà máy sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam.

Trong số lao động làm việc trong các DNCVĐTNN có nhiều lao động chưa

được qua đào tạo. Lao động trong các DNCVĐTNN được tuyển chọn từ nhiều

nguồn khác nhau. Họ được làm việc trong hệ thống dây chuyền công nghiệp hiện

đại và đòi hỏi tuân thủ kỷ luật lao động cao. Đây cũng chính là môi trường tốt để

đào tạo đội ngũ lao động, có phong cách làm việc phù hợp với công việc hiện đại và

kinh doanh tiên tiến. Nhiều DN đã tạo cho lao động Việt Nam có điều kiện được

đào tạo nâng cao tay nghề, tiếp cận kỹ năng, công nghệ và kinh nghiệm hoặc được

gửi đi đào tạo ở nước ngoài. Người lao động cũng được rèn luyện về kỷ luật, tác

phong công nghiệp và thích ứng dần với cơ chế quản lý mới. Qua một thời gian làm

việc cho DN, sẽ hình thành đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.

Qua số liệu thống kê cho thấy: có 6.000 cán bộ quản lý, 25.000 cán bộ kỹ thuật và

trình độ tay nghề của hàng chục vạn công nhân ở các DNCVĐTNN có vốn đầu tư

được nâng lên rõ rệt [7].

Thông qua các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, nhiều công nghệ mới, tiên

tiến hiện đại được sử dụng ở nước ta, đã góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật và

56

công nghệ cho nhiều ngành sản xuất, tạo điều kiện góp phần nâng cao trình độ

tay nghề, kinh nghiệm quản lý sản xuất, nhân sự, kinh nghiệm kinh doanh trên

phạm vi quốc tế, làm tiền đề để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp

CNH, HĐH đất nước.

Nguồn lao động có tay nghề cao đang là vấn đề được đặt ra giữa DN trong

nước và DNCVĐTNN. Vì các DNCVĐTNN có ưu thế về lương, thưởng cao hơn

DN trong nước, nên đã thu hút được một lượng lao động có tay nghề cao và trình độ

chuyên môn vững vào làm việc, dẫn tới "chảy máu chất xám" từ khu vực kinh tế

vốn trong nước. Thực tế cũng cho thấy, còn có hiện tượng một số DNCVĐTNN

gian lận, trốn thuế, lấn át bên Việt Nam. Đặc biệt đối với Công ty liên doanh, hiện

tượng các đối tác nước ngoài ngăn chặn sự phát triển của DN, đẩy chi phí đầu vào

tăng, kéo dài thua lỗ để bên không đủ khả năng tài chính đành rút lui và bán cổ phần

cho họ, trở thành DN 100% vốn nước ngoài.

Hiện nay, có gần ba triệu lao động trong các DNCVĐTNN. Trong BLLĐ đã

quy định đầy đủ phương thức hợp đồng lao động giữa đại diện DN và người lao

động, cách tính tiền lương và trả lương, bảo hiểm xã hội, quyền và nghĩa vụ của

người lao động đối với DN, kể cả quyền được đình công, bãi công… Lợi ích của

người lao động được thể hiện với tư cách là từng cá nhân, đồng thời với tư cách là

tập thể thông qua các tổ chức công đoàn. Việc bảo vệ lợi ích của người lao động

trong các DNCVĐTNN đồng thời cũng là trách nhiệm của các cán bộ bên Việt Nam

làm trong liên doanh hoặc cán bộ là người Việt Nam trong các DN 100% vốn nước

ngoài. Do đó, người lao động cần có nhận thức đúng quyền lợi và nghĩa vụ của

mình trong các DNCVĐTNN, bởi thành công của DN cũng đồng thời là sự bảo đảm

việc làm và thu nhập ngày càng tăng và điều kiện làm việc ngày càng được cải thiện

đối với họ. Các DNCVĐTNN thường áp dụng các phương pháp lôi cuốn người lao

động tham gia quá trình sáng tạo trong SXKD, như tăng lương trước thời hạn,

thưởng tháng lương thứ 13… Trong trường hợp xảy ra mâu thuẫn lợi ích giữa chủ

DN và người lao động, thì tổ chức công đoàn của DN đó sẽ đứng ra giải quyết, nếu

mâu thuẫn quá gay gắt, thì cần phải kịp thời giải quyết theo pháp luật hiện hành,

tránh làm tổn hại đến LIKT của DNCVĐTNN cũng như người lao động.

57

Về phía người sử dụng lao động, hiện nay, ở một số DNCVĐTNN, phần lớn

là DNCVĐTNN nhỏ đến từ các quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc..,

nhiều nơi giới chủ đã và đang có những tác động bất lợi đối với người lao động

trong DNCVĐTNN như: Kỷ luật có tính cưỡng bức, thời gian lao động căng thẳng

và kéo dài, lương thấp, khả năng phát triển, khả năng nâng cao trình độ bị hạn chế.

Do đó, phần lớn các cuộc đình công xảy ra do giới chủ đã vi phạm các quy định đối

với người lao động về tiền lương, thời gian lao động và nghỉ ngơi, tuyển dụng lao

động, không ký hợp đồng với người lao động, hoặc nếu có thì nội dung sơ sài, vi

phạm luật lao động Việt Nam, trong quá trình làm việc thực hiện không đầy đủ các

quy định về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động, vi phạm an toàn và vệ

sinh lao động, không có cơ hội phát triển nghề nghiệp, có khi còn vi phạm đến danh

dự, nhân phẩm của người lao động. Hầu hết các lý do mà người lao động đưa ra để

họ tổ chức đình công ở tất cả các DNCVĐTNN đều tập trung vào các vấn đề như

làm tăng ca, điều kiện làm việc, sinh hoạt không đảm bảo, lương thưởng quá thấp

không lo đủ cho cuộc sống, thực hiện một số nội quy, quy định quá khắc nghiệt đối

với người lao động, đình công là hành động cực chẳng đã, là biện pháp cuối cùng

của họ. Do trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề của người lao động thấp chưa

được đào tạo cơ bản nên thường bị các chủ DN trả lương thấp, đây cũng là nhân tố

tác động dẫn tới các cuộc đình công của người lao động.

2.3.2.2. Hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở

Hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở trong các DN nói chung và

DNCVĐTNN có vai trò tác động rất lớn đối với việc thực hiện bảo đảm quyền và

LIKT chính đáng cho những người lao động. Qua thực tế đấu tranh bảo vệ và xây

dựng đất nước cho thấy, ở đâu tổ chức công đoàn được xác lập và hoạt động mạnh

có tổ chức thì ở đó các phong trào cách mạng do Đảng khởi xướng giành được

nhiều thắng lợi.

Trong các DNCVĐTNN, ở nơi nào có tổ chức công đoàn được xây dựng đi

vào hoạt động có tổ chức theo quy định của pháp luật, công đoàn thật sự là người

đứng ra bảo đảm quyền và LIKT chính đáng của người lao động thì ở đó LIKT của

người lao động được bảo đảm tốt hơn. Ngược lại, nếu ở DNCVĐTNN nào tổ chức

58

công đoàn chưa được xác lập hoặc xác lập rồi nhưng sự tồn tại của công đoàn trên

thực tế chỉ là hình thức, khi những LIKT chính đáng của những người lao động bị

xâm hại, hoặc có những xung đột về lợi ích giữa chủ DN với những người lao động

dẫn tới mâu thuẫn giữa chủ và thợ gây lên những bất ổn đối với đời sống kinh tế xã

hội, thì ở đó LIKT của những người lao động không được bảo đảm.

Xem xét một cách toàn diện đối với các DN có thể đánh giá một cách tổng

quát, hiện nay hầu hết trong các DN nhiều tổ chức công đoàn đã được xác lập, nhiều

tổ chức đi vào hoạt động có hiệu quả thực sự, là người bảo đảm quyền lợi cho

những người lao động làm việc tại các DNCVĐTNN đó. Tuy nhiên, cũng còn rất

nhiều các tổ chức công đoàn đã được thành lập song vai trò của nó trong thực tế rất

mờ nhạt, khi LIKT chính đáng của người lao động bị xâm hại hoặc có sự xung đột

giữa chủ DN và người lao động về LIKT, tổ chức công đoàn không tham gia giải

quyết, hoặc giải quyết không hiệu quả. Cá biệt có những tổ chức công đoàn lại

không đứng về phía những người lao động để đòi quyền lợi chính đáng, tiếp tay cho

chủ DN trong việc xâm hại LIKT của người lao động.

Để ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực nảy sinh trong các quan hệ giữa chủ

DNCVĐTNN với người lao động, cần tiếp tục hoàn thiện và bổ sung những vấn đề

chưa phù hợp với thực tế. Luật Công đoàn cần quy định rõ và cụ thể hơn chức năng,

nhiệm vụ của tổ chức công đoàn các DNCVĐTNN trong việc bảo đảm LIKT cho

những người lao động.

2.3.2.3. Các nhân tố thuộc về thị trường lao động

Các nhân tố thuộc về thị trường lao động bao gồm: Quan hệ cung - cầu về

lao động trên thị trường, nhu cầu sử dụng lao động, mức lương của các vị trí

công việc theo từng ngành nghề, khu vực… Nguồn cung lao động cho các

DNCVĐTNN được xem là nhân tố có ảnh hưởng đối với việc bảo đảm LIKT cho

những người lao động. Nếu khả năng cung cấp lao động cho các DNCVĐTNN

dồi dào nhưng khả năng thu hút lao động bị hạn chế sẽ dẫn tới tình trạng tiền

công của người lao động sẽ có xu hướng giảm và LIKT của người lao động

không được bảo đảm. Mặt khác, nếu nguồn cung về lao động cho các

DNCVĐTNN bị hạn chế nhưng nhu cầu lao động trong các DNCVĐTNN gia

59

tăng, tiền công cho người lao động sẽ có xu hướng tăng theo. Do đó, LIKT của

người lao động sẽ được bảo đảm tốt hơn.

Nếu thị trường sức lao động phát triển, nhu cầu sử dụng lao động cao thì tất

yếu sẽ diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các DN trên thị trường nhằm thu hút được

lượng lao động nhiều, trình độ cao đáp ứng được công việc phức tạp; do vậy DN phải

trả lương xứng đáng cho người lao động, thu nhập của người lao động sẽ cao, LIKT

của họ được bảo đảm.

Sơ đồ 2.1: Mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa người lao động,

doanh nghiệp, nhà nước

THỊ TRƯỜNG

NHÀ NƯỚC

- Tiền công, tiền lương

- Tiền thưởng

DOANH

- Phúc lợi xã hội

NGƯỜI

LAO ĐỘNG

- Bảo hiểm xã hội

NGHIỆP CÓ VỐN

(CÔNG

- Hỗ trợ nhà ở

NHÂN)

ĐẦU TƯ NƯỚC

- Hỗ trợ phương tiện

NGOÀI

- Điều kiện lao động

- Môi trường làm việc

- Đời sống tinh thần của

người lao động…

TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN

60

2.3.2.4. Các nhân tố thuộc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Các nhân tố thuộc về DN như: Quy mô của DN, trình độ trang bị kỹ thuật

của DN, hình thức sở hữu của DN, hiệu quả SXKD của DN, quan điểm trả lương

của chủ DN là những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến LIKT của người lao động trong

DN, cụ thể:

- Trình độ trang bị kỹ thuật của doanh nghiệp: Đây là yếu tố có tác động lớn

đến năng suất lao động và ảnh hưởng đến LIKT của người lao động. Nếu DN trang

bị máy móc, thiết bị hiện đại thì năng suất lao động tăng lên và ngược lại.

- Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Đây là nhân tố ảnh hưởng

lớn đến LIKT của người lao động. DN hoạt động SXKD hiệu quả cao, thu được lợi

nhuận thì sẽ bảo đảm được LIKT cho người lao động và ngược lại. Đối với

DNCVĐTNN lợi thế cơ bản là công nghệ sản xuất tiên tiến, năng suất lao động cao,

thị trường bán hàng chủ động, nên mức thu nhập trả cho người lao động cao hơn các

loại hình DN khác, đặc biệt là cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật trình độ cao.

Hiệu quả hoạt động SXKD của DNCVĐTNN là nhân tố ảnh hưởng rất lớn

đối với doanh thu và lợi nhuận thu được của các DNCVĐTNN. Nếu DNCVĐTNN

"làm ăn" phát đạt, có doanh thu lớn. Bên cạnh đó, kinh tế trong nước và thế giới

phát triển cũng là nhân tố đóng vai trò quan trọng đối với việc mang lại LIKT cho

người lao động. Khi DNCVĐTNN hoạt động SXKD có hiệu quả, lợi nhuận dồi dào

sẽ có điều kiện thuận lợi hơn đối với việc tăng tiền công và thực hiện nhiều những

nhu cầu chính đáng của người lao động. Trên cơ sở đó LIKT của người lao động sẽ

bảo đảm tốt hơn.

- Quan điểm trả lương của chủ doanh nghiệp: Đây là nhân tố ảnh hưởng lớn

đến LIKT của người lao động, cụ thể theo chiều hướng bình quân hay có sự phân

biệt lớn giữa các loại lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật khác nhau. Đặc biệt

trong các DNCVĐTNN việc trả lương như thế nào chịu sự áp đặt của chủ DN là rất

lớn, còn thông tin thị trường lao động chỉ là tham khảo.

- Năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh của chủ DNCVĐTNN: Đây là nhân

tố có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến hiệu quả sản xuất kinh

61

doanh của DN. Nếu tổ chức sản xuất kinh doanh khoa học, hiệu quả thì DN sẽ nâng

cao lợi nhuận và từ đó lợi ích của người lao động sẽ được bảo đảm, là điều kiện tiên

quyết cho sự tồn tại và phát triển của DN.

- Quy mô của doanh nghiệp: Vốn, lao động, không gian như mặt bằng hoạt

động, địa bàn hoạt động, lĩnh vực hoạt động… Thực tiễn hoạt động đầu tư nước

ngoài tại Việt Nam có một số đặc điểm sau:

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có vốn lớn thường đến từ các quốc

gia như Mỹ, Nhật, Pháp.., để đầu tư SXKD nhưng luôn được giám sát chặt chẽ,

nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn ISO. Điểm tích cực ở các DNCVĐTNN có vốn lớn

luôn tạo cơ hội cho người lao động được đi học, có không ít người làm cho

DNCVĐTNN sau đó đã có trình độ chuyên môn cao, học được quản trị hiện đại của

DN, ra ngoài lập nghiệp, có người được cất nhắc lên làm quản lý. Về tiền lương các

DNCVĐTNN thường tạo việc làm và trả lương người lao động cao hơn mặt bằng

chung, các chế độ đãi ngộ đối với người lao động như tiền thưởng, phụ cấp, bảo

hiểm.., ổn định để họ yên tâm làm việc lâu dài với DN.

Nhưng vấn đề đặt ra là vẫn còn có nhiều DNCVĐTNN vừa và nhỏ chủ yếu

đến từ các nước như Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Malaisia, thường trả lương

người lao động thấp hơn mức trung bình.

Theo báo cáo của Cục đầu tư nước ngoài, Bộ kế hoạch đầu tư trong quý I

năm 2014 đến nay đã có 36 quốc gia và cùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam.

Các nhà đầu tư nước ngoài đăng ký đầu tư vào Việt Nam 4,855 tỷ USD, bằng

59,1% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, các quốc gia có số vốn đầu tư lớn nhất

đó là: Hàn Quốc; Nhật Bản, Singapore.

Bảng 2.1: Các quốc gia có số vốn đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam

6 tháng đầu năm 2014

Vốn đầu tư Tỷ lệ % so với tổng TT Quốc gia ( USD) đầu tư nước ngoài

1 Hàn Quốc 1,12 tỷ 23,1

2. Nhật Bản 537 triệu 11,1

3. Singapore 479,18 triệu 9,9

Nguồn: [7].

62

Từ năm 2006 đến nay, môi trường kinh doanh của nước ta ngày càng được

cải thiện, ngoài triển khai luật Đầu tư, luật Doanh nghiệp cùng các nghị định hướng

dẫn được ban hành đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động đầu tư, nhiều

biện pháp đã được tiến hành nhằm hạn chế và khắc phục tình trạng yếu kém của hệ

thống kết cấu hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…

Trong thời gian qua, cùng với các thành phần kinh tế khác, thì khu vực kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài đã thu hút được một số lượng lao động lớn, nếu năm

2005 khu vực này tạo việc làm cho gần 1,2 triệu lao động trực tiếp, thì đến 6 tháng

đầu năm 2014 số lượng việc làm trong khu vực này đã tăng lên trên hai triệu lao

động trực tiếp và gần ba triệu lao động gián tiếp. Với sự phát triển của khu vực kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài, lao động thu hút vào làm việc chủ yếu là lao động giản

đơn chưa qua đào tạo, do đó mà tăng được thu nhập cho tầng lớp dân cư nghèo, góp

phần quan trọng vào tăng GDP và ổn định trật tự xã hội.

Những năm qua, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tuy tốc độ phát triển

không đều, nhưng số lượng lao động làm việc trong khu vực này qua các năm đều

tăng. DNCVĐTNN là nơi tạo việc làm cho rất nhiều lao động, đến từ các vùng miền

nhưng phần lớn lao động thu hút vào làm việc trong khu vực này là lao động chưa

qua đào tạo và đến từ khu vực nông nghiệp, nông thôn (có thu nhập thấp). Khi được

tuyển dụng vào làm việc thu nhập của họ tăng lên. Theo số liệu của Tổng cục thống

kê, thu nhập của người lao động ở khu vực này cũng có xu hướng tăng, nếu năm

1994, 1995, thu nhập bình quân một lao động ở khu vực này là 70 - 80 USD/tháng

thì đến năm 2000 đã tăng lên khoảng 100 USD, đến năm 2005 là hơn 110 USD, đến

2010 tăng lên 150USD/tháng, năm 2013 là 200USD/tháng/người [107].

Trong các DNCVĐTNN, quan hệ giữa người sử dụng lao động - người chủ

và người lao động được thực hiện thông qua hợp đồng lao động, cũng như hợp đồng

lao động tập thể giữa đại diện chủ sở hữu và đại diện người lao động thông qua thoả

ước lao động. Một thực tế thường xảy ra là: Khi các DNCVĐTNN mới bắt đầu đi

vào hoạt động, hoặc khi gặp khó khăn về SXKD, thì các chủ DN thường muốn trả

công cho người lao động thấp hơn so với số mà họ đáng được hưởng; ngược lại

người lao động muốn làm việc 8h/ngày nhưng được trả công cao hơn. Mâu thuẫn

này nếu không được giải quyết thông qua thương lượng giữa chủ DN với đại diện

63

của người lao động sẽ dẫn đến tình trạng đình công, bãi công làm thiệt hại cho DN,

cũng như người lao động.

Thông qua các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, nhiều công nghệ mới, tiên tiến

hiện đại được ứng dụng ở nước ta, đã góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật và công

nghệ cho nhiều ngành sản xuất, tạo điều kiện góp phần nâng cao trình độ tay nghề,

kinh nghiệm quản lý sản xuất, nhân sự, kinh nghiệm kinh doanh trên phạm vi quốc tế,

làm tiền đề để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

Đối với ngành công nghiệp, các DN đầu tư nước ngoài chiếm 38% sản lượng

công nghiệp chung của cả nước và có tốc độ tăng trưởng 20%/năm. Đầu tư nước

ngoài đã góp phần mở ra những ngành công nghiệp mới với công nghệ và phương

thức kinh doanh tiên tiến tại Việt Nam, thể hiện: Về khai thác dầu thô (100%), 80%

công nghệ sản xuất ô tô, máy giặt, máy điều hòa nhiệt độ; 60% sản lượng thép cán;

30% xi-măng; 33% thiết bị điện tử; 76% dụng cụ y tế chính xác; 49% da giày; 25%

thực phẩm đồ uống… [7].

Bất cứ một hoạt động kinh tế nào đều gắn liền với lợi ích, đầu tư trực tiếp

nước ngoài liên quan đến lợi ích của DNCVĐTNN và người lao động, DN có thể

hoạt động đầu tư vào bất kỳ lĩnh vực nào, ngành nghề nào mà pháp luật nước sở tại

cho phép, với mục đích cuối cùng là thu lợi nhuận ngày càng cao. Do đó, khu vực

nào, ngành nghề nào tạo ra điều kiện thuận lợi, thì khu vực đó, ngành nghề đó sẽ

thu hút được vốn đầu tư nước ngoài nhiều. Bên cạnh đó, nước chủ nhà có quyền ban

hành luật pháp riêng cho các nhà đầu tư nước ngoài, còn luật pháp có hấp dẫn họ

hay không tuỳ thuộc vào lợi nhuận mà họ sẽ thu được trong quá trình đầu tư SXKD.

Với mục đích là tối đa hóa lợi nhuận, chủ DN luôn ý thức được rằng, muốn

cho DNCVĐTNN ngày càng phát triển, thì cần phải thường xuyên duy trì mối quan

hệ đặc biệt giữa chủ DN và người lao động phải dựa trên cơ sở bình đẳng, cùng có

lợi. Trong sản xuất, người lao động vừa là động lực, vừa là đối tượng phục vụ sản

xuất. Muốn có năng suất lao động và lợi nhuận cao, chủ DN cần tranh thủ khai thác

thể lực và trí lực của người lao động, để không ngừng tăng khả năng tích lũy và mở

rộng quá trình sản xuất. Do đó, nhiều DNCVĐTNN vì sự phát triển điều họ quan

tâm là vấn đề tái sản xuất sức lao động của người công nhân, họ không quá đối lập

giữa lợi nhuận của DN với lợi ích của người lao động.

64

Đầu tư nước ngoài ở nước ta đã thu hút hàng nghìn DNCVĐTNN của các

nước trên thế giới và vùng lãnh thổ. Điều đó cho thấy tính hấp dẫn của môi trường

đầu tư Việt Nam, đồng thời cũng thể hiện tính đa dạng của các nền văn hóa trong

quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong các DNCVĐTNN.

Tất cả những vấn đề thuộc quan hệ giữa những người sử dụng lao động và

người lao động được ký kết theo hợp đồng lao động và thông qua thương lượng trên

tinh thần hòa giải, nhân nhượng lẫn nhau, tạo sự hiểu biết giữa các nền văn hóa, tập

quán sinh hoạt của các dân tộc, hướng đến tạo ra lợi nhuận cao cho DNCVĐTNN,

đồng thời nâng dần thu nhập của người lao động, cải thiện điều kiện làm việc và

sinh hoạt của họ.

Trong những năm gần đây, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã thực hiện đúng

luật pháp Việt Nam đối với cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và người lao động, chú

trọng việc nâng cao thu nhập của người lao động, cải thiện điều kiện lao động và sinh

hoạt của công nhân trong DNCVĐTNN. Nhưng thực tế còn có nhiều trường hợp chủ

DN áp dụng các phương thức thiếu văn minh như kéo dài thời gian lao động, không

đảm bảo an toàn lao động và điều kiện lao động tối thiểu, trả lương thấp hơn mức

bình quân, kéo dài thời gian học nghề của công nhân từ đó DNCVĐTNN có lợi

nhuận cao hơn, đối với DNCVĐTNN như vậy cần được kiểm tra và xử lý.

Trong DNCVĐTNN, mối quan hệ lao động dựa trên cơ sở sức lao động và tư

liệu sản xuất tách rời nhau. Nhưng để tạo việc làm cho người lao động, tranh thủ

nguồn vốn, công nghệ, cách quản lý của tư bản nước ngoài.., vào sự phát triển kinh

tế của đất nước, trong chừng mực nhất định, phải thừa nhận có quan hệ bóc lột sức

lao động, nhưng đây là hình thức bóc lột cần thiết trong điều kiện hiện nay của đất

nước và của người lao động. Bên cạnh đó, sự hoạt động của DNCVĐTNN tồn tại

trong sự kiểm soát của pháp luật của Nhà nước, do đó lao động làm thuê ở đây, có

một phần cũng là làm cho mình và cho xã hội.

Mối quan hệ lao động trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện

nay, đó là mối quan hệ giữa người sử dụng lao động (chủ DN) và người lao động.

Theo quy định tại Chương I, BLLĐ (2013) thì: Chủ DN có quyền tuyển chọn, bố

trí, điều hành lao động theo yêu cầu SXKD, có quyền khen thưởng và xử lý các vi

65

phạm kỷ luật theo quy định của luật lao động, việc trả lương lao động được thực

hiện theo quyền hạn của DN với sự thỏa thuận của người lao động và chủ DN trên

cơ sở lợi ích mà bên này tìm thấy ở bên kia.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động được quy định ở Chương IV-

BLLĐ, phần lớn các DNCVĐTNN đều thực hiện đúng những gì đã cam kết trong

hợp đồng với người lao động. Nhiều chủ DN bên cạnh việc trả lương cho người lao

động, còn quan tâm đến khen thưởng, sử dụng những người có kỹ thuật cao, đào tạo

tay nghề, mở rộng quy mô sản xuất, tăng lương…

Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng một số DNCVĐTNN trong quá trình thực hiện

đã vi phạm hợp đồng, trái với quy ước tại điều 29 của BLLĐ; đó là vấn đề, ngoài

tiền công ra, thì các chủ DN đã không quan tâm đến điều kiện về an toàn lao động,

vệ sinh lao động và bảo hiểm đối với người lao động, điều đó làm cho người lao

động không yên tâm làm việc trong DN. Việc thừa nhận sự tồn tại thành phần kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài là thừa nhận sự bóc lột lao động trong phạm vi quản lý

của các cơ quan chức năng. Việc các chủ DNCVĐTNN chạy theo mục đích lợi

nhuận là một điều tất yếu. Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động luôn nảy

sinh mâu thuẫn về lợi ích giữa chủ DNCVĐTNN và người lao động, DNCVĐTNN

bao giờ cũng muốn trả tiền công cho người lao động và các chi phí với giá thấp,

ngược lại người lao động mong được trả công cao hơn và các khoản phúc lợi khác.

Các chủ DN có chiến lược kinh doanh lâu dài bao giờ họ cũng ý thức được

rằng, muốn cho DNCVĐTNN phát triển, không còn con đường nào tốt hơn là xây

dựng mối quan hệ chủ - thợ bình đẳng, cùng có lợi. Người lao động là động lực của

quá trình sản xuất, do đó, phải biết tranh thủ, khai thác sức lực, trí tuệ của người lao

động để tạo ra năng suất và lợi nhuận cao. Vì mục tiêu không ngừng tăng tích luỹ,

tái sản xuất mở rộng của các DNCVĐTNN, chủ DN càng phải quan tâm tới vấn đề

tái sản xuất sức lao động, của người công nhân.

- Những vi phạm lợi ích của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài

Quá trình hoạt động của các DNCVĐTNN ở các thành phố lớn trọng điểm của

cả nước, đặc biệt ở thành phố Hà Nội, hầu hết các DNCVĐTNN đều thực hiện những

66

quy định trong giấy phép kinh doanh và hợp đồng lao động. Các DNCVĐTNN luôn

luôn ý thức được rằng, muốn cho DN phát triển thì phải xây dựng mối quan hệ hài

hòa giữa chủ - thợ tương đối bình đẳng, hai bên cùng có lợi; do nắm bắt được vai

trò LIKT đối với người lao động là một tất yếu, để thực hiện mục tiêu lợi nhuận tối

đa của mình các chủ DN đã biết quan tâm chăm lo phát huy yếu tố con người, coi

trọng những lợi ích thiết thân của người lao động, dựa vào lực lượng khoa học kỹ

thuật, công nhân lành nghề, đặt lòng tin, khắc phục sự kỳ thị, đảm bảo thu nhập

xứng đáng với khả năng đóng góp của người lao động, tìm ra cơ chế quản lý phù

hợp, coi trong việc sử dụng các quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, cải thiện điều kiện

lao động.., để người lao động yên tâm làm việc, phát huy tính sáng tạo, đưa lại hiệu

quả sản xuất cao cho DNCVĐTNN.

Nhiều DNCVĐTNN đã có sự hài hòa giữa "ba loại ích": Chủ DN có lợi

nhuận, người lao động có việc làm và tăng thu nhập; Nhà nước tăng thu thuế đóng

góp vào ngân sách. Xong, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số DNCVĐTNN kinh

doanh kiểu "chụp giật", lợi dụng sức lực của người lao động để thu lợi nhuận,

không quan tâm đến LIKT của người lao động. Dẫn tới các cuộc đình công, bãi

công đòi tăng lương của người lao động đối với giới chủ. Đây là một vấn đề bức

xúc hiện nay đòi hỏi các ngành chức năng giải quyết triệt để, làm sao người lao

động yên tâm làm việc và được hưởng đúng với quyền lợi của mình.

Trong BLLĐ Việt Nam đã quy định đầy đủ phương thức hợp đồng lao động

giữa đại diện DN và người lao động, cách tính tiền lương và trả lương, bảo hiểm xã

hội, quyền và nghĩa vụ của người lao động đối với DNCVĐTNN, kể cả quyền được

đình công, bãi công. Lợi ích của người lao động được thể hiện với tư cách là từng

cá nhân, đồng thời với tư cách là tập thể thông qua các tổ chức công đoàn.Việc bảo

vệ lợi ích của người lao động trong các DNCVĐTNN đồng thời cũng là trách nhiệm

của các cán bộ, lãnh đạo là người Việt Nam làm việc trong các DN 100% vốn nước

ngoài. Do đó, người lao động cần có nhận thức đúng quyền lợi và nghĩa vụ của

mình trong các DNCVĐTNN, bởi thành công của DNCVĐTNN cũng đồng thời là

sự bảo đảm thu nhập ngày càng tăng và điều kiện ngày càng được cải thiện đối với

họ. Các DNCVĐTNN thường áp dụng các phương pháp lôi cuốn người lao động

67

tham gia quá trình sáng tạo trong SXKD, như tăng lương trước thời hạn, thưởng

tháng lương thứ 13…

Mối quan hệ giữa lợi ích của người lao động trong các DNCVĐTNN và

TTATXH bị chi phối bởi những mối quan hệ trên. Đối với các DNCVĐTNN do

mục đích là tối đa hóa lợi nhuận ngày càng nhiều dẫn đến:

Thứ nhất: Về phía người sử dụng lao động, ở một số DNCVĐTNN, nhiều nơi

giới chủ đã và đang có những tác động bất lợi đối với người lao động trong

DNCVĐTNN như: Kỷ luật có tính cưỡng bức, kéo dài thời gian lao động và tăng

cường độ lao động… Do đó, phần lớn các cuộc đình công xảy ra do giới chủ đã vi

phạm các quy định đối với người lao động về tiền lương, thời gian lao động và nghỉ

ngơi, tuyển dụng lao động, không ký hợp đồng với người lao động, hoặc nếu có thì

nội dung sơ sài, vi phạm luật lao động Việt Nam, trong quá trình làm việc thực hiện

không đầy đủ các quy định về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động, vi

phạm an toàn và vệ sinh lao động, có khi còn vi phạm đến danh dự, nhân phẩm của

người lao động.

Trong khi đó, chủ DN lại áp dụng các biện pháp quản lý hà khắc với người

lao động, khiến họ không thể chịu đựng được. Nhà xưởng toàn lợp tôn nóng bức,

nhưng không được trang bị quạt gió cho công nhân, bởi giới chủ sợ gió làm bay vải,

ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Theo phản ánh của người lao

động thì đã nhiều trường hợp công nhân bị ngất ngay tại nơi làm việc, do phải làm

việc trong điều kiện lao động tồi tệ. Ngoài ra, công nhân buộc phải nộp tiền Bảo

hiểm y tế, nhưng không được Công ty phát thẻ bảo hiểm y tế. Không những vậy,

một số chủ còn áp dụng các kiểu hình phạt rất thô bạo với người lao động mỗi khi

họ bị sai sót trong công việc, đó là phạt công nhân đứng im cả buổi ngay trong

xưởng, hành vi vi phạm pháp luật này cần bị lên án. Đây chính là những nguyên

nhân dẫn đến những cuộc đình công, bãi công tại các KCN, đồng thời gây mất

TTATXH trên địa bàn.

Thứ hai: Về phía chủ DN, do sự khác biệt về tập quán kinh doanh, về phong

tục, về sinh hoạt văn hoá. Chủ DN đã quen với cơ chế thị trường, với sự cạnh tranh

gay gắt, với quan hệ của ông chủ và người làm thuê, những điều này đối với người

68

lao động Việt Nam còn khá mới mẻ nên đôi khi đã xảy ra xung đột giữa chủ DN và

người làm thuê. Mặt khác, do bất đồng về ngôn ngữ đã gây ra những bất lợi cho cả

hai phía, gây nên những hiểu lầm nhau.

Trong khu vực FDI, để tạo việc làm cho người lao động, tranh thủ nguồn

vốn, công nghệ, cách quản lý của tư bản nước ngoài vào sự phát triển kinh tế của

đất nước, trong chừng mực nhất định, phải thừa nhận có quan hệ bóc lột sức lao

động, nhưng đây là hình thức bóc lột cần thiết trong điều kiện hiện nay của đất nước

và của người lao động. Bên cạnh đó, khu vực FDI tồn tại trong sự kiểm soát của

pháp luật của Nhà nước, do đó, lao động làm thuê ở đây một phần cũng là làm cho

mình và cho xã hội.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động được quy định ở Chương IV-

BLLĐ, phần lớn các DNCVĐTNN đều thực hiện đúng những gì đã cam kết trong

hợp đồng với người lao động. Nhiều chủ DN ngoài việc trả lương cho người lao

động, còn quan tâm đến khen thưởng, sử dụng những người có kỹ thuật cao, đào tạo

tay nghề, mở rộng quy mô sản xuất, tăng lương… Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng

một số DNCVĐTNN trong quá trình thực hiện đã vi phạm hợp đồng, trái với quy

ước tại Điều 29 của BLLĐ: đó là ngoài tiền công ra thì các chủ DNCVĐTNN đã

không quan tâm đến điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm

đối với người lao động, điều đó làm cho người lao động không yên tâm làm việc

trong DNCVĐTNN. Rõ ràng là việc thừa nhận sự tồn tại thành phần kinh tế có vốn

đầu tư nước ngoài, là thừa nhận sự bóc lột lao động trong phạm vi quản lý của các cơ

quan chức năng, việc các chủ DN chạy theo mục đích lợi nhuận là một điều tất nhiên.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động luôn nảy sinh mâu thuẫn về lợi ích giữa

chủ DN và người lao động, DNCVĐTNN bao giờ cũng muốn trả tiền công cho người

lao động và các chi phí với giá thấp, và ngược lại người lao động mong được trả công

cao hơn và các khoản phúc lợi khác. Điều này là nguyên nhân chính dẫn đến đình

công, bãi công của những người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN.

Như vậy nhìn tổng thể cho thấy, các DNCVĐTNN đầu tư vào Việt Nam

trong những năm qua phần lớn hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước và các cơ

quan chức năng đã góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh

69

tế - xã hội. Nhưng bên cạnh đó, mối quan hệ giữa các chủ DN với người lao động

luôn xảy những mâu thuẫn và đều bắt nguồn từ vấn đề LIKT. Các cơ quan chức

năng cần có những biện pháp quản lý chặt chẽ để ngày càng thu hút đầu tư nước

ngoài, đồng thời bảo đảm LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN.

2.4. KINH NGHIỆM MỘT SỐ TỈNH CỦA VIỆT NAM VỀ VIỆC GIẢI

QUYẾT LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH

NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

2.4.1. Kinh nghiệm của một số tỉnh ở Việt Nam

2.4.1.1. Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc

Vĩnh Phúc là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng thuộc trung du miền núi phía Bắc, dân số khoảng 1,1 triệu người, diện tích tự nhiên là 1.238,6 km2, cách

trung tâm thủ đô Hà Nội 20km và cách sân bay quốc tế Nội Bài 25km. Vĩnh Phúc là

tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế phát triển nhanh, cơ chế chính sách khá thông

thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty nước ngoài vào đầu tư SXKD ngày

càng nhiều. Qua đó đã thu hút được rất nhiều lao động trong và ngoài tỉnh đến làm

việc. Mục tiêu của tỉnh phấn đấu đến năm 2020 có đủ các yếu tố cơ bản của một

tỉnh công nghiệp.

Tính đến năm 2014, số lượng các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài ở tỉnh Vĩnh Phúc là 124 doanh nghiệp, tạo việc làm cho 38.000 lao động.

[13]. Trong quá trình sử dụng lao động, có doanh nghiệp cũng đã quan tâm đến lợi

ích kinh tế trực tiếp và gián tiếp đối với người lao động, cụ thể như sau:

- Về tiền công, tiền lương:

Hiện nay phần lớn các DNCVĐTNN ở Việt Nam nói chung đều áp dụng

hình thức trả lương theo sản phẩm, vừa đảm bảo sự công bằng trong phân phối theo

lao động, qua đó số lượng, chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao. Đối với

tỉnh Vĩnh Phúc, tiền lương bình quân của người lao động trong các DNCVĐTNN từ

3,8 triệu đến 4,6 triệu đồng/tháng, so với giá cả thị trường ngày càng tăng, chi phí

của người công nhân ngày càng nhiều thì tiền lương nhận được chưa đủ để đáp ứng

cho đời sống của họ. Hơn nữa, cũng có thời gian người lao động làm việc 2 tháng

mới nhận được tiền lương, tiền công.

70

- Về tiền thưởng và các chế độ phúc lợi, bảo hiểm khác: Nhìn chung, các

DNCVĐTNN ở tỉnh Vĩnh Phúc cũng cam kết và thực hiện theo BLLĐ, các chính

sách khác liên quan đến quyền lợi của người lao động do Nhà nước ban hành. Tuy

nhiên, số tiền thưởng không nhiều so với sức lao động của người công nhân bỏ ra.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng quan tâm duy trì chế độ ăn trưa, ăn ca đều đặn,

nhưng chất lượng bữa ăn chưa đảm bảo yêu cầu, trong khi người công nhân thường

xuyên bị ép làm tăng ca để đảm bảo lợi ích kinh tế cho chủ doanh nghiệp. Vì vậy,

vẫn xảy ra tình trạng công nhân bãi công, biểu tình.

- Về điều kiện, môi trường làm việc: Trong các DNCVĐTNN ở tỉnh Vĩnh

Phúc nói riêng cũng thường được đầu tư những máy móc, trang thiết bị đã hết khấu

hao, lạc hậu ở nước ngoài vào Việt Nam, cho nên gây ô nhiễm môi trường, tiếng ồn,

khói bụi, nước thải công nghiệp, mặc dù một số doanh nghiệp được trang bị bảo hộ

lao động cho người công nhân, nhưng vẫn tác động ảnh hưởng trực tiếp đến sức

khỏe người lao động, làm cho tỷ lệ người mắc bệnh nghề nghiệp rất cao. Mặt khác,

vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên nhiều doanh nghiệp cũng không chịu đầu tư mua

sắm những thiết bị hỗ trợ người công nhân, xây nhà ở, xe đưa đón công nhân. Hiện

nay, số lượng công nhân là người địa phương đang làm việc tại các DVCVĐTNN ở

tỉnh Vĩnh Phúc chỉ chiếm 34%, còn lại là công nhân ở các tỉnh miền núi phía Bắc

đến làm việc. Trong khi số doanh nghiệp có nhà cho công nhân (chiếm 22%) thì giá

thuê cao hơn ở ngoài, không đảm bảo các điều kiện sinh hoạt, diện tích hẹp. Vì vậy,

nhiều công nhân ra ngoài thuê trọ và nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội phức tạp.

- Về đào tạo nâng cao tay nghề người lao động: Đây là công việc mà các

DNCVĐTNN quan tâm ngay từ khâu tuyển dụng lao động phù hợp với ngành nghề

mà các doanh nghiệp đang cần, đồng thời cũng thường xuyên mở các lớp ngắn hạn

nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng mềm cho người công nhân. Thông qua đó,

năng suất lao động ngày càng tăng, người công nhân cũng có nhập cao hơn.

- Về đời sống tinh thần: Các DNCVĐTNN ở tỉnh Vĩnh Phúc đều xây dựng

các phòng sinh hoạt tập thể, giao lưu văn hóa văn nghệ trong ngày lễ, tết, sinh nhật,

khu hoạt động thể thao, câu lạc bộ, hằng năm doanh nghiệp tổ chức cho công nhân

đi tham quan, nghỉ mát... Qua đó, người công nhân cũng bớt căng thẳng, mệt mỏi,

vui vẻ hơn, yên tâm làm việc.

71

2.4.1.2. Kinh nghiệm của thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là một thành phố cảng và công nghiệp ở miền Bắc Việt Nam,

và là một trong 5 thành phố trực thuộc trung ương và là một trong 6 đô thị loại 1

của Việt Nam. Hải Phòng là đầu mối giao thông đường biển phía Bắc. Với lợi thế

cảng nước sâu nên vận tải biển rất phát triển, đồng thời là một trong những động lực

tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, lũy kế tới tháng 4 năm 2015, thành

phố Hải Phòng có 12 khu công nghiệp với 470 dự án FDI, tổng vốn đầu tư đăng ký

11,38 tỷ USD, đứng thứ 6/63 tỉnh, thành phố trong cả nước (tính cả khu vực dầu khí

ngoài khơi). Trong đó, tập trung vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 318 dự

án với 7,15 tỷ USD (chiếm 63%) [39].

Tiêu biểu như: Nhà máy sản xuất lốp xe Bridgestone (Nhật Bản) 1,2 tỷ USD,

LG (Hàn Quốc) 1,5 tỷ USD, GE (Mỹ) 110 triệu USD, Knauf (Đức) 50 triệu USD,

Fujixerox (Nhật Bản) 119 triệu USD, Nipro Pharma (Nhật Bản) 250 triệu USD,

Kyocera (Nhật Bản) 188 triệu USD… [40]

Giải quyết việc làm cho 42.127 người, trong đó lao động nữ là 28.397 người

(chiếm 67,4%). Phần lớn lao động tập trung làm việc tại các doanh nghiệp FDI chiếm

92,4%, chủ yếu là lao động trẻ có độ tuổi trung bình từ 18-27. Số lao động đã qua đào

tạo từ cao đẳng trở lên chỉ chiếm 12%, công nhân kỹ thuật trình độ trung cấp nghề trở

lên chiếm 17,2%. Còn lại là lao động phổ thông chiếm 70,8% do các doanh nghiệp

FDI hiện nay chủ yếu là gia công, lắp ráp, công nghệ chưa tiên tiến [93].

Trong quá trình sử dụng lao động, có doanh nghiệp cũng đã quan tâm đến lợi

ích kinh tế trực tiếp và gián tiếp đối với người lao động, cụ thể như sau:

- Về tiền công, tiền lương:

Qua khảo sát thực tế ở thành phố Hải Phòng, tiền lương, tiền công bình quân

của người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN khoảng từ 4,5 triệu đến 6,2 triệu

đồng/tháng. Với mức lương đó, tuy có cao hơn so với nhiều tỉnh, thành phố khác trên

cả nước, nhưng vẫn chưa đáp ứng được cuộc sống với mức giá cả sinh hoạt liên tục

tăng khiến người lao động phải tăng ca và muốn tăng ca nên không có thời gian nghỉ

ngơi để tái sản xuất sức lao động, do đó năng suất và chất lượng lao động chưa cao.

- Về tiền thưởng và các chế độ phúc lợi, bảo hiểm khác: Các DNCVĐTNN ở

thành phố Hải Phòng cũng quan tâm chăm lo đến lợi ích của người lao động, các

72

chế độ tiền thưởng, đóng bảo hiểm xã hội, y tế, thăm hỏi lúc ốm đau.Vì vậy, người

lao động cũng có thêm một phần thu nhập để trang trải cho cuộc sống.

- Về điều kiện, môi trường làm việc: Nhìn chung, các DNCVĐTNN ở thành

phố Hải Phòng đầu tư những máy móc, trang thiết bị, công nghệ tương đối hiện đại,

cho nên mức độ gây ô nhiễm môi trường thấp, phần lớn người công nhân được

trang bị bảo hộ lao động theo quy định. Ngoài ra, một số doanh nghiệp đã xây nhà ở

khang trang với mức giá cho công nhân thuê trung bình, có xe đưa đón công nhân

thuận lợi, tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho công nhân.

- Về đào tạo nâng cao tay nghề người lao động: Mỗi doanh nghiệp thường có

chương trình tuyển nhân sự riêng và sau khi tuyển được lao động họ sẽ có chương

trình đào tạo theo công việc của doanh nghiệp. Hằng năm khi thay đổi công nghệ,

chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất lao động, sẽ tiếp tục đào tạo người lao

động và đưa một số lao động ở vị trí quan trọng đi học tập, tiếp thu kiến thức mới ở

nước ngoài. Hơn nữa, các DNCVĐTNN còn chú trọng đào tạo các kỹ năng mềm

cần thiết cho người lao động.

- Về đời sống tinh thần: Để người lao động yên tâm làm việc, nhất là những

người giỏi, có tay nghề chuyên môn cao, thì các DNCVĐTNN ở thành phố Hải

Phòng cũng đã quan tâm đến đời sống tinh thần của người lao động, đầu tư xây

dựng các khu vui chơi thể thao, ca nhạc, giải trí, nhà ăn, sinh hoạt tập thể, tổ chức

cho công nhân đi tham quan, nghỉ mát, liên hoan, sinh nhật, thăm hỏi lúc ốm đau,

bệnh tật, trợ cấp khó khăn... Làm cho người công nhân cũng bớt căng thẳng, mệt

mỏi sau mỗi ngày làm việc.

2.4.1.3. Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương

Bình Dương là một tỉnh miền Đông nam bộ, tổng dân số là 1.873.558 người

(2014), trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 1.532.663 người (chiếm 81,8%

tổng dân số của tỉnh) [22, tr.27, 31]. Đây là một lợi thế rất lớn để thu hút đầu tư nước

ngoài. Số liệu thống kê năm 2014 cho thấy, Bình Dương có tổng số 2.615 dự án đầu tư

trực tiếp nước ngoài được cấp phép, với tổng số vốn đăng ký là 20.010,48 triệu USD

Mỹ [22, tr.77]. Thu hút 538.324 lao động (chiếm 35,1%) [22, tr.33].

- Về tiền công, tiền lương: Mặc dù tỉnh Bình Dương rất thành công trong việc

thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài, làm tăng cầu về lao động, nhưng tiền lương

của người công nhân vẫn thấp (bình quân 4,6 triệu đồng/tháng/người). Trong khi đó,

73

thời gian làm việc bình quân trên 10 tiếng/ngày, 18% làm từ 8-10 tiếng, chỉ có 52%

lao động làm việc 8 tiếng/ngày. Nhưng lại có khoảng 65% lao động làm việc 6

ngày/tuần, 25% làm 7 ngày/tuần [11].

Thực tế cho thấy, đã xảy ra liên tục các vụ việc tranh chấp lao động và đình

công trong doanh nghiệp FDI. Điển hình: Ngày 29/8/2014 có hơn 1.000 công nhân

Công ty Beautec Vina (100% vốn Hàn Quốc, chuyên sản xuất hàng may mặc tại

Khu công nghiệp Sóng Thần II, Dĩ An, Bình Dương) đã đình công đòi tăng lương.

Thống kê của Viện Công nhân và công đoàn, từ năm 2004 đến năm 2013 thì

DNCVĐTNN trên cả nước đã xảy ra 878/1333 cuộc đình công (chiếm 65,8%) [11].

Như vậy, việc cải thiện chế độ tiền lương, tiền công và giám sát việc thực hiện các

chế độ, chính sách cho người lao động ở khu vực FDI cũng cần có các giải pháp.

- Về tiền thưởng và các chế độ phúc lợi, bảo hiểm khác: Nhìn chung mức

tiền thưởng mà các DNCVĐTNN trả cho người lao động đã từng bước được nâng

lên. Qua đó, tạo động lực cho người lao động nâng cao năng suất lao động, chất

lượng sản phẩm. Vì vậy, các doanh nghiệp ở tỉnh Bình Dương luôn quan tâm đến

lợi ích của người lao động, tiền thưởng cho người lao động chủ yếu từ việc nâng

cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm tốt hơn, sáng kiến tiết kiệm chi phí sản

xuất của người lao động…Tuy nhiên, số tiền thưởng mà người công nhân nhận

được còn ít và không thường xuyên, nên nhìn chung tổng thu nhập còn thấp. Hơn

nữa, số lao động đang làm việc ở Bình Dương chủ yếu là di chuyển từ các tỉnh

Miền Bắc vào, cho nên phải tốn kém chi phí tiền thuê nhà, mua sắm đồ dùng sinh

hoạt, phương tiện, về quê thăm gia đình…

- Về điều kiện, môi trường làm việc: Bình Dương là một tỉnh có nhiều

DNCVĐTNN lớn vào sản xuất kinh doanh, do đó cũng đã quan tâm đầu tư xây

dựng nhà xưởng, dây truyền sản xuất, thiết bị, công nghệ tương đối đồng bộ, hiện

đại, người công nhân làm việc được an toàn, thoải mái, ít mắc các bệnh do ảnh

hưởng môi trường làm việc gây ra. Đây cũng là một yếu tố thuận lợi làm cho năng

xuất, chất lượng lao động ngày càng tăng và quan hệ lao động giữa người công

nhân với doanh nghiệp ngày càng chặt chẽ hơn.

Tuy nhiên, cũng còn những DNCVĐTNN quy mô vừa và nhỏ về cơ sở vật

chất và điều kiện làm việc của công nhân chưa được tốt như nhiều DN không có bố

trí phòng nghỉ trưa cho công nhân hoặc có phòng nghỉ trưa nhưng chưa thật sự sạch

74

sẽ, không chú trọng đến xây dựng phòng tắm, phòng vệ sinh, phòng thay quần áo

cho nữ công nhân... Môi trường làm việc trong các doanh nghiệp trong những năm

gần đây cũng đã được cải thiện xong vẫn chưa đảm bảo yêu cầu.

- Về đào tạo nâng cao tay nghề: Đây là vấn đề được các DNCVĐTNN quan

tâm hàng đầu, họ thường xuyên đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho người

lao động trong quá trình làm việc, tổ chức dạy kỹ năng mềm, ngoại ngữ. Từ đó,

người lao động cũng làm việc tốt hơn, tiền công, tiền lương ngày càng tăng, đời

sống vật chất được nâng cao.

- Về đời sống tinh thần: Nhiều DNCVĐTNN trong các khu công nghiệp,

khu chế xuất ở tỉnh Bình Dương đã xây dựng và phát triển dịch vụ công cộng như

giáo dục, y tế, khu vui chơi giải trí…Tổ chức công đoàn doanh nghiệp chủ động,

thường xuyên đứng ra tổ chức các buổi giao lưu văn hóa,văn nghệ, thể dục, thể

thao, tham quan, nghỉ mát. Từ đó, tạo ra không khí vui tươi, thân thiện giữa chủ

doanh nghiệp với người công nhân.

2.4.2. Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm của các tỉnh có thể vận dụng

vào giải quyết lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

Qua tìm hiểu kinh nghiệm giải quyết lợi ích kinh tế của người lao động trong

các DNCVĐTNN của một số địa phương trong nước, có thể rút ra một số bài học

vận dụng đối với thành phố Hà Nội.

- Thứ nhất: Cần nhận thức đầy đủ hơn nữa vai trò, mối quan hệ lợi ích kinh

tế - xã hội của người lao động và người sử dụng lao động trong các DNCVĐTNN

trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất

nước và chủ động hội nhập quốc tế. Từ đó, tiếp tục thể chế hóa hệ thống pháp lý, bổ

sung chính sách cho phù hợp, đảm bảolợi ích cả hai bên và gắn với mục tiêu phát

triển kinh tế - xã hội của thành phố trong từng giai đoạn.

- Thứ hai: Tăng quyền tự chủ của DNCVĐTNN trong trả lương, gắn trả

lương với hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN. Tăng cường kiểm tra và giải quyết

kịp thời những kiến nghị, bức xúc của công nhân về tiền lương, tiền thưởng, đóng

bảo hiểm, thỏa ước lao động tập thể và các chế độ khác theo quy định. Thường

xuyên phối hợp giữa Tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ trong các

DNCVĐTNN để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của người lao

75

động, qua đó đàm phán với chủ DN nhằm giảm bớt các tranh chấp về lao động, bãi

công, biểu tình.

- Thứ ba: Nhà nước cần có cơ chế, chính sách tiền lương, thu nhập cho phù

hợp với khu vực DN nói chung và DNCVĐTNN nói riêng. Nhà nước tạo hành lang

pháp luật thuận lợi cho DN và người lao động thỏa thuận tiền lương phù hợp với

mức lương trên thị trường và quy định của pháp luật. Nhà nước cần có những biện

pháp thích hợp kiểm soát và quản lý việc thực thi những quy trình của pháp luật lao

động đã được ban hành nhằm bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm của người lao động.

Đồng thời, tăng cường vai trò của thỏa ước lao động tập thể trong việc thực hiện

chính sách tiền lương để bảo đảm tiền lương gắn với kết quả hoạt động của các DN

và cá nhân.

- Thứ tư: Môi trường lao động tốt và điều kiện làm việc thuận lợi là tiền đề

quan trọng bảo đảm LIKT của người lao động. Kinh nghiệm của DNCVĐTNN nào

có trang thiết bị tiên tiến, hiện đại, bảo đảm các điều kiện an toàn, đời sống vật chất

và tinh thần cho người lao động thì hiệu quả hoạt động của DN sẽ cao và người lao

động sẽ được hưởng một phần lợi ích của DN mang lại. Do đó, cần phối hợp kiểm

tra thường xuyên điều kiện, môi trường làm việc của công nhân trong các

DNCVĐTNN, nhất là những cơ sở, nhà máy sản xuất hàng hóa gây ô nhiễm môi

trường cao và không an toàn lao động, cháy nổ…

- Thứ năm: Cần quan tâm đến giáo dục và đào tạo, dạy nghề cho người lao

động theo đúng yêu cầu của doanh nghiệp trước khi cấp giấy phép đầu tư và thực

hiện đúng theo hợp đồng lao động. Đồng thời, người lao động nâng cao trình độ, ý

thức trách nhiệm trong công việc thì sẽ đem lại năng suất lao động cao cho DN, từ

đó giúp người lao động có thêm thu nhập, ổn định việc làm, phát huy tính sáng tạo

trong công việc.

76

Chương 3

THỰC TRẠNG LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3.1. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN THỰC HIỆN LỢI ÍCH KINH

TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ

NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3.1.1. Những thuận lợi của Hà Nội trong thực hiện lợi ích kinh tế của

người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

3.1.1.1. Về điều kiện tự nhiên

Khi chọn đối tác đầu tư vào Việt Nam, nhất là Thủ đô Hà Nội, các

DNCVĐTNN đã nghiên cứu rất kỹ về đặc điểm tự nhiên; vì đối với các DN nước

ngoài, việc tìm kiếm các cơ hội để đầu tư khai thác trở thành ưu tiên trong chiến

lược kinh doanh. Theo đánh giá của tổ chức JETRO của Nhật Bản có bốn lý do để

các DNCVĐTNN quan tâm đầu tư tại Việt Nam trong đó đặc biệt là Thủ đô Hà

Nội, đó là: vị trí địa lý (kết nối hai thị trường lớn Trung Quốc và ASEAN), ổn định

chính trị, tiền công thấp, lao động cần cù... Từ sự đánh giá trên cho thấy, các

DNCVĐTNN khi đầu tư vào Hà Nội đã tìm hiểu và nghiên cứu kỹ địa bàn đầu tư,

điều đó được thể hiện: Sự thuận lợi về vị trí địa lý, khí hậu ôn hòa. Về vị trí địa lý:

Hà Nội nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng, có vị trí địa lý, chính trị quan trọng, có diện tích 3.324,92 km2. Từ Hà Nội đi các tỉnh, thành phố trong cả nước rất

dễ dàng bằng cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không, thành phố

Hà Nội có hai sân bay (một sân bay quốc tế), là đầu mối giao thông của 4 tuyến

đường sắt, 5 tuyến đường quốc lộ. Đây là những yếu tố gắn bó chặt chẽ thành phố

Hà Nội với các trung tâm trong cả nước đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho thành

phố Hà Nội phát triển mạnh giao lưu buôn bán với nước ngoài, tiếp nhận kịp thời

với thông tin, thành tựu khoa học công nghệ của thế giới, tham gia vào quá trình

phân công lao động quốc tế, khu vực và cùng hội nhập vào quá trình phát triển năng

động của vùng lòng chảo Đông Á - Thái Bình Dương.

77

3.1.1.2. Về điều kiện kinh tế - xã hội

Thành phố Hà Nội luôn tạo những cơ chế, chính sách ưu đãi đối với các nhà

đầu tư, tạo điều kiện tốt nhất cho các DN về thủ tục hành chính, hạ tầng trong quá

trình triển khai, xây dựng dự án, duy trì tăng trưởng kinh tế hợp lý. Thành phố đã và

đang quyết liệt thực hiện cải cách hành chính, tháo gỡ khó khăn cho các DN và tạo

mọi điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư, tạo lập lòng tin và tăng cường mối

quan hệ thân thiện hợp tác giữa nhà đầu tư với các cơ quan quản lý nhà nước; tập

trung hỗ trợ thông tin, xúc tiến đầu tư; tăng cường khả năng tiếp cận đất đai, mặt

bằng SXKD cho DN; thực hiện các hỗ trợ đầu tư khác như: Lao động, hạ tầng ngoài

hàng rào, điện, nước, công nghệ thông tin...

Thành phố Hà Nội đã quan tâm thỏa đáng tới mục tiêu nâng cao chất lượng

môi trường đầu tư, phát huy thế mạnh của thành phố thông qua những biện pháp, cụ

thể như: Lãnh đạo thành phố đã gặp mặt định kỳ với DNCVĐTNN, nắm tình hình,

tháo gỡ và giải quyết khó khăn cho DN. Hằng năm, thành phố Hà Nội đã tổ chức

đối thoại giữa chính quyền thành phố với nhà đầu tư nước ngoài nhằm mục đích

thắt chặt quan hệ, cùng có lợi giữa hai bên thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng, chuyển

dịch cơ cấu kinh tế, nhất là tạo nguồn thu, việc làm trên địa bàn.

Là trung tâm kinh tế của cả nước có nhiều nhà máy, xí nghiệp các công ty,

các cơ sở kinh tế đóng và hoạt động trên địa bàn hàng năm đóng góp rất lớn vào

tăng trưởng GDP của cả nước.

Về xã hội, so với thủ đô của nhiều nước thì thành phố Hà Nội là địa bàn có

tình hình an ninh chính trị và TTATXH đảm bảo, ít và hầu như không xảy ra khủng

bố, gây rối TTATXH. Sống trên địa bàn có nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội khác

nhau, tuyệt đại đa số có nguồn gốc và xuất thân từ nông nghiệp, nông thôn, đều

mang những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, có tinh thần đoàn

kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, trọng lẽ phải…

Nguồn lao động của Hà Nội có đức tính cần cù, sáng tạo và có ý thức được

rằng: Nhờ có lao động mà con người và xã hội mới tồn tại, phát triển; lao động

được đánh giá là một tiêu chí cơ bản của một con người chân chính. Tính đến năm

2015, dân số thành phố Hà Nội là 7.113.161 người, trong đó 3.995.000 người lao

động (chiếm 56,16%). Chất lượng lao động ở thành phố Hà Nội ngày càng được

78

nâng cao (45% lao động qua đào tạo) lao động qua đào tạo cao nhất cả nước với

46%. Hà Nội có lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật, chuyên gia và công nhân lành

nghề đông đảo (số cán bộ tốt nghiệp đại học trở lên chiếm 68,6% so với cả nước và

chiếm 90,1% so với vùng đồng bằng sông Hồng). Trình độ chuyên môn của lao

động trên địa bàn thành phố Hà Nội thể hiện ở bảng dưới đây.

Biểu đồ 3.1: Đánh giá trình độ chuyên môn của lực lượng lao động Hà Nội (2013)

Nguồn: [106].

Từ bảng số liệu trên cho thấy lao động được đào tạo: Trình độ chuyên môn

của lao động thành phố Hà Nội được đánh giá cao nhất trong toàn quốc, đây là điều

kiện thuận lợi đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cho các nhà

máy, xí nghiệp, các DNCVĐTNN khi có nhu cầu tuyển dụng lao động.

Lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội đến từ rất

nhiều tỉnh thành trong cả nước, phần lớn ở độ tuổi lao động trẻ, trình độ lao động

phổ thông chiếm tỷ lệ cao. Theo kết quả điều tra của tác giả cho thấy: Những người

lao động trong các DNCVĐTNN phần lớn có nguồn gốc xuất thân từ nông thôn,

miền núi với 397 người (chiếm 81,5%); số còn lại có nguồn gốc từ thành phố, thị xã

với 79 người (chiếm 16,2%).

- Về độ tuổi: Công nhân trong các DNCVĐTNN tương đối trẻ, đang ở độ

tuổi có sức lao động tốt, nhiệt tình làm việc, tuổi đời từ 18 -24 tuổi là 221/487 người

(chiếm 45,4%), độ tuổi 25 - 34 tuổi là 228/487 người (chiếm 46,8%).

- Về giới tính: Lao động nữ có 295 người (chiếm 60,5%), lao động nam có

192 người (chiếm 39,4%).

- Về thành phần gia đình: Người lao động xuất thân từ thành phần gia đình

nông dân là chủ yếu với 375 người (chiếm 77,0%), thành phần gia đình công nhân 81

79

người (chiếm 16,6%) và thành phần gia đình cán bộ công chức 28 người (chiếm 5,7%).

- Về tình trạng hôn nhân: Có đến một nửa số người lao động làm việc trong

DNCVĐTNN tại KCN chưa lập gia đình ở mức 249/487 người (chiếm 51.6%).

- Về vị trí công tác: Phần lớn người lao động là nhân viên trong các DN với

tỉ lệ 438/487 người (chiếm 89,9%), vị trí quản lý ở các cấp là 24/487 người (chiếm

4,9%). Số còn lại làm ở các vị trí khác chiếm 5,1%.

- Về chuyên môn, tay nghề: Theo số liệu phiếu điều tra thì người lao động

phần lớn có trình độ tay nghề bậc là 3/7 (chiếm 23,6%); trình độ tay nghề bậc 2/7

(chiếm 15,2%); trình độ tay nghề bậc 4/7 (chiếm 13,8%).

- Vấn đề học vấn: Phần lớn người lao động có trình độ tốt nghiệp trung học phổ

thông có 312 người (chiếm 64,1%); trình độ sơ, trung cấp 74 người (chiếm 15,2%).

- Về nơi đào tạo tay nghề: Tỷ lệ người lao động khi vào làm việc đã được DN đào

tạo chiếm 62,8%; còn người lao động được đào tạo trước khi vào DN chiếm 26,9%.

Tóm lại, người lao động trong các DNCVĐTNN ở các KCN tuổi đời tương

đối trẻ, số lượng lao động là nữ giới chiếm phần lớn, lao động chưa lập gia đình

chiếm đa số. Do người lao động chủ yếu đến từ các miền quê và xuất thân từ các gia

đình thành phần là nông dân. Những người lao động chủ yếu là làm việc ở bộ phận

sản xuất và vị trí là nhân viên, công nhân trong DNCVĐTNN.

3.1.2. Những khó khăn của Hà Nội trong thực hiện lợi ích kinh tế của

người lao động ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trong bối cảnh chung của nền kinh tế lạm phát được kiềm chế nhưng có

nguy cơ tăng trở lại, hoạt động SXKD của các DN vừa và nhỏ còn gặp nhiều khó

khăn. Trong thời gian qua, môi trường đầu tư của thành phố Hà Nội đã được cải

thiện tích cực, các thủ tục một cửa liên thông ngày càng đơn giản, thông thoáng

và minh bạch. Kỳ vọng có nhiều tập đoàn đa quốc gia đầu tư dự án quy mô lớn

vào thành phố Hà Nội chưa được như mong muốn, có nhiều nguyên nhân nhưng

trong đó cũng một phần là do nền kinh tế thế giới và trong nước còn gặp khó

khăn. Thành phố Hà Nội lại mới được mở rộng từ năm 2008, nhiều quy hoạch

còn đang chờ được thông qua, nên chưa đủ cơ sở để tập trung thu hút đầu tư.

Những bất cập từ cơ chế chính sách, thiếu tính nhất quán, thủ tục và thời gian

thực thi pháp luật còn dài, nguồn nhân lực cung cấp còn hạn chế, nguyên phụ

80

kiện, đặc biệt là trong lĩnh vực linh kiện điện tử, thiết bị công nghiệp, phần lớn

các DNCVĐTNN vẫn còn giải quyết bằng con đường nhập khẩu; đó là một cản

trở cho các DN trong quá trình SXKD.

3.1.2.1. Trình độ tay nghề của người lao động còn thấp

Một điều hiển nhiên dễ thấy đó là năng suất lao động và hiệu quả sản xuất

phụ thuộc một phần rất lớn vào trình độ thành thạo, nghiệp vụ chuyên môn của

người lao động. Khi đề cập tới những nhân tố có tác động và ảnh hưởng tới năng

suất lao động C.Mác đã đưa ra nhiều nhân tố, đó là trình độ khéo léo của người lao

động, công cụ lao động, sự phát triển của khoa học kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất,

sự kết hợp xã hội của sản xuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất, các điều kiện tự nhiên.

Trong đó, trình độ khéo léo của người lao động được ông đặc biệt nhấn mạnh và

được đặt lên vị trí hàng đầu. Trình độ khéo léo chính là trình độ tay nghề, nghiệp vụ

chuyên môn kỹ thuật, là khả năng ứng dụng những vấn đề lý thuyết, quy trình công

nghệ vào quá trình hoạt động sản xuất.

Trình độ khéo léo và thuần thục của người lao động làm việc trong các

DNCVĐTNN càng cao thì người lao động càng tạo ra năng suất lao động cao và

hiệu quả của sản xuất càng lớn dẫn tới lợi nhuận các chủ DN thu được cũng sẽ dồi

dào hơn, DNCVĐTNN làm ăn phát đạt sẽ có nhiều điều kiện hơn trong việc chăm

lo tới đời sống của người lao động và LIKT của họ sẽ được bảo đảm hơn. Mặt khác,

nếu trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động bị hạn chế, người lao dộng

không được đào tạo cơ bản về chuyên môn kỹ thuật, tay nghề thấp, khả năng ứng

dụng công nghệ vào sản xuất của họ bị hạn chế sẽ dẫn tới năng suất lao động thấp,

hiệu quả kinh tế không cao, DNCVĐTNN bị hạn chế trong phát triển, lợi nhuận và

mức doanh thu thấp sẽ có tác động và ảnh hưởng xấu đối với việc thực hiện LIKT

của người lao động.

Đối với đội ngũ những người lao động trong các DNCVĐTNN tại địa bàn

thành phố Hà Nội hiện nay, qua thực tế điều tra, khảo sát cho thấy đa số là lực lượng

lao động xuất thân từ các vùng nông thôn các tỉnh phía Bắc được di chuyển đến địa

bàn thành phố Hà Nội để tìm việc làm. Trong đó, đa phần là lao động nữ chưa lập gia

đình, có người chưa học hết chương trình phổ thông 12 năm và có rất nhiều người

chưa qua trường lớp đào tạo cơ bản nên trình độ tay nghề, nghiệp vụ chuyên môn kỹ

81

thuật của đội ngũ người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành

phố Hà Nội bị hạn chế rất nhiều, trình độ chuyên môn thấp, lực lượng chưa qua đào

tạo nhiều, lại đa phần là nữ giới sức khỏe bị hạn chế so với nam giới. Do vậy không

thể tạo ra năng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm tốt cho DN. Đây là một trong

những nhân tố tác động rất lớn đới với việc thực hiện LIKT cho người lao động,

chính những mặt hạn chế về tay nghề, về giới tính, dẫn tới năng suất lao động chưa

cao mà các chủ đầu tư viện cớ để trả lương thấp cho những người lao động, tình trạng

này đã ảnh hưởng không tốt đối với việc thực hiện LIKT của họ.

3.1.2.2. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố Hà Nội chưa bền vững

Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, bền vững thì mức sống và chất lượng

cuộc sống của người dân sẽ được cải thiện và không ngừng được nâng cao. Ngược

lại khi kinh tế phát triển không ổn định, tốc độ tăng trưởng thấp thì mức sống của

những người lao động sẽ bị hạn chế. Đối với LIKT của người lao động làm việc

trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng bị chi phối bởi tốc độ

tăng trưởng kinh tế. Trong những năm qua, do tác động của cuộc khủng hoảng tài

chính toàn cầu mà tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hà Nội có phần chậm lại, nên

tình hình hoạt động SXKD của các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội

cũng gặp không ít khó khăn, dẫn tới sản xuất cầm chừng, sản phẩm làm ra tiêu thụ

chậm, giá cả các yếu tố đầu vào tăng cao đã tác động và ảnh hưởng xấu tới mức

doanh thu của DN, tình trạng này cũng gây nên ảnh không tốt đối với việc bảo

đảm LIKT cho những người lao động làm việc ở đây. Khi đó DNCVĐTNN bị suy

giảm, doanh thu và mức lợi nhuận thấp thì khả năng trả tiền công cũng như việc

bảo đảm thực hiện LIKT của người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN sẽ

không được thực hiện tốt.

3.1.2.3. Cơ chế kiểm tra giám sát của các cơ quan chức năng còn nhiều

hạn chế

Cơ chế kiểm tra giám sát các hoạt động SXKD của các DN trên địa bàn

thành phố Hà Nội có tác động rất lớn đối với việc thực hiện LIKT cho những người

lao động. Khi cơ chế kiểm tra giám sát không chặt chẽ, dẫn tới một số

DNCVĐTNN vi phạm pháp luật các cơ quan chức năng không biết được, LIKT của

người lao động bị xâm hại không ai đứng lên bảo vệ là mối nguy hại đối với họ.

82

Hiện nay, ở thành phố Hà Nội đã có cơ quan chức năng quản lý nhà nước đối với

các DNCVĐTNN, song nhìn chung vai trò và chức năng quản lý nhà nước đối với

việc bảo đảm LIKT cho những người lao động còn rất hạn chế. Nguyên nhân một

phần do hệ thống các văn bản pháp luật, quy chế điều hành còn nhiều bất cập nhưng

mặt khác tính chủ động, sáng tạo của các cơ quan chức năng cũng còn hạn chế nên

vai trò thể hiện trong thực tế còn rất mờ nhạt. Do vậy, cần tăng cường công tác kiểm

tra giám sát các hoạt động SXKD của các DN nhằm bảo đảm cho các hoạt động của

các DN diễn ra theo đúng những quy định của luật pháp Việt Nam. Trên cơ sở đó,

bảo đảm LIKT chính đáng cho những người lao động làm việc trong những cơ sở

sản xuất của DN trên địa bàn thành phố Hà Nội.

3.2. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3.2.1. Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài và hoạt động của các

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

3.2.1.1. Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố

Hà Nội

Hà Nội là địa phương tiên phong cùng cả nước mở cửa "gọi" các nhà đầu tư

nước ngoài, Sau gần 30 năm đến nay kết quả thu hút nguồn vốn duy trì khá đều đặn

qua từng năm, và trở thành nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế. Thành phố

Hà Nội không ngừng tạo lập môi trường đầu tư theo hướng thông thoáng, minh bạch,

phù hợp tiến trình hội nhập quốc tế; thực hiện các giải pháp hỗ trợ, giải quyết vướng

mắc cho các DNCVĐTNN đang hoạt động trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho

các nhà đầu tư kinh doanh làm ăn thành công và lâu dài tại Thủ đô. Hiện nay, trên địa

bàn thành phố Hà Nội có 63 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia đầu tư với số lượng

hơn 2.806 dự án, với tổng số vốn đầu tư gần 22 tỷ USD; trong đó, Nhật Bản là quốc

gia dẫn đầu về số dự án cũng như vốn đầu tư, có khoảng 520 dự án đầu tư của Nhật

Bản với số vốn hơn 4,6 tỷ USD, chiếm 22% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại

địa bàn. Trong khu vực đầu tư nước ngoài, các DN của Nhật Bản chiếm tỷ trọng 74%

doanh thu, 61,3% thuế nộp ngân sách; thu hút và giải quyết việc làm cho hơn 130

nghìn lao động, chiếm 75% số lao động trong khối đầu tư FDI. Đến nay, trên địa bàn

83

thành phố Hà Nội có 19 KCN, khu công nghệ cao với tổng diện tích quy hoạch gần

3.500 ha đã được Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư. Hiện các KCN, khu công

nghệ cao đã và đang đi vào hoạt động và triển khai xây dựng hạ tầng, trong đó có 8

KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên là 1235 ha; 5 KCN đang

triển khai thủ tục đền bù và xây dựng cơ sở hạ tầng [Phụ lục 3].

Theo báo cáo về việc tổng kết 25 năm thu hút đầu tư nước ngoài (từ năm

1989 đến năm 2011) trên toàn địa bàn thành phố Hà Nội đã thu hút được 2.304 dự

án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 22,38 tỷ USD. Có 41 quốc gia và vùng lãnh

thổ tham gia đầu tư; trong đó Hàn Quốc dẫn đầu về số dự án đăng ký với 665 dự án,

tổng vốn đầu tư đăng ký là 3,83 tỷ USD; còn Nhật Bản dẫn đầu về vốn đầu tư đăng

ký với 4,22 tỷ USD và 471 dự án. Hà Nội là địa phương đứng thứ 3 trên cả nước về

thu hút FDI, chiếm khoảng 12% tổng vốn đầu tư đăng ký của cả nước, đứng sau

thành phố Hồ Chí Minh (32,23 tỷ USD), Bà Rịa Vũng Tàu (25,96 tỷ USD) [99].

Tiếp đó là kết quả thu hút đầu tư nước ngoài số liệu tính đến tháng 12 năm

2014, thành phố Hà Nội đã thu hút được 418 dự án đầu tư và tăng vốn, với tổng số vốn

đầu tư đăng ký là 1.397,2 triệu USD, tăng 26% so với năm 2013 và tăng 7,4 so với kế

hoạch năm 2014 (1.300 triệu USD). Trong đó: Tình hình cấp mới giấy chứng nhận đầu

tư năm 2014 là 313 dự án với tổng vốn đăng ký là 651,2 triệu USD; tình hình điều

chỉnh tăng vốn đầu tư dự án: Năm 2014 toàn Thành phố có 105 lượt dự án điều chỉnh

tăng vốn với giá trị vốn tăng là 746 triệu USD (tăng 20% so với năm 2013 [105].

Qua khảo sát một số DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội ở 3 KCN:

KCN Nội Bài; KCN Quang Minh; KCN Thăng Long:

- Công ty Canon thuộc KCN Bắc Thăng Long, Huyện Đông Anh, Hà Nội:

chuyên sản xuất máy ảnh, máy in phun.

- Công ty Coldtech thuộc KCN Quang Minh, huyện Mê Linh, Hà Nội:

chuyên sản xuất các thiết bị điện tử, lắp ráp tủ lạnh...

- Công ty Yamaha Motor thuộc KCN Nội Bài, Huyện Sóc Sơn Hà Nội:

Chuyên sản xuất lắp ráp xe máy nhãn hiệu Yamaha linh kiện phụ tùng xe máy và

cung cấp dịch vụ sửa chữa xe máy [Phụ lục 3].

Kết quả thấy rằng: Mặc dù các công ty có mô hình quản lý điều hành DN

không giống nhau, nhưng nhìn chung đều chú trọng đến ứng dụng khoa học công

84

nghệ vào sản xuất, liên tục cải tiến chất lượng sản phẩm, đồng thời không ngừng

mở rộng SXKD tại Việt Nam. Điển hình là công ty Canon Việt Nam và Công ty

Yamaha Motor Việt Nam sau một thời gian hoạt động SXKD tại Việt Nam đều xin

phép Bộ Kế hoạch và Đầu tư mở rộng dự án đầu tư. Công ty Yamaha Motor Việt

Nam tính đến hết năm 2013, công ty đã thực hiện hơn 102 triệu USD vốn đầu tư,

thu hút hơn 2.300 lao động, trong đó 70% là lao động địa phương. Sản lượng đạt

260.000 xe các loại, với tỷ lệ nội địa hóa khoảng 70% nộp ngân sách hơn 41,4 triệu

USD. Trong năm 2014, công ty đã xin phép được mở rộng dự án đầu tư từ 80,2

triệu USD lên 123,3 triệu USD, đồng thời mở rộng các phân xưởng sản xuất nhằm

tăng sản lượng lên 700.000 xe các loại, với tỷ lệ nội địa hóa 90%. Đối với Công ty

Canon là một trong 10 DNCVĐTNN có vốn đầu tư lớn nhất ở Hà Nội, hiện nay

Công ty đã xin mở rộng đầu tư sản xuất thêm 110 triệu USD, nâng tổng vốn đầu tư

của Canon tại Việt Nam lên gần 300 triệu USD [101]. Mục đích xây dựng Việt Nam

là "cứ điểm" đầu tư lớn nhất cho sản xuất máy in phun ngoài Nhật Bản. Trong quá

trình đầu tư các DNCVĐTNN đã tìm thấy đức tính cần cù, chịu khó và thông minh,

nhạy bén của nguồn nhân lực Việt Nam. Chính điều này cộng với sự tăng trưởng ấn

tượng của nền kinh tế Việt Nam và môi trường chính trị ổn định là nguyên nhân

chính để các chủ DNCVĐTNN tiếp tục đầu tư mở rộng quá trình sản xuất và làm ăn

lâu dài với Việt Nam.

Lợi ích của việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI có một vị trí rất quan

trọng đó là: Bổ sung cho nguồn vốn cho nền kinh tế trong nước, thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế; các DN FDI giúp tạo việc làm, cải thiện nguồn nhân lực; tiếp thu

công nghệ và bí quyết quản lý; tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu, giúp mở rộng

thị trường, thúc đẩy xuất khẩu; tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công, nguồn

thu ngân sách lớn.

3.2.1.2. Hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên

địa bàn thành phố Hà Nội

Hiện nay, thành phố Hà Nội có hơn 2.806 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài (FDI) còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký là 21,1 tỷ USD [101]. Hàng loạt dự

án FDI có quy mô lớn đã và đang làm thay đổi một phần bộ mặt đô thị của thành

phố, cũng như góp phần không nhỏ trong thúc đẩy SXKD, phát triển kinh tế.

85

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động kinh tế đối ngoại

quan trọng của thành phố Hà Nội. Không chỉ có nhiều lợi thế và môi trường đầu tư

hấp dẫn, thành phố Hà Nội còn đang nỗ lực viết tiếp câu chuyện thành công trong thu

hút FDI bằng cam kết mạnh mẽ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, coi khu vực

DNCVĐTNN là bộ phận quan trọng cấu thành của nền kinh tế, đồng thời xem FDI là

một nhân tố quyết định để tái cơ cấu nền kinh tế và tăng sức cạnh tranh của Thủ đô.

Trong quá trình đầu tư nhiều DN đã tích cực đổi mới công nghệ, nâng cao

năng suất lao động, mở rộng đầu tư nên vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá, tạo

thêm nhiều việc làm cho người lao động và đóng góp nguồn thu cho ngân sách lớn.

Điển hình là các DN: Marumitsu (KCN Quang Minh I) đầu tư thêm 12 triệu USD,

tăng thêm 800 công nhân; Công ty MHI Acrospale Việt Nam (KCN Thăng Long)

khánh thành dây chuyền sản xuất linh kiện máy bay Boeing; Công ty Cheewah

(KCN Phú Nghĩa) đầu tư thêm 3 triệu USD tăng thêm 600 công nhân; Công ty

Yamaha (KCN Nội Bài) đầu tư thêm 32 triệu USD; Công ty điện tử Hanel (KCN

Sài Đồng B) đầu tư tăng 105 tỷ đồng; Công ty điện tử Meiko (KCN Thạch Thất -

Quốc Oai) đưa dây chuyền 1 vào hoạt động [10198]. Các DN đầu tư mới và mở

rộng sản xuất đã tạo thêm hàng vạn việc làm cho người lao động trong và ngoài

thành phố; cung cấp một số lượng hàng hóa công nghiệp, nhu cầu thiết yếu cho sản

xuất và đời sống nhân dân, cho xuất khẩu.

Tuy vậy, khả năng thực tế đầu tư, phát triển các DNCVĐTNN còn chưa

tương xứng với tiềm năng của Thủ đô mở rộng. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng kỹ thuật

và xã hội của các DNCVĐTNN hiện có vẫn chưa đồng bộ. Việc phát triển các khu,

DNCVĐTNN mới hiện chưa có quy hoạch đúng tầm và mô hình thích hợp, trong

khi các quy chế hoạt động, quy chế xây dựng, trong các KCN còn đang hoàn thiện

nên còn nhiều khó khăn trong quản lý. Trong bối cảnh phải đối mặt những khó khăn

của nền kinh tế thế giới, cũng như những khó khăn của nền kinh tế nước ta do vấn

đề lạm phát và lãi suất vay vốn ngân hàng cao, hạ tầng cơ sở chậm lại, thiếu lao

động kỹ thuật, sẽ khiến công tác thu hút FDI hiện nay đang phải đối mặt với những

thách thức sau đây.

- Thứ nhất: Do sự phát triển của cơ sở hạ tầng, hiện nay cơ sở hạ tầng chưa

đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế cũng như chưa tạo điều kiện tốt nhất

86

đủ sức hấp dẫn thêm nhiều vốn đầu tư mới cũng như đảm bảo cho DNCVĐTNN

đang hoạt động phát huy hiệu quả cao. Nhằm giải quyết vấn đề này, Chính phủ đã chỉ

đạo xây dựng "Đề án phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ" chuẩn bị cho giai đoạn phát

triển mới. Thủ tướng cũng đã ban hành Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg về quy chế

thí điểm đầu tư theo hình thức đó nhằm huy động tối đa nguồn lực của khu vực tư

nhân trong nước cũng như nước ngoài cho phát triển hạ tầng.

- Thứ hai: Nguồn nhân lực Việt Nam có tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo lớn.

Trong một nghiên cứu mới đây do Cục đầu tư nước ngoài phối hợp với Tổ chức

Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) tiến hành, thì 32% các nhà đầu tư

nước ngoài cho rằng thiếu công nhân kỹ thuật cao là nguyên nhân quan trọng khiến

họ không khai thác được toàn bộ công suất. Giảm chi phí sản xuất trong đó có chi

phí thuê lao động là mối quan tâm hàng đầu khi nhà đầu tư quyết định lựa chọn

điểm đầu tư và lợi thế chi phí lao động rẻ của Việt Nam ngày càng mất đi. Để cải

thiện tình hình này, Việt Nam đang tích cực thực hiện đề án "Đổi mới và phát triển

dạy nghề đến năm 2020" nhằm nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 55%

vào năm 2020. Trong năm 2014 Cục quản lý vốn FDI sẽ chú trọng và tăng cường

đầu tư theo hướng: Khu vực kinh tế FDI được phát triển theo quy hoạch, ưu tiên thu

hút các dự án có công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng có hiệu quả

các nguồn tài nguyên, khoáng sản, đất đai...

Nhìn chung về tình hình hoạt động SXKD của các DNCVĐTNN trên địa bàn

thành phố Hà Nội có thể thấy:

Các DNCVĐTNN ngày càng phát triển và đã có những đóng góp quan trọng,

từng bước trở thành một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế Thủ đô, ngày càng khẳng

định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam nói chung và

Hà Nội nói riêng, là khu vực có tốc độ phát triển năng động nhất. Ngoài những tác

động và đóng góp trực tiếp, FDI có vai trò cầu nối giữa khu vực nội địa và nền kinh

tế thế giới, còn có tác động thu hẹp khoảng cách phát triển về trình độ công nghệ,

trình độ quản lý, trình độ tay nghề lao động giữa Việt Nam và quốc tế.

Các DNCVĐTNN với ưu thế tiềm lực về vốn, công nghệ đã góp phần đặc biệt

quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội thời gian qua của Thủ đô Hà Nội nói

riêng và Việt Nam nói chung; cụ thể qua các khía cạnh đóng góp cơ bản như sau:

87

Việc thu hút các DNCVĐTNN đã góp phần to lớn vào quá trình thay đổi cơ cấu

của nền kinh tế, thực hiện CNH, HĐH đưa Hà Nội chủ động hội nhập quốc tế. Cùng

với sự phát triển tích cực của quan hệ ngoại giao với các nước, năm 2006 vị thế của

Việt Nam trên thế giới tiếp tục nâng cao, nhất là sau khi trở thành thành viên thứ 150

của WTO, tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14 tại Hà Nội và Hoa

Kỳ thông qua Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR), từ đó đến nay càng

làm tăng mối quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đối với thành phố Hà Nội.

Thực tiễn hoạt động đầu tư nước ngoài tại Hà Nội chỉ rõ rằng: Xét về khía

cạnh lợi nhuận có sự khác nhau trong hoạt động đầu tư của các DN vừa và nhỏ và

các công ty xuyên quốc gia, do các DN vừa và nhỏ có vốn đầu tư hạn chế nên

thường thực hiện các dự án qui mô nhỏ và trung hạn. Nếu trong trường hợp nước

đến đầu tư bị khủng hoảng kinh tế thì các DN đó dễ rút vốn về nước, hoặc không

triển khai dự án đầu tư mới. Còn công ty xuyên quốc gia lớn có chiến lược toàn cầu

và mục tiêu dài hạn, nên các dự án đầu tư khi đã lựa chọn thường được thực hiện kể

cả trong trường hợp có khủng hoảng kinh tế. Từ đó, việc xác định lợi nhuận của hai

DN này cũng có sự khác nhau. Nếu như DN vừa và nhỏ cần phải tạo ra được lợi

nhuận nhanh, thì các công ty xuyên quốc gia có thể chịu thua lỗ trong một thời gian

nhất định, miễn là sau đó có lãi và toàn bộ chu kỳ của dự án đầu tư thu được lợi

nhuận trung bình trên từng thị trường. Từ những đặc điểm trên, khi lợi ích của nước

chủ nhà phù hợp với lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài thì dự án đầu tư được thực

hiện thuận lợi. Từ năm 2006 - 2014, môi trường kinh doanh của nước ta tiếp tục cải

thiện. Ngoài triển khai Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, cùng các nghị định hướng

dẫn được ban hành đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động đầu tư, nhiều

biện pháp đã được tiến hành nhằm hạn chế và khắc phục tình trạng yếu kém của hệ

thống kết cấu hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực… Kết quả đã cho thấy

qua 6 tháng đầu năm 2014 các đối tác đầu tư vốn lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn

Quốc, với sự gia tăng các dự án của những tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới.

Các DNCVĐTNN là lực lượng quan trọng hỗ trợ cho các khu vực kinh tế

khác trong nền kinh tế quốc dân và đã đóng góp lớn vào đẩy nhanh tốc độ tăng

trưởng kinh tế. Với hơn gần 30 năm hoạt động, nhưng DNCVĐTNN đã đóng góp

một phần không nhỏ vào GDP theo hướng tăng tích cực [Xem bảng 3.1].

88

Bảng 3.1: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp

vào sự tăng trưởng của GDP

Đơn vị tính: %

TT

Tỷ lệ % GDP

TT

Năm

Năm

Tỷ lệ % GDP

1

6,3

11

15,7

1995

2005

2

7,8

12

17,78

1996

2006

3

9,07

13

18,02

1997

2007

4

10,12

14

19,08

1998

2008

5

12,3

15

17,09

1999

2009

6

13,3

16

18,04

2000

2010

7

13,5

17

18,17

2001

2011

8

13,91

18

18,83

2002

2012

9

14,47

19

18,96

2003

2013

10

14,8

20

19,01

2004

2014

Nguồn: [8]

Từ bảng số liệu trên cho thấy, các DNCVĐTNN đã đóng góp vào sự tăng

trưởng của GDP vào nguồn ngân sách Nhà nước, đặc biệt có tỷ trọng lớn trong giá

trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu. Sự đóng góp này đã tạo điều kiện

để nền kinh tế Việt Nam thực hiện chiến lược công nghiệp hóa hướng ngoại. Khẳng

định vị trí, tầm quan trọng của DNCVĐTNN, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X

(năm 2006) khẳng định: "Cải thiện môi trường pháp lý và kinh tế, đa dạng hóa các

hình thức và cơ chế để thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài vào

những ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh quan trọng" [31, tr.87].

3.2.2. Cơ cấu lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

3.2.2.1. Tiền lương và tiền thưởng

Tiền lương là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với người lao động làm việc

trong các DNCVĐTNN ở địa bàn thành phố Hà Nội, nó liên quan thiết thực đối với

đời sống hàng ngày của bản thân và gia đình của họ. Nhưng hiện nay, mức lương

mà các chủ DN trả cho người lao động còn ở mức thấp, chưa tương xứng với sức

lao động mà họ bỏ ra và chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng hàng ngày trong

89

cuộc sống. Nhìn chung trên địa bàn thành phố Hà Nội thì mức lương trung bình mà

người lao động hiện đang nhận được là 3,7 triệu đến 4 triệu đồng/tháng [Phụ lục 1]

chưa đủ để đáp ứng cho đời sống của họ. Bên cạnh đó, mức lương này hầu như

không dựa trên thỏa thuận giữa chủ DN và người lao động mà là sự áp đặt theo

hướng bám chặt vào mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Qua điều tra khảo

sát tại các DNCVĐTNN ở 3 KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội, thu nhập của

người lao động, thể hiện mức độ hài lòng về các chế độ chính sách cho công nhân

[Xem biểu đồ 3.2].

Biểu đồ 3.2: Mức độ hài lòng về các chế độ cho công nhân

Đơn vị tính: %

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

1. Tiền lương

7. Tiền tiết kiệm hàng tháng

2. Tiền thưởng

8. Thời gian tăng ca

3. Phụ cấp (bằng tiền)

9. Chế độ bồi dưỡng tăng ca

4. Du lịch, nghỉ mát

10. Mức ăn trưa, ăn ca

5. Bảo hiểm xã hội

11. Nhà ở cho công nhân

6. Trợ cấp khi ốm đau, tai nạn

Chú thích:

Từ bảng số liệu trên cho thấy:

- Về vấn đề tiền lương: Đa phần người lao động có thái độ bình thường với mức

lương thu nhập của mình chiếm 68,9%, số người lao động không hài lòng với mức lương

90

của mình 22,2% và có 8,9 % người lao động hài lòng với mức thu nhập của mình.

- Về tiền thưởng: Số công nhân không hài lòng với tiền thưởng của mình lên

tới 22,2%, có 64% người lao động có thái độ bình thường với mức tiền thưởng của

DN, có 5,8% là hài lòng với mức thưởng hiện tại.

Người lao động có thái độ bình thường với tiền lương hàng tháng nhưng về

tiền thưởng và các loại phụ cấp và các chế độ đãi ngộ thì phần lớn người lao động

không hài lòng, bởi mức thưởng có nhưng không nhiều và chỉ những công nhân đủ

điểm chuyên cần mới được thưởng, và mức thưởng rất thấp. Đây cũng là nguyên

nhân chính dẫn đến các cuộc đình công, bãi công của người lao động trong các

DNCVĐTNN trong các KCN.

Từ thực tế trên, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có công văn quy

định rõ mức lương tối thiểu trong DNCVĐTNN chỉ áp dụng cho người lao động

làm công việc giản đơn nhất không phải học nghề trong điều kiện lao động bình

thường. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 23/2011/TT-

BLĐTBXH hướng dẫn mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở

công ty, DN, tổ chức.., có thuê mướn lao động căn cứ theo Nghị định số 182/2013

của Chính phủ. Theo đó, mức lương tối thiểu vùng có hiệu lực từ ngày 31/12/2013.

Mức lương tối thiểu tại khoản 1 điều 3 Nghị định này được áp dụng từ ngày

1/1/2014 của Chính phủ được áp dụng như sau:

Bảng 3.2: Mức lương tối thiểu vùng đối với doanh nghiệp FDI

Đơn vị tính: VNĐ

Mức áp dụng Mức lương tối thiểu Tăng trưởng (%)

(Vùng I) 1.350.000

Từ 01/01/2011

2.000.000

32,5%

Từ 01/10/2011

2.350.000

14,89%

Từ 20/01/2013

2.700.000

12,96%

Từ 01/01/2014

Nguồn: [16], [17], [18], [19].

Như vậy, mức lương tối thiểu vùng năm 2014 cao hơn mức lương 2013

khoảng từ 250.000 - 350.000 đồng/tháng (12,96%). Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội đặc biệt lưu ý, khi áp dụng mức lương tối thiểu ở vùng này, DNCVĐTNN

91

không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm

thêm giờ, làm việc vào ban đêm, tiền lương hoặc phụ cấp làm việc trong điều kiện

lao động nặng nhọc, độc hại, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với các chức danh

nghề nặng nhọc, độc hại và các chế độ khác theo quy định của BLLĐ. Phần lớn các

DNCVĐTNN đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật Việt Nam về mức tiền

lương tối thiểu. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số DNCVĐTNN hoạt động kiểu

"chụp giật" đã tìm mọi cách để hạ thấp tiền lương của người lao động. Trong quan

hệ lợi ích giữa người lao động với các chủ DNCVĐTNN ở địa bàn thành phố Hà Nội

phần lớn các DN đều có chế độ trả lương thăng chức theo thâm niên và tinh thần làm

việc. Do vậy, các DNCVĐTNN cũng có quan tâm về vật chất, đời sống tình cảm, tinh

thần của người lao động, để hướng tới việc đạt được lợi nhuận tối đa, vững chắc và

lâu dài, tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của DNCVĐTNN. Điều đó, đã thu hút được một

lực lượng lao động đáng kể vào làm việc tại các DNCVĐTNN. Tuy nhiên, để đạt

mục đích trong SXKD các chủ DNCVĐTNN đã tìm mọi cách tối đa hóa lợi nhuận,

mặc dù là có tăng lương, nhưng tăng lương cùng với tăng định mức. Qua khảo sát

thực tiễn ở Công ty TNHH COLDTECH (KCN Quang Minh): Ngày 31.12.2013,

ngày đầu tiên lương tối thiểu mới có hiệu lực, khi nhắc đến lương, dường như không

có nhiều niềm vui trên những gương mặt các công nhân. KCN Quang Minh, Mê

Linh, công nhân cho biết, sau 3 năm làm việc mức lương của họ là 3,5 triệu đồng/

tháng. Thực hiện lương mới, công nhân đã được tăng thêm 300.000 cộng với phụ cấp

hàng tháng, thu nhập của người lao động ước tính khoảng 4.000.000 đồng/tháng.

Tính toán vậy nhưng thực tế không dễ để đạt được mức đó. Những người lao động

cho biết: Đi kèm với tăng lương sẽ là tăng định mức, cùng kỳ năm trước định mức

của một công nhân (tính cả ca) khoảng 1850 sản phẩm/chuyền/ngày nhưng đến nay

định mức khoán (chưa thể tăng ca) là 2000 sản phẩm/chuyền/ngày; định mức thưởng

là 2300 sản phẩm/chuyền/ngày. Nếu hoàn thành định mức khoán thì ngoài tiền lương

và tiền ăn giữa ca, người lao động mới được hưởng phụ cấp chuyên cần. Để trả đủ

định mức ấy, nhiều công nhân khác phải chấp nhận ăn trưa thật nhanh hay hạn chế vệ

sinh cá nhân và làm việc liên tục từ 8 - 10h/ ngày. Nếu không đủ định mức thì công

nhân bị cắt điểm chuyên cần và thu nhập.

92

Bên cạnh đó, công nhân nhà máy Nissei Electric. Hanoi tại KCN Bắc Thăng

Long, Đông Anh, Hà Nội cho biết: Định mức tăng ca cùng kỳ năm ngoái chỉ là 4500

sản phẩm/chuyền/ngày nhưng năm nay phải đạt 5000-6000 sản phẩm/chuyền/ngày.

Như vậy, công nhân phải làm cật lực hơn với năng suất lao động tăng từ 20 - 25%

mà lương chỉ tăng thêm 350.000/ tháng. Tuy nhiên, với định mức này nhiều công

nhân lành nghề vẫn làm không đủ sản lượng mà có nguy cơ trừ lương, trừ thưởng.

Tóm lại, lương tháng của người lao động nhận được không khá hơn trước đây trong

khi giá cả đã tăng gấp nhiều lần hơn thế.

Biểu đồ 3.3: Lý do chưa hài lòng của người lao động

Đơn vị tính: %

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

1. Lương thấp

9. Không hoặc ít hỗ trợ khi công nhân đau ốm

2. Chậm lương

10. Không hoặc ít quan tâm đến gia đình công nhân

3. Thiếu cơ hội thăng tiến

11. Công việc bấp bênh, không ổn định

4. Chế độ đãi ngộ thiếu công bằng

12. Thời gian tăng ca nhiều

5. Thiếu minh bạch, dân chủ

13. Chế độ bồi dưỡng (tiền, thưởng,…) khi tăng ca kém

6. Ít quan tâm đến công nhân

14. Không đảm bảo an toàn lao động

7. Không hỗ trợ chỗ ở cho công nhân

15. Môi trường lao động ô nhiễm ảnh hưởng không

8. Chế độ ăn trưa, ăn ca kém

tốt đến sức khỏe

Chú thích:

Từ bảng điều tra trên cho thấy, thu nhập bằng lương vẫn là mối quan tâm

chính của người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN, tiếp đó là cơ hội thăng

tiến trong quá trình làm việc của người lao động không được giới chủ tạo điều kiện.

Bên cạnh đó, một vấn đề đó là chủ DN ít quan tâm đến người lao động, đây cũng

93

chính là nguyên nhân dẫn tới khoảng cách lớn giữa chủ DN và người lao động và

đây cũng là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn đồng thời là tiền đề cho các cuộc đình

công, bãi công của người lao động.

Theo khảo sát của viện Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện mới đây: Việc

"ép" công nhân với định mức mới khi tăng lương giúp DN không phải lo quá nhiều

tiền để chi trả lương mới mà vẫn tính được bị các cơ quan chức năng "xử lý", việc

xử lý cũng không dễ bởi vì do pháp luật hiện không có quy định về định mức làm

việc tại các ngành mà do thoả thuận giữa đại diện của người lao động và DN và

được ghi rõ trong thoả ước lao động tập thể.

Thực tế cho thấy, sự gắn kết giữa DN với công nhân còn lỏng lẻo. Tại nhiều

DN, công nhân chưa tha thiết làm việc và không có được tâm lý ổn định, họ luôn

chuẩn bị tâm thế "nhảy việc" để kiếm mức thu nhập cao hơn. Trong khi lương chưa

tăng, nhưng theo quy luật thị trường, giá cả tăng kéo theo các chi phí khác tăng

theo, khiến đời sống công nhân đã khó khăn, lại chồng chất khó khăn.

Ngoài lợi ích về tiền lương, tiền thưởng cũng cần xem xét đến các lợi ích

khác của người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN.

Hầu hết các DNCVĐTNN có quy định về ngày nghỉ giữ nguyên lương cho

người lao động như sau: Nếu người lao động làm việc cho DN với thời gian từ 1 năm

trở lên và tỷ lệ tham gia công việc là trên 80% thì có quyền xin nghỉ 10 ngày phép có

lương. Theo luật không kể quy mô công ty lớn hay nhỏ, người công nhân có đủ điều

kiện trên có quyền xin nghỉ phép có lương vào bất kỳ lúc nào. Thời gian nghỉ phép sẽ

tăng dần lên theo thời gian người lao động làm việc cho DN. Cụ thể như sau: Thời

gian làm việc từ 1 năm đến 3 năm được nghỉ phép 10 ngày/năm, từ trên 3 năm đến 5

năm được nghỉ 12 ngày và từ 5 năm trở lên được nghỉ 15 ngày phép.

Nguyên nhân về LIKT vẫn là nguyên nhân đầu tiên, người lao động đình công

vì nhiều lý do, trong đó 80% liên quan trực tiếp đến chế độ tiền lương như mức lương

thấp, không phù hợp với giá cả sức lao động, tiền lương không phù hợp với công sức

mà họ bỏ ra. Bên cạnh đó, người sử dụng lao động còn không tăng lương theo cam

kết, kéo dài thời gian, trong khi giá cả, lạm phát tăng nhanh khiến người lao động gặp

khó khăn trong cuộc sống, nảy sinh mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng

lao động, những người lao động liên kết nhau lại đấu tranh đòi tăng lương.

94

Biểu đồ 3.4: Nguyên nhân đình công của người lao động

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Chú thích

1. Lương thấp

5. Phạt trừ lương, thưởng khi vi phạm

2.Thường phải tăng cường độ lao động

6. Thường phải tăng ca

3. Chế độ đãi ngộ kém

7. Lý do khác

4. Bị ép thời gian làm việc

Đơn vị tính: %

Từ bảng điều tra trên thấy rằng: nguyên nhân chính dẫn đến đình công của

người lao động trong các DNCVĐTNN đó là tiền lương, là thường xuyên phải tăng

cường độ lao động, là chế độ đãi ngộ kém, là bị ép thời gian làm việc. Những nguyên

nhân đó đều liên quan trực tiếp tới LIKT của người lao động, do đó cần đưa ra các giải

pháp để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chủ DNCVĐTNN và người lao động.

3.2.2.2. Các chế độ đãi ngộ của chủ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài đối với người lao động

Phần lớn DNCVĐTNN đóng trên địa bàn thành phố Hà Nội, đã có chế độ đãi

ngộ người lao động ở mức độ nhất định, thể hiện ở các mặt như: Môi trường tự

nhiên, môi trường xã hội, đào tạo tay nghề, sinh hoạt [Phụ lục 3].

Qua khảo sát thực tiễn của tác giả cho thấy: Chế độ đãi ngộ của chủ

DNCVĐTNN của Nhật Bản đối với người lao động tương đối tốt so với DN mà chủ

đầu tư là các nước khác, đây là mô hình cần nhân rộng trong các DNCVĐTNN

95

trong KCN ở thành phố Hà Nội. Trong quá trình làm việc cho chủ DN nếu làm tốt

đúng quy định thì người lao động sẽ được hưởng tiền lương, tiền thưởng theo sức

lao động và thời gian lao động của mình. Tuy nhiên quá trình làm việc công nghiệp

hiện nay bên cạnh lợi ích vật chất thì người lao động cần được đảm bảo cả về môi

trường tự nhiên và môi trường xã hội. Nói chung các DNCVĐTNN nếu áp dụng các

máy móc thiết bị tiên tiến hiện đại, là những tư liệu lao động tốt thì người lao động

có lợi trong quá trình sản xuất. Vì vậy, người lao động yên tâm sản xuất, phát huy

khả năng lao động của mình, thể hiện:

Về môi trường tự nhiên: Các chủ DNCVĐTNN đã chú trọng đến điều kiện

làm việc của người lao động tại nhà máy như tiếng ồn, khói, bụi, đều nằm trong

phạm vi cho phép. Làm trong môi trường như vậy, không gây ảnh hưởng tới sức

khỏe của người lao động, tạo ra năng suất lao động cao cho DN.

Về môi trường xã hội: Một số DN đã quan tâm đến đời sống của người lao

động, có xe đưa đón nhân viên hàng ngày hoặc xây dựng những khu nhà tập thể cho

công nhân nghỉ giữa ca.

Về đào tạo nâng cao tay nghề: Từ góc độ coi các chi phí đào tạo là một phần

giá trị sức lao động, để người công nhân có một nghề nghiệp chuyên môn nhất định,

có thể coi những khóa học do DNCVĐTNN tổ chức, người lao động được nâng cao

trình độ chuyên môn, tay nghề nhằm đáp ứng được công việc hiện tại, đồng thời sẵn

sàng đảm nhiệm các công việc đòi hỏi trình độ cao hơn. Qua đó, người lao động

luôn có cơ hội phấn đấu nâng bậc lương, đảm bảo thu nhập ngày càng cao.

Đối với DNCVĐTNN: Hằng năm đa số các DNCVĐTNN có kế hoạch đào

tạo cho người lao động, một mặt, tổ chức các lớp đào tạo nâng cao tay nghề, nâng

cao ý thức trách nhiệm trong việc đảm bảo chất lượng sản phẩm cho toàn thể công

nhân tại DNCVĐTNN do các chuyên gia nước ngoài giảng dạy. Mặt khác,

DNCVĐTNN cũng chú trọng đào tạo lại và đào tạo nâng cao cho đội ngũ các cấp

quản trị, các chuyên gia trong từng lĩnh vực trong và ngoài nước, tạo niềm tin cho

họ trong quá trình bổ nhiệm các cấp quản trị cao hơn.

Về đời sống tinh thần: Tuy thời gian làm việc tuân thủ tác phong công

nghiệp nhưng các DNCVĐTNN đều quan tâm đến đời sống tinh thần của người lao

động. Hầu hết các DNCVĐTNN tại Hà Nội như công ty Canon và Công ty Yamaha

96

Motor đều có phòng sinh hoạt tập thể, là nơi để người lao động giao lưu văn hóa

văn nghệ trong những ngày lễ, tết. Ngoài ra, các DNCVĐTNN còn xây dựng các

khu hoạt động thể thao, rèn luyện thể chất, câu lạc bộ báo chí, trong các hoạt động

trên luôn có sự tham gia nhiệt tình của giới chủ DN.

Về hoạt động công đoàn: Trong BLLĐ đã quy định ở chương 13 về chức

năng nhiệm vụ của công đoàn. Bất cứ DNCVĐTNN nào khi được cấp giấy phép

kinh doanh đều phải thành lập tổ chức công đoàn, chậm nhất là sau 6 tháng. Thực tế

cho thấy, một số DNCVĐTNN hoạt động rất lâu nhưng không thành lập công đoàn

điển hình như công ty Coldtech là vi phạm luật lao động đã quy định. Bên cạnh đó,

một số các tổ chức công đoàn trong DNCVĐTNN không những thực hiện tốt vai trò

bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động mà còn tích cực trong việc xây dựng và

giám sát thực hiện đầy đủ các điều khoản trong Thỏa ước lao động tập thể đối với

chủ DN. Ngoài ra, tổ chức công đoàn còn đứng ra tổ chức cho người lao động được

tham quan nghỉ mát mỗi năm một lần. Đây là mô hình của phần lớn các công ty có

vốn Nhật Bản đầu tư với mục đích làm ăn lâu dài hai bên cùng có lợi tại Việt Nam.

Biểu 3.5: Các tổ chức đại diện đấu tranh cho người lao động trong các

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

97

Phần lớn các cuộc đình công, bãi công của người lao động trong các

DNCVĐTNN thì đa phần tổ chức công đoàn sẽ đứng ra hòa giải và bảo vệ quyền

lợi và lợi ích cho người lao động.

Như vậy, ở nơi nào lợi ích như tiền lương, tiền thưởng các loại phụ cấp đã

được đảm bảo, người lao động yên tâm làm việc. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn

một số DNCVĐTNN vẫn chưa thật sự quan tâm đến người lao động, như không

nâng lương đúng kỳ hạn cho người lao động, cố tình lách luật để sa thải người

lao động… Do đó, cần tìm ra những vấn đề tồn tại đang diễn ra ở một số

DNCVĐTNN và các biện pháp khắc phục nhằm bảo vệ LIKT chính đáng của

người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN. Mặt khác, các DNCVĐTNN vì

mục đích lợi nhuận đặt ra những quy định không phù hợp với văn hóa Việt Nam,

áp dụng chính sách tại nơi làm việc không rõ ràng, xử lý kỷ luật, sa thải lao động

không đúng qui định là nguyên nhân gây ra các cuộc đình công, bãi công, tranh

chấp lao động.

3.2.2.3. Về nhà ở cho người lao động

Hàng năm, số lao động làm việc trong các KCN trên địa bàn Hà Nội đã

đi vào hoạt động tăng nhanh, chỉ tính năm 2006 gấp 5,6 lần năm 2001, năm

2012 tăng gấp đôi năm 2006. Tập trung đông nhất ở KCN Bắc Thăng Long với

60.581 người, chiếm 33% tổng số lao động trong các KCN trên địa bàn. Trong

đó, chủ yếu là lao động trẻ, lao động nữ và lao động di cư ở độ tuổi từ 18 - 35

tuổi [99]. Do đặc thù địa bàn KCN là rất ít nhà ở cho công nhân, nên phần lớn

công nhân phải đi thuê nhà trọ trong các làng, xã lân cận. Hằng năm, với một

số lượng người ngoại tỉnh (công nhân) ngày càng tăng, lực lượng công an

huyện, xã rất khó khăn trong việc quản lý địa bàn, không nắm rõ được nhân

khẩu trong các khu nhà trọ...

Qua khảo sát của tác giả luận án tại các DNCVĐTNN trên địa bàn thành

phố Hà Nội thì vấn đề nhà ở của người lao động thực sự chưa được các chủ DN

quan tâm.

98

Biểu đồ 3.6: Hoàn cảnh cư trú của người lao động trong các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Hà Nội

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Do DNCVĐTNN chưa có hệ thống nhà ở cho công nhân nên tỷ lệ người lao

động phần lớn là đi thuê nhà trọ chiếm 70,8% , người lao động phải đi thuê nhà gần

DN nơi mình làm việc.

Theo số liệu thống kê của Vụ quản lý các khu kinh tế (Bộ kế hoạch và đầu

tư), hiện nay số người lao động làm việc trực tiếp tại các KCN là gần 2 triệu,

ngoài ra còn hàng triệu lao động làm việc tại các xí nghiệp, cơ sở sản xuất thuộc

các cụm công nghiệp. Nhưng chỉ khoảng 20% công nhân là có việc làm ổn định,

còn khoảng 80% [101] đang phải đi thuê trong điều kiện ăn ở tồi tệ. Do chỗ ở tạm

bợ, không đảm bảo điều kiện sống tối thiểu, đã gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và

đời sống tinh thần của người lao động, đồng thời làm xáo trộn tình hình TTATXH

tại nhiều KCN.

Theo khảo sát của tác giả cho thấy: Ngoài thời gian làm việc căng thẳng ở

nhà máy thì cuộc sống của công nhân còn rất khó khăn, lương thấp, thời gian làm

việc kéo dài, cường độ lao động tăng, không có cơ hội phát triển nghề nghiệp…

Trong các DNCVĐTNN nằm trên địa bàn thành phố Hà Nội điển hình nhất là KCN

Bắc Thăng Long tại xã Kim Chung huyện Đông Anh, Hà Nội đã xây dựng và đưa

99

vào hoạt động khu nhà chung cư cho công nhân làm việc tại các DNCVĐTNN

trong KCN đó thuê làm nhà ở. Khu chung cư này được đưa vào sử dụng từ năm

2007, có 20 dãy nhà 5 tầng, 03 tòa 15 tầng tổng là 1008 phòng, có khoảng 3.200

công nhân thuê ở trong khu nhà ở xã hội. Đây cũng là mô hình nhà ở dành cho công

nhân mà KCN Bắc Thăng Long nói riêng và Hà Nội nói chung xây dựng nhằm giải

quyết và đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người lao động. Nhưng với số lượng phòng

hiện nay chỉ giải quyết được hơn 3.200/200.000 chỗ ở lao động (đã giải quyết được

16% chỗ ở cho người lao động) số còn lại (84%) người lao động phải tự đi thuê nhà

bên ngoài rất khó khăn [100]. Đây là một vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến LIKT

người lao động và là một trong những nguyên nhân dẫn tới đình công, bãi công gây

mất trật tự nơi công cộng.

Hiện nay, vấn đề nhà ở cho công nhân còn nhiều bất cập thể hiện:

Chất lượng nhà trọ cho công nhân thuê quanh KCN với chất lượng thấp,

không đảm bảo điều kiện vệ sinh, môi trường và sức khỏe cho người lao động. Hầu

hết không đảm bảo các chỉ tiêu như mật độ xây dựng, không có chỗ nấu ăn, chỗ giặt

nằm trong phạm vi phòng ở, các phòng thiếu ánh sáng, không có diện tích cây xanh,

không đảm bảo về diện tích bình quân đầu người, không có trần chống nóng; không

đảm bảo an toàn về phòng cháy.., ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, năng suất và

chất lượng lao động và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp.

Ngoài những mặt hạn chế trên, hiện nay các DNCVĐTNN phần lớn đều nằm

trong các KCN nên nhà ở cho người lao động đang là vấn đề bức xúc mà hầu hết

các DN chưa giải quyết được. Ở Hà Nội có 18 KCN, phải cần đến 160 ngàn chỗ ở

cho công nhân nhưng chỉ đáp ứng mới được 3.000 chỗ ở (khoảng 2%). Theo báo

cáo của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, hiện mới có khoảng 2% trong số hơn 1

triệu công nhân tại các KCN, của cả nước được thuê nhà do chủ DN và tổ chức

công đoàn xây dựng. Còn lại hơn 90% phải sống trong các khu nhà tạm bợ, thiếu

thốn, không đảm bảo an ninh trật tự, đời sống văn hóa, tinh thần nghèo nàn dễ phát

sinh các tệ nạn xã hội [100].

Thực tế sau sự đồ sộ, hiện đại của các KCN là một thế giới hoàn toàn trái

ngược, đó là các khu nhà ở chật hẹp, lộn xộn không theo một quy hoạch nào của

công nhân đang làm việc tại chính những KCN. Hầu hết các khu nhà trọ chỉ rộng

100

10-15m2, mái lợp phibrôxmăng, dột và ẩm thấp khi trời mưa, khi trời nắng lại

không khác gì lò nung, điện nước thiếu thốn, không đảm bảo tiện nghi sinh hoạt

bình thường và thời gian thuê nhà không ổn định. Họ cũng không mong gì hơn có

một nơi để "đặt lưng sau một ngày quần quật", bởi đồng lương chừng gần bốn triệu

đồng họ không được phép lựa chọn gì hơn. Muốn có thêm thu nhập người lao động

phải làm thêm, có thể cuộc sống mới tạm ổn. Công nhân phải sống tằn tiện thì cuối

tháng mới tiết kiệm 300.000 đồng - 500.000 đồng gửi về gia đình.

Tại các xã lân cận ở KCN Bắc Thăng Long xung quanh khu vực có khoảng

350 hộ có nhà cho thuê với số công nhân thuê khoảng 4.000 người (bằng 43,8% dân số toàn xã), diện tích ở bình quân 5m2/một người. Theo số liệu của Cục thống kê Hà

Nội, hàng năm, số lao động làm việc trong các KCN của Hà Nội đã đi vào hoạt

động tăng nhanh, chỉ tính năm 2010 gấp 5,6 lần năm 2005, tập trung đông nhất ở

KCN Bắc Thăng Long với 50.581 người, chiếm 50% tổng số lao động trong các

KCN trên địa bàn. Trong đó, chủ yếu là lao động trẻ, lao động nữ và lao động di cư

ở độ tuổi từ 18 đến 35 làm việc trong các DN. Do đó hiện nay nhà ở cho người lao

động là một vấn đề bức xúc, quan trọng cần được quan tâm và giải quyết [100].

3.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC HIỆN LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO

ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA

BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3.3.1. Những kết quả đạt được

Trong những năm vừa qua, với hệ thống chính sách, pháp luật đúng đắn của

Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài,

nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã thực hiện đầu tư vào địa bàn thành phố Hà Nội, kết

quả của việc đầu tư này đã mang lại nhiều thành tựu đáng ghi nhận trong thực hiện

LIKT của người lao động, góp phần cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn

thành phố Hà Nội. Cụ thể:

Thứ nhất: Giải quyết việc làm cho người lao động

Trước hết cùng với việc thu hút đầu tư, nhiều DNCVĐTNN đi vào hoạt

động trên địa bàn thành phố Hà Nội đã thu hút được một khối lượng rất lớn lao

động vào làm việc ở đây, việc thu hút lao động vào làm việc một mặt đã giải quyết

được những nhu cầu cấp bách bức xúc về việc làm đang đặt ra, góp phần làm bớt

101

nhu cầu căng thẳng về việc làm đang đặt ra ở nước ta và địa bàn thành phố Hà Nội

nói riêng trong tình hình hiện nay.

Thứ hai: Thu nhập của người lao động được tăng lên và khá ổn định

Thông qua việc lao động trong các DNCVĐTNN, người lao động đã có

được nguồn thu nhập khá ổn định và LIKT của những người lao động đã bước đầu

được thực hiện. Mặc dù mức thu nhập của những người lao động làm việc trong các

DNCVĐTNN còn ở mức thấp, song trong hoàn cảnh tình hình thực tế so với nhu cầu

chung của xã hội thì những khoản thu nhập của những người lao động đã góp phần

vào việc đáp ứng nhu cầu chung về cuộc sống trong xã hội khi nền kinh tế nước ta

chưa phát triển ở trình độ cao. Hơn nữa, không phải tất cả những người lao động làm

việc trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội đều có thu nhập thấp, đã

có nhiều DN trả công cho những người lao động ở mức cao so với mức thu nhập

trung bình chung của xã hội, đặc biệt đối với những người lao động có trình độ tay

nghề cao, làm việc trong các lĩnh vực đòi hỏi cần có sự hiểu biết nhiều về tri thức,

khoa học công nghệ.

Ngoài tiền công là nguồn thu nhập chính nhiều DNCVĐTNN cũng thực hiện

rộng rãi các hình thức trả thưởng để khuyến khích người lao động làm việc hăng

say, nhiệt tình có hiệu quả cho các chủ DN, LIKT của người lao động ở nhiều

DNCVĐTNN đã phản ánh thực chất hiệu quả lao động của họ đây cũng là sự thể

hiện rõ nguyên tắc phân phối theo mức độ đóng góp và cống hiến của những người

lao động. Từ đó khuyến khích, khích lệ những người lao động cần phải không

ngừng nâng cao trình độ tay nghề để mang lại hiệu quả kinh tế cho các chủ DN và

từ đó lợi ích của họ sẽ được đảm bảo hơn.

Thứ ba: Đời sống của người lao động được cải thiện

Trên cơ sở mức thu nhập của những lao động ở nhiều DNCVĐTNN có phần

cải thiện trong thời gian gần đây, đặc biệt là những lao động làm việc trong các DN

có đầu tư của Nhật Bản như Công ty Panasonic, Công ty TNHH HAL 3 Việt Nam.

Người lao động làm việc trong các DN này với mức lương trung bình là 7 triệu

đồng, nhiều người đã tiết kiệm được những khoản tiền gửi về cho gia đình, hoặc

mua sắm được những đồ dùng sinh hoạt đáp ứng nhu cầu cuộc sống của cá nhân và

gia đình. Đó là những thành tựu đáng ghi nhận những mặt tích cực trong việc thực

102

hiện LIKT cho những người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành

phố Hà Nội.

Thứ tư: Môi trường và điều kiện làm việc của người lao động được ngày

càng được cải thiện

Vì LIKT trực tiếp mà người lao động được hưởng, người lao động ở nhiều

DNCVĐTNN cũng đã bước đầu được các chủ DN quan tâm tới môi trường và điều

kiện làm việc. Bên cạnh các DNCVĐTNN có mức tiền công, tiền thưởng trả cho

người lao động quá thấp, không đảm bảo việc tái sản xuất sức lao động thì cũng có

nhiều DNCVĐTNN có mức tiền thưởng khá cao như Công ty TTHH HAL 3 Việt

Nam 100% vốn của Nhật Bản, chuyên sản xuất khuôn đúc và đúc nhôm cho ngành

ô tô đã thưởng 3 tháng lương cho người lao động vào dịp cuối năm. Ngoài việc

quan tâm tới đời sống vật chất, cuộc sống tinh thần và sự quan tâm tới gia đình,

người thân những người lao động cũng có bước đầu một số các DNCVĐTNN quan

tâm, hàng năm công ty đều tổ chức thăm quan, du lịch cho người lao động. Những

động thái này có tác dụng và có ý nghĩa to lớn đối với những người lao động làm

việc trong các DNCVĐTNN.

Nhìn chung mức tiền công, tiền thưởng mà các chủ DN trả cho người lao

động đã từng bước được nâng lên theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội về mức lương tối thiểu, nhờ đó mức sống và chất lượng lao động và gia đình

của họ cũng từng bước được cải thiện theo xu thế phát triển chung của xã hội. Đời

sống vật chất và tinh thần cũng như chất lượng cuộc sống của người lao động từng

bước được nâng lên ở nhiều DNCVĐTNN đã tạo điều kiện cho người lao động yên

tâm hơn gắn bó với DN. Trên cơ sở đó, giúp DNCVĐTNN có điều kiện để phát

triển sản xuất, góp phần ổn định xã hội, ổn định an ninh trật tự trên địa bàn Thủ đô.

3.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân

3.3.2.1. Những hạn chế

Một là: tiền lương, tiền thưởng còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu tối thiểu của

người lao động

Với mức lương hiện nay người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN

gần 4 triệu đồng/người/tháng, để có đủ năng lượng cho một ca lao động công

nghiệp, trung bình người công nhân phải có được và được bù đắp từ 3.500 - 4000

103

calo. Với mức giá sinh hoạt hiện nay ở Thủ đô, trung bình tiền lương để đạt mức

sống ấy phải là 5.000.000 - 5.500.000đ/người/tháng để đủ tái sản xuất sức lao động.

Nếu trước đây người lao động đình công đòi quyền của mình thì từ năm 2006 trở lại

đây, người lao động đình công có sự thay đổi từ đòi quyền sang đòi lợi ích. Các

cuộc đình công đều có chung mục đích đòi DN giải quyết: Tiền lương, tiền thưởng,

thời gian làm việc, nghỉ ngơi, bảo hiểm xã hội, định mức lao động và nguyên nhân

từ LIKT vẫn là nguyên nhân đầu tiên.

Hai là: Chủ DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội chưa quan tâm

thỏa đáng đến quyền lợi của người lao động

Về phụ cấp ăn trưa giữa ca cho người lao động: Nhiều DNCVĐTNN đã tổ

chức bữa ăn ca cho người lao động, tuy nhiên nhìn chung chất lượng bữa ăn còn

quá thấp, bữa ăn ca của người lao động chưa được giới chủ thật sự quan tâm. Ở một

số bếp tập thể suất ăn của người lao động chưa đảm bảo dinh dưỡng chỉ có

18.000đ/suất, đôi khi không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong điều kiện

nắng nóng, dẫn tới người lao động bị ngộ độc thức ăn phải đi cấp cứu. Chất lượng

bữa ăn không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và còn bị cắt xén khẩu phần, đây

cũng là hình thức xâm hại tới lợi ích của người lao động. Với suất ăn có giá hơn 10

nghìn đồng/bữa, nhưng trong bối cảnh giá cả tăng lên thì không khó hiểu nếu như

khẩu phần ăn bị cắt giảm. Người lao động mong muốn: không dám yêu cầu ngon,

bổ chỉ cần no và bảo đảm vệ sinh. Chất lượng bữa ăn với công nhân thực ra là vấn

đề không nhỏ, vì bữa ăn tại công ty là bữa ăn chính trong ngày.

Về chế độ thời gian lao động, môi trường làm việc, bảo vệ lao động đối với

người lao động: Hiện nay, một số DN vẫn còn sử dụng các hình thức vi phạm luật

lao động; kéo dài thời gian thử việc. Như DN đưa ra nhu cầu tuyển dụng khá chung

chung: Người lao động phải thử việc 3 tháng mới trúng tuyển, thậm chí có công ty

yêu cầu người sử dụng phải thử việc 6 tháng khi được tiếp nhận vào vị trí có trình

độ đại học như kế toán, nhân viên văn phòng (trong khi đó, BLLĐ quy định thử

việc không quá 60 ngày trình độ từ Cao đẳng trở lên). Ngoài những vi phạm về thời

gian thử việc, mức lương, các DN còn vi phạm ở các hình thức khác như: Không ký

hợp đồng lao động hoặc có ký hợp đồng lao động nhưng với những điều khoản

104

không rõ ràng; như tham gia đóng bảo hiểm xã hội; không tính lương khi người lao

động làm thêm giờ hay đi làm vào các ngày nghỉ, lễ, tết; phương tiện bảo hộ lao

động trang bị sơ sài, không đảm bảo điều kiện làm việc cho người lao động.

Về kéo dài thời gian thử việc: Theo BLLĐ tại Điều 26 quy định: Người sử

dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ

của hai bên trong thời gian thử việc, nếu có thỏa thuận về việc làm thử thì các bên

có thể giao kết hợp đồng thử việc [78, tr.24]. Điều 27 ghi rõ thời gian thử việc:

Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn,

kỹ thuật từ cao đẳng trở lên; không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh

nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp,

công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ; không quá 06 ngày làm việc đối với công

việc khác [78, tr.24-25].

Nhiều DN đã lợi dụng kẽ hở của BLLĐ để cố tình trì hoãn, vi phạm hoặc thực

hiện không đúng Luật lao động như: kéo dài thời gian thử việc, giao kết hợp đồng lao

động sai luật định, bắt buộc người lao động làm thêm giờ tùy tiện, định mức lao động

quá sức, không thực hiện nâng lương và trả thưởng trong dịp cuối năm, vi phạm luật

chi trả tiền lương làm thêm giờ, tiền phụ cấp làm ca đêm, phụ cấp độc hại.., khi

người lao động quá bức xúc thì dễ dẫn đến đình công tự phát.

Về cơ cấu giới tính và an sinh xã hội: Trong các DNCVĐTNN thì lao động

nữ chiếm đa số, nhiều vấn đề liên quan đến bảo vệ sức khỏe cho chị em không được

các chủ DN quan tâm. Một vấn đề nổi cộm cần được các chủ DN quan tâm hiện nay

của người lao động, đó là tình trạng mất cân đối giới tính trong các KCN. Do các

nhà đầu tư đều tập trung vào các ngành chế biến, dệt may, da giầy, nhằm khai thác

lao động phổ thông mà đa số là lao động nữ. Điều đó, làm mất cân bằng giới trong

KCN. Bên cạnh đó, do điều kiện làm việc căng thẳng trong các KCN tập trung, sau

khi tan ca họ chỉ về nhà trọ để nghỉ ngơi lấy lại sức khoẻ, không có thời gian và cơ

hội tiếp xúc với bên ngoài, dẫn tới nhiều lao động nữ đã lớn tuổi nhưng chưa xây

dựng gia đình hoặc ít có cơ hội để kết bạn... Với mức thu nhập thấp và điều kiện

nhà ở khó khăn hiện nay, người lao động rất thiếu điều kiện để thỏa mãn nhu cầu

vui chơi, giải trí, thể thao, nghỉ ngơi, học tập, giao lưu tình cảm. Đặc biệt, trong các

KCN có số lao động nữ nhiều, vấn đề hôn nhân và gia đình trở nên bức xúc nhưng

chưa được các DN, cơ quan, đoàn thể quan tâm thỏa đáng.

105

Như vậy, người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN nói riêng vẫn chưa

được quan tâm đúng mức. Đặc biệt là vấn đề nhà ở cho người lao động, vì không an

cư, khó "lập nghiệp", họ vẫn phải ở thuê trong những ngôi nhà không đảm bảo sức

khỏe. Bên cạnh đó, yếu tố tinh thần cũng rất quan trọng nhưng cũng chưa được quan

tâm xác đáng, như phim ảnh, báo chí, giao lưu văn hóa văn nghệ, đặc biệt yếu tố giới

tính của người lao động. Do đó, cần có những biện pháp nhằm cải thiện đời sống vật

chất cũng như tinh thần, để người lao động yên tâm làm việc cho DN.

- Ba là: Chất lượng nhà ở và đời sống tinh thần của người lao động

DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội chưa được bảo đảm

Về chất lượng nhà ở cho người lao động còn thấp: Sau thời gian làm việc

căng thẳng tại DN, người lao động cần có thời gian để nghỉ ngơi phục hồi sức khỏe

nhằm tái sản xuất ra sức lao động. Phần lớn người lao động làm việc trong các

DNCVĐTNN đều ở các khu nhà trọ chật chội, nóng bức về mùa hè, lạnh về mùa

đông, ẩm mốc, rất khó khăn thiếu thốn cho sinh hoạt hàng ngày.

Chưa quan tâm đến đời sống tinh thần của người lao động: Bên cạnh nhu cầu

vật chất là cần thiết đối với người lao động thì nhu cầu tinh thần cũng đóng vai trò

rất quan trọng. Trong nhiều DNCVĐTNN nhu cầu tinh thần thiết yếu của người lao

động không được thỏa mãn, nhiều công nhân chỉ biết "lầm lũi" với công việc theo

thời gian biểu lặp đi lặp lại: làm - ăn - ngủ.

Hiện nay, thành phố Hà Nội có 19 KCN - khu chế xuất với hơn 200.000 công

nhân, nhưng vấn đề chăm sóc đời sống cho người lao động tại các KCN sau giờ làm

việc như khu vui chơi giải trí, nhà văn hóa, thư viện, đặc biệt là chợ - nơi cung cấp

những nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người lao động vẫn chưa được quan tâm.

Điển hình như KCN Bắc Thăng Long (xã Kim Chung, Đông Anh) cũng chỉ có một

chợ tạm của thôn Bầu, nhếch nhác, bày bán những mặt hàng không rõ nguồn gốc, rẻ

tiền, không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Cách cầu Thăng Long khoảng 2km,

chợ tạm thôn Bầu được những công nhân ở đây ví là "chợ vòm ở Nga" với khoảng

40.000 người/1 chợ tạm, bởi mỗi ngày nó là nguồn cung cấp nhu yếu phẩm cho gần

20.000 lao động của KCN Bắc Thăng Long và trên 10.000 dân của xã Kim Chung.

Việc hình thành chợ tự phát tại đây là do các nhà quy hoạch KCN đã "quên" mất việc

106

xây dựng chợ phục vụ đời sống người lao động, sau giờ làm việc, hàng nghìn lao

động không biết mua thực phẩm ở đâu để phục vụ cuộc sống. Bên cạnh đó là thiếu

nhà trẻ trường học cho con em công nhân làm việc tại các KCN…

Như vậy, vẫn còn một số DNCVĐTNN vẫn chưa thật sự quan tâm đến người

lao động, như không nâng lương đúng kỳ hạn cho người lao động, cố tình lách luật

để sa thải người lao động… Do đó, cần tìm ra những vấn đề tồn tại đang diễn ra ở

một số DNCVĐTNN và các biện pháp khắc phục nhằm bảo đảm LIKT chính đáng

của người lao động trong các DNCVĐTNN. Mặt khác, các DNCVĐTNN vì mục

đích lợi nhuận đặt ra những quy định không phù hợp với văn hóa Việt Nam, áp

dụng chính sách tại nơi làm việc không rõ ràng, xử lý kỷ luật, sa thải lao động

không đúng quy định.

3.3.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế

Thứ nhất: Hệ thống cơ chế, chính sách bảo đảm LIKT của người lao động

chưa thực sự phù hợp, hoàn thiện. Chính sách tiền lương của Nhà nước chưa có cơ

chế điều tiết quan hệ giữa các ngành theo mức độ phức tạp của người lao động, dẫn

đến DNCVĐTNN ký kết hợp đồng lao động với người lao động không có sự khác

biệt về tiền lương giữa các ngành. Nhà nước còn thiếu cơ chế, thông tin quản lý thu

nhập trong các DNCVĐTNN; các biện pháp chế tài của Nhà nước chưa đủ mạnh để

buộc DN phải thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về thu nhập, dẫn đến

LIKT của người lao động chưa được bảo đảm, đặc biệt trong việc trả lương làm

thêm giờ, lao động nặng nhọc, nguy hiểm… Các văn bản pháp luật về đầu tư nước

ngoài và phát triển KCN còn thiếu đồng bộ, chưa theo kịp với sự phát triển của nền

kinh tế. Nhiều DNCVĐTNN đã "lách luật" để vi phạm lợi ích người lao động nhằm

thu lợi nhuận ngày càng cao.

Thứ hai: Đội ngũ lao động của Việt Nam còn yếu về trình độ năng lực

chuyên môn, rất nhiều người có trình độ học vấn thấp, ít được trang bị kiến thức

pháp luật về quyền và nghĩa vụ lao động, trình độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng

làm việc theo nhóm, chưa đáp ứng được yêu cầu SXKD cộng với ý thức chấp hành

kỷ luật, trong quá trình sản xuất vẫn còn thể hiện "tác phong nông nghiệp", môi

trường công nghệ, bị gò bó trong kỷ luật lao động công nghiệp, thu nhập thấp,

107

quyền lợi bị vi phạm nên dễ bị kích động dẫn tới phát sinh mâu thuẫn. Phần lớn

những người lao động do xuất thân từ nông thôn, chưa quen tác phong công nghiệp

nên hiện nay nhiều công nhân vẫn quen cách hành xử tùy tiện, thích thì làm, thích

nghỉ thì nghỉ. Bởi vậy, nâng cao nhận thức, rèn luyện tác phong công nghiệp cho

những "người thợ nông dân" chính là một nhiệm vụ cấp bách liên quan nhằm xây

dựng đội ngũ công nhân lớn mạnh đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.

Trong quá trình làm việc ở một số công DN dệt may công nhân không đeo

khẩu trang vì trời nóng, mang khẩu trang vào rất khó chịu. Đối với các ngành thủy

sản, tiếp xúc hóa chất, ngành y tế khuyến cáo phải mang găng tay để tránh các bệnh

khớp hay hóa chất độc hại gây ảnh hưởng đến da nhưng công nhân vẫn không thực

hiện vì sợ vướng víu, làm giảm năng suất. Tại những nơi sản xuất có nhiều tiếng ồn

khi thấy cán bộ kiểm tra đến, công nhân đeo nút chống ồn vào nhưng khi cán bộ

quay lưng đi họ lại tháo ra. Nội quy của công ty là mang khẩu trang, buộc tóc gọn

gàng. Chủ yếu để đảm bảo an toàn cho chính người lao động, hơn nữa khi trang

phục gọn gàng thì năng suất, chất lượng sản phẩm cũng tăng lên. Tuy vậy, vẫn có

nhiều người lao động không thực hiện.

Thứ ba: Các tổ chức công đoàn cơ sở chưa phát huy hết được vai trò bảo vệ

quyền lợi chính đáng của người lao động. Trong quá trình hoạt động công đoàn cơ

sở trong DNCVĐTNN, đặt công đoàn trước mối quan hệ, DN, công đoàn và người

lao động, đã đặt cán bộ công đoàn trước sự lựa chọn khó khăn: Bảo vệ người lao

động hay tự bảo vệ mình? Một vấn đề đặt ra, nếu công đoàn cơ sở và DN không

chung tiếng nói thì khó tạo dựng được mối quan hệ lao động hài hòa trong DN và

công đoàn khó bảo vệ được quyền lợi người lao động. Hầu hết trong các

DNCVĐTNN cán bộ công đoàn cơ sở là kiêm nhiệm, hoạt động chủ yếu ngoài giờ,

hiếm có thời gian tập huấn nghiệp vụ công đoàn. Chủ DN không mặn mà với công

đoàn và chưa tạo điều kiện cho công đoàn hoạt động, còn người lao động cũng chưa

thiết tha với công đoàn, kinh phí hoạt động công đoàn hạn hẹp, dẫn tới là việc gì cũng

theo cơ chế xin cho. Thông thường, chủ DNCVĐTNN quan niệm cán bộ công đoàn

hưởng lương của họ thì không được phép yêu sách DN vì quyền lợi của người lao

động. Thực tế, nhiều cán bộ công đoàn chỉ vì nói thẳng, nói thật, để bảo vệ quyền lợi

108

của người lao động, không nghe theo sự áp đặt của lãnh đạo, nên đã bị giám đốc DN

trù úm, như tìm mọi cách vô hiệu hóa, nhiều lần buộc thuyên chuyển công việc với

mức lương ngày càng giảm, không được xét tăng lương và xét thưởng. Cần phải có

cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn khi bị chủ DN trù úm, sa thải.

Một số tổ chức công đoàn chưa thật sự có tiếng nói trong DN và chưa bảo vệ

được quyền lợi, lợi ích cho lao động, dẫn tới các cuộc đình công, bãi công của công

nhân trong các KCN. Công đoàn không phát huy được khả năng của mình bởi

quyền lợi của công đoàn gắn liền với quyền lợi của chủ sử dụng lao động, đặc biệt

là nhiều DNCVĐTNN vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tổ chức công đoàn nên chưa

tạo điều kiện thuận lợi cho công đoàn được thành lập. Thậm chí có trường hợp cán

bộ công đoàn cơ sở vì đứng ra bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động mà bị

chủ DN chấm dứt hợp đồng lao động, còn với công đoàn cấp trên cơ sở thì với cơ

chế như hiện nay, cấp này rất khó tiếp cận với người lao động. Một số các cuộc đình

công, bãi công khi đã xảy ra, công đoàn chưa kịp thời phối kết hợp với các cơ quan

chức năng, đặc biệt là với đồn Cảnh sát trong KCN, dẫn tới lợi ích người lao động

bị xâm hại, đồng thời gây mất ổn định TTATXH trên địa bàn.

Thứ tư: Tăng lượng lao động trong các DNCVĐTNN dẫn đến vượt quá khả

năng quản lý của các cơ quan chức năng gây mất TTATXH trên địa bàn, thể hiện

các loại tệ nạn ngày càng gia tăng, như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm... Bên

cạnh đó, số lượng lao động tạm trú với số lượng lớn, cũng gây khó khăn cho công

tác quản lý nhân khẩu, hộ khẩu trên địa bàn.

Thứ năm: Các DNCVĐTNN đầu tư vào thành phố Hà Nội đều nhằm mục

đích hướng tới thu lợi nhuận ngày càng cao. Để tối đa hóa lợi nhuận buộc các

nhà đầu tư phải giảm chi phí sản xuất, trong đó chủ DNCVĐTNN dùng cách tận

dụng quá mức cho phép sức lao động của công nhân làm thuê, hạn chế tới mức

thấp nhất các chi phí đảm bảo cho điều kiện lao động tối thiểu như: Nhà xưởng,

môi trường, tiếng ồn...

3.3.3. Những vấn đề đặt ra về lợi ích kinh tế của người lao động trong

các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Hội

Lợi ích kinh tế của người lao động chưa được bảo đảm, dẫn tới nhiều tác

109

động xấu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trước

hết nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất tinh thần của người lao động và gia

đình họ. Do xung đột lợi ích giữa giới chủ và người lao động, các cuộc đình công

thường xuyên xảy ra ở DNCVĐTNN, phần lớn các cuộc đình công chủ yếu đều

xoay quanh những vấn đề cần giải quyết như: Tăng lương, tăng phụ cấp, nâng cao

chất lượng bữa ăn, tăng các chế độ phúc lợi xã hội, điều kiện làm việc.

Đời sống người lao động gặp rất nhiều khó khăn, trong bối cảnh lương công

nhân thấp, chỉ số tiêu dùng tăng cao, lợi ích của người lao động chưa được giải

quyết hài hòa, tình trạng vi phạm luật lao động của nhiều chủ DN như trả chậm

lương, nợ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội. Về thu nhập của người lao động trong các

DNCVĐTNN bao gồm tiền lương công việc và các khoản tiền làm thêm giờ, trợ

cấp, phụ cấp, hỗ trợ từ DN như tiền ăn ca, tiền chuyên cần, tiền thưởng…

3.3.3.1. Lợi ích kinh tế của người lao động chưa bảo đảm được các nhu

cầu sống tối thiểu, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần người lao động

Phần lớn các DN trong quá trình sản xuất đều trang bị bảo hộ lao động đảm

bảo an toàn cho công nhân. Theo nhận định của lãnh đạo Viện nghiên cứu khoa học

kỹ thuật bảo hộ lao động, có 80% số trang thiết bị đang bán trên thị trường không

đảm bảo chỉ tiêu an toàn, điều này cực kỳ nguy hiểm cho tính mạng và sức khoẻ của

người lao động. Vi phạm nhiều nhất là trường hợp chiếc khẩu trang, loại trang thiết

bị bảo hộ lao động thông dụng nhất với nhiều ngành nghề. Đa số các DNCVĐTNN

sử dụng những khẩu trang được may bằng vải phin, dày 2 - 3 lớp chỉ có khả năng

chống bụi hạt to, giá khoảng 3.000đ - 7.000đ/cái, trong khi đó loại khẩu trang do

Viện Bảo hộ lao động nghiên cứu, đảm bảo khả năng chống bụi, nhất là ở môi

trường dễ mắc bệnh bụi phổi Silic có giá 32.000đ/cái. Nguy hiểm hơn cả là việc

không rõ ràng giữa các chủng loại trang thiết bị dành cho các ngành nghề đặc thù,

đang trực tiếp ảnh hưởng tới sức khoẻ của người lao động. Không ít trường hợp

người lao động chỉ được trang bị ủng thường, thay vì ủng chống xăng dầu ăn mòn, sự

chênh lệch giá giữa 2 loại này là 25.000đ và 110.000đ. Qua đó cho thấy, sự chênh

lệch giá cả giữa bảo hộ lao động đủ và không đủ tiêu chuẩn. Các DNCVĐTNN đã

dùng loại bảo hộ lao động không đủ tiêu chuẩn, với chi phí giá thấp mà vẫn được

110

đánh giá trang bị đầy đủ cho người lao động. Hằng năm, số vụ tai nạn lao động và

người mắc bệnh nghề nghiệp vẫn không suy giảm, đặc biệt là người lao động hay

mắc các bệnh như bụi phổi silic, amiăng, phổi bông, nhiễm độc benzene, điếc do

ồn… Điều đó, cho thấy rằng, nhiều DNCVĐTNN đã cố tình không chịu chi phí cho

sản xuất bắt buộc và chưa thật sự quan tâm đến sức khoẻ của người lao động.

3.3.3.2. Lợi ích kinh tế của người lao động và chủ doanh nghiệp chưa

được giải quyết hài hòa, dẫn tới phát sinh mâu thuẫn

Các DNCVĐTNN trong quá trình SXKD đều có mục đích thu được lợi

nhuận tối đa, muốn thực hiện được điều đó phải giảm chi phí sản xuất, trong đó lợi

ích người lao động bị cắt giảm. Theo số liệu của Vụ Lao động - Tiền lương, Bộ Lao

động - Thương binh và Xã hội: Số các vụ đình công những năm gần đây trên toàn

quốc, chủ yếu xảy ra ở các DNCVĐTNN, năm 2005: 135 cuộc; năm 2006: 387

cuộc; năm 2007: 541 cuộc; năm 2008: 603 cuộc; năm 2009: 219 cuộc; năm 2010:

424 cuộc; năm 2011 là 220 cuộc; năm 2012: 309; năm 2013: 355 cuộc, 2 tháng đầu

năm 2014 có 30 cuộc đình công, bình quân mỗi năm cả nước có gần 245 cuộc đình

công, trong đó gần 90% số cuộc đình công, bãi công nguyên nhân chính liên quan

đến tiền lương [104]. Cần phải khẳng định, đình công là một hiện tượng kinh tế xã

hội tồn tại khách quan mà người lao động thực hiện nhằm đòi hỏi, bảo vệ quyền lợi

chính đáng của họ theo quy định của pháp luật. Phần lớn, lý do mà các công nhân

đưa ra để họ tổ chức đình công ở tất cả các DNCVĐTNN đều tập trung vào các vấn

đề như lương quá thấp không lo đủ cho cuộc sống phải làm tăng ca, điều kiện làm

việc, sinh hoạt không đảm bảo, chất lượng bữa ăn; thực hiện một số nội quy, quy

định quá khắt khe đối với người lao động không những không khuyến khích người

lao động tăng năng suất mà còn tác động ngược trở lại.

Bên cạnh mô hình đầu tư của phần lớn các DNCVĐTNN đến từ Nhật Bản có

nhiều ưu việt thì vẫn còn các nhà đầu tư đến từ Hàn Quốc, Đài Loan.., và một số DN

Nhật Bản trong quá trình đầu tư vì mục tiêu thu lợi nhuận cao đã không thực hiện

đúng và đầy đủ các quy định của BLLĐ. Những việc làm này đã gây phản ứng trong

xã hội, là nguyên nhân chính dẫn đến các cuộc đình công, làm mất TTATXH và tạo

ra cái nhìn không thiện cảm với các DNCVĐTNN ở thành phố Hà Nội.

111

Sự phát triển của nền kinh tế diễn ra ngày một năng động, thúc đẩy thị trường

phát triển mạnh mẽ khiến các DNCVĐTNN cạnh tranh nhau gay gắt và để chiếm ưu

thế trên thị trường buộc các chủ DN phải tìm mọi biện pháp tăng năng suất lao động,

hạ chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, trong khi đó người lao động lại muốn

được cải thiện điều kiện lao động, tăng lương, thưởng và các chế độ khác sẽ dẫn đến

mâu thuẫn phát sinh giữa người lao động và người sử dụng lao động.

Điển hình là cuộc đình công xảy ra vào tháng 4/2010: gần 1.000 công nhân

công ty TNHH Young Past Việt Nam (khu công nghiệp Thạch Thất, Quốc Oai, Hà

Nội) đình công để phản đối một số chính sách của công ty liên quan đến việc không

thực hiện đúng cam kết khi tuyển lao động. Hoặc vụ đình công xảy ra vào ngày 5 và

6/5/2010: hơn 800 công nhân công ty Katolec (KCN Quang Minh, Mê Linh, Hà

Nội) chuyên sản xuất vi mạch điện tử đã đồng loạt nghỉ việc, tập trung trước cổng

công ty đình công để yêu cầu tăng lương cơ bản thêm 500.000 đồng/tháng, nghỉ

phép không bị trừ tiền chuyên cần [104].

Công ty Canon, ngày 7.6.2012, hàng ngàn công nhân ca đêm của nhà máy

Canon ở KCN Bắc Thăng Long, Hà Nội đã đồng loạt đình công để yêu cầu chủ tăng

lương, giảm giờ làm và cải thiện điều kiện làm việc. Các công nhân đã bao vây,

chặn lối ra vào Công ty đòi tăng lương, giảm giờ làm, đặc biệt là các công nhân ca

đêm của nhà máy Canon bắt đầu ca làm việc của mình từ 9 giờ tối và kết thúc vào 6

giờ sáng. Nhưng vào 4 giờ sáng ngày 7 tháng 6, toàn bộ công nhân ca này đã đồng

loạt ngừng làm việc và hô hào yêu cầu được tăng lương và cải thiện điều kiện làm

việc. Các công nhân của nhà máy Canon đều bất bình về điều kiện làm việc của nhà

máy, lương của công nhân thấp so với sản lượng, cường độ lao động cao, đo đó

công nhân mới đình công. Do DN lắp đặt thêm nhiều thiết bị, máy móc vào dây

chuyền sản xuất, trong khi nhân lực lại không được tăng cường, có bộ phận còn bị

cắt giảm nên công nhân thường xuyên phải làm việc 9 tiếng/ ngày, thời gian nghỉ

giải lao giữa ca quá ít từ 7 - 8 phút không đảm bảo phục hồi sức khỏe. Nếu người

lao động đi làm vào ca muộn vài phút là bị quản đốc mắng chửi thậm tệ, xúc phạm

công nhân.

Tháng 4 năm 2013, điển hình là vụ đình công của hơn 1.000 công nhân Công

ty Yangmin Enterprise - chuyên sản xuất phụ tùng xe máy của Đài Loan - Trung

112

Quốc có trụ sở tại Đông Anh. Lý do đình công của người lao động bị chủ DN buộc

phải làm việc thêm 2 giờ/ngày, làm thêm thứ bảy hoặc chủ nhật. Ngày 8.4.2013, từ

7h sáng hàng trăm công nhân của Công ty TNHH DOOJUNG Việt Nam (KCN Phú

Nghĩa, huyện Chương Mỹ, Hà Nội) đã đình công đòi lãnh đạo công ty này trả lời

việc không đóng bảo hiểm cho công nhân, đuổi việc những người có thai, làm tăng

ca quá nhiều… Tại Công ty TNHH DOOJUNG Việt Nam, các công nhân bức xúc

cho biết trong thời gian qua lãnh đạo đã đuổi việc các công nhân nữ đang có bầu.

Lý do được lãnh đạo công ty này đưa ra là vì những công nhân này không ở lại tăng

ca theo sự chỉ đạo của lãnh đạo công ty (mỗi ngày thường tăng ca từ 4-5 tiếng).

Nhiều công nhân cho biết, trong thời gian vừa qua Công ty đã bắt người lao động

làm việc quá thời gian quy định so với Luật Lao động, nếu công nhân không làm

tăng ca thì sẽ bị đuổi việc. Nhiều công nhân đã phải làm liên tục từ 7h sáng đến 5h

sáng của ngày hôm sau, nhiều lao động nữ trong thời gian mang thai đã bị chủ DN

cho nghỉ việc do không đáp ứng nhu cầu công việc là làm tăng ca [104].

Vụ đình công tại công ty Home Appliances Việt Nam ở KCN Thăng Long,

Đông Anh, Hà Nội vào ngày 27 tháng 1 năm 2013, lý do người lao động đình công

đó là đòi tăng lương, họ không chịu nổi mức lương "bèo bọt", lương của công nhân

suốt một năm qua chỉ có 3,4 triệu đồng cộng với phụ cấp chuyên cần 100 nghìn

đồng, phụ cấp đi lại là 100 nghìn đồng và phụ cấp nhà ở 60 nghìn đồng; Với số

lương ít ỏi đó so mức sống và giá cả sinh hoạt hiện nay, họ phải trang trải cuộc sống

của mình rất khó khăn [104].

Do những quan hệ lợi ích giữa người lao động và các DNCVĐTNN không

được giải quyết thỏa đáng, lợi ích của người lao động bị xâm hại đã dẫn tới nhiều

cuộc bãi công, đình công của công nhân. Nguyên nhân chủ yếu gây ra mâu thuẫn

giữa người sử dụng lao động trong các DNCVĐTNN và người lao động thường liên

quan đến điều kiện và môi trường làm việc, thời gian làm việc, tiền lương. Do sự khác

biệt về tập quán kinh doanh, về phong tục, về sinh hoạt văn hoá, chủ DNCVĐTNN

đã quen với cơ chế thị trường, với sự cạnh tranh gay gắt, với quan hệ của ông chủ

và người làm thuê.., những điều này đối với người lao động Việt Nam còn khá mới

mẻ nên đôi khi đã xảy ra xung đột giữa chủ DNCVĐTNN và người làm thuê. Mặt

khác, do sự bất đồng về ngôn ngữ giữa người quản lý DNCVĐTNN và người lao

113

động đã gây ra những bất lợi cho cả hai phía, gây nên những hiểu lầm lẫn nhau.

Nhìn chung, nguyên nhân của những cuộc đình công của công nhân trong

các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội chủ yếu do:

Thứ nhất: Chất lượng cuộc sống của người lao động còn thấp

Đây chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng đình công của công

nhân với mức độ và quy mô ngày một lớn, tính chất ngày một phức tạp hơn, đặc

biệt là sự lan truyền từ DN này sang DN khác, từ KCN này sang KCN khác.

Thực tế cho thấy, do chất lượng cuộc sống quá thấp nên người lao động mới

phải đình công. Lương thấp, định mức làm việc, điều kiện làm việc khắc nghiệt

(môi trường làm việc ô nhiễm, tiếng ồn, khói, bụi; làm thêm giờ, tăng ca quá mức

cho phép, áp lực tai nạn lao động luôn rình rập). Theo Uỷ ban các vấn đề xã hội của

Quốc hội thì 90% các cuộc đình công nhằm mục đích yêu cầu chủ DN khi sử dụng

lao động bảo đảm quyền lợi về tiền lương, tiền thưởng, thời gian làm việc, nghỉ

ngơi và các chế độ xã hội khác như bảo hiểm, ký kết hợp đồng lao động…

Thực trạng tồn tại là ở nhiều nơi DN chưa có chế độ tiền lương, thưởng xứng

đáng, chưa chăm sóc đúng mức cuộc sống cho người công nhân. Bữa ăn trưa và

giữa ca còn nghèo nàn, đạm bạc, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, không

đảm bảo tái tạo sức lao động, nước uống thiếu, quản lý lao động hà khắc. Bên cạnh

đó, vấn đề đang gây nhiều bức xúc hiện nay là an toàn lao động, cùng với đình

công, các vụ tai nạn lao động liên tiếp xảy ra gây thiệt hại về người và của. An toàn

lao động đã không được coi trọng, an toàn thực phẩm bữa ăn của công nhân càng bị

coi nhẹ. Như công ty TNHH Asmsthongs (KCN Nội Bài) công nhân phải tự túc bữa

cơm trưa với đồng lương quá ít ỏi.

Thứ hai: Thu nhập của người lao động thấp

Trong quá trình hoạt động nhiều DNCVĐTNN còn tồn tại tình trạng trả

lương, thưởng "treo", đã gây nhiều bức xúc. Một số DNCVĐTNN thưởng theo kiểu

đánh đố chỉ phát thưởng cho những người làm việc đến hết ngày 28 Tết. Đây là một

trong những hình thức các chủ DN áp dụng để cắt xén của công nhân. Tiền thưởng

Tết quá ít, ở nhiều đơn vị là 500.000 đồng - 1.000.000 đồng, một số DNCVĐTNN

còn "treo" một nửa ra ngoài Tết mới trả.

114

Thứ ba: Chưa xử lý nghiêm các DNCVĐTNN vi phạm Bộ luật Lao động

Nguyên nhân dẫn đến đình công tiếp tục xảy ra ngày càng tăng còn do

nhiều vụ việc vi phạm BLLĐ nhưng chưa được xử lý đúng mức với hậu quả gây

ra, định mức chế tài chưa đủ để các DNCVĐTNN "sợ", phần lớn theo hình phạt

cho tồn tại. Mức phạt quá thấp so với mức độ thiệt hại và số tiền phải bỏ ra nếu

đầu tư phương tiện bảo hộ lao động.., nên xảy ra một nghịch lý, nhiều

DNCVĐTNN muốn đóng phạt hơn là đầu tư thiết bị an toàn lao động và chăm lo

cuộc sống cho người lao động. Để khắc phục tình trạng này, cần có những biện

pháp phạt đúng mức, thậm chí nếu cần thiết, cần phải xử lý hình sự những vụ vi

phạm BLLĐ gây hậu quả nghiêm trọng.

Vấn đề xung đột lợi ích giữa một bên là người lao động, một bên là nhà đầu tư

nước ngoài là vấn đề không chỉ mang tính kinh tế mà còn mang tính chính trị - xã hội,

gây ấn tượng không tốt về lao động và môi trường đầu tư của thành phố Hà Nội.

3.3.3.3. Lợi ích kinh tế của người lao động chưa bảo đảm đủ tái sản xuất

sức lao động, dẫn đến nảy sinh các hiện tượng tiêu cực

Song song với sự gia tăng của các KCN thì sự gia tăng số lượng lao động

đến từ các miền quê khác nhau, do ở tập trung với số lượng đông, ngoài giờ làm

việc người lao động không có nơi sinh hoạt tập hoặc vui chơi giải trí nên con đường

dẫn đến các tệ nạn xã hội là điều không tránh khỏi. Trong địa bàn có nhà ở của công

nhân hoặc các khu nhà trọ gần KCN các tệ nạn xã hội ngày một gia tăng, các đối

tượng phần lớn là công nhân:

Một là: Tệ nạn cờ bạc

Đặc điểm ở các KCN là nơi ở của rất đông người lao động ở những miền quê

khác nhau, ngoài thời gian làm việc ở DN ra, thời gian nghỉ ngơi hay tụ tập đông

người, dẫn tới đánh bài, đánh bạc. Điển hình:

Khoảng 14h ngày 06.10.2012 Công an thị trấn Chi Đông bắt quả tang vụ

đáng bạc bằng hình thức sóc đĩa ăn tiền tại trạm bơm cánh đồng Bến thuộc thị trấn

Chi Đông - Mê Linh. Bắt tại chỗ 06 đối tượng, thu giữ tại chỗ 06 đánh bạc 5 triệu

đồng, thu trong người các đối tượng 4.050.000đ, 10 điện thoại, 3 xe máy và dụng cụ

phục vụ cho việc đánh bạc gồm; 1 bát, 1 đĩa, 04 quân bài [74]. Hiện nay, đã khởi tố

115

vụ án và các bị can theo quy định. Các đối tượng tham gia đánh bạc ăn tiền đều là

công nhân và lái xe cho các công ty trong KCN Quang Minh. Ngoài ra trong các

khu nhà trọ số vụ đánh bạc ngày càng gia tăng, do các công nhân nam ngoài giờ lao

động ra không biết làm gì, trong khi đó lại sống tập trung ở các khu nhà trọ. Vì vậy,

lực lượng Cảnh sát cần tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ khu ở của công nhân

nhằm giữ gìn trật tự.

Hai là: Tệ nạn mại dâm trong các khu công nghiệp

Ở trong các KCN, do số lượng lao động nữ chiếm phần lớn, nên cũng là nơi

nảy sinh các tệ nạn xã hội trong đó có tệ nạn mại dâm. Điển hình: Vào khoảng 11h

ngày 08.06.2014, đội Cảnh sát hình sự bắt quả tang vụ mại dâm tại nhà nghỉ Năm

Sơn ở tổ 8, thị trấn Quang Minh, Mê Linh, Hà Nội. Bắt quả tang tại phòng số 5 và

số 6 hai đôi nam nữ đang mua bán dâm, hai đối tượng nữ đều là công nhân làm việc

trong KCN Quang Minh [74]. Qua lấy lời khai của các đối tượng đều cho rằng vì

lương công nhân thấp không đủ trang trải cuộc sống, các nữ công nhân đã chấp

nhận bán dâm để có thêm thu nhập cải thiện cuộc sống.

Ba là: Trộm cắp

Trong các khu nhà trọ do số lượng người thuê ở đông dẫn đến tình trạng mất

ổn định TTATXH. Một số kẻ gian lợi dụng trà trộn vào khu ở của công nhân với

nhiều thủ đoạn để ăn cắp tài sản, hoặc cũng có một số đối tượng là công nhân lợi

dụng sơ hở trộm cắp tài sản của nhau. Điển hình: Vào khoảng 13h15’ ngày

28/10/2013, tại thị trấn Chi Đông xảy ra vụ trộm cắp tài sản. Bị hại có để chiếc xe

máy Wave RS ở sân nhà trọ, xe có khóa cổ khóa càng, khi ngủ dậy thì phát hiện xe

đã bị mất, trị giá tài sản khoảng 15.000.000đ (theo lời khai của bị hại). Sau khi nhận

được tin báo Công an thị trấn Chi Đông đã tiến hành điều tra xác minh sự việc, đến

ngày 01/11/2010, thì làm rõ đối tượng trộm cắp xe máy là người trọ cùng phòng.

Đối tượng khai nhận sau khi lấy trộm được xe đã mang xe đi cầm cố tại hiệu cầm

đồ ở phố Vọng, Hai Bà Trưng, Hà Nội được 2 triệu đồng để ăn tiêu [74]. Hiện công

an đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với đối tượng trên.

Bốn là: Gây thương tích xuất phát từ mâu thuẫn trong đời sống của công

nhân. Chính vì ở tập trung số lượng công nhân quá đông trong các nhà trọ và do

116

không có người quản lý, cho nên trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày khó tránh

khỏi những va chạm, dẫn đến những mâu thuẫn, điển hình: Khoảng 21h15’ ngày

27.5.2013, tại thị trấn Quang Minh xảy ra vụ cố ý gây thương tích [74]. Sau đó, cơ

quan điều tra đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối tượng, vụ việc được điều tra, khởi tố theo

quy định của pháp luật.

Như vậy, trong các khu trọ của công nhân bên cạnh những người lao động

chấp hành tốt những quy định của nơi tạm trú thì vẫn còn không ít những trường

hợp lợi dụng chỗ ở tập thể đông người đã có hành vi vi phạm pháp luật, gây mất

TTATXH trong các khu vực người lao động ở trọ. Đối tượng vi phạm pháp luật đa

phần là công nhân làm việc tại các KCN. Khi bị bắt các đối tượng đều khai do

lương thấp cộng với nhu cầu tiêu dùng cao dẫn tới thực hiện các hành vi vi phạm.

Do đó, lực lượng Công an cơ sở đóng vai trò rất quan trọng, nắm bắt tình hình,

phòng ngừa ngăn chặn và xử lý những đối tượng vi phạm nhằm giữ gìn TTATXH

trên địa bàn.

Trong 6 tháng đầu năm 2014, sau hàng loạt vụ việc gây rối an ninh trật tự ở

các KCN tại một số tỉnh phía Nam. Đây cũng là bài học kinh nghiệm của các cơ

quan quản lý KCN (các DNCVĐTNN) trong cả nước nói chung và địa bàn thành

phố Hà Nội nói riêng.

Từ sự việc trên, Công an thành phố Hà Nội đã chỉ đạo quyết liệt các đơn vị

nghiệp vụ, triển khai nhiều biện pháp đồng bộ, đảm bảo môi trường an ninh, an

toàn, tạo điều kiện cho các DN nước ngoài đầu tư hoạt động ổn định. Với sự vào

cuộc tích cực của lực lượng Công an, thời gian qua các DNCVĐTNN đã duy trì

hoạt động sản xuất một cách hiệu quả, đặc biệt là ngăn ngừa triệt để tình trạng đình,

lãn công quy mô lớn, duy trì tình hình an ninh trật tự ổn định [109].

Đối với KCN, đặc biệt là KCN Quang Minh là nơi tập trung nhiều công ty

nước ngoài hoạt động, Công an huyện Mê Linh xác định, việc ngăn ngừa tình trạng

đình công, lãn công là nhiệm vụ hàng đầu. Trước tiên là công tác nắm tình hình

phải chặt chẽ; tiếp đó là công tác tuyền truyền vận động; cuối cùng là việc phối hợp

với các Công đoàn cơ sở đề phòng ngừa ngăn chặn những đối tượng xấu lợi dụng

cuộc đình công, lãn công của người lao động làm mất trật tự an ninh trong khu vực.

117

KCN Quang Minh hiện có 159 DN hoạt động, trong đó có đến 81 công ty

100% vốn đầu tư nước ngoài. Cao điểm, có hơn 30.000 công nhân làm việc trong

KCN, tình hình an ninh trật tự từ đó cũng có những diễn biến phức tạp, đặc biệt là

tình trạng trộm cắp tại các cơ sở sản xuất. Tại KCN Bắc Thăng Long, lực lượng

Công an cũng xác định, mâu thuẫn về hợp đồng lao động, quyền lợi của lãnh đạo và

công nhân là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tình trạng đình công, lãn công.

Lực lượng Công an phải tham mưu và giám sát việc thực hiện các chính sách,

quyền lợi, hợp đồng lao động cho công nhân, đồng thời đối với khu vực nhà ở, công

tác đảm bảo an ninh trật tự và tuyên truyền cũng phải tiến hành thường xuyên, giao

cho công an xã, công an khu vực và chính quyền địa phương nắm bắt tình hình. Có

biện pháp ngăn ngừa kịp thời các đối tượng lợi dụng các cuộc đình công quy mô

lớn, các hoạt động gây rối, kích động, làm ảnh hưởng đến các DN cũng như người

lao động, ảnh hưởng đến môi trường ổn định, an toàn.

118

Chương 4

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM LỢI ÍCH KINH TẾ

CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

4.1. NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN NHẰM BẢO ĐẢM LỢI ÍCH KINH TẾ

CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ

NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

4.1.1. Lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài phải bảo đảm tái sản xuất sức lao động và cải thiện đời sống

vật chất và tinh thần của người lao động

Trong quá trình sản xuất, sức lao động là yếu tố cơ bản quyết định đến năng

suất và chất lượng sản phẩm. Để phát huy tiềm năng của hàng hóa sức lao động -

một loại "hàng hóa đặc biệt" - phải bảo đảm cho người lao động có cuộc sống ổn

định. Trong quá trình sản xuất đã tỏ ra rất chăm chỉ, khéo léo và thông minh, đây là

yếu tố hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Do vai trò quan trọng của sức lao

động trong việc tạo ra lợi nhuận, nên trong quá trình SXKD, các DNCVĐTNN đều

có chiến lược: Chăm lo đời sống cho người lao động cả về vật chất và tinh thần, để

khi vào giờ làm việc họ thật sự yên tâm và dồn hết khả năng vào công việc, đem lại

lợi nhuận cao nhất cho DNCVĐTNN. Người lao động làm việc trong các

DNCVĐTNN đó, phần lớn đều được bảo đảm LIKT, thông qua tiền lương, tiền trợ

cấp, tiền thưởng cho những sáng kiến cải tiến… Chính đây là yếu tố quan trọng để

họ yên tâm gắn bó làm việc trong DNCVĐTNN.

Trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và các nước

trên thế giới, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi

cho các DNCVĐTNN, đồng thời cũng chú trọng tới lợi ích thiết thực của người lao

động. Đây là vấn đề tác động trực tiếp tới sự phát triển toàn diện của mỗi người, góp

phần xây dựng con người của chế độ xã hội mới, tạo động lực để thúc đẩy người lao

động quan tâm đến kết quả lao động. Xác định quy định làm việc của người lao động

là vấn đề quan trọng, được thể hiện trong Văn kiện Đại hội X (2006):

119

Tiếp tục hoàn chỉnh thể chế thị trường lao động, bảo đảm hài hòa

lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động. Đổi mới hệ thống

bảo hiểm xã hội, đa dạng hóa hình thức bảo hiểm và phù hợp với kinh tế

thị trường; xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp, thực hiện tốt chế độ

bảo hộ lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động [31, tr.216].

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI (2011): "Thực hiện tốt các chính sách về

lao động, việc làm, tiền lương, thu nhập nhằm khuyến khích và phát huy cao nhất

năng lực của người lao động. Bảo đảm quan hệ lao động hài hòa, cải thiện môi

trường và điều kiện lao động" [32, tr.125].

Tư tưởng quan tâm tới LIKT của người lao động, tập trung giải quyết tốt

chính sách lao động, việc làm và thu nhập được khẳng định trong Văn kiện Đại hội

XI (2011):

Kiên quyết khắc phục những bất hợp lý về tiền lương, tiền công, trợ

cấp xã hội phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước… Gắn tiền

lương của người lao động với hiệu quả kinh doanh của DN. Chăm lo bảo hộ

lao động, cải thiện điều kiện làm việc; hạn chế tai nạn lao động; tăng cường

thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật lao động, đưa việc

thi hành pháp luật lao động vào nền nếp; xây dựng quan hệ lao động ổn định,

hài hòa và tiến bộ [32, tr.228].

Nội dung của Chỉ thị số 22-CT/TW của Ban bí thư TW về xây dựng quan hệ

hài hòa, ổn định, tiến bộ trong DN chỉ rõ: Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng,

trong những năm qua nền kinh tế nước ta liên tục tăng trưởng cao, vốn đầu tư nước

ngoài tăng nhanh, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích

cực, hàng năm tạo nhiều việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động trong

các DN ngày càng được cải thiện, từng bước hình thành quan hệ lao động lành

mạnh trong DN, xuất hiện nhiều mô hình, nhiều DN có quan hệ tốt. Đó là kết quả

của việc thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN từng bước được hoàn thiện

như công tác quản lý Nhà nước, Tổ chức công đoàn đã trở thành người đại diện, bảo

vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động, giúp DN ổn định và phát triển SXKD.

Tiếp đó là Chỉ thị số 06/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường

120

chấp hành pháp luật lao động, xác định đúng trách nhiệm của các cấp chính quyền ở

địa phương theo quy định của pháp luật đối với các cuộc đình công của người lao

động xảy ra không đúng trình tự của pháp luật trên địa bàn, từ đó đề ra những biện

pháp thực hiện để tiếp tục chỉ đạo trong thời gian tới, nhằm hạn chế xảy ra tranh

chấp lao động.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, tình trạng tranh chấp lao động dẫn đến đình

công tự phát có xu hướng gia tăng với quy mô, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, xã

hội và môi trường đầu tư, làm thiệt hại cho người lao động, cho DN và cho cả nền

kinh tế. Do đó: Cần tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy

mạnh CNH, HĐH đất nước; có chương trình, kế hoạch đào tạo nâng cao trình độ

chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật cho công

nhân, chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động, hoàn thiện

chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quy hoạch các KCN, khu chế

xuất gắn với quy hoạch của khu dân cư, có giải pháp phát triển nhà ở và hạ tầng xã

hội nhằm cải thiện đời sống của người lao động. Bảo đảm LIKT cho người lao động

gắn liền với cải thiện điều kiện làm việc sẽ là động lực thúc đẩy DNCVĐTNN phát

triển, tác động trực tiếp tới sự gắn bó lâu dài của người lao động với DNCVĐTNN.

Đối với người lao động, một môi trường làm việc bảo đảm cho nhu cầu cuộc

sống và cân bằng công việc luôn là mong muốn của họ, mà không phải ép họ lựa

chọn hy sinh cái này để có cái khác. Quy chế quá cứng nhắc của DNCVĐTNN,

cộng thêm áp lực công việc chính là nguyên nhân khiến nhiều người lao động phải

lựa chọn rời bỏ công việc đang làm. Đây là vấn đề quan trọng mà các chủ

DNCVĐTNN đang rất quan tâm, vì nếu lao động bỏ việc, dây chuyền sản xuất sẽ bị

đình trệ, chủ DNCVĐTNN sẽ phải tốn nhiều chi phí để tuyển dụng lao động mới.

Mất đi một người thợ giỏi, năng suất lao động sẽ giảm theo, trong khi các chi phí

sản xuất lại không thay đổi mà có chiều hướng tăng lên. Do áp lực về kì hạn thời

gian giao hàng không thay đổi, để theo kịp, DN buộc phải tăng ca kéo dài giờ làm.

Khi tìm được người mới lại phải tiếp tục mất thêm một khoảng thời gian để người

lao động thích nghi.

Vấn đề môi trường lao động đã được các chủ DNCVĐTNN xếp vào mối

121

quan hệ của chuỗi kinh doanh bền vững. Ngoài mức lương, chính sách phúc lợi, họ

còn quan tâm đến điều kiện làm việc người lao động. Cụ thể là: Đảm bảo hạn chế

thấp nhất tiếng ồn, mức độ khói, bụi.., trong phạm vi cho phép; Nhà xưởng được

thông thoáng, đạt tiêu chuẩn về nhiệt độ, độ ẩm…

Văn hóa DN cũng là một vấn đề rất đáng được quan tâm trong hầu hết các

DNCVĐTNN lớn hiện nay. Nhiều DNCVĐTNN chú ý hơn tới việc tổ chức sinh

nhật cho công nhân, thăm hỏi họ khi ốm đau. Ngày càng có nhiều hơn các hoạt

động giao lưu thể thao, ca nhạc.., được các công ty tổ chức giúp người lao động

thấy thoải mái sau giờ làm việc căng thẳng. Sự quan tâm tới cuộc sống bên ngoài

công việc của công nhân còn đem lại kết quả tốt hơn hẳn những chính sách mang

tính bề nổi, bởi nó làm cho công nhân có cảm giác ở DNCVĐTNN họ vừa làm việc,

vừa sinh hoạt như ở gia đình.

Điều kiện làm việc của người lao động còn phải được thể hiện ở việc sử

dụng bảo hộ lao động, việc đảm bảo vệ sinh an toàn lao động, an toàn thực phẩm.

Nhiều DNCVĐTNN đã quá chú trọng lợi nhuận của mình, dẫn đến cắt giảm chi phí

sản xuất, nên vẫn chưa thực sự quan tâm đến việc trang bị bảo hộ lao động cho công

nhân, họ sử dụng thiết bị bảo hộ lao động trôi nổi trên thị trường, kém chất lượng

dẫn tới những tai nạn đáng tiếc, gây bức xúc trong tập thể người lao động. Việc sử

dụng thực phẩm không đảm bảo chất lượng cho bữa ăn ca trong các DN cũng dẫn

tới những hậu quả khôn lường, như ngộ độc thức ăn cho hàng loạt công nhân.

4.1.2. Bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn chặt chẽ với hoàn thiện chính sách,

pháp luật của Nhà nước

Để bảo đảm LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN thì vấn đề

hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước luôn được chú trọng theo hướng

phù hợp với thực tiễn Việt Nam và có tính đến thông lệ quốc tế. Chính sách tiền

lương trong các DNCVĐTNN phải được đổi mới, hoàn thiện theo hướng coi tiền

lương trả cho người lao động là sự đầu tư vào vốn nhân lực, là yếu tố quyết định

năng lực cạnh tranh của DN. Do vậy các DN phải luôn chú trọng đầu tư cho nguồn

nhân lực của DN.

122

Xây dựng nền kinh tế từ sản xuất nhỏ, lực lượng lao động Việt Nam tuy

nhiều nhưng chất lượng không cao, trình độ chuyên môn thấp, trên 75% lao động

chưa qua đào tạo, người lao động quen với lề thói làm việc tự do, tính tự giác thấp,

tính tự phát cao nên ý thức kỷ luật lao động kém. Do đó, các DNCVĐTNN khi sử

dụng lao động Việt Nam để đạt được mục đích kinh doanh có lãi thì trước hết, họ

phải đào tạo tay nghề cũng như ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm với công việc

cho người lao động. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động là một yếu

tố quan trọng quyết định đến năng suất lao động của DN, qua đó ảnh hưởng đến

hiệu quả SXKD và LIKT của người lao động.

Trước nguy cơ tụt hậu về khả năng cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa,

hơn bao giờ hết, yếu tố tay nghề cần được các DNCVĐTNN nhận thức một cách

đúng đắn và sử dụng hiệu quả hơn. Các DNCVĐTNN cần chú trọng đến việc đào

tạo kỹ năng sáng tạo, kỹ năng thích ứng với những biến đổi không ngừng của khoa

học kỹ thuật, công nghệ mới và nhu cầu luôn thay đổi của thị trường thế giới. Như

vậy, việc đào tạo nghề, nâng cao ý thức trách nhiệm cho người lao động không

những đem lại hiệu quả cho DNCVĐTNN mà còn giúp cho người lao động tăng thu

nhập, ổn định việc làm, phát huy tính sáng tạo, làm chủ khoa học kỹ thuật, tự tin

trong công việc.

Trong môi trường hội nhập quốc tế, Đảng ta đã đề ra chủ trương:

Phát triển mạnh mẽ hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh

quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp,

các vùng kinh tế động lực…Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy

nghề, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới [32, tr.96].

Hiện nay công tác dạy nghề ở thành phố Hà Nội ngày càng mở rộng và nâng

cao những vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. Kết quả khảo sát cho thấy, nhu cầu

tuyển dụng lao động có tay nghề, chuyên môn kỹ thuật của DN chiếm 80%, trong

khi nguồn cung ứng chỉ đáp ứng 10%. Chính vì thế, Nhà nước đang đầu tư mạnh

trên cơ sở quy hoạch lại mạng lưới dạy nghề, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng

đào tạo. Mục tiêu từ nay đến năm 2020 sẽ có 50%-60% lao động qua đào tạo, 2/3

trong số này là lao động qua đào tạo nghề. Để thực hiện mục tiêu cũng như tháo gỡ

123

những hạn chế trong đào tạo nghề, cần phải có chính sách đào tạo và sử dụng nguồn

nhân lực hiệu quả trên cơ sở dự báo thông tin thị trường, quản lý nguồn nhân lực; có

chiến lược quy hoạch, đầu tư mạnh cho dạy nghề phù hợp với phát triển kinh tế.

Lợi ích kinh tế của người lao động được bảo đảm phải trên cơ sở gắn kết chặt

chẽ với chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước đây là quan điểm có ý nghĩa thiết

thực trước mắt cũng như lâu dài đối với bảo đảm LIKT cho những người lao động

làm việc trong các DNCVĐTNN, nó thể hiện tính đúng đắn, nhất quán của Đảng và

Nhà nước ta trong việc quan tâm đối với sự phát triển toàn diện về mọi mặt đối với

người lao động. Việc quán triệt quan điểm này sẽ có tác dụng to lớn trong việc biến

các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trở thành hiện thực, có tác dụng rất

thiết thực đối với việc mang lại LIKT cho người lao động.

Hệ thống các quan điểm chính sách và những quy định của Nhà nước liên

quan đến các hoạt động đầu tư nước ngoài ở nước ta bao gồm các chính sách về tài

chính, tiền tệ, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách thu hút đầu tư. Trong đó có

các chủ trương chính sách về thu nhập liên quan đến LIKT của người lao động làm

việc trong các DN và lợi ích của nhà đầu tư. Nhà nước điều hành và giám sát các

hoạt động của DN và nhà đầu tư trên phương diện quản lý Nhà nước về kinh tế, các

chính sách, pháp luật thể hiện sự quan tâm ưu đãi đối với người lao động phải được

quán triệt và thực thi nghiêm túc trong các DNCVĐTNN.

Trong quan hệ thu hút đầu tư nước ngoài chính sách pháp luật cũng là yếu tố

tác động đối với thái độ của nhà đầu tư và cũng có tác động ảnh hưởng đối với

LIKT của những người lao động. Để điều chỉnh hành vi kinh doanh của các nhà đầu

tư và thái độ của nhà đầu tư đối với người lao động, Nhà nước cần phải có một hệ

thống luật quy định về hoạt động đầu tư, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, bảo

đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, khuyến khích và ưu đãi đầu tư, quản lý

Nhà nước về đầu tư. Môi trường pháp lý đối với hoạt động đầu tư bao gồm toàn bộ

các văn bản, quy phạm pháp luật có liên quan đến các hoạt động đầu tư, từ hiến

pháp cơ bản đến các đạo luật cụ thể. Nhà nước giữ một vai trò quan trọng trong xây

dựng hệ thống chính sách pháp luật và tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận

lợi. Trong hệ thống chủ trương chính sách, có chính sách liên quan đến vấn đề thu

124

nhập, tiền lương, LIKT của những người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN.

LIKT của người lao động phải được thực hiện trên cơ sở quan điểm chủ trương

chính sách pháp luật của Nhà nước và phải gắn kết chặt chẽ với các hệ thống luật

pháp đã được ban hành như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Lao động v.v…

4.1.3. Bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động trong doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài nhằm duy trì hoạt động lâu dài của doanh nghiệp

Thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 05.6.2008 của Ban Bí thư về tăng cường

công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ

trong DN. Để chủ động hoàn thiện môi trường pháp lý hướng hoạt động đình công tại

các DN diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp trên cơ

sở thực hiện quan hệ lao động hài hoà, ổn định giữa người lao động và người sử dụng

lao động, đồng thời bảo đảm ổn định môi trường đầu tư và TTATXH.

Các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội mang lại nhiều lợi ích đối

với sự phát triển kinh tế xã hội cho Thủ đô Hà Nội và cả nước nói chung, góp phần

làm tăng GDP hàng năm cho đất nước, tạo nhiều sản phẩm hàng hóa đáp ứng cho

nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, cho phép tận dụng và giải phóng mọi

nguồn tiền này của địa phương vào mục tiêu phát triển sản xuất, đặc biệt các DN đã

tạo ra một số lượng rất lớn việc làm để thu hút hàng vạn lao động và làm việc góp

phần giải quyết những nhu cầu cấp thiết về việc làm đặt ra cho địa bàn Thủ đô và

các địa phương tiếp giáp thuộc khu vực đồng bằng Bắc bộ, nâng cao thu nhập cho

người lao động, góp phần phát triển và ổn định đất nước. Bên cạnh một số hạn chế

lợi ích trong hoạt động của các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội là rất

lớn, vì vậy việc không ngừng duy trì và tiếp tục mở rộng quy mô của các

DNCVĐTNN đảm bảo duy trì hoạt động lâu dài của các DNCVĐTNN ở địa bàn

Thủ đô là cần thiết. Bảo đảm LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN

nhằm duy trì hoạt động lâu dài của DN. DN có tồn tại và phát triển tốt hay không là

phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó nguồn nhân lực để duy trì mọi hoạt động

sản xuất giữ vai trò quan trọng, Lênin đã khẳng định: "Lực lượng sản xuất số một

của nhân loại là công nhân là người lao động". Để người lao động tiếp tục duy trì và

tái tạo lại năng lực lao động cho các DN đòi hỏi họ phải được bù đắp lại năng lực

125

lao động đã tiêu hao và những nhu cầu thiết yếu để bù đắp lại sức lao động đã tiêu

hao là cần thiết. Việc bảo đảm LIKT cho người lao động là nhằm thoả mãn những

nhu cầu thiết yếu cần thiết đối với người lao động. Khi LIKT của người lao động

được bảo đảm ổn định thoả đáng, người lao động sẽ yên tâm gắn bó lâu dài với DN

nhằm duy trì hoạt động sản xuất lâu dài của DN và sự tồn tại của DNCVĐTNN vừa

mang lại lợi ích cho các chủ DN nhưng đồng thời cũng tạo ra nhiều lợi ích đối với

sự phát triển của Thủ đô Hà Nội và địa bàn cả nước nói chung.

4.1.4. Bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động trong doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài phải thông qua thỏa ước tập thể và phát huy vai trò của

tổ chức công đoàn

Quan hệ giữa các chủ thể trong DNCVĐTNN ảnh hưởng trực tiếp đến LIKT

của chủ DN, LIKT của người lao động và lợi ích của quốc gia. Do đó, xây dựng

mối quan hệ này có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trong việc bảo đảm thực hiện LIKT

của người lao động trong các DNCVĐTNN, Nhà nước đóng vai trò quan trọng, tuy

nhiên các chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước sẽ đi vào thực tế và được

hiện thực hoá trong thực tế hơn nếu đi liền với việc ban hành các chủ trương chính

sách, tập thể những người lao động trong các DN còn có được tiếng nói chung về

quyền và lợi ích chính đáng của mình. Vì vậy bên cạnh vai trò của Nhà nước với tư

cách là "bà đỡ", là trọng tài thì tập thể những người lao động cần có sự thống nhất ý

chí và hành động của mình. Trong khuôn khổ pháp luật để yêu cầu các chủ DN đáp

ứng những nhu cầu và nguyện vọng chính đáng cho mình, người lao động làm việc

trong các DNCVĐTNN tuỳ theo đặc điểm điều kiện sản xuất, môi trường làm việc,

tính chất, mức độ nặng nhọc của công việc. Người lao động có thể thực hiện những

kiến nghị tập thể đề xuất và yêu cầu các chủ DN thực hiện những nguyện vọng

chính đáng của mình để nhằm bảo đảm LIKT chính đáng của chính bản thân và gia

đình mình. Để bảo đảm quyền lợi chính đáng cho mình tập thể những người lao

động cần có tiếng nói chung, phải thống nhất ý chí và hành động trên cơ sở, khuôn

khổ pháp luật cho phép. Sự thống nhất ý chí sẽ tạo ra sức mạnh để yêu cầu các chủ

DN đáp ứng những nguyện vọng chính đáng của những người lao động. Để bảo

đảm sự chắc chắn và chặt chẽ về quyền lợi của mình những yêu cầu và đòi hỏi của

126

những người lao động đối với các nhà đầu tư phải có cơ sở pháp lý dựa trên cơ sở

khuôn khổ pháp luật (không trái với những quy định của luật). Sự thoả thuận và điều

hoà lợi ích giữa những người lao động với các chủ DN phải được thực hiện bằng

những cam kết thông qua các văn bản mang tính pháp lý có sự thoả thuận ký kết giữa

các bên và bảo đảm bằng sự chứng thực của các cơ quan chức năng có thẩm quyền.

Khi những thoả thuận về quan hệ lợi ích giữa những người lao động với các

nhà đầu tư được thực hiện sẽ mang lại lợi ích cho cả đôi bên. Về phía người lao

động khi lợi ích chính đáng được bảo đảm sẽ giúp họ yên tâm hơn trong việc tham

gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ DN. Đối với chủ DN cũng

sẽ có được lợi ích nhờ quá trình lao động nhiệt tình lao động của những người lao

động mang lại cho DN.

Để bảo đảm kết hợp LIKT của người lao động đối với lợi ích của các chủ

đầu tư cần xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà và tiến bộ giữa chủ DN và người

lao động cần phải làm cho người lao động và các chủ DN thấy được giữa lợi ích của

những người lao động và lợi ích của các chủ DN có mối quan hệ, tác động qua lại.

Khi người lao động có được lợi ích thì DN cũng có lợi ích và sự ngược lại DN quan

tâm tới lợi ích chính đáng của người lao động cũng chính là quan tâm tới lợi ích và

kết quả lao động sản xuất của bản thân DN. Vì vậy, vấn đề này cần được sự quan

tâm ở cả hai phía người lao động và các chủ DN, bao quát rộng hơn là sự quan tâm

của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội.

Việc bảo đảm LIKT cho người lao động trong các DNCVĐTNN phải được

thực hiện trên cơ sở xây dựng mối quan hệ lao động mới theo hướng bảo đảm hài

hoà ổn định và tiến bộ, trong các DNCVĐTNN ở các KCN là vấn đề mang tính

chiến lược lâu dài nhưng đồng thời cũng mang tính cấp thiết. Xét về xu thế phát

triển và khả năng hội nhập quốc tế của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai đòi hỏi

chúng ta cần phải có những quy định cụ thể chặt chẽ về quan hệ lao động Việt Nam

làm việc trong các DNCVĐTNN. Mặt khác, trước những đòi hỏi cấp thiết về việc

bảo đảm LIKT cho người lao động hiện tại cũng cần phải có những chủ trương để

đáp ứng LIKT cho người lao động trong giai đoạn hiện tại. Như vậy, xây dựng mối

quan hệ thân thiện giữa người lao động với các chủ DN cũng đòi hỏi cần phải có lộ

127

trình cụ thể phù hợp với từng giai đoạn phát triển về lâu dài cần phải có một thể chế

hoàn hảo nhưng trước mắt phải có những quy định tạm thời để xây dựng mối quan

hệ tiến bộ giữa chủ DN và người lao động.

Xây dựng mối quan hệ lao động mới giữa các DN với những người lao động

theo hướng bảo đảm hài hoà, ổn định và tiến bộ trong các DNCVĐTNN đòi hỏi cần

phải triệt để phát huy vai trò của tổ chức công đoàn, công đoàn phải thật sự là lực

lượng tổ chức bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của những người lao

động đồng thời là lực lượng đóng vai trò cầu nối gắn kết và điều hoà các mối quan hệ

giữa những người lao động với các chủ DN. Để làm tốt chức năng của mình tổ chức

công đoàn phải thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động, thuyết phục để người lao

động và các chủ DN nhận thức rõ hơn vai trò của mình trong việc xây dựng mối quan

hệ mới tiến bộ giữa người lao động với các chủ DN theo hướng tiến bộ nhằm mang lại

lợi ích cho cả hai bên. Việc xây dựng quan hệ với tiến bộ này Nhà nước có vai trò đặc

biệt quan trọng Nhà nước không chỉ là "trọng tài", mà còn là "bà đỡ" cho sự hình thành

quan hệ lao động mới, hài hòa giữa các bên. Nhà nước không chỉ ban hành chính sách,

pháp luật, nghị định.., đảm bảo bình đẳng, công bằng giữa các chủ thể trong quan hệ

lao động tại các DNCVĐTNN, đồng thời giúp đỡ các DNCVĐTNN, người lao động

thực hiện tốt chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà nước.

4.2. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM BẢO ĐẢM LỢI ÍCH KINH TẾ

CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ

NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

4.2.1. Nhóm giải pháp về phía Nhà nước

4.2.1.1. Hoàn thiện môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

Lợi ích kinh tế của người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN trước

hết tùy thuộc vào khả năng phát triển mở rộng, hay thu hẹp của các DNCVĐTNN.

Khả năng này lại phụ thuộc vào việc thu hút nguồn vốn đầu tư vào địa bàn. Nếu

nguồn vốn đầu tư vào thành phố Hà Nội tăng lên, số lượng các DNCVĐTNN tăng

lên, quy mô các DNCVĐTNN được mở rộng sẽ dẫn tới nhu cầu thu hút nguồn lao

động gia tăng, lượng cầu lao động tăng lên thì LIKT của người lao động được bảo

128

đảm hơn. Ngược lại, nguồn vốn FDI đầu tư vào địa bàn giảm sút, dẫn tới khả năng

phát triển của các DN sẽ bị hạn hẹp, nhu cầu thuê mướn lao động sẽ giảm, các chủ

đầu tư sẽ khắt khe hơn trong thuê mướn lao động (tiền công thuê lao động sẽ giảm)

và LIKT của người lao động sẽ không được bảo đảm tốt hơn.

Hiện nay, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới,

cộng đồng các nước ASEAN được thiết lập, Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược

xuyên Thái Bình Dương (viết tắt tiếng Anh là TPP - Trans - Pacific Strategic

Economic Partnership Agreement); đặc biệt là Cộng đồng kinh tế ASEAN (viết tắt

tiếng Anh là AEC - ASEAN Economic Community) sẽ được thành lập vào cuối

năm 2015, đây vừa là cơ hội thuận lợi cho người lao động có trình độ cao trên địa

bàn thành phố Hà Nội tự do di chuyển đến những nơi có nhu cầu lao động với điều

kiện làm việc tốt nhất, tiền công cao, chế độ ưu đãi hấp dẫn. Nhưng vừa là thách

thức lớn đối với người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp sẽ khó kiếm

được việc làm, nguy cơ thất nghiệp rất cao. Do đó, môi trường kinh doanh cho các

DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội ngày càng được cải thiện, thông

thoáng sẽ tạo điều kiện cho các DN hoạt động hiệu quả cao, thu hút lực lượng lao

động tham gia, tăng thu nhập cho người lao động.

Môi trường kinh doanh có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động của

các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Để cải thiện môi trường kinh

doanh trước hết phải không ngừng hoàn thiện thể chế kinh tế, hệ thống pháp luật,

các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạt động của các

DNCVĐTNN; cần xây dựng theo hướng thông thoáng có sức hấp dẫn đối với các

nhà đầu tư, cần tạo ra những điều kiện ưu đãi cho phép giúp các nhà đầu tư thực

hiện các quy trình, thủ tục thuận lợi trong việc tham gia hoạt động đầu tư. Phải tiếp

tục hoàn thiện môi trường thể chế chính sách, điều chỉnh những điều khoản chưa

hợp lý trong Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Công đoàn, sao cho vừa phù

hợp với điều kiện thực tế của thành phố Hà Nội, vừa đảm bảo LIKT của người lao

động và chủ DN. Cần rà soát lại các thủ tục, quy trình cấp phép đầu tư và các quy

chế trong hoạt động SXKD, cắt bỏ những khâu trung gian không cần thiết, các thủ

tục gây phiền hà cho các nhà đầu tư. Môi trường thể chế cho việc thu hút vốn tạo ra

những điều kiện tốt giúp các nhà đầu tư nước ngoài không quá khắt khe nhưng phải

129

chặt chẽ loại bỏ các đối tượng lợi dụng đầu tư nhằm xâm hại tới lợi ích quốc gia và

làm mất TTATXH. Do đó, cần có sơ đồ quy hoạch dự án dành riêng cho các

DNCVĐTNN, công khai trên các phương tiện thông tin. Điều này sẽ giúp cho các

DNCVĐTNN sẽ yên tâm đầu tư và người lao động cũng dự báo đón trước những

ngành nghề có nhu cầu, giảm được việc đào tạo chạy theo tâm lý đám đông, dư luận

xã hội. Bên cạnh đó, UBND thành phố Hà Nội cần tiếp tục đầu tư nâng cấp xây

dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật phục vụ SXKD của các

DNCVĐTNN, như: Hệ thống đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước cho thành

phố, hệ thống bến cảng Sông Hồng, sân bay, thông tin liên lạc… Từ đó, tạo ra môi

trường kinh doanh hấp dẫn hơn.

Hơn nữa, môi trường kinh doanh được ổn định, an toàn, an ninh chính trị và

TTATXH được bảo đảm, không có tội phạm, tệ nạn, khủng bố, sẽ tạo sự yên tâm

cho hoạt động của các DNCVĐTNN. Vì vậy, thành phố Hà Nội cần tiếp tục phối

hợp với các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, phát hiện những tổ chức, cá

nhân có hành vi vi phạm pháp luật, phải được ngăn chặn kịp thời.

Để bảo đảm sự ổn định về chính trị phải tăng cường vai trò lãnh đạo của

Đảng, chính quyền sở tại. Sự ổn định về chính trị là khẳng định vai trò uy tín của

Đảng lãnh đạo đối với xã hội, uy tín đó thể hiện ở chủ trương đường lối và vai trò

trong việc thực hiện đường lối, uy tín của Đảng đối với dân càng được củng cố tăng

cường, mối quan hệ giữa Đảng với dân càng gắn bó mật thiết thì càng tạo ra sự ổn

định vững chắc về chính trị. Việc bảo đảm an ninh chính trị và TTATXH có liên

quan mật thiết thì càng tạo ra sự ổn định vững chắc về chính trị; gắn với chức năng,

nhiệm vụ của lực lượng Công an nhân dân và các cơ quan bảo vệ pháp luật. Do vậy,

để có được một môi trường kinh doanh thuận lợi, lực lượng Công an nhân dân phải

nâng cao vai trò và ý thức trách nhiệm đối với việc giữ gìn an ninh chính trị và bảo

đảm TTATXH ở địa bàn cần xác định rõ việc bảo đảm giữ gìn an ninh quốc gia và

bảo đảm TTATXH không chỉ đơn thuần vì mục tiêu giữ gìn an ninh trật tự bảo đảm

cuộc sống bình yên, ổn định cho mọi người dân, mà còn có vai trò ý nghĩa to lớn

đối với việc phát triển kinh tế thu hút đầu tư nước ngoài ở trong địa bàn dân cư.

Cần tạo lập môi trường đầu tư, SXKD thuận lợi cho các DNCVĐTNN luôn

đảm bảo ổn định về chính trị, kinh tế cho hoạt động SXKD của các nhà đầu tư nước

130

ngoài. Giảm thiểu các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian cấp giấy phép, tạo mọi

điều kiện giúp DNCVĐTNN triển khai dự án nhanh chóng, tập trung nguồn lực

phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ.

4.2.1.2. Hoàn thiện cơ chế, chính sách hoạt động của các doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội để bảo đảm lợi ích cho

người lao động

Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tới LIKT của người lao động, điều đó

được thể hiện ở việc xây dựng môi trường thể chế, việc hoạch định các chủ trương,

chính sách đối với người lao động. Các chủ trương, chính sách được ban hành bảo

đảm LIKT cho người lao động, cùng với các chủ trương, quy chế bảo đảm LIKT

cho người lao động và những chế tài xử lý các vi phạm của các chủ đầu tư được

thực hiện tốt, sẽ giúp cho LIKT của người lao động được bảo đảm tốt hơn. Đây

được xem là căn cứ để dự báo khả năng bảo đảm LIKT của người lao động nhưng

đồng thời cũng là giải pháp để thực hiện LIKT cho những người lao động.

Do đó, để tạo thuận lợi cho các DNCVĐTNN hoạt động thì trước hết

thành phố Hà Nội cần chủ động và quyết liệt chỉ đạo các cơ quan quản lý nhà nước

trên địa bàn tăng cường sự phối kết hợp cả trong xây dựng, triển khai thực hiện và

tiếp tục quá trình hoàn thiện chính sách; chủ động "lắng nghe thông tin phản hồi và

hành động"; tiếp thu kiến nghị và kịp thời chỉnh sửa, tháo gỡ những vướng mắc, bất

cập về cơ chế chính sách, gây khó khăn cho DNCVĐTNN.

Nhằm bảo đảm LIKT cho những người lao động làm việc trong các

DNCVĐTNN thì thành phố Hà Nội cần quan tâm nhiều hơn đến việc ban hành các

chế tài cụ thể để xử lý những DNCVĐTNN vi phạm đến quyền và lợi ích chính

đáng của những người lao động.

Thành phố Hà Nội cần xây dựng lộ trình chiến lược, quy hoạch, sử dụng hợp

lý vốn đầu tư FDI. Chính sách ưu tiên đối với các DNCVĐTNN sử dụng nhiều lao

động, công nghệ hiện đại, đầu tư vào lĩnh vực, ngành nghề có giá trị kinh tế cao,

chú trọng đến công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp sản xuất, phát triển hạ tầng.

Thành phố Hà Nội cần thể chế hóa hệ thống cơ chế, luật pháp, chính sách

liên quan đến hoạt động của DNCVĐTNN, theo hướng quy định trách nhiệm của

131

chủ DNCVĐTNN có sử dụng lao động giản đơn phải bố trí thời gian và điều kiện

để mỗi người lao động có thể vừa học vừa làm, nâng cao trình độ chuyên môn,

nhận thức hiểu biết pháp luật. Thực hiện tốt nội dung này góp phần lợi cho

DNCVĐTNN, vì làm giảm thiểu nguy cơ do hiểu biết không đúng dẫn đến xung

đột, hành động tự phát của những người lao động giản đơn. Nhà nước và các cơ

quan chức năng không phải chi phí giải quyết, người lao động cũng yên tâm làm

việc có thu nhập ổn định.

Tiếp tục rà soát, chỉnh sửa các bộ luật (như BLLĐ; Luật Đầu tư, Luật Bảo

hiễm xã hội…) liên quan đến lợi ích người lao động, các chính sách ưu đãi đầu tư,

chính sách thuế.., nhằm ngày càng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các Nhà đầu tư

nước ngoài, đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của người lao động.

Các cơ quan chức năng cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát hoạt động SXKD

của DNCVĐTNN. Trong quá trình thực hiện SXKD các chủ DNCVĐTNN vì mục

đích lợi nhuận luôn hạ chi phí sản xuất dẫn tới: Gây ô nhiễm môi trường, cố tình sử

dụng các công nghệ lạc hậu, bắt tay với nhau để chuyển giá, trốn thuế, tranh chấp

quyền lợi giữa chủ DNCVĐTNN và người lao động, chủ DNCVĐTNN đối xử hà

khắc với người lao động. Do đó cần phải đào tạo, xây dựng đội ngũ kiểm tra, kiểm

soát đủ trình độ, năng lực phẩm chất, trang bị những phương tiện kỹ thuật tiên tiến,

hiện đại để kịp thời phát hiện ra những sai phạm, tạo cơ sở để xử lý nghiêm minh

những DNCVĐTNN vi phạm pháp luật.

Triển khai thực hiện đa dạng hóa, linh hoạt hoạt động đối ngoại, xây dựng

tình hữu nghị đoàn kết giữa thành phố Hà Nội với cộng đồng người nước ngoài

đang làm việc sinh sống trên địa bàn. Đây là cầu nối xây dựng lòng tin, tạo tâm lý

ổn định, yên tâm cho những nhà đầu tư là người nước ngoài đang triển khai các dự

án tại thành phố Hà Nội.

4.2.1.3. Hỗ trợ của nhà nước về đào tạo người lao động trong các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

Hà Nội là trung tâm giáo dục và đào tạo lớn nhất cả nước, với nhiều trường

đại học, cao đẳng và trung tâm dạy nghề. Hằng năm đã cung ứng được hàng vạn lao

động có tay nghề và trình độ cao cho các DNCVĐTNN trong các KCN của Thủ đô

132

cũng như các tỉnh lân cận. Tuy nhiên, vấn đề đào tạo và sử dụng lao động còn có

nhiều hạn chế, như: chất lượng đào tạo còn thấp, chưa gắn với nhu cầu thực tế của

các DN, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho thí nghiệm, thực hành còn thiếu

đồng bộ, lạc hậu, chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, gây nên tình trạng

nguồn nhân lực “vừa thiếu, vừa thừa” như hiện nay. Do đó, trước hết thành phố Hà

Nội cần rà soát các chính sách liên quan đến đào tạo người lao động, qua đó phát

hiện những nội dung nào không phù hợp, bất cập thì cần phải sửa đổi, bổ sung kịp

thời, bên cạnh đó, thành lập Ban liên ngành thường xuyên, đột xuất đi kiểm tra,

thanh tra các cơ sở đào tạo trên địa bàn thành phố Hà Nội, khi phát hiện thấy không

đủ tiêu chuẩn quy định sẽ cương quyết không cho hoạt động.

Nhà nước cần phải có các chính sách kết hợp với DNCVĐTNN, hai bên đều

phải có vai trò nhất định trong vấn đề đảm bảo nguồn lao động. Nhà nước và các cơ

quan chức năng cần quản lý tốt hệ thống đào tạo nguồn cung lao động, chủ động

tiến hành khảo sát, quy hoạch nắm chắc nguồn cầu lao động trong các

DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Phân bố và tăng cường các trường

dạy nghề trên địa bàn, mở rộng các hình thức đào tạo nghề đa dạng, gắn giữa lý

luận và thực tiễn, linh hoạt, năng động. Cần có sự kết hợp hài hòa, hợp lý giữa đào

tạo (đào tạo lại), thu hút và bồi dưỡng. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

phải dựa vào thế "ba chân kiềng", nhằm cung ứng ra thị trường nguồn lao động đảm

bảo về số lượng và chất lượng.

- Từng bước đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo nhằm phát triển nguồn

nhân lực, tạo nguồn lực có trình độ cao đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển đất

nước. Kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, để đối tượng đào tạo thực sự đáp

ứng được nhu cầu thực tiễn, cần có kế hoạch đào tạo lâu dài, bài bản, dự tính được

nhu cầu lao động đủ về số lượng và chất lượng cao phục vụ cho sự phát triển lâu dài

cuả nền kinh tế.

- Các cơ quan chức năng phải tăng cường giám sát theo dõi, quản lý lực lượng

lao động trong các DNCVĐTNN. Từ đó, đề ra những chính sách, kịp thời bổ sung

những thiếu hụt cho người lao động về trình độ chuyên môn, pháp luật, tác phong..,

ngày càng tạo lập một lực lượng lao động thật sự có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu

133

của các ngành nghề và các chủ DNCVĐTNN.

- Cần phải rà soát, bổ sung quy hoạch mạng lưới các cơ sở dạy nghề đáp ứng

nhu cầu lao động trong các DNCVĐTNN, trong đó khuyến khích thành lập cơ sở

dạy nghề trong các DNCVĐTNN, nhất là trong các DNCVĐTNN có quy mô sử

dụng lao động lớn. Theo mục tiêu trong giai đoạn 2015-2020, phấn đấu đạt tỷ lệ lao

động đã qua đào tạo 65%. Do đó, phát triển chương trình dạy nghề bao gồm: Xây

dựng và ban hành chương trình khung trình độ trung cấp nghề, trình độ cao đẳng

nghề, căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ năng nghề, phù hợp với tiến bộ kỹ thuật, công nghệ

sản xuất hiện đại. Bên cạnh việc đào tạo lao động lành nghề để làm việc trong khối

đầu tư nước ngoài, cần giải quyết tốt mối quan hệ cung - cầu và giá cả sức lao động,

tiến hành đào tạo theo địa chỉ, theo nhu cầu thị trường để đảm bảo nguồn nhân lực

được sử dụng ngay tới đó, tránh lãng phí cho xã hội.

4.2.1.4. Nâng cao trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, chính quyền địa

phương trong quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn

thành phố Hà Nội

Để bảo đảm LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn

thành phố Hà Nội, cần tập trung vào những nội dung sau:

Một là, tiếp tục duy trì chế độ giao ban định kỳ giữa các Bộ, ngành trung

ương với các địa phương có nhiều dự án đầu tư nước ngoài nhằm tăng cường quản

lý, điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài theo nguyên tắc tập trung, thống nhất

quản lý về quy hoạch, cơ cấu, chính sách và cơ chế, tiếp tục thực hiện chủ trương

phân cấp quản lý Nhà nước về đầu tư của các DNCVĐTNN, phối hợp chặt chẽ giữa

các cơ quan quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài.

Hai là, đẩy mạnh công tác hướng dẫn, kiểm tra, xử lý các trường hợp vi

phạm pháp luật, chính sách, quy hoạch. Chú trọng việc quản lý dự án sau giấy phép,

nắm chắc tình hình thực hiện dự án, xử lý kịp thời những vướng mắc phát sinh để

các DN triển khai dự án thuận lợi.

Ba là, tạo môi trường kinh doanh tốt với các nhà đầu tư

- Xây dựng chính sách quản lý nguồn lực khoa học và phù hợp. Nguồn lực

cơ bản nhất như đất đai, tín dụng và kết cấu hạ tầng như điện, nước.., có ảnh hưởng

rất lớn tới quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư, đặc biệt đối với DNCVĐTNN.

134

- Cần phải minh bạch và nâng cao tính trách nhiệm của bộ máy quản lý địa

phương, nhiều DNCVĐTNN còn phàn nàn về thủ tục hành chính phức tạp gây tốn

kém thời gian và tiền bạc. Ví dụ: việc kiểm tra, thanh tra của các cán bộ công quyền

địa phương, hay việc xin cấp phép, vay vốn, cấp đất, đã làm tăng phí giao dịch của

DNCVĐTNN, nếu giảm thiểu được chi phí này sẽ giúp cho các DNCVĐTNN hoạt

động hiệu quả hơn.

- Chính quyền địa phương cần lưu ý đến việc được miễn tiền sử dụng đất cho

loại hình nhà ở xã hội để khuyến khích các DNCVĐTNN, tư nhân đầu tư xây dựng

nhà ở cho công nhân, hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng gần các KCN.

Bốn là, nâng cao hiệu quả quản lý của ban quản lý các KCN trên địa bàn

thành phố Hà Nội

Cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về các KCN, tiến tới ban hành Luật về

KCN làm cơ sở pháp lý ổn định và thống nhất cho việc tổ chức và hoạt động của

các KCN ở nước ta. Các công cụ chính sách đầu tư phát triển KCN phải rõ ràng,

minh bạch, đặc biệt phải nhất quán, có tầm nhìn dài hạn và toàn cục được xây dựng

trên cơ sở cân nhắc kỹ mục tiêu công nghiệp hoá cho từng thời kỳ. Ủy Ban nhân

dân thành phố Hà Nội cần áp dụng các biện pháp hỗ trợ đầu tư đối với các

DNCVĐTNN đầu tư vào lĩnh vực phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn như trợ

cấp vốn, miễn giảm thuế.

- Xác định rõ một trong các nhiệm vụ trọng tâm của thành phố là tập trung

phát triển kinh tế để sớm đưa Hà Nội trở thành thành phố công nghiệp theo hướng

hiện đại, đặc biệt là trong bối cảnh thành phố mới mở rộng, trong đó phát triển các

KCN là động lực chủ yếu. Ban Quản lý vừa tổ chức, sắp xếp lại bộ máy hợp nhất,

vừa cùng với các DN vượt qua khó khăn và tích cực đổi mới công tác quản lý, cải

cách thủ tục hành chính để trở thành điểm tựa cho các DNCVĐTNN có đà phát triển.

Phát huy bộ phận "một cửa" để đáp ứng phục vụ kịp thời các giao dịch trong KCN,

có 58 thủ tục hành chính áp dụng theo cơ chế một cửa phục vụ DNCVĐTNN tất cả

các khâu từ chứng nhận đầu tư đến hoạt động xuất nhập khẩu, quản lý lao động người

nước ngoài và trong nước, các thủ tục về quy hoạch và xây dựng cơ bản trong các

KCN, đã được Ủy ban nhân dân thành phố ban hành, giúp cho các DNCVĐTNN rút

ngắn thời gian giao dịch. Để tạo điều kiện cho các DNCVĐTNN trong KCN hoạt

135

động tốt, Ban Quản lý còn thường xuyên rà soát, cập nhật văn bản và phổ biến tập

huấn thường xuyên cho DN các văn bản mới để thực hiện. Trong đó, quan tâm đến

các quy định về môi trường, quan hệ giữa chủ DN và người lao động, giúp

DNCVĐTNN tiếp cận với nguồn vốn kích cầu của Chính phủ vượt qua khủng hoảng.

Với các DNCVĐTNN xây dựng hạ tầng KCN, Ban Quản lý đã thường xuyên

kiểm tra đôn đốc hoàn thiện kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hệ thống xử lý nước thải và

thành lập bộ phận quan trắc, quản lý môi trường của từng KCN. Đồng thời tổ chức

nghiên cứu đề xuất các cơ chế hỗ trợ ưu đãi đối với các DNCVĐTNN sử dụng công

nghệ cao, nhất là khu công nghệ cao sinh học nhằm khuyến khích các loại hình DN

này phát triển.

Ban quản lý các KCN Hà Nội đã đặt ra mục tiêu phấn đấu đạt mức tăng

trưởng hàng năm về giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN trên địa bàn thành

phố Hà Nội bình quân hàng năm trong giai đoạn 2015 - 2020 là 30%. Đồng thời thu

hút mỗi năm khoảng 5 vạn lao động nhằm góp phần quan trọng tăng GDP của

Thành phố Hà Nội lên trên 10%/năm và giải quyết việc làm hàng năm cho trên 10

vạn người đến độ tuổi lao động. Để đạt được những chỉ tiêu trên, vấn đề đặt ra cho

các KCN Hà Nội mỗi năm cần xây dựng thêm 500 - 1.000 ha KCN tập trung ở các

khu vực cực Bắc và cực Nam Thành phố. Trong đó, ưu tiên bố trí phát triển các sản

phẩm có hàm lượng chất xám cao, tạo mặt bằng để di dời các cơ sở sản xuất gây ô

nhiễm môi trường.

Trong thời gian tới, Ban Quản lý các KCN Hà Nội đang xây dựng kế hoạch

trình Thành phố chỉ đạo, tạo điều kiện để tiếp tục đổi mới công tác quản lý, phát huy

tốt cơ chế "một cửa, một dấu" tạo điều kiện thuận lợi cho các DN phát triển sản xuất,

cùng với việc tập trung xây dựng phát triển thêm các KCN. Dự kiến đến năm 2020 sẽ

có khoảng 20 KCN đi vào hoạt động với tổng diện tích khoảng 4.500 ha, trong đó tỷ

lệ lấp đầy KCN đạt 60% để mang lại tổng doanh thu khoảng 250.000 tỷ đồng, chiếm

trên 20% GDP của Thành phố [101], tạo việc làm mới cho nửa triệu lao động. Hiện

nay, Ban Quản lý các KCN Hà Nội đang tập trung triển khai các khâu công việc để

tham mưu cho Thành phố hoàn thành tốt các mục tiêu trên, góp phần nhanh chóng

đưa Thủ đô Hà Nội "ngàn năm văn hiến" tiến nhanh trên con đường CNH, HĐH và

thực sự là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước.

136

Nhìn lại gần hai nghìn cuộc đấu tranh tự phát có đông người lao động tham

gia trong thời gian qua, cho thấy: về bản chất, 90% các vụ "ngừng việc" có nguyên

nhân do chưa có biện pháp chế tài đủ mạnh buộc người sử dụng lao động phải

nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Vì vậy, phía người chủ lao động công khai xâm

hại quyền của người lao động về tiền lương, về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ

ngơi, về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… Trong khi đó, cơ quan quản lý lao động

đã yếu năng lực, còn thiếu nhân lực, không thể hạn chế chủ DNCVĐTNN phạm

pháp. Vì thế, chủ DNCVĐTNN càng vi phạm pháp luật thì càng có nhiều lợi nhuận.

Nếu người lao động không ngừng việc khi họ bị bóc lột thì chẳng khác nào họ tiếp

tay cho chủ DNCVĐTNN để khống chế người lao động. Trên thực tế, nếu người lao

động bị xâm hại quyền lợi mà không đấu tranh thì chủ DNCVĐTNN cũng không

bao giờ tự nguyện sửa sai. Tuy nhiên, sau khi người lao động ngừng việc để đấu

tranh, hầu hết các chủ DNCVĐTNN đều tỏ ra lo lắng, có tâm lý muốn hoà giải. Đặc

biệt, có các cơ quan chức năng, trong đó lực lượng Cảnh sát cùng tổ chức công đoàn

tiến hành hòa giải, phân tích sai phạm của chủ DNCVĐTNN và buộc họ giải quyết

thỏa đáng các yêu sách của người lao động, lập tức, quan hệ lao động sẽ ổn định trở

lại. Do đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho các DNCVĐTNN trong quá trình kinh

doanh, cũng như đảm bảo LIKT cho người lao động cần phải thực hiện tốt những

biện pháp sau:

- DNCVĐTNN và người lao động phải ký hợp đồng lao động đúng theo quy

định của BLLĐ Việt Nam, thực hiện đúng nội dung bản hợp đồng. Xây dựng thang,

bảng lương cụ thể phù hợp với cơ chế thị trường, áp dụng quy chế tiền thưởng căn

cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh và mức độ hoàn thành công việc của người lao

động, đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội. Nhằm đảm bảo chủ DNCVĐTNN làm

ăn có lãi, mở rộng sản xuất; người lao động ổn định việc làm, được hưởng đầy đủ

quyền lợi về vật chất và tinh thần, yên tâm làm việc.

- Các DNCVĐTNN sau khi được cấp giấy phép kinh doanh, tất cả các

DNCVĐTNN phải xây dựng tổ chức công đoàn. Tổ chức này sẽ giám sát quá trình

quan hệ lao động, bao gồm bản ký kết thỏa ước lao động tập thể; tham gia xây dựng

nội quy DNCVĐTNN, quy chế trả lương, trả thưởng, tham gia giải quyết các vấn đề

quan hệ lao động liên quan đến quyền lợi ích của người lao động. Giữa công nhân và

137

giới chủ nếu xảy ra mâu thuẫn thì tổ chức Công đoàn phải kịp thời hướng dẫn, hòa giải,

đồng thời phối kết hợp với các cơ quan chức năng để giải quyết kịp thời vụ việc tránh

những cuộc đình công, bãi công bất hợp pháp gây mất TTATXH trong các KCN.

4.2.1.5. Tăng cường sự kết hợp giữa các cơ quan chức năng trong giải

quyết vấn đề lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

Nhằm giữ gìn TTATXH trong các KCN cũng như các khu vực nhà ở của

công nhân, lực lượng Cảnh sát không ngừng nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu

tranh tội phạm kinh tế trong lĩnh vực đầu tư của các DNCVĐTNN.

- Tăng cường xây dựng các Đồn công an tại các KCN với quy mô chính

quy và lực lượng chuyên nghiệp nhằm nắm bắt tình hình địa bàn. Bởi vì, KCN là

một trong những địa bàn đặc thù, với số lượng công nhân rất đông đến từ các

miền quê khác nhau, đồng thời có nhiều người nước ngoài với các quốc tịch khác

nhau. Lực lượng Công an cần nắm chắc tình hình cụ thể của địa bàn nhằm đảm

bảo TTATXH.

- Xây dựng cộng tác viên bí mật ở các DNCVĐTNN nhằm nắm tình hình

hoạt động SXKD của từng công ty, biết được công nhân làm việc trong môi trường

như thế nào, đồng thời nắm bắt được chủ DN sử dụng người lao động ra sao. Bên

cạnh đó, lực lượng Công an sẽ phòng ngừa, ngăn chặn được một số thế lực thù địch

lợi dụng chỗ đông người (công nhân) để tuyên tuyền, kích động, làm xấu hình ảnh

của Việt Nam nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng trước nhà đầu tư nước

ngoài, chống phá đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và công

cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

- Mở hồ sơ điều tra cơ bản đối với các DNCVĐTNN hoạt động trong KCN

nhằm nắm tình hình: Chủ đầu tư? Vốn điều lệ? Tổng số người làm việc trong

DNCVĐTNN? Có bao nhiêu người nước ngoài? Quốc tịch? Số lượng công nhân là

bao nhiêu? Sản xuất ngành nghề gì? Tiền lương trung bình của công nhân làm việc

trong DNCVĐTNN được bao nhiêu? Các công ty vệ tinh (văn phòng phẩm; vận tải;

thực phẩm; bảo vệ...) hoạt động với DNCVĐTNN đó như thế nào?

- Tăng cường đảm bảo trật tự giao thông trong các KCN. Lực lượng Công an

phối kết hợp với chủ DNCVĐTNN; Ban quản lý KCN xây dựng hệ thống giao

138

thông đồng bộ trong KCN như cắm các biển báo, phân luồng giao thông giờ tan

ca... Lực lượng Công an phối hợp với DN hoạt động trong KCN tổ chức thường

xuyên các đợt tuyên truyền, phổ biến về chấp hành tốt luật giao thông.

- Lực lượng Công an phối kết hợp với các cơ quan chức năng như Ban

quản lý KCN, Liên đoàn lao động thành phố Hà Nội.., phòng ngừa và nắm bắt

kịp thời các cuộc đình công, bãi công tại các KCN, nhằm ổn định tình hình an

ninh trật tự tại KCN.

Qua các cuộc đình công, bãi công của công nhân trong các KCN chủ yếu tập

trung vào nội dung kiến nghị đòi tăng lương cơ bản và phụ cấp lao động. Đình công,

lãn công thường xảy ra theo hiệu ứng lan truyền từ công ty này tới công ty khác trong

các KCN. Khi các cuộc đình công xảy ra, lực lượng Công an phải nắm bắt kịp thời,

huy động lực lượng giữ gìn TTATXH, phối kết hợp với các cơ quan chức năng,

hướng dẫn, tuyên truyền cho công nhân đình công phải thực hiện theo trình tự pháp

luật, không được hủy hoại tài sản của giới chủ; cản trở giao thông...

- Lực lượng Công an phối kết hợp với DNCVĐTNN, chính quyền địa

phương, đặc biệt là lực lượng Công an xã làm tốt công tác tạm trú, tạm vắng, nắm

chắc được số lượng nhân khẩu trên địa bàn. Từ đó, đưa ra những biện pháp phòng

ngừa, xử lý kịp thời nhằm bảo đảm TTATXH trên địa bàn.

Như vậy, việc thu hút các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội là

vấn đề chiến lược có tầm cỡ quốc gia, để phát triển thủ đô ngày càng giàu mạnh,

chính quyền địa phương phải tạo môi trường đầu tư thuận lợi, các chế độ đãi ngộ

thu hút đầu tư. Bên cạnh đó, việc đảm bảo LIKT cho người lao động làm việc trong

các DNCVĐTNN, đòi hỏi phải có một đội ngũ lao động đã qua đào tạo, thường

xuyên rèn luyện nâng cao tay nghề, có ý thức kỷ luật lao động, làm việc theo nhóm,

nhằm nâng cao chất lượng lao động… Lực lượng Công an có sự phối kết hợp với

các cơ quan chức năng nhằm ổn định tốt TTATXH trên địa bàn KCN. Có thể nói,

hệ thống giải pháp trên mang tính thiết thực và khả thi. Thực hiện tốt các giải pháp

đó, chúng ta tin rằng thành phố Hà Nội sẽ là địa bàn thu hút đầu tư lớn nhất đối với

các DNCVĐTNN và sẽ cung ứng những lao động có chất lượng cao cho nhà đầu tư.

Đồng thời, với những hợp đồng lao động được ký kết chặt chẽ, LIKT của người lao

động trong các DNCVĐTNN được bảo đảm đúng quyền lợi, quan hệ lao động hài

139

hòa, khắc phục những DN có quan hệ lao động chưa được thiết lập chặt chẽ, quyền

công đoàn của người lao động còn bị vi phạm.

4.2.1.6. Khuyến khích, tôn vinh các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

trên địa bàn thành phố Hà Nội thực hiện tốt lợi ích kinh tế của người lao động

Trong quá trình đầu tư vào thành phố Hà Nội, đến nay đã có rất nhiều các

DNCVĐTNN thực hiện tốt các LIKT cho người lao động, như đóng bảo hiểm đầy

đủ, quan tâm đào tạo, nâng cao trình độ cho người lao động, thực hiện chế độ nghỉ

mát, câu lạc bộ thể dục thể thao, xây dựng nhà trẻ, nhà mẫu giáo cho con em người

lao động, hệ thống nhà ăn đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm. Điển

hình là các DN có vốn đầu tư của Nhật Bản tại KCN Bắc Thăng Long, huyện Đông

Anh, như Công ty TNHH Panasonic Home Appliances Việt Nam; Công ty TNHH

Fujikin Việt Nam; Công ty TNHH Tokyo Micro Việt Nam [104], đã thực hiện tốt

hợp đồng lao động (thực hiện đúng cam kết tiền lương, thưởng tương đối cao, có

khu nhà ở cho người lao động)

Chính vì vậy, để ghi nhận những công lao, thành tích của công ty, thành phố

Hà Nội tiếp tục triển khai với cách làm, hình thức tổ chức mới nhằm khích lệ, tôn

vinh, khen thưởng các DNCVĐTNN khi họ thực hiện đúng các hợp đồng lao động đã

được ký kết, các quyền và nghĩa vụ của DN đối với người lao động. Cần có chính

sách ưu đãi đối với những DNCVĐTNN vào thành phố Hà Nội, như: Cắt giảm một

phần giá thuê đất; giảm thuế, thủ tục nhanh gọn, đơn giản, tốn ít thời gian, chi phí.

4.2.2. Nhóm giải pháp về phía người lao động

4.2.2.1. Nâng cao trình độ văn hóa, tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ cho người lao

động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trong thời đại của cách mạng khoa học công nghệ, lao động phức tạp, lao động

được đào tạo có trình độ chuyên môn cao ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với mọi

quá trình sản xuất. Trong các DNCVĐTNN cũng vậy, trình độ chuyên môn của những

người lao động được các chủ DNCVĐTNN quan tâm chú trọng nhiều hơn.

Đối với DNCVĐTNN, họ đã tìm thấy ở người lao động Việt Nam nhiều

điểm tương đồng, thông minh, chăm chỉ. Nhưng thực tế người lao động còn gặp khó

khăn về trình độ, đặc biệt ở các vị trí quản lý hoặc lao động có tay nghề cao. Phần

lớn các DNCVĐTNN sau khi tuyển dụng lao động, họ đều phải tổ chức đào tạo lại

140

lao động, kể cả trình độ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ. Các DNCVĐTNN đều

thấy rằng, khả năng làm việc ở các khâu trình độ chuyên môn cao và tác phong

công nghiệp vẫn là những điểm yếu của lao động Việt Nam. Để đáp ứng được yêu

cầu tuyển dụng của các DCVĐTNN, thành phố Hà Nội cần phải thực hiện tốt các

yêu cầu sau:

Người lao động làm việc trong DNCVĐTNN phải tự nâng cao trình độ

chuyên môn, tay nghề, thành thạo vi tính, thích nghi với công nghệ máy móc tiên

tiến, có kỹ năng giao tiếp, làm việc theo nhóm, thích nghi với sự thay đổi và tình

huống mới mà DNCVĐTNN đặt ra.

Khi được tuyển dụng làm việc trong DNCVĐTNN, bên cạnh năng lực

nghiệp vụ chuyên môn, người lao động cần rèn luyện cho mình tác phong công

nghiệp, cần cù chịu khó, sáng tạo và biết cách làm việc theo nhóm. Tiếp tục triển khai

tốt cuộc vận động "Xây dựng nếp sống văn hóa trong công nhân viên chức lao động",

xây dựng đơn vị, người lao động có văn hóa. Đồng thời, DNCVĐTNN phải tạo điều

kiện về môi trường và điều kiện làm việc cho công nhân lao động, chấp hành nghiêm

pháp luật lao động, mặt khác phải có phương pháp quản lý tiên tiến, khoa học, trình

độ công nghệ hiện đại, những yếu tố cần thiết để xây dựng tác phong lao động cho

công nhân lao động. Bên cạnh đó, người lao động phải biết nâng cao trình độ mọi mặt

để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của DN.

4.2.2.2. Nâng cao hiểu biết pháp luật của người lao động làm việc trong

các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

Nâng cao hiểu biết pháp luật cho người lao động trong các DNCVĐTNN

nhằm từng bước hình thành thói quen hàng động theo pháp luật, giúp người lao

động giải quyết hài hòa các mối quan hệ xã hội, đặc biệt hạn chế tình trạng xung đột

trong mối quan hệ với người sử dụng lao động. Khi có hiểu biết pháp luật người lao

động sẽ có ý thức chấp hành và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, nhờ đó sẽ

giảm được đình công, kiện tụng.., trong mối quan hệ giữa chủ DNCVĐTNN và

người lao động.

Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho

người lao động các văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ và quyền

lợi của người lao động như: BLLĐ; Luật Công đoàn; Luật Bảo hiểm xã hội.., những

141

bài chính trị cơ bản dành cho công nhân lao động. Trong thời gian qua, do người lao

động kém hiểu biết pháp luật, nhất là những kiến thức liên quan đến quyền và nghĩa

vụ nên việc chấp hành nội quy, quy chế, kỷ luật lao động còn hạn chế, dẫn đến

người lao động bị chủ DNCVĐTNN áp dụng các hình thức xử phạt, gây nên sự bức

xúc dẫn đến đình công, lãn công. Tình trạng xung đột trong quan hệ lao động trong

DNCVĐTNN xảy ra không chỉ làm thiệt hại chính cho người lao động, chủ

DNCVĐTNN và cho cả Nhà nước.

Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật cho người lao động trong các

DNCVĐTNN phải trở thành thường xuyên mang tính tích lũy, hàng quý, hàng

tháng, để những người lao động nâng cao ý thức hiểu biết pháp luật, trên cơ sở đó

họ có thái độ đúng đắn trong ứng xử với giới chủ khi lợi ích chính đáng của họ bị

xâm hại. Ngoài pháp luật các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về các

quy định đãi ngộ đối với người lao động được ban hành cũng cần có sự phổ biến,

tuyên truyền cho mọi người hiểu rõ và hiểu đúng để họ có ý thức tốt hơn về quyền

và nghĩa vụ chính đáng của mình khi tham gia vào các hoạt động trong các

DNCVĐTNN. Để tuyên truyền giáo dục chính sách pháp luật cho người lao động,

cần phát huy vai trò của các tổ chức công đoàn và các cơ quan chức năng có liên

quan, trong đó không thể thiếu vai trò của lực lượng Công an nhân dân.

4.2.2.3. Nâng cao ý thức, kỷ luật của người lao động làm việc trong các

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

Người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà

Nội, trong đó, lao động phổ thông chiếm tỷ lệ nhất định. Vốn xuất thân từ nông

thôn, người lao động đã quen với nếp làm việc tự do, chưa từng làm việc trong môi

trường công nghiệp, không quen làm việc dưới sự quản lý, bị ràng buộc bởi nhiều

nội quy, quy chế, giờ giấc, thiếu tác phong công nghiệp… Do vậy, xây dựng cho

người lao động có tác phong công nghiệp rất quan trọng không chỉ mang lại lợi ích

cho DNCVĐTNN mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với người lao động. Khi ý thức

kỷ luật tốt, làm việc nghiêm túc, chịu khó học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn,

rèn luyện tay nghề… Người lao động sẽ nâng cao năng suất, tạo uy tín và nâng cao

thu nhập cho mình và cho chủ DNCVĐTNN thực hiện tốt nội quy, quy chế, hợp

đồng lao động của chủ DN.

142

Người lao động cần tôn trọng tính đặc thù của DNCVĐTNN, xây dựng sự

gắn bó lâu dài giữa người lao động với DNCVĐTNN, hạn chế nhảy việc, luôn có ý

thức đóng góp xây dựng DN phát triển vững mạnh.

Trong quá trình lao động, người lao động luôn phải nỗ lực hết mình để phù

hợp với văn hóa của DNCVĐTNN. Dù ở vị trí làm việc nào trong DN thì người lao

động luôn phải tự tìm hiểu, học hỏi, tiếp thu những kiến thức mới như kỹ năng giao

tiếp, thu thập và phân tích thông tin, kỹ năng giải quyết vấn đề, văn hóa, phong tục

tập quán Việt Nam và các nước không chỉ nhằm mở rộng kiến thức để nhanh chóng

hội nhập mà còn tránh được các xung đột văn hóa gây ra do sự khác biệt về ngôn

ngữ, giới tính, quốc tịch.

4.2.3. Nhóm giải pháp về phía doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

4.2.3.1. Nâng cao ý thức chấp hành luật pháp Việt Nam của các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài SXKD trên địa bàn thành phố Hà

Nội cần phải tuân thủ và thực hiện đúng, đầy đủ các quy trình về thủ tục pháp lý về

Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Công đoàn, Luật Lao động để trên cơ sở đó

tiến hành thiết lập các dự án, ký kết các hợp đồng lao động đối với thành phố Hà

Nội. Ngoài việc nghiên cứu trên về luật pháp Việt Nam thì DNCVĐTNN cũng cần

tìm hiểu về truyền thống văn hóa về phong tục tập quán, lối sống, điều kiện sinh

hoạt của người lao động của thủ đô. Sau đó cần phải căn cứ vào số vốn đầu tư và

thế mạnh của mình trong hoạt động đầu tư để ký kết các hợp đồng theo sự đã thỏa

thuận với các cơ quan chức năng, tổ chức của Hà Nội.

Khi đi vào hoạt động SXKD các nhà đầu tư phải thực hiện đúng và đầy đủ

những điều kiện đã tham gia ký kết, thực hiện và chấp hành đúng và đầy đủ luật

pháp của Việt Nam cũng như các chủ trương, chính sách, những quy trình của Việt

Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài ở trên các lĩnh vực cụ thể về các khoản

đóng góp làm nghĩa vụ đối với thành phố Hà Nội và Nhà nước, về bảo vệ môi

trường, bảo đảm an ninh trật tự về các vấn đề trong quan hệ với các cơ sở sản xuất

(các DN của Việt Nam) trên địa bàn thành phố Hà Nội về các vấn đề giữ gìn an

ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư, không

lợi dụng đầu tư để thực hiện những việc làm sai trái với quy định đặc biệt là trên

lĩnh vực bảo đảm an ninh trật tự.

143

4.2.3.2. Xác định bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động đồng thời

cũng chính là bảo đảm lợi ích kinh tế cho chủ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

Đối với những quan hệ lao động làm việc trong các DNCVĐTNN trên địa

bàn Hà Nội, các chủ DN cần phải xây dựng mối quan hệ gắn bó mật thiết tạo điều

kiện giúp đỡ lẫn nhau để đôi bên cùng có lợi. Trong việc bảo đảm thực hiện lợi ích

của những người lao động cần có thái độ quan tâm tới lợi ích chính đáng của những

người lao động, thông qua việc trả tiền công, tiền thưởng, tiền chi phí ăn giữa ca,

nâng cao tay nghề, tạo môi trường thông thoáng trong lao động và bảo đảm đời

sống tinh thần.., cho người lao động. Bên cạnh đó, trong quan hệ cư xử với những

người lao động, ngoài việc tuân thủ luật pháp của Nhà nước cần phải bảo đảm tính

nhân văn trong cách cư xử theo những truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt

Nam. Khi trong các DNCVĐTNN có xảy ra xung đột về LIKT giữa các chủ

DNCVĐTNN với những người lao động thì chủ DNCVĐTNN phải là người chủ

động trên cơ sở căn cứ vào đặc điểm, tính chất của vụ việc để có phương pháp giải

quyết ổn thỏa giữa chủ và thợ. Nếu vụ việc phức tạp cần có thể mời các cơ quan

chức năng có thẩm quyền của Việt Nam (Chính quyền sở tại, tổ chức công đoàn,

công an, các đơn vị được giao quản lý đối với các DNCVĐTNN…) cùng tham gia

giải quyết. Thông qua các cơ quan chức năng trung gian đóng vai trò trọng tài giữa

các chủ DNCVĐTNN và người lao động cần có sự đàm phán, thỏa thuận để không

làm phức tạp tình hình, bảo đảm lợi ích hài hòa cho người lao động và chủ đầu tư.

4.2.3.3. Phát huy vai trò của các tổ chức công đoàn cơ sở trong các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

Lợi ích kinh tế của người lao động làm việc trong các DNCVĐTNN trên địa

bàn thành phố Hà Nội có được bảo đảm đúng hay không? Chủ DN có thực hiện

đúng thỏa ước lao động hay không? còn phụ thuộc vào vai trò quan trọng của tổ

chức công đoàn và chính quyền sở tại, đặc biệt là những cơ quan đơn vị tham gia

vào việc quản lý, giám sát các hoạt động. Nếu tổ chức công đoàn và các cơ quan

đơn vị chức năng quan tâm đến LIKT của những người lao động, luôn luôn có thái

độ kiên quyết đấu tranh cho lẽ phải, trên cơ sở khuôn khổ pháp luật đối với các chủ

144

DNCVĐTNN trong những việc làm sai trái của họ có biểu hiện xâm hại tới LIKT

của những người lao động thì LIKT của người lao động sẽ được bảo đảm tốt hơn.

Để mang lại LIKT cho những người lao động thì các tổ chức công đoàn, các tổ chức

quản lý các DNCVĐTNN phải có thái độ công tâm, đấu tranh cho lẽ phải, đứng về

phía những người lao động. Vì quyền lợi của những người lao động và suy rộng ra thì

đó cũng là lợi ích của quốc gia dân tộc. Vai trò của tổ chức công đoàn cần phải phát

huy và làm đúng chức năng nhiệm vụ của mình theo những quy định của BLLĐ.

Công đoàn thật sự là một đoàn thể để bảo vệ lợi ích chính đáng cho người lao động.

Theo BLLĐ, các DNCVĐTNN sau khi hoạt động cần phải thành lập tổ chức

công đoàn để đại diện bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp cho người lao động.

Thực tế hiện nay cho thấy: Có 88% trong các DNCVĐTNN đã thành lập tổ chức

công đoàn, giúp cho người lao động đảm bảo được quyền lợi chính đáng của mình,

nhất là LIKT, do đó thành phố Hà Nội cần phải thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Một là, đối với các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội chưa có tổ

chức công đoàn: Cần phải nhanh chóng xây dựng tổ chức công đoàn trong

DNCVĐTNN, đây là tổ chức đại diện của người lao động, bảo vệ quyền lợi hợp

pháp cho người lao động, để làm chỗ dựa cho người lao động, đồng thời là nơi đấu

tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động.

Hai là, đối với các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội đã có tổ

chức công đoàn: Định kỳ tổ chức sinh hoạt, Đại hội công đoàn đúng định kỳ. Tổ

chức cho cán bộ công đoàn trong DNCVĐTNN tìm hiểu và nắm vững các luật như:

Luật Lao động, Luật Công đoàn, Luật Bảo hiểm xã hội; thường xuyên nâng cao

trình độ tay nghề, chuyên môn, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp trong

sản xuất cho mọi người lao động.

Ba là, công đoàn cơ sở cần chủ động xây dựng quy chế làm việc và quy chế

phối kết hợp với người sử dụng lao động; thường xuyên định kỳ gặp gỡ người sử

đẻ trao đổi tình hình hoạt động, bàn bạc thống nhất giải quyết những vấn đề nảy

sinh liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động, những kiến nghị của

người lao động. Công đoàn cơ sở cần chú trọng phát triển đoàn viên công đoàn,

củng cố và nâng cao năng lực cán bộ công đoàn, chất lượng hoạt động của công

đoàn cơ sở.

145

Bốn là, công đoàn cần phải làm tốt việc xây dựng, thương thảo, ký kết Thỏa

ước lao động tập thể với DNCVĐTNN. Bởi Thỏa ước lao động tập thể là cơ sở thừa

nhận quyền của người lao động được thông qua đại diện của mình là công đoàn. Nó

sẽ là cơ chế tự kiểm soát, tự điều chỉnh quan hệ lao động nội bộ DNCVĐTNN trên

cơ sở pháp luật.

Năm là, là người đứng giữa DNCVĐTNN và người lao động, cán bộ công

đoàn cần phải có năng lực, sự nhiệt tình. Công đoàn cần lắng nghe và tham khảo ý

kiến của người lao động, chọn thời cơ đúng lúc đề đạt ý kiến của công đoàn với giới

chủ. Thường xuyên xây dựng chương tình công tác của Ban chấp hành công đoàn,

quy chế phối hợp làm việc giữa công đoàn với chủ DNCVĐTNN.

Sáu là, để người lao động yên tâm công tác, công đoàn cần chủ động tham

gia cùng DNCVĐTNN tạo việc làm ổn định, đảm bảo chế độ, chính sách bảo hiểm

y tế, bảo hiểm xã hội, hợp đồng lao động. Chủ tịch công đoàn cơ sở nên là những

người có vị trí lãnh đạo như tổ trưởng, nhóm trưởng thì tiếng nói mới có trọng

lượng và dành thời gian cho hoạt động công đoàn.

Tăng cường giám sát kiểm tra việc thực hiện các chế độ những chính sách

đối với người lao động. Chủ động phối hợp với người lao động để thành lập Hội

đồng hòa giải lao động cơ sở nhằm giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh và tăng

cường cơ chế đối thoại giữa người sử dụng lao động và người lao động.

4.2.3.4. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố

Hà Nội cần tạo môi trường làm việc sáng tạo và thân thiện trong doanh nghiệp

cho người lao động

Hiện nay, mô hình đầu tư sản xuất của các DNCVĐTNN trên địa bàn thành

phố Hà Nội ngày càng về số lượng, chất lượng, nhiều DNCVĐTNN hội tụ đầy đủ

những tiêu chuẩn quốc tế về đầu tư, về sản xuất, về chính sách đãi ngộ đối với

người lao động. Do đó, các chủ DNCVĐTNN để thực hiện tốt mục đích SXKD cần

quan tâm hơn nữa tới người lao động thể hiện:

- Về môi trường lao động: Cần tạo môi trường làm việc sáng tạo và thân

thiện, các chế độ bảo hiểm đầy đủ; đãi ngộ ưu việt và không bao giờ chậm lương

của người lao động.

146

- Về hoạt động đào tạo: Chủ DNCVĐTNN cần phải có chiến lược đào tạo

cho người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật tốt. Luôn có chủ trương, chính

sách đào tạo thường xuyên nâng cao kỹ năng, nhận thức tư duy mới cho người lao

động như: đào tạo định hướng; đào tạo ngoại ngữ thường xuyên cho người lao động

(tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hàn…); đào tạo Leadership cho các cấp quản lý,

trưởng bộ phận.

- Về nhà ăn cho người lao động: Xây dựng các nhà ăn sạch sẽ, thông thoáng.

Thực đơn mỗi ngày có sự thay đổi bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm

và dinh dưỡng cho người lao động.

- Khích lệ người lao động: Hằng năm chủ DN nên tổ chức thăm quan du lịch

cho người lao động, quan tâm đến ngày sinh nhật của người lao động, đặc biệt có

chế độ chính sách cho người lao động đang mang thai…

- Các chủ DNCVĐTNN cần khuyến khích, phát huy tính sáng tạo của người

lao động "Trí tuệ Việt trong DNCVĐTNN".

4.2.3.5. Chủ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường xuyên tìm

hiểu về phong tục, tập quán, quan tâm thực hiện trách nhiệm xã hội đối với

người lao động trong doanh nghiệp

Quá trình đầu tư SXKD vào Việt Nam, các chủ DN nước ngoài cần tìm hiểu

rõ về đặc điểm tốt, xấu, phong tục tập quán của người Việt Nam đây là những vấn

đề để chủ DN quản lý và nâng cao năng suất, hiệu quả lao động, đây là cơ sở bảo

đảm lợi ích cho cả chủ DN lẫn LIKT của người lao động.

Chủ DNCVĐTNN thường xuyên tìm hiểu về phong tục, thói quen của người

lao động Việt Nam như: Người lao động Việt Nam hay đổi việc; "người lao động

ngủ trưa trong giờ nghỉ trưa", đây cũng là một vấn đề; khoảng cách giữa người

nghiêm túc làm việc và những người không nghiêm túc làm việc; người nghiêm túc

làm việc tuân thủ theo lệnh của cấp trên, hoàn thành tốt công việc được giao. Ngược

lại, những người không nghiêm túc thì tranh thủ lúc rảnh rỗi liền chơi game hoặc

chat với bạn bè trên mạng.

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không yêu cầu gì nhiều đối với

người lao động, họ chỉ yêu cầu, trước tiên là "trong giờ làm phải nghiêm chỉnh làm

147

việc". Chủ DN luôn lắng nghe, thấu hiểu và chia sẻ với người lao động. Chủ

DNCVĐTNN cần xác định: DN tốt, đối xử với người lao động tốt, quản trị bài bản,

thường xuyên có những khóa học, tuyên truyền tăng thêm tính gắn bó giữa người

lao động với DN thì tất cả mọi thứ sẽ tốt.

Thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động trong DNCVĐTNN

được thể hiện ở những cam kết của DN trong việc hợp tác với người lao động, gia

đình, cộng đồng, địa phương và xã hội để cải thiện chất lượng cuộc sống của người

lao động, sao cho vừa có lợi ích cho DN, vừa có lợi ích cho sự phát triển kinh tế -

xã hội bền vững.

Thực hiện trách nhiệm xã hội là những quy định về trách nhiệm của DN

trong thực hiện một số nội dung chủ yếu liên quan đến lĩnh vực lao động và môi

trường. Cụ thể như: Chống phân biệt đối xử tại nơi làm việc, quyền tham gia công

đoàn và tham gia thương lượng tập thể, định mức tiền lương, chế độ thời gian làm

việc, an toàn vệ sinh lao động, khen thưởng, kỷ luật, an sinh xã hội… Việc thực

hiện trách nhiệm xã hội của DN sẽ tạo ra được lợi ích cho tất cả các bên tham gia.

148

KẾT LUẬN

Các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội trong những năm qua đã có

những đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu nhập, tạo việc

làm cho người lao động. Tuy nhiên, vấn đề phân phối tiền lương, thu nhập, chất

lượng cuộc sống, quyền lợi của người lao động, vẫn còn nhiều bất cập, cần có

những giải pháp nhằm bảo đảm LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN

trên địa bàn thành phố Hà Nội. Với bốn chương, tác giả luận án đã nghiên cứu, phân

tích, đánh giá và đưa ra một số kết luận sau:

1. Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan nó phát sinh và tồn tại

trên cơ sở của một quan hệ sản xuất nhất định, là hình thức biểu hiện của quan hệ sản

xuất và phản ánh mặt bản chất nhất của quan hệ sản xuất. LIKT không tuỳ thuộc vào

yếu tố chủ quan của con người (không tuỳ thuộc ở chỗ là con người có nhận thức

được nó hay không, mà do địa vị của họ trong QHSX quyết định).

2. Lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNCVĐTNN là phạm trù

kinh tế, thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người lao động với các chủ

DNCVĐTNN; phản ánh những nhu cầu, động cơ khách quan của người lao động

tham gia vào các hoạt động kinh tế trong DNCVĐTNN.

3. Lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNCVĐTNN mang những

đặc điểm sau: Biểu thị và phản ánh quan hệ lợi ích giữa người lao động với chủ DN;

là một phạm trù mang tính khách quan; mang tính giai cấp và lịch sử đậm nét. Cơ

cấu LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN bao gồm LIKT trực tiếp và

LIKT gián tiếp và hai nhóm nhân tố ảnh hưởng lợi ích trực tiếp, lợi ích gián tiếp

đến LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN. Đồng thời luận án nghiên

cứu kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về bảo đảm LIKT của người

lao động trong các DNCVĐTNN, từ đó rút ra năm bài học kinh nghiệm có giá trị

tham khảo cho thành phố Hà Nội.

4. Luận án đã phân tích những thuận lợi và khó khăn thực hiện LIKT của

người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trên cơ sở

làm rõ tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài và tình hình hoạt động SXKD của

149

các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội; luận án phân tích, đánh giá thực

trạng thực hiện LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành

phố Hà Nội thời gian qua, từ đó thấy được những kết quả đạt được nhất định. Tuy

nhiên, LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà

Nội cũng còn một số hạn chế như: Tiền lương, tiền thưởng còn thấp, chưa đáp ứng

nhu cầu tối thiểu của người lao động; chủ DNCVĐTNN chưa quan tâm thỏa đáng

đến quyền lợi của người lao động; chất lượng nhà ở và đời sống tinh thần của người

lao động chưa được bảo đảm. Nguyên nhân của những hạn chế trên chủ yếu là: Hệ

thống cơ chế, chính sách bảo đảm LIKT của người lao động chưa thực sự phù hợp,

hoàn thiện; trình độ đội ngũ người lao động còn yếu; các tổ chức công đoàn cơ sở

chưa phát huy vai trò bảo vệ của người lao động; sự gia tăng số lượng lao động lớn;

mục đích của các DNCVĐTNN là lợi nhuận cao. Từ đó đặt ra những vấn đề cần

quan tâm giải quyết là: LIKT của người lao động chưa bảo đảm được các nhu cầu

sống tối thiểu, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần người lao động; LIKT

của người lao động và chủ DN chưa được giải quyết hài hòa, dẫn tới phát sinh mâu

thuẫn; LIKT của người lao động chưa bảo đảm đủ tái sản xuất sức lao động, dẫn tới

nảy sinh các hiện tượng tiêu cực, đây là cơ sở quan trọng bảo đảm căn cứ khoa học

và thực tiễn cho việc giải quyết những nội dung tiếp theo.

5. Để bảo đảm LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa

bàn thành phố Hà Nội luận án đưa ra 4 quan điểm cần phải quán triệt: LIKT của

người lao động trong các DNCVĐTNN phải bảo đảm tái sản xuất sức lao động và

nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động; bảo đảm LIKT của

người lao động trong các DNCVĐTNN phải gắn chặt chẽ với hoàn thiện chính

sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm LIKT của người lao động trong các

DNCVĐTNN nhằm duy trì hoạt động lâu dài của DN; bảo đảm LIKT của người lao

động trong DNCVĐTNN phải thông qua thỏa ước tập thể và phát huy vai trò của tổ

chức công đoàn.

Trên cơ sở những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, cùng những vấn đề

đặt ra cần giải quyết để bảo đảm LIKT của người lao động trong DNCVĐTNN luận

án đã đề xuất một hệ thống giải pháp gồm 3 nhóm: Nhóm giải pháp về phía Nhà

150

nước; nhóm giải pháp về phía người lao động; nhóm giải pháp đối với

DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Các nhóm giải pháp đưa ra đều dựa

trên cơ sở những căn cứ khoa học có những yếu tố mới được phân tích có cơ sở

khoa học, có tính khả thi giữa các giải pháp và các nhóm giải pháp có mối quan hệ

tác động lẫn nhau, để bảo đảm LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN.

Việc thực hiện đầy đủ đồng bộ các giải pháp trên sẽ góp phần bảo đảm LIKT

của người lao động trong các DNCVĐTNN được thực hiện tốt, không những đem

lại hình ảnh tốt đẹp cho các DNCVĐTNN trong con mắt người lao động Việt Nam

mà còn đem lại sự ổn định việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ tay nghề và ý

thức tổ chức kỷ luật của người lao động. Đồng thời, đây sẽ là mô hình để nhân rộng

ra cho các DNCVĐTNN khác trong cả nước, phấn đấu tới năm 2020 Việt Nam cơ

bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

151

NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1. Nguyễn Thị Minh Loan (2006), Xây dựng thương hiệu nhằm nâng cao khả năng

cạnh tranh của hệ thống doanh nghiệp nước ta hiện nay - Kỷ yếu Hội thảo khoa

học - Học viện Cảnh sát nhân dân.

2. Nguyễn Thị Minh Loan (2007), Tác động của kinh tế du lịch đối với vấn đề giữ

gìn trật tự an toàn xã hội ở Quảng Ninh, thực trạng và giải pháp, Chủ nhiệm đề

tài cấp cơ sở, Học viện cảnh sát nhân dân.

3. Nguyễn Thị Minh Loan (2007), "Phát triển kinh tế du lịch và những vấn đề đặt

ra đối với nhiệm vụ giữ gìn trật tự an toàn xã hội", Tạp chí Khoa học và giáo

dục trật tự xã hội, (10).

4. Phạm Thái Bình - Nguyễn Thị Minh Loan (2012), "Mấy vấn đề dạy và học theo

học chế tín chỉ ở các trường Công an nhân dân", Tạp chí Khoa học & Giáo dục

an ninh, (3).

5. Nguyễn Thị Minh Loan (2012), Lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với vấn đề giữa gìn trật tự an toàn xã hội trên địa

bàn Hà Nội, Chủ nhiệm đề tài cấp cơ sở, Học viện Cảnh sát nhân dân.

6. Nguyễn Thị Minh Loan (2014), "Một số giải pháp nâng cao chất lượng thu hút

đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam", Tạp chí Thông tin và Dự báo Kinh tế -

Xã hội, (100), tr.9-13.

7. Nguyễn Thị Minh Loan (chủ biên) (2014), Hỏi và đáp môn Những nguyên lý cơ

bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin (Phần II), Học viện Cảnh sát nhân dân.

8. Nguyễn Thị Minh Loan (2014), "Một số giải pháp bảo vệ lợi ích kinh tế của

người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp

phần đảm bảo trật tự, an toàn xã hội", Tạp chí Cảnh sát nhân dân, 11/(102),

tr.56-58.

9. Nguyễn Thị Minh Loan, Đặng Thị Lệ Thu (2014), "Bảo vệ lợi ích người lao

động trong doanh nghiệp FDI tại Hà Nội", Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (24),

tr.45 - 47.

152

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

* Phần tài liệu tiếng Việt:

1. Phan An (2007), Đình công tại thành phố Hồ Chí Minh - thực trạng và giải

pháp, Hội thảo về đình công tại thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đỗ Thị Vân Anh (2010), "Nguyên nhân đình công ở một số DN trong thời gian

qua", Tạp chí Cộng sản điện tử, [Truy cập ngày 08/6/2013].

3. Adam Smith (1997), Của cải của các dân tộc, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

4. Lê Xuân Bá (2006) Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng

kinh tế ở Việt Nam, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội.

5. Bộ Chính trị (2000), Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 15/12/2000 về phương

hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ 2001 -2010.

6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin (Dùng

cho các khối ngành không chuyên Kinh tế - Quản trị kinh doanh trong các

trường đại học, cao đẳng), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

7. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014), Báo cáo tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài

vào Việt Nam năm 2014, định hướng 2015, Hà Nội.

8. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê (2015), Báo cáo điều tra lao động

và việc làm Việt Nam năm 2014, Hà Nội.

9. Phạm Thị Thanh Bình, Trần Thu Phương (2012), "Đầu tư trực tiếp nước ngoài của

Hàn Quốc vào Việt Nam: Thực trạng và triển vọng", Tạp chí Cộng sản, (3).

10. B.B. Radaev (1971), Lợi ích kinh tế trong chủ nghĩa xã hội, Nxb Matxcơva.

11. "Bức xúc của lao động trong doanh nghiệp FDI", http://www.ncseif.gov.vn

[Truy cập ngày 10/8/2015].

12. V.P. Ca-man-kin (1982), Các lợi ích kinh tế dưới chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật,

Hà Nội.

13. "Các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc: Hoạt động ổn định trong năm 2014",

http://khucongnghiep.com.vn/kinhnghiem, [Truy cập ngày 6/8/2015].

14. Chính phủ (2006), Nghị định số 108/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng

dẫn một số điều luật của Luật đầu tư.

153

15. Chính phủ (2008), Quyết định số 1463/QĐ-TTg ngày 10/10 của Thủ tướng

chính phủ về thành lập Ban Quản lý dự án các khu công nghiệp và chế

xuất Hà Nội.

16. Chính phủ (2010), Nghị định số 108/2010/NĐ-CP ngày 29/10/2010, Nghị định

Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm

việc ỏ công ty, DN, hợp tác xã, tổ hợp tác xã, trang trại, gia đình, hộ gia

đình, cá nhân và cá tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.

17. Chính phủ (2011), Nghị định số 70/2011/NĐ-CP ngày 22/8/2011, Nghị định

Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm

việc ỏ công ty, DN, hợp tác xã, tổ hợp tác xã, trang trại, gia đình, hộ gia

đình, cá nhân và cá tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.

18. Chính phủ (2012), Nghị định số 103/2012/NĐ-CP ngày 04/12/2012, Nghị định

Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm

việc ỏ công ty, DN, hợp tác xã, tổ hợp tác xã, trang trại, gia đình, hộ gia

đình, cá nhân và cá tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.

19. Chính phủ (2013), Nghị định số 182/2013/NĐ-CP, ngày 14/11/2013, Nghị

định Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao

động làm việc ỏ công ty, DN, hợp tác xã, tổ hợp tác xã, trang trại, gia

đình, hộ gia đình, cá nhân và cá tổ chức khác của Việt Nam có thuê

mướn lao động.

20. Chính phủ (2013), Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 29/8 của Thủ tướng về định

hướng nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng và quản lý đầu tư trực tiếp

nước trong thời gian tới.

21. Chính phủ (2014), Nghị quyết số 19/NP-CP ngày 18/3/2014 về những nhiệm

vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng

lực cạnh tranh quốc gia.

22. Cục thống kê Bình Dương (2015), Niên giám thống kê năm 2014.

23. Mai Ngọc Cường (2000), Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp

nước ngoài ở Việt Nam, Nxb Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

24. Vũ Hoàng Dương (2011), "Một số vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở

Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (7), (398).

154

25. Nguyễn Văn Dần (2014), "Khủng hoảng kinh tế toàn cầu những khuyến nghị

nhằm thu hút FDI của Việt Nam", Tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán,

(2) (127), tr.63-65.

26. Đảng Cộng sản Việt Nam (1989), Nghị quyết hội nghị lần thứ VI của Ban

Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI ngày 29/3/1989 về việc kiểm điểm

hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và xác định phương hướng,

nhiệm vụ ba năm tới.

27. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp

hành Trung ương khóa VII.

28. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp

hành Trung ương khóa VII.

29. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

30. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

31. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

32. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

33. Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô - LIKT. Nguyễn Ái Quốc - Trường đảng cao

cấp), T10, M.1972, tr.321 - 321, tài liệu dịch số 43/1981), tr.2.

34. Nguyễn Bích Đạt (2006), Khu vực Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội.

35. Trần Ngọc Đức (2010), Hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế của Lực

lượng cảnh sát nhân dân trong các khu công nghiệp, Luận án Tiến sĩ

Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội.

36. Đỗ Huy Hà (2013), Giải quyết quan hệ LIKT trong quá trình đô thị hóa ở nước ta

hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội

37. Lê Thanh Hà (2008), "Đình công và quan hệ lao động ở Việt Nam - Thực

trạng và giải pháp", Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, (362).

155

38. Tiến Hải (2003), "Xây dựng đội ngũ cán bộ ngườiViệt Nam trong các DN có

vốn đầu tư nước ngoài", Tạp chí Cộng sản, (13).

39. ''Hải Phòng thu hút nhiều dự án vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo"

http://dautunuocngoai.gov.vn [Truy cập ngày 9/8/2015].

40. "Hải Phòng: Đột phá thu hút FDI" http://baocongthuong.com.vn [Truy cập

ngày 9/8/2015]

41. Đào Văn Hiệp (2012), "Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới chuyển

dịch cơ cấu kinh tế ngành tại Việt Nam", Nghiên cứu kinh tế (1), (404).

42. Trần Ngọc Hưng (2006), "Thành tựu và vai trò của các Khu công nghiệp, khu

chế xuất của Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội năm 2005", Tạp

chí Khu công nghiệp Việt Nam, (1).

43. Phạm Thị Xuân Hương (2008), LIKT của công nhân trong các DN có vốn đầu

tư nước ngoài tại miền đông Nam bộ hiện nay, Báo cáo tổng hợp kết quả

nghiên cứu Đề tài khoa học cấp bộ năm 2007, Học viện Chính trị - Hành

chính KVII.

44. Nguyễn Linh Khiếu (1999) Lợi ích động lực phát triển xã hội, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội.

45. Nguyễn Linh Khiếu (2002), Góp phần nghiên cứu quan hệ lợi ích, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội.

46. Phan Thanh Khôi (2003), Ý thức chính trị của công nhân trong một số DN ở Hà

Nội hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

47. Kỷ yếu khoa học (2010), 15 năm phát triển các khu công nghiệp và khu chế

xuất, khu công nghệ cao Hà Nội, Ban quản lý các khu công nghiệp và

chế xuất Hà Nội.

48. Laprinmenco (1978), Những vấn đề lợi ích trong chủ nghĩa Lênin, Nxb

Mátxcơva.

49. Trần Quang Lâm, An Như Hải (2006), Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở

Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

50. Lee, Chang Hee (2006), Quan hệ lao động và giải quyết tranh chấp lao động

tại Việt Nam, Văn phòng tổ chức lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam,

Hà Nội

156

51. V.I.Lênin (1997), Toàn tập, Tập 36, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.

52. V.I.Lênin (2005), Toàn tập, Tập 27, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

53. V.I. Lênin (1978), Toàn tập, Tập 44, Nxb Tiến bộ, Matxcơva.

54. Trần Thị Lan (2012), Quan hệ LIKT trong thu hồi đất của nông dân để xây

dựng các khu công nhiệp và khu đô thị mới ở Hà Nội. Luận án Tiến sĩ, Học

viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.

55. Hoàng Thị Bích Loan, Đinh Trung Sơn (2012), "Đầu tư trực tiếp nước ngoài

vào Việt Nam: Những vấn đề đặt ra và gợi ý chính sách", Tạp chí Công

Nghiệp, (6), (tr.14 - 15, 19).

56. Mai Đức Lộc (1994), Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển kinh tế ở

Việt Nam, Luận án Tiến sĩ của, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

57. Hoàng Văn Luận (2000), Lợi ích động lực của sự phát triển bền vững, Luận án

tiến sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.

58. C.Mác và Ănghghen (1993), Toàn tập, Tập 3. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

59. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, Tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

60. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

61. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 18, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

62. C.Mác và Ph.Ănghen (1978), Toàn tập, Tập 1, Nxb Sự thật, tr.98.

63. C.Mác và Ănghen (1982), Tuyển tập, Nxb Sự thật.

64. C.Mác và Ănghen (1984), Tuyển tập, Nxb Sự thật.

65. Hồ Chí Minh (1954), "Giữ gìn trật tự an ninh", Báo Nhân dân, (237).

66. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

67. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

68. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, Tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

69. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, Tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

70. Phạm Bình Minh (2011), Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai

đoạn mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

71. Khoa Minh (1995), LIKT và cơ chế hoạt động của các quy luật kinh tế - Về

LIKT, Nxb Thông tin lý luận, tr.296.

72. Vũ Hữu Ngoạn, Khổng Doãn Hợi (1983), Bàn về sự kết hợp các LIKT, Nxb

Thông tin lý luận, Hà Nội.

157

73. Nhóm Phóng viên thực hiện (2012), "Diễn đàn: Tạo dựng một làn sóng FDI

mới", Tạp chí Công nghiệp, (6), tr.12-13.

74. Phòng Cảnh sát hình sự, Công an thành phố Hà Nội (2013), Báo cáo tình hình

công tác năm 2012, 2013, 2014, Hà Nội.

75. Quốc hội (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

76. Quốc hội (2011), Luật Đầu tư, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội.

77. Quốc hội (2012), Luật Công Đoàn, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội.

78. Quốc hội (2013), Bộ Luật Lao động, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội.

79. Quốc hội (2014), Luật Bảo hiểm xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội.

80. Đình Quang (2005), Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam,

Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

81. Nguyễn Duy Quang (2007), "Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Liên minh Châu

Âu vào Việt Nam", Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện chính trị Quốc gia

Hồ Chí Minh

82. David Ricardo (2002), Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa,

Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.

83. Thủ tướng Chính phủ (2011), Chỉ thị số 1617/CT - TTg ngày 19/9 về việc tăng

cường thực hiện và chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư trực tiếp nước

ngoài trong thời gian tới.

84. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 1601/QĐ - TTg ngày 29/10 về

việc phê duyệt đề án nâng cao hiệu quả công tác quản lý dòng vốn đầu

tư nước ngoài vào Việt Nam

85. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định số 231/QĐ-TTg, ngày 13 tháng 02

năm 2015 về việc Phê duyệt đề án "Đẩy mạnh các hoạt động học tập

suốt đời trong công nhân lao động tại các DN đến năm 2020".

86. Tập thể tác giả (1982), Bàn về lợi ích kinh tế, Nxb Sự thật.

87. Lê Hữu Tầng (1991), Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt nam. Vấn đề nguồn

gốc và động lực, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

88. Nguyễn Huy Thám (1996), Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở các

nước ASEAN và vận dụng vào Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

158

89. Nguyễn Đăng Thành, Nguyễn Thanh Tuấn (2006), "Đình công và một số vấn

đề về quan hệ lao động của công nhân hiện nay", Tạp chí Lao động & Xã

hội, (293), tr.22.

90. Nguyễn Thị Thơm (2006), Thị trường lao động Việt Nam thực trạng và giải

pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

91. Đặng Thị Cẩm Thúy (1999), Tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước

ngoài tới tình hình trật tự an toàn xã hội, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Đại

học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội.

92. Sông Thương (2012), "Tăng Cường thu hút vốn FDI thiết thực và hiệu quả",

Tạp chí Công nghiệp, Kinh tế & Quản lý, (6).

93. "Thực trạng công tác tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài tại khu kinh tế, các khu công nghiệp Hải Phòng"

http://hoidaynghehaiphong.vn [Truy cập ngày 9/8/2015].

94. Hoàng Văn Trực (2007), Hoạt động phòng ngừa Tội phạm Kinh tế trong lĩnh

vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam của lực lượng Cảnh sát nhân

dân, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội.

95. Tresnôccôp, Đ.I (1973), Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tính cách là xã hội học

của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nxb Mátxcơva.

96. Bùi Anh Tuấn (2000), Tạo việc làm cho người lao động qua đầu tư trực tiếp nước

ngoài vào Việt Nam, Nxb Thống kê.

97. Nguyễn Văn Tuấn (2005), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở

Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội.

98. Trần Nguyên Tuyên (2005), Hoàn thiện môi trường và chính sách khuyến khích

đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

99. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2012), Báo cáo số 136/BC- UBND ngày

24/09/2012, về việc tổng kết 25 năm (1987-2011) thu hút đầu tư trực tiếp

nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội.

100. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2013), Báo cáo số 19/BC-UBND ngày

16/01/2013, báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài năm 2012 và xây dựng

kế hoạch 2013.

159

101. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2015), Báo cáo số 02/ BC - UBND, ngày

07/01/2015, Báo cáo Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2014 và

xây dựng kế hoạch năm 2015 trên địa bàn thành phố Hà Nội.

102. Trần Minh Yến (2007), "Đình công, tiền lương - hai vấn đề nổi bật trong lĩnh

vực lao động, việc làm ở nước ta hiện nay", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế

(353), tr.43-52.

103. Nguyễn Trọng Xuân (2002), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc CNH,

HĐH ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

104. "Bộ Lao động thương binh và xã hội", www.molisa.gov.vn [Truy cập ngày

12/10/2014 ].

105. "Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội", www.hapi.gov.vn [Truy cập ngày 20/1/2015].

106. "Sở Lao động thương binh và xã hội Hà Nội", www.hanoi.gov.vn, [Truy cập

ngày 08/2/2015].

107. "Hiệp hội DN đầu tư nước ngoài", www.vafie.org.vn [Truy cập ngày 15/3/2015].

108. "Tổng Cục thống kê", www.gso.gov.vn, [Truy cập ngày 15/4/2015].

109. "Người lao động", http://nld.com.vn, [Truy cập ngày 20/4/2015].

110. "Tạp chí Cộng sản", www.tapchicongsan.org.vn/, [Truy cập ngày 6/5/2015].

* Phần tài liệu tiếng Anh

111. Abhirup Bhunia, 2013. "Labour in times of rising foreign direct investment in

developing countries", http://www.opendemocracy.net, [Accessed on

13/4/2014].

112. Behzad Azarhoushang (2013), "He effects of FDI on China’s economic

development; case of Volkswagen in China". Master’s thesis. Institute of

Management Berlin, Berlin.

113. Daniel S. Hamermesh, Daiji Kawaguchi, Jungmin Lee (2014), Does labour

legislation benefit workers? Well-being after an hours reduction.

(Author: Daniel S. Hamermesh, Daiji Kawaguchi, Jungmin Lee; NBER

working paper No 20389).

114. Dirk Willem te Velde (2002), "Foreign Direct Investment: Who gains". ODI

(Overseas Development Institute) Briefing Paper.

160

115. Dirk Willem te Velde và Oliver Morrissey (2002), "Foreign Direct Investment,

Skills and Wage Inequality in East Asia" (Dirk Willem te Velde and

Oliver Morrissey; Publication: March 2002; Presented at DESG

conference in Nottingham).

116. Dirk Willem te Velde and Oliver Morrissey (2002), "Foreign Direct

Investment, Skills and Wage Inequality in East Asia". Presented at DESG

conference in Nottingham, April 2002.

117. Khondoker Abdul Mottaleb and Kaliappa Kalirajan (2010), "Determinants of

Foreign Direct Investment in Developing Countries: A Comparative

Analysis". ASARC Working Paper 2010/13.

118. Layna Mosley (2013), "Labour rigths and Multinational Production".

Cambridge University Press, Cambridge, 306p.

119. N.Driffield and K.Taylor (2000), "FDI and the labour market: a review of the

evidence and policy implications". Paper prepared for special edition of

Oxford Review of Economic Policy on Globalisation and Labour

Markets.

120. Priit Vahter (2004), "The Effect Of Foreign Direct Investment On Labour

Productivity: Evidence From Estonia And Slovenia". U. of Tartu

Economics and Business Administration Working Paper No. 32.

121. Timothy BesleyRobin Burgess (2008), "Labor Regulation Hinder Economic

Performance? Evidence from India - 2008", Timothy BesleyRobin Burgess.

122. Tu Phuong Nguyen (2014), "Reforming labour relations in Vietnam".

http://www.eastasiaforum.org, [Accessed on 15/8/2014]

123. "Vietnam - Low skill, low cost labour strategy undermining the labour"

(2014). http://www.staffingindustry.com/, [Accessed on 09/06/2014]

124. Harold Meyerson (2014), "Workers deserve to benefit from their productivity,

too", http://www.washingtonpost.com, [Accessed on 28/12/2014].

125. The Conference Board Total Economy Database™ (2011),

http://www.conference-board.org/data/economydatabase.

PHỤ LỤC 1: MẪU PHIẾU KHẢO SÁT MỨC SỐNG CỦA CÔNG NHÂN

TRONG CÁC DNCVĐTTN

Xin chào anh/chị!

Chúng tôi đang tiến hành khảo sát về mức sống của công nhân

trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Rất mong nhận

được ý kiến chính xác, khách quan của anh/chị vào phiếu hỏi này. Những

thông tin anh/chị cung cấp nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học

(anh/chị không phải điền tên vào phiếu).

Xin trân trọng cảm ơn anh/chị!

Câu 1: Anh/chị vui lòng cho biết một số thông tin về bản thân:

1. Tuổi:

3.  35-44

1.  18-24

4.  Trên 44 tuổi

2.  25-34

2. Giới tính:

2.  Nữ

1.  Nam

3. Anh/chị đến từ:

1.  Thành phố, thị xã

2.  Nông thôn, miền núi

4. Thành phần gia đình:

1.  Cán bộ, công chức

3.  Nông dân

2.  Công nhân

4.  Khác (ghi rõ)…………………….

5. Tình trạng hôn nhân:

1.  Đã lập gia đình

2.  Chưa lập gia đình

6. Điều kiện cư trú:

1.  Ở nhà riêng

3.  Thuê nhà trọ

2.  Ở tập thể (của cơ quan)

4.  Khác (ghi rõ)……………………

7. Vị trí công tác:

1.  Quản lý

2.  Nhân viên

8. Trình độ tay nghề:

5.  5/7

1.  1/7

6.  6/7

2.  2/7

7. 7/7

3.  3/7

4.  4/7

9. Trình độ học vấn:

1.  Tốt nghiệp cấp II

4.  Tốt nghiệp cao đẳng- đại học

2.  Tốt nghiệp cấp III

5.  Sau đại học

3.  Tốt nghiệp sơ- trung cấp

6.  Khác (ghi rõ)…………………..

10. Nơi đào tạo nghề của anh/chị:

1.  Tại công ty

2.  Tại trung tâm dạy nghề, cơ sở đào tạo (trường học)

3.  Tại cơ sở đào tạo liên kết

4.  Khác (ghi rõ)………………………………………………………….

11. Số năm anh/chị làm việc tại công ty này? (vui lòng ghi rõ số năm): …………… năm

12. Mức lương khởi điểm của anh chị ở công ty này? (anh/ chị vui lòng ghi rõ số tiền):

……….. 000đ

13. Mức thu nhập hiện nay của anh/chị (vui lòng ghi rõ số tiền)? …………………. 000 đ

14. Anh/chị vui lòng cho biết thời gian được tăng lương của công ty anh/chị?

1.  1 lần/ 1 năm

3.  3 lần/ năm

2.  2 lần/ năm

4.  Khác (ghi rõ)……………………………

15. Anh/chị cho biết mỗi lần tăng lương thì người lao động được tăng bao nhiêu tiền? (vui

lòng ghi rõ số tiền): ……….…. 000 đ

16. Trước khi vào làm ở doanh nghiệp này, anh/chị đã tham gia làm việc ở cơ quan nào

khác hay chưa?

1.  Chưa đi làm ở đâu cả

4.  DN vốn đầu tư nước ngoài

5.  Khác (ghi rõ)…………………………….

2.  DN nhà nước

3.  DN tư nhân VN

Câu 2: Công ty anh/chị có vốn đầu tư từ quốc gia nào?

4.  Singapore

1.  Đài Loan

5.  Hoa Kỳ

2.  Hàn Quốc

6.  Nước khác (ghi rõ)………………………

3.  Nhật Bản

Câu 3: Ngành sản xuất của công ty anh/chị thuộc lĩnh vực nào?

1.  Nông nghiệp

3.  Dịch vụ lưu trú và ăn uống

2.  Công nghiệp, xây dựng

4.  Khác (ghi rõ)…………………………..

Câu 4: Anh/chị vui lòng cho biết mức độ hài lòng của mình về những nội dung dưới

đây ở công ty? (khoanh tròn vào 1 số ở mỗi hàng ngang)

Mức độ hài lòng

Nội dung

Bình

Không

Không có

Hài

lòng

thường

hài

lòng

1. Tiền lương

1

2

3

4

2. Tiền thưởng

1

2

3

4

3. Phụ cấp (bằng tiền)

1

2

3

4

4. Du lịch, nghỉ mát

1

2

3

4

5. Bảo hiểm xã hội

1

2

3

4

6. Trợ cấp khi ốm đau, tai nạn

1

2

3

4

7. Tiền tiết kiệm hàng tháng

1

2

3

4

8. Thời gian tăng ca

1

2

3

4

9. Chế độ bồi dưỡng tiền tăng ca

1

2

3

4

10. Mức ăn trưa, ăn ca

1

2

3

4

11. Nhà ở cho công nhân

1

2

3

4

Câu 5: Khi quyền lợi của công nhân trong công ty bị ảnh hưởng, ai là người đại diện

đấu tranh cho họ?

1.  Công đoàn

4.  Tổ chức khác

2.  Đoàn TNCSHCM

5.  Không ai cả

3.  Công nhân tự đấu tranh

Câu 6: Anh/chị vui lòng cho biết những lý do khiến công nhân chưa hài lòng ở công ty

anh/chị?

1.  Lương thấp

2.  Chậm lương

3.  Thiếu cơ hội thăng tiến

4.  Chế độ đãi ngộ thiếu công bằng

5.  Thiếu minh bạch, dân chủ

6.  Ít quan tâm đến công nhân

7.  Không hỗ trợ chỗ ở cho công nhân

8.  Chế độ ăn trưa, ăn ca kém

9.  Không hoặc ít hỗ trợ khi công nhân đau ốm

10. Không hoặc ít quan tâm đến gia đình công nhân

11. Công việc bấp bênh, không ổn định

12. Thời gian tăng ca nhiều

13. Chế độ bồi dưỡng (tiền, thưởng,…) khi tăng ca kém

14. Không đảm bảo an toàn lao động

15. Môi trường lao động ô nhiễm gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe (khói,

bụi, tiếng ồn,…)

16.Lý do khác (xin ghi rõ)……………………………………………………..

Câu 7: Công ty anh/chị đã từng xảy ra đình công chưa?

1. Đã từng xảy ra  Trả lời câu 8, bỏ qua câu 9

2.  Chưa từng xảy ra  Bỏ qua câu 8, trả lời câu 9

Câu 8: Nếu đã từng xảy ra đình công thì vì lý do gì?

1.  Lương thấp

2.  Thường phải tăng cường độ lao động

3.  Chế độ đãi ngộ kém

4.  Bị ép thời gian làm việc

5.  Phạt trừ lương, thưởng khi vi phạm

6.  Thường phải tăng ca

7.  Lý do khác (xin ghi rõ)………………………………………………….

Câu 9: Nếu chưa từng xảy ra đình công thì vì lý do gì?

1. Lương tốt

2.  Thưởng tốt

3.  Mọi người sợ bị mất việc

4.  Lý do khác (xin ghi rõ)…………………………………………………

Câu 10: Anh/ chị vui lòng cho biết nhu cầu, nguyện vọng chủ yếu của công nhân

trong công ty anh/ chị hiện nay?

1. Nhà ở

7. Thời gian làm việc, nghỉ ngơi thoải mái

2. Tăng lương

8.  Cơ hội học tập nâng cao trình độ

3. Giảm tăng ca

9.  Công bằng, minh bạch về lương, thưởng

4. Cơ hội thăng tiến

10. Chế độ du lịch, nghỉ mát

5. Tăng mức thưởng

11. Được đóng bảo hiểm xã hội

6. Thu nhập ổn định

12.Khác (xin ghi rõ)…………………………

Câu 11: Những ý kiến khác về các chế độ đãi ngộ của công ty đối với công nhân?

………………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………….

Xin trân trọng cảm ơn anh/chị!

PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT CỦA ĐỀ TÀI

1. KHÁI QUÁT MẪU ĐIỀU TRA

Cuộc khảo sát được tác giả thực hiện vào cuối tháng 5 năm 2014 tại 13

Doanh nghiệp FDI trên địa bàn Hà Nội:

-

Số phiếu phát ra 500 phiếu, tác giả thu về được 487 phiếu

- Số phiếu đưa vào xử lý thông tin: 487 phiếu

- Đây là ý kiến của người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có

vốn tư nước ngoài trên địa bàn Hà Nội tại 3 khu công nghiệp: KCN Nam Thăng Long,

Đông Anh Hà Nội, KCN Nội Bài, Sóc Sơn, Hà Nội, KCN Quang Minh, Mê Linh , Hà Nội.

Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được chọn phát

bảng hỏi đến từ các quốc giaĐài Loan;Hàn Quốc; Nhật Bản;Singapore; Hoa Kỳ và là

những người lao động trực tiếp trong lĩnh vực: cơ khí, điện tử, dệt may, da giầy..., để tìm

hiểu về lợi ích của họ. Cụ thể như sau:

PHỤ LỤC 3: KHẢO SÁT 3 DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ

Công ty

NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Canon

Coldtech

Credit Up

Nội dung

1. Môi trường tự nhiên

- Tiếng ồn

Các điều kiện đều

- Ít

- Ít

- Bụi, khói - Thông gió

đạt các tiêu chuẩn cho phép và tiêu

- Có - Có

- Không - Có

- Nhiệt độ, độ ẩm

chuẩn ISO

- Bình thường

- Có

2. Môi trường xã hội - Nhà ở.

- Có nhà ở cho nhân

- Không

- Không

- Phương tiện đi lại

viên làm ca - Không

- Không

- Không

3. Đào tạo nâng cao tay nghề - Trong nước (tại chỗ) - Nước ngoài

- Có - 6 tháng một đợt tuỳ

- Thi nâng bậc - Không

- Có - Không

theo vị trí công việc

4. Đời sống tinh thần - Báo chí, phim ảnh - Giao lưu tập thể

- Luôn cập nhật - Giao lưu các bộ

- Không - Có

- Có - Có

- Tham quan du lịch

phận và công ty - 1 lần / năm

- Có

- Có

- Có

- Có

- Có

5. Hoạt động công đoàn

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

PHỤ LỤC 4: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC KCN TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐÃ VÀ ĐANG HOẠT ĐỘNG (8 KCN)

STT KCN KCN KCN KCN KCN Hà KCN KCN KCN

Thăng Sài Nam Nội Nội-Đài Thạch Phú Quang

Long Đồng B Thăng Bài Tư Thất- Nghĩa Minh 1

Long Quốc

Oai

1 Diện 274 ha 40 ha 30,4 ha 100 40 ha 155 ha 170 407

ha ha ha tích

2 90,3 120 tỷ 92 tỷ 35,05 150 tỷ 220 tỷ 250 tỷ 813 tỷ Vốn

đầu tư triệu $ đồng đồng triệu $ đồng đồng đồng đồng

3 Tỷ lệ 100% 100% 100% 100% 70% 100% 70% 80%

lấp đầy

4 KCN -KCN Bắc Thường Tín (470 ha)

đang -KCN Phụng Hiệp (174 ha)

triển -KCN Quang Minh II (266 ha)

khai -KCNC sinh học Từ Liêm

-Khu công viên công nghệ thông tin Him Lam

Nguồn: [101]

-KCN Sóc Sơn, KCN Phú Cát, KCN Đông Anh, KCN Kim Hoa.

Tên

PHỤ LỤC 5: CÔNG TY CANON VIETNAM

CÔNG TY CANON VIETNAM

doanh nghiệp:

Tên giao dịch:

Canon Vietnam

Lĩnh vực:

Khu Công nghiệp

Số giấy phép:

2198KCN

Ngày cấp:

11/04/2001

Địa chỉ:

Khu Công nghiệp Thăng Long

Loại hình đầu tư:

100% vốn

Tên quốc gia:

Nhật Bản

Thời hạn:

46 Năm

Tỉ lệ nước ngoài:

100 %

Vốn đầu tư:

176.700.000 (USD)

Vốn pháp định:

55.000.000 (USD)

Vốn vay:

121.700.000 (USD)

Điện thoại:

0438812111

Mục tiêu:

Sản xuất, xuất khẩu và tiêu thụ nội địa các loại máy in phun

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội

Tên doanh nghiệp:

PHỤ LỤC 6: CÔNG TY TNHH CREDIT UP VIỆT NAM

CÔNG TY TNHH CREDIT UP VIỆT NAM

Tên giao dịch:

Công ty TNHH Credit Up Việt Nam

Lĩnh vực:

Xe máy - phụ tùng

Số giấy phép:

2029

Ngày cấp:

21/11/2003

Khu công nghiệp Nội Bài, Hà Nội

Địa chỉ:

Loại hình đầu tư:

100% vốn

Tên quốc gia:

Đài Loan

Thời hạn:

50 năm

Vốn đầu tư:

80.268.000 (USD)

Vốn pháp định:

24.250.000 (USD)

Vốn vay:

56.018.000 (USD)

Mục tiêu:

Sản xuất Xe máy - phụ tùng.

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội

Tên doanh nghiệp:

PHỤ LỤC 7: CÔNG TY TNHH COLDTECH

CÔNG TY TNHH COLDTECH

Tên giao dịch:

COLDTECH

Lĩnh vực:

Khu Công nghiệp

Số giấy phép:

54KCN

Ngày cấp:

06/11/2003

Khu Công nghiệp Quang Minh, huyện Mê Linh, Hà nội

Địa chỉ:

Loại hình đầu tư:

100% vốn

Tên quốc gia:

Mỹ

Thời hạn:

44 Năm

Tỉ lệ nước ngoài:

100 %

Vốn đầu tư:

2.200.000 (USD)

Vốn pháp định:

1.000.000 (USD)

1.200.000 (USD)

Vốn vay:

Mục tiêu:

Sản xuất đồ điện tử, gia công và lắp tủ lạnh...

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội

PHỤ LỤC 8: BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI