Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA SƯ PHẠM BỘ MÔN SƯ PHẠM NGỮ VĂN ------o0o-----
NGUYỄN HOÀNG THIÊN
CÁI BI TRONG THƠ CA CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 1945 – 1975
Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành Sư phạm Ngữ Văn Cán bộ hướng dẫn: ThS TRẦN VĂN MINH
Cần Thơ, tháng 5/ 2010
Trang 1
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
LỜI CẢM ƠN
Chặng đường dài bốn năm Đại học đã dần lui về phía cuối. Việc thực hiện một
đề tài luận văn tốt nghiệp là một trong các học phần bắt buộc trong chương trình đào
tạo tại bậc học Đại học. Hơn thế nữa, đó còn là một ước mơ, một vinh dự của biết bao
sinh viên trong suốt thời gian ở giảng đường Đại học. Cá nhân tôi cũng rất vui khi
được nghiên cứu đúng đề tài mà mình yêu thích, đó là thực hiện nghiên cứu đề tài
“Cái bi trong thơ ca cách mạng Việt Nam 1945 – 1975”.
Vì đây là lần đầu tiên tôi độc lập thực hiện nghiên cứu một công trình có quy
mô lớn nên việc gặp khó khăn và thiếu sót là điều khó tránh khỏi. Trở ngại đầu tiên
phải kể đến là do hạn chế về năng lực bản thân (kiến thức và khả năng độc lập nghiên
cứu còn kém cỏi). Nhưng nhờ sự hỗ trợ của các bạn, sự tìm tòi khám phá của bản thân
và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy Trần Văn Minh, tôi dần vượt qua những
vướng mắc để hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp của mình.
Bốn năm trên giảng đường Đại học tôi đã tích lũy được nhiều điều bổ ích từ
kiến thức đến nhân cách. Luận văn tốt nghiệp được coi như là kết quả đánh giá cuối
cùng về những gì mà tôi làm được ở Đại học. Thông qua luận văn này, tôi xin chân
thành gửi lời biết ơn sâu sắc nhất đến quý thầy cô trong trường Đại học Cần Thơ nói
chung và quý thầy cô ở bộ môn Sư phạm Ngữ Văn nói riêng đã nhiệt tình dìu dắt và
truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập. Đặc biệt, tôi xin chân thành
biết ơn thầy Trần Văn Minh – người trực tiếp ra đề tài và hướng dẫn tôi hoàn thành
luận văn này.
Chân thành cám ơn!
Cần thơ, tháng 5/2010.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Hoàng Thiên
Trang 2
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3. Mục đích, yêu cầu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cái bi – Những vấn đề lí luận
1.1 Cái bi – Một phạm trù Mĩ học
1.1.1 Khái niệm cái bi
1.1.2 Bản chất thẩm mĩ của cái bi
1.1.3 Các dạng thức khác nhau của cái bi
1.2 Cảm hứng về cái bi trong văn chương
1.3 Mâu thuẫn, xung đột của cái bi trong nghệ thuật
1.4 Hoàn cảnh lịch sử dẫn tới sự ra đời của cái bi
1.4.1 Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam những năm 1945 – 1975
1.4.2 Những chặng đường phát triển của thơ ca cách mạng
Chương 2: Cái bi trong thơ ca cách mạng Việt Nam về đề tài chiến tranh
giai đoạn 1945 – 1975
2.1 Cảm nhận về sự khốc liệt của chiến tranh
2.2 Nỗi đau về sự hi sinh mất mát
2.2.1 Nỗi đau về sự hi sinh mất mát của đồng chí, đồng đội
2.2.2 Nỗi đau về sự hi sinh mất mát của đồng bào, người thân
2.3 Nỗi nhớ nhung của người lính trận
2.3.1 Nỗi nhớ quê hương, gia đình, người yêu
2.3.2 Tình đồng chí, đồng đội
Chương 3: Cái bi trong thơ ca cách mạng về đề tài hậu phương
giai đoạn 1945 – 1975
Trang 3
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
3.1 Nỗi lòng của người mẹ trông con
3.2 Sự mỏi mòn chờ đợi của người yêu, người vợ
3.3 Nỗi đau khi đất nước bị chia cắt
PHẦN KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo
Mục lục
Nhận xét của cán bộ hướng dẫn
Trang 4
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
PHẦN MỞ ĐẦU
…..…
1. Lí do chọn đề tài
Ngày 02 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Hồ Chí Minh đã
đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở ra một kỉ
nguyên mới cho dân tộc Việt Nam – kỉ nguyên độc lập, tự do. Từ đó cho đến ngày độc
lập thống nhất tổ quốc (ngày 30/4/1975) là ba mươi năm dân tộc ta phải trường kì
kháng chiến. Trong chín năm kháng chiến chống Pháp rồi đến hơn hai mươi năm
kháng chiến chống Mĩ – Ngụy, hết kẻ thù này đến kẻ thù khác luôn muốn thôn tín và
cướp nước ta bằng mọi giá. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là mốc son chói lọi khép lại
chặng đường ba mươi năm chiến đấu và chiến thắng một cách anh hùng của cả dân tộc
ta. Tuy có nhiều đau thương mất mát nhưng hết sức vẻ vang và đáng tự hào.
Ba mươi năm đã trôi qua, ba mươi năm chỉ là cái chớp mắt của lịch sử nhưng
đủ để một thế hệ trưởng thành, một thế hệ không biết đến chiến tranh nhìn nhận đánh
giá nền văn học chiến tranh và cũng đủ để các thế hệ trưởng thành trong chiến tranh
nhìn nhận lại, đánh giá lại nền văn học cách mạng trong giai đoạn vừa qua – giai đoạn
1945 – 1975, đặc biệt là thơ ca cách mạng.
Tội ác của kẻ thù xâm lược trong suốt ba mươi năm đau thương ấy đã gây ra
không biết bao nhiêu cảnh tang thương chết chóc. Biết bao nhiêu máu, nước mắt và
tính mạng của đồng bào, chiến sĩ ta đã ngã xuống dưới gót giày xâm lược. Nên dù
muốn hay không thì hiện thực chiến tranh với bao mất mát kèm theo đã, đang và sẽ
hằn sâu trong tâm hồn mỗi con người, mỗi trang viết của các thi sĩ Việt Nam. Theo
bước đi của lịch sử, văn học nói chung và thơ ca nói riêng đã phản ánh chân thực và vô
cùng xúc động về nỗi đau của một thời mất nước này. Đề tài Cái bi trong thơ ca cách
mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 đã gây cho người viết rất nhiều suy nghĩ và
cảm xúc. Vì thế người viết muốn tìm hiểu sâu và rộng hơn để có cái nhìn khách quan
và hiểu biết thêm về lịch sử, về tâm tư tình cảm con người Việt Nam trong cuộc chiến
không cân sức với của kẻ thù xâm lược.
Trang 5
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thời kì 1945 – 1975 là ba mươi năm văn học Việt Nam đạt được nhiều thành
công rực rỡ, nhất là thơ ca cách mạng với những nhà thơ xuất sắc như: Tố Hữu, Chế
Lan Viên, Huy Cận…Nhiều công trình nghiên cứu về thơ ca cách mạng Việt Nam giai
đoạn này ra đời, có thể điểm qua những công trình nổi tiếng như: Bản sắc dân tộc
trong thơ ca Việt Nam hiện đại 1945 – 1975, (Nguyễn Duy Bắc, NXB Văn hóa dân tộc
Hà Nội 1998), Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945 – 1975 (Vũ Duy Thông,
NXB Giáo dục Hà Nội 1998), Giáo trình văn học Việt Nam 1945 – 1975 (Nguyễn
Lâm Điền, Trần Văn Minh, Đại học Cần Thơ 2004), Thơ ca chống Mĩ cứu nước (Hà
Minh Đức, NXB Giáo dục 1984), Văn học Việt Nam 1945 – 1975, tập 1 (Nguyễn
Đăng Mạnh, chủ biên NXB Giáo dục 1988), …Hầu hết những công trình này đi sâu
khái quát cả một thời kì văn học và các giả tiêu biểu cho những thành tựu và bước đầu
nêu lên những đặc điểm khái quát của nền thơ ca cách mạng Việt Nam.
Trong quyển Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945 – 1975 của tác giả
Vũ Duy Thông đã trình bày khá sắc nét về những quan điểm xung quanh cái đẹp trong
thơ ca cách mạng Việt Nam những năm 1945 – 1975. Ông đã có những nhận định,
phân tích sâu sắc về mối quan hệ hữu cơ của sự kết hợp hài hòa giữa cái đẹp với cái
cao cả, cái hùng, cái bi. Trong đó, tác giả còn chỉ rõ: “Mạch chính của thơ ca kháng
chiến là thể hiện cái hùng nhưng không hề lảng tránh cái bi. Hơn thế nữa, thơ kháng
chiến còn phản ánh cái bi ở nhiều dạng khác nhau, tạo được những rung động thẩm mĩ
lâu bền trong lòng người đọc. Cái bi trong thơ kháng chiến là sự thất bại tạm thời ở
một số phận, một thời điểm trên tinh thần lạc quan cách mạng, lòng tin tất thắng vào
cuộc kháng chiến” [tr79]. Ngoài những lí luận trên, ông còn đi sâu vào phân tích
những biểu hiện của cái bi trong thơ kháng chiến. “Cái bi trong thơ kháng chiến không
dừng lại ở tái hiện những mất mát hi sinh của đồng chí, đồng bào. Các nhà thơ còn
khai thác những bi kịch trong đời sống cá nhân”[tr80]. Và đặc biệt Vũ Duy Thông đã
chỉ ra cái mới mẻ của cái bi trong thơ kháng chiến. “Đó là bi kịch mang dấu ấn thời
đại: Chính nghĩa nhưng yếu kém về sức mạnh vật chất phải trả giá đắt để đánh bại cái
phi nghĩa dựa vào sức mạnh vật chất để tồn tại”.[tr83]. Ngoài ra còn có một phần
tuyển trên 200 bài thơ tiêu biểu của các tác giả được sáng tác trong giai đoạn này. Tuy
Trang 6
nhiên, Vũ Duy Thông chỉ dừng lại ở việc chỉ ra những biểu hiện của cái bi trong thơ
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
kháng chiến mà không nhận định đánh giá và làm rõ nó bằng việc lấy dẫn chứng cụ
thể và phân tích nó.
Những thế giới nghệ thuật thơ là một trong những công trình nghiên cứu có giá
trị của Trần Đình Sử. Tác giả có những nhận xét hết sức xác đáng về nghệ thuật thơ ca
cách mạng: “Về mặt nghệ thuật thơ ca cách mạng đã sáng tạo ra một thế giới sử thi
độc đáo” [tr.100]. Cũng theo ông: “Thế giới sử thi cũng có tình yêu đôi lứa, nhưng
tình yêu nam nữ ấy mang nội dung Tổ quốc” [tr.101]. Và Trần Đình Sử lại khẳng định
thơ ca cách mạng mang “Một thế giới sử thi đậm đặc, các giới hạn cá nhân bị phá vỡ
để hòa chung trong cuộc sống lớn” [tr.102].
Bài viết Nhìn lại thơ kháng chiến 1945 – 1975 của Nguyễn Thị Minh Giới
(đăng trên trang web: Www.hcmussh.edu.vn) đã đưa ra những lí do thích đáng nhất để
chúng ta phải nhìn nhận lại những giá trị của thơ ca giai đoạn 1945 – 1975 theo quan
điểm và góc nhìn mới phù hợp hơn. Trong bài viết tác giả đã trích dẫn những ý kiến
của các nhà phê bình văn học hết sức xác đáng. Trong đó có ý kiến của Trần Đình Sử:
“Do nhu cầu đổi mới bức thiết của văn học trong công cuộc đổi mới chung của đất
nước, cũng như do khát vọng thiết tha muốn tự vượt lên chính mình trong thời kỳ
mới”. Và như vậy, việc nhìn nhận, đánh giá lại văn học cách mạng giai đoạn này là
cần thiết. Vấn đề là để nhìn nhận và đánh giá lại nền văn học giai đoạn này đã nảy sinh
rất nhiều ý kiến, không trùng khớp nhau, thậm chí phủ định nhau. “Bên cạnh việc
khẳng định nền văn học cách mạng giai đoạn này mà những nhược điểm được nhận
thức sâu sắc hơn, một số hiện tượng văn học từng được đánh giá cao nay không còn
được giữ nguyên kích thước như cũ”. Cũng có ý kiến cho rằng văn học 1945 – 1975 là
“một khúc gãy làm gián đoạn tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc đã được dấy lên
từ đầu thế kỷ, nhất là giai đoạn 1930 – 1945, mà mãi tới sau 1986 mới lại được tiếp
nối”. Ý kiến này có lẽ xuất phát từ việc đem “đối lập tuyệt đối giữa cá nhân và cộng
đồng, giữa ý thức xã hội và ý thức nhân bản – đó là sự đề cao ý thức cá nhân, chú
trọng đến việc khám phá cái tôi mà xem nhẹ ý thức cộng đồng”. Cũng có ý kiến cho
rằng, văn học giai đoạn này là văn học “hi sinh nghệ thuật” vì nó phục vụ mục đích
chính trị cách mạng. Dường như việc phục vụ chính trị, cổ vũ và tuyên truyền là tất cả
giá trị của nền văn học này. Và cũng có ý kiến cho rằng nền văn học này đã “lạm dụng
Trang 7
nguyên lý phản ánh, cốt ghi chép cho nhiều người thật, việc thật” và giá trị đích thực
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
của văn học chủ yếu là ở phương diện tư liệu, đời sống.
Trong Thơ ca chống Mĩ cứu nước, Hà Minh Đức đã khái quát quá trình phát
triển, đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thơ ca thời chống Mĩ. Ông đề cao chất
lượng của các tác phẩm thơ: “Thơ đánh Mĩ mang theo nhiều phẩm chất đẹp, vừa giàu
lí tưởng vừa giàu chất hiện thực, có bề rộng của cuộc đời lẫn chiều sâu của tâm trạng,
có những tìm tòi sáng tạo trong nội dung và hình thức nghệ thuật” [tr.5]
Trong bài viết Về một đặc điểm của thơ Việt Nam từ 1955 – 1975, Trần Đăng
Xuyền nhận định: “Khuynh hướng chủ đạo của thơ Việt Nam 1955 – 1975 là tập trung
thể hiện những vấn đề, những sự kiện có ý nghĩa lịch sử và tính cách toàn dân tộc. Vấn
đề riêng tư của mỗi cá nhân bị lu mờ đi trước những vấn đề chung của đất nước, mang
ý nghĩa vận mệnh chung cho cả cộng đồng. Con người được tập trung nhìn nhận chủ
yếu ở phương diện cống hiến và lí tưởng. Khuynh hướng đó không chỉ tạo nên những
nhân vật mang đậm trữ tình mang đậm tính cách cao cả, những hình ảnh nhân vật và
Tổ quốc có sức khái quát cao mà còn tạo ra hàng loạt những mô típ nội dung quen
thuộc: Tình yêu đẹp nhất là tình yêu quê hương đất nước; hi sinh vì Tổ quốc là cao cả
nhất mang tính vĩnh hằng; cuộc sống của con người có ý nghĩa nhất khi hòa mình vào
dòng thác nhân dân; đường ra trận là con đường vui nhất và đẹp nhất…Tất cả những
điều đó được các nhà thơ viết bằng cảm hứng sôi nổi, mãnh liệt mang ý nghĩa khẳng
định, ca ngợi, tự hào” [tr.264]
Năm 1988, nhà xuất bản Giáo dục đã cho in quyển Văn học Việt Nam 1945 –
1975, tập 1, Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên. Đây là công trình mang tính khái quát
những đặc điểm chung của văn học 1945 – 1975. Trong chương 1 khi trình bày về
“những đặc điểm cơ bản của nền văn học mới”. Tác giả đã khẳng định rằng một trong
những nét riêng của nền văn học ba mươi năm chiến tranh này là “xu hướng sử thi hóa
là chủ đạo, chi phối từ tiểu thuyết, thi ca cho đến kịch bản sân khấu” [tr.20]. Ý kiến
này đã khẳng định thơ ca nói riêng và văn học 1945 – 1975 nói chung, đó là xu hướng
sử thi hóa. Tuy nhiên, Nguyễn Đăng Mạnh chỉ dừng lại ở việc nêu ra ý kiến cá nhân
chưa đưa ra những dẫn chứng, chi tiết cụ thể làm thuyết phục độc giả.
Trang 8
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Nguyễn Văn Long trong quyển Văn học Việt Nam trong thời đại mới đã tập hợp
những bài tiểu luận nghiên cứu chủ yếu tập trung trong giai đoạn văn học 1945 – 1975.
Trong quyển sách này tác giả trình bày gồm ba phần. Ở phần một có đoạn: “Quan
niệm nghệ thuật về con người trong văn học chống Mĩ cứu nước là sự tiếp tục của
quan niệm con người trong văn học hai mươi năm trước đó, nhưng được tập trung vào
hướng lớn và đi tới đỉnh cao của nó là con người sử thi” [tr.37]. Ở phần hai, “Thơ giai
đoạn 1945 – 1975, tiến trình và các khuynh hướng” tác giả đã trình bày khá rõ nét và tỉ
mỉ về những đặc điểm nội dung, đặc biệt là các khuynh hướng nghệ thuật của thơ ca
cách mạng giai đoạn này. Ngoài ra ông còn chỉ rõ thơ ca 1945 – 1975 ngoài khuynh
hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn vẫn là một yếu tố hết sức quan trọng. Nó là một trục
song hành với khuynh hướng sử thi chạy suốt chiều dài lịch sử văn học: “Cảm hứng
lãng mạn đã nâng đỡ con người Việt Nam có thể vượt lên mọi thử thách, trong máu
lửa chiến tranh đã hướng tới ngày chiến thắng, trong gian khổ cơ cực đã nghĩ tới ngày
ấm no, hạnh phúc” [tr.13].
Trong quyển giáo trình Văn học Việt Nam 1945 – 1975 Nguyễn Lâm Điền và
Trần Văn Minh đã trình bày khá rõ nét về những thành tựu nổi bật của thơ ca qua các
chặng đường phát triển. Như chúng ta đã biết “Cách mạng tháng Tám thành công đã
mở ra một chân trời mới cho sự sáng tạo thơ ca. Ở buổi đầu tuy còn có sự ngỡ ngàng
và chưa bắt kịp được bước đi của thời đại nhưng đối với các nhà thơ sự đổi thay ấy
thật kì diệu và thiêng liêng biết bao nhiêu, để rồi họ gắn bó ngày một sâu sắc hơn với
Tổ quốc và cuộc đời mới” [tr.5]. Hay “Thơ kháng chiến xuất hiện khá phong phú, đa
dạng và luôn có mặt trong đời sống tinh thần của quần chúng. Quần chúng đến với thơ
để gửi gắm giải bày những tình cảm và nhận thức của mình trước hiện thực đời sống
kháng chiến…”. Có thể nói đây là thời kì mà thơ ca đạt được những thành tựu rực rỡ
nhất: “Với những lẽ trên, lực lượng sáng tác thời kì này ngày một thêm đông đảo. Hầu
hết các nhà thơ trong phong trào Thơ mới đều tham gia cách mạng, đến với cuộc
kháng chiến toàn dân tộc như: Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Tế
Hanh, Nguyễn Bính, Anh Thơ…Chính từ hiện thực cuộc sống đó họ có bước chuyển
mạnh mẽ cả về tình cảm cũng như nhận thức để rồi “từ thung lũng đau thương đến với
cánh đồng vui” và nhận rõ con đường tất yếu để trở thành nhà thơ của nhân dân, sáng
tác để phục vụ đời sống kháng chiến” [tr.7].
Trang 9
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Ngoài những công trình đã nêu trên, còn rất nhiều công trình nghiên cứu và các
bài viết về thơ ca trong giai đoạn 1945 – 1975. Tuy nhiên, chưa có một bài viết hay
một công trình nào đi sâu và đủ sức khái quát vào từng khía cạnh của văn học viết về
đề tài Cái bi trong thơ ca cách mạng Việt Nam 1945 – 1975. Người viết không cho
đó là một khó khăn thách thức với bản thân mình. Ngược lại, đây là cơ hội để người
viết có thể trình bày những quan điểm, hiểu biết của mình. Những công trình nghiên
cứu ở trên một phần đã giúp người viết xác định đúng hướng đi và hoàn thành tốt luận
văn của mình.
3. Mục đích, yêu cầu
Từ trước tới nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ ca cách mạng giai
đoạn 1945 – 1975 nhưng đề Cái bi trong thơ ca cách mạng 1945 – 1975 thì vẫn chưa
có công trình nghiên cứu nào đủ sức thuyết phục và làm rõ cốt lõi vấn đề. Nhân đây,
người viết nghiên cứu đề tài này với mong muốn hiểu biết thêm và có cái nhìn khách
quan hơn về hoàn cảnh lịch sử và xã hội của đất nước trong thời kì 1945 – 1975.
Đồng thời cũng muốn tìm hiểu thêm tâm tư, thái độ, tình cảm của cả dân tộc Việt
Nam, đặc biệt là các nhà thơ trước hoàn cảnh ấy. Hơn nữa góp một phần công sức nhỏ
bé của mình vào quá trình nghiên cứu thơ ca cách mạng của đất nước.
Nhiệm vụ của người viết khi thực hiện đề tài Cái bi trong thơ ca cách mạng
Việt Nam 1945 – 1975 là phải khái quát lên được hoàn cảnh lịch sử và xã hội rồi tiếp
cận phân tích những tác phẩm tiêu biểu để làm nổi bật những giá trị, thành tựu của
mảng thơ ca viết về đề tài cái bi. Từ đó, thấu hiểu được giá trị nhân văn sâu sắc mà các
nhà thơ muốn gửi gắm thông qua các tác phẩm của mình trước thực tại tàn khốc của
chiến tranh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài Cái bi trong thơ ca cách mạng Việt Nam 1945 – 1975 có phạm vi
nghiên cứu rất rộng. Nó không dừng lại nghiên cứu riêng một tác phẩm hay một tác
giả cụ thể nào. Đề tài này bao quát cả một giai đoạn thơ ca Việt Nam thời hiện đại và
chủ yếu tập trung vào những tác phẩm thể hiện tình cảm nỗi lòng của con người Việt
Nam trước bao mất mát hi sinh của dân tộc trong khói lửa chiến tranh. Với kiến thức
và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế nên người viết chỉ tập trung tiếp cận, phân tích,
Trang 10
bình giảng một số bài thơ tiêu biểu thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài và để giải
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
quyết thỏa đáng yêu cầu mà đề tài đặt ra.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đúng và có kết quả tốt bất cứ một đề tài nghiên cứu khoa học nào,
thì việc vận dụng và kết hợp các phương pháp nghiên cứu là hết sức cần thiết. Trong
luận văn, người viết chủ yếu sử dụng một số phương pháp cụ thể sau đây:
Phương pháp thực chứng – lịch sử: Người viết đã căn cứ vào sự kiện văn học
chính xác và có thật của lịch sử để tìm hiểu và đánh giá đúng tác phẩm, hiện tượng văn
học.
Phương pháp tiểu sử: Dùng yếu tố tiểu sử của nhà thơ để lí giải tác phẩm của
nhà thơ đó.
Phương pháp hệ thống: Người viết dùng mô hình hệ thống để nghiên cứu các
tác phẩm thơ ca thuộc giai đoạn văn học 1945 – 1975. Qua đó, đánh giá đầy đủ ý nghĩa
của những tác phẩm văn học.
Ngoài ra, người viết còn sử dụng các thao tác: Chứng minh, giải thích, bình
luận…cũng đồng thời được sử dụng.
Những phương pháp này gắn kết và bổ sung cho nhau giúp người viết giải
quyết những yêu cầu mà đề tài đặt ra một cách thỏa đáng nhất.
Trang 11
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
CHƯƠNG 1
CÁI BI – NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
1.1 Cái bi – Một phạm trù Mĩ học
1.1.1 Khái niệm cái bi
a. Ý kiến của các nhà nghiên cứu
Những khái niệm, những phạm trù từ trước tới nay luôn tồn tại rất nhiều quan
điểm và ý kiến trong việc đưa ra tên gọi cũng như chỉ ra bản chất của nó. Xem xét cái
bi về mặt khái niệm ta thấy tồn tại rất nhiều ý kiến tương đồng cũng như dị biệt. Người
viết có thể điểm qua những ý kiến cụ thể sau:
Cái bi được đề cập đến một cách sâu sắc và có hệ thống lần đầu tiên trong Thi
pháp học của Aristốt. Ông cho rằng: “Bi kịch là sự bắt chước các hành động nghiêm
túc và cao thượng, hành động này có một qui mô nhất định, bi kịch nhằm miêu tả
những con người tốt nhất so với những người trong thực tế. Vì bi kịch miêu tả những
người tốt hơn mọi người nên ta cần bắt chước những nghệ sĩ vẽ chân dung giỏi: Tức là
khi vẽ người nào đó thì đồng thời với việc làm cho các bức chân dung giống người
được vẽ, họ còn vẽ người đó trở thành người đẹp hơn thực, “bi kịch làm trong sạch
hóa những cảm xúc tương tự qua cách khêu gợi sự xót thương và khủng khiếp”.
Những ý kiến trên của Aristốt có thể tóm gọn được những nét chung nhất về bản chất
của cái bi kịch chân chính.
Theo tài liệu 150 thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân biên soạn, cái bi được
định nghĩa như sau: “Phạm trù Mĩ học xác định giá trị thẩm mĩ của những xung đột
không thể giải quyết, được khai triển trong tiến trình hành động tự do của nhân vật,
kèm theo những xung đột này là những tiêu vong của nhân vật hay những mất mát các
giá trị đời sống của nó. Tính thảm họa của cái bi chủ yếu quy định ở cái nội tại của cái
bị diệt vong, bởi sự không phù hợp của nó với trật tự hiện hữu” [1; tr23].
Trong lá thư gửi Látxan nhận xét về vở bi kịch Fraxơ Vôn Xíchkinghen của nhà
văn này, Ăngghen đã đưa ra định nghĩa cái bi là: “Xung đột có tính chất bi kịch giữa
các định lí tất yếu về phương diện lịch sử và việc không thể thực hiện được định lí tất
yếu đó về phương diện thực tiễn”.
Trang 12
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Trong quyển giáo trình Mĩ học đại cương, Nguyễn Hoa Bằng đã định nghĩa:
“Cái bi là phạm trù cơ bản chỉ sự thất bại hay chết của cái đẹp trong cuộc đấu tranh
không khoan nhượng với lực lượng đối lập; là thắng lợi của lực lượng phản động, lạc
hậu trước các lực lượng cách mạng, tiến bộ; là những hi sinh, tổn thất mà phía cách
mạng phải gánh chịu trong cuộc đấu tranh với giai cấp lạc hậu”. [4; tr 46]
Theo Từ điển bách khoa toàn thư thì cái bi là: “Phạm trù Mĩ học xác định và
đánh giá (về mặt thẩm mĩ và đạo đức) những hiện tượng xã hội có mâu thuẫn và xung
đột (giữa cái mới và cái cũ, giữa tiến bộ và lạc hậu, giữa cá nhân và xã hội) nhưng
chưa giải quyết được mà thường gắn với thất bại, bất hạnh hoặc chết chóc. Bi kịch
cách mạng là sự xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử với tình trạng không thể
thực hiện được nó trong thực tiễn. Nhân vật bi kịch đấu tranh cho cái mới, cái tiến bộ
trong điều kiện cái ác còn mạnh hơn. Cái bi được bộc lộ đặc biệt nổi bật trong thể loại
bi kịch. Nhân vật chết nhưng người sống vẫn tiếp tục đấu tranh. Vì vậy, cái bi mang
đậm màu sắc chủ nghĩa lạc quan lịch sử”.[tr.128]
Định nghĩa của Bêlinki đưa ra: “Cái bi bao hàm trong sự xung đột giữa sự say
mê tự nhiên của con tim với tư tưởng về nghĩa vụ bao hàm trong sự đấu tranh bắt
nguồn từ xung đột đó và sau cùng, bao hàm cả sự thắng lợi hoặc sụp đổ”.
Theo Tào Văn Ân thì cái bi là: “Một phạm trù thẩm mĩ phản ánh một hiện
tượng có tính qui luật của thực tế đời sống xã hội thường diễn ra trong cuộc đấu tranh
không ngang sức giữa cái thiện và cái ác, cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và lạc hậu, cách
mạng và phản cách mạng... Trong điều kiện những cái sau còn mạnh hơn những cái
trước. Ðó là sự trả giá tự nguyện cho chiến thắng và bất tử về tinh thần bằng sự thất
bại, nỗi đau và cái chết của những con người tốt. Cái bi tạo ra một cảm xúc thẩm mĩ
phức hợp bao gồm nỗi đau xót, sự tự hào lẫn nỗi sợ hãi khủng khiếp”. [2; tr.23]
b. Ý kiến tác giả luận văn
Từ những nhận định nêu trên, người viết cho rằng cần có sự tổng hòa các ý kiến
trên lại để có một định nghĩa xác đáng và đầy đủ nhất. Người viết đặc biệt chú ý đến
các bình diện nội dung của cái bi được đề cập dưới đây:
Thứ nhất, cái bi đề cập đến “sự thất bại hay chết của cái đẹp trong cuộc đấu
tranh không khoan nhượng với lực lượng đối lập”. Người viết cho rằng không phải bất
kì sự thất bại hay cái chết nào cũng là cái bi. Đồng thời, không phải chỉ có thất bại, cái
Trang 13
chết mới là cái bi, trong trường hợp để chiến thắng nhưng phải trả giá cho hành động
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
quá lớn thì sự chiến thắng cũng là cái bi. Cái bi bao hàm cả chiến thắng và thất bại
nhưng có một điểm chung là sự trả giá cho hành động một cách lớn lao. Ví dụ như một
tên cướp thực hiện hành vi bất thành trước sự truy cản của cảnh sát và bị bắn hạ khi
đang cố gắng chạy trốn. Thì sự thất bại và cái chết đó của tên cướp không phải là cái
bi. Cái bi phải có ý nghĩa lịch sử xã hội. Tức là, bản thân hành động phải là một cuộc
cách mạng tiến bộ giải phóng giai cấp, tấn công vào cái xấu, cái lạc hậu mang lợi ích
cho một giai cấp tiến bộ, phù hợp với xu hướng tất yếu của lịch sử. Cái chết của chị Sứ
(trong tác phẩm Hòn Đất của Anh Đức) là một ví dụ.
Thứ hai, “nhân vật bi kịch đấu tranh cho cái mới, cái tiến bộ trong điều kiện cái
ác còn mạnh hơn”. Như vậy, có thể khái quát bi kịch nhân vật thành hình tượng “người
anh hùng trong tiến trình cách mạng”. Ví dụ anh Nguyễn Văn Trỗi – người chiến sĩ
cách mạng đấu tranh vì giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và anh đã hi sinh vì
nhiệm vụ đó. Sự hi sinh của anh đó là cái bi về sự mất mát hi sinh trong chiến tranh
mà văn học kháng chiến đề cập đến.
Thứ ba, cái bi là “sự trả giá tự nguyện cho chiến thắng và bất tử về tinh thần
bằng sự thất bại, nỗi đau và cái chết của những con người tốt”. Trong vấn đề thứ ba
này, chúng ta thấy có hai yếu tố mang tính chủ quan: “Sự trả giá tự nguyện” và “bất tử
về tinh thần”. Nhân vật trong cái bi tự nguyện thực hiện sứ mạng lịch sử, chấp nhận và
biết trước kết quả của hành động đó là thất bại, và sự hi sinh đó được lịch sử ghi lại.
Hành động lấy thân mình lấp lỗ châu mai của Phan Đình Giót là một ví dụ. Anh hi
sinh để đồng đội được sống để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, thế hệ hôm nay và mai
sau luôn biết và nhớ đến anh.
Từ những định nghĩa nêu trên, người viết nhận thấy định nghĩa của Tào Văn Ân
là đầy đủ và xác đáng nhất. Tuy nhiên, người viết cho rằng nên có sự kết hợp ý kiến
của Nguyễn Hoa Bằng và Tào Văn Ân thì vấn đề định nghĩa cái bi sẽ được giải quyết
triệt để hơn. Người viết định nghĩa cái bi như sau: “Cái bi là một phạm trù mĩ học để
chỉ sự trả giá, thất bại hay cái chết của cái đẹp trong cuộc đấu tranh không cân sức với
cái xấu, cái ác. Nhân vật được thể hiện trong cái bi là đại diện lực lượng cách mạng, tự
nguyện đấu tranh vì sự tiến bộ, lợi ích chung và chấp nhận hi sinh mất mát”. Ví dụ như
nhân vật Lượm trong bài thơ cùng tên của Tố Hữu. Em là đại diện cho thế hệ thiếu nhi
Trang 14
Việt Nam thời kháng chiến đã tự giác tham gia làm công việc liên lạc và hi sinh khi
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
đang làm nhiệm vụ. Cái chết của em là một mất mát hi sinh mà phía cách mạng phải
gánh chịu, đó cũng là cái bi.
Nói như thế không có nghĩa là từ trước tới giờ cái bi chưa từng xuất hiện trong
thơ Việt Nam. Bi kịch cá nhân trong thơ Việt Nam có sự khác biệt rõ rệt về chất giữa
trước và sau năm 1945. Cụ thể như sau:
Những năm đầu chống Pháp, tầng lớp sĩ phu yêu nước rơi vào bi kịch không lối
thoát. Đó là sự thất bại của khát vọng cao cả (yêu nước, thương dân, tinh thần tự chủ
dân tộc) trước cái ác (triều đình bán nước, quân xâm lược). Có thể nói bi kịch họ mắc
phải là bi kịch của sự lầm lỗi: Muốn cứu nước nhưng lại thờ vua, mà vua và triều đình
thì hèn nhát bạt nhược. Vai trò và sứ mệnh lịch sử của triều đình phong kiến đã chấp
dứt nếu họ cố duy trì thì nó là vật cản đường cho tiến trình tiến bộ của lịch sử xã hội,
thất bại là một điều tất yếu của lịch sử. Đó là bi kịch của sự lầm lỗi.
Đầu thế kỉ XX, giai cấp tư sản một lần nữa mắc sai lầm nghiêm trọng khi áp
dụng mô hình bảo vệ độc lập của nước ngoài vào việc giải phóng Việt Nam. Người ta
gọi đó là “cuộc cách mạng cải lương”. Nó sai lầm ở chổ họ không tính đến hoàn cảnh
lịch sử xã hội Việt Nam không giống như: Nhật, Trung Quốc hay các nước Tây Âu mà
đem áp dụng máy móc. Chúng ta tìm thấy cái bi tràn ngập trong thơ Phan Bội Châu,
Phan Châu Trinh phản ánh bi kịch đó.
Trong lịch sử dân tộc chưa có thời kì nào mà cái bi xuất hiện nhiều trong thơ
như thời kì phong trào Thơ Mới. Cái bi trong Thơ Mới là cái bi “tìm đường” và “cùng
đường” của tầng lớp trí thức yêu nước thời đó. Nhân vật trữ tình trong Thơ Mới không
chấp nhận hoàn cảnh và khao khát tìm lối thoát cho cá nhân mình. Họ tất yếu bị thất
bại vì nếu muốn giải phóng cá nhân thì trước hết phải giải phóng cho giai cấp mình.
Họ không chấp nhận thực tại của sự thất bại bằng cách trốn vào: Tôn giáo, thiên nhiên,
những giấc mơ, những cơn say, những cơn điên… như: Chế Lan Viên, Vũ Quần
Phương, Huy Cận, Hàn Mặc Tử…đã làm.
Cái mới mẻ của cái bi trong thơ kháng chiến là cái bi chưa từng được thể hiện
trước đó. Đó là bi kịch mang dấu ấn thời đại: Chính nghĩa nhưng yếu kém về sức
mạnh vật chất phải trả giá đắt để đánh bại cái phi nghĩa dựa vào sức mạnh vật chất để
tồn tại. Cái bi trong thơ kháng chiến là cái bi hài hòa giữa bi kịch cộng đồng (những
Trang 15
mất mát hi sinh của đồng đội, đồng bào) và bi kịch mang dấu ấn đời sống cá nhân (sự
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
mòn mỏi chờ chồng của người vợ trẻ đi chinh chiến, những chàng trai độ tuổi đang
yêu rãi tuổi xuân qua từng bước hành quân chưa một lần yêu và được yêu). Một thời kì
thơ ca cách mạng đậm nét bi hùng, bi tráng chứ không hề bi lụy như Thơ Mới.
1.1.2 Bản chất thẩm mĩ của cái bi
a. Cái bi - sự “xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử với việc
không đủ khả năng thực hiện được yêu cầu đó trong thực tiễn” (C.Mác).
Như vậy, những “xung đột” của đời sống không phải cơ sở nảy sinh cái bi.
Chẳng hạn: Những xung đột giữa những anh chàng nghiện rượu, tranh giành đất đai để
rồi chém giết nhau. Do đó, những chết chóc đau khổ thường tình không nằm trong
phạm trù cái bi của mĩ học. Nghệ sỹ Anh thế kỉ XIX, John Ruskin phân biệt: “Thơ chỉ
có thể lên tiếng với nổi buồn của cô gái khóc trong tình yêu trong trắng bị tan vỡ, chứ
không thể viết về giọt nước mắt của kẻ hà tiện đánh mất tiền”. Ở đây có hai loại nước
mắt, nước mắt của cái bi (nước mắt của cô gái) và nước mắt của cái hài (nước mắt của
anh chàng hà tiện). Chỉ thuộc về cái bi những hy sinh tổn thất có ý nghĩa xã hội mang
tính qui luật trong sự phát triển lich sử.
Bi kịch cá nhân xảy ra trong tình yêu, trong gia đình, ngoài xã hội cũng có thể
là cái bi, nếu đằng sau nó cũng chứa những xung đột xã hội, mang tầm vóc lịch sử.
chẳng hạn bi kịch số phận Chí Phèo (trong Chí Phèo), Hămlet (trong Hămlet), Mácbét
(trong Mácbét), Lỗ Thị Phượng (trong Lôi Vũ)…Các bi kịch xã hội như thoái trào cách
mạng, tổn thất lớn lao của cuộc chiến đấu của quần chúng cách mạng cũng thuộc về
cái bi. Chẳng hạn, phong trào Công xã Pari, 1871 ở Pháp.
b. Bi kịch làm trong sạch hóa những cảm xúc
Bi kịch có tác dụng to lớn trong việc thanh khiết hóa tâm hồn con người.
Aristót, nhà triết học, mĩ học thời Hi Lạp cổ đại cho rằng: “Bi kịch là sự bắt chước các
hành động nghiêm túc mà cao thượng, hành động này có một qui mô nhất định”, “bi
kịch nhằm miêu tả những con người tốt nhất”. Nhân vật mà lực lượng bi kịch có sức
mạnh lớn lao, có ý chí mạnh mẽ, có ý tưởng đẹp đẽ, có khát vọng chân chính. Nhân
vật bi kịch thất bại thậm chí bị tiêu diệt. Nhưng đặc trưng thẫm mĩ của cái bi lại không
bi. Aristót cũng khẳng định: “Bị kịch làm trong sạch hóa những cảm xúc thông qua
Trang 16
việc khiêu gợi sự xót thương và khủng khiếp”. Cảm xúc thẩm mĩ đối với cái bi vẫn
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
tích cực, vẫn là vui, phấn chấn… Chứ không phải là cảm xúc bi quan, tiêu cực.
c. Cảm xúc thẩm mĩ của cái bi là cảm xúc vui
Tại sao cảm xúc thẩm mĩ trong bi kịch lại là cảm xúc vui? Khi nhìn những diễn
viên trình diễn những bi kịch, ta nhỏ lệ biểu lộ sự đồng tình hay lòng trắc ẩn, mà mặt
mày như tươi tỉnh xán lạn, tâm tư dàn trải thoải mái. Máu và nước mắt thường đem lại
cho ta những ý vị ngọt ngào tươi mát hơn là những nụ cười hoan hỉ. Vì vậy cảm xúc
vui tươi trong bi kịch do đâu mà có? Phương Tây có nhiều cách giải thích khác nhau.
Tất cả những kiến giải vừa nêu đều không giải thích được một cách đúng đắn
nguyên nhân cái vui trong bi kịch. Vậy nguyên nhân đúng đắn là ở đâu? Bi kịch là một
thứ tác phẩm nghệ thuật, xem bi kịch là một thứ kinh nghiệm mĩ cảm. Kinh nghiệm mĩ
cảm xuất hiện khi ta trực giác hình tượng nhân vật. Trong lúc thưởng ngoạn ta quên
hẳn lợi hại của thực tế mà đứng ở địa vị khách quan để quan sát, coi vũ trụ và đời sống
là một bức tranh. Tai họa thực trong đời sống khiến ta thương xót và lo sợ, nhưng tai
họa trong bi kịch, sau giây phút lo sợ là nguồn vui. Sở dĩ như vậy là vì khoảng cách
tâm lý. Giữa người xem và những cảnh trên sân khấu có một khoảng cách không quá
xa, không quá gần. Không quá xa, để thấy rằng sự kiện trên sân khấu là hợp lí, hợp
tình. Không quá gần, để người xem không ngộ nhận bi kịch trên sân khấu là cuộc sống
thực tế. Phàm bi kịch chân chính thì không được tả thực. Phàm khán giả kịch chân
chính thì không cho tình cảm thực dụng xen lấn vào mĩ cảm. Những tình cảm “phát
tán” trong bi kịch khác tình cảm phát tiết trong thực tế. Trong tâm tư khán giả, thế giới
kịch là biệt lập, không liên can đến lợi hại thực tế. Khi thưởng ngoạn kịch, khán giả
hội tụ tinh thần, bị sức lôi cuốn của sân khấu, do cũng có sống hăng say, cũng hoạt
động phát tán tình cảm. Nhưng phát tán này kèm theo sự sảng khoái, khác kinh
nghiệm thường nhật là đèo bòng phiền lụy, bực bội , lo âu.
Hơn nữa, cảm xúc vui trong bi kịch xuất phát từ chỗ không phải cái chết, hay sự
thất bại của con người. Mà là chỗ con người dám tiếp nhận thất bại, dám hi sinh vì
những lý tưởng cao cả.
1.1.3 Các dạng thức khác nhau của cái bi
Bi kịch cái mới trong thế yếu: Ðây là loại bi kịch có tính chất lịch sử. “Bản chất
thẩm mĩ của cái bi trong loại bi kịch này là sự xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt
Trang 17
lịch sử và tình trạng không thể thực hiện được trong thực tế” (C.Mác). Cái mới, cái
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
cách mạng đang trong thế yếu, chết, hoặc thất bại. Nhân vật của cái bi này chết một
cách vĩ đại vì họ đang đại diện cho trào lưu lịch sử. Họ trở nên anh hùng vì động cơ,
hành động, do trách nhiệm trước lịch sử. Lịch sử mãi mãi ca ngợi sự thất bại của nghĩa
quân Yên Thế với cái chết của Hoàng Hoa Thám. Hoặc lịch sử sẽ ghi nhớ mãi mãi
Phạm Hồng Thái với tiếng bom Sa Ðiện.
Bi kịch của cái mới trong hoàn cảnh trớ trêu: Ðây cũng là cái bi lịch sử, bi kịch
lịch sử. Cái mới cách mạng đã ở thế thắng trên toàn cục. Nhưng một bộ phận nào đó
lâm vào hoàn cảnh trớ trêu, khiến người anh hùng sa cơ. Chẳng hạn, Chiến bại, Đội
cận vệ thanh niên của Phađêép; Hùng & Rin trong Bài ca chim Chơrao; Võ Thị Sáu
trong Mùa hoa lêkima...
Bi kịch của sự lầm lạc của cái cũ: Cái cũ muốn trở thành cái bi, theo C.Mác,
phải xét theo 3 tiêu chí: Một, cái cũ chưa mất hết vai trò lịch sử, chưa trở thành cái
xấu. Hai, bản thân cái cũ còn tin vào tính chất hợp lý của mình. Ba, những con người
đứng về phía chế độ cũ không phải là sự lầm lạc có tính chất cá nhân, mà là sự lầm lạc
có tính chất lịch sử toàn thế giới. Chính vì vậy, cái chết của nó là bi kịch (C.Mác). Bản
chất cái bi của sự lầm lạc của cái cũ là do chưa nhận ra được tính tất yếu về mặt lịch
sử. Chẳng hạn, Ðônkihôtê. Ông ta có lý tưởng nhưng lý tưởng lạc hậu, đấu tranh cho lí
tưởng nhưng không ý thức được rõ ràng nó mà chỉ hành động theo thói quen. Những
người như Ðônkihôtê thất bại là tất yếu vì “đơn thương độc mã”. Sự thất bại của vua
Duy Tân và việc bị Pháp bắt đày đến trọn đời, cũng là một ví dụ.
Bi kịch của cái xấu: Ðây là bi kịch của chính tội ác, chứ không phải bi kịch của
cái đẹp, cái tốt hay sự lầm lạc. Ở đây người ta không lấy nước mắt răn đời, không lấy
xót thương làm luyến tiếc. Mà lấy sự khủng khiếp để nhắc nhở con người chớ làm điều
khủng khiếp. Aristót nói về đặc trưng thẩm mĩ của loại bi kịch này: Bi kịch làm trong
sạch hóa những cảm xúc tương tự qua cách khêu gợi sự thương xót và khủng khiếp.
Chẳng hạn bi kịch của cái xấu qua vở kịch Mắcbét. Ở bi kịch này, lòng tham và tội ác
bị trừng trị. Ðây là một bi kịch chính trị - xã hội. Tác giả lên án chế độ tập quyền
chuyên chế triều Giêm I, tên vua bạo tàn Anh quốc đầu thế kỉ XVII.
Bi kịch về sự lầm lạc, kém hiểu biết, ngu dốt: Bi kịch này được nêu ra như là
bài học xương máu trên đường đời để nhắc nhở cảnh tỉnh. Bi kịch về sự kém hiểu biết
Trang 18
liên quan đến sự ngu dốt của con người. Sự ngu dốt là con quỷ mà chúng ta e rằng nó
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
còn gây ra nhiều bi kịch. Chẳng hạn, câu chuyện An Dương Vương; bi kịch Ôtenlô; bi
kịch Êđíp làm vua; Truyện Người con gái Nam Xương. Thuộc về cái bi này còn có bi
kịch do tai nạn, sức mạnh mù quáng của tự nhiên. Ví dụ, cái chết của người đi thám
hiểm.
Bi kịch của những khát vọng cá nhân chính đáng: Ðây là bi kịch những nỗi đau
đời thường tình (lẽ sống, tình yêu, sứ mệnh con người, nói chung). Ở bi kịch này, xung
đột gay gắt giữa khát vọng chính đáng của con người và khả năng của bản thân không
thể thực hiện được. Ví dụ bi kịch của Thị Kính trong chèo Quan âm Thị Kính; của
Máclôva trong tiểu thuyết Phục sinh của L.Tônxtôi, của Thúy Kiều trong Truyện Kiều
của Nguyễn Du...
1.2 Cảm hứng về cái bi trong văn chương
Những từ “bi thảm”, “bi đát” nảy sinh từ cách người Hi Lạp cổ gọi những trình
diễn nghi lễ của dàn đồng ca dân gian diễn lại cái chết và sự phục sinh của Điniốt vị
thần màu màng trù phú. Sau này ở Hi Lạp nảy sinh chế độ nhà nước, giai cấp điều này
đặc ra cho con người Hi Lạp những vấn đề đạo đức và bắt đầu phải xử lí những vấn đề
trong các vở diễn miêu tả các xung đột trong đời sống con người. Tên cũ để gọi những
hình thức trình diễn đó vẫn được duy trì, nhưng nó được dung để chỉ bản thân nội
dung những vở diễn như vậy.
Trong các lí thuyết về bi kịch và cái bi, nhất là của Hêghen. Các định nghĩa đều
cách này hay cách khác gắn với các khái niệm “định mệnh”, “số phận” những cái chế
ngự toàn bộ cuộc đời, con người hoặc gắn với các khái niệm “tội lỗi” của nhân vật bi
kịch đã vi phạm một điều tối cao nào đó và phải bị trừng phạt.
Sécnưsépki đã có lí khi phản đối những khái niệm thu hẹp vấn đề như vậy, ông
định nghĩa cái bi là toàn bộ những điều “ khủng khiếp” trong đời sống con người. Tuy
vậy cũng phải thừa nhận định nghĩa của ông là quá rộng, bởi vì các tình huống kịch
tính và những chuyện ngẫu nhiên bất hạnh bên ngoài gây ra điều khủng kiếp. Có lẽ
gần với chân lí hơn cả là định nghĩa của Bêlinki đưa ra: “Cái bi bao hàm trong sự xung
đột giữa sự say mê tự nhiên của con tim với tư tưởng về nghĩa vụ bao hàm trong sự
đấu tranh bắt nguồn từ xung đột đó và sau cùng, bao hàm cả sự thắng lợi hoặc sụp đổ”.
Nhưng một định nghĩa như vậy cần có thêm bổ sung quan trọng.
Trang 19
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Tính chất bi kịch của các tình huống đời sống thực và của những cảm xúc do
các tình huống gây nên cần được khảo sát theo tương đồng và sự tương phản với tính
kịch. Khi ở trong tình huống bi kịch người ta trãi nghiệm sự căng thẳng và sự lo âu sâu
sắc có tâm hồn, khiến người ta phải chịu những đau khổ, thường rất nặng nề. Nhưng
những lo âu và đau khổ nảy sinh chủ yếu không phải nảy sinh do những xung đột với
các thế lực từ bên ngoài đe dọa những lợi ích thiết cốt nhất, đôi khi đe dọa cả sự sống
của người ta và gây ra sự phản kháng, như tình hình xảy ra trong các tình huống mang
tính kịch. Tính chất bi kịch của tình huống và cảm xúc bao hàm trong ý thức, trong
tâm hồn con người.
Theo định nghĩa cái bi của Bêlinki đưa ra, một mặt của mâu thuẫn bên trong “là
sự say mê tự nhiên của con tim”, tức là những quyến luyến của tân hồn riêng tư, và
những tình cảm yêu thương,…, và mặt khác là “tư tưởng về nghĩa vụ”, tức là cái cản
trở “sự say mê của con tim”, những ý thức về điều luật đạo đức đã gắn kẻ đang yêu
nước với tư tưởng đó. Thường khi đó là luật hôn nhân, nhưng cũng còn trách nhiệm
với gia đình, nhưng cũng trước dân tộc, quốc gia.
Như vậy bi kịch xảy ra trong quá trình phát triển xã hội. Chúng không mang
tính cá nhân, ngẫu nhiên mà mang tính lịch sử, xã hội. Chúng bộc lộ trong hành vi xã
hội và trong thế giới đạo đức con người, bắt họ đau khổ hoặc đôi khi hủy diệt. Tái hiện
những mâu thuẫn bi kịch trong các tác phẩm của mình, lí giải chung, điển hình hóa
chúng. Nhà văn thông qua cốt truyện tác phẩm, tô đậm những xúc cảm của nhà văn,
làm tăng tính khốc liệt của những sự kiện đang diễn ra trong đời sống.
Nếu cảm hứng anh hùng bao giờ cũng là sự khẳng định về tư tưởng đối với tính
cách được miêu tả, còn cảm hứng kịch tính và bi kịch có thể bao hàm cả sự khẳng định
lẫn sự phủ định chúng, thì sự miêu tả châm biếm và hài hước đối với các tính cách bao
giờ cũng chứa đựng khuynh hướng tư tưởng.
Cảm hứng cái bi trong những thơ kháng chiến là cảm hứng lấy từ hiện thực
chiến tranh. Cuộc chiến đã vạch ra ranh giới hẳn hoi cho hai phía: Một bên là chủ
nghĩa đế quốc xâm lược, một bên là một dân tộc nhỏ bé đại diện cho xu hướng tất yếu
của lịch sử loài người. Trong ba mươi năm đạn bom ấy dân tộc ta phải đối đầu với hai
đế quốc hùng mạnh. Hơn một triệu người chết, ba triệu người bị thương tật, và hàng
chục triệu nạn nhân của chất độc màu da cam…đó là những mất mát hi sinh mà phía
Trang 20
cách mạng phải hứng chịu. Giữa muôn trùng lửa đạn thơ ca không còn phù hợp để ca
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
ngợi vẻ đẹp tinh túy của thiên nhiên tạo vật nữa, mà thơ ca phải luôn ở bên chiến lũy
chiến hào là tiếng kèn xung trận. Trong Cái đẹp trong thơ kháng chiến Vũ Duy Thông
đã từng trình bày quan điểm của ông như sau: “Nói như thế thơ không phải là những
khẩu hiệu có vần và được xuống dòng. Cũng cần phân biệt những khẩu hiệu, chủ
trương, chính sách được “vần hóa” thành diễn ca, cốt để người nghe dễ hiểu và dễ
thuộc…với thơ. Để có một tác phẩm thơ, nhà thơ phải có ý thức chính trị, ý thức chính
trị đó lại phải được đồng hóa trong thế giới tâm hồn để hình thành lí tưởng thẩm mĩ. Lí
tưởng thẩm mĩ của nhà thơ chi phối thị hiếu thẩm mĩ, nảy sinh cảm xúc thẩm mĩ. Xúc
cảm thẩm mĩ đạt tới một “độ” nào đó sẽ nảy sinh cảm hứng sáng tạo. Duy trì được
cảm hứng sáng tạo trong quá trình sáng tạo đầy hứng khởi và đau khổ, tác phẩm thơ sẽ
ra đời. Như vậy ở các nhà thơ ý thức phục vụ mục đích chính trị là một chuỗi hoạt
động tự giác, được nhào nặn qua cảm hứng sáng tạo và lao động nghệ thuật. Ý thức
công dân và ý thức nghệ sĩ là mối quan hệ máu thịt, biện chứng không thể bóc tách
một cách siêu hình” [tr.65- 66].
Do sai lầm trong quan điểm nghệ thuật và tầm nhìn thiển cận về thơ ca nên có
một thời kì những sáng tác như: Màu tím hoa sim (Hữu Loan), Tây tiến (Quang Dũng),
Bến kia sông Đuống (Hoàng Cầm)…bị coi là “mang màu sắc tư sản”, quá ủy mị vì đã
đề cập trực tiếp đến cái chết nên thường bị liệt vào những tác phẩm hạn chế phổ biến.
Đó là một quan điểm sai lầm nghiên trọng. Thơ ca cách mạng đề cập đến những mất
mát hi sinh trong chiến tranh là điều tất yếu, là phù hợp và không thể né tránh, vì:
Thứ nhất, nó giải quyết nhu cầu nắm bắt hiện thực của độc giả, mà thơ ca cách
mạng ra đời để phục vụ người đọc, vì họ muốn biết rõ diễn biến của chiến tranh qua
từng mặt trận và qua từng thời điểm một cách nhanh chóng và chính xác.
Thứ hai, tham gia vào chiến trận, hàng ngày phải nhìn thấy bao cảnh mất mát
đau thương trong chiến tranh, tác giả sáng tác thơ là để bày tỏ cảm xúc tình cảm của
mình qua từng trang viết. Ngoài ra, họ ghi lại như là một minh chứng cho lịch sử dân
tộc và nó còn là lương tâm trách nhiệm của người cầm bút.
Thứ ba, thơ ca là “người bạn đường” của mọi chiến sĩ. Họ tìm đến với thơ ca
như là một sự giải bày, một sự cứu cánh cho tâm hồn của mình thoát khỏi thực tại tàn
khốc của hiện thực đời sống chiến tranh.
Trang 21
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Từ những lí do vừa nêu, việc cái bi ra đời trong những sáng tác thơ ca cách
mạng là một điều tất yếu của lịch sử và phù hợp với tâm thế người Việt Nam vốn yêu
thơ và giàu tính nhân đạo. Những mất mát, hi sinh và sự tàn khốc của chiến tranh được
thơ ca cách mạng ghi lại chân thực, hùng hồn và cảm động không làm cho chúng ta trở
nên hèn nhát, bạt nhược tinh thần chiến đấu mà nó là “liều thuốc” hữu hiệu nhất để cỗ
vũ chiến đấu, vượt qua mọi khó khăn gian khổ.
1.3 Mâu thuẫn, xung đột của cái bi trong nghệ thuật
Nguồn gốc bi kịch gắn liền với thần Điniốt (thần rượu nho) và Icarơ, một mục
tử. Thần Điniốt là con riêng của Zớt và Xêmêlê, công chúa thành Têbơ cổ của Ai Cập.
Điniốt được coi là thần của sự trù phú, sự sinh sôi nảy nở, của nghề làm rượu nho, của
những cơn say rượu và chúa tể của những linh hồn. Điniốt được Icarơ, một mục tử tiếp
đãi với tất cả thịnh tình. Ðể đền đáp lại, Điniốt tặng Icarơ một chùm nho và dạy cho
Icarơ cách nấu rượu. Icarơ nấu rượu và đãi những mục tử khác. Vốn chưa hề biết rượu
là gì, những người mục tử kia say bí tỉ. Ðến khi tỉnh dậy, họ cho rằng Icarơ đầu độc họ
nên họ giết chết Icarơ. Êrigônơ, con gái của Icarơ nhờ có con chó Maira giúp sức, tìm
ra được mộ bố. Ðau buồn quá, nàng treo cổ tự vẫn. Con chó trung thành cũng chết
theo. Thần Điniốt hoàn sinh cho tất cả và đưa lên đỉnh Olympơ. Theo truyền thuyết, từ
đó trên bầu trời có chùm sao mục tử. Sau đó, thần Điniốt cũng bị quỉ khổng lồ Titan xé
ra làm trăm mảnh. Nhưng đến mùa xuân thần Điniốt lại hồi sinh.
Trong thần thoại này có sự gặp gỡ giữa sống và chết, tiêu vong và hồi sinh có
sự chung đúc giữa chúng với nhau thành một giai điệu mang âm hưởng nghệ thuật
thống nhất. Điniốt, vị thần vui tươi, yêu đời lại bị giết chết vì bọn quỉ có lẽ là nguồn
gốc của bi kịch.
Bi kịch Hi Lạp Cổ đại: Các lực lượng đối lập với con người thường có uy
quyền lớn, thường được khoát áo thần linh (Zớt trong Prômite bị xiềng), có khi được
biểu hiện như một định mệnh (Êdíp làm vua - Euripide). Những người anh hùng trong
bi kịch này bị hi sinh và được người đời xót thương và yêu mến, kính phục.
Bi kịch thời Trung cổ: Mang màu sắc tôn giáo. Bi kịch gắn liền với ý niệm của
sự tuẫn đạo, con người phải chịu khổ hình để cứu chuộc cho con người tội tổ tông
truyền. Hình tượng chủ yếu của nghệ thuật bi kịch Trung cổ hiện ra với nỗi đau khổ
Trang 22
trong hai tư thế: Nhìn xuống hoặc ngước lên. Nhìn xuống để sám hối tội lỗi và ngước
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
lên để cầu xin thượng đế rũ lòng thương.
Bi kịch thời Phục hưng: Gắn liền với tên tuổi của Xếchphia với những bi kịch
nổi tiếng như: Mắcbéc, Ôthenlô, Hămlét, Rômêô và Juliet, Vua Lia...Bi kịch Phục
Hưng phản ánh mâu thuẫn sâu sắc giữa lí tưởng nhân văn, hướng về tự do, muốn giải
phóng con người với thực tại bởi vì con người đang tồn tại với những nỗi khủng khiếp
mới.
Bi kịch Cổ điển thế kỉ XVII: Phản ánh mâu thuẫn giữa nghĩa vụ công dân và
dục vọng, tình cảm cá nhân và cố gắng dung hòa những mâu thuẫn này ở những mức
độ nhất định. Giai đoạn này có những nhà viết kịch nổi tiếng như: Raxin, Cócnây...Tác
phẩm tiêu biểu: Lơxít của Cócnây.
Bi kịch thời Khai sáng: Nêu lên những mâu thuẫn giữa khát vọng tự do chân
chính của con người với những thế lực tối tăm của xã hội đã bắt đầu tư sản hóa (Âm
mưu và tình yêu của Sile...)
1.4 Hoàn cảnh lịch sử dẫn tới sự ra đời của cái bi
1.4.1 Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam những năm 1945 – 1975
a. Giai đoạn 1945 - 1954
Hơn tám mươi năm dân tộc Việt Nam sống ách đô hộ của thực dân, đế quốc.
Ngần ấy thời gian dân tộc ta phải sống trong cảnh lầm than, nô lệ. Ngày 02 tháng 9
năm 1945 trước nửa triệu đồng bào Việt Nam, tại quảng trường Ba Đình Hồ Chí Minh
đọc bản tuyên ngôn lịch sử, mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam – kỉ
nguyên độc lập, tự do. Lần đầu tiên dân tộc ta tự làm chủ được vận mệnh, số phận của
mình. Đây là ba mươi năm kháng chiến ngoan cường của cả dân tộc, tuy có nhiều mất
mát hi sinh nhưng cũng đầy vẻ vang đáng tự hào. Cách mạng tháng Tám thắng đã mở
ra một thời kì mới trong tiến trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Vượt qua mọi khó khăn, chính quyền dân chủ nhân dân không những được giữ
vững mà còn ngày càng củng cố, mạnh mẽ hơn. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Ðảng và
Hồ Chủ Tịch, bằng nhiều biện pháp kịp thời nhân dân ta đã chặn đứng nạn đói, phát
động một cao trào bình dân học vụ diệt giặc dốt và phong trào tình nguyện nhập ngũ
để bảo vệ nhà nước Cách mạng, bảo vệ toàn vẹn của tổ quốc. Ngày 06/01/1946, Quốc
Trang 23
hội đầu tiên được bầu qua tổng tuyển cử. Hiến pháp được công bố - lần đầu tiên người
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
dân Việt Nam được làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Những thế lực thù
địch lần lượt bị khuất phục bằng những chính sách ngoại giao kiên quyết về nguyên
tắc nhưng uyển chuyển về sách lược của ta: Hai trăm ngàn quân Tưởng Giới Thạch
phải rút về nước kéo theo sự tán loạn của bọn phản động tay sai; hiệp định Sơ bộ
(06/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946) giúp nhân dân tranh thủ được thời gian hòa hoãn
để chuẩn bị lực lượng đương đầu lâu dài với thực dân Pháp.
Nền độc lập non trẻ của dân tộc ta dày công xây dựng không được hưởng niềm
vui trọn vẹn. Hòa bình không bao lâu chúng ta lại phải đối đầu với thực dân Pháp quay
lại xâm lược. Toàn thể dân tộc Việt Nam một lần nữa phải cầm súng chiến đấu. Họ
chiến đấu với tinh thần “thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước không chịu làm nô
lệ”. Sau những động thái cố níu kéo, giữ gìn nền hòa bình mới mẻ không thành trước
âm mưu và tội ác của giặc đã gây ra vì chúng muốn cướp nước ta một lần nữa. Ngày
19 tháng 12 năm 1946, Hồ Chí Minh – đại diện cho chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa phát lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Một lần nữa đất nước ta triệu người
như một hăng hái ra chiến trường để chiến đấu. Trong suốt chín năm kháng chiến
chống Pháp, biết bao cảnh tang thương mất mát đã diễn ra dưới gót giày xâm lược của
kẻ thù ngoại xâm.
Ngày 07 tháng 5 năm 1954, quân dân ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ
thần thánh, chấn động địa cầu. Sau chiến thắng ấy buộc thực dân Pháp phải ngồi vào
bàn đàm phán trao trả tự do cho miền Bắc bằng hiệp định Giơnevơ về Đông Dương
vào ngày 20 tháng 7 năm 1954.
Cuộc kháng chiến chín năm đã kết thúc thắng lợi. Một nửa đất nước được giải
phóng. Chính quyền kiểu mới ở các cấp từng bước được củng cố. Tổ chức Ðảng vững
mạnh hơn nhiều. Ðại hội Ðảng lần 2 (1951) xác định đúng đắn đường lối cho kháng
chiến. Năm 1953, Hồ Chủ Tịch ra sắc lệnh giảm tô và cải cách ruộng đất. Tuy có lúc
có nơi còn cực đoan, thái quá, nguyên tắc cứng nhắt, sai lầm trong thực hành tại địa
phương nhưng về cơ bản cuộc Cách mạng này đã thực sự giải phóng đất đai và người
nông dân, thủ tiêu triệt để quan hệ sản xuất lỗi thời, đem lại cho kháng chiến một động
Trang 24
lực mạnh mẽ. Nền kinh tế tự túc đảm bảo được những nhu cầu thiết yếu của đời sống
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
nhân dân trong kháng chiến.
b. Giai đoạn 1954 – 1975
Sau ngày hiệp định Giơnevơ được kí kết - lấy vĩ tuyến 17 và con sông Bến Hải
làm ranh giới, chia đất nước thành hai bờ Nam – Bắc. Miền Bắc được sống trong hòa
bình độc lập, tiến hành xây dựng Chủ nghĩa xã hội đồng thời làm hậu phương chi viện
sức người, sức của cho miền Nam kháng chiến chống sự can thiệp của Mĩ – Ngụy.
Miền Bắc bước đầu thực hiện cải cách ruộng đất, sau ba năm khôi phục kinh tế
sau chiến tranh và bước vào thời kì đầu cải tạo CNXH. Bước đầu có những thành tựu
đáng khích lệ: Hợp tác xã ở nông thôn dần được mở rộng và lớn mạnh trở thành một
thành trì vững chắc chi viện cho miền Nam.
Không khí xây dựng ở miền Bắc hết sức sôi nổi, còn ở miền Nam phong trào
đấu tranh của quân dân chống chế độ Mĩ - Diệm diễn ra cũng rất quyết liệt. Trước khi
hiệp định Giơnevơ được kí kết mười ba ngày, Mĩ đưa Ngô Đình Diệm về Việt Nam
làm tướng bù nhìn. Tháng 9 năm đó, Mĩ quyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình
Diệm. Sau đó, Mĩ cử tướng Côlin sang làm đại sứ ở Sài Gòn. Đế quốc Mĩ từng bước
hất cẳng Pháp, xóa bỏ chế độ cai trị của Pháp. Nắm được quân đội, công an - công cụ
thống trị chủ yếu, Ngô Đình Diệm tiến thêm một bước mới. Và ngày 17/7/1955, Diệm
tuyên bố từ chối hiệp thương tổng tuyển cử. Sau đó hắn tổ chức “trưng cầu dân ý”, phế
truất vua Bảo Đại, Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống. Quyết định chiến lược của Mĩ
là đứng vững trên địa bàn miền Nam, tiêu diệt chế độ cách mạng miền Bắc, sau đó
vươn tới mục tiêu xa hơn trên địa bàn Châu Á. Vùng đất Vĩnh Linh – Quảng Trị trở
thành đầu cầu miền Bắc nối liền với tiền tuyến lớn miền Nam, là nơi giáp mặt của hai
chế độ tương phản nhau đến tột cùng. Dã tâm của đế quốc Mĩ là muốn biến giới tuyến
tạm thời nơi đây thành biên giới của hai quốc gia trong một nước.
Thánh 10 năm 1959, Mĩ – Diệm đưa ra bộ luật quân sự “Mười năm chín” vô
cùng dã man và độc ác. Chúng lê máy chém khắp miền Nam để khủng bố cách mạng
và lùng bắt để tiêu diệt Cộng sản tới cùng. Phương châm của chiến dịch này là “thà
giết lầm hơn bỏ xót”. Trước tội ác không ngừng dâng cao không ngừng leo thang của
bọn chúng, nhân dân miền Nam phải hứng chịu những tổn thất nặng nề. Biết bao sinh
Trang 25
mạng vô tội đã phải ngã xuống, nhân dân ta phải sống trong sự kèm kẹp và nom nóp lo
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
sợ.
Phong trào Đồng Khởi Bến Tre dành được thắng lợi, Mĩ – Ngụy buộc phải
chuyển sang phương án “Chiến tranh đặc biệt”. Sau nhiều thất bại ban đầu, để cứu vãn
tình thế Mĩ đưa sang miền Nam ồ ạt lực lượng quân đội viễn chinh, lính đánh thuê
cùng với các phương tiện chiến tranh tối tân hòng đè bẹp ý chí và lực lượng của quân
ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng quân dân miền Nam anh hùng đã từng bước đánh bại
mọi âm mưu của kẻ thù và từng bước xây dựng lực lượng ngày càng tinh nhuệ. Bên
cạnh đó nhân dân miền Bắc không ngừng thi đua tăng gia sản xuất và làm hậu phương
vững chãi cho cả nước.
Những năm 1968 – 1969 nhân dân ta liên tiếp phải hứng chịu nhiều đau thương
mất mát hết sức to lớn và nặng nề. Cuộc nổi dậy tết Mậu Thân 1968 tuy có những
thắng lợi nhưng cũng làm tổn thất lực lượng của ta khá lớn, đến tháng 9 năm 1969 Bác
Hồ kính yêu của chúng ta qua đời. Đây là nỗi đau thương vô cùng to lớn, không gì có
thể khỏa lấp được. Trước nỗi đau thương vô hạn ấy quân dân miền Bắc quyết tâm xây
dựng và củng cố CNXH làm hậu phương cho miền Nam quyết chí đánh tan Mĩ – Ngụy
thống nhất đất nước.
Ở miền Nam, Mĩ – Ngụy lại càng điên cuồng hơn sau những thất bại. Từ
“Chiến tranh đơn phương” rồi đến “Chiến tranh đặc biệt”, tất cả đều thất bại, bọn
chúng cay cú chuyển sang hình thức “Việt Nam hóa chiến tranh”. Phương thức chiến
tranh này vẫn sử dụng sức mạnh tối tân của các loại vũ khí quân sự hiện đại, nhưng
chúng sử dụng “người Việt đánh người Việt” nhằm trấn an dư luận và giảm xương
máu binh lính Mĩ trên chiến trường. Những năm đầu của chiến dịch này đồng bào cả
nước phải hứng chịu biết bao đau thương mất mát và gặp vô vàn khó khăn, gian khổ.
Quân dân hai miền Nam – Bắc đã không hề nao núng trước bao khó khăn, gian khổ và
hi sinh. Đảng lãnh đạo quân dân miền Nam bẻ gãy hoàn toàn mọi đợt tiến công, mọi
âm mưu của kẻ thù, buộc chúng phải ngồi vào bàn đàm phán Pari ngày 27/01/1973.
Sau khi hiệp định được kí kết, miền Bắc vẫn được hưởng hòa bình và xây dựng
CNXH, tăng gia sản xuất làm hậu phương cho miền Nam. Trong khi đó ở miền Nam
Trang 26
bọn Mĩ – Ngụy vẫn ngoan cố không thi hành hiệp định và ra sức bình định miền Nam
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
và đánh phá miền Bắc.
Mùa khô 1975, quân dân hai miền liên hiệp nổi dậy cả nước. Đến tháng 4 năm
1975 giải phóng Tây Nguyên và vùng Nam Trung Bộ làm bàn đạp tiến công miền
Nam và thống nhất đất nước ngày 30/4/1975 bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Đây là sự kiện khép lại ba mươi năm trường kì kháng chiến của dân tộc, đồng thời
chấm dứt thời kì đất nước bị chia cắt, mở ra kỉ nguyên độc lập – thống nhất của toàn
dân tộc.
Những trình bày ở trên là những cứ liệu lịch sử quan trọng của đất nước trong
những năm 1945 – 1975. Từ những sự kiện này nó có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến đời
sống của cả dân tộc và đặc biệt là ảnh hưởng lớn đến văn học giai đoạn này, nhất là
thơ ca cách mạng.
1.4.2 Những chặng đường phát triển của thơ ca cách mạng
a. Từ sau cách mạng tháng Tám đến năm 1954
Cuộc cách mạng tháng Tám giành thắng lợi đã mở ra một chân trời mới cho văn
học nói chung và thơ ca cách mạng nói riêng. Ở buổi bình minh tuy có sự chệch choạc,
ngỡ ngàng và chưa bắt kịp với bước đi của thời đại nhưng đó cũng là sự thay đổi hết
sức thiêng liêng và kì diệu. Các nhà thơ thuở ấy như được “cởi trói cho tâm hồn”. Họ
từ một thế giới “man man thiên cổ sầu” đầy tuyệt vọng và bế tắc được bước đến với
“cánh đồng vui”; như nhà thơ Chế Lan Viên từng viết:
“Cha ông xưa đấm nát tay trước cửa cuộc đời
Cửa vẫn đóng. Và đời im ỉm khóa”
Hay như nỗi sầu thiên cổ của nhà thơ Huy Cận:
“Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm
Gió trăng ơi nay còn nhớ người chăng?”
Từ những tâm hồn “già nua” trước thực tại luôn chìm đắm trong một thế giới
siêu hình mộng ảo, nay cách mạng tháng Tám đã thổi một luồng sinh khí hết sức mới
mẻ, căng đầy nhựa sống cho thơ ca:
Trang 27
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”
Từ những rung cảm hết sức mới mẻ của buổi ban đầu, họ - những nhà thơ từng
một thời quằn quại với nỗi sầu nhân thế, nay họ tìm thấy lí tưởng cho mình và tự
nguyện gắn bó hơn với cách mạng với đất nước với dân tộc. Nhà thơ Xuân Diệu từng
một thời chìm đắm trong tình yêu, mãi ám ảnh bởi sự trôi nhanh của thời gian và luôn
luôn muốn níu kéo nó lại, hơn thế nữa ông mong muốn “sống gấp” cùng thời gian và
con người:
“Mau lên chứ vội vàng lên chứ
Em em ơi tình non sắp già rồi”
Nay chính ông cũng tìm thấy được niềm vui chung trong niềm vui bất diệt của
dân tộc:
“Cái buổi ban đầu dân quốc ấy
Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên”
Những ngày đen tối nhất của dân tộc đã qua đi, ánh sáng Cách mạng đã len lỏi
soi sáng bao kiếp đời nô lệ. Nỗi buồn của dĩ vãng đã dần được thay thế bằng sự hoan
hỉ của nụ cười toàn dân tộc. Tố Hữu từng viết nên những vần thơ ảo não về cuộc đời,
về thân phận của mình trong những ngày đầu bị tù đày gian khổ:
“Cô đơn thay là cảnh thân tù
Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực
Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức
Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu”
Nay chính ông lại viết nên những khúc ca hào hùng nhất để đánh dấu một thời
kì mới cho thơ ca, một chân trời mới cho tâm hồn người nghệ sĩ:
“Chừ đây Huế, Huế ơi! Xiềng gông xưa đã gãy
Trang 28
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Hãy bay lên sông núi của ta rồi”
Hay:
“Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió mạnh
Thỗi phồng lên. Tim bỗng hóa mặt trời”.
Thâm Tâm nhà thơ với nỗi buồn “li khách”, “đưa người” để đi tìm “chí nhớn”.
Nhưng tất cả đều đi về nơi vô định, “khách” đi tìm “chí nhớn” mà không rõ mình đi
đâu, không phương hướng và mục tiêu xác định. Nay ông đã tìm thấy bức tranh quê
tươi đẹp trong Mùa thu mới:
“Trái hồng trĩu xuống cây rơm
Sáng nay mùa cốm dậy thơm khắp làng
Lúa vươn thân hút ánh vàng
Nguồn tươi vồng nở thu sang tốt lành”.
Từ “cái tôi” trữ tình đậm nét cá nhân “Ta là một là riêng là thứ nhất. Không có
chi bè bạn nổi cùng ta”, nay hầu hết các nhà thơ đã bắt gặp được “cái ta” chung của
dân tộc và họ tự nguyện sống hết mình vì nó. Đối với Trần Mai Ninh thì mối tình sông
núi là mối tình lớn lao và cao đẹp nhất:
“Có mối tình nào hơn thế nữa
Ăn sâu lòng đất, thấm lòng người
Đượm lều tranh thơm dậy ngàn khơi
Khi vui non nước cùng cười
Khi căm non nước với người đứng lên”.
Tuy chưa nở rộ, chưa có được sáng tác xuất sắc về Bác như những năm sau này.
Nhưng ở thời điểm đó đã có những sáng tác nói về công lao và sự nghiệp to lớn của
Bác cũng hết sức đặc sắc. “Người lính già đã quyết chí hi sinh” hay “Ngọn đuốt thiêng
liêng”… là những gì mà Tố Hữu nói về Bác. Bác là kết tinh của những gì tinh túy nhất
của tinh hoa dân tộc, nhân loại:
“Trăm thế kỉ trong tên Người: Ái Quốc
Trang 29
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Bạn muôn đời của thế giới đau thương”
Hay như nhà thơ Tế Hanh viết:
“Sáng láng ôn tồn thành tâm quyết chí
Sóng gió khinh, sấm sét chẳng kinh hoàng
Hồ Chí Minh chỉ người là có thể
Đưa con thuyền Tổ quốc đến vinh quang”
Tuy vẫn có nhiều thiếu xót trong diễn đạt, lối cảm xúc, ngôn ngữ và hình ảnh
thơ. Nhưng những sáng tác thơ ca cách mạng trong giai đoạn đầu này cũng hết sức
đáng trân trọng. Nó đánh dấu thời kì mới cho cái tôi trữ tình công dân đã dần chiếm
lĩnh tâm hồn và sáng tác của các nhà thơ, thay cho cái tôi trữ tình cá nhân đã không
còn phù hợp nữa.
Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, dân tộc Việt Nam triệu người như một với
Tình sông núi đã đứng lên chiến đấu theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ
Chủ tịch. Mỗi một con người Việt Nam lúc này nhận thức sâu sắc phải “quyết tử cho
Tổ quốc quyết sinh” và “thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm
nô lệ”. Nền thơ kháng chiến chống Pháp được ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đó và
trong suốt “chín năm kháng chiến thánh thần”, thơ ca đã góp phần không nhỏ để làm
nên những trang sử vàng chói lọi cho dân tộc. Hơn lúc nào hết, bao nổi niềm tình cảm
của dân tộc ta trong những năm tháng đó được thơ ca thể hiện một cách cao đẹp. Mặt
khác, thơ ca thời kì này đã đặt được nền móng vững chắc cho sự phát triển của thơ ca
cách mạng Việt Nam.
Giai đoạn 1945 – 1975 là giai đoạn mà cả nước tiến hành hai cuộc kháng chiến
chống lại hai đế quốc hùng mạnh nhất nhì thế giới vì độc lập, tự do, thống nhất đất
nước và CNXH. Toàn thể nhân dân ta bước vào cuộc kháng chiến đầy gian khổ và khó
khăn này với một quyết tâm cao độ. Khi cả dân tộc trong tư thế sẵn sàng xung trận thì
thơ ca lẽ nào chỉ để ca tụng sự tinh khiết của một giọt sương, sự đẹp đẽ của một cành
hồng, sự lảnh lót véo von của một tiếng chim – như các nhà thơ trước đã từng làm như
thế. Lẽ nào lại như thế – không thể như thế! Thi ca trong giai đoạn này phải là đạn
bom, là tiếng kèn xung trận đanh thép. Sóng Hồng – một trong những nhà thơ, nhà
Trang 30
lãnh đạo cách mạng đã đưa ra những câu thơ khẳng định phương hướng sáng tác mới
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
của các nhà thơ:
“… Lấy cán bút làm đòn xoay chế độ
Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền …”
Và điều đó càng được khẳng định với Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“… Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong …”
So với các thể loại khác, thơ kháng chiến xuất hiện khá phong phú đa dạng có
mặt trong thường trực đời sống tinh thần quần chúng từ sau cách mạng tháng Tám số
người làm thơ, thích thơ lại càng nhiều. Một mặt, hàng triệu người thoát nạn mù chữ,
cuộc sống kháng chiến gian nan con người trong kháng chiến luôn sống trong lo lắng,
hồi hộp, chờ đợi, hi vọng và một mặt không kém phần quan trọng là thơ ca dễ làm dễ
phổ biến rộng rãi và dễ thuộc hơn các loại hình văn chương khác. Hoài Thanh đã có
nhận xét rất xác đáng: “Hầu hết những con người mang ba lộ lặng lẽ đi trên các nẻo
đường kháng chiến trong một quyển sổ tay nào đó thế nào cũng có ít bài thơ. Trong
các buổi hợp mặt, các buổi liên hoan, chen vào giữa các câu chuyện thế nào cũng có ít
bài thơ (…) Trong cuộc chiến tranh của nhân dân ta, tiếng súng, tiếng nhạc, tiếng thơ
cùng hòa điệu”. Chế Lan Viên cũng đã từng khẳng định vai trò và sức mạnh của thơ ca
giai đoạn này qua các vần thơ:
“Ta muốn thơ ta thành hầm chông giết giặc …
… Cho tôi sinh giữa những ngày chống Mĩ
Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy
Bên những dũng sĩ diệt xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi”
Do đó, trong giai đoạn này thơ ca là loại hình phát triển mạnh nhất và lực lượng
sáng tác thơ ngày càng đông đảo. Hầu hết, các nhà Thơ Mới đều tham gia sáng tác thơ
cho cách mạng như: Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Tế Hanh,
Nguyễn Bính…Một mặt họ cầm súng tham gia chiến đấu mặt khác họ sáng tác thơ
phục vụ chiến đấu và không ít các nhà thơ đã hi sinh trong cuộc kháng chiến trường kì
của dân tộc.
Trang 31
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Bên cạnh đó, phong trào sáng tác thơ ca quần chúng cũng phát triển mạnh mẽ
với những cây bút tiêu biểu: Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hữu Loan, Hoàng Cầm,
Quang Dũng…Giờ đây “anh cán bộ chính trị, anh cán bộ quân sự, anh công an, anh
bình dân học vụ, anh thông tin, anh hỏa lực, các chị dân công, các em thiếu nhi, hết
thảy đều làm thơ” (Hoài Thanh). Tất cả họ, mỗi người một nét riêng đã mang đến sự
mới mẻ từ nội dung đến nghệ thuật cho thơ ca cách mạng.
Thơ ca giai đoạn này cũng mang tính kế thừa. Thể hiện cụ thể qua sự giao thoa
giữa cái cũ và cái mới. Nỗi buồn, sự chia ly, mất mát trong Thơ Mới cũng vẫn được
tiếp tục thể hiện nhưng với một cung bật mới, trong những sáng tác của Hữu Loan –
Màu tím hoa sim, Bên kia sông đuống của Hoàng Cầm, Tây tiến của Quang Dũng…
Phong trào thơ ca kháng chiến thể hiện được nhiều tình cảm cao đẹp của con
người Việt Nam trong kháng chiến như: Tình mẹ con, tình vợ chồng, tình yêu, tình
quân dân, tình đồng đội…Hơn ai hết, Tố Hữu người trực tiếp tham gia kháng chiến
nên có cơ hội được gần gũi đời sống nhân dân lao động, nên ông viết nhiều và viết
thấm thía về tình mẹ con qua nhiều bài thơ như: Bà Bủ, bà mẹ Việt Bắc, Bầm ơi. Nhà
thơ đã thể hiện được nỗi trăn trở, thao thức nhớ thương của người mẹ có con đi bộ đội:
“Nhà còn ổ chuối lửa rơm
Nó đi đánh giặc đêm hôm sưởi gì”
Hay:
“Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu”
Tuy nhớ thương con nhưng người mẹ vẫn vượt qua gian khó khăn gian khổ
trong cảnh sống đơn chiếc để động viên con lên đường đánh giặc với bởi luôn có niềm
tin “nó về thắng trận”. Còn đứa con xa nhà đi chiến đấu cũng luôn thầm nhớ về mẹ.
Từ sự cảm thông sâu sắc ấy, Hoàng Trung Thông thể hiện thành công nổi niềm
tâm trạng của bà mẹ khi đón bộ đội về làng như đón những đứa con thân yêu trở sau
những tháng năm xa cách:
“Mẹ già bịn rịn áo nâu
Trang 32
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Vui đàn con ở rừng sâu mới về”
Không chỉ thành công ở các bài thơ viết về bà mẹ, thơ kháng chiến còn có
nhiều bài thơ hay viết về các chị - những người vợ. Họ vừa đảm đang việc nhà vừa
hăng hái nhiệt tình với việc nước. Người phụ nữ trong bài thơ Phá đường của Tố Hữu
dù bận rộn việc nhà trong cảnh “con bế con bồng” nhưng vẫn thu xếp để tham gia
công việc kháng chiến. Hình ảnh của một người vợ trẻ tâm sự qua trang thơ sau đã cho
ta cảm nhận đầy đủ tâm sự của người phụ nữ hậu phương:
“Người ta nhủ đừng trông
Ai cũng bảo đừng mong
Riêng em thì em nhớ”
Cái khắc nghiệt của chiến tranh đã làm bao người phải ngã xuống, bao mái ấm
gia đình phải li tán nhưng không đủ sức làm tắt được niềm tin chiến thắng, niềm tin
sum hợp gia đình của mỗi con người Việt Nam.
Có lẽ thành công và đặc sắc nhất là thơ ca sáng tác về đề tài “người lính” và
“tình cảm quân dân” trong giai đoạn này. Họ - những người vệ quốc quân đến với
kháng chiến từ nhiều vùng quê khác nhau. Đó có thể là những vùng quê “nước mặn
đồng chua” hay những ngôi làng “đất cày lên sỏi đá” hay những con người từ “tứ
sứ”…Nhưng khi đất nước lên tiếng gọi họ sẵn sàng bỏ lại quê nhà công việc đồng
ruộng đầy vất vả và “Ít nhiều người vợ trẻ. Mòn chân bên cối gạo canh khuya”. Họ
đến với chiến trường là điều bất đắc dĩ, trong số họ không ai ham muốn chiến tranh,
không ai muốn ôm súng ra chiến trường. Họ cùng nhau chia sẻ bao ngọt bùi cay đắng,
họ gọi nhau bằng cái tên thật trìu mến “đồng chí” và được Chính Hữu khắc họa thật
xúc động, thật tinh tế bằng những vần thơ:
“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Trang 33
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
Những thay đổi về nội dung tư tưởng, thơ ca giai đoạn này chuyển từ “hướng
nội” sang “hướng ngoại”. Nghĩa là thơ ca giai đoạn này thôi nói về những cảm xúc
mang tính riêng tư mà đã gắn bó chặc với đời sống của quần chúng nhân dân, với Cách
mạng. Chính điều đó nên những sáng tác của các nhà thơ cách mạng đều mang tính
phổ quát, giản dị, dễ đọc, dễ nhớ.
Về thể thơ. Thơ ca giai đoạn này vẫn tiếp tục sử dụng phổ biến các thể thơ quen
thuộc của dân tộc như: Lục bát, song thất lục bát, thất ngôn, ngũ ngôn…Thể thơ tự do
cũng được sử dụng khá nhiều vì nó thuận lợi trong cách gieo vần, ngắt nhịp và thể hiện
mạch cảm xúc của nội dung bài thơ. Bên cạnh đó, các nhà thơ cũng đã biết tiếp thu, kế
thừa những mặt hay của phong trào Thơ Mới và không ngừng sáng tạo cái mới.
b. Từ 1954 – 1975
Dù hoàn cảnh đất nước chiến tranh nhưng thơ ca vẫn phát triển mạnh và có ưu
thế hơn các thể loại khác. Được tôi luyện trưởng thành trong những năm kháng chiến
chống Pháp, nên giai đoạn này hầu hết các nhà thơ đã trưởng thành đáng kể trong
chiến đấu cũng như trong sáng tác. Họ ngày càng khẳng định vị trí của mình, do có
quan niệm thơ và cái nhìn hiện thực đúng đắn. Bên cạnh đó, một lượng lớn những nhà
thơ trẻ cũng đã xuất hiện và ngày càng khẳng định được tài năng của mình trên thi đàn
như: Xuân Quỳnh, Dương Hương Ly, Nguyễn Duy, Lâm Thị Mỹ Dạ…Họ mang đến
sự mới mẻ cho thơ ca bằng tài năng và sức trẻ của mình. Giọng điệu khỏe khoắn, cấu
tứ mới mẻ và đầy táo bạo là những gì mà thơ ca trước đây chưa nổi bậc bằng họ.
Một chủ đề lớn của thơ ca giai đoạn này là xoay quanh vấn đề ca ngợi Tổ quốc
XHCN gắn liền với lòng yêu nước nồng nàn tha thiết. Chưa có giai đoạn nào mà lòng
yêu quê hương đất nước lại gắn chặc với lòng yêu chế độ như bây giờ. Tình yêu ấy
quyện thành một thứ tình cảm thiêng liêng cao quý và được gửi gắm phản ánh chân
thực qua thơ ca.
Công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc vô cùng khó khăn gian khổ nhưng
cũng hết sức vẻ vang, sôi nổi, hào hùng. Đây là “mảnh đất lành” cho thơ ca thâm nhập
và nảy nở. Trong mỗi con người Việt Nam lúc ấy tràn ngập một nỗi vui mừng không
Trang 34
tả, chưa bao giờ Tổ quốc lại giàu đẹp trong đôi bàn tay làm chủ của người lao động
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
như bây giờ:
“Yêu biết mấy bước đi, dáng đứng
Của đời ta chập chững buổi đầu tiên
Tập làm chủ, tập làm người xây dựng
Dám vươn mình cai quản lại thiên nhiên”
Hay chính Tố Hữu lại ngỡ ngàn trước sự giàu đẹp của Tổ quốc, đến nỗi ông
phải thốt lên: “Đẹp vô cùng đất nước ta ơi”. Cùng suy nghĩ với ông nhưng với chất
giọng đầy tự hào hơn, Nguyễn Đình Thi từng viết:
“Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn”
Chế Lan Viên thì trong sự ngỡ ngàng có thoáng chút hoài nghi nên tự hỏi: “Tổ
quốc có bao giờ đẹp thế này chăng?”
Mỗi người một góc nhìn, một cung bậc tình cảm thể hiện, các nhà thơ đã mang
đến cho người đọc đầy đủ và trọn vẹn nhất hình ảnh của một miền Bắc đang căng tràn
nhựa sống, đang thay da đổi thịt từng ngày từng giờ và nhất là vẫn mang trọn vẹn hình
ảnh miền Nam thân yêu trong lòng miền Bắc, đang ngày đêm chi viện cho miền Nam
đánh thắng giặc Mĩ xâm lược.
“Hình ảnh miền Nam trong trái tim tôi”. Đó là câu nói hết sức xúc động mà lúc
sinh thời Bác vẫn thường nói. Trong khi miền Bắc đang ngày càng giàu đẹp thì miền
Nam đang phải gồng mình hứng chịu bao đau thương mất mát do chiến tranh mang lại.
Hiệp định Giơnevơ chia đôi đất nước. Con sông Bến Hải – Vĩ tuyến 17 như một nhát
dao chém đôi “cơ thể Việt Nam”. Hướng về miền Nam thân yêu – “miền Nam đi trước
về sau” cả nước hướng về đây với bao sự xót thương chia sẻ. Biết bao nỗi đau xót xa,
biết bao căm hờn được dồn nén vào những trang thơ. Đề tài lớn thứ hai của thơ ca giai
đoạn này đề tài về miền Nam. Chỉ có một dòng sông thôi mà:
“Bờ nớ bờ ni trông thấy
Sao đành nón ngoắt tay đưa
Trang 35
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Nhìn lại nhìn qua
Sao mắt đành ứa lệ”
Hàng loạt bài thơ ra đời viết về đề tài miền Nam như: Sóng vỗ cửa Tùng của
Lưu Trọng Lư, Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh, Đêm tập kết của Chế Lan
Viên…Từ sự cảm thông chia sẻ ấy các nhà thơ còn thể hiện rõ một niềm tin tất thắng ở
tương lai thống nhất đất nước.
Tóm lại, thơ ca giai đoạn này tập trung vào đề tài “ra trận”. Nó thể hiện rõ ý chí
và tấm lòng của con người Việt Nam vốn “lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa”
(Huy Cận), “Xẻ dọc trường sơn đi cứu nước. Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố
Hữu). Với những tác phẩm tiêu biểu như: Đường ra trận của Chính Hữu, Anh vẫn
hành quân của Trần Hữu Thung, Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân…tất cả đã
tạo nên một giai đoạn thơ ca hết sức vẻ vang đáng tự hào của dân tộc.
Sau hơn ba mươi năm gian khổ kháng chiến, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào thì thơ
ca vẫn không ngừng vươn lên, các nhà thơ vẫn luôn tìm tòi và phản ánh chân thực
cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc. Đó là một bước đi vững chãi, có sự kế thừa
thơ ca trước đó và sự cách tân đột phá táo bạo. Tất cả là sự kết hợp một cách nhuần
nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại. Thơ ca giai đoạn này đã hoàn thành xuất sắc sứ
mệnh lịch sử đặc ra, đồng thời cũng góp phần đáng kể trong công cuộc hiện đại hóa
nền thơ ca nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung.
Trang 36
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
CHƯƠNG 2
CÁI BI
TRONG THƠ CA CÁCH MẠNG VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH
GIAI ĐOẠN 1945 - 1975
2.1 Cảm nhận về sự khốc liệt của chiến tranh
Chiến tranh đã kết thúc hơn ba mươi năm, bom đạn đã thôi không còn rơi nữa.
Nhưng vẫn còn đâu đó trên khắp đất nước này một nỗi đau, một nỗi đau mà thời gian
không thể nào bôi xóa được – đó là nỗi đau về sự tàn phá của chiến tranh để lại. Khi
nhắc tới hai từ “chiến tranh” tự nó đã vẽ lên trong tâm tưởng của mỗi con người bao
cảnh tang thương chết chóc, đạn lạc bom rơi. Theo bước đi của lịch sử, thơ ca cách
mạng những năm 1945 – 1975 đã kịp thời ghi lại một cách đầy đủ, sống động và chân
thực về sự khốc liệt của chiến tranh qua từng trang viết. Nó như một minh chứng lịch
sử hùng hồn tố cáo tội ác của giặc ngoại xâm, đồng thời cất cao tiếng nói phản chiến
của dân tộc Việt Nam.
Dân tộc ta vốn có truyền thống yêu chuộng hòa bình. Qua bao thăng trầm của
lịch sử truyền thống ấy càng được khẳng định và ngày càng được phát huy vẻ vang.
Chiến tranh đối với chúng ta là điều bất khả kháng, không một ai mong đợi. Nếu có
xảy ra đi chăng nữa thì bất cứ cuộc chiến tranh nào trên đất nước Việt Nam này - đó
chỉ là một cuộc chiến tranh vệ quốc, một cuộc chiến tranh chính nghĩa. Hồ Chí Minh
đã từng khẳng định tinh thần yêu chuộng hòa bình của dân tộc ta khá rõ trong lời kêu
gọi toàn quốc kháng chiến, Bác nói: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân
nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thì chúng càng lấn tới vì chúng quyết tâm
cướp nước ta một lần nữa”. Không một ai có thể chối bỏ chiến tranh sẽ mang đến cho
con người không chỉ có chết chóc tan thương, mà chiến tranh còn mang lại biết bao sự
đổ nát điêu tàn. Dân tộc ta đã trải qua bề dày lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ
nước. Từ ngày ông cha ta lập quốc đến nay là ngần ấy thời gian dân tộc ta phải liên tục
chống chọi với những âm mưu xâm lược của kẻ thù. Chính vì thế nên hơn ai hết đất
nước ta phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của chiến tranh mạng lại. Dân tộc ta
hiểu rất rõ bản chất và hậu quả của chiến tranh là gì?
Trang 37
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Mùa thu năm 1945 là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Nó khép lại thời kì
xã hội phong kiến, đồng thời khai sinh ra một xã hội “do dân làm chủ” hết sức tiến bộ.
Cởi bỏ xiềng xích nô lệ cho nhân dân. Nhưng kể từ mùa thu năm ấy thì dân tộc ta phải
liên tục đối đầu với kẻ thù cướp nước hết sức hùng mạnh và gian ác. Chúng ta khoan
hãy tranh cải vấn đề: ai là phe chính nghĩa – ai là phe phi nghĩa, ai là người chiến
thắng và đâu là kẻ chiến bại. Mà chúng ta hãy nhìn vào sự thật trước mắt, rằng chiến
tranh đã mang lại cho chúng ta những gì và nó đã lấy đi của chúng ta những gì? Bản
chất thực của bất kì cuộc chiến tranh nào nằm trong câu trả lời khách quan và đúng
đắn nhất cho câu hỏi vừa nêu. Thơ ca cách mạng thuở ấy như một người thư kí khách
quan, trung thành và tận tụy nhất của thời đại. Nó đã kịp thời ghi lại chân thực qua
từng trang viết sự tàn khốc của chiến tranh mà kẻ thù đã gây ra cho nhân dân ta trên
khắp mọi miền đất nước. Nó được đánh dấu bằng một mùa thu điêu tàn đầy nước mắt
cho con người và thấm sâu vào lòng đất:
“Từ độ thu về hoang bóng giặc
Điêu tàn ôi lại nối điêu tàn!
Đất đá ong khô giờ ngấn lệ
Em có bao giờ lệ chứa chan?”
(Đôi mắt người Sơn Tây – Quang Dũng)
Quân giặc kéo về tràn qua bao thôn xóm, phá tan cảnh thanh bình vốn có gây ra
bao cảnh li hương, hỏi ai không đau lòng, không rơi lệ? Khung cảnh yên vui ngày nào
ở làng quê Kinh Bắc bỗng dưng biến mất từ “ngày khủng khiếp” ấy, thay vào đó là
một khung cảnh “ruộng khô, nhà cháy, chó ngộ một đàn…”. Tất cả nay chỉ còn trong
kí ức xa xôi và đã trở thành kỉ niệm:
“Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Trang 38
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang từng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?”
(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)
Một làng quê trù phú với biết bao nhiêu nét đẹp truyền thống thanh tao, những
giá trị văn hóa lâu đời nay đã bị thiêu trụi trong “ngùn ngụt lửa hung tàn”. Giọng thơ
lúc hùng hồn gấp gáp, lúc sâu lắng chậm rãi. Nó thể hiện khá rõ nét và thành công cảm
xúc bàng hoàng của Hoàng Cầm khi nghe quê hương rơi vào tay giặc. Nếu Hoàng
Cầm “nghe xót xa như rụng bàn tay” khi biết quê hương chìm trong máu lửa của quân
Pháp hung tàn thì Nguyễn Phan Hách lại mượn hình ảnh “Chín nhịp cầu trăn trở” để
nói lên nỗi lòng tê tái của mình khi làng Quan Họ quê mình vào “Những ngày bom Mĩ
thả”:
“Làng Quan Họ quê tôi
Những ngày bom Mĩ thả
Quán đổ dưới gốc đa
Chín nhịp cầu trăn trở”
(Làng Quan Họ - Nguyễn Phan Hách)
Mỗi người một cung bậc cảm xúc về nỗi đau khi chứng kiến cảnh quê hương
đang bị quân thù giày xéo. Nhưng nó đều là cảm xúc chân thực và da diết biết bao của
một người con của quê hương xứ sở khi chứng kiến cảnh quê hương bị tàn phá trong
khói lửa chiến tranh. Tội ác của quân giặc diễn ra nơi nơi, một cái láng nhỏ ven rừng
cũng không thoát khỏi tầm mắt của chúng. Cảnh cướp bóc giết chóc diễn ra như một
thói quen của bọn khát máu trước sự ngỡ ngàng, khiếp sợ và căm phẫn của dân lành:
“Súng nổ kìa! Giặc Tây đến làng
Từng cái láng nó đốt đi trơ trụi
Nó vét hết áo quần trong túi
Mẹ dìu con chạy tót lên rừng”
(Dọn về làng – Nông Quốc Chấn)
Khói lửa chiến tranh thì không “có mắt”. Sự tàn phá nặng nề của chúng diễn ra
khắp nơi không bỏ sót bất cứ nơi đâu, ở những nơi mà chúng đã từng đi qua. Đó có thể
là những ngôi đền ngôi chùa, nơi tôn nghiêm và thanh tịnh nhất:
Trang 39
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
“Bom Mĩ dội, nhà bà tôi bay mất
Đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền”
(Đò lèn – Nguyễn Duy)
Hay một thôn nhỏ ven đồi trong mùa thu hoạch:
“Bỗng tới mùa chim quân giặc tới
Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau
(…)
Từ núi qua thôn, đường nghẽn lối
Xuân Dục, Đoài Đông cỏ ngút đầy
Sân biến thành ao, nhà đổ chái
Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay”.
(Núi đôi – Vũ Cao)
Mùa gặt là mùa yên vui và đầm ấm nhất trong năm, mùa báo hiệu của hạnh
phúc và sum vầy, mùa của bao ước mơ đôi lứa thành sự thật. Ấy vậy mà chỉ chớp mắt
tất cả đã bị xóa sạch và thay thế khung cảnh hỗn độn và ngổn ngang. Xuân Dục, Đoài
Đông là những địa danh có thật. Sở dĩ tác giả đưa ra cụ thể như vậy là để người đọc
thấy tội ác của quân xâm lược là sự thật. Đó có thể là trên những nẻo đường dẫn ra
tuyền tiến, nơi cái chết luôn hiện hữu, rình rập và chờ đợi bất cứ ai:
“Nhưng ngã ba Đồng Lộc xây bằng xương máu
Khi con về quê con nhớ viếng thăm
Mộ mười cô nằm bên đường đó”
(Ngã ba Đồng Lộc – Huy Cận)
Hay cảnh trắng tay mất tất cả của một xóm nghèo trong bài thơ Bếp lửa của
Bằng Việt:
“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi”
(Bếp lửa - Bằng Việt)
Ở nơi nào mà có gót giày của quân xâm lược đi qua thì nơi ấy cảnh giết người
cướp của luôn luôn diễn ra. Tội ác của chúng đã được nhà thơ Phạm Phú Thuần ghi lại
hết sức dã man và độc ác, không từ bất cứ một hành động tội ác nào, miễn sao thỏa
mãn sự khát máu và dã tâm của chúng:
Trang 40
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
“Hãm dân đốt nhà cửa
Giết người cướp của dùng”
(Về thăm vùng bị chiếm - Phạm Phú Thuần)
Chúng cướp đi mọi công lao, của cải của những người nông dân lao động vất vã
quanh năm mới có được. Chúng không bỏ lại bất cứ thứ gì ngoài chết chóc, điêu tàn và
đói khát:
“Có năm đoàn ngựa Nhật vào tỉnh
Xóm tôi không còn một buồng chuối chín
Có năm bom Mĩ đổ xuống quanh nhà
Chỉ còn tiếng kêu trời khóc ra máu
Xóm tôi lại nghèo xơ xác
Đàn gà cũng không kiếm ăn được trên đống rác”
(Những ngày động biển – Văn Cao)
Hết quân Nhật rồi đến quân Pháp và cuối cùng là Mĩ – Ngụy, chúng thay nhau
gieo rắc tội ác xuống quê hương Việt Nam này. Tội ác ấy được lịch sử ghi lại bằng nạn
đói năm 1945, nó đã cướp đi mạng sống của hơn hai triệu đồng bào ta và đã đi vào thơ
ca một cách hết sức xúc động và chân thực:
“Nhưng –
Năm ấy là năm đói khát
Ta lê đi ngã gục mọi con đường
Không đâu còn – cỏ héo để mà ăn!
Bên quán chợ, cầu sông, điếm cỏ”
(Cách mạng tháng Tám – Trần Dần)
Cuộc sống của những người nông dân nước ta vốn đã khốn khó, nghèo khổ nay
phải ngập tràn trong cảnh đạn bom. Lời thơ thật xúc động, bằng những hình ảnh giản
dị nhưng có sức lay động lòng người. Giữa chiến tranh đầy khói lửa thì loài vật còn
không tìm được miến ăn huống chi là con người. Con người lúc ấy cảm thấy bơ vơ lạc
lõng giữa cuộc đời đầy đau khổ này, họ chỉ còn biết kêu trời, trách đất để khóc than
cho số phận của mình. Họ không biết làm gì trước thực cảnh trớ trêu đầy khắc nghiệt
này:
“Nhà cửa ra tro, vườn cháy rụi
Trang 41
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Chồng già giặc bắt chưa tha về
(…)
Khuya sớm không nghe một tiếng gà
Loanh quanh chòi xóm mấy thân già
Đàn bà, con nít buồn ngơ ngát
Tất cả trai làng đã ruổi xa
Ruộng bỏ không cày lau lách mọc
Đường mòn cỏ lấp vắng người đi
Cầu nghiêng ván đổ, trên sông quạnh
Quạ đói kêu buồn rỉa tử thi”
(Gió nội thở dài – Xuân Miễn)
Bài thơ hiện lên khung cảnh một làng quê bé nhỏ nhưng tràn ngập vẻ tiêu điều,
vắng lặng. Cái vắng lặng của chết chóc của điêu tàn sụp đổ. Khăn tang, nước mắt và
những nghĩa trang tràn ngập mộ người có lẽ là những hình ảnh hết sức đáng sợ đối với
mỗi chúng chúng ta bây giờ, nhưng nó lại hết sức phổ biến vào thời ấy. Nó như người
bạn đồng hành cùng với chiến tranh. Ở đâu có chiến tranh là nơi ấy cái chết luôn hiện
hữu. Nó ám ảnh tiềm thức của những con người còn sống trong suốt những năm ác liệt
ấy:
“Ba mươi năm không ngày nào vắng người chết đạn
Khăn tang bay người sống trắng mái đầu
Đâu cũng gặp những nghĩa trang liệt sĩ
Chiến tranh chấm dứt rồi mà nào đâu dễ tin đâu”
(Tản mạn thời tôi sống – Nguyễn Trọng Tạo)
Hay hoàn cảnh thê lương tan tóc qua lời kể của Người đàn bà Ninh Thuận:
“Tang cha còn trắng trên đầu
Đến chồng bị giết, mẹ rầu chết theo”
(Người đàn bà Ninh Thuận – Tế Hanh)
Chiến tranh là thế, con người sống trong chiến tranh phải biết tự mình thích
nghi trước sự khắc nghiệt của thực tại. Bom đạn thì không có sự phân biệt đâu là người
sống đâu là người đã yên nghỉ, chúng hủy hoại tất cả dưới tầm ngắm của mình:
“Thung lũng nằm dưới bầu trời thép
Trang 42
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Bom thù ném chật thung lũng hẹp
Con suối ngàn xưa đang chảy mất dòng
Than bột lên cùng hài cốt cha ông”
(Thung lũng than – Yên Đức)
Sau những trận bom, loạt đạn khát máu ấy, cảnh làng quê yên ả thanh bình chỉ
còn lại một màu trắng tang tóc, một sự điêu tàn lạnh lẽo trong một chiều đông đầy lá
rụng:
“Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vết máu loang chiều mùa đông”
(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)
Chỉ hai câu thơ thôi đã gợi tả lên biết bao nhiêu điều, cụ thể hơn là biết bao “cái
chết” ẩn đằng sau nó: Cái chết của một một chiếc lá xa cành, cái chết của một ngày
mùa đông và hơn hết là cái chết của một năm đã trôi đi được đánh dấu bằng một mùa
đông sắp tàn. Hay khung cảnh bầu trời chiều tà ở một làng quê được tô vẽ bằng máu
và dây thép gai:
“Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều”
(Đất nước – Nguyễn Đình Thi)
Màu xanh tươi của cây lúa được thay thế bằng màu đỏ của máu người, những
khóm tre bờ trúc thanh tao nay biến thành những hàng rào thép gai của “ấp chiến
lược”. “Vài ba vết máu” là bao nhiêu? Nó có phải quá nhiều hay quá ít? Vài ba vết
máu thật là hơi ít, nhưng nó đã loang ra, hòa lẫn cùng chiều đông, một khung cảnh
ngày tàn lạnh lẽo đầy sắc máu. Sự khốc liệt của chiến tranh không chỉ diễn ra ở thực
tại mà nó đã đi sâu vào tâm khảm con người. Nó ám ảnh, bám díu lấy nỗi sợ hãi của
con người, nó men theo vào cả trong những giấc ngủ rất vội và chập chờn của những
lần dừng chân trên đường đi hành quân đường xa:
“Giấc ngủ không say
Như em ngủ chập chờn bên trận địa
Như mẹ ngủ bên ngọn đèn thức tỏ
(Ngủ theo đội hình đánh giặc – Nguyễn Đức Mậu)
Trang 43
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Đôi khi nỗi khiếp sợ của chiến tranh nó còn hằng sâu vào tiềm thức vào trí nhớ
của người còn lại dù cuộc chiến đã tàn bom đạn đã thôi rơi:
“Chúng ta nhớ gì những ngày kháng chiến
Một vết đạn giữa trán em bé lên năm
Một vết dao trên ngực người con gái đương thì
Chúng ta nhớ gì những ngày kháng chiến
Một nền nhà cháy một hố bom sâu
Một hố chôn chung
Một dây người bị bắn
Chúng ta nhớ gì những ngày kháng chiến
Mất cả mùa xuân mất cả tình yêu
Mất đôi mắt thật trong, mất thật nhiều rung cảm
Mất rất nhiều đồng chí”
(Những ngày động biển – Văn Cao)
Có khi ranh giới giữa sự sống và cái chết của những con người trong chiến
tranh rất mỏng manh như một sợi chỉ và nhanh như một cái chớp mắt của con người.
Cái chết của chiến tranh không có sự phân biệt nào cả: Trẻ em, một người thiếu nữ
đương thì hay một cụ già phơ phơ tóc bạc đều có thể ngã xuống trong tầm rơi của bom
đạn triền miên:
“Có chuyến đi bom nổ quanh mình
Tai bật máu đất tung vùi lấp
Túi thư vẫn ôm ghì trước ngực
Ngoi lên, rũ áo, lại lao nhanh”
(Chuyện không có trong thư – Tô Hà)
Nhưng dù hiện thực có khắc nghiệt cỡ nào đi chăng nữa, cho dù bị cái chết luôn
rình rập thì họ - những người chiến sĩ vẫn biết cách vượt lên tất cả để chiến đấu và
chiến thắng anh hùng nhất.
Chiến tranh sẽ có ngày kết thúc. Mọi vết thương thể xác có thể sẽ có ngày lành
lại. Nhưng sự khốc liệt của chiến tranh thì vẫn mãi ăn sâu vào tâm hồn những người
lính trận. Họ đã sống trọn vẹn trong chiến tranh, nếm đủ dư vị của nó. Nên mỗi lần
nhớ tới, hay được trở về thăm lại chiến trường xưa – nơi mà mình đã từng đổ xương
Trang 44
máu chiến đấu và hơn thế nữa là đồng đội ít nhiều đã từng có người ngã xuống, thì hỏi
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
ai không quặn lòng đau:
“Cảnh cũ
Hôm nay đổi thay dấu vết
Mười sáu năm tôi trở lại đây
Xương thịt tay gầy,
Cây gạo ngày xưa vẫn nở
Mặt đường còn rỗ dấu bom
Ngực vách đang đau vết đạn”
(Lại về tỉnh nhỏ - Yến Lan)
Chiến tranh tuy không lấy đi tính mạng của họ, nhưng họ có thể để lại chiến
trường một phần cơ thể mình và hơn thế họ đã bỏ lại chiến trường một thứ vô cùng
quý báu – đó chính là tuổi xuân. Tuổi xuân của họ trôi qua nhanh cùng với những
tháng ngày bom đạn chết chóc ấy và mãi mãi không bao giờ trở lại. Đôi khi sự khốc
liệt của chiến tranh được nhìn bằng đôi mắt lãng mạn của thi sĩ nên nó có phần hài
hước và pha một ít dí dỏm trong đó:
“Xe không kính không phải vì không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn trời nhìn đất nhìn thẳng”
(Tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)
Tóm lại, vào những ngày đầu “bình minh của thơ ca cách mạng” hình ảnh thơ
đậm chất lãng mạn, hình tượng người lính những ngày đầu cách mạng mang dáng dấp
của chàng Kinh Kha năm xưa khi bước chân vào mặt trận:
“Thôi hãy lên đường tráng sĩ ơi ?
Quê hương mong đợi đã bao đời
Biên thùy nghe dậy niềm ai oán
Gươm hận mài chưa? Khát máu rồi”.
(Biết gửi đưa ai – báo Vệ Quốc )
Đó là tâm trạng của những ngày đầu xung trận còn vương lại chút mơ mộng của
thời thanh bình đã mất:
Trang 45
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
“Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
Mái đầu xanh thề mãi đến khi già
Phơi nắng gió hoa ngàn cỏ dại”.
(Ngày về – Chính Hữu )
Họ đi vào chiến trường với những hình ảnh đẹp nhất, anh dũng nhất và cũng
đầy chất lãng mạn nhất:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.
(Tây tiến – Quang Dũng )
Đó là hình ảnh người lính Tây Tiến trong cuộc hành quân đầy gian khổ: ăn đói,
mặc rét, sốt rét đến xanh da trụi tóc. Người chiến sĩ vô danh ấy vẫn tiếp bước trên
đường với lòng yêu nước khôn nguôi, cho dù có phải nằm lại nơi chiến trường:
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
(Tây tiến – Quang Dũng)
Nhưng rồi bom đạn, chết chóc, chiến tranh ngày càng ác liệt hơn. Hiện thực
cuộc sống đã khiến cho họ không còn những mơ mộng của ngày đầu nhập ngũ. Hình
tượng thơ có sự vận động đi từ lãng mạn đến hiện thực. Điều đó cũng là điều phù hợp
với những vận động biến đổi trong tâm hồn người chiến sĩ. Như chính nhà thơ Chính
Hữu từng tâm sự : “Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, là chính trị viên, hằng ngày tôi
phải chăm nom chôn cất những đồng đội của tôi đã hi sinh và tôi có nhận xét : Bạn tôi,
không có người nào chết trong động tác nằm ngủ, trong tư thế nghỉ ngơi. Họ đều hi
sinh trong khi đang bắn, hoặc ôm bộc phá xông lên”. Nhận xét này đã trở thành sự day
Trang 46
dứt, âm ỉ, nó trở thành một vấn đề trách nhiệm. Và một lúc nào đó, từ trong kỷ niệm,
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
một cách bất ngờ nhất, nó đã hiện lên thành những câu thơ trọn vẹn:
“Bạn ta đó
Chết trên dây thép ba từng
Một bàn tay chưa rời báng súng
Chân lưng chừng nửa bước xung phong
Ôi những con người mỗi khi nằm xuống
Vẫn nằm trong tư thế tiến công”
Đó là hình ảnh sẽ đeo đuổi suốt đời chúng ta về những cái chết, về sự tàn khốc
của chiến tranh. Nó không phải làm ta sợ hãi, trở nên hèn nhát và yếu mềm hơn mà chỉ
có tác dụng thôi thúc chúng ta chắc tay súng để đứng lên chiến đấu. Có lẽ vì vậy mà
hình ảnh người chiến sĩ không còn gắn với “bụi trường chinh” và “áo hào hoa” nữa,
mà đã trở thành người Vệ quốc quân trong tình đồng chí, đồng đội và tình quân dân,
cùng chiến đấu vì lòng yêu tổ quốc mặc cho khói lửa đạn bom vẫn không ngừng rơi,
mặc cho cái chết luôn rình rập.
2.2 Nỗi đau về sự mất mát hi sinh
2.2.1 Nỗi đau về sự mất mát hi sinh của đồng chí, đồng đội
Kháng chiến bùng nổ, người trai lên đường ra chiến trận theo lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến của Hồ chủ tịch kính yêu – lời kêu gọi của non sông, đất nước. Họ đi
vào chiến trường với những hình ảnh đẹp nhất, anh dũng nhất và cũng đầy chất lãng
mạn nhất:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
(Tây tiến – Quang Dũng )
Chính cảm hứng lãng mạn đã nâng đỡ và giúp họ vượt qua sự khắc nghiệt của
hiện thực chiến tranh. Nhưng rồi hiện thực chiến tranh với bao mất mát vốn dĩ của nó
đã tác động trực tiếp vào nhận thức của các nhà thơ. Hình tượng thơ có sự vận động từ
lãng mạn đến hiện thực. Đó là một xu hướng tất yếu của lịch sử. Khi những vần thơ
Trang 47
lãng mạn không đủ sức thuyết phục và giải quyết triệt để nhu cầu nắm bắt hiện thực
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
của độc giả thì sự vận động đó là tất yếu là hợp lí với xu thế chung của thi ca thời đại.
Vì vậy, trong Ba mươi năm – một nền thơ cách mạng, Trúc Chi viết: “Thơ ca những
năm đầu kháng chiến nhìn chung chưa phản ánh được cái không khí thực về cuộc cách
mạng, những tình cảm thực về cảnh đứng dậy của toàn dân. Tâm trạng của những bài
thơ còn nhiều hơi hướng cái “buồn rớt” hoặc “chân dung” của tráng sĩ một thời. Tác
giả đang đi tìm nẻo đường kháng chiến mà tâm hồn vẫn trú ngụ trong những tầng mây
huyền ảo, trí tưởng tượng vẫn trú ngụ ở những bóng dáng thời xưa lạc lõng”. Đó là lí
do cơ bản để thơ ca sau những năm 1945 có đủ điều kiện để nảy sinh đề tài sáng tác
mới. Từ khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn làm chủ đạo thơ ca dần tiếp cận
hiện thực cách mạng, tái hiện chân thực hiện thực cuộc chiến tranh vệ quốc cùng với
những mất mát hi sinh mà nó mang lại.
Đi kèm cùng với sự khốc liệt của chiến tranh tất yếu là những hi sinh mất mát
mà con người phải gánh chịu. Trong ba mươi năm chiến tranh chống thực dân Pháp và
sự can thiệp của Mĩ – Ngụy, không biết bao nhiêu chiến sĩ, đồng chí và đồng bào ta đã
bỏ lại chiến trường một phần cơ thể thậm chí họ đã ngã xuống nơi chiến trường. Để có
được độc lập cho dân tộc tất nhiên chúng ta phải chịu đánh đổi. Nhưng cái giá mà
chúng ta phải đánh đổi quả thật rất to lớn và hết sức nặng nề? Họ - những người lính
trận đều xuất thân từ “lũ chúng tôi, bọn người tứ xứ” hội tụ về đây từ những vùng
miền của Tổ quốc khác nhau “quê hương anh nước mặn đồng chua, làng tôi nghèo đất
cày lên sỏi đá”. Nhưng giữa họ có chung một lí tưởng để sống và chiến đấu, đó là giải
phóng dân tộc, giải phóng cho chính bản thân mình thoát khỏi nô lệ lầm than. Không
ai trong số các anh ôm súng ra chiến trường chiến đấu với mong ước được lưu danh
muôn thuở hay vì một mục đích cao xa nào khác. Tất cả chỉ mong muốn đất nước
thanh bình để được trở lại bên gia đình nơi làng quê của mình dẫu có nghèo khó mà
sống một cuộc sống bình dị nhất. Các anh ra đi và luôn mang theo bên mình ước mơ
giản dị ấy. Nhưng thử hỏi mấy ai trong số họ được thực hiện mong ước đó? Chiến
tranh ngày càng ác liệt hơn, bom đạn hàng ngày vẫn không ngừng rơi xuống đất nước
này. Không biết bao nhiêu người trai của quê hương đất nước đã ra đi, và trong đó
không ít người đã mang theo cả hình ảnh người con gái của quê hương trong tim mình
và mối tình đầu đầy thơ mộng mà chưa một lần dám ngõ lời ước hẹn:
Trang 48
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
“Đi suốt cả thời con trai
Bài thơ chưa kịp tặng ai một lần”
(Lời riêng của lính – Ngọc Bái)
Xưa có câu: “Làm trai phải biết mài gươm trên yên ngựa, nện gió câu qua mấy
dặm trường đình”, khi đất nước có giặc ngoại xâm triệu người như một cùng nhau
đánh đuổi chúng bảo vệ bờ cõi quê hương. Do đó, tình yêu đôi lứa tạm gát sang một
bên để người trai ra đi thực hiện “chí nhớn”. Nhưng khói lửa đạn bom chiến tranh thì
vô tình không có mắt. Họ ra đi hẹn ngày đất nước thanh bình, “chí nhớn” làm xong thì
sẽ thực hiện ước mong tình yêu đôi lứa. Và không ít người đã mãi mãi nằm xuống, mãi
mãi mang theo riêng mình mối tình ngày nào chưa một lần dám ngõ về với lòng đất
mẹ, về với cõi vĩnh hằng.
Chiến tranh là thế. Nó như một cỗ máy khổng lồ do chính con người tạo ra bằng
lòng tham và sự ích kỉ. Và “nhiên liệu” để vận hành cỗ máy đó chính là máu, nước mắt
và cả tính mạng con người. Khi con người tìm đến với cỗ máy vô hình ấy thì như quy
luật tất yếu họ phải để lại nơi chiến trường một thứ quý máu của riêng mình. Có khi
đó là một bàn chân trên cơ thể:
“Hôm nay trở về, một chân anh đã mất”
(Hoa chanh – Nguyễn Bao)
Chỉ một câu thơ vỏn vẹn, tưởng như quá bình thường. Nhưng nếu là người
trong cuộc thì mới thấu hiểu được nỗi đau của người phải gánh chịu mất mát ấy. Có
nỗi đau nào bằng một phần xương thịt cơ thể mình phải mất đi. Tạo hóa ban cho mỗi
người một cơ thể lành lặn và khỏe mạnh, nhưng vì nghĩa vụ thiêng liêng với quê
hương đất nước họ đã chiến đấu anh dũng và kiên cường để ngày trở về với quê hương
cho dù mang trên mình nhiều thương tật nhưng họ vẫn vui cười và hãnh diện vì mình
đã trả được nợ cho non sông, đất nước:
“Hơn mười năm xa anh
Mùa thu cau ra hoa
Mùa xuân đầy vườn quả
Chờ anh, em vẫn chờ
Bây giờ anh trở về
Mang trên mình thương tích”
Trang 49
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
(Vườn cau – Đào Cảng)
Văn học nước Nga có tác phẩm Chiến tranh không có gương mặt phụ nữ và khi
nghĩ về chiến tranh, người ta thường hay liên tưởng trước tiên đến sự mất mát hi sinh,
sự ác liệt gian khổ của những người trực tiếp ngoài chiến trường chiến đấu. Nhưng
không, cái chết và những hi sinh mất mát nó còn len lõi và bám díu lấy số phận của cả
những con người nơi hậu phương – đó là sự mỏi mòn chờ đợi của những người vợ trẻ
“mòn chân bên cối gạo canh khuya”. Trong lời thơ ta bắt gặp hình ảnh người phụ nữ
chờ chồng nơi chiến tuyến, chị ngồi đếm thời gian theo bao lần vườn cau thay lá. Kết
quả của sự chờ đợi mỏi mòn suốt mười năm dài là người chồng của chị đã trở về cùng
với những thương tích của chiến tranh. Chiến tranh đã lấy đi của chị một người chồng
lành lặn khỏe mạnh và đã trả lại cho chị người chồng “mang trên mình thương tích”.
Có lẽ không có nỗi xót xa, đau đớn nào bằng khi chứng kiến cảnh đồng chí, đồng đội
từng một thời san sẻ vui buồn sống chết có nhau với mình phải đổ máu, phải hi sinh:
“Máu đồng đội làm máu tôi đã đổ
Trên cát này mà gió quạt vừa se”
(Gió lào cát trắng – Xuân Quỳnh)
Máu các anh đã đổ xuống trên đất này cho quê hương ngày một xanh tươi trong
hòa bình độc lập. Nhưng biết làm sao khác được, chiến tranh là thế, đôi khi trên đường
đến với vinh quang với thắng lợi cuối cùng của một trận đánh chỉ còn một khoảng
cách rất ngắn ngủi nữa thôi, ấy vậy mà cũng phải kẻ còn người mất. Người ra đi với
khí thế hiên ngang bất khuất, kẻ ở lại thương tiếc không nguôi:
“Cánh rừng còn kia trận mạc còn kia
Vài bước nữa thì tới đường số Một
Vài bước nữa
Thế mà…
Không thể khác
Biển màu gì thăm thẳm lúc anh đi?”
(Phan Thiết, có anh tôi – Hữu Thỉnh)
Hay:
“Không khóc mà nghe nặng cả trời
Nghe lòng như gió bạt ngàn khơi
Trang 50
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Đuổi thuyền đánh cá vô trong bến
Tôi xót như vừa chôn cất ai”
(Thành phố quê hương – Lưu Quang Thuận)
Con đường số Một – đích đến của thắng lợi. Nhưng các anh mãi mãi không đến
được, các anh đã ngã xuống trước ngưỡng cửa của vinh quang. Những đồng đội của
anh còn đó và vẫn nhớ như in ngày anh đi. Lời thơ được kết thúc bằng một câu hỏi tu
từ hết sức đặc sắc: “Biển màu gì thăm thẳm lúc anh đi?”. Trước sự ra đi của anh,
chúng tôi – những đồng đội của anh sao cầm được nước mắt. Nước mắt ứa ra xóa nhòa
cảnh vật trước mắt và màu xanh của biển. Biển vẫn mãi một màu xanh bất tận. Ai cũng
biết như một quy ước. Nhưng trước sự ra đi hiên ngang và quá bất ngờ của các anh
trước thềm chiến thắng, những đồng chí, đồng đội của các anh như không muốn tin
vào sự thật đó. Có lẽ là người đàn ông và hơn thế là người lính trận nên tác giả mượn
câu hỏi tu từ ấy để nói giảm nói tránh, tránh nói trực tiếp đến nước mắt vì thế có vẻ
mềm yếu và quá ủy mị. Nỗi xót xa không nói được thành lời, nó đau đớn như chính
mình vừa chôn cất một người thân mình vừa ngã xuống. Cũng với cảnh xúc ấy, nhưng
Hoàng Lộc lại tái hiện cảm xúc của mình theo một cung bậc khác:
“Hôm qua còn theo anh
Đi ra đường quốc lộ
Hôm nay đã chặt cành
Đắp cho người dưới mộ
Khóc anh không nước mắt
Mà lòng đau như cắt
Gọi anh chữa thành lời
Mà hàm răng nghiến chặc”
(Viếng bạn – Hoàng Lộc)
Trong chiến tranh đôi khi ranh giới giữa sự sống và cái chết mỏng manh như
một sợi chỉ và nhanh như một cái chớp mắt. Chỉ mới ngày hôm qua thôi anh và tôi còn
kề vai nhau chiến đấu, còn trò chuyện vui đùa trên đường hành quân. Ấy vậy mà hôm
nay phải đối đầu với thực tại đau lòng, kẻ ở lại xây mồ cho người nằm xuống. Nếu
Hữu Thỉnh đã không khóc cho đồng đội nhưng nước mắt ông vẫn cứ rơi, thì Hoàng
Lộc đã không ngần ngại khi bật lên tiếng khóc nghẹn ngào cho đồng đội. Nhưng có lẽ
Trang 51
giọt nước mắt của người đàn ông đã chảy ngược vào hồn vào trái tim của người lính
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
trận nên không có giọt nước mắt nào rơi. Từ tiếng nấc đau thương ấy nó đã biến thành
lòng căm hờn tột độ. Những người còn lại xin hứa nghiến chặc hàm răng xiếc chặc tay
súng mà lao mình vào sương gió để sống trọn kiếp trai hùng, dành độc lập cho dân tộc
để sự hi sinh của các anh không trở nên vô nghĩa. Từ lời hứa danh dự của người Cộng
sản bậc lên thành lời thề của non sông đất nước, của người còn sống với người đã
khuất:
“Mai mốt lên cửa rừng
Anh có nghe súng nổ
Là chúng tôi đang cố
Tiêu diệt kẻ thù chung”
(Viếng bạn – Hoàng Lộc)
Chúng tôi không bao giờ quên các anh cũng như cái ngày “hôm qua” kinh
hoàng ấy:
“Hôm qua chúng giết anh
Xác phơi đầu ngõ xóm
Khi lũ chúng quay đi
Mắt trừng còn dọa dẫm:
Thằng này là cộng sản
Không được đứa nào chôn!
Không được đứa nào chôn!”
(Mồ anh hoa nở - Thanh Hải)
“Nghĩa tử là nghĩa tận” một nấm mồ coi như là điều phải có cho người chết để
họ về nơi an nghỉ cuối cùng dù bất cứ hoàn cảnh nào. Sinh mạng con người vô cùng
quý báu không ai có quyền tước đoạt tính mạng của người khác. Nhưng qua lời thơ ta
bắt gặp hình ảnh người chiến sĩ cánh mạng đã anh dũng hi sinh khi rơi vào tay giặc.
Chúng phơi xác anh nơi đầu ngõ xóm để hăm dọa người dân không ai được phép chứa
chấp Cộng sản cũng như chúng muốn cắt đứt tình quân dân. Các anh đã chiến đấu và
hi sinh anh dũng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Hình ảnh anh vệ quốc quân hay
người lính cụ Hồ mãi mãi là hình tượng đẹp nhất trong lòng nhân dân. Dẫu bọn chúng
có cấm đoán có hăm dọa thì làm sao cắt được mối tình thiêng liêng ấy: “Tình quân dân
Trang 52
– cá nước”. Và chỉ ngày mai thôi thân xác các anh cũng sẽ được yên nghỉ trong lòng
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
đất mẹ Việt Nam. Dù lũ chúng có giết các anh nhưng các anh vẫn sống mãi trong lòng
nhân dân, nấm mồ các anh do nhân dân xây đắp vẫn xanh mãi màu xanh hi vọng và
luôn nở tinh khôi một nụ hoa mang tên: “Chiến thắng”. Vì các anh là những người
chiến đấu và hi sinh anh hùng nhất:
“Những đồng chí, thân chôn làm giá súng
Đầu bịt lỗ châu mai
Băng mình qua núi thép gai
Ào ào vũ bão,
Những đồng chí chè lưng cứu pháo
Nát chân nhắm mắt còn ôm
Những bàn tay xẻ núi, lăn bom
Nhất định, mở đường, cho xe ta lên chiến trường tiếp viện”.
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu )
Những ngày chiến đấu anh dũng đã bộc lộ một cách rực rỡ hình ảnh cao đẹp
của người chiến sĩ cụ Hồ: Kiên trì vượt qua mọi nguy hiểm, anh dũng quên mình vì
nhiệm vụ. Càng gian khổ, đau thương càng thắp sáng trong họ ngọn lửa nhiệt tình cách
mạng, họ vẫn tiếp tục chiến đấu với tâm thế lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi trước
mắt của dân tộc. Hình tượng người lính càng về giai đoạn sau càng tỏa sáng vẻ đẹp của
một quân đội trưởng thành về việc quân cũng như càng thể hiện tinh thần “vì nước
quên thân” của anh bộ đội. Con người mấy ai mà không một lần chết nhưng có cái
chết nặng tựa thái sơn có cái chết nhẹ tợ hồng mao. Vấn đề là chết như thế nào cho có
ý nghĩa, có ích cho đời. Các anh – những người trai sinh ra vào thời quê hương chìm
trong khói lửa thì sống và chết như thế nào lại là điều hết sức quan trọng. Ai mà chẳng
muốn sống yên vui bên gia đình nhưng khi quê hương lên tiếng gọi các anh đã dũng
cảm ra đi chiến đấu. Trong cuộc chiến đấu không cân sức với kẻ thù các anh đã không
ngần ngại nhận lấy về mình những mất mát hi sinh để vì lợi ích chung vì thắng lợi cuối
cùng của dân tộc dẫu biết rằng ngày ấy có thể mình không còn sống. Đáp ứng sự đòi
hỏi bức thiết của thời đại có nghĩa là phải trả lời câu hỏi “Tổ quốc hay là chết” (Lời
của chủ tịch Cuba – Phiđen Catxtơrô) – mà trả lời câu hỏi này chính là sự chọn lựa
của trái tim – và cái giá của sự chọn lựa là máu, là sinh mạng – nhưng trách nhiệm của
Trang 53
nhà thơ là phải trả lời. Câu trả lời ấy không phải của anh mà là với tư cách của một thế
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
hệ những thanh niên nước Việt – cả dân tộc Việt – một dân tộc chịu nhiều oan ức và
khổ đau, trong những tháng năm của một thời kỳ lịch sử lại sáng ngời “Chủ nghĩa anh
Dù thế nào chăng nữa, thì đối với các nhà thơ chiến sĩ - “cái giá trị thiêng
hùng Cách mạng”.
liêng và cuối cùng vẫn thuộc về Tổ Quốc”. Họ đã chứng minh như thế:
“Bạn ta đó
Ngã trên dây thép ba tầng
Một bàn tay chưa rời báng súng
Chân lừng chừng nửa bước xung phong
Ôi những con người mỗi khi nằm xuống
Vẫn nằm trong tư thế tiến công!”
(Giá từng thước đất – Chính Hữu)
Qua bài thơ ta bắt gặp hình tượng thơ hết sức xúc động và độc đáo. Những
người chiến sĩ áo vải cũng như các anh chưa hề biết đến chủ nghĩa anh hùng Cách
mạng nhưng chính các anh lại là người làm đẹp thêm trang sử của dân tộc và dựng nên
tượng đài bất tử cho chủ nghĩa anh hùng Cách mạng. Trong cuộc đối mặt với kẻ thù
không cân sức các anh đã chiến đấu và ngã xuống kiên cường với tư thế hiên ngang
của người chiến sĩ. Hình ảnh đó mãi là nỗi day dứt ám ảnh chúng ta về sự sống và cái
chết, những người còn lại phải sống như thế nào để xứng đáng với sự hi sinh đó:
“Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất
Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng
Và anh chết trong khi đang đứng bắn
Máu anh phun theo lửa đạn cầu vòng”
(Dáng đứng Việt Nam – Lê Anh Xuân)
Có một điều dễ nhận thấy nhất là những sáng tác về đề tài người lính trong thơ
ca cách mạng hầu hết họ xuất hiện không có tên tuổi cụ thể. Có khi danh xưng là
“Anh”, “Bạn ta đó”, “Những đồng chí”, “Đồng đội”…Điều đó cũng rất dễ hiểu, các
anh đều xuất thân từ nông dân áo vải và chiến đấu cho đất nước của nhân dân nên mỗi
con người đều mang “gương mặt của nhau”. Mỗi người lính đều đại diện cho cả một
tập thể. Do đó, khó có sự phân biệt về tên tuổi, xuất thân của họ. Súng đạn làm anh
Trang 54
chết nhưng ý chí và tư thế hiên ngang của người Cộng sản thì mãi mãi còn đó và đã
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
“tạc vào thế kỉ”. Qua lời thơ của Lê Anh Xuân ta còn nhận ra một tượng đài mới về
người Cộng sản – đó là người “anh hùng vô danh”. Người anh hùng trong thơ xưa thì
“thành liền mong tiến bệ rồng”, họ chiến đấu để mưu cầu công danh còn đối với người
chiến sĩ cách mạng chiến đấu vì nghĩa vụ và đã hi sinh trong âm thầm lặng lẽ:
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
(Tây tiến – Quang Dũng)
Có lẽ ước vọng lớn nhất của mỗi người khi cuối đời là được về yên người “nơi
chôn nhao cắt rốn”. Nhưng vì nghĩa vụ các anh đã ra đi và mãi mãi nằm lại nơi chiến
trường xa xôi không một cỗ quan tài không một người thân đưa tiễn chỉ có những
đồng đội thương xót tiễn đưa và núi rừng làm bạn:
“Để anh trên sườn núi vắng
Không biết có bao giờ trở lại
Một ngày về tìm anh ở đâu
Giữa rừng nghìn lối cỏ lan”
(Người tử sĩ – Nguyễn Đình Thi)
Giữa cuộc hành bốn bề rừng núi hoang vu khi giáp mặt với kẻ thù thì kẻ còn
người mất. Dẫu có thương tiếc như thế nào thì người còn sống còn phải tiếp tục lên
đường làm nghĩa vụ nên dù muốn hay không thì cũng phải để những người đã nằm
xuống ở lại. Họ ở lại nơi đây thân xác hòa cùng đất mẹ Việt Nam mà trở thành hồn
thiêng sông núi để sự hi sinh đó trở thành một câu chuyện cổ tích có thật giữa đời
thường:
“Chuyện kể rằng: Em, cô gái mở đường
Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương
Cho đoàn xe kịp giờ ra trận
Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa
Đánh lạc hướng thù, hứng lấy luồng bom”
(Khoảng trời, hố bom – Lâm Thị Mỹ Dạ)
Trang 55
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Nếu như người chiến sĩ cách mạng xuất hiện trong thơ đều “vô danh” thì sự hi
sinh của họ được hình tượng hóa hết sức nhẹ nhàn. Có lẽ không được trực tiếp nói đến
cái chết nên hầu hết các nhà thơ đều mượn hình ảnh: “về đất”, “ngã xuống”, “anh đi”,
“bỏ quên đời”…để nói về sự hi sinh. Trong chiến tranh gian khó người chiến sĩ cách
mạng nhườn nhau từng manh áo, bát cơm, ngụm nước và dành riêng về mình cái chết
cho đồng đội được sống và tiếp tục chiến đấu. Riêng Lâm Thị Mỹ Dạ bắt đầu lời thơ
bằng “chuyện kể rằng…” rất quen thuộc trong truyện cổ tích dân gian Việt Nam. Tác
giả như muốn hình tượng hóa câu chuyện người con gái mở đường đã hi sinh anh dũng
như một câu chuyện cổ tích có thật, mang tầm vóc vĩ đại, đại diện cho cả một dân tộc
Việt Nam anh hùng trong máu lửa.
Đôi khi trong một giây phút yên bình hiếm hoi nào có được trong vô vàn lửa
đạn, kí ức lại tràn về trong tâm tưởng chúng ta và như đặt ra hàng ngàn câu hỏi về sự
sống cái chết và đâu là niềm tin thật sự trong cuộc đời, trách nhiệm của chúng ta đối
với quá khứ đã qua:
“Cánh rừng nào hun hút Trường Sơn
Bạn đã hiến thanh xuân quý báu
Trận đánh nào phải mở con đường máu
Em ngã trên chốt chặn cuối cùng
Đêm tối nào tập kích vào cứ điểm
Bạn hi sinh không mảnh vải quấn thân”
(Vô danh – Ngô Kế Oanh)
Người ngã xuống mang theo cho riêng mình sự anh hùng bất khuất, kẻ còn lại
luôn luôn phải sống trong nhớ thương day dứt về quá khứ và mong chờ tương lai.
Trong suốt chặng đường dài hành quân của người chiến sĩ không ít lần các anh phải
xây mộ cho người nằm xuống bằng nỗi đau và nước mắt. Nếu có một lần ta được trở
lại nơi chiến trường cũ, nơi đồng đội ít nhiều người đã ngã xuống hỏi ai không đau
lòng luyến tiếc về một thời đã từng sống và chiến đấu cùng đồng đội:
“Vạt đồi yên nghỉ bao đồng đội
Nhang trầm một thẻ
biết làm sao
Thắp lên
Trang 56
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
đành cắm nơi đầu gió
Hương khói đừng quên nấm mộ nào”
(Thăm mộ chiều cuối năm – Nguyễn Thái Sơn)
Bài thơ hiện lên hình ảnh người chiến binh được trở về nơi chiến trường xưa.
Với tư thế là người còn sống sau biết bao trận chiến trở lại viếng những đồng chí đồng
đội của mình. Nhưng trong những năm tháng khốc liệt ấy biết bao nhiêu đồng đội của
mình đã ngã xuống nên làm sao có thể trở về viếng từng nấm mộ được, đành nhờ gió
mang tấm lòng thành của mình bay đi khắp nơi để viếng thăm và gửi lời khấn vái tới
từng đồng đội. Và đôi khi những con người dạn dày trong chiến tranh mượn lời người
nằm xuống để nhắn nhủ với những người còn sống:
“Chúng tôi những người lính đã chết
Không thể yêu như các bạn đang yêu
Không thể mong dẫu một lần cuối nữa
Nhìn mây bay lang bạt trong chiều
Chúng tôi những người lính đã chết
Không thể bước qua ngưỡng cửa nhà mình
Và mẹ tôi nhìn buồng cau mới trổ
Không dám nghĩ về cô gái nhà bên
Chúng tôi những người lính đã chết
Không thể đèo xe đưa vợ tới nhà hộ sinh
Không xót xa khi tóc mình chớm bạc
Vì tóc tôi mãi mãi cứ còn xanh!
Chúng tôi những người lính đã chết
Ngưng mọi điều có thể xảy ra
Chỉ mong sao không ai còn cầm súng
Chạy dọc những chiến hào chúng tôi đã từng qua…”
(Nhắn gửi – Trịnh Thanh Sơn)
Tóm lại, mất mát hi sinh trong chiến tranh là điều không thể nào tránh khỏi.
Việc thơ ca cách mạng những năm 1945 – 1975 đề cập đến những mất mát hi sinh là
góp phần phản ánh đa chiều hiện thực chiến tranh. Nó không chỉ đơn thuần là tố cáo
tôi ác của quân xâm lược mà nó còn cỗ vũ chiến đấu. Việc chỉ ra những mất mát hi
Trang 57
sinh mà quân ta phải gánh chịu trong chiến tranh nó là động lực hữu hiệu và to lớn
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
kích thích tinh thần chiến đấu của nhân dân ta quyết tâm dành độc lập cho dân tộc.
Việc nhìn nhận sự khốc liệt và mất mát trong chiến tranh không làm cho chúng ta yếu
hèn thêm, mà nó như khắc sâu ý chí chiến đấu và lòng căm thù giặc. Nó là động lực to
lớn giúp chúng ta đầy đủ nghị lực để vượt qua những năm tháng khốc liệt ấy để đến
với đích thắng lợi cuối cùng. Người còn sống đó mãi khắc trên môi lời thề đối với
người đã chết về mối thù chung nhất quyết phải trả vào một ngày không xa:
“Mai mốt bên cửa rừng
Anh có nghe súng nổ
Là chúng tôi đang cố
Tiêu diệt kẻ thù chung”
(Viếng bạn – Hoàng Lộc)
Trong cuộc sống ai cũng mong chờ hạnh phúc đến với mình, nhưng khi đất
nước chìm trong khói lửa thì hạnh phúc lớn nhất đó là sự hi sinh cho quê hương, cho
đất mẹ Việt Nam. Vấn đề bạn sống như thế nào, bao lâu không quan trọng nữa, mà vấn
đề quan trọng là bạn đã để lại dấu ấn gì cho riêng mình trong cuộc đời này.
2.2.2 Nỗi đau về sự mất mát hi sinh của đồng bào, người thân
Như đã trình bày, sự khốc liệt của chiến tranh cùng với những mất mát đau
thương kèm theo là vô cùng to lớn cho đất nước ta trong ba mươi năm kháng chiến ấy.
Khi nói về những mất mát đau thương trong chiến tranh, người ta thường chỉ nghĩ đến
những người trực tiếp nơi chiến trường chiến đấu. Nhưng “bàn tay” của chiến tranh
còn dang rộng bám díu lấy số phận của nhiều con người khác nữa. Trong ba mươi năm
khói lửa ấy ngoài việc chứng kiến vô vàn “chinh nhân” đã hi sinh, thì không ít đồng
bào ta cũng ngã xuống dưới tầm mưa bom bão đạn của quân thù. Đó có thể là Lượm -
một em bé liên lạc đưa thư, một người chiến sĩ nhỏ tuổi như rất đỗi anh hùng:
“Bỗng lòe chớp đỏ
Thôi rồi, Lượm ơi!
Chú đồng chí nhỏ
Một dòng máu tươi
Cháu nằm trên lúa
Trang 58
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Tay nắm chặt bông
Lúa thơm mùi sữa
Hồn bay giữa đồng”
(Lượm – Tố Hữu)
Khi đất nước có nạn ngoại xâm thì tất cả mọi người phải ra chiến trường chiến
đấu. Ở lứa tuổi lên năm lên mười lẽ ra em phải được cắp sách tới trường cùng bạn bè
trang lứa. Nhưng chứng kiến quê hương chìm trong “điêu tàn ôi lại nối tiếp điêu tàn”,
em đã tự nhận ra trách nhiệm và lí tưởng của cuộc đời mình là tranh đấu. Chưa thể ôm
súng ra chiến trường giết giặc thì các em làm liên lạc ở hậu phương. Đó là công việc
hết sức quan trọng và hữu ích, và em ngã xuống trên quê hương sứ Huế của mình.
Máu em cùng máu cha anh đã đổ trên mảnh đất quê hương để bông lúa trĩu hạt dâng
sự sống cho đời và em xứng đáng được gọi “đồng chí” như bao người chiến sĩ khác.
Hầu hết những “chinh nhân” khoát ba lô lên vai vào trận địa ít nhiều cũng mang
theo cho riêng mình hình ảnh của một “cô bé nhà bên…” và một mối tình đầu. Họ tạm
gác lại tình yêu của mình để “chinh nhân” đi thực hiện “chí nhớn”. Nhưng chiến tranh
thì luôn tìm tàng cho riêng nó bao điều không thể lường trước được:
“Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người em nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương…
tàn lạnh vây quanh”.
(Màu tím hoa Sim – Hữu Loan)
“Người trai” ra đi chiến đấu không ngoài mong muốn cho quê hương thanh
bình, người thân được sống trong an lành hạnh phúc. Nhưng chiến tranh thì ai đâu ngờ
trước được. Kẻ lao mình vào lửa đạn hằng ngày phải đối diện với mưa bom pháo dội,
giáp mặt với quân thù và tử thần nhưng lại phải xây mộ cho “người em nhỏ hậu
phương”. Chiếc bình hoa ngày nào là minh chứng cho một mối tình tuyệt đẹp nên
nghĩa vợ chồng, dẫu đám cưới ấy được diễn ra trong vội vã cùng với những ngày hạnh
phúc ngắn ngủi. Nhưng bây giờ nó lại được dùng “thành bình hương…” cho người đã
Trang 59
chết. Nếu màu tím của hoa sim hòa cùng khung cảnh chiều tà tạo nên hình ảnh “tím
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
chiều hoang biền biệt” – một hình tượng độc đáo của thơ ca. Thì chiếc áo dài cùng
màu trắng tinh khôi của lứa tuổi học sinh mãi mãi là nỗi trăn trở ray rứt trong lòng
Quang Dũng:
“Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?”
(Đôi bờ - Quang Dũng)
Đó còn là sự ra đi đầy đau xót của cô gái sứ Huế mộng mơ:
“Nhớ em gái Thừa Thiên, hi sinh rồi chẳng nói
Mãi mãi để dành ta khoảng thắm bầu trời
Ta vuốt mắt cho em đôi mắt ấy vẫn trong ngời”
(Những gương mặt, những khoảng trời – Bằng Việt)
Vì quê hương “người trai” chấp nhận ra đi chiến đấu bỏ lại quê mối tình của
mình. Họ chỉ mang theo cho riêng mình hình ảnh “mắt xoe tròn thương thương quá đi
thôi” cùng với niềm tin của ngày trở lại. Nào ngờ chiến tranh đã vô tình cướp đi của họ
cái hạnh phúc đơn sơ và giản dị nhất. Đôi mắt xoe tròn ngày nào giờ chỉ còn là kỉ niệm
đẹp và trước mắt là hình ảnh em – người con gái thân yêu cùng với đôi mắt “trong
ngời” thơ ngây đã mãi mãi khép lại. Em đã nằm xuống chỉ còn ta ngồi đây với những
giọt nước mắt tiếc thương và cả một khoảng trời kỉ niệm.
Đôi khi lần gặp gỡ này cũng là lần chia tay vĩnh viễn mà trong số họ mấy ai
ngờ trước được:
“Ai dám ngờ đó là lần vĩnh biệt
Chúng mình gặp nhau thành phố đang thu”
(Một nén hương cho Đào Cảng – Nguyễn Thái Vận)
Mùa thu là mùa đẹp và buồn bã nhất trong năm - mùa gợi lại bao kỉ niệm và ta
tìm thấy trong lời thơ một mùa thu ảo não của chia li, một cuộc chia vĩnh viễn không
ngờ trước được. Con người sống trong chiến tranh phải biết cách chấp nhận sự thật, dù
đó là sự thật chua xót và mình khó có thể đón nhận nhất:
“Hôm nay nhận được tin
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc bắn em rồi, quăng mất xác
Trang 60
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Chỉ vì em là du kích, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết nửa con người!
Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn, roi…
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi”
(Quê hương – Giang Nam)
Kí cứ về tuổi thơ đẹp đẽ và một tình yêu chưa ngõ cùng “cô bé nhà bên”. Nó
vẫn là hành trang quý báu và động lực thôi thúc “chinh nhân” trên đường chiến đấu.
Một nửa của anh trước hết là quê hương, một nửa còn lại đó chính là em. Lần gặp lại
sau ngày Hiệp định họ chỉ kịp cầm nhau trong thẹn thùng, để ngày hôm nay nhận lấy
một tin buồn vô hạn - giặc đã giết em rồi và một nửa linh hồn của anh cũng đã chết.
Em ra đi không có lấy cho riêng mình một nấm mộ đặt tên để ngày trở về anh còn có
cơ hội thắp lên nơi ấy một nén nhang. Thân xác của em giờ đã hòa cùng đất mẹ, hòa
cùng hồn thiêng sông núi Việt Nam. Để khắp đất nước này dù chỉ “từng nắm đất” nơi
đâu cũng có hình bóng của em, nơi đâu cũng là quê hương, xứ sở.
Đều là người lính trận, cũng là một nỗi đau về sự hi sinh của người yêu nơi hậu
phương. Nhưng có lẽ ngày trở về thăm lại “núi Đôi” của Vũ Cao lại nghẹn ngào, lại
quá muộn màng đến nỗi chưa một lần được gặp lại em sau những ngày “chiến đấu
quên mình năm lại năm”:
“Mới đến đầu ao tin sét đánh
Giặc giết em rồi dưới gốc thông
Giữa đêm bộ đội vay đồn Thửa
Em sống trung thành chết thủy chung!
Anh ngước lên nhìn hai dốc núi
Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen
Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói
Núi vẫn đôi mà anh mất em”
(Núi Đôi – Vũ Cao)
Người trai “chiến đấu quên mình năm lại năm” thì người con gái ở hậu phương
cũng hăng hái làm du kích để góp phần đánh đuổi quân xâm lược. Sự anh dũng hi sinh
Trang 61
của em để xứng đáng cùng lí tưởng với “chinh nhân”, xứng đáng được gọi hai từ
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
“đồng chí”. Ngày trở về thăm lại “núi đôi” lần này sao chua xót quá. Cảnh vật vẫn
đây: Hàng thông, bờ cỏ, con đường và “núi vẫn đôi”, như sao quá xa lạ và chia lìa, nó
hiện lên mờ ảo trong tầm mắt đầy ngấn lệ. Cách ngắt nhịp mới lạ, độc đáo làm giọng
thơ như ngẹn lại, bật thành tiếng nấc thê lương: “Núi vẫn đôi/ mà/ anh mất em”. Nỗi
xót xa đó đôi khi còn mãnh liệt, da diết như được thiên nhiên tạo vật đồng cảm, đồng
“Cây hoài vẫn còn đó
điệu:
Giặc Mĩ giết em rồi
Có nghe cành nức nở
Cùng gió gào, em ơi”
(Cô gái Bạch Long Vĩ – Xuân Thiêm)
Cố nén nỗi đau vào lòng, dẫu biết nó là một nỗi đau không gì khỏa lấp được. Và
nó không dừng lại ở hành động khóc thương da diết mà nó đã biến thành động lực,
thành sức mạnh thôi thúc người trai tiếp tục tranh đấu để sự hi sinh của em không trở
nên vô nghĩa, để nước nhà sớm ngày hòa bình thống nhất:
“Giặc giết em rồi
Lòng anh lửa đốt
Ôi dáng hình em anh nhớ anh thương
Đã cháy thành ngọn đuốt”
(Đuốt lá dừa – Lê Anh Xuân)
Trong chiến tranh đâu chỉ có người một lớp người nằm xuống, mà chúng ta còn
phải đối diện sự thật là người thân yêu nhất của ta ngã xuống trong mọi sự thiếu thốn.
Đôi khi ta phải tận mắt chứng kiến người thân yêu nhất của mình bị đòn roi tra khảo
mà chúng ta đành bất lực, vì cố gắng bảo vệ cho chúng ta thoát khỏi sự lùng bắt của
quân thù:
“Bầy giặc Mĩ xúm vào đánh mẹ
Nửa lời không hé
Mẹ lặng thinh trước trận đòn thù
Chúng có mắt như mù
Chúng đánh mẹ nằm chết ngất
Trang 62
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Trên mình mẹ mang nhiều thương tật
Tóc mẹ bạc rồi lại bạc thêm”
(Đất quê ta mênh mông – Dương Hương Ly)
Hình ảnh người mẹ đào hầm nuôi dấu cán bộ hiện ra thật giản dị nhưng quá đỗi
anh hùng. Cả thời xuân xanh cho đến bây giờ thì tóc đã điểm bạc, bà vẫn lặng lẽ đào
hầm để đêm về “tiếng cuốc vọng năm canh”. Trong vòng tay che chở của người mẹ
các anh được an toàn và để đổi lấy những binh đoàn “từ dưới đất xông lên” như thế thì
trên thân thể già yếu của mẹ phải “khắc” đầy thương tật và mái tóc lại bạc thêm theo
thời gian và những trận đòn của quân thù. Và chiến tranh có thể lấy đi người cha thân
yêu nhất:
“Không ván, không người đưa cha đi chôn cất,
Mẹ tháo khăn phủ mặt cho chồng
Con cởi áo liệm thân cho bố
Mẹ ẵm cha đi nằm ở chân rừng
Máu đầy tay, nước mắt đầy mặt…”
(Dọn về làng – Nông Quốc Chấn)
Qua lời thơ ta thấy rõ cảnh tan tóc thê lương của một gia đình tản cư trong vùng
tạm chiếm của địch và hình ảnh người cha nằm chết không có lấy một cỗ quan tài,
chẳng có một chiếc khăn tang và người đưa tiễn. Nó mãi mãi là nỗi ám ảnh kinh hoàng
nhất trong kí ức tuổi thơ tác giả và câu hỏi về trách nhiệm con người cho người trong
cuộc:
“Mẹ tôi em có gặp đâu không
Những xác già nua ngập cánh đồng
Tôi cũng có thằng con bé dại
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông?”
(Đôi mắt người Sơn Tây – Quang Dũng)
Cái chết luôn hiện hữu và rình rập mọi nơi, nó sẵn sàng lấy đi tính mạng con
người của chúng ta bất cứ lúc nào. Đôi khi chớ trêu thay “tre già phải khóc măng non”:
“Con nghe tiếng kêu la của bà mẹ đi tìm
Quờ quạng xác con trong căn nhà gạch vụn
(…)
Trang 63
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Những tràng súng vô nhân giữa lòng đô thị
Bắn chết trẻ em, ông lão, bà già”
(Thưa mẹ, trái tim – Trần Quang Long)
Hay nỗi lòng của người cha mất con, trong những phút giây ban đầu ông chưa
muốn tin và sự thật cay đắng ấy:
“Điều mất con cha không thể tin
Con sống bây giờ hơn bao giờ đó nhỉ?”
(Góc kỉ niệm con tôi – Trần Lê Văn)
Cha mẹ luôn là người thương yêu và quan tâm nhất đến mọi đứa con của mình
vì đó là một phần máu thịt của họ. Đứa con ra đời là kết quả của bao vất vã nhọc nhằn
của đấng sinh thành. Vì thế, có nỗi đau xót nào hơn khi “người tóc bạc phải khóc kẻ
đầu xanh” trong nước mắt và bàng hoàng.
Nói tóm lại, ba mươi năm kháng chiến trường kì gian khổ đất nước ta phải đối
đầu với hai quân cướp nước hùng mạnh và độc ác. Chúng gây ra bao mất mát hi sinh
cho chiến sĩ và đồng bào ta trên mọi miền Tổ quốc. Gánh trên vai sứ mạng lịch sử vô
cùng to lớn và vẻ vang, thơ ca cách mạng giai đoạn 1945 -1975 đã hoàn thành xuất sắc
vai trò, nhiệm vụ của mình. Theo bước đi của lịch sử, thơ ca cách mạng giai đoạn này
chủ yếu sáng tác theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Nỗi buồn trong
thơ, mà cụ thể là cái bi trong thơ ca cách mạng ít được đề cập đến. Lịch sử dân tộc đã
từng có một thời kì sai lệch về cách nhìn cũng như đánh giá thiển cận giá trị của thơ
ca. Cụ thể là việc quy chụp những bài thơ có nội dung phản ánh chân thực hiện thực
cuộc kháng chiến cùng với những mất mát hi sinh như: Màu tím hoa Sim (Hữu Loan),
Tây tiến (Quang Dũng), Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm)… là “mang màu sắc tư sản
chủ nghĩa”. Những sáng tác này phần lớn đã bị hạn chế phổ biến hoặc đánh giá sai giá
trị nghệ thuật. Nhưng dù muốn hay không thì những hiện thực chiến tranh cùng những
mất mát hi sinh to lớn đã đi vào thơ ca cách mạng như một xu thế tất yếu của lịch sử.
Nó thể hiện đầy đủ những cung bậc cảm súc của con người Việt Nam trong cuộc chiến
không cân sức với kẻ thù. Ngoài ra, nó còn là tránh nhiệm, lương tâm của người cầm
bút đối với đời sống dân tộc, đối với giá trị đích thực của thơ ca nói riêng và nghệ
thuật nói chung.
Trang 64
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
2.3 Nỗi nhớ nhung của người lính trận
2.3.1 Nỗi nhớ quê hương, người thân, người yêu
“Quê hương” hai từ nghe bình dị và đơn sơ biết mấy. Nhưng để hiểu và trả lời
được câu hỏi “Quê hương là gì hở mẹ. Mà cô giáo dạy hãy yêu? Quê hương là gì hở
mẹ. Ai đi xa cũng nhớ nhiều?” mà nhà thơ Đỗ Trung Quân đặt ra thì không dễ dàng
gì. Quê hương là nơi chúng ta được sinh ra, lớn lên và hơn thế nữa nơi ấy gắn liền với
kí ức tuổi thơ của mỗi con người. Đối với Giang Nam thì kí ức tuổi thơ của ông gắn
liền với bao trò chơi tinh nghịch mà giản dị biết bao:
“Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:
"Ai bảo chăn trâu là khổ?"
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.
Những ngày trốn học
Ðuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được..
Chưa đánh roi nào đã khóc!”
(Quê hương – Giang Nam)
Hay là những buổi tắm sông hái trái cùng chúng bạn trang lứa:
“Quê hương tôi có con sông xanh biếc
(Quê hương – Tế Hanh)
Nước gương trong soi tóc những hàng tre”
Và những kí ức tươi đẹp của người lính trong thơ Nguyễn Duy bên người bà tần
tảo sớm hôm, cùng những trò quậy phá của tuổi thơ như: Câu cá, bắt chim sẻ, ăn trộm
nhãn…Nhờ những kỉ niệm ấy mà mãi sau này cùng những ngày chinh chiến người
lính mới không quên những địa danh của quê hương xứ sở:
“Thuở nhỏ tôi ra Cống Na câu cá
Níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng phật
Và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần
Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
Chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng”
Trang 65
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
(Đò lèn – Nguyễn Duy)
Chúng ta chỉ thật sự cảm thấy nhớ và yêu thương quê hương của mình da diết
nhất khi sống “nơi đất khách quê người”. Những nhà thơ cách mạng, họ cũng được
sinh ra và lớn lên trên ngay chính quê hương mình. Nhưng chiến tranh bùng lên, nghe
theo tiếng gọi của non sông đất nước, họ từ giả quê hương nơi “cất giữ” kỉ niệm tuổi
thơ để đi tìm “chí nhớn” cho riêng mình và giải phóng quê hương. Ai trong số họ mà
không mang theo trọn vẹn hình ảnh quê hương trong trái tim mình? Nỗi nhớ ấy được
đánh dấu bằng một ngày không thể nào quên trong kí ức của mỗi người lính trẻ trong
những ngày đầu tiên của cuộc kháng chiến:
“Kháng chiến bùng lên biệt thủ đô
Lên đường dẻo bước khoác ba lô”
(Tự thuật – Tú Mỡ)
Hay đó là ngày “tôi lớn lên”, ngày mà người trai giác ngộ được lí tưởng cách
mạng và hơn hết đã tìm được hướng đi, lí tưởng cho cuộc đời mình là tranh đấu cho
Tổ quốc cho giống nòi sớm ngày được hòa bình, độc lập:
“Tôi lớn lên. Giặc ngăn chia đất nước
Nhưng súng gươm đâu ngăn được tình thương
Đâu ngăn được mặt trời đỏ rực
Khi lòng ta đã hóa hướng dương”
(Gửi miền Bắc – Lê Anh Xuân)
Họ hầu hết là những người trai Hà thành chỉ quen với bút nghiêng giấy mực.
Nhưng bây giờ “xếp bút nghiêng theo việc đao cung” thì vẫn còn thoáng chút bâng
khuâng luyến tiếc cảnh thanh bình cũ khi bước chân lên đường vào mặt trận. Đó là
mùa thu Hà Nội đầy lưu luyến:
“Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”.
Trang 66
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
(Đất Nước – Nguyễn Đình Thi)
Người trai Hà thành ra đi với khí phách hiên ngang như chàng Kinh Kha thuở
xưa sang sông Dịch “phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn” để làm nên nghiệp cả. Họ
quyết chí ra đi tìm “chí nhớn” bỏ lại phía sau lưng mình hình ảnh quê hương với đầy
ắp những kỉ niệm ngọt ngào và tha thiết của tuổi thơ.
Hay hình ảnh chàng trai trẻ từ giả quê hương vào một ngày “quê tôi đầy bóng
giặc” để ra đi chiến đấu vì quê hương xứ sở:
“Cách mạng bùng lên
Rồi kháng chiến trường kì
Quê tôi đầy bóng giặc
Từ biệt mẹ. Tôi đi”
(Quê hương – Giang Nam)
Quê hương càng tươi đẹp thì lòng người càng xót xa nhớ tiếc và quyết ra đi để
dẹp tan kẻ thù giày xéo quê hương, trả nợ nước báo thù nhà:
“Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lơn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”
(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)
Cảm hứng lãng mạn với khí khái “tráng sĩ” là cảm hứng chủ đạo về hình tượng
người lính những ngày đầu cách mạng. Người chiến sĩ mang dáng dấp của chàng Kinh
Kha năm xưa khi bước chân vào mặt trận:
“Thôi hãy lên đường tráng sĩ ơi?
Quê hương mong đợi đã bao đời
Biên thùy nghe dậy niềm ai oán
Gươm hận mài chưa? Khát máu rồi”.
(Biết gửi đưa ai – báo Vệ Quốc)
Trang 67
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Đó là tâm trạng của những ngày đầu xung trận còn vương lại chút mơ mộng của
thời thanh bình đã mất:
“Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
Mái đầu xanh thề mãi đến khi già
Phơi nắng gió hoa ngàn cỏ dại”.
(Ngày về – Chính Hữu)
Rồi cuộc chiến không chóng tàn như họ nghĩ. Chiến tranh triền miên, cùng với
những hi sinh mất mát mà họ đã chứng kiến hoặc phải gánh chịu thì tuổi xuân, hi vọng
và niềm tin của “những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng” dần vơi đi theo từng bước
quân hành. Lúc này “chí nhớn” chưa biết bao giờ làm xong, những năm tháng xa quê
hương đã thôi thúc trong lòng họ một nỗi nhớ da diết:
“Quê hương ơi,
Mấy năm trời xa cách
Đêm nay ta nằm nghe mưa rơi,
Nghe tiếng trời gầm xa lắc…
Cớ sao lòng lại xót đau?”
(Nhớ quê hương – Lê Anh Xuân)
“Xa quê mới hiểu lòng đau”, câu nói đó mới nghe thì quá đỗi bình thường,
nhưng chỉ có những người đã, đang trải nghiệm mới hiểu và đủ sức nếm trải dư vị của
nó. Đôi khi nỗi nhớ quê hương bắt đầu từ những gì đơn sơ mộc mạc nhất mà chỉ quê
hương ta mới có:
“Thèm nghe một tiếng chuông chùa
Tiếng của ngày xưa vọng lại
Mảnh đất thoảng mùi hoang sơ
Một chiều bâng quơ khẽ gọi”
(Tiếng gọi – Ngô Quân Miện)
Nỗi nhớ quê hương xứ sở không dừng lại ở những kỉ niệm ngọt ngào của tuổi
thơ. Nó được cụ thể hóa bằng chi tiết thèm nghe lại một tiếng chuông chùa và nếm lại
Trang 68
vị mặn của mảnh đất quê hương. Sự khao khát được nghe, được thấy, được
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
nhìn…những gì của quê hương thật da diết thật mãnh liệt. Để rồi người lính trận nơi
chiến trường xa xôi tay ôm súng và ngồi đếm “thu về, thu lại qua” mà lòng không thôi
mong chờ ngày trở lại để được thấy nhành phượng đỏ, được nghe những âm thanh
quen thuộc của đời thường:
“Bao độ thu về, thu lại qua
Huế tôi thăm thẳm nhớ con xa
Mỗi lần phượng nở rung màu đỏ
Càng giục canh sương một tiếng gà”
(Nhớ Huế quê tôi – Thanh Tịnh)
Đôi khi nỗi nhớ thương da diết được dành cho Việt Bắc - nơi mà người lính
từng sống, chiến đấu và gắn bó như một quê hương thứ hai trong cuộc đời binh nghiệp
của mình:
“Chiều mưa đường số 5
Đôi mắt sao đăm đăm
Chứa cả trời mây nặng
Miền Việt Bắc xa xăm?
Ôi núi rừng thương nhớ
Rét mướt đã hai năm!”
(Chiều mưa đường số 5 – Thâm Tâm)
Đối với mỗi con người thì xa quê ai cũng nhớ, cũng thương về một thứ gì đó rất
riêng của quê hương mình. Nhưng nỗi nhớ quê hương thường gắn liền với nỗi nhớ về
những người thân yêu nhất của mình. Chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh người lính
trong thơ Nguyễn Duy nhớ về gia đình, mà trước tiên là hình ảnh người bà tần tảo sớm
hôm: Mò cua, xúc tép, đi bán trứng…để nuôi đứa cháu mình ngày một khôn lớn giữa
khói lửa mịt mù của chiến tranh. Để rồi đứa cháu ấy lớn lên đi theo tiếng gọi của quê
hương đất nước, chưa một lần trở lại thăm bà cho đến một ngày tất cả đã trở nên muộn
màng:
“Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
Dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
Khi tôi biết thương bà thì đã muộn
Trang 69
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”
(Đò lèn – Nguyễn Duy)
Do tuổi trẻ thiếu nghĩ suy nên người lính ấy đâu cảm nhận được tình thương vô
bờ bến của bà. Để rồi một ngày nhận ra quy luật khắc nghiệt của tạo hóa thì mọi việc
đã quá muộn màng không thể nào quay trở lại được vì “bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.
Ngoài hình ảnh người bà, trong thơ Nguyễn Duy ta còn bắt gặp hình ảnh người mẹ tảo
tần hôm sớm hiện lên thật bình dị nhưng quá vĩ đại trong lòng nhà thơ:
“Mẹ ta không có yếm đào
Nón mê thay nón quai thao đội đầu
Rối ren tay bí tay bầu
Áo nhuộm bùn, váy nhuộn nâu bốn mùa”
(Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa – Nguyễn Duy)
Người lính nhớ về người mẹ của mình với bao lo toan vất vả của cuộc sống
thường nhật. Hình ảnh người mẹ nghèo nàn về vật chất nhưng quá đỗi vĩ đại hiện lên
trong tâm tưởng của người lính suốt chặng đường dài hành quân. Nó như tiếp thêm sức
mạnh cho người lính trẻ vượt qua bao gian khổ của cuộc sống chiến tranh. Nếu người
mẹ của Nguyễn Duy là người mẹ của gia đình, của “đàn con lóc nhóc khóc cười” thì
người mẹ trong thơ Hoàng Đình Quang là người mẹ của đất nước, của dân tộc:
“Mẹ hiểu đất nước bằng những ngày cha đi biền biệt
Bằng nỗi ngóng trông đằng đẵng chín năm trường”
(Ngôi nhà của mẹ - Hoàng Đình Quang)
Hay hình ảnh người mẹ già yếu nhưng phải vẫn cố gắng tìm miếng ăn khi
những đứa con của mẹ phải đi xa chiến đấu:
“Bên kia sông Đuống
Mẹ già nua, còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy đầm hoen sương sớm
(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)
Người mẹ trong thơ Hoàng Cầm hiện lên thật khắc khổ thật vất vả trong công
việc mưu sinh hằng ngày. Nhưng cuộc sống ấy cũng được chắc chiu tạm sống qua
Trang 70
từng ngày nếu không có “lũ quỷ mắt xanh” không có tính người. Chúng kéo đến “khua
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
giày đinh đạp đỗ quán gầy teo” cướp bóc và giết người không thương tiếc. Hay người
mẹ trong thơ của Yên Thao mỏi mòn chờ đợi tin con khi bóng xế tuổi già:
“Tôi còn người mẹ
Tóc đã ngả màu bông
Tuổi già non thế kỷ
Lưng gầy uốn nặng kiếp long đong
Nắng mưa từ buổi tang chồng
Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon
Thôi xa rồi! Mẹ tôi
Lệ nhòa mi mắt trông con phương trời
Có từng chợt tỉnh đêm vơi
Nghe ròn tiếng súng nhắc lời chia ly!
Mẹ ơi! Con mẹ tìm đi
Bao giờ hết giặc con về mẹ vui”
(Nhà tôi – Yên Thao)
Bên cạnh hình ảnh người mẹ tảo tần hôm sớm vất vả nuôi những đứa con thơ
của mình khôn lớn, thì vẫn còn đó hình ảnh người cha mang chí hướng bốn phương
“mài gươm trên yên ngựa. Nện gió câu qua mấy dặm trường đình”. Người cha đó đã
sống chọn vẹn cho quê hương đất nước:
“Mãi mê lang bạc kì hồ
Xây rồi bán nếp nhà không văn tự
Phủi tay về đẩy xe hồ
Ngán ngẫm những con đường mệt lữ”
(Dòng sông Mẹ - Nguyễn Duy)
Bên cạnh người cha “chí tại bốn phương” ấy vẫn còn đó một người cha mẫu
mực, suốt đời tận tụy cho nước cho dân mà vẫn không quên trách nhiệm với gia đình:
“Suốt đời thồ nặng
Trĩu cả hai vai, việc nước, việc nhà”
(Cầu Bố - Nguyễn Duy)
Trang 71
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Không những sống trọn vẹn cho núi sông mà vẫn gánh vác cả việc gia đình rất
tháo vác và người cha ấy là tấm gương cao đẹp về sự hi sinh trong âm thầm lặng lẽ, là
biểu ượng bất tử cho người đàn ông Việt Nam trong đời sống chiến tranh cũng như
cuộc sống thường nhật:
“Cha tôi đó, dân làng tôi vậy đó
Xả hết mình khi nước gặp tai ương
Rồi thanh thản trở về với ruộng
Sống lặng yên như cây cỏ trong vườn”
(Cầu Bố - Nguyễn Duy)
Nếu nói về nỗi nhớ của người lính mà không nhắc đến nỗi nhớ của người lính
về người yêu, người vợ trẻ nơi hậu phương là một thiếu xót rất lớn. Họ có một vị trí
đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của người lính trong những ngày tháng
chiến đấu gian lao. Hầu hết những người trai tham gia vào chiến tranh đều ở lứa tuổi
đang yêu và số ít vừa lập gia đình. Nên khi xa “nơi chôn nhao cắt rốn” ngoài nỗi nhớ
nhung về quê hương, gia đình thì trong lòng họ luôn luôn hiện hữu một nỗi nhớ
thương da diết về người yêu, người vợ trẻ nơi hậu phương. Nỗi nhớ ấy được khắc họa
với nhiều cung bậc cảm xúc khác: Mộc mạc giản dị nhưng chân thành và mãnh liệt.
Nỗi nhớ trong thơ Nguyễn Đình Thi trước hết là một nỗi nhớ thường trực luôn luôn
hiện hữu trong lòng:
“Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước
Mỗi tối anh nằm, mỗi bữa anh ăn”
(Nhớ - Nguyễn Đình Thi)
Có lẽ bằng sức trẻ đang căng nhựa sống và con mắt thi vị hóa của nhà thơ nên
nỗi nhớ ấy có phần mãnh liệt để khắc sâu thêm ý đồ nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi.
Một bài thơ khác, tuy không mang nỗi nhớ thường trực trong lòng, nỗi nhớ của người
lính trong thơ của ông chỉ “bỗng” nhớ về người yêu từ những đêm dài hành quân gian
khổ, nhưng vẫn hướng đôi mắt chan chứa yêu thương của mình về hậu phương bằng
niềm tin tất thắng cho ngày trở lại. Nỗi nhớ ấy được cụ thể hóa bằng từ “bồn chồn”,
một cảm giác khó tả bằng lời khi nhớ về người yêu, và người lính trẻ ấy vẫn cất giữ
trong lòng đôi mắt của nàng trong ngày đưa tiễn vào một buổi sáng mùa thu Hà Nội:
“Những đêm dài hành quân ta nung nấu
Trang 72
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”
(Đất nước – Nguyễn Đình Thi)
Một nét rất riêng, nỗi nhớ trong thơ của Hồng Nguyên là nỗi nhớ có phần thông
cảm, sẻ chia những vất vả lo toan mà người vợ trẻ phải gánh vác trong thời gian ông
vắng nhà chinh chiến:
“Ba năm rồi gửi lại quê hương
Mái lều gianh,
Tiếng mõ đêm trường,
Luống cày đất đỏ.
Ít nhiều người vợ trẻ
Mòn chân bên cối gạo canh khuya”
(Nhớ - Hồng Nguyên)
Trong cuộc sống này, thật kì diệu khi có nỗi nhớ là thứ duy nhất có thể vượt
qua mọi khoảng cách, mọi giới hạn về không gian cũng như thời gian. Dù khoảng cách
bao xa, dù năm dài tháng rộng cỡ nào đi chăng nữa thì bằng tình yêu con người có thể
vượt qua tất cả, vẫn hướng về nhau bằng cả trái tim tin yêu. Cũng chính nhờ nỗi nhớ
mà con người mới cất giữ trọn vẹn những kỉ niệm ngọt ngào của hai người yêu nhau
dù ngàn trùng cách trở. Đôi khi nỗi nhớ người yêu nó còn len lỏi vào trong những giấc
mơ của người lính từ nơi biên giới xa xôi hẻo lánh:
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
(Tây tiến – Quang Dũng)
Bằng một nỗi nhớ nhẹ nhàng nhưng rất tha thiết, người lính trong thơ Nguyễn
Duy nhớ về người vợ của mình thông qua những hành động cụ thể, những công việc
bình thường nhưng ở đó chất chứa biết bao tình cảm mà em đã gửi gắm:
“Em vá cho tôi cái áo lính cũ càng”
(Âm thanh bàn tay – Nguyễn Duy)
Hay nỗi nhớ của người lính trong thơ của Kiên Giang về những buổi chiều chúa
nhật khi tan lễ bên người yêu tay trong tay dạo chơi qua những con phố thân quen:
Trang 73
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
“Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa xoá không gian
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương, nóc giáo đường
Mười năm trước, em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh”
(Hoa trắng thôi cài trên áo tím – Kiên Giang)
Kí ức về mười năm trước vẫn còn đọng lại trong tâm trí người lính trẻ và anh ra
đi chiến đấu vì muốn “giữ tà áo tím, người yêu cũ. Giữ cả lầu chuông, nóc giáo
đường”. Người trai lên đường gắn cuộc đời mình vào chiến tranh lửa đạn không hẹn
ngày trở lại, thì làm sao tránh được những cuộc chia tay trong luyến tiếc bịn rịn:
“Tôi có người vợ trẻ đẹp như thơ
Tuổi chớm đôi mươi cười buổi dâng cờ
Má trắng mịn thơm thơm mùi lúa chín
Ai đi qua mà chẳng từng bịn rịn
Rời đau thương nào đã mấy ai vui?
Em lặng buồn nhìn với lúc chia phôi
Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ”
(Nhà tôi – Yên Thao)
Tất cả đều nín lặng trong buổi chia li để tình yêu và nỗi nhớ dâng trào trong
lòng để khỏi bận lòng người đi kẻ ở. Đó có thể là một cuộc chia tay trong rực sắc đỏ
của màu cờ của niềm tin rực cháy:
“Chiếc áo đỏ rực như than lửa
Cháy không nguôi trước cảnh chia li
Vườn cây xanh và chiếc nón kia
Không giấu nỗi tình yêu cô rực cháy
Không che được nước mắt cô đã chảy
Những giọt long lanh nóng bỏng rạng ngời
Trang 74
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi”
(Cuộc chia li màu đỏ - Nguyễn Mỹ)
Dù bịn rịn trong lưu luyến nhưng họ vẫn chan chứa một niềm tin tất thắng ở
ngày mai. Họ chia tay trong nụ cười hòa lẫn nước mắt của muôn vàn những cảm xúc
đang ngự trị và trào dâng trong lòng.
Trong thơ Nguyễn Duy ta bắt gặp một buổi tiễn đưa diễn ra trên một triền đê.
Nơi mà, trong suốt buổi đưa tiễn chỉ có hạt mưa và ngọn cỏ theo chân và như nói hộ
họ biết bao lời thầm kín:
“Em đưa tiễn bước chân gìn giữ lắm
Hạt mưa dùng dằng ngọn cỏ ven đê”
(Sông Thao – Nguyễn Duy)
Dù tình yêu trong hai trái tim của họ đã rực cháy nhưng họ phải biết “gìn giữ”
cho nhau để chờ ngày chiến thắng. “Ngọn cỏ dùng dằng” hay chính bước chân của họ
dùng dằng, tâm trạng họ dùng dằng? Tình yêu của họ cao đẹp là thế đó, dù “tình trong
như đã mặt ngoài còn e” nhưng họ vẫn cố kìm chế cảm xúc của mình để khỏi bận lòng
người đi, đau xót người ở lại:
“Giấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay,
Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm,
Bên ấy có người ngày mai ra trận
Họ ngồi im không biết nói năng chi
Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi,
Nào ai đã một lần dám nói?”
(Hương thầm – Phan Thị Thanh Nhàn)
Tác giả xây dựng hình ảnh người phụ nữ khi xuất hiện thật tinh tế. Cái tinh tế ở
chi tiết cái khăn tay và cả hai người đều ngồi im lặng. Từ xưa, chiếc khăn tay là vật đại
diện cho lời thệ ước. Người con gái ấy giấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay là như
nói tất cả với người ra đi rằng: “Dù thời gian có trôi đi làm héo tàn nụ hoa trên tay em
cầm cùng với tuổi xuân đời con gái thì em vẫn chờ anh trở lại và chiếc khăn tay do tự
tay em làm trao tặng anh trước lúc lên đường là minh chứng cho lời hứa và tình yêu
của em”. Nên người con gái xuất hiện trong thơ “nào ai đã một lần dám nói” mà như
đã nói hết tất cả tâm sự của mình qua chiếc khăn tay.
Trang 75
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Nếu cuộc chia tay trong thơ Phan Thị Thanh Nhàn có một thứ hữu hình – chùm
hoa giấu sau chiếc khăn tay thì buổi tiễn đưa trong thơ Nguyễn Bao lại ngập tràn
hương hoa chanh – một thứ vô hình, lung linh như tình yêu của họ tuy chưa một lần
hứa hẹn:
“Anh nhớ ngày đi
Hai đứa nhìn nhau im lặng
Chúng mình chưa hẹn một lời”
(Hoa Chanh – Nguyễn Bao)
Họ không cần phải nói, vì không biết bắt đầu từ đâu và kết thúc từ đâu giữa vô
vàn điều muốn nói. Nên họ chỉ im lặng nhìn nhau để ánh mắt nói hộ tất cả để hình ảnh
của người thân yêu vẫn mãi sống trong lòng dù kẻ ở người đi.
Trong suốt ba mươi năm kháng chiến gian khổ, cái gì luôn thường trực trong
lòng người lính trận? Câu trả lời chỉ có một, đó là niềm tin và nỗi nhớ. Niềm tin vào
chiến thắng ở ngày mai giúp họ tiếp tục kiên cường chiến đấu gian khó. Nỗi nhớ: Quê
hương, gia đình, người yêu, đồng chí đồng đội…giúp họ lạc quan yêu đời và là động
lực to lớn giúp họ tiếp tục chiến đấu để bảo vệ người thân yêu, gia đình và Tổ quốc.
2.3.2 Tình đồng chí, đồng đội
Chưa có thời kì nào thơ ca lại viết về tình đồng, đồng đội, tình quân dân nhiều
như thơ ca kháng chiến. Một nhà phê bình đã nhận định: “Tình đồng đội là chủ đề đậm
nét trong thơ ca kháng chiến”. Trước hết, tình đồng chí đồng đội được xây dựng dựa
trên cơ sở những người cùng chí hướng, cùng quan điểm và cùng chiến đấu vì một lí
tưởng cao cả là giải phóng non sông, đất nước. Trong cuộc chiến tranh đầy gian khổ và
mất mát hi sinh, vô tình đã kéo sát những người lính lại với nhau hơn trong sinh hoạt
cũng như trong chiến đấu. Không giống như người nghĩa sĩ năm xưa: “Chàng tuổi trẻ
vốn dòng hào kiệt. Xếp bút nghiêng theo việc đao cung. Thành liền mong tiến bệ rồng.
Thước gương đã sẵn chẳng dong giặc trời”, họ đến với kháng chiến từ những vùng quê
khác nhau, từ những mảnh đời khác nhau nhưng đều xuất thân từ nghèo khó và đến
với kháng chiến chỉ mong được trở lại cuộc sống bình yên đơn sơ thuở nào:
“Lũ chúng tôi
Bọn người tứ xứ
Trang 76
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Gặp nhau hồi chưa biết chữ
Quen nhau từ buổi “một hai”
Súng bắn chưa quen,
Quân sự mươi bài,
Lòng vẫn cười vui kháng chiến”
(Nhớ – Hồng Nguyên)
Họ gặp nhau từ những miền quê khác nhau mà Hồng Nguyên gọi họ là “bọn
người tứ xứ” cùng đến với kháng chiến bằng sự bỡ ngỡ, lạ lẫm trong những ngày đầu
nhập ngũ. Trong số họ nào ai đã biết đến với súng đạn và chiến trường? Nào ai mong
đợi chiến tranh nổ ra để mình được ôm tay súng? Nhưng bằng “tình yêu sông núi” họ
đã ra đi, vẫn lạc quan cố gắng vượt qua những khó khăn trở ngại trong những ngày đầu
và “lòng vẫn cười vui kháng chiến”.
Nếu người lính trong thơ Hồng Nguyên là những “người tứ xứ” và đều “chưa
biết chữ” thì người lính trong thơ Chính Hữu cũng xuất thân từ “làng tôi nghèo đất cày
lên sỏi đá”. Nhưng người lính trong thơ Chính Hữu còn thông cảm sẻ chia cho hoàn
cảnh của đồng đội của mình khi họ đều xuất thân từ những nơi nghèo khó nhất và cùng
tề tựu về đây chiến đấu cho Tổ quốc thân yêu:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Anh với tôi đôi người xa lạ
Từ phương trời chẳng hẹn mà quen nhau”
(Đồng chí – Chính Hữu)
Sinh ra ở một đất nước vốn có truyền thống nông nghiệp, họ vốn là những
người nông dân mặc áo lính theo bước chân anh hùng của những nghĩa sĩ Cần Giuộc
năm xưa. Đất nước bị kẻ thù xâm lược, Tổ quốc và nhân dân đứng dưới một tròng áp
bức. "Anh" và "tôi", hai người bạn mới quen, đều xuất thân từ những vùng quê nghèo
khó. Hai câu thơ vừa như đối nhau, vừa như song hành, thể hiện tình cảm của những
người lính. Từ những vùng quê nghèo khổ ấy, họp tạm biệt người thân, tạm biệt xóm
làng, tạm biệt những bãi mía, bờ dâu, những thảm cỏ xanh mướt màu, họ ra đi chiến
đấu để tìm lại, giành lại linh hồn cho Tổ quốc. Những khó khăn ấy dường như không
thể làm cho những người lính chùn bước:
Trang 77
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
"Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Đồng chí !..."
(Đồng chí – Chính Hữu)
Họ đến với Cách mạng cũng vì lý tưởng muốn dâng hiến cho đời "Sống là cho
đâu chỉ nhận riêng mình". Chung một khát vọng, chung một lý tưởng, chung một niềm
tin và khi chiến đấu, họ lại kề vai sát cánh chung một chiến hào....Dường như tình
đồng đội cũng xuất phát từ những cái chung nhỏ bé ấy. Trong những năm tháng chiến
đấu gian lao vất vả, họ – những người lính luôn gắn bó san sẻ cho nhau những vui
buồn trong cuộc đời binh nghiệp. Đôi khi kỉ niệm chỉ đơn thuần là những lần chuyện
trò, những lần cùng tắm sông hay những đêm mưa lạnh giá phải “quờ chân tìm hơi
ấm”:
“Kỳ hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng
Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa
Đằng nớ vợ chưa?
Đằng nớ?
Tớ còn chờ độc lập
Cả lũ cười vang bên ruộng bắp
Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu”
(Nhớ – Hồng Nguyên)
Kỉ niệm của những người lính hiện lên thật giản dị nhưng rất ấm áp tình người.
Họ “kì hộ lưng nhau”, “quờ chân tìm hơi ấm”…thể hiện sự quan tâm chăm sóc cho
nhau như anh em trong một gia đình, điều mà ở cuộc sống đời thường rất khó tìm thấy.
Người lính trong thơ Nguyễn Duy biết và có thể cảm nhận những thay đổi dù là nhỏ
nhất của đồng đội:
“Ngủ hầm, ngủ võng, ngủ bưng
Gối đầu tay ngủ cầm chừng mỗi đêm
Có người ngủ thế thành quen
Đã nghe sợi tóc bạc trên tay mình”
(Lời ru đồng đội – Nguyễn Duy)
Trang 78
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Những người đồng đội của ông “đã nghe sợi tóc bạc trên tay mình” hay chính
ông đã nhận ra điều đó trước cả những người đồng đội của mình? Trong cuộc sống còn
nhiều gian khổ hi sinh nhưng họ vẫn lạc quan yêu đời vẫn chấp nhận hi sinh tuổi xuân
của mình để chờ ngày vui chung của dân tộc. Chỉ có những tháng ngày gian khó đó họ
mới có cơ hội thật sự hiểu thấu nhau hơn và mối tình đồng chí đồng đội lại gắn kết
chặt chẽ hơn bao giờ hết:
“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán đẫm mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt già
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay
Đồng chí”
(Đồng chí – Chính Hữu)
Câu thơ chầm chậm vang lên nhưng lại đứt quãng, phải chăng sự khó khăn, vất
vả, thiếu thốn của những người lính đã làm cho nhịp thơ Chính Hữu sâu lắng hơn. Đất
nước ta còn nghèo, những người lính còn thiếu thốn quân trang, quân dụng, phải đối
mặt với sốt rét rừng, cái lạnh giá của màn đêm.....Chỉ đôi mảnh quần vá, cái áo rách
vai, người lính vẫn vững lòng theo kháng chiến, mặc dù nụ cười ấy là nụ cười giá buốt,
lặng câm. Tình đồng đội quả thật càng trong gian khổ lại càng tỏa sáng, nó gần gũi mà
chân thực, không giả dối, cao xa.... Một nụ cười lạc quan, một niềm tin tất thắng, một
tình cảm chân thành đã được Chính Hữu cô lại chỉ với nụ cười - biểu tượng của người
lính khi chiến đấu, trong hòa bình cũng như khi xây dựng Tổ quốc, một nụ cười ngạo
nghễ, yêu thương, một nụ cười lạc quan chiến thắng...
Tình cảm ấy lan tỏa trong lòng của tất cả những người lính. Tình đồng chí là sự
san sẻ cho nhau những thứ thiết yếu nhất trong cuộc đời quân nhân:
“Nửa dĩa cơm chia đỡ đói lòng
Phá rừng gai móc xé da lưng
Mồ hôi đổ xuống se lòng đất
Cho lúa khoai lên mướt rẫy vồng
Trang 79
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
(Nhớ miền Đông – Xuân Miễn)
Giữa cái khốn khó do chiến tranh mang lại thì mọi sự sẻ chia đều rất thiết thực
và cao quý biết bao nhiêu. Dù đói khổ nhưng người lính vẫn xẻ nửa bát cơm của mình
cho đồng đội để qua cơn đói lòng. Hành động đó làm sáng ngời vẻ đẹp con người Việt
Nam vốn có truyền thống “nhườn cơm xẻ áo” cho nhau trong khốn khó. Tình đồng chí
đồng đội còn là một thứ tình cảm thiêng liêng, vì nó mà con người có thể sẵn sàn giành
về mình cái chết để đồng đội được sống và chiến đấu cho Tổ quốc. Tình đồng chí là:
“Là hớp nước uống chung, nắm cơm bẻ nửa
Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa
Chia khắp anh em một mẩu tin nhà
Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp
Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết"
(Nhớ - Hồng Nguyên)
Trong cuộc sống này ai cũng mong muốn được sống trong hạnh phúc và yên
bình nên “nào ai mong nhận cái chết đến cho mình” (Vô danh – Ngô Kế Oanh). Nhưng
vì lí tưởng và trách nhiệm của con người đối với Tổ quốc thì họ sẵn sàn sẻ chia tất cả
từ: Hớp nước nắm cơm, một mẫu tin nhà và cả cái chết là điều đáng sợ nhất. Tình cảm
của họ giành cho nhau trên suốt chặn đường dài hành quân ngày một thắm thiết hơn,
nên mỗi khi tưởng tượng đến cảnh có người phải ngã xuống thì hỏi ai không đau xót
dù chưa biết ai còn ai mất sau cuộc chiến này:
“Ngày mai dù thiếu một hai người
Thiếu một mùi hôi quen thuộc
Con mắt thấy đời nhau và dĩ vãng
Những bàn tay không nói dặn dò”
(Những ngày động biển – Văn Cao)
Dẫu biết đến với chiến tranh là đã chấp nhận đón chào cái chết, nhưng hầu hết
những người lính ấy ai mà không mong mỏi được trở về với quê hương. Một ước mơ
thật giản dị và chính đáng nhưng cũng không thể thực hiện được. Người lính trong thơ
Nguyễn Duy ngoài sự sẻ chia còn thấu hiểu được ao ước đó của đồng đội nên người
lính ấy đã không tin vào sự thật đang hiện hữu trước mắt mình:
“Người bạn tôi không về tới nơi này
Trang 80
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Anh gục ngã bên kia cầu xa lộ
Anh nằm lại trước cửa vào thành phố
Giây phút cuối cùng chấm dứt cuộc chiến tranh”
(Nghe tắc kè kêu trong thành phố - Nguyễn Duy)
Người lính như không tin vào sự thật và rơi vào cảm giác hụt hẫn khi chứng
kiến sự ra đi quá đột ngột của đồng đội trước ngưỡng cửa của hòa bình độc lập. Chiến
tranh đã kết thúc, nụ cười nở tươi trên triệu triệu đôi môi người Việt Nam. Nhưng đối
với những người lính còn sống sót sau chiến tranh thì ngoài nụ cười hạnh phúc của
chiến thắng còn có chút đắng cay pha lẫn. Cái đắng cay khi trong ngày chiến thắng mà
không ít đồng đội đã phải ngã xuống, cái đắng cay của một niềm vui không trọn vẹn.
Nói tóm lại, tình đồng chí đồng đội là một thứ tình cảm vô cùng cao quý và
không thể thiếu trong đời sống chiến tranh của những người lính ngoài mặt trận. Đó là
sự thử thách quan trọng nhất, thử thách giữa sự sống và cái chết. Họ đến với nhau để
truyền cho nhau hơi ấm, nghị lực giữa vô vàn gian khổ của cuộc chiến đấu trường kì
chống quân xâm lược. Nó được thơ ca kháng chiến khắc họa chân thực, sinh động và
hết sức xúc động. Hình tượng người lính cụ Hồ xuất hiện trong thơ ca kháng chiến mãi
mãi là hình tượng thơ ca đẹp nhất trong thời kì kháng chiến và đến ngày nay, nó vẫn
giữ được nguồn cảm hứng thẩm mĩ với nhiều thế hệ người đọc.
Trang 81
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
CHƯƠNG 3
CÁI BI
TRONG THƠ CA CÁCH MẠNG VỀ ĐỀ TÀI HẬU PHƯƠNG
GIAI ĐOẠN 1945 - 1975
3.1 Nỗi lòng người mẹ trông con
Thời gian trôi qua, cùng với từng bước đi của lịch sử, hàng loạt các những bài
thơ ra đời có sức mạnh cổ vũ nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống quân xâm
lược. Nó thực sự trở thành món ăn tinh thần vô giá có mặt trong đời sống thường nhật,
cổ vũ quần chúng đi theo cách mạng và hướng con người tới đời sống tinh thần phong
phú theo hướng “chân - thiện - mỹ”. Các nhà thơ - chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng và
văn hóa đã dùng cây bút như một phương tiện, một vũ khí đấu tranh, tập hợp quần
chúng đi theo con đường của Đảng, đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp.
Bên cạnh các bài thơ viết về người lính, Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, nhân dân ta
anh hùng, trong đó phải kể đến những vần thơ khắc họa vẻ đẹp của người phụ nữ Việt
Nam từ tâm hồn cho đến hành động với tám chữ vàng Bác Hồ trao tặng: “Anh hùng -
bất khuất - trung hậu - đảm đang”. Khi đất nước có chiến tranh thì “giặc đến nhà đàn
bà cũng đánh”. Con cháu Bà Trưng, Bà triệu lại viết tiếp bài ca chiến đấu. Phần lớn
những sáng tác đều tập trung ngợi ca người phụ nữ Việt Nam “Anh hùng - bất khuất -
trung hậu - đảm đang” với chất sử thi hoành tráng, như cuốn biên niên sử của đất nước
trong những giai đoạn hào hùng của lịch sử dân tộc. Người phụ nữ Việt Nam tiễn con
lên đường chiến đấu hết sức dứt khoát và cứng rắn để những đứa con lên đường cho
“đi khỏi vấp”:
“Ngày mai con trai mẹ lên đường
Không bao giờ mẹ khóc
trước mặt con
Cho chúng tôi đi khỏi vấp
Chúng tôi đi, vầng ấm mãi sao lưng
Và tôi hiểu
Trang 82
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
đó là nơi tận cùng
của bề sâu Tổ quốc”
(Nơi tận cùng của bề sâu Tổ quốc – Vũ Đình Minh)
Tâm hồn người phụ nữ vốn mềm yếu, đưa tiễn những đứa con thân yêu lên
đường chiến đấu không biết ngày trở lại thì ai không đau lòng, không luyến tiếc.
Nhưng khi đất nước cần những đứa con của họ thì các mẹ vẫn sẵn lòng cho các anh ra
đi. Họ không khóc trong buổi chia li nhưng trái tim của người mẹ vẫn hướng về các
anh như dẫn dắt, sưởi ấm và soi đường cho những người lính trong suốt chặng đường
dài hành quân gian khổ. Người mẹ đếm từng giây phút quý báu còn lại được ở bên đứa
con thân yêu của mình nên mẹ rất trân trọng và như muốn cố níu kéo thời gian ngừng
lại. Người lính trong thơ Lê Đình Cánh hẳn không quên hình ảnh người mẹ thương
yêu chăm sóc cho anh từng miếng ăn giấc ngủ. Để các anh khỏi đói lòng và mãi nhớ
hương vị của quê hương mẹ đã cẩn trọng “gói tình thương quê nhà” là những nắm cơm
cho các anh mang theo trong lúc quân hành:
“Đưa con đánh Mĩ lên đường
Nắm cơm mẹ gói tình thương quê nhà”
(Mẹ ra Hà Nội – Lê Đình Cánh)
Người mẹ thì lúc nào cũng chu đáo và quan đến những đứa con thân yêu của
mình dù chỉ là một việc rất nhỏ. Hay hình ảnh người mẹ già tiễn các anh lên đường
hành quân trong im lặng và nước mắt:
“Chiều mưa lùa các cửa
Ngày bộ đội hành quân
Mẹ già không nói nữa
Nước mắt nhìn rân rân…”
(Chiều mưa đường số 5 – Thâm Tâm)
Nếu như người mẹ trong thơ Vũ Đình Minh đã cố cầm nước mắt để các con của
mẹ “lên khỏi vấp”, còn người mẹ trong thơ Thâm Tâm thì ngược lại. Vì cuộc chia li
nào không lưu luyến, không bịn rịn. Giọt nước mắt của mẹ rơi thể hiện niềm yêu
thương vô bờ bến dành cho các anh – những đứa con lên đường tìm “chí nhớn” không
hẹn ngày trở lại. Cũng như hình ảnh người mẹ Trà Vinh nghèo nàn nhưng hiếu khách
nhườn cơm xẻ áo, dù chỉ trao tay các anh một khoanh dưa hấu cùng một nhúm muối
Trang 83
mặn nhưng nó là vô giá đối với các anh. Những hành động dù nhỏ nhặt ấy đã mãi in
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
sâu vào lòng những người lính xa quê và làm ấm lòng họ trong những ngày gian khó
nhất:
“Nhớ sao cuộc hành quân
Qua ngọn đồi châu chấu
Người mẹ già Trà Vinh
Vời trao khoanh dưa hấu
Thêm nhúm muối mặn mà
Thấm lòng con chiến đấu”
(Mùa dưa hấu – Trang Nghị)
Trong cuộc kháng chiến bộ đội ta chủ yếu dựa vào dân là chính nên mỗi người
mẹ Việt Nam đều là những người mẹ của các anh lính trẻ và ngược lại mỗi người lính
bộ đội Cụ Hồ đều là những đứa con của các mẹ. Nên không có gì là khác lạ khi các
mẹ thương yêu các anh như con đẻ và những đứa con cũng tự nhủ “mẹ thương mình
nên thương họ”:
“Những buổi tiễn đưa cán bộ lên đường
Mẹ theo chân cho bát nước củ gừng
Con nói: Mẹ thương mình nên thương họ
Cho đến buổi giặc về, súng nổ
Mi cứ đi đi, việc nhà kệ đó
Nhớ nghe con, có chết cũng nên đời
Đừng nghĩ lo chi, tau đã già rồi…”
(Gửi mẹ trong vùng tạm chiếm – Chế Lan Viên)
Cũng chính vì thế nên các mẹ luôn dành những gì tốt đẹp nhất cho các anh –
những người lính trẻ, những người đang, đã và sẽ hi sinh tất cả cho độc lập dân tộc
thống nhất đất nước:
“Cho con nào áo, nào quà
Cho lửa con sưởi, cho nhà con ngơi”
(Bầm ơi – Tố Hữu)
Có lẽ các mẹ đã nhiều lần mẹ tiễn các anh, hết lớp trai này nối tiếp lớp trai khác
lên đường vào mặt trận và những cuộc chia nào cũng trong nước mắt luyến lưu. Để các
Trang 84
anh yên tâm lên đường chiến đấu người mẹ già đã cố tỏ ra cứng rắn và kiên quyết
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
trong buổi tiễn đưa, cùng với đó là lời căn dặn thiết tha “nhớ nghe con, có chết cũng
nên đời”. Chiến đấu và chiến thắng luôn là trách nhiệm và cũng là mong ước của mọi
người lính trận, nên khi đã dấng thân vào chiến trường thì đồng nghĩa với việc các anh
phải tạm gác lại nghĩa vụ với gia đình. Thấu hiểu được điều đó, người mẹ trong thơ
Chế Lan Viên đã một lần nữa củng cố lại lòng tin cho các anh trước giờ lên đường
bằng lời nói giản dị mà quả quyết: “Mi cứ đi đi, việc nhà kệ đó”. Sau những hành động
hi sinh tất cả cho Tổ quốc người chồng và những đứa con thân yêu của mình là một
người mẹ tảo tần hôm sớm vất vả gian lao để chờ ngày các con của mẹ chiến thắng và
trở về với mẹ. Tấm áo sờn vai ngày nào mẹ vá vẫn còn đó là minh chứng cao đẹp cho
tấm lòng thương nhớ mong ngóng tin con của người mẹ - Mẹ Việt Nam anh hùng:
“Mẹ vẫn chờ anh ngày trở lại
Ôi! Người mẹ trọn đời kim chỉ vá may
Vá tấm áo như vá đời mẹ khổ
Từ buổi con đi bấm đốt từng ngày
May tấm áo chờ anh về mặc
Ấp ủ ngày đêm mảnh áo quê nhà
Đem cả nhớ thương ngày đêm mẹ dệt
Gởi đứa con yêu chốn trời xa”
(Bài ca chim Chơrao – Thu Bồn)
Có ai biết được sau hình ảnh người mẹ cứng rắn tiễn các anh lên đường là
người vất vả gian nan, lo toan mọi việc trong nhà. Hơn thế, cứ mỗi đêm về là lúc ngơi
nghỉ mẹ lại chông đèn thâu đêm. Mẹ ngồi đó cố vá lại manh áo sờn vai và lắng nghe
từng tiếng động xa xa, đó có phải các anh về trong đêm hay tiếng bom thù đang dội.
Và thật hạnh phúc biết bao khi chứng kiến hình ảnh người mẹ già bên những người
con áo vải trở về từ đơn vị, dù những người lính ấy không phải là những đứa con ruột
thịt của mình. Nhưng tất cả đều không quan trọng, đều không làm giảm bớt niềm vui
của ngày sum họp:
“Mẹ già bịn rịn áo nâu
Vui đàn con nhỏ rừng sâu mới về”
(Bao giờ trở lại – Hoàng Trung Thông)
Trang 85
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Và kỉ niệm tươi đẹp của những lần họp mặt ngắn ngủi ấy là những kỉ niệm ngọt
ngào và khó quên nhất trong lòng mỗi người lính trận. Nó mãi đi theo các anh như
hành trang quý báu của cả đời binh nghiệp:
“Có mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa
Trăng lên tập hợp hát om nhà”
(Nhớ - Hồng Nguyên)
Mỗi người lính trẻ, mỗi đứa con của mỗi miền Tổ quốc tụ họp về đây vì có
chung lí tưởng, vẫn luôn là “báu vật” của các mẹ, các chị và luôn nhận được những
tình cảm nồng ấm nhất.
Trong kháng chiến gian khó, không ít người mẹ trẻ vì nghĩa vụ thiêng liêng với
đất nước đã không ngần ngại gửi lại đứa con thơ dại của mình và lao vào mặt trận.
Hình ảnh người mẹ trong thơ Lệ Thu là một minh chứng:
“Đêm cuối cùng được ở bên con
Mẹ thao thức lắng nghe từng nhịp thở
(…)
Gà gáy tan canh
Nắng hửng chân trời
Con ở lại với ông bà, con nhé”
(Viết cho con – Lệ Thu)
Trong đêm tiễn đưa, tâm hồn người mẹ trẻ có sự đấu tranh giằng xé dữ dội giữa
cái riêng – tình mẫu tử thiêng liêng với đứa con bé nhỏ đang say giấc nồng và cái
chung – nghĩa vụ với Tổ quốc, và cuối cùng cái chung đã chiến thắng. Trong giờ phút
ngắn ngủi còn được ở bên đứa con thân yêu của mình, người mẹ trẻ chỉ biết ngắn nhìn
thật lâu gương mặt ngây thơ của đứa con của mình vì ngày mai làm sao ai biết được
chuyện gì sẽ xảy đến.
Trong kháng chiến gian khó, hình ảnh người mẹ Việt Nam trông chờ những đứa
con ngoài mặt trận luôn là hình ảnh gây xúc động và cũng là nguồn cảm hứng là đề tài
lớn cho thơ ca kháng chiến. Các mẹ không những giỏi gánh vác việc nhà cho chồng
con yên tâm chiến đấu mà góp phần không nhỏ trong chiến thắng chung của toàn dân
tộc. Người mẹ Việt Nam trong kháng chiến là đại diện xuất sắc cho hình ảnh người
phụ nữ Việt Nam: “Anh hùng - bất khuất - trung hậu - đảm đang”.
Trang 86
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
3.2 Sự mỏi mòn chờ đợi của người yêu, người vợ
Trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam không ít những vần thơ được dành riêng
cho nỗi xót xa chờ đợi đến mỏi mòn của người thiếu phụ chờ chồng đi chinh chiến.
Vẫn còn đó hình ảnh người “chinh phụ” đếm thời gian trôi đi một cách nghiệt ngã
nhất: “Sương như búa bổ mòn gốc liễu. Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô” hay “khắc
giờ đằng đẵng như niên” để chờ đợi “chinh phu” trong tuyệt vọng. Đến thơ ca cách
mạng, bên cạnh hình ảnh người mẹ trông con thì vẫn còn đó hình ảnh con gái là người
yêu, người vợ mỏi mòn chờ tin người trai, người chồng chinh chiến.
Tình yêu thời nào cũng vậy, đẹp nhất hạnh phúc nhất là được sống bên nhau và
ngược lại không có gì đau khổ bằng khi phải sống xa người mình yêu. Nhưng tình yêu
được sinh ra trong thời lửa đạn thì không có sự toàn vẹn cho cả hai. Tức là phải có sự
chọn lựa giữa cái chung – nghĩa vụ với đất nước và cái riêng – tình yêu đôi lứa. Hầu
hết những người con trai thuở ấy đã chọn Tổ quốc và dù không muốn nhưng các chị
cũng phải tiễn các anh ra chiến trận. Và cảnh đưa tiễn nào mà không lưu luyến huống
chi đấy lại là một cuộc chia li không hẹn ước:
“Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay
Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm
Bên ấy có người ngày mai ra trận
Họ ngồi im không biết nói năng chi
Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi
Nào ai đã một lần dám nói?”
(Hương thầm – Phan Thị Thanh Nhàn)
Người con gái im lặng không nói vì không có gì để nói hay không biết nói từ
đâu? Với truyền thống tế nhị và duyên dáng ý tứ của người con gái Việt Nam tác giả
thật tinh tế khi cho người con gái im lặng để chùm hoa được giấu trong chiếc khăn tay
nói hộ lời mình. Chiếc khăn tay là kỉ vật đại diện cho lời hẹn ước sắc son của người
con gái muốn gửi đến cho người sắp ra đi và chùm hoa ấy được giấu thật kỉ lưỡng như
tuổi xuân đời con gái của em sẽ được “phong kín” để chờ ngày anh về:
“Tiễn chân anh ra đi
Em không buồn nhưng cũng nhớ
Trang 87
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Mỗi cánh chim bay qua ngoài cửa sổ
Em ước mình được vỗ cánh bay theo
(Nhớ - Hoàng Thị Minh Khanh)
Người con gái tiễn chân người trai lên đường vào mặt trận tuy không buồn vì
họ biết nỗi buồn của họ có xá gì so với “nỗi buồn” của quê hương đất nước – đó là
cảnh tan tóc chia li. Không buồn hay họ cố kìm nén cảm xúc của mình? Dù thế nào đi
chăng nữa thì nỗi nhớ vẫn sẽ luôn thường trực trong hai trái tim ấy và nó càng mãnh
liệt hơn theo năm tháng cách xa. Hằng ngày người con gái ngồi đếm thời gian hờ hững
trôi nhanh qua khung cửa sổ, để mỗi đêm về chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh “Cửa
sổ hai nhà cuối phố. Không hiểu vì sao không khép bao giờ”. Từ nỗi nhớ thương da
diết ấy cô ước muốn mình được hóa thành cánh chim để bay đến thật nhanh cùng anh
để cho thỏa nhớ thương. Nhưng ước mơ cũng chỉ là mơ ước, khi bừng tỉnh giấc thì
chúng ta phải ngỡ ngàng chua xót đón nhận sự thật và cô chỉ còn cách duy nhất là dõi
mắt về anh theo từng bước quân hành. Dù ở đâu thì họ vẫn ở bên nhau, dù chỉ là trong
nỗi nhớ xa xăm:
“Anh giờ đánh giặc nơi đâu
Chiều Vang, Vụ Bản hay vào Trị Thiên”
(Bao giờ trở lại – Hoàng Trung Thông)
Nhớ thương, cách chia là điều không ai mong muốn vì chia li mấy ai lòng
không đau. Nhưng “khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau” và giọt nước mắt của ngày
chia tay sẽ được thay thế bằng nụ cười xinh tươi trên những gương mặt rạng ngời
trong ngày chiến thắng:
“Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy
Không che được nước mắt cô đã chảy
Những giọt long lanh nóng bỏng rạng ngời
(…)
Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau”
(Cuộc chia li màu đỏ - Nguyễn Mỹ)
Hay nỗi nhớ giản dị nhưng thiết tha của người con gái quê dành cho “các anh”
– những người lính trận dù họ chỉ quen biết nhau qua những ngày bội đội dừng chân
Trang 88
bên một xóm nhỏ. Nhưng đó là một tình cảm vô cùng tha thiết và được khắc họa thành
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
nỗi nhớ và sự chờ đợi:
“Các anh đi
Khi nào trở lại
Xóm làng tôi
Trai gái vẫn chờ mong
Chờ mong chiến dịch thành công
Xác thù chất núi, bến sông đỏ cờ
Anh đi chín đợi mười chờ
Tin thường thắng trận, bao giờ về anh?”
(Bao giờ trở lại – Hoàng Trung Thông)
Họ biết biến nỗi nhớ thương chờ đợi thành lòng tin quyết thắng cho ngày mai
để nỗi nhớ thương chờ đợi của “người em xóm nhỏ” mỏi mòn chờ đợi trong chín năm
dài đằng đẵng về một tình yêu thuở nào không trở nên vô nghĩa:
“Chín năm trời anh đã mang đi
Cả tình em – xóm nhỏ”
(Nhớ - Hoàng Thị Minh Khanh)
Dù thời gian có vô tình trôi nhanh, dù người ta đã bảo thôi đừng trông ngóng
trong tuyệt vọng nhưng “riêng em thì em nhớ”. Em vẫn giữ trọn vẹn niềm tin chờ ngày
anh trở lại dù đã bốn năm trời cách biệt hay thêm bao nhiêu lâu nữa và không có tin
tức gì về anh:
“Xòe bàn tay bấm đốt
Tính đã bốn năm ròng
Người ta bảo không trông
Ai cũng nhủ đừng mong
Riêng em thì em nhớ”
(Thăm lúa – Trần Hữu Thung)
Cái vô giá của người con gái là tuổi xuân. Nó trôi đi rất nhanh và không bao giờ
trở lại. Vì thế, dù bặt vô âm tín về người yêu và chịu nhiều lời lẽ từ mọi người xung
quanh nhưng người con gái ấy vẫn sắc son một lòng chờ đợi. Họ biết vì đâu họ cách
biệt và càng hiểu rõ khi nào lại sẽ được sum vầy. Họ xa nhau vì có bóng quân xâm
Trang 89
lược và chỉ có cách duy nhất cho họ được ở bên nhau là họ phải chiến đấu để quét sạch
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
hết bóng quân xâm lược trên từng mảnh đất của đất nước. Nên dù có buồn khổ khi
phải sống xa nhau nhưng họ biết cách động viên nhau cố gắn vượt qua chờ ngày thắng
lợi thay vì cứ ngồi đó mặc cho nỗi nhớ giày xéo:
“Chúng ta cách nhau bao nhiêu dặm xanh
Chúng ta cách nhau bao nhiêu dặm lửa
Em đừng soi gương và nói chuyện với mắt mình thế nữa
Ta đang cách nhau một khoảng chết của quân thù”
(Em phương xa – Thi Hoàng)
Và họ tin vào ngày mai thắng lợi sẽ đến vì trái tim họ hướng về nhau, ý chí cả
hai hòa thành một:
“Dẫu chúng mình có ngày tháng cách chia
Dẫu chúng mình xa nhau ngàn dặm dài đất nước
Em biết giữa lòng Hà Nội đêm nay anh thức
Anh nghĩ những điều cũng giống như em”
(Mặt trời tháng tư – Ý Nhi)
Bên cạnh sự mỏi mòn chờ đợi của những cô gái đang xuân chờ người yêu chinh
chiến thì vẫn còn đó hình ảnh người “cô phụ” chờ chồng mặc cho thời gian trôi nhanh
tuổi xuân héo úa các chị vẫn tảo tần hôm sớm nuôi dạy con thơ để yên lòng người trai
ngoài mặt trận:
“Thế rồi từ bấy đến nay
Tám năm vất vả nuôi bầy con thơ
Một mình bừa sớm, cấy trưa
Đêm ru con đói lại vừa kéo bông
Xóm làng đi hết đàn ông
Đàn bà heo hút sống trong thẳm rừng
Trải bao kinh sợ hãi hùng
Phần lo Tây bắt, phần không cửa nhà”
(Kể chuyên Vũ Lăng – Anh Thơ)
Tám năm trời vất vả gian lao nuôi dạy đàn con trẻ dại trong vô vàn gian khó
nhưng các chị vẫn không một lời than vãn trách cứ bất cứ ai vì các chị biết các anh
Trang 90
ngoài mặt trận còn gian khổ gấp ngàn lần. Chính lòng cảm thông chia sẻ nên họ tự bảo
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
ban nhau vượt khó để chiến đấu cho thật tốt, mà hơn hết là phải lao động thật giỏi để
hậu phương ngày một vững chắc cho yên dạ “chinh nhân”:
“Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ
Mẹ chuyển lán, mẹ đi đạp rừng
Mẹ địu em đi để đánh trận cuối cùng
Từ trên lưng mẹ em đến chiến trường
Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn”
(Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm)
Người mẹ hát ru con trên nương hay đang tự bảo mình phải vượt khó vì thắng
lợi đang trước mắt không được để nhục ý chí chiến đấu. Hình ảnh những em bé thơ
ngây vào nông trường, vào mặt trận trên lưng những bà mẹ trẻ luôn là hình ảnh cảm
động nhất. Và bên cạnh những người mẹ may mắn còn có đứa con bầu bạn trong
những ngày chồng vắng nhà chinh chiến thì có không ít những người mẹ không có
được may mắn đó. Chiến tranh đã cướp đi của chị người chồng trong hai mươi năm và
ngày trở về của anh thì vẫn là một dấu hỏi lớn, nên chị thảng thốt khi nhìn lại mình đã
trọn vẹn với anh trong hai mươi chờ đợi và liệu mình có đủ nghị lực để vượt tiếp
chặng đường dài phía trước hay không hay phải đắm mình vì sự cám giỗ của cuộc đời.
Nhưng xóm làng và người thân đã thông cảm và sẻ chia với chị đó là một động lực to
lớn giúp chị mạnh mẽ đi tiếp chặng đường dài cùng dân tộc chiến đấu với kẻ thù xâm
lược:
“Xóm làng thương ý tứ vẫn kêu cô
Xóm làng thương không khoe con trước mặt
Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy
Chỉ sợ đắm mình vì mình còn nhan sắc”
(Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh)
Con người trong thời chiến đã một dạ đinh ninh chờ đợi nhưng đôi khi kết quả
của bao tháng năm chờ đợi lại là một sự thật nghiệt ngã đau lòng:
“Hơn mười năm xa cách
Mùa thu cau ra hoa
Trang 91
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Mùa xuân đầy vườn quả
Chờ anh, em vẫn chờ
Bây giờ anh trở lại
Mang trên mình thương tích”
(Vườn cau – Đào Cảng)
Có gì may mắn cho bằng nhìn người chồng của mình trở lại sau bao tháng năm
chinh chiến. Nhưng đó là một niềm vui không trọn vẹn vì sau cuộc chiến điêu tàn ấy
anh đã bỏ lại tuổi xuân và một phần thân thể của mình nơi chiến trường máu lửa. Rồi
đây, khi trở về với cuộc sống thường nhật với thân thể đầy vết tích của đạn bom liệu
các anh có thể nuôi sống mình và gia đình không hay lại trở thành một gánh nặng thêm
cho người vợ bé nhỏ đã quá cơ cực trong những ngày anh đi chinh chiến. Đó là nỗi
trăn trở giày vò những người trong cuộc, những người có trách nhiệm, có lương tâm
với các anh với đất nước với cuộc đời này.
3.3 Nỗi đau khi đất nước bị chia cắt
Chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi tuyệt đối buộc thực dân Pháp ngồi
vào bàn đàm phám kí kết hiệp định Giơneovơ ngày 21/7/1954. Sau ngày hiệp định
được kí kết - lấy vĩ tuyến 17 và con sông Bến Hải làm ranh giới, chia đất nước thành
hai bờ Nam – Bắc. Miền Bắc được sống trong hòa bình độc lập, tiến hành xây dựng
Chủ nghĩa xã hội đồng thời làm hậu phương chi viện sức người, sức của cho miền
Nam kháng chiến chống sự can thiệp của Mĩ – Ngụy. Cuộc sống mới với bao thành
quả lao động thiết thực hiện lên nhờ đôi bàn tay và khối óc người lao động tạo ra ngày
càng nhiều. Những cảnh đói khát thuở nào được thay bằng những cánh đồng lúa mênh
mông trĩu hạt, những con đường đầy hố bom được làm mới trải rộng thênh thang,
những công trường, nhà máy, xí nghiệp mọc lên ngày càng nhiều…hứa hẹn một cuộc
sống mới tốt đẹp hơn. Từ đây niềm tin của người nghệ sĩ vào cuộc đời ngày càng
mãnh liệt hơn. Họ hoàn toàn thoát khỏi sự “phân vân đứng giữa hai dòng nước” mà đặt
trọn vẹn niềm tin vào cuộc đời mới đang ngày một đơm hoa kết trái. Thơ ca cách
mạng giai đoạn 1955 – 1975 phản ánh sâu sắc và sinh động từng bước đổi thay trên
miền Bắc đang trên đường xây dựng CNXH. Nhưng đó là một niềm vui chưa trọn vẹn
vì miền Nam đang từng ngày từng giờ phải hứng chịu bom đạn của kẻ thù. Vĩ tuyến 17
Trang 92
- con sông Bến Hải như nhát dao vô hình chặt đôi “cơ thể” Việt Nam nên con đường
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
giải phóng dân tộc chúng ta đi được mới chỉ nửa chặng đường, phân nửa còn lại đầy
gian khổ và hi sinh:
“Đường giải phóng mới đi một nửa
Nửa mình còn trong nước lửa sôi”
(Ba mươi năm đời ta có Đảng – Tố Hữu)
Sông Bến Hải không rộng, cầu Hiền Lương không dài, vậy mà đôi bờ cách trở.
Đó là nỗi đau không thốt được nên lời:
“Sông Hiền Lương bên ấy bên này
Chống cửa giơ tay chừng với tới
Bóng mái nhà ai ngã đến đây
Chung một đò qua chung bến đợi
Như thế mà miền Nam miền Bắc,
Trăm thước mà vì sao rộng quá chừng?
Con sóng hay là dao kéo cắt
Đắng cay giọt muối lệ rưng rưng”
(Nước chảy ngang – Tế Hanh)
Chỉ đôi bờ sông nhỏ ấy vậy mà suốt hơn hai mươi năm dài phải sống cách trở
như hai thế giới xa xôi không bao giờ đến được. Lời thơ như dao cứa, kéo cắt, muối
xát vào lòng người, ai nghe mà không ngậm ngùi rưng rưng lệ? Trong suốt hơn hai
mươi năm ấy làm sao có thể vui sướng khi mỗi ngày phải chứng kiến cảnh chia li:
“Bờ nớ bờ ni trông thấy
Sao đành nón ngoắt tay đưa
Nhìn lại nhìn qua
Sao mắt đành ứa lệ”
(Sóng vỗ Cửa Tùng – Lưu Trọng Lư)
Không ứa lệ sao được khi non sông ta là một, Tổ quốc ta là một, nhưng bây giờ
làm sao chấp nhận được sự thay đổi đó. Thiên nhiên tạo vật vẫn như xưa, vẫn “trời
vẫn xanh một màu xanh Quãng Trị. Tận chân trời mây núi có chia đâu” (Nói chuyện
Hiền Lương – Tế Hanh) và bầu trời về đêm vẫn thế “sao đêm chung sáng chẳng chia
miền” (Đêm sao sáng – Nguyễn Bính)...Nhưng sao bây giờ hiện thực lại đất nước lại
Trang 93
chia phôi. Nỗi nhớ thương day dứt vẫn không nguôi trong lòng bao con người Việt
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Nam. Đó là nỗi trăn trở về sự khác biệt không đáng có trên hai bờ của một dòng sông:
“Tôi đứng bên này sông
Bên kia vùng địch đóng
Làng tôi đấy xạm đen màu tuyết đọng
Tre cau buồn tóc rũ ướt mưa sương
Màu trắng vôi lờm lợp mấy khung tường
Nếp đình xưa người hỡi đau gì không ?”
(Nhà tôi – Yên Thao)
Không đau xót sao được khi bên kia sông là quê hương ta đó, nhà ta ở đó mà
không bao giờ ta trở về nơi ấy được và hằng ngày ngày ta chỉ biết dõi mắt nhìn về nơi
ấy. Quê hương bên ấy càng đẹp thì nỗi xót xa càng lớn và nỗi căm hờn càng sâu:
“Cửa Tùng ơi Cửa Tùng
Tên đẹp như biển đẹp
Hờn sâu như biển sâu
Tôi nghe tiếng biển quê hương gầm thét
Sóng cuộn trong tim, gió chạy trên đầu”
(Cửa Tùng – Hoàng Trung Thông)
Sóng biển thét gào hay chính trái tim của mỗi con người yêu nước thương nòi
đang quặn đau, đang thét gào? Chiếc cầu Hiền Lương như ranh giới ở giữa hai đầu nỗi
nhớ Nam – Bắc. Ngày nào tập kết ra Bắc những chành trai miền Nam giơ cao hai ngón
tay trước mặt người thân ngụ ý hai năm sau sẽ trở về sau ngày hiệp thương, mà bây
giờ thấm thoát đã hai mươi năm mà đôi bờ chưa nối lại được hỏi ai không ngậm ngùi.
Đất nước ta là một vậy mà hết sức vô lí khi “đất nước Việt Nam, người Việt Nam
không bước tới” vì bọn Mĩ – Ngụy cấm đoán người ở hai đầu chiếc cầu qua lại với
nhau. Nên họ chỉ biết sống trong chờ đợi mỏi mòn:
“Mắt mải nhìn mòn cả nửa con ngươi
Thân đứng đây thân chết nửa con người
Lời tôi nói lời tôi nghe đứt đoạn”
(Sóng vỗ Cửa Tùng – Lưu Trọng Lư)
Trang 94
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Một nửa đất nước chìm trong đau thương thì cũng như một nửa thân thể con
người Việt Nam đã chết. Nỗi nghẹn ngào không thốt được thành lời, nếu có chăng
cũng chỉ là những lời đứt đoạn pha lẫn những tiếng nấc thê lương. Trong tâm khảm
mỗi con người luôn thường trực một câu hỏi: Tại vì sao đất nước chia đôi, tại vì ai dân
tộc ta khốn khổ? Câu trả lời là bởi chiến tranh và những con người tạo ra chiến tranh
mà thôi. Chỉ có chiến tranh mới mang lại cho con người bao cảnh tang tóc thê lương
như thế mà thôi.
“Hình ảnh miền Nam trong trái tim tôi”. Đó là câu nói hết sức xúc động mà lúc
sinh thời Bác vẫn thường nói. Trong khi miền Bắc đang ngày càng giàu đẹp thì miền
Nam đang phải gồng mình hứng chịu bao đau thương mất mát do chiến tranh mang lại.
Hiệp định Giơneovơ chia đôi đất nước. Con sông Bến Hải – Vĩ tuyến 17 như một nhát
dao chém đôi “cơ thể Việt Nam”. Hướng về miền Nam thân yêu – “miền Nam đi trước
về sau” cả nước hướng về đây với bao sự xót thương chia sẻ. Biết bao nỗi đau xót xa,
biết bao căm hờn được dồn nén vào những trang thơ. Đề tài lớn thứ hai của thơ ca giai
đoạn này đề tài về miền Nam thân yêu:
“Miền nam ơi vì sao mỗi lúc
Mây chiều xa bay giục cánh chim
Đêm khuya nghe một tiếng bầu, tiếng trúc
Một câu hò…cũng động trong tim”
(Miền Nam – Tố Hữu)
Miền Nam thân yêu thiết tha với tiếng bầu, tiếng trúc mỗi đêm khuya trỗi lên
như gieo vào lòng tác giả bao nỗi xót xa cay đắng về một nửa quê hương đang chìm
trong máu lửa. Nên tâm hồn ông luôn luôn trăn trở phân vân giữa việc “muốn viết
những dòng thơ tươi xanh” hay những vần thơ máu lửa cho miền Nam, giữa ca ngợi
“Hà Nội dập dìu rộn rã đường vui” nhưng tận đáy lòng ông “có thể nào yên”, “có thể
nào nguôi”, “có thể nào khuây” và “có thể nào quên”. Nên từng giờ từng phút từng
giây nhà thơ luôn trông ngóng tin từ miền Nam thân yêu:
“Có thể nào nguôi từng viên đạn Mĩ
Bắn miền Nam, nát thịt da xương tủy
Của mẹ cha, đồng chí, vợ con
Anh chị em ta, ai mất, ai còn?
Trang 95
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Hôm nay sáng mát trong, trời lặng
Hai mươi tám máy bay lên thẳng
Của lục quân lính thủy Mĩ, đi càn
Cách Sài Gòn 35 dặm phía Nam…
(Có thể nào yên – Tố Hữu)
Mỗi một quả bom rơi vào lòng miền Nam, mỗi một người miền Nam ngã xuống
dưới gót giày của bọn ngoại xâm như mỗi chiếc dao cắt vào trái tim nóng bỏng của Tố
Hữu. Ông nghẹn ngào nhưng không khóc vì ông biết giọt nước mắt chỉ dành cho ngày
thắng trận, cho ngày hòa bình thống nhất:
“Ta biết em rất khỏe, tim ơi
Không khóc đấy. Mà sao nóng bỏng”
(Bài ca xuân 61 – Tố Hữu)
Có phải vì nỗi đau quá lớn nên không thể bậc thành tiếng khóc mà giọt nước
mắt đã chảy ngược vào hồn, hay giọt nước mắt chỉ “để dành cho ngày gặp mặt”
(Chúng con chiến đấu – Nam Hà)? Nhưng những mất mát hi sinh của miền Nam vẫn
đang làm quặn thắt trái tim của Tố Hữu trong suốt chín năm ròng chờ đợi:
“Có ai biết ba ngàn đêm ấy
Mỗi đêm là biết mấy thân rơi
Có ai biết bao nhiêu máu chảy
Máu miền Nam hơn chín năm rơi”
(Miền Nam – Tố Hữu)
Trong nỗi vui mừng khi những thành quả ban đầu của chế độ đang mang lại cho
nhân dân miền Bắc thì vẫn còn đó nỗi đau xé lòng người khi miền Nam vẫn chìm
trong máu lửa. Cả dân tộc hướng về đây với nỗi xót thương chia sẻ bằng cả tấm lòng:
“Những ngọn đèn không bao giờ nhắm mắt
Như những tâm hồn không bao giờ tắt
Như miền Nam
hai mươi năm
không đêm nào ngủ được,
Như cả nước
Với miền Nam
Trang 96
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Đêm nào cũng thức”
(Ngọn đèn đứng gác – Chính Hữu)
Đó có thể là Trà Vinh mảnh đất kiên trung trong chiến đấu và hết sức thiết tha
nghĩa tình:
“Trà Vinh nay thịt nát máu sa
Ta theo dõi tin từng giây từng phút
Như đứa con, mẹ ngày đêm chăm chút
Như mẹ hiền, con sớm tối hỏi han
Trà Vinh đau, ta đau xé tim gan”
(Trà Vinh thương nhớ - Vân Đài)
Đó là nỗi đau như chính nỗi đau trên cơ thể mình phải gánh chịu. Nỗi nhớ
thương được vọng về từ miền Bắc xa xôi sau ngày đi tập kết. Ngày chia li vì biết bao
niềm thương giấu kín nên bây giờ giật mình thảng thốt khi chợt nhớ tới:
“Mẹ còn không hỡi mẹ?
Nhiều đêm thức giấc giữa canh khuya
Nhớ quê hương, nghĩ đến cảnh phân chia
Con lại hỏi:
Mẹ còn không hỡi mẹ?
(Mẹ mãi còn – Tế Hanh)
Cả người ra đi lẫn người ở lại đều thấu hiểu vì đâu mà có cảnh thương nhớ phân
chia, vì đâu mà quê hương khói lửa nên lòng người càng quyết chí ra đi chiến đấu cho
ngày mai sum hợp. Từ nỗi nhớ thương da diết họ đã biến nó thành sức mạnh để vượt
qua tất cả để chiến đấu và chiến thắng vẻ vang nhất:
“Con cảm thấy dồi dào thêm sức mạnh
Mẹ đã chấp cho hồn con thêm cánh
Mẹ mãi còn
Ở giữa trái tim con”
(Mẹ Mãi còn – Tế Hanh)
Từ những nhớ thương về một nửa quê hương đang ngày đêm bị bom đạn của kẻ
thù giày xéo nó đã biến thành lòng căm thù giặc sâu sắc và mãnh liệt. Nó kết thành
Trang 97
một làn sóng to lớn và vô cùng mạnh mẽ quyết chí tiêu diệt quân thù dù trong bất cứ
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
hoàn cảnh nào và phải chịu trả giá như thế nào:
“Gươm nào chém được sông Bến Hải?
Lửa nào thiêu được dãy Trường Sơn?
Căm hờn lại giục căm hờn
Máu kêu trả máu đầu van trả đầu”
(Ba mươi năm đời ta có Đảng – Tố Hữu)
Lời thơ thật hùng hồn, thật đanh thép một lần nữa khẳng định niềm tin tất thắng
của chúng ta ở tương lai. Dẫu hiện tại chúng ta có mất mát, có hi sinh nhưng ngày
chiến thắng nhất định đến, ngày cả dân tộc hòa chung lời ca đang ở rất gần phía trước.
Tình yêu và nỗi nhớ là hai thứ quý giá nhất của con người thời chiến mà không có gì
có thể dập tắt được. Dẫu hiện tại ở hai bờ chiến tuyến nhưng họ vẫn nhớ về nhau, vẫn
mong ngày gặp mặt và nỗi khao khát ấy len lỏi vào những giấc mơ của người cô phụ
nơi hậu phương:
“Đêm qua em vượt tuyến
Ra miền Bắc thăm anh
Bao nhiêu ngày mong đợi
Em đi nhanh thật nhanh
…
Gục vào anh em khóc
Năm năm rồi anh ơi!
Ghì em anh ôm chặt
Muốn nói bao nhiêu lời”
(Vượt tuyến – Thanh Hải)
Dù bị chia cắt ngăn đôi đất nước nhưng hai miền vẫn chung một đất nước, con
người vẫn sống trọn tin yêu chờ ngày thống nhất Tổ quốc. Vượt qua mọi giới hạn về
không gian và thời gian tình yêu và niềm tin vẫn luôn cháy bỏng trong mỗi trái tim con
người Việt Nam thời ấy để đủ nghị lực vượt qua khó khăn gian khổ mà dành thắng lợi
tuyệt đối với kẻ thù hùng mạnh nhất.
Trang 98
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
PHẦN KẾT LUẬN
…..…
Hiện thực đất nước trong ba mươi năm kháng chiến là đầy ắp những gian khổ,
mất mát và hi sinh. Do đó, thơ ca cách mạng không chỉ có những vần thơ như tiếng
kèn xung trận, cổ vũ chiến đấu và củng cố niềm tin mà nên phản ánh chân thực hiện
thực chiến tranh với bao hệ quả tất yếu của nó. Nghĩa là đề cập đến những mất mát hi
sinh trong chiến tranh mà nhân dân ta phải gánh chịu. Nói như thế không đồng nghĩa
với việc phản ánh trần trụi hiện thực chết chóc trong chiến tranh theo kiểu sao chép
nguyên xi: “Đứa đứt bay đầu. Đứa nhào lộn óc. Đứa phụt máu tanh. Đứa xanh mắt ốc”
(Trận phục kích đèo Hải Vân – Khương Hữu Dụng). Những vần thơ như thế gây phản
cảm lớn và mang tư tưởng hiếu chiến. Lúc này thơ ca cách mạng phải gánh vác một
trọng trách thật lớn lao là tái hiện chân thực hiện thực chiến tranh nhưng không làm
mất đi bản chất thẩm mĩ trong thơ ca. Lúc ấy ngoài thiên chức là “làm lạ hóa thế giới
này”, thơ ca cách mạng còn là công cụ hữu hiệu trong chiến đấu trên mặt trận tư
tưởng. Vì thế đó là bài toán khó, là nỗi trăn trở lớn của không ít nhà thơ lúc bấy giờ.
Thật khó khi viết về cái chết, những mất mát hi sinh mà không làm suy giảm ý
chí chiến đấu của các quân nhân. Nghĩa là, tái hiện cái bi trong thơ làm sao cho người
đọc thấy được đó là cái bi hùng, bi tráng chứ không phải là bi ai bi lụy. Khi nhà thơ
nào thỏa mãn được yêu cầu đó thì họ đã làm được điều “mỗi vần thơ bom đạn phá
cường quyền”.
Đồng thời, việc tái hiện những mất mát hi sinh trong chiến tranh qua từng trang
thơ còn là trách nhiệm, lương tâm của người cầm bút:
“Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó?
Tôi! Tôi - người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!
Trang 99
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Ai chịu trách nhiệm vậy?
Lại chính là tôi!
Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời
Tôi ú ớ
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười”
(Ai? Tôi – Chế Lan Viên)
Trách nhiệm vì thơ ca cách mạng là người thư kí tận tụy trung thành nhất của
thời đại. Nó len lõi vào từng ngõ ngách của lịch sử xã hội để phản ánh chân thực và
thêm vào đó là cái nhìn chủ quan của con người trong hoàn cảnh ấy, điều mà các sử
gia chưa làm được. Thơ ca cách mạng phải tái hiện thật sinh động và chân thực nhất
hoàn cảnh lịch sử đất nước Việt Nam trong chiến tranh, tâm hồn con người Việt Nam
trong thực tại chiến tranh qua từng trang thơ. Ngoài ra, đó còn là lương tâm của những
người còn sống phải viết cho thật, cho đầy đủ, cho đúng những hành động, tâm tư, suy
nghĩ, mơ ước…của những người đã ngã xuống. Vì họ đã không được hưởng cảm xúc
hân hoan của ngày chiến thắng và nói những lời chúc tụng nhau.
Đất nước ta sau hơn ba mươi năm độc lập đã thay đổi rất nhiều, ngày càng giàu
đẹp hơn. Dấu tích và vết thương chiến tranh đã lắng sâu vào quá khứ nhưng chúng ta
không được phép quên lãng quá khứ hào hùng mà ông cha đã viết bằng máu và nước
mắt. Chúng ta mãi mãi tôn vinh và tri ân những con người anh hùng đã khuất dù
không ít người mãi mãi nằm lại nơi chiến trường xa xôi không một nấm mộ, không
một dòng tin địa chỉ:
“Và chiến tranh vẫn là chiến tranh
Nào ai mong nhận cái chết đến cho mình
…
Thơ tôi viết giờ in trong sách vỡ
Người ta đọc. Có thể người ta nhớ
Nhưng vì sao bia mộ các anh nằm?
Trang 100
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
Vẫn đời đời lặng lẽ ghi: Vô danh…”
(Vô danh – Ngô Kế Oanh)
Trách nhiệm, lương tâm của người cầm bút là phải nói cho mọi người biết, nhắc
cho nhớ về quá khứ - cái quá khứ vẻ vang của dân tộc trong ba mươi năm kháng chiến
đối mặt với kẻ thù hùng mạnh và thâm độc. Và những con người hôm nay được hưởng
trọn vẹn một cuộc sống hòa bình không chiến tranh phải có trách nhiệm với quá khứ,
với những người đã ngã xuống vì độc lập dân tộc. Họ phải sống, học tập và lao động
thật tốt, đạt được những thành quả tốt đẹp cho đất nước. Đó là để xứng đáng với công
lao của những người đi trước, những người đã ngã xuống cho thế hệ hôm nay được
sống trong hòa bình hạnh phúc.
Trang 101
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lại Nguyên Ân – 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội - 2003
2. Tào Văn Ân - Giáo trình mĩ học đại cương, Đại học Cần Thơ - 2003
3. Nguyễn Duy Bắc – Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại 1945 –
1975, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội - 1998.
4. Nguyễn Hoa Bằng – Giáo trình mĩ học đại cương, Đại học Cần Thơ - 2003
5. Nguyễn Lâm Điền, Trần Văn Minh – Văn học Việt Nam 1945 – 1975, Cần Thơ
- 2004.
6. Phan Cự Đệ - Văn học Việt Nam thế kỉ XX, NXB Giáo dục - 2004.
7. Hà Minh Đức – Khảo luận văn chương, NXB KHXH, Hà Nội - 1997
8. Hà Minh Đức - Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, NXB khoa học
xã hội, Hà Nội - 1974 (NXB Giáo dục, tái bản - 1998)
9. Hà Minh Đức – Lí luận văn học, NXB Giáo dục - 2000.
10. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) – Từ điển thuật
ngữ văn học, NXB Giáo dục - 2004.
11. Nguyễn Bá Hành - Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam, NXB Văn học -
1996.
12. Mã Giang Lân – Văn học hiện đại Việt Nam mấy vấn đề - tác giả, NXB Giáo
dục - 2005
13. Huỳnh Lí, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Trác, Trần Hữu Tá – Lịch sử văn học
14. Nguyễn Văn Long – Về cách tiếp cận để đánh giá văn học Việt Nam sau Cách mạng
tháng Tám – in trong 50 năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng tám – NXB .
ĐHQG – Hà Nội – 1996
Việt Nam, tập IV phần I, NXB Giáo dục - 1980.
15. Nguyễn Văn Long – Thơ giai đoạn 1945 – 1975, tiến trình và các khuynh
hướng, NXB Giáo dục Hà Nội – 2003
16. Phương Lựu – Lí luận văn học, NXB Giáo dục - 1987.
17. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) - Lịch sử văn học Việt Nam 1945 – 1975 (tập 1),
NXB Giáo dục Hà Nội - 1990.
18. Trần Đăng Suyền – Nhà văn hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo, NXB Văn
học Hà Nội - 2003.
Trang 102
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
19. Trần Đình Sử - Những thế giới nghệ thuật thơ, NXB Giáo dục Hà Nội - 1997.
20. Hoàng Trung Thông (chủ biên) - Văn học Việt Nam chống Mĩ cứu nước, NXB
KHXH Hà Nội - 1979.
21. Vũ Duy Thông - Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945 – 1975, NXB
Giáo dục Hà Nội - 1998.
23. Nhiều tác giả - Vẻ đẹp văn học cách mạng, NXB Giáo dục, Hà Nội - 2006
24. Nhiều tác giả - Một phần lịch sử Việt Nam qua thơ, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội
- 2006
25. Nhiều tác giả - 50 năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám, NXB Đại học
quốc gia Hà Nội
22. Nhiều tác giả - Nhà thơ Việt Nam hiện đại, NXB KHXH Hà Nội - 1984.
26. Trang web: http://www.maxreading.com
27. Trang web: http://www.tapchisonghuong.com.vn
28. Trang web: http://www.vannghesongcuulong.com.vn
29. Trang web: http://www.thivien.net
30. Trang web: http://www.qdnd.vn
31. Trang web: http://100years.vnu.edu.vn
Trang 103
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU Trang
1. Lí do chọn đề tài……………………………………………………. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề………………………………………….. 2
3. Mục đích, yêu cầu…………………………………………………... 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………….. 6
5. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………… 7
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cái bi – Những vấn đề lí luận
1.4 Cái bi – Một phạm trù Mĩ học…………………………………….. 8
1.5 Cảm hứng về cái bi trong văn chương……………………………. 15
1.6 Mâu thuẫn, xung đột của cái bi trong nghệ thuật…………………..18
1.4 Hoàn cảnh lịch sử dẫn tới sự ra đời của cái bi…………………… .19
Chương 2: Cái bi trong thơ ca cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975
2.1 Cảm nhận về sự khốc liệt của chiến tranh………………………….33
2.2 Nỗi đau về sự hi sinh mất mát…………………………………….. .43
2.3 Nỗi nhớ nhung của người lính trận…………………………………60
Chương 3: Cái bi trong thơ ca cách mạng về đề tài hậu phương
3.1 Hình ảnh người mẹ trông con………………………………………78
3.2 Sự mỏi mòn chờ đợi của người yêu, người vợ……………………..82
3.3 Nỗi đau khi đất nước bị chia cắt……………………………………88
PHẦN TỔNG KẾT……………………………………………………95
Trang 104
Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên
LỜI NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………..
Trang 105

