Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA SƯ PHẠM BỘ MÔN SƯ PHẠM NGỮ VĂN ------o0o-----

NGUYỄN HOÀNG THIÊN

CÁI BI TRONG THƠ CA CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI

ĐOẠN 1945 – 1975

Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành Sư phạm Ngữ Văn Cán bộ hướng dẫn: ThS TRẦN VĂN MINH

Cần Thơ, tháng 5/ 2010

Trang 1

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

LỜI CẢM ƠN

Chặng đường dài bốn năm Đại học đã dần lui về phía cuối. Việc thực hiện một

đề tài luận văn tốt nghiệp là một trong các học phần bắt buộc trong chương trình đào

tạo tại bậc học Đại học. Hơn thế nữa, đó còn là một ước mơ, một vinh dự của biết bao

sinh viên trong suốt thời gian ở giảng đường Đại học. Cá nhân tôi cũng rất vui khi

được nghiên cứu đúng đề tài mà mình yêu thích, đó là thực hiện nghiên cứu đề tài

“Cái bi trong thơ ca cách mạng Việt Nam 1945 – 1975”.

Vì đây là lần đầu tiên tôi độc lập thực hiện nghiên cứu một công trình có quy

mô lớn nên việc gặp khó khăn và thiếu sót là điều khó tránh khỏi. Trở ngại đầu tiên

phải kể đến là do hạn chế về năng lực bản thân (kiến thức và khả năng độc lập nghiên

cứu còn kém cỏi). Nhưng nhờ sự hỗ trợ của các bạn, sự tìm tòi khám phá của bản thân

và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy Trần Văn Minh, tôi dần vượt qua những

vướng mắc để hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp của mình.

Bốn năm trên giảng đường Đại học tôi đã tích lũy được nhiều điều bổ ích từ

kiến thức đến nhân cách. Luận văn tốt nghiệp được coi như là kết quả đánh giá cuối

cùng về những gì mà tôi làm được ở Đại học. Thông qua luận văn này, tôi xin chân

thành gửi lời biết ơn sâu sắc nhất đến quý thầy cô trong trường Đại học Cần Thơ nói

chung và quý thầy cô ở bộ môn Sư phạm Ngữ Văn nói riêng đã nhiệt tình dìu dắt và

truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập. Đặc biệt, tôi xin chân thành

biết ơn thầy Trần Văn Minh – người trực tiếp ra đề tài và hướng dẫn tôi hoàn thành

luận văn này.

Chân thành cám ơn!

Cần thơ, tháng 5/2010.

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Hoàng Thiên

Trang 2

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3. Mục đích, yêu cầu

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5. Phương pháp nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: Cái bi – Những vấn đề lí luận

1.1 Cái bi – Một phạm trù Mĩ học

1.1.1 Khái niệm cái bi

1.1.2 Bản chất thẩm mĩ của cái bi

1.1.3 Các dạng thức khác nhau của cái bi

1.2 Cảm hứng về cái bi trong văn chương

1.3 Mâu thuẫn, xung đột của cái bi trong nghệ thuật

1.4 Hoàn cảnh lịch sử dẫn tới sự ra đời của cái bi

1.4.1 Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam những năm 1945 – 1975

1.4.2 Những chặng đường phát triển của thơ ca cách mạng

Chương 2: Cái bi trong thơ ca cách mạng Việt Nam về đề tài chiến tranh

giai đoạn 1945 – 1975

2.1 Cảm nhận về sự khốc liệt của chiến tranh

2.2 Nỗi đau về sự hi sinh mất mát

2.2.1 Nỗi đau về sự hi sinh mất mát của đồng chí, đồng đội

2.2.2 Nỗi đau về sự hi sinh mất mát của đồng bào, người thân

2.3 Nỗi nhớ nhung của người lính trận

2.3.1 Nỗi nhớ quê hương, gia đình, người yêu

2.3.2 Tình đồng chí, đồng đội

Chương 3: Cái bi trong thơ ca cách mạng về đề tài hậu phương

giai đoạn 1945 – 1975

Trang 3

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

3.1 Nỗi lòng của người mẹ trông con

3.2 Sự mỏi mòn chờ đợi của người yêu, người vợ

3.3 Nỗi đau khi đất nước bị chia cắt

PHẦN KẾT LUẬN

Tài liệu tham khảo

Mục lục

Nhận xét của cán bộ hướng dẫn

Trang 4

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

PHẦN MỞ ĐẦU

…..…

1. Lí do chọn đề tài

Ngày 02 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Hồ Chí Minh đã

đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở ra một kỉ

nguyên mới cho dân tộc Việt Nam – kỉ nguyên độc lập, tự do. Từ đó cho đến ngày độc

lập thống nhất tổ quốc (ngày 30/4/1975) là ba mươi năm dân tộc ta phải trường kì

kháng chiến. Trong chín năm kháng chiến chống Pháp rồi đến hơn hai mươi năm

kháng chiến chống Mĩ – Ngụy, hết kẻ thù này đến kẻ thù khác luôn muốn thôn tín và

cướp nước ta bằng mọi giá. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là mốc son chói lọi khép lại

chặng đường ba mươi năm chiến đấu và chiến thắng một cách anh hùng của cả dân tộc

ta. Tuy có nhiều đau thương mất mát nhưng hết sức vẻ vang và đáng tự hào.

Ba mươi năm đã trôi qua, ba mươi năm chỉ là cái chớp mắt của lịch sử nhưng

đủ để một thế hệ trưởng thành, một thế hệ không biết đến chiến tranh nhìn nhận đánh

giá nền văn học chiến tranh và cũng đủ để các thế hệ trưởng thành trong chiến tranh

nhìn nhận lại, đánh giá lại nền văn học cách mạng trong giai đoạn vừa qua – giai đoạn

1945 – 1975, đặc biệt là thơ ca cách mạng.

Tội ác của kẻ thù xâm lược trong suốt ba mươi năm đau thương ấy đã gây ra

không biết bao nhiêu cảnh tang thương chết chóc. Biết bao nhiêu máu, nước mắt và

tính mạng của đồng bào, chiến sĩ ta đã ngã xuống dưới gót giày xâm lược. Nên dù

muốn hay không thì hiện thực chiến tranh với bao mất mát kèm theo đã, đang và sẽ

hằn sâu trong tâm hồn mỗi con người, mỗi trang viết của các thi sĩ Việt Nam. Theo

bước đi của lịch sử, văn học nói chung và thơ ca nói riêng đã phản ánh chân thực và vô

cùng xúc động về nỗi đau của một thời mất nước này. Đề tài Cái bi trong thơ ca cách

mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 đã gây cho người viết rất nhiều suy nghĩ và

cảm xúc. Vì thế người viết muốn tìm hiểu sâu và rộng hơn để có cái nhìn khách quan

và hiểu biết thêm về lịch sử, về tâm tư tình cảm con người Việt Nam trong cuộc chiến

không cân sức với của kẻ thù xâm lược.

Trang 5

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Thời kì 1945 – 1975 là ba mươi năm văn học Việt Nam đạt được nhiều thành

công rực rỡ, nhất là thơ ca cách mạng với những nhà thơ xuất sắc như: Tố Hữu, Chế

Lan Viên, Huy Cận…Nhiều công trình nghiên cứu về thơ ca cách mạng Việt Nam giai

đoạn này ra đời, có thể điểm qua những công trình nổi tiếng như: Bản sắc dân tộc

trong thơ ca Việt Nam hiện đại 1945 – 1975, (Nguyễn Duy Bắc, NXB Văn hóa dân tộc

Hà Nội 1998), Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945 – 1975 (Vũ Duy Thông,

NXB Giáo dục Hà Nội 1998), Giáo trình văn học Việt Nam 1945 – 1975 (Nguyễn

Lâm Điền, Trần Văn Minh, Đại học Cần Thơ 2004), Thơ ca chống Mĩ cứu nước (Hà

Minh Đức, NXB Giáo dục 1984), Văn học Việt Nam 1945 – 1975, tập 1 (Nguyễn

Đăng Mạnh, chủ biên NXB Giáo dục 1988), …Hầu hết những công trình này đi sâu

khái quát cả một thời kì văn học và các giả tiêu biểu cho những thành tựu và bước đầu

nêu lên những đặc điểm khái quát của nền thơ ca cách mạng Việt Nam.

Trong quyển Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945 – 1975 của tác giả

Vũ Duy Thông đã trình bày khá sắc nét về những quan điểm xung quanh cái đẹp trong

thơ ca cách mạng Việt Nam những năm 1945 – 1975. Ông đã có những nhận định,

phân tích sâu sắc về mối quan hệ hữu cơ của sự kết hợp hài hòa giữa cái đẹp với cái

cao cả, cái hùng, cái bi. Trong đó, tác giả còn chỉ rõ: “Mạch chính của thơ ca kháng

chiến là thể hiện cái hùng nhưng không hề lảng tránh cái bi. Hơn thế nữa, thơ kháng

chiến còn phản ánh cái bi ở nhiều dạng khác nhau, tạo được những rung động thẩm mĩ

lâu bền trong lòng người đọc. Cái bi trong thơ kháng chiến là sự thất bại tạm thời ở

một số phận, một thời điểm trên tinh thần lạc quan cách mạng, lòng tin tất thắng vào

cuộc kháng chiến” [tr79]. Ngoài những lí luận trên, ông còn đi sâu vào phân tích

những biểu hiện của cái bi trong thơ kháng chiến. “Cái bi trong thơ kháng chiến không

dừng lại ở tái hiện những mất mát hi sinh của đồng chí, đồng bào. Các nhà thơ còn

khai thác những bi kịch trong đời sống cá nhân”[tr80]. Và đặc biệt Vũ Duy Thông đã

chỉ ra cái mới mẻ của cái bi trong thơ kháng chiến. “Đó là bi kịch mang dấu ấn thời

đại: Chính nghĩa nhưng yếu kém về sức mạnh vật chất phải trả giá đắt để đánh bại cái

phi nghĩa dựa vào sức mạnh vật chất để tồn tại”.[tr83]. Ngoài ra còn có một phần

tuyển trên 200 bài thơ tiêu biểu của các tác giả được sáng tác trong giai đoạn này. Tuy

Trang 6

nhiên, Vũ Duy Thông chỉ dừng lại ở việc chỉ ra những biểu hiện của cái bi trong thơ

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

kháng chiến mà không nhận định đánh giá và làm rõ nó bằng việc lấy dẫn chứng cụ

thể và phân tích nó.

Những thế giới nghệ thuật thơ là một trong những công trình nghiên cứu có giá

trị của Trần Đình Sử. Tác giả có những nhận xét hết sức xác đáng về nghệ thuật thơ ca

cách mạng: “Về mặt nghệ thuật thơ ca cách mạng đã sáng tạo ra một thế giới sử thi

độc đáo” [tr.100]. Cũng theo ông: “Thế giới sử thi cũng có tình yêu đôi lứa, nhưng

tình yêu nam nữ ấy mang nội dung Tổ quốc” [tr.101]. Và Trần Đình Sử lại khẳng định

thơ ca cách mạng mang “Một thế giới sử thi đậm đặc, các giới hạn cá nhân bị phá vỡ

để hòa chung trong cuộc sống lớn” [tr.102].

Bài viết Nhìn lại thơ kháng chiến 1945 – 1975 của Nguyễn Thị Minh Giới

(đăng trên trang web: Www.hcmussh.edu.vn) đã đưa ra những lí do thích đáng nhất để

chúng ta phải nhìn nhận lại những giá trị của thơ ca giai đoạn 1945 – 1975 theo quan

điểm và góc nhìn mới phù hợp hơn. Trong bài viết tác giả đã trích dẫn những ý kiến

của các nhà phê bình văn học hết sức xác đáng. Trong đó có ý kiến của Trần Đình Sử:

“Do nhu cầu đổi mới bức thiết của văn học trong công cuộc đổi mới chung của đất

nước, cũng như do khát vọng thiết tha muốn tự vượt lên chính mình trong thời kỳ

mới”. Và như vậy, việc nhìn nhận, đánh giá lại văn học cách mạng giai đoạn này là

cần thiết. Vấn đề là để nhìn nhận và đánh giá lại nền văn học giai đoạn này đã nảy sinh

rất nhiều ý kiến, không trùng khớp nhau, thậm chí phủ định nhau. “Bên cạnh việc

khẳng định nền văn học cách mạng giai đoạn này mà những nhược điểm được nhận

thức sâu sắc hơn, một số hiện tượng văn học từng được đánh giá cao nay không còn

được giữ nguyên kích thước như cũ”. Cũng có ý kiến cho rằng văn học 1945 – 1975 là

“một khúc gãy làm gián đoạn tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc đã được dấy lên

từ đầu thế kỷ, nhất là giai đoạn 1930 – 1945, mà mãi tới sau 1986 mới lại được tiếp

nối”. Ý kiến này có lẽ xuất phát từ việc đem “đối lập tuyệt đối giữa cá nhân và cộng

đồng, giữa ý thức xã hội và ý thức nhân bản – đó là sự đề cao ý thức cá nhân, chú

trọng đến việc khám phá cái tôi mà xem nhẹ ý thức cộng đồng”. Cũng có ý kiến cho

rằng, văn học giai đoạn này là văn học “hi sinh nghệ thuật” vì nó phục vụ mục đích

chính trị cách mạng. Dường như việc phục vụ chính trị, cổ vũ và tuyên truyền là tất cả

giá trị của nền văn học này. Và cũng có ý kiến cho rằng nền văn học này đã “lạm dụng

Trang 7

nguyên lý phản ánh, cốt ghi chép cho nhiều người thật, việc thật” và giá trị đích thực

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

của văn học chủ yếu là ở phương diện tư liệu, đời sống.

Trong Thơ ca chống Mĩ cứu nước, Hà Minh Đức đã khái quát quá trình phát

triển, đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thơ ca thời chống Mĩ. Ông đề cao chất

lượng của các tác phẩm thơ: “Thơ đánh Mĩ mang theo nhiều phẩm chất đẹp, vừa giàu

lí tưởng vừa giàu chất hiện thực, có bề rộng của cuộc đời lẫn chiều sâu của tâm trạng,

có những tìm tòi sáng tạo trong nội dung và hình thức nghệ thuật” [tr.5]

Trong bài viết Về một đặc điểm của thơ Việt Nam từ 1955 – 1975, Trần Đăng

Xuyền nhận định: “Khuynh hướng chủ đạo của thơ Việt Nam 1955 – 1975 là tập trung

thể hiện những vấn đề, những sự kiện có ý nghĩa lịch sử và tính cách toàn dân tộc. Vấn

đề riêng tư của mỗi cá nhân bị lu mờ đi trước những vấn đề chung của đất nước, mang

ý nghĩa vận mệnh chung cho cả cộng đồng. Con người được tập trung nhìn nhận chủ

yếu ở phương diện cống hiến và lí tưởng. Khuynh hướng đó không chỉ tạo nên những

nhân vật mang đậm trữ tình mang đậm tính cách cao cả, những hình ảnh nhân vật và

Tổ quốc có sức khái quát cao mà còn tạo ra hàng loạt những mô típ nội dung quen

thuộc: Tình yêu đẹp nhất là tình yêu quê hương đất nước; hi sinh vì Tổ quốc là cao cả

nhất mang tính vĩnh hằng; cuộc sống của con người có ý nghĩa nhất khi hòa mình vào

dòng thác nhân dân; đường ra trận là con đường vui nhất và đẹp nhất…Tất cả những

điều đó được các nhà thơ viết bằng cảm hứng sôi nổi, mãnh liệt mang ý nghĩa khẳng

định, ca ngợi, tự hào” [tr.264]

Năm 1988, nhà xuất bản Giáo dục đã cho in quyển Văn học Việt Nam 1945 –

1975, tập 1, Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên. Đây là công trình mang tính khái quát

những đặc điểm chung của văn học 1945 – 1975. Trong chương 1 khi trình bày về

“những đặc điểm cơ bản của nền văn học mới”. Tác giả đã khẳng định rằng một trong

những nét riêng của nền văn học ba mươi năm chiến tranh này là “xu hướng sử thi hóa

là chủ đạo, chi phối từ tiểu thuyết, thi ca cho đến kịch bản sân khấu” [tr.20]. Ý kiến

này đã khẳng định thơ ca nói riêng và văn học 1945 – 1975 nói chung, đó là xu hướng

sử thi hóa. Tuy nhiên, Nguyễn Đăng Mạnh chỉ dừng lại ở việc nêu ra ý kiến cá nhân

chưa đưa ra những dẫn chứng, chi tiết cụ thể làm thuyết phục độc giả.

Trang 8

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Nguyễn Văn Long trong quyển Văn học Việt Nam trong thời đại mới đã tập hợp

những bài tiểu luận nghiên cứu chủ yếu tập trung trong giai đoạn văn học 1945 – 1975.

Trong quyển sách này tác giả trình bày gồm ba phần. Ở phần một có đoạn: “Quan

niệm nghệ thuật về con người trong văn học chống Mĩ cứu nước là sự tiếp tục của

quan niệm con người trong văn học hai mươi năm trước đó, nhưng được tập trung vào

hướng lớn và đi tới đỉnh cao của nó là con người sử thi” [tr.37]. Ở phần hai, “Thơ giai

đoạn 1945 – 1975, tiến trình và các khuynh hướng” tác giả đã trình bày khá rõ nét và tỉ

mỉ về những đặc điểm nội dung, đặc biệt là các khuynh hướng nghệ thuật của thơ ca

cách mạng giai đoạn này. Ngoài ra ông còn chỉ rõ thơ ca 1945 – 1975 ngoài khuynh

hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn vẫn là một yếu tố hết sức quan trọng. Nó là một trục

song hành với khuynh hướng sử thi chạy suốt chiều dài lịch sử văn học: “Cảm hứng

lãng mạn đã nâng đỡ con người Việt Nam có thể vượt lên mọi thử thách, trong máu

lửa chiến tranh đã hướng tới ngày chiến thắng, trong gian khổ cơ cực đã nghĩ tới ngày

ấm no, hạnh phúc” [tr.13].

Trong quyển giáo trình Văn học Việt Nam 1945 – 1975 Nguyễn Lâm Điền và

Trần Văn Minh đã trình bày khá rõ nét về những thành tựu nổi bật của thơ ca qua các

chặng đường phát triển. Như chúng ta đã biết “Cách mạng tháng Tám thành công đã

mở ra một chân trời mới cho sự sáng tạo thơ ca. Ở buổi đầu tuy còn có sự ngỡ ngàng

và chưa bắt kịp được bước đi của thời đại nhưng đối với các nhà thơ sự đổi thay ấy

thật kì diệu và thiêng liêng biết bao nhiêu, để rồi họ gắn bó ngày một sâu sắc hơn với

Tổ quốc và cuộc đời mới” [tr.5]. Hay “Thơ kháng chiến xuất hiện khá phong phú, đa

dạng và luôn có mặt trong đời sống tinh thần của quần chúng. Quần chúng đến với thơ

để gửi gắm giải bày những tình cảm và nhận thức của mình trước hiện thực đời sống

kháng chiến…”. Có thể nói đây là thời kì mà thơ ca đạt được những thành tựu rực rỡ

nhất: “Với những lẽ trên, lực lượng sáng tác thời kì này ngày một thêm đông đảo. Hầu

hết các nhà thơ trong phong trào Thơ mới đều tham gia cách mạng, đến với cuộc

kháng chiến toàn dân tộc như: Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Tế

Hanh, Nguyễn Bính, Anh Thơ…Chính từ hiện thực cuộc sống đó họ có bước chuyển

mạnh mẽ cả về tình cảm cũng như nhận thức để rồi “từ thung lũng đau thương đến với

cánh đồng vui” và nhận rõ con đường tất yếu để trở thành nhà thơ của nhân dân, sáng

tác để phục vụ đời sống kháng chiến” [tr.7].

Trang 9

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Ngoài những công trình đã nêu trên, còn rất nhiều công trình nghiên cứu và các

bài viết về thơ ca trong giai đoạn 1945 – 1975. Tuy nhiên, chưa có một bài viết hay

một công trình nào đi sâu và đủ sức khái quát vào từng khía cạnh của văn học viết về

đề tài Cái bi trong thơ ca cách mạng Việt Nam 1945 – 1975. Người viết không cho

đó là một khó khăn thách thức với bản thân mình. Ngược lại, đây là cơ hội để người

viết có thể trình bày những quan điểm, hiểu biết của mình. Những công trình nghiên

cứu ở trên một phần đã giúp người viết xác định đúng hướng đi và hoàn thành tốt luận

văn của mình.

3. Mục đích, yêu cầu

Từ trước tới nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ ca cách mạng giai

đoạn 1945 – 1975 nhưng đề Cái bi trong thơ ca cách mạng 1945 – 1975 thì vẫn chưa

có công trình nghiên cứu nào đủ sức thuyết phục và làm rõ cốt lõi vấn đề. Nhân đây,

người viết nghiên cứu đề tài này với mong muốn hiểu biết thêm và có cái nhìn khách

quan hơn về hoàn cảnh lịch sử và xã hội của đất nước trong thời kì 1945 – 1975.

Đồng thời cũng muốn tìm hiểu thêm tâm tư, thái độ, tình cảm của cả dân tộc Việt

Nam, đặc biệt là các nhà thơ trước hoàn cảnh ấy. Hơn nữa góp một phần công sức nhỏ

bé của mình vào quá trình nghiên cứu thơ ca cách mạng của đất nước.

Nhiệm vụ của người viết khi thực hiện đề tài Cái bi trong thơ ca cách mạng

Việt Nam 1945 – 1975 là phải khái quát lên được hoàn cảnh lịch sử và xã hội rồi tiếp

cận phân tích những tác phẩm tiêu biểu để làm nổi bật những giá trị, thành tựu của

mảng thơ ca viết về đề tài cái bi. Từ đó, thấu hiểu được giá trị nhân văn sâu sắc mà các

nhà thơ muốn gửi gắm thông qua các tác phẩm của mình trước thực tại tàn khốc của

chiến tranh.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài Cái bi trong thơ ca cách mạng Việt Nam 1945 – 1975 có phạm vi

nghiên cứu rất rộng. Nó không dừng lại nghiên cứu riêng một tác phẩm hay một tác

giả cụ thể nào. Đề tài này bao quát cả một giai đoạn thơ ca Việt Nam thời hiện đại và

chủ yếu tập trung vào những tác phẩm thể hiện tình cảm nỗi lòng của con người Việt

Nam trước bao mất mát hi sinh của dân tộc trong khói lửa chiến tranh. Với kiến thức

và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế nên người viết chỉ tập trung tiếp cận, phân tích,

Trang 10

bình giảng một số bài thơ tiêu biểu thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài và để giải

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

quyết thỏa đáng yêu cầu mà đề tài đặt ra.

5. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đúng và có kết quả tốt bất cứ một đề tài nghiên cứu khoa học nào,

thì việc vận dụng và kết hợp các phương pháp nghiên cứu là hết sức cần thiết. Trong

luận văn, người viết chủ yếu sử dụng một số phương pháp cụ thể sau đây:

Phương pháp thực chứng – lịch sử: Người viết đã căn cứ vào sự kiện văn học

chính xác và có thật của lịch sử để tìm hiểu và đánh giá đúng tác phẩm, hiện tượng văn

học.

Phương pháp tiểu sử: Dùng yếu tố tiểu sử của nhà thơ để lí giải tác phẩm của

nhà thơ đó.

Phương pháp hệ thống: Người viết dùng mô hình hệ thống để nghiên cứu các

tác phẩm thơ ca thuộc giai đoạn văn học 1945 – 1975. Qua đó, đánh giá đầy đủ ý nghĩa

của những tác phẩm văn học.

Ngoài ra, người viết còn sử dụng các thao tác: Chứng minh, giải thích, bình

luận…cũng đồng thời được sử dụng.

Những phương pháp này gắn kết và bổ sung cho nhau giúp người viết giải

quyết những yêu cầu mà đề tài đặt ra một cách thỏa đáng nhất.

Trang 11

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

CHƯƠNG 1

CÁI BI – NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN

1.1 Cái bi – Một phạm trù Mĩ học

1.1.1 Khái niệm cái bi

a. Ý kiến của các nhà nghiên cứu

Những khái niệm, những phạm trù từ trước tới nay luôn tồn tại rất nhiều quan

điểm và ý kiến trong việc đưa ra tên gọi cũng như chỉ ra bản chất của nó. Xem xét cái

bi về mặt khái niệm ta thấy tồn tại rất nhiều ý kiến tương đồng cũng như dị biệt. Người

viết có thể điểm qua những ý kiến cụ thể sau:

Cái bi được đề cập đến một cách sâu sắc và có hệ thống lần đầu tiên trong Thi

pháp học của Aristốt. Ông cho rằng: “Bi kịch là sự bắt chước các hành động nghiêm

túc và cao thượng, hành động này có một qui mô nhất định, bi kịch nhằm miêu tả

những con người tốt nhất so với những người trong thực tế. Vì bi kịch miêu tả những

người tốt hơn mọi người nên ta cần bắt chước những nghệ sĩ vẽ chân dung giỏi: Tức là

khi vẽ người nào đó thì đồng thời với việc làm cho các bức chân dung giống người

được vẽ, họ còn vẽ người đó trở thành người đẹp hơn thực, “bi kịch làm trong sạch

hóa những cảm xúc tương tự qua cách khêu gợi sự xót thương và khủng khiếp”.

Những ý kiến trên của Aristốt có thể tóm gọn được những nét chung nhất về bản chất

của cái bi kịch chân chính.

Theo tài liệu 150 thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân biên soạn, cái bi được

định nghĩa như sau: “Phạm trù Mĩ học xác định giá trị thẩm mĩ của những xung đột

không thể giải quyết, được khai triển trong tiến trình hành động tự do của nhân vật,

kèm theo những xung đột này là những tiêu vong của nhân vật hay những mất mát các

giá trị đời sống của nó. Tính thảm họa của cái bi chủ yếu quy định ở cái nội tại của cái

bị diệt vong, bởi sự không phù hợp của nó với trật tự hiện hữu” [1; tr23].

Trong lá thư gửi Látxan nhận xét về vở bi kịch Fraxơ Vôn Xíchkinghen của nhà

văn này, Ăngghen đã đưa ra định nghĩa cái bi là: “Xung đột có tính chất bi kịch giữa

các định lí tất yếu về phương diện lịch sử và việc không thể thực hiện được định lí tất

yếu đó về phương diện thực tiễn”.

Trang 12

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Trong quyển giáo trình Mĩ học đại cương, Nguyễn Hoa Bằng đã định nghĩa:

“Cái bi là phạm trù cơ bản chỉ sự thất bại hay chết của cái đẹp trong cuộc đấu tranh

không khoan nhượng với lực lượng đối lập; là thắng lợi của lực lượng phản động, lạc

hậu trước các lực lượng cách mạng, tiến bộ; là những hi sinh, tổn thất mà phía cách

mạng phải gánh chịu trong cuộc đấu tranh với giai cấp lạc hậu”. [4; tr 46]

Theo Từ điển bách khoa toàn thư thì cái bi là: “Phạm trù Mĩ học xác định và

đánh giá (về mặt thẩm mĩ và đạo đức) những hiện tượng xã hội có mâu thuẫn và xung

đột (giữa cái mới và cái cũ, giữa tiến bộ và lạc hậu, giữa cá nhân và xã hội) nhưng

chưa giải quyết được mà thường gắn với thất bại, bất hạnh hoặc chết chóc. Bi kịch

cách mạng là sự xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử với tình trạng không thể

thực hiện được nó trong thực tiễn. Nhân vật bi kịch đấu tranh cho cái mới, cái tiến bộ

trong điều kiện cái ác còn mạnh hơn. Cái bi được bộc lộ đặc biệt nổi bật trong thể loại

bi kịch. Nhân vật chết nhưng người sống vẫn tiếp tục đấu tranh. Vì vậy, cái bi mang

đậm màu sắc chủ nghĩa lạc quan lịch sử”.[tr.128]

Định nghĩa của Bêlinki đưa ra: “Cái bi bao hàm trong sự xung đột giữa sự say

mê tự nhiên của con tim với tư tưởng về nghĩa vụ bao hàm trong sự đấu tranh bắt

nguồn từ xung đột đó và sau cùng, bao hàm cả sự thắng lợi hoặc sụp đổ”.

Theo Tào Văn Ân thì cái bi là: “Một phạm trù thẩm mĩ phản ánh một hiện

tượng có tính qui luật của thực tế đời sống xã hội thường diễn ra trong cuộc đấu tranh

không ngang sức giữa cái thiện và cái ác, cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và lạc hậu, cách

mạng và phản cách mạng... Trong điều kiện những cái sau còn mạnh hơn những cái

trước. Ðó là sự trả giá tự nguyện cho chiến thắng và bất tử về tinh thần bằng sự thất

bại, nỗi đau và cái chết của những con người tốt. Cái bi tạo ra một cảm xúc thẩm mĩ

phức hợp bao gồm nỗi đau xót, sự tự hào lẫn nỗi sợ hãi khủng khiếp”. [2; tr.23]

b. Ý kiến tác giả luận văn

Từ những nhận định nêu trên, người viết cho rằng cần có sự tổng hòa các ý kiến

trên lại để có một định nghĩa xác đáng và đầy đủ nhất. Người viết đặc biệt chú ý đến

các bình diện nội dung của cái bi được đề cập dưới đây:

Thứ nhất, cái bi đề cập đến “sự thất bại hay chết của cái đẹp trong cuộc đấu

tranh không khoan nhượng với lực lượng đối lập”. Người viết cho rằng không phải bất

kì sự thất bại hay cái chết nào cũng là cái bi. Đồng thời, không phải chỉ có thất bại, cái

Trang 13

chết mới là cái bi, trong trường hợp để chiến thắng nhưng phải trả giá cho hành động

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

quá lớn thì sự chiến thắng cũng là cái bi. Cái bi bao hàm cả chiến thắng và thất bại

nhưng có một điểm chung là sự trả giá cho hành động một cách lớn lao. Ví dụ như một

tên cướp thực hiện hành vi bất thành trước sự truy cản của cảnh sát và bị bắn hạ khi

đang cố gắng chạy trốn. Thì sự thất bại và cái chết đó của tên cướp không phải là cái

bi. Cái bi phải có ý nghĩa lịch sử xã hội. Tức là, bản thân hành động phải là một cuộc

cách mạng tiến bộ giải phóng giai cấp, tấn công vào cái xấu, cái lạc hậu mang lợi ích

cho một giai cấp tiến bộ, phù hợp với xu hướng tất yếu của lịch sử. Cái chết của chị Sứ

(trong tác phẩm Hòn Đất của Anh Đức) là một ví dụ.

Thứ hai, “nhân vật bi kịch đấu tranh cho cái mới, cái tiến bộ trong điều kiện cái

ác còn mạnh hơn”. Như vậy, có thể khái quát bi kịch nhân vật thành hình tượng “người

anh hùng trong tiến trình cách mạng”. Ví dụ anh Nguyễn Văn Trỗi – người chiến sĩ

cách mạng đấu tranh vì giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và anh đã hi sinh vì

nhiệm vụ đó. Sự hi sinh của anh đó là cái bi về sự mất mát hi sinh trong chiến tranh

mà văn học kháng chiến đề cập đến.

Thứ ba, cái bi là “sự trả giá tự nguyện cho chiến thắng và bất tử về tinh thần

bằng sự thất bại, nỗi đau và cái chết của những con người tốt”. Trong vấn đề thứ ba

này, chúng ta thấy có hai yếu tố mang tính chủ quan: “Sự trả giá tự nguyện” và “bất tử

về tinh thần”. Nhân vật trong cái bi tự nguyện thực hiện sứ mạng lịch sử, chấp nhận và

biết trước kết quả của hành động đó là thất bại, và sự hi sinh đó được lịch sử ghi lại.

Hành động lấy thân mình lấp lỗ châu mai của Phan Đình Giót là một ví dụ. Anh hi

sinh để đồng đội được sống để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, thế hệ hôm nay và mai

sau luôn biết và nhớ đến anh.

Từ những định nghĩa nêu trên, người viết nhận thấy định nghĩa của Tào Văn Ân

là đầy đủ và xác đáng nhất. Tuy nhiên, người viết cho rằng nên có sự kết hợp ý kiến

của Nguyễn Hoa Bằng và Tào Văn Ân thì vấn đề định nghĩa cái bi sẽ được giải quyết

triệt để hơn. Người viết định nghĩa cái bi như sau: “Cái bi là một phạm trù mĩ học để

chỉ sự trả giá, thất bại hay cái chết của cái đẹp trong cuộc đấu tranh không cân sức với

cái xấu, cái ác. Nhân vật được thể hiện trong cái bi là đại diện lực lượng cách mạng, tự

nguyện đấu tranh vì sự tiến bộ, lợi ích chung và chấp nhận hi sinh mất mát”. Ví dụ như

nhân vật Lượm trong bài thơ cùng tên của Tố Hữu. Em là đại diện cho thế hệ thiếu nhi

Trang 14

Việt Nam thời kháng chiến đã tự giác tham gia làm công việc liên lạc và hi sinh khi

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

đang làm nhiệm vụ. Cái chết của em là một mất mát hi sinh mà phía cách mạng phải

gánh chịu, đó cũng là cái bi.

Nói như thế không có nghĩa là từ trước tới giờ cái bi chưa từng xuất hiện trong

thơ Việt Nam. Bi kịch cá nhân trong thơ Việt Nam có sự khác biệt rõ rệt về chất giữa

trước và sau năm 1945. Cụ thể như sau:

Những năm đầu chống Pháp, tầng lớp sĩ phu yêu nước rơi vào bi kịch không lối

thoát. Đó là sự thất bại của khát vọng cao cả (yêu nước, thương dân, tinh thần tự chủ

dân tộc) trước cái ác (triều đình bán nước, quân xâm lược). Có thể nói bi kịch họ mắc

phải là bi kịch của sự lầm lỗi: Muốn cứu nước nhưng lại thờ vua, mà vua và triều đình

thì hèn nhát bạt nhược. Vai trò và sứ mệnh lịch sử của triều đình phong kiến đã chấp

dứt nếu họ cố duy trì thì nó là vật cản đường cho tiến trình tiến bộ của lịch sử xã hội,

thất bại là một điều tất yếu của lịch sử. Đó là bi kịch của sự lầm lỗi.

Đầu thế kỉ XX, giai cấp tư sản một lần nữa mắc sai lầm nghiêm trọng khi áp

dụng mô hình bảo vệ độc lập của nước ngoài vào việc giải phóng Việt Nam. Người ta

gọi đó là “cuộc cách mạng cải lương”. Nó sai lầm ở chổ họ không tính đến hoàn cảnh

lịch sử xã hội Việt Nam không giống như: Nhật, Trung Quốc hay các nước Tây Âu mà

đem áp dụng máy móc. Chúng ta tìm thấy cái bi tràn ngập trong thơ Phan Bội Châu,

Phan Châu Trinh phản ánh bi kịch đó.

Trong lịch sử dân tộc chưa có thời kì nào mà cái bi xuất hiện nhiều trong thơ

như thời kì phong trào Thơ Mới. Cái bi trong Thơ Mới là cái bi “tìm đường” và “cùng

đường” của tầng lớp trí thức yêu nước thời đó. Nhân vật trữ tình trong Thơ Mới không

chấp nhận hoàn cảnh và khao khát tìm lối thoát cho cá nhân mình. Họ tất yếu bị thất

bại vì nếu muốn giải phóng cá nhân thì trước hết phải giải phóng cho giai cấp mình.

Họ không chấp nhận thực tại của sự thất bại bằng cách trốn vào: Tôn giáo, thiên nhiên,

những giấc mơ, những cơn say, những cơn điên… như: Chế Lan Viên, Vũ Quần

Phương, Huy Cận, Hàn Mặc Tử…đã làm.

Cái mới mẻ của cái bi trong thơ kháng chiến là cái bi chưa từng được thể hiện

trước đó. Đó là bi kịch mang dấu ấn thời đại: Chính nghĩa nhưng yếu kém về sức

mạnh vật chất phải trả giá đắt để đánh bại cái phi nghĩa dựa vào sức mạnh vật chất để

tồn tại. Cái bi trong thơ kháng chiến là cái bi hài hòa giữa bi kịch cộng đồng (những

Trang 15

mất mát hi sinh của đồng đội, đồng bào) và bi kịch mang dấu ấn đời sống cá nhân (sự

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

mòn mỏi chờ chồng của người vợ trẻ đi chinh chiến, những chàng trai độ tuổi đang

yêu rãi tuổi xuân qua từng bước hành quân chưa một lần yêu và được yêu). Một thời kì

thơ ca cách mạng đậm nét bi hùng, bi tráng chứ không hề bi lụy như Thơ Mới.

1.1.2 Bản chất thẩm mĩ của cái bi

a. Cái bi - sự “xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử với việc

không đủ khả năng thực hiện được yêu cầu đó trong thực tiễn” (C.Mác).

Như vậy, những “xung đột” của đời sống không phải cơ sở nảy sinh cái bi.

Chẳng hạn: Những xung đột giữa những anh chàng nghiện rượu, tranh giành đất đai để

rồi chém giết nhau. Do đó, những chết chóc đau khổ thường tình không nằm trong

phạm trù cái bi của mĩ học. Nghệ sỹ Anh thế kỉ XIX, John Ruskin phân biệt: “Thơ chỉ

có thể lên tiếng với nổi buồn của cô gái khóc trong tình yêu trong trắng bị tan vỡ, chứ

không thể viết về giọt nước mắt của kẻ hà tiện đánh mất tiền”. Ở đây có hai loại nước

mắt, nước mắt của cái bi (nước mắt của cô gái) và nước mắt của cái hài (nước mắt của

anh chàng hà tiện). Chỉ thuộc về cái bi những hy sinh tổn thất có ý nghĩa xã hội mang

tính qui luật trong sự phát triển lich sử.

Bi kịch cá nhân xảy ra trong tình yêu, trong gia đình, ngoài xã hội cũng có thể

là cái bi, nếu đằng sau nó cũng chứa những xung đột xã hội, mang tầm vóc lịch sử.

chẳng hạn bi kịch số phận Chí Phèo (trong Chí Phèo), Hămlet (trong Hămlet), Mácbét

(trong Mácbét), Lỗ Thị Phượng (trong Lôi Vũ)…Các bi kịch xã hội như thoái trào cách

mạng, tổn thất lớn lao của cuộc chiến đấu của quần chúng cách mạng cũng thuộc về

cái bi. Chẳng hạn, phong trào Công xã Pari, 1871 ở Pháp.

b. Bi kịch làm trong sạch hóa những cảm xúc

Bi kịch có tác dụng to lớn trong việc thanh khiết hóa tâm hồn con người.

Aristót, nhà triết học, mĩ học thời Hi Lạp cổ đại cho rằng: “Bi kịch là sự bắt chước các

hành động nghiêm túc mà cao thượng, hành động này có một qui mô nhất định”, “bi

kịch nhằm miêu tả những con người tốt nhất”. Nhân vật mà lực lượng bi kịch có sức

mạnh lớn lao, có ý chí mạnh mẽ, có ý tưởng đẹp đẽ, có khát vọng chân chính. Nhân

vật bi kịch thất bại thậm chí bị tiêu diệt. Nhưng đặc trưng thẫm mĩ của cái bi lại không

bi. Aristót cũng khẳng định: “Bị kịch làm trong sạch hóa những cảm xúc thông qua

Trang 16

việc khiêu gợi sự xót thương và khủng khiếp”. Cảm xúc thẩm mĩ đối với cái bi vẫn

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

tích cực, vẫn là vui, phấn chấn… Chứ không phải là cảm xúc bi quan, tiêu cực.

c. Cảm xúc thẩm mĩ của cái bi là cảm xúc vui

Tại sao cảm xúc thẩm mĩ trong bi kịch lại là cảm xúc vui? Khi nhìn những diễn

viên trình diễn những bi kịch, ta nhỏ lệ biểu lộ sự đồng tình hay lòng trắc ẩn, mà mặt

mày như tươi tỉnh xán lạn, tâm tư dàn trải thoải mái. Máu và nước mắt thường đem lại

cho ta những ý vị ngọt ngào tươi mát hơn là những nụ cười hoan hỉ. Vì vậy cảm xúc

vui tươi trong bi kịch do đâu mà có? Phương Tây có nhiều cách giải thích khác nhau.

Tất cả những kiến giải vừa nêu đều không giải thích được một cách đúng đắn

nguyên nhân cái vui trong bi kịch. Vậy nguyên nhân đúng đắn là ở đâu? Bi kịch là một

thứ tác phẩm nghệ thuật, xem bi kịch là một thứ kinh nghiệm mĩ cảm. Kinh nghiệm mĩ

cảm xuất hiện khi ta trực giác hình tượng nhân vật. Trong lúc thưởng ngoạn ta quên

hẳn lợi hại của thực tế mà đứng ở địa vị khách quan để quan sát, coi vũ trụ và đời sống

là một bức tranh. Tai họa thực trong đời sống khiến ta thương xót và lo sợ, nhưng tai

họa trong bi kịch, sau giây phút lo sợ là nguồn vui. Sở dĩ như vậy là vì khoảng cách

tâm lý. Giữa người xem và những cảnh trên sân khấu có một khoảng cách không quá

xa, không quá gần. Không quá xa, để thấy rằng sự kiện trên sân khấu là hợp lí, hợp

tình. Không quá gần, để người xem không ngộ nhận bi kịch trên sân khấu là cuộc sống

thực tế. Phàm bi kịch chân chính thì không được tả thực. Phàm khán giả kịch chân

chính thì không cho tình cảm thực dụng xen lấn vào mĩ cảm. Những tình cảm “phát

tán” trong bi kịch khác tình cảm phát tiết trong thực tế. Trong tâm tư khán giả, thế giới

kịch là biệt lập, không liên can đến lợi hại thực tế. Khi thưởng ngoạn kịch, khán giả

hội tụ tinh thần, bị sức lôi cuốn của sân khấu, do cũng có sống hăng say, cũng hoạt

động phát tán tình cảm. Nhưng phát tán này kèm theo sự sảng khoái, khác kinh

nghiệm thường nhật là đèo bòng phiền lụy, bực bội , lo âu.

Hơn nữa, cảm xúc vui trong bi kịch xuất phát từ chỗ không phải cái chết, hay sự

thất bại của con người. Mà là chỗ con người dám tiếp nhận thất bại, dám hi sinh vì

những lý tưởng cao cả.

1.1.3 Các dạng thức khác nhau của cái bi

Bi kịch cái mới trong thế yếu: Ðây là loại bi kịch có tính chất lịch sử. “Bản chất

thẩm mĩ của cái bi trong loại bi kịch này là sự xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt

Trang 17

lịch sử và tình trạng không thể thực hiện được trong thực tế” (C.Mác). Cái mới, cái

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

cách mạng đang trong thế yếu, chết, hoặc thất bại. Nhân vật của cái bi này chết một

cách vĩ đại vì họ đang đại diện cho trào lưu lịch sử. Họ trở nên anh hùng vì động cơ,

hành động, do trách nhiệm trước lịch sử. Lịch sử mãi mãi ca ngợi sự thất bại của nghĩa

quân Yên Thế với cái chết của Hoàng Hoa Thám. Hoặc lịch sử sẽ ghi nhớ mãi mãi

Phạm Hồng Thái với tiếng bom Sa Ðiện.

Bi kịch của cái mới trong hoàn cảnh trớ trêu: Ðây cũng là cái bi lịch sử, bi kịch

lịch sử. Cái mới cách mạng đã ở thế thắng trên toàn cục. Nhưng một bộ phận nào đó

lâm vào hoàn cảnh trớ trêu, khiến người anh hùng sa cơ. Chẳng hạn, Chiến bại, Đội

cận vệ thanh niên của Phađêép; Hùng & Rin trong Bài ca chim Chơrao; Võ Thị Sáu

trong Mùa hoa lêkima...

Bi kịch của sự lầm lạc của cái cũ: Cái cũ muốn trở thành cái bi, theo C.Mác,

phải xét theo 3 tiêu chí: Một, cái cũ chưa mất hết vai trò lịch sử, chưa trở thành cái

xấu. Hai, bản thân cái cũ còn tin vào tính chất hợp lý của mình. Ba, những con người

đứng về phía chế độ cũ không phải là sự lầm lạc có tính chất cá nhân, mà là sự lầm lạc

có tính chất lịch sử toàn thế giới. Chính vì vậy, cái chết của nó là bi kịch (C.Mác). Bản

chất cái bi của sự lầm lạc của cái cũ là do chưa nhận ra được tính tất yếu về mặt lịch

sử. Chẳng hạn, Ðônkihôtê. Ông ta có lý tưởng nhưng lý tưởng lạc hậu, đấu tranh cho lí

tưởng nhưng không ý thức được rõ ràng nó mà chỉ hành động theo thói quen. Những

người như Ðônkihôtê thất bại là tất yếu vì “đơn thương độc mã”. Sự thất bại của vua

Duy Tân và việc bị Pháp bắt đày đến trọn đời, cũng là một ví dụ.

Bi kịch của cái xấu: Ðây là bi kịch của chính tội ác, chứ không phải bi kịch của

cái đẹp, cái tốt hay sự lầm lạc. Ở đây người ta không lấy nước mắt răn đời, không lấy

xót thương làm luyến tiếc. Mà lấy sự khủng khiếp để nhắc nhở con người chớ làm điều

khủng khiếp. Aristót nói về đặc trưng thẩm mĩ của loại bi kịch này: Bi kịch làm trong

sạch hóa những cảm xúc tương tự qua cách khêu gợi sự thương xót và khủng khiếp.

Chẳng hạn bi kịch của cái xấu qua vở kịch Mắcbét. Ở bi kịch này, lòng tham và tội ác

bị trừng trị. Ðây là một bi kịch chính trị - xã hội. Tác giả lên án chế độ tập quyền

chuyên chế triều Giêm I, tên vua bạo tàn Anh quốc đầu thế kỉ XVII.

Bi kịch về sự lầm lạc, kém hiểu biết, ngu dốt: Bi kịch này được nêu ra như là

bài học xương máu trên đường đời để nhắc nhở cảnh tỉnh. Bi kịch về sự kém hiểu biết

Trang 18

liên quan đến sự ngu dốt của con người. Sự ngu dốt là con quỷ mà chúng ta e rằng nó

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

còn gây ra nhiều bi kịch. Chẳng hạn, câu chuyện An Dương Vương; bi kịch Ôtenlô; bi

kịch Êđíp làm vua; Truyện Người con gái Nam Xương. Thuộc về cái bi này còn có bi

kịch do tai nạn, sức mạnh mù quáng của tự nhiên. Ví dụ, cái chết của người đi thám

hiểm.

Bi kịch của những khát vọng cá nhân chính đáng: Ðây là bi kịch những nỗi đau

đời thường tình (lẽ sống, tình yêu, sứ mệnh con người, nói chung). Ở bi kịch này, xung

đột gay gắt giữa khát vọng chính đáng của con người và khả năng của bản thân không

thể thực hiện được. Ví dụ bi kịch của Thị Kính trong chèo Quan âm Thị Kính; của

Máclôva trong tiểu thuyết Phục sinh của L.Tônxtôi, của Thúy Kiều trong Truyện Kiều

của Nguyễn Du...

1.2 Cảm hứng về cái bi trong văn chương

Những từ “bi thảm”, “bi đát” nảy sinh từ cách người Hi Lạp cổ gọi những trình

diễn nghi lễ của dàn đồng ca dân gian diễn lại cái chết và sự phục sinh của Điniốt vị

thần màu màng trù phú. Sau này ở Hi Lạp nảy sinh chế độ nhà nước, giai cấp điều này

đặc ra cho con người Hi Lạp những vấn đề đạo đức và bắt đầu phải xử lí những vấn đề

trong các vở diễn miêu tả các xung đột trong đời sống con người. Tên cũ để gọi những

hình thức trình diễn đó vẫn được duy trì, nhưng nó được dung để chỉ bản thân nội

dung những vở diễn như vậy.

Trong các lí thuyết về bi kịch và cái bi, nhất là của Hêghen. Các định nghĩa đều

cách này hay cách khác gắn với các khái niệm “định mệnh”, “số phận” những cái chế

ngự toàn bộ cuộc đời, con người hoặc gắn với các khái niệm “tội lỗi” của nhân vật bi

kịch đã vi phạm một điều tối cao nào đó và phải bị trừng phạt.

Sécnưsépki đã có lí khi phản đối những khái niệm thu hẹp vấn đề như vậy, ông

định nghĩa cái bi là toàn bộ những điều “ khủng khiếp” trong đời sống con người. Tuy

vậy cũng phải thừa nhận định nghĩa của ông là quá rộng, bởi vì các tình huống kịch

tính và những chuyện ngẫu nhiên bất hạnh bên ngoài gây ra điều khủng kiếp. Có lẽ

gần với chân lí hơn cả là định nghĩa của Bêlinki đưa ra: “Cái bi bao hàm trong sự xung

đột giữa sự say mê tự nhiên của con tim với tư tưởng về nghĩa vụ bao hàm trong sự

đấu tranh bắt nguồn từ xung đột đó và sau cùng, bao hàm cả sự thắng lợi hoặc sụp đổ”.

Nhưng một định nghĩa như vậy cần có thêm bổ sung quan trọng.

Trang 19

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Tính chất bi kịch của các tình huống đời sống thực và của những cảm xúc do

các tình huống gây nên cần được khảo sát theo tương đồng và sự tương phản với tính

kịch. Khi ở trong tình huống bi kịch người ta trãi nghiệm sự căng thẳng và sự lo âu sâu

sắc có tâm hồn, khiến người ta phải chịu những đau khổ, thường rất nặng nề. Nhưng

những lo âu và đau khổ nảy sinh chủ yếu không phải nảy sinh do những xung đột với

các thế lực từ bên ngoài đe dọa những lợi ích thiết cốt nhất, đôi khi đe dọa cả sự sống

của người ta và gây ra sự phản kháng, như tình hình xảy ra trong các tình huống mang

tính kịch. Tính chất bi kịch của tình huống và cảm xúc bao hàm trong ý thức, trong

tâm hồn con người.

Theo định nghĩa cái bi của Bêlinki đưa ra, một mặt của mâu thuẫn bên trong “là

sự say mê tự nhiên của con tim”, tức là những quyến luyến của tân hồn riêng tư, và

những tình cảm yêu thương,…, và mặt khác là “tư tưởng về nghĩa vụ”, tức là cái cản

trở “sự say mê của con tim”, những ý thức về điều luật đạo đức đã gắn kẻ đang yêu

nước với tư tưởng đó. Thường khi đó là luật hôn nhân, nhưng cũng còn trách nhiệm

với gia đình, nhưng cũng trước dân tộc, quốc gia.

Như vậy bi kịch xảy ra trong quá trình phát triển xã hội. Chúng không mang

tính cá nhân, ngẫu nhiên mà mang tính lịch sử, xã hội. Chúng bộc lộ trong hành vi xã

hội và trong thế giới đạo đức con người, bắt họ đau khổ hoặc đôi khi hủy diệt. Tái hiện

những mâu thuẫn bi kịch trong các tác phẩm của mình, lí giải chung, điển hình hóa

chúng. Nhà văn thông qua cốt truyện tác phẩm, tô đậm những xúc cảm của nhà văn,

làm tăng tính khốc liệt của những sự kiện đang diễn ra trong đời sống.

Nếu cảm hứng anh hùng bao giờ cũng là sự khẳng định về tư tưởng đối với tính

cách được miêu tả, còn cảm hứng kịch tính và bi kịch có thể bao hàm cả sự khẳng định

lẫn sự phủ định chúng, thì sự miêu tả châm biếm và hài hước đối với các tính cách bao

giờ cũng chứa đựng khuynh hướng tư tưởng.

Cảm hứng cái bi trong những thơ kháng chiến là cảm hứng lấy từ hiện thực

chiến tranh. Cuộc chiến đã vạch ra ranh giới hẳn hoi cho hai phía: Một bên là chủ

nghĩa đế quốc xâm lược, một bên là một dân tộc nhỏ bé đại diện cho xu hướng tất yếu

của lịch sử loài người. Trong ba mươi năm đạn bom ấy dân tộc ta phải đối đầu với hai

đế quốc hùng mạnh. Hơn một triệu người chết, ba triệu người bị thương tật, và hàng

chục triệu nạn nhân của chất độc màu da cam…đó là những mất mát hi sinh mà phía

Trang 20

cách mạng phải hứng chịu. Giữa muôn trùng lửa đạn thơ ca không còn phù hợp để ca

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

ngợi vẻ đẹp tinh túy của thiên nhiên tạo vật nữa, mà thơ ca phải luôn ở bên chiến lũy

chiến hào là tiếng kèn xung trận. Trong Cái đẹp trong thơ kháng chiến Vũ Duy Thông

đã từng trình bày quan điểm của ông như sau: “Nói như thế thơ không phải là những

khẩu hiệu có vần và được xuống dòng. Cũng cần phân biệt những khẩu hiệu, chủ

trương, chính sách được “vần hóa” thành diễn ca, cốt để người nghe dễ hiểu và dễ

thuộc…với thơ. Để có một tác phẩm thơ, nhà thơ phải có ý thức chính trị, ý thức chính

trị đó lại phải được đồng hóa trong thế giới tâm hồn để hình thành lí tưởng thẩm mĩ. Lí

tưởng thẩm mĩ của nhà thơ chi phối thị hiếu thẩm mĩ, nảy sinh cảm xúc thẩm mĩ. Xúc

cảm thẩm mĩ đạt tới một “độ” nào đó sẽ nảy sinh cảm hứng sáng tạo. Duy trì được

cảm hứng sáng tạo trong quá trình sáng tạo đầy hứng khởi và đau khổ, tác phẩm thơ sẽ

ra đời. Như vậy ở các nhà thơ ý thức phục vụ mục đích chính trị là một chuỗi hoạt

động tự giác, được nhào nặn qua cảm hứng sáng tạo và lao động nghệ thuật. Ý thức

công dân và ý thức nghệ sĩ là mối quan hệ máu thịt, biện chứng không thể bóc tách

một cách siêu hình” [tr.65- 66].

Do sai lầm trong quan điểm nghệ thuật và tầm nhìn thiển cận về thơ ca nên có

một thời kì những sáng tác như: Màu tím hoa sim (Hữu Loan), Tây tiến (Quang Dũng),

Bến kia sông Đuống (Hoàng Cầm)…bị coi là “mang màu sắc tư sản”, quá ủy mị vì đã

đề cập trực tiếp đến cái chết nên thường bị liệt vào những tác phẩm hạn chế phổ biến.

Đó là một quan điểm sai lầm nghiên trọng. Thơ ca cách mạng đề cập đến những mất

mát hi sinh trong chiến tranh là điều tất yếu, là phù hợp và không thể né tránh, vì:

Thứ nhất, nó giải quyết nhu cầu nắm bắt hiện thực của độc giả, mà thơ ca cách

mạng ra đời để phục vụ người đọc, vì họ muốn biết rõ diễn biến của chiến tranh qua

từng mặt trận và qua từng thời điểm một cách nhanh chóng và chính xác.

Thứ hai, tham gia vào chiến trận, hàng ngày phải nhìn thấy bao cảnh mất mát

đau thương trong chiến tranh, tác giả sáng tác thơ là để bày tỏ cảm xúc tình cảm của

mình qua từng trang viết. Ngoài ra, họ ghi lại như là một minh chứng cho lịch sử dân

tộc và nó còn là lương tâm trách nhiệm của người cầm bút.

Thứ ba, thơ ca là “người bạn đường” của mọi chiến sĩ. Họ tìm đến với thơ ca

như là một sự giải bày, một sự cứu cánh cho tâm hồn của mình thoát khỏi thực tại tàn

khốc của hiện thực đời sống chiến tranh.

Trang 21

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Từ những lí do vừa nêu, việc cái bi ra đời trong những sáng tác thơ ca cách

mạng là một điều tất yếu của lịch sử và phù hợp với tâm thế người Việt Nam vốn yêu

thơ và giàu tính nhân đạo. Những mất mát, hi sinh và sự tàn khốc của chiến tranh được

thơ ca cách mạng ghi lại chân thực, hùng hồn và cảm động không làm cho chúng ta trở

nên hèn nhát, bạt nhược tinh thần chiến đấu mà nó là “liều thuốc” hữu hiệu nhất để cỗ

vũ chiến đấu, vượt qua mọi khó khăn gian khổ.

1.3 Mâu thuẫn, xung đột của cái bi trong nghệ thuật

Nguồn gốc bi kịch gắn liền với thần Điniốt (thần rượu nho) và Icarơ, một mục

tử. Thần Điniốt là con riêng của Zớt và Xêmêlê, công chúa thành Têbơ cổ của Ai Cập.

Điniốt được coi là thần của sự trù phú, sự sinh sôi nảy nở, của nghề làm rượu nho, của

những cơn say rượu và chúa tể của những linh hồn. Điniốt được Icarơ, một mục tử tiếp

đãi với tất cả thịnh tình. Ðể đền đáp lại, Điniốt tặng Icarơ một chùm nho và dạy cho

Icarơ cách nấu rượu. Icarơ nấu rượu và đãi những mục tử khác. Vốn chưa hề biết rượu

là gì, những người mục tử kia say bí tỉ. Ðến khi tỉnh dậy, họ cho rằng Icarơ đầu độc họ

nên họ giết chết Icarơ. Êrigônơ, con gái của Icarơ nhờ có con chó Maira giúp sức, tìm

ra được mộ bố. Ðau buồn quá, nàng treo cổ tự vẫn. Con chó trung thành cũng chết

theo. Thần Điniốt hoàn sinh cho tất cả và đưa lên đỉnh Olympơ. Theo truyền thuyết, từ

đó trên bầu trời có chùm sao mục tử. Sau đó, thần Điniốt cũng bị quỉ khổng lồ Titan xé

ra làm trăm mảnh. Nhưng đến mùa xuân thần Điniốt lại hồi sinh.

Trong thần thoại này có sự gặp gỡ giữa sống và chết, tiêu vong và hồi sinh có

sự chung đúc giữa chúng với nhau thành một giai điệu mang âm hưởng nghệ thuật

thống nhất. Điniốt, vị thần vui tươi, yêu đời lại bị giết chết vì bọn quỉ có lẽ là nguồn

gốc của bi kịch.

Bi kịch Hi Lạp Cổ đại: Các lực lượng đối lập với con người thường có uy

quyền lớn, thường được khoát áo thần linh (Zớt trong Prômite bị xiềng), có khi được

biểu hiện như một định mệnh (Êdíp làm vua - Euripide). Những người anh hùng trong

bi kịch này bị hi sinh và được người đời xót thương và yêu mến, kính phục.

Bi kịch thời Trung cổ: Mang màu sắc tôn giáo. Bi kịch gắn liền với ý niệm của

sự tuẫn đạo, con người phải chịu khổ hình để cứu chuộc cho con người tội tổ tông

truyền. Hình tượng chủ yếu của nghệ thuật bi kịch Trung cổ hiện ra với nỗi đau khổ

Trang 22

trong hai tư thế: Nhìn xuống hoặc ngước lên. Nhìn xuống để sám hối tội lỗi và ngước

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

lên để cầu xin thượng đế rũ lòng thương.

Bi kịch thời Phục hưng: Gắn liền với tên tuổi của Xếchphia với những bi kịch

nổi tiếng như: Mắcbéc, Ôthenlô, Hămlét, Rômêô và Juliet, Vua Lia...Bi kịch Phục

Hưng phản ánh mâu thuẫn sâu sắc giữa lí tưởng nhân văn, hướng về tự do, muốn giải

phóng con người với thực tại bởi vì con người đang tồn tại với những nỗi khủng khiếp

mới.

Bi kịch Cổ điển thế kỉ XVII: Phản ánh mâu thuẫn giữa nghĩa vụ công dân và

dục vọng, tình cảm cá nhân và cố gắng dung hòa những mâu thuẫn này ở những mức

độ nhất định. Giai đoạn này có những nhà viết kịch nổi tiếng như: Raxin, Cócnây...Tác

phẩm tiêu biểu: Lơxít của Cócnây.

Bi kịch thời Khai sáng: Nêu lên những mâu thuẫn giữa khát vọng tự do chân

chính của con người với những thế lực tối tăm của xã hội đã bắt đầu tư sản hóa (Âm

mưu và tình yêu của Sile...)

1.4 Hoàn cảnh lịch sử dẫn tới sự ra đời của cái bi

1.4.1 Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam những năm 1945 – 1975

a. Giai đoạn 1945 - 1954

Hơn tám mươi năm dân tộc Việt Nam sống ách đô hộ của thực dân, đế quốc.

Ngần ấy thời gian dân tộc ta phải sống trong cảnh lầm than, nô lệ. Ngày 02 tháng 9

năm 1945 trước nửa triệu đồng bào Việt Nam, tại quảng trường Ba Đình Hồ Chí Minh

đọc bản tuyên ngôn lịch sử, mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam – kỉ

nguyên độc lập, tự do. Lần đầu tiên dân tộc ta tự làm chủ được vận mệnh, số phận của

mình. Đây là ba mươi năm kháng chiến ngoan cường của cả dân tộc, tuy có nhiều mất

mát hi sinh nhưng cũng đầy vẻ vang đáng tự hào. Cách mạng tháng Tám thắng đã mở

ra một thời kì mới trong tiến trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Vượt qua mọi khó khăn, chính quyền dân chủ nhân dân không những được giữ

vững mà còn ngày càng củng cố, mạnh mẽ hơn. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Ðảng và

Hồ Chủ Tịch, bằng nhiều biện pháp kịp thời nhân dân ta đã chặn đứng nạn đói, phát

động một cao trào bình dân học vụ diệt giặc dốt và phong trào tình nguyện nhập ngũ

để bảo vệ nhà nước Cách mạng, bảo vệ toàn vẹn của tổ quốc. Ngày 06/01/1946, Quốc

Trang 23

hội đầu tiên được bầu qua tổng tuyển cử. Hiến pháp được công bố - lần đầu tiên người

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

dân Việt Nam được làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Những thế lực thù

địch lần lượt bị khuất phục bằng những chính sách ngoại giao kiên quyết về nguyên

tắc nhưng uyển chuyển về sách lược của ta: Hai trăm ngàn quân Tưởng Giới Thạch

phải rút về nước kéo theo sự tán loạn của bọn phản động tay sai; hiệp định Sơ bộ

(06/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946) giúp nhân dân tranh thủ được thời gian hòa hoãn

để chuẩn bị lực lượng đương đầu lâu dài với thực dân Pháp.

Nền độc lập non trẻ của dân tộc ta dày công xây dựng không được hưởng niềm

vui trọn vẹn. Hòa bình không bao lâu chúng ta lại phải đối đầu với thực dân Pháp quay

lại xâm lược. Toàn thể dân tộc Việt Nam một lần nữa phải cầm súng chiến đấu. Họ

chiến đấu với tinh thần “thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước không chịu làm nô

lệ”. Sau những động thái cố níu kéo, giữ gìn nền hòa bình mới mẻ không thành trước

âm mưu và tội ác của giặc đã gây ra vì chúng muốn cướp nước ta một lần nữa. Ngày

19 tháng 12 năm 1946, Hồ Chí Minh – đại diện cho chính phủ Việt Nam Dân chủ

Cộng hòa phát lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Một lần nữa đất nước ta triệu người

như một hăng hái ra chiến trường để chiến đấu. Trong suốt chín năm kháng chiến

chống Pháp, biết bao cảnh tang thương mất mát đã diễn ra dưới gót giày xâm lược của

kẻ thù ngoại xâm.

Ngày 07 tháng 5 năm 1954, quân dân ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ

thần thánh, chấn động địa cầu. Sau chiến thắng ấy buộc thực dân Pháp phải ngồi vào

bàn đàm phán trao trả tự do cho miền Bắc bằng hiệp định Giơnevơ về Đông Dương

vào ngày 20 tháng 7 năm 1954.

Cuộc kháng chiến chín năm đã kết thúc thắng lợi. Một nửa đất nước được giải

phóng. Chính quyền kiểu mới ở các cấp từng bước được củng cố. Tổ chức Ðảng vững

mạnh hơn nhiều. Ðại hội Ðảng lần 2 (1951) xác định đúng đắn đường lối cho kháng

chiến. Năm 1953, Hồ Chủ Tịch ra sắc lệnh giảm tô và cải cách ruộng đất. Tuy có lúc

có nơi còn cực đoan, thái quá, nguyên tắc cứng nhắt, sai lầm trong thực hành tại địa

phương nhưng về cơ bản cuộc Cách mạng này đã thực sự giải phóng đất đai và người

nông dân, thủ tiêu triệt để quan hệ sản xuất lỗi thời, đem lại cho kháng chiến một động

Trang 24

lực mạnh mẽ. Nền kinh tế tự túc đảm bảo được những nhu cầu thiết yếu của đời sống

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

nhân dân trong kháng chiến.

b. Giai đoạn 1954 – 1975

Sau ngày hiệp định Giơnevơ được kí kết - lấy vĩ tuyến 17 và con sông Bến Hải

làm ranh giới, chia đất nước thành hai bờ Nam – Bắc. Miền Bắc được sống trong hòa

bình độc lập, tiến hành xây dựng Chủ nghĩa xã hội đồng thời làm hậu phương chi viện

sức người, sức của cho miền Nam kháng chiến chống sự can thiệp của Mĩ – Ngụy.

Miền Bắc bước đầu thực hiện cải cách ruộng đất, sau ba năm khôi phục kinh tế

sau chiến tranh và bước vào thời kì đầu cải tạo CNXH. Bước đầu có những thành tựu

đáng khích lệ: Hợp tác xã ở nông thôn dần được mở rộng và lớn mạnh trở thành một

thành trì vững chắc chi viện cho miền Nam.

Không khí xây dựng ở miền Bắc hết sức sôi nổi, còn ở miền Nam phong trào

đấu tranh của quân dân chống chế độ Mĩ - Diệm diễn ra cũng rất quyết liệt. Trước khi

hiệp định Giơnevơ được kí kết mười ba ngày, Mĩ đưa Ngô Đình Diệm về Việt Nam

làm tướng bù nhìn. Tháng 9 năm đó, Mĩ quyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình

Diệm. Sau đó, Mĩ cử tướng Côlin sang làm đại sứ ở Sài Gòn. Đế quốc Mĩ từng bước

hất cẳng Pháp, xóa bỏ chế độ cai trị của Pháp. Nắm được quân đội, công an - công cụ

thống trị chủ yếu, Ngô Đình Diệm tiến thêm một bước mới. Và ngày 17/7/1955, Diệm

tuyên bố từ chối hiệp thương tổng tuyển cử. Sau đó hắn tổ chức “trưng cầu dân ý”, phế

truất vua Bảo Đại, Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống. Quyết định chiến lược của Mĩ

là đứng vững trên địa bàn miền Nam, tiêu diệt chế độ cách mạng miền Bắc, sau đó

vươn tới mục tiêu xa hơn trên địa bàn Châu Á. Vùng đất Vĩnh Linh – Quảng Trị trở

thành đầu cầu miền Bắc nối liền với tiền tuyến lớn miền Nam, là nơi giáp mặt của hai

chế độ tương phản nhau đến tột cùng. Dã tâm của đế quốc Mĩ là muốn biến giới tuyến

tạm thời nơi đây thành biên giới của hai quốc gia trong một nước.

Thánh 10 năm 1959, Mĩ – Diệm đưa ra bộ luật quân sự “Mười năm chín” vô

cùng dã man và độc ác. Chúng lê máy chém khắp miền Nam để khủng bố cách mạng

và lùng bắt để tiêu diệt Cộng sản tới cùng. Phương châm của chiến dịch này là “thà

giết lầm hơn bỏ xót”. Trước tội ác không ngừng dâng cao không ngừng leo thang của

bọn chúng, nhân dân miền Nam phải hứng chịu những tổn thất nặng nề. Biết bao sinh

Trang 25

mạng vô tội đã phải ngã xuống, nhân dân ta phải sống trong sự kèm kẹp và nom nóp lo

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

sợ.

Phong trào Đồng Khởi Bến Tre dành được thắng lợi, Mĩ – Ngụy buộc phải

chuyển sang phương án “Chiến tranh đặc biệt”. Sau nhiều thất bại ban đầu, để cứu vãn

tình thế Mĩ đưa sang miền Nam ồ ạt lực lượng quân đội viễn chinh, lính đánh thuê

cùng với các phương tiện chiến tranh tối tân hòng đè bẹp ý chí và lực lượng của quân

ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng quân dân miền Nam anh hùng đã từng bước đánh bại

mọi âm mưu của kẻ thù và từng bước xây dựng lực lượng ngày càng tinh nhuệ. Bên

cạnh đó nhân dân miền Bắc không ngừng thi đua tăng gia sản xuất và làm hậu phương

vững chãi cho cả nước.

Những năm 1968 – 1969 nhân dân ta liên tiếp phải hứng chịu nhiều đau thương

mất mát hết sức to lớn và nặng nề. Cuộc nổi dậy tết Mậu Thân 1968 tuy có những

thắng lợi nhưng cũng làm tổn thất lực lượng của ta khá lớn, đến tháng 9 năm 1969 Bác

Hồ kính yêu của chúng ta qua đời. Đây là nỗi đau thương vô cùng to lớn, không gì có

thể khỏa lấp được. Trước nỗi đau thương vô hạn ấy quân dân miền Bắc quyết tâm xây

dựng và củng cố CNXH làm hậu phương cho miền Nam quyết chí đánh tan Mĩ – Ngụy

thống nhất đất nước.

Ở miền Nam, Mĩ – Ngụy lại càng điên cuồng hơn sau những thất bại. Từ

“Chiến tranh đơn phương” rồi đến “Chiến tranh đặc biệt”, tất cả đều thất bại, bọn

chúng cay cú chuyển sang hình thức “Việt Nam hóa chiến tranh”. Phương thức chiến

tranh này vẫn sử dụng sức mạnh tối tân của các loại vũ khí quân sự hiện đại, nhưng

chúng sử dụng “người Việt đánh người Việt” nhằm trấn an dư luận và giảm xương

máu binh lính Mĩ trên chiến trường. Những năm đầu của chiến dịch này đồng bào cả

nước phải hứng chịu biết bao đau thương mất mát và gặp vô vàn khó khăn, gian khổ.

Quân dân hai miền Nam – Bắc đã không hề nao núng trước bao khó khăn, gian khổ và

hi sinh. Đảng lãnh đạo quân dân miền Nam bẻ gãy hoàn toàn mọi đợt tiến công, mọi

âm mưu của kẻ thù, buộc chúng phải ngồi vào bàn đàm phán Pari ngày 27/01/1973.

Sau khi hiệp định được kí kết, miền Bắc vẫn được hưởng hòa bình và xây dựng

CNXH, tăng gia sản xuất làm hậu phương cho miền Nam. Trong khi đó ở miền Nam

Trang 26

bọn Mĩ – Ngụy vẫn ngoan cố không thi hành hiệp định và ra sức bình định miền Nam

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

và đánh phá miền Bắc.

Mùa khô 1975, quân dân hai miền liên hiệp nổi dậy cả nước. Đến tháng 4 năm

1975 giải phóng Tây Nguyên và vùng Nam Trung Bộ làm bàn đạp tiến công miền

Nam và thống nhất đất nước ngày 30/4/1975 bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Đây là sự kiện khép lại ba mươi năm trường kì kháng chiến của dân tộc, đồng thời

chấm dứt thời kì đất nước bị chia cắt, mở ra kỉ nguyên độc lập – thống nhất của toàn

dân tộc.

Những trình bày ở trên là những cứ liệu lịch sử quan trọng của đất nước trong

những năm 1945 – 1975. Từ những sự kiện này nó có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến đời

sống của cả dân tộc và đặc biệt là ảnh hưởng lớn đến văn học giai đoạn này, nhất là

thơ ca cách mạng.

1.4.2 Những chặng đường phát triển của thơ ca cách mạng

a. Từ sau cách mạng tháng Tám đến năm 1954

Cuộc cách mạng tháng Tám giành thắng lợi đã mở ra một chân trời mới cho văn

học nói chung và thơ ca cách mạng nói riêng. Ở buổi bình minh tuy có sự chệch choạc,

ngỡ ngàng và chưa bắt kịp với bước đi của thời đại nhưng đó cũng là sự thay đổi hết

sức thiêng liêng và kì diệu. Các nhà thơ thuở ấy như được “cởi trói cho tâm hồn”. Họ

từ một thế giới “man man thiên cổ sầu” đầy tuyệt vọng và bế tắc được bước đến với

“cánh đồng vui”; như nhà thơ Chế Lan Viên từng viết:

“Cha ông xưa đấm nát tay trước cửa cuộc đời

Cửa vẫn đóng. Và đời im ỉm khóa”

Hay như nỗi sầu thiên cổ của nhà thơ Huy Cận:

“Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm

Gió trăng ơi nay còn nhớ người chăng?”

Từ những tâm hồn “già nua” trước thực tại luôn chìm đắm trong một thế giới

siêu hình mộng ảo, nay cách mạng tháng Tám đã thổi một luồng sinh khí hết sức mới

mẻ, căng đầy nhựa sống cho thơ ca:

Trang 27

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim”

Từ những rung cảm hết sức mới mẻ của buổi ban đầu, họ - những nhà thơ từng

một thời quằn quại với nỗi sầu nhân thế, nay họ tìm thấy lí tưởng cho mình và tự

nguyện gắn bó hơn với cách mạng với đất nước với dân tộc. Nhà thơ Xuân Diệu từng

một thời chìm đắm trong tình yêu, mãi ám ảnh bởi sự trôi nhanh của thời gian và luôn

luôn muốn níu kéo nó lại, hơn thế nữa ông mong muốn “sống gấp” cùng thời gian và

con người:

“Mau lên chứ vội vàng lên chứ

Em em ơi tình non sắp già rồi”

Nay chính ông cũng tìm thấy được niềm vui chung trong niềm vui bất diệt của

dân tộc:

“Cái buổi ban đầu dân quốc ấy

Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên”

Những ngày đen tối nhất của dân tộc đã qua đi, ánh sáng Cách mạng đã len lỏi

soi sáng bao kiếp đời nô lệ. Nỗi buồn của dĩ vãng đã dần được thay thế bằng sự hoan

hỉ của nụ cười toàn dân tộc. Tố Hữu từng viết nên những vần thơ ảo não về cuộc đời,

về thân phận của mình trong những ngày đầu bị tù đày gian khổ:

“Cô đơn thay là cảnh thân tù

Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực

Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức

Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu”

Nay chính ông lại viết nên những khúc ca hào hùng nhất để đánh dấu một thời

kì mới cho thơ ca, một chân trời mới cho tâm hồn người nghệ sĩ:

“Chừ đây Huế, Huế ơi! Xiềng gông xưa đã gãy

Trang 28

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Hãy bay lên sông núi của ta rồi”

Hay:

“Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió mạnh

Thỗi phồng lên. Tim bỗng hóa mặt trời”.

Thâm Tâm nhà thơ với nỗi buồn “li khách”, “đưa người” để đi tìm “chí nhớn”.

Nhưng tất cả đều đi về nơi vô định, “khách” đi tìm “chí nhớn” mà không rõ mình đi

đâu, không phương hướng và mục tiêu xác định. Nay ông đã tìm thấy bức tranh quê

tươi đẹp trong Mùa thu mới:

“Trái hồng trĩu xuống cây rơm

Sáng nay mùa cốm dậy thơm khắp làng

Lúa vươn thân hút ánh vàng

Nguồn tươi vồng nở thu sang tốt lành”.

Từ “cái tôi” trữ tình đậm nét cá nhân “Ta là một là riêng là thứ nhất. Không có

chi bè bạn nổi cùng ta”, nay hầu hết các nhà thơ đã bắt gặp được “cái ta” chung của

dân tộc và họ tự nguyện sống hết mình vì nó. Đối với Trần Mai Ninh thì mối tình sông

núi là mối tình lớn lao và cao đẹp nhất:

“Có mối tình nào hơn thế nữa

Ăn sâu lòng đất, thấm lòng người

Đượm lều tranh thơm dậy ngàn khơi

Khi vui non nước cùng cười

Khi căm non nước với người đứng lên”.

Tuy chưa nở rộ, chưa có được sáng tác xuất sắc về Bác như những năm sau này.

Nhưng ở thời điểm đó đã có những sáng tác nói về công lao và sự nghiệp to lớn của

Bác cũng hết sức đặc sắc. “Người lính già đã quyết chí hi sinh” hay “Ngọn đuốt thiêng

liêng”… là những gì mà Tố Hữu nói về Bác. Bác là kết tinh của những gì tinh túy nhất

của tinh hoa dân tộc, nhân loại:

“Trăm thế kỉ trong tên Người: Ái Quốc

Trang 29

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Bạn muôn đời của thế giới đau thương”

Hay như nhà thơ Tế Hanh viết:

“Sáng láng ôn tồn thành tâm quyết chí

Sóng gió khinh, sấm sét chẳng kinh hoàng

Hồ Chí Minh chỉ người là có thể

Đưa con thuyền Tổ quốc đến vinh quang”

Tuy vẫn có nhiều thiếu xót trong diễn đạt, lối cảm xúc, ngôn ngữ và hình ảnh

thơ. Nhưng những sáng tác thơ ca cách mạng trong giai đoạn đầu này cũng hết sức

đáng trân trọng. Nó đánh dấu thời kì mới cho cái tôi trữ tình công dân đã dần chiếm

lĩnh tâm hồn và sáng tác của các nhà thơ, thay cho cái tôi trữ tình cá nhân đã không

còn phù hợp nữa.

Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, dân tộc Việt Nam triệu người như một với

Tình sông núi đã đứng lên chiến đấu theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ

Chủ tịch. Mỗi một con người Việt Nam lúc này nhận thức sâu sắc phải “quyết tử cho

Tổ quốc quyết sinh” và “thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm

nô lệ”. Nền thơ kháng chiến chống Pháp được ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đó và

trong suốt “chín năm kháng chiến thánh thần”, thơ ca đã góp phần không nhỏ để làm

nên những trang sử vàng chói lọi cho dân tộc. Hơn lúc nào hết, bao nổi niềm tình cảm

của dân tộc ta trong những năm tháng đó được thơ ca thể hiện một cách cao đẹp. Mặt

khác, thơ ca thời kì này đã đặt được nền móng vững chắc cho sự phát triển của thơ ca

cách mạng Việt Nam.

Giai đoạn 1945 – 1975 là giai đoạn mà cả nước tiến hành hai cuộc kháng chiến

chống lại hai đế quốc hùng mạnh nhất nhì thế giới vì độc lập, tự do, thống nhất đất

nước và CNXH. Toàn thể nhân dân ta bước vào cuộc kháng chiến đầy gian khổ và khó

khăn này với một quyết tâm cao độ. Khi cả dân tộc trong tư thế sẵn sàng xung trận thì

thơ ca lẽ nào chỉ để ca tụng sự tinh khiết của một giọt sương, sự đẹp đẽ của một cành

hồng, sự lảnh lót véo von của một tiếng chim – như các nhà thơ trước đã từng làm như

thế. Lẽ nào lại như thế – không thể như thế! Thi ca trong giai đoạn này phải là đạn

bom, là tiếng kèn xung trận đanh thép. Sóng Hồng – một trong những nhà thơ, nhà

Trang 30

lãnh đạo cách mạng đã đưa ra những câu thơ khẳng định phương hướng sáng tác mới

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

của các nhà thơ:

“… Lấy cán bút làm đòn xoay chế độ

Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền …”

Và điều đó càng được khẳng định với Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“… Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong …”

So với các thể loại khác, thơ kháng chiến xuất hiện khá phong phú đa dạng có

mặt trong thường trực đời sống tinh thần quần chúng từ sau cách mạng tháng Tám số

người làm thơ, thích thơ lại càng nhiều. Một mặt, hàng triệu người thoát nạn mù chữ,

cuộc sống kháng chiến gian nan con người trong kháng chiến luôn sống trong lo lắng,

hồi hộp, chờ đợi, hi vọng và một mặt không kém phần quan trọng là thơ ca dễ làm dễ

phổ biến rộng rãi và dễ thuộc hơn các loại hình văn chương khác. Hoài Thanh đã có

nhận xét rất xác đáng: “Hầu hết những con người mang ba lộ lặng lẽ đi trên các nẻo

đường kháng chiến trong một quyển sổ tay nào đó thế nào cũng có ít bài thơ. Trong

các buổi hợp mặt, các buổi liên hoan, chen vào giữa các câu chuyện thế nào cũng có ít

bài thơ (…) Trong cuộc chiến tranh của nhân dân ta, tiếng súng, tiếng nhạc, tiếng thơ

cùng hòa điệu”. Chế Lan Viên cũng đã từng khẳng định vai trò và sức mạnh của thơ ca

giai đoạn này qua các vần thơ:

“Ta muốn thơ ta thành hầm chông giết giặc …

… Cho tôi sinh giữa những ngày chống Mĩ

Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy

Bên những dũng sĩ diệt xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi”

Do đó, trong giai đoạn này thơ ca là loại hình phát triển mạnh nhất và lực lượng

sáng tác thơ ngày càng đông đảo. Hầu hết, các nhà Thơ Mới đều tham gia sáng tác thơ

cho cách mạng như: Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Tế Hanh,

Nguyễn Bính…Một mặt họ cầm súng tham gia chiến đấu mặt khác họ sáng tác thơ

phục vụ chiến đấu và không ít các nhà thơ đã hi sinh trong cuộc kháng chiến trường kì

của dân tộc.

Trang 31

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Bên cạnh đó, phong trào sáng tác thơ ca quần chúng cũng phát triển mạnh mẽ

với những cây bút tiêu biểu: Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hữu Loan, Hoàng Cầm,

Quang Dũng…Giờ đây “anh cán bộ chính trị, anh cán bộ quân sự, anh công an, anh

bình dân học vụ, anh thông tin, anh hỏa lực, các chị dân công, các em thiếu nhi, hết

thảy đều làm thơ” (Hoài Thanh). Tất cả họ, mỗi người một nét riêng đã mang đến sự

mới mẻ từ nội dung đến nghệ thuật cho thơ ca cách mạng.

Thơ ca giai đoạn này cũng mang tính kế thừa. Thể hiện cụ thể qua sự giao thoa

giữa cái cũ và cái mới. Nỗi buồn, sự chia ly, mất mát trong Thơ Mới cũng vẫn được

tiếp tục thể hiện nhưng với một cung bật mới, trong những sáng tác của Hữu Loan –

Màu tím hoa sim, Bên kia sông đuống của Hoàng Cầm, Tây tiến của Quang Dũng…

Phong trào thơ ca kháng chiến thể hiện được nhiều tình cảm cao đẹp của con

người Việt Nam trong kháng chiến như: Tình mẹ con, tình vợ chồng, tình yêu, tình

quân dân, tình đồng đội…Hơn ai hết, Tố Hữu người trực tiếp tham gia kháng chiến

nên có cơ hội được gần gũi đời sống nhân dân lao động, nên ông viết nhiều và viết

thấm thía về tình mẹ con qua nhiều bài thơ như: Bà Bủ, bà mẹ Việt Bắc, Bầm ơi. Nhà

thơ đã thể hiện được nỗi trăn trở, thao thức nhớ thương của người mẹ có con đi bộ đội:

“Nhà còn ổ chuối lửa rơm

Nó đi đánh giặc đêm hôm sưởi gì”

Hay:

“Mưa phùn ướt áo tứ thân

Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu”

Tuy nhớ thương con nhưng người mẹ vẫn vượt qua gian khó khăn gian khổ

trong cảnh sống đơn chiếc để động viên con lên đường đánh giặc với bởi luôn có niềm

tin “nó về thắng trận”. Còn đứa con xa nhà đi chiến đấu cũng luôn thầm nhớ về mẹ.

Từ sự cảm thông sâu sắc ấy, Hoàng Trung Thông thể hiện thành công nổi niềm

tâm trạng của bà mẹ khi đón bộ đội về làng như đón những đứa con thân yêu trở sau

những tháng năm xa cách:

“Mẹ già bịn rịn áo nâu

Trang 32

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Vui đàn con ở rừng sâu mới về”

Không chỉ thành công ở các bài thơ viết về bà mẹ, thơ kháng chiến còn có

nhiều bài thơ hay viết về các chị - những người vợ. Họ vừa đảm đang việc nhà vừa

hăng hái nhiệt tình với việc nước. Người phụ nữ trong bài thơ Phá đường của Tố Hữu

dù bận rộn việc nhà trong cảnh “con bế con bồng” nhưng vẫn thu xếp để tham gia

công việc kháng chiến. Hình ảnh của một người vợ trẻ tâm sự qua trang thơ sau đã cho

ta cảm nhận đầy đủ tâm sự của người phụ nữ hậu phương:

“Người ta nhủ đừng trông

Ai cũng bảo đừng mong

Riêng em thì em nhớ”

Cái khắc nghiệt của chiến tranh đã làm bao người phải ngã xuống, bao mái ấm

gia đình phải li tán nhưng không đủ sức làm tắt được niềm tin chiến thắng, niềm tin

sum hợp gia đình của mỗi con người Việt Nam.

Có lẽ thành công và đặc sắc nhất là thơ ca sáng tác về đề tài “người lính” và

“tình cảm quân dân” trong giai đoạn này. Họ - những người vệ quốc quân đến với

kháng chiến từ nhiều vùng quê khác nhau. Đó có thể là những vùng quê “nước mặn

đồng chua” hay những ngôi làng “đất cày lên sỏi đá” hay những con người từ “tứ

sứ”…Nhưng khi đất nước lên tiếng gọi họ sẵn sàng bỏ lại quê nhà công việc đồng

ruộng đầy vất vả và “Ít nhiều người vợ trẻ. Mòn chân bên cối gạo canh khuya”. Họ

đến với chiến trường là điều bất đắc dĩ, trong số họ không ai ham muốn chiến tranh,

không ai muốn ôm súng ra chiến trường. Họ cùng nhau chia sẻ bao ngọt bùi cay đắng,

họ gọi nhau bằng cái tên thật trìu mến “đồng chí” và được Chính Hữu khắc họa thật

xúc động, thật tinh tế bằng những vần thơ:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Trang 33

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”

Những thay đổi về nội dung tư tưởng, thơ ca giai đoạn này chuyển từ “hướng

nội” sang “hướng ngoại”. Nghĩa là thơ ca giai đoạn này thôi nói về những cảm xúc

mang tính riêng tư mà đã gắn bó chặc với đời sống của quần chúng nhân dân, với Cách

mạng. Chính điều đó nên những sáng tác của các nhà thơ cách mạng đều mang tính

phổ quát, giản dị, dễ đọc, dễ nhớ.

Về thể thơ. Thơ ca giai đoạn này vẫn tiếp tục sử dụng phổ biến các thể thơ quen

thuộc của dân tộc như: Lục bát, song thất lục bát, thất ngôn, ngũ ngôn…Thể thơ tự do

cũng được sử dụng khá nhiều vì nó thuận lợi trong cách gieo vần, ngắt nhịp và thể hiện

mạch cảm xúc của nội dung bài thơ. Bên cạnh đó, các nhà thơ cũng đã biết tiếp thu, kế

thừa những mặt hay của phong trào Thơ Mới và không ngừng sáng tạo cái mới.

b. Từ 1954 – 1975

Dù hoàn cảnh đất nước chiến tranh nhưng thơ ca vẫn phát triển mạnh và có ưu

thế hơn các thể loại khác. Được tôi luyện trưởng thành trong những năm kháng chiến

chống Pháp, nên giai đoạn này hầu hết các nhà thơ đã trưởng thành đáng kể trong

chiến đấu cũng như trong sáng tác. Họ ngày càng khẳng định vị trí của mình, do có

quan niệm thơ và cái nhìn hiện thực đúng đắn. Bên cạnh đó, một lượng lớn những nhà

thơ trẻ cũng đã xuất hiện và ngày càng khẳng định được tài năng của mình trên thi đàn

như: Xuân Quỳnh, Dương Hương Ly, Nguyễn Duy, Lâm Thị Mỹ Dạ…Họ mang đến

sự mới mẻ cho thơ ca bằng tài năng và sức trẻ của mình. Giọng điệu khỏe khoắn, cấu

tứ mới mẻ và đầy táo bạo là những gì mà thơ ca trước đây chưa nổi bậc bằng họ.

Một chủ đề lớn của thơ ca giai đoạn này là xoay quanh vấn đề ca ngợi Tổ quốc

XHCN gắn liền với lòng yêu nước nồng nàn tha thiết. Chưa có giai đoạn nào mà lòng

yêu quê hương đất nước lại gắn chặc với lòng yêu chế độ như bây giờ. Tình yêu ấy

quyện thành một thứ tình cảm thiêng liêng cao quý và được gửi gắm phản ánh chân

thực qua thơ ca.

Công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc vô cùng khó khăn gian khổ nhưng

cũng hết sức vẻ vang, sôi nổi, hào hùng. Đây là “mảnh đất lành” cho thơ ca thâm nhập

và nảy nở. Trong mỗi con người Việt Nam lúc ấy tràn ngập một nỗi vui mừng không

Trang 34

tả, chưa bao giờ Tổ quốc lại giàu đẹp trong đôi bàn tay làm chủ của người lao động

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

như bây giờ:

“Yêu biết mấy bước đi, dáng đứng

Của đời ta chập chững buổi đầu tiên

Tập làm chủ, tập làm người xây dựng

Dám vươn mình cai quản lại thiên nhiên”

Hay chính Tố Hữu lại ngỡ ngàn trước sự giàu đẹp của Tổ quốc, đến nỗi ông

phải thốt lên: “Đẹp vô cùng đất nước ta ơi”. Cùng suy nghĩ với ông nhưng với chất

giọng đầy tự hào hơn, Nguyễn Đình Thi từng viết:

“Việt Nam đất nước ta ơi

Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn”

Chế Lan Viên thì trong sự ngỡ ngàng có thoáng chút hoài nghi nên tự hỏi: “Tổ

quốc có bao giờ đẹp thế này chăng?”

Mỗi người một góc nhìn, một cung bậc tình cảm thể hiện, các nhà thơ đã mang

đến cho người đọc đầy đủ và trọn vẹn nhất hình ảnh của một miền Bắc đang căng tràn

nhựa sống, đang thay da đổi thịt từng ngày từng giờ và nhất là vẫn mang trọn vẹn hình

ảnh miền Nam thân yêu trong lòng miền Bắc, đang ngày đêm chi viện cho miền Nam

đánh thắng giặc Mĩ xâm lược.

“Hình ảnh miền Nam trong trái tim tôi”. Đó là câu nói hết sức xúc động mà lúc

sinh thời Bác vẫn thường nói. Trong khi miền Bắc đang ngày càng giàu đẹp thì miền

Nam đang phải gồng mình hứng chịu bao đau thương mất mát do chiến tranh mang lại.

Hiệp định Giơnevơ chia đôi đất nước. Con sông Bến Hải – Vĩ tuyến 17 như một nhát

dao chém đôi “cơ thể Việt Nam”. Hướng về miền Nam thân yêu – “miền Nam đi trước

về sau” cả nước hướng về đây với bao sự xót thương chia sẻ. Biết bao nỗi đau xót xa,

biết bao căm hờn được dồn nén vào những trang thơ. Đề tài lớn thứ hai của thơ ca giai

đoạn này đề tài về miền Nam. Chỉ có một dòng sông thôi mà:

“Bờ nớ bờ ni trông thấy

Sao đành nón ngoắt tay đưa

Trang 35

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Nhìn lại nhìn qua

Sao mắt đành ứa lệ”

Hàng loạt bài thơ ra đời viết về đề tài miền Nam như: Sóng vỗ cửa Tùng của

Lưu Trọng Lư, Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh, Đêm tập kết của Chế Lan

Viên…Từ sự cảm thông chia sẻ ấy các nhà thơ còn thể hiện rõ một niềm tin tất thắng ở

tương lai thống nhất đất nước.

Tóm lại, thơ ca giai đoạn này tập trung vào đề tài “ra trận”. Nó thể hiện rõ ý chí

và tấm lòng của con người Việt Nam vốn “lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa”

(Huy Cận), “Xẻ dọc trường sơn đi cứu nước. Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố

Hữu). Với những tác phẩm tiêu biểu như: Đường ra trận của Chính Hữu, Anh vẫn

hành quân của Trần Hữu Thung, Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân…tất cả đã

tạo nên một giai đoạn thơ ca hết sức vẻ vang đáng tự hào của dân tộc.

Sau hơn ba mươi năm gian khổ kháng chiến, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào thì thơ

ca vẫn không ngừng vươn lên, các nhà thơ vẫn luôn tìm tòi và phản ánh chân thực

cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc. Đó là một bước đi vững chãi, có sự kế thừa

thơ ca trước đó và sự cách tân đột phá táo bạo. Tất cả là sự kết hợp một cách nhuần

nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại. Thơ ca giai đoạn này đã hoàn thành xuất sắc sứ

mệnh lịch sử đặc ra, đồng thời cũng góp phần đáng kể trong công cuộc hiện đại hóa

nền thơ ca nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung.

Trang 36

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

CHƯƠNG 2

CÁI BI

TRONG THƠ CA CÁCH MẠNG VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH

GIAI ĐOẠN 1945 - 1975

2.1 Cảm nhận về sự khốc liệt của chiến tranh

Chiến tranh đã kết thúc hơn ba mươi năm, bom đạn đã thôi không còn rơi nữa.

Nhưng vẫn còn đâu đó trên khắp đất nước này một nỗi đau, một nỗi đau mà thời gian

không thể nào bôi xóa được – đó là nỗi đau về sự tàn phá của chiến tranh để lại. Khi

nhắc tới hai từ “chiến tranh” tự nó đã vẽ lên trong tâm tưởng của mỗi con người bao

cảnh tang thương chết chóc, đạn lạc bom rơi. Theo bước đi của lịch sử, thơ ca cách

mạng những năm 1945 – 1975 đã kịp thời ghi lại một cách đầy đủ, sống động và chân

thực về sự khốc liệt của chiến tranh qua từng trang viết. Nó như một minh chứng lịch

sử hùng hồn tố cáo tội ác của giặc ngoại xâm, đồng thời cất cao tiếng nói phản chiến

của dân tộc Việt Nam.

Dân tộc ta vốn có truyền thống yêu chuộng hòa bình. Qua bao thăng trầm của

lịch sử truyền thống ấy càng được khẳng định và ngày càng được phát huy vẻ vang.

Chiến tranh đối với chúng ta là điều bất khả kháng, không một ai mong đợi. Nếu có

xảy ra đi chăng nữa thì bất cứ cuộc chiến tranh nào trên đất nước Việt Nam này - đó

chỉ là một cuộc chiến tranh vệ quốc, một cuộc chiến tranh chính nghĩa. Hồ Chí Minh

đã từng khẳng định tinh thần yêu chuộng hòa bình của dân tộc ta khá rõ trong lời kêu

gọi toàn quốc kháng chiến, Bác nói: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân

nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thì chúng càng lấn tới vì chúng quyết tâm

cướp nước ta một lần nữa”. Không một ai có thể chối bỏ chiến tranh sẽ mang đến cho

con người không chỉ có chết chóc tan thương, mà chiến tranh còn mang lại biết bao sự

đổ nát điêu tàn. Dân tộc ta đã trải qua bề dày lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ

nước. Từ ngày ông cha ta lập quốc đến nay là ngần ấy thời gian dân tộc ta phải liên tục

chống chọi với những âm mưu xâm lược của kẻ thù. Chính vì thế nên hơn ai hết đất

nước ta phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của chiến tranh mạng lại. Dân tộc ta

hiểu rất rõ bản chất và hậu quả của chiến tranh là gì?

Trang 37

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Mùa thu năm 1945 là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Nó khép lại thời kì

xã hội phong kiến, đồng thời khai sinh ra một xã hội “do dân làm chủ” hết sức tiến bộ.

Cởi bỏ xiềng xích nô lệ cho nhân dân. Nhưng kể từ mùa thu năm ấy thì dân tộc ta phải

liên tục đối đầu với kẻ thù cướp nước hết sức hùng mạnh và gian ác. Chúng ta khoan

hãy tranh cải vấn đề: ai là phe chính nghĩa – ai là phe phi nghĩa, ai là người chiến

thắng và đâu là kẻ chiến bại. Mà chúng ta hãy nhìn vào sự thật trước mắt, rằng chiến

tranh đã mang lại cho chúng ta những gì và nó đã lấy đi của chúng ta những gì? Bản

chất thực của bất kì cuộc chiến tranh nào nằm trong câu trả lời khách quan và đúng

đắn nhất cho câu hỏi vừa nêu. Thơ ca cách mạng thuở ấy như một người thư kí khách

quan, trung thành và tận tụy nhất của thời đại. Nó đã kịp thời ghi lại chân thực qua

từng trang viết sự tàn khốc của chiến tranh mà kẻ thù đã gây ra cho nhân dân ta trên

khắp mọi miền đất nước. Nó được đánh dấu bằng một mùa thu điêu tàn đầy nước mắt

cho con người và thấm sâu vào lòng đất:

“Từ độ thu về hoang bóng giặc

Điêu tàn ôi lại nối điêu tàn!

Đất đá ong khô giờ ngấn lệ

Em có bao giờ lệ chứa chan?”

(Đôi mắt người Sơn Tây – Quang Dũng)

Quân giặc kéo về tràn qua bao thôn xóm, phá tan cảnh thanh bình vốn có gây ra

bao cảnh li hương, hỏi ai không đau lòng, không rơi lệ? Khung cảnh yên vui ngày nào

ở làng quê Kinh Bắc bỗng dưng biến mất từ “ngày khủng khiếp” ấy, thay vào đó là

một khung cảnh “ruộng khô, nhà cháy, chó ngộ một đàn…”. Tất cả nay chỉ còn trong

kí ức xa xôi và đã trở thành kỉ niệm:

“Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô

Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê sắc máu

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

Mẹ con đàn lợn âm dương

Trang 38

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Chia lìa đôi ngả

Đám cưới chuột đang từng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu?”

(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)

Một làng quê trù phú với biết bao nhiêu nét đẹp truyền thống thanh tao, những

giá trị văn hóa lâu đời nay đã bị thiêu trụi trong “ngùn ngụt lửa hung tàn”. Giọng thơ

lúc hùng hồn gấp gáp, lúc sâu lắng chậm rãi. Nó thể hiện khá rõ nét và thành công cảm

xúc bàng hoàng của Hoàng Cầm khi nghe quê hương rơi vào tay giặc. Nếu Hoàng

Cầm “nghe xót xa như rụng bàn tay” khi biết quê hương chìm trong máu lửa của quân

Pháp hung tàn thì Nguyễn Phan Hách lại mượn hình ảnh “Chín nhịp cầu trăn trở” để

nói lên nỗi lòng tê tái của mình khi làng Quan Họ quê mình vào “Những ngày bom Mĩ

thả”:

“Làng Quan Họ quê tôi

Những ngày bom Mĩ thả

Quán đổ dưới gốc đa

Chín nhịp cầu trăn trở”

(Làng Quan Họ - Nguyễn Phan Hách)

Mỗi người một cung bậc cảm xúc về nỗi đau khi chứng kiến cảnh quê hương

đang bị quân thù giày xéo. Nhưng nó đều là cảm xúc chân thực và da diết biết bao của

một người con của quê hương xứ sở khi chứng kiến cảnh quê hương bị tàn phá trong

khói lửa chiến tranh. Tội ác của quân giặc diễn ra nơi nơi, một cái láng nhỏ ven rừng

cũng không thoát khỏi tầm mắt của chúng. Cảnh cướp bóc giết chóc diễn ra như một

thói quen của bọn khát máu trước sự ngỡ ngàng, khiếp sợ và căm phẫn của dân lành:

“Súng nổ kìa! Giặc Tây đến làng

Từng cái láng nó đốt đi trơ trụi

Nó vét hết áo quần trong túi

Mẹ dìu con chạy tót lên rừng”

(Dọn về làng – Nông Quốc Chấn)

Khói lửa chiến tranh thì không “có mắt”. Sự tàn phá nặng nề của chúng diễn ra

khắp nơi không bỏ sót bất cứ nơi đâu, ở những nơi mà chúng đã từng đi qua. Đó có thể

là những ngôi đền ngôi chùa, nơi tôn nghiêm và thanh tịnh nhất:

Trang 39

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

“Bom Mĩ dội, nhà bà tôi bay mất

Đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền”

(Đò lèn – Nguyễn Duy)

Hay một thôn nhỏ ven đồi trong mùa thu hoạch:

“Bỗng tới mùa chim quân giặc tới

Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau

(…)

Từ núi qua thôn, đường nghẽn lối

Xuân Dục, Đoài Đông cỏ ngút đầy

Sân biến thành ao, nhà đổ chái

Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay”.

(Núi đôi – Vũ Cao)

Mùa gặt là mùa yên vui và đầm ấm nhất trong năm, mùa báo hiệu của hạnh

phúc và sum vầy, mùa của bao ước mơ đôi lứa thành sự thật. Ấy vậy mà chỉ chớp mắt

tất cả đã bị xóa sạch và thay thế khung cảnh hỗn độn và ngổn ngang. Xuân Dục, Đoài

Đông là những địa danh có thật. Sở dĩ tác giả đưa ra cụ thể như vậy là để người đọc

thấy tội ác của quân xâm lược là sự thật. Đó có thể là trên những nẻo đường dẫn ra

tuyền tiến, nơi cái chết luôn hiện hữu, rình rập và chờ đợi bất cứ ai:

“Nhưng ngã ba Đồng Lộc xây bằng xương máu

Khi con về quê con nhớ viếng thăm

Mộ mười cô nằm bên đường đó”

(Ngã ba Đồng Lộc – Huy Cận)

Hay cảnh trắng tay mất tất cả của một xóm nghèo trong bài thơ Bếp lửa của

Bằng Việt:

“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi”

(Bếp lửa - Bằng Việt)

Ở nơi nào mà có gót giày của quân xâm lược đi qua thì nơi ấy cảnh giết người

cướp của luôn luôn diễn ra. Tội ác của chúng đã được nhà thơ Phạm Phú Thuần ghi lại

hết sức dã man và độc ác, không từ bất cứ một hành động tội ác nào, miễn sao thỏa

mãn sự khát máu và dã tâm của chúng:

Trang 40

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

“Hãm dân đốt nhà cửa

Giết người cướp của dùng”

(Về thăm vùng bị chiếm - Phạm Phú Thuần)

Chúng cướp đi mọi công lao, của cải của những người nông dân lao động vất vã

quanh năm mới có được. Chúng không bỏ lại bất cứ thứ gì ngoài chết chóc, điêu tàn và

đói khát:

“Có năm đoàn ngựa Nhật vào tỉnh

Xóm tôi không còn một buồng chuối chín

Có năm bom Mĩ đổ xuống quanh nhà

Chỉ còn tiếng kêu trời khóc ra máu

Xóm tôi lại nghèo xơ xác

Đàn gà cũng không kiếm ăn được trên đống rác”

(Những ngày động biển – Văn Cao)

Hết quân Nhật rồi đến quân Pháp và cuối cùng là Mĩ – Ngụy, chúng thay nhau

gieo rắc tội ác xuống quê hương Việt Nam này. Tội ác ấy được lịch sử ghi lại bằng nạn

đói năm 1945, nó đã cướp đi mạng sống của hơn hai triệu đồng bào ta và đã đi vào thơ

ca một cách hết sức xúc động và chân thực:

“Nhưng –

Năm ấy là năm đói khát

Ta lê đi ngã gục mọi con đường

Không đâu còn – cỏ héo để mà ăn!

Bên quán chợ, cầu sông, điếm cỏ”

(Cách mạng tháng Tám – Trần Dần)

Cuộc sống của những người nông dân nước ta vốn đã khốn khó, nghèo khổ nay

phải ngập tràn trong cảnh đạn bom. Lời thơ thật xúc động, bằng những hình ảnh giản

dị nhưng có sức lay động lòng người. Giữa chiến tranh đầy khói lửa thì loài vật còn

không tìm được miến ăn huống chi là con người. Con người lúc ấy cảm thấy bơ vơ lạc

lõng giữa cuộc đời đầy đau khổ này, họ chỉ còn biết kêu trời, trách đất để khóc than

cho số phận của mình. Họ không biết làm gì trước thực cảnh trớ trêu đầy khắc nghiệt

này:

“Nhà cửa ra tro, vườn cháy rụi

Trang 41

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Chồng già giặc bắt chưa tha về

(…)

Khuya sớm không nghe một tiếng gà

Loanh quanh chòi xóm mấy thân già

Đàn bà, con nít buồn ngơ ngát

Tất cả trai làng đã ruổi xa

Ruộng bỏ không cày lau lách mọc

Đường mòn cỏ lấp vắng người đi

Cầu nghiêng ván đổ, trên sông quạnh

Quạ đói kêu buồn rỉa tử thi”

(Gió nội thở dài – Xuân Miễn)

Bài thơ hiện lên khung cảnh một làng quê bé nhỏ nhưng tràn ngập vẻ tiêu điều,

vắng lặng. Cái vắng lặng của chết chóc của điêu tàn sụp đổ. Khăn tang, nước mắt và

những nghĩa trang tràn ngập mộ người có lẽ là những hình ảnh hết sức đáng sợ đối với

mỗi chúng chúng ta bây giờ, nhưng nó lại hết sức phổ biến vào thời ấy. Nó như người

bạn đồng hành cùng với chiến tranh. Ở đâu có chiến tranh là nơi ấy cái chết luôn hiện

hữu. Nó ám ảnh tiềm thức của những con người còn sống trong suốt những năm ác liệt

ấy:

“Ba mươi năm không ngày nào vắng người chết đạn

Khăn tang bay người sống trắng mái đầu

Đâu cũng gặp những nghĩa trang liệt sĩ

Chiến tranh chấm dứt rồi mà nào đâu dễ tin đâu”

(Tản mạn thời tôi sống – Nguyễn Trọng Tạo)

Hay hoàn cảnh thê lương tan tóc qua lời kể của Người đàn bà Ninh Thuận:

“Tang cha còn trắng trên đầu

Đến chồng bị giết, mẹ rầu chết theo”

(Người đàn bà Ninh Thuận – Tế Hanh)

Chiến tranh là thế, con người sống trong chiến tranh phải biết tự mình thích

nghi trước sự khắc nghiệt của thực tại. Bom đạn thì không có sự phân biệt đâu là người

sống đâu là người đã yên nghỉ, chúng hủy hoại tất cả dưới tầm ngắm của mình:

“Thung lũng nằm dưới bầu trời thép

Trang 42

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Bom thù ném chật thung lũng hẹp

Con suối ngàn xưa đang chảy mất dòng

Than bột lên cùng hài cốt cha ông”

(Thung lũng than – Yên Đức)

Sau những trận bom, loạt đạn khát máu ấy, cảnh làng quê yên ả thanh bình chỉ

còn lại một màu trắng tang tóc, một sự điêu tàn lạnh lẽo trong một chiều đông đầy lá

rụng:

“Lá đa lác đác trước lều

Vài ba vết máu loang chiều mùa đông”

(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)

Chỉ hai câu thơ thôi đã gợi tả lên biết bao nhiêu điều, cụ thể hơn là biết bao “cái

chết” ẩn đằng sau nó: Cái chết của một một chiếc lá xa cành, cái chết của một ngày

mùa đông và hơn hết là cái chết của một năm đã trôi đi được đánh dấu bằng một mùa

đông sắp tàn. Hay khung cảnh bầu trời chiều tà ở một làng quê được tô vẽ bằng máu

và dây thép gai:

“Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều”

(Đất nước – Nguyễn Đình Thi)

Màu xanh tươi của cây lúa được thay thế bằng màu đỏ của máu người, những

khóm tre bờ trúc thanh tao nay biến thành những hàng rào thép gai của “ấp chiến

lược”. “Vài ba vết máu” là bao nhiêu? Nó có phải quá nhiều hay quá ít? Vài ba vết

máu thật là hơi ít, nhưng nó đã loang ra, hòa lẫn cùng chiều đông, một khung cảnh

ngày tàn lạnh lẽo đầy sắc máu. Sự khốc liệt của chiến tranh không chỉ diễn ra ở thực

tại mà nó đã đi sâu vào tâm khảm con người. Nó ám ảnh, bám díu lấy nỗi sợ hãi của

con người, nó men theo vào cả trong những giấc ngủ rất vội và chập chờn của những

lần dừng chân trên đường đi hành quân đường xa:

“Giấc ngủ không say

Như em ngủ chập chờn bên trận địa

Như mẹ ngủ bên ngọn đèn thức tỏ

(Ngủ theo đội hình đánh giặc – Nguyễn Đức Mậu)

Trang 43

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Đôi khi nỗi khiếp sợ của chiến tranh nó còn hằng sâu vào tiềm thức vào trí nhớ

của người còn lại dù cuộc chiến đã tàn bom đạn đã thôi rơi:

“Chúng ta nhớ gì những ngày kháng chiến

Một vết đạn giữa trán em bé lên năm

Một vết dao trên ngực người con gái đương thì

Chúng ta nhớ gì những ngày kháng chiến

Một nền nhà cháy một hố bom sâu

Một hố chôn chung

Một dây người bị bắn

Chúng ta nhớ gì những ngày kháng chiến

Mất cả mùa xuân mất cả tình yêu

Mất đôi mắt thật trong, mất thật nhiều rung cảm

Mất rất nhiều đồng chí”

(Những ngày động biển – Văn Cao)

Có khi ranh giới giữa sự sống và cái chết của những con người trong chiến

tranh rất mỏng manh như một sợi chỉ và nhanh như một cái chớp mắt của con người.

Cái chết của chiến tranh không có sự phân biệt nào cả: Trẻ em, một người thiếu nữ

đương thì hay một cụ già phơ phơ tóc bạc đều có thể ngã xuống trong tầm rơi của bom

đạn triền miên:

“Có chuyến đi bom nổ quanh mình

Tai bật máu đất tung vùi lấp

Túi thư vẫn ôm ghì trước ngực

Ngoi lên, rũ áo, lại lao nhanh”

(Chuyện không có trong thư – Tô Hà)

Nhưng dù hiện thực có khắc nghiệt cỡ nào đi chăng nữa, cho dù bị cái chết luôn

rình rập thì họ - những người chiến sĩ vẫn biết cách vượt lên tất cả để chiến đấu và

chiến thắng anh hùng nhất.

Chiến tranh sẽ có ngày kết thúc. Mọi vết thương thể xác có thể sẽ có ngày lành

lại. Nhưng sự khốc liệt của chiến tranh thì vẫn mãi ăn sâu vào tâm hồn những người

lính trận. Họ đã sống trọn vẹn trong chiến tranh, nếm đủ dư vị của nó. Nên mỗi lần

nhớ tới, hay được trở về thăm lại chiến trường xưa – nơi mà mình đã từng đổ xương

Trang 44

máu chiến đấu và hơn thế nữa là đồng đội ít nhiều đã từng có người ngã xuống, thì hỏi

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

ai không quặn lòng đau:

“Cảnh cũ

Hôm nay đổi thay dấu vết

Mười sáu năm tôi trở lại đây

Xương thịt tay gầy,

Cây gạo ngày xưa vẫn nở

Mặt đường còn rỗ dấu bom

Ngực vách đang đau vết đạn”

(Lại về tỉnh nhỏ - Yến Lan)

Chiến tranh tuy không lấy đi tính mạng của họ, nhưng họ có thể để lại chiến

trường một phần cơ thể mình và hơn thế họ đã bỏ lại chiến trường một thứ vô cùng

quý báu – đó chính là tuổi xuân. Tuổi xuân của họ trôi qua nhanh cùng với những

tháng ngày bom đạn chết chóc ấy và mãi mãi không bao giờ trở lại. Đôi khi sự khốc

liệt của chiến tranh được nhìn bằng đôi mắt lãng mạn của thi sĩ nên nó có phần hài

hước và pha một ít dí dỏm trong đó:

“Xe không kính không phải vì không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn trời nhìn đất nhìn thẳng”

(Tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)

Tóm lại, vào những ngày đầu “bình minh của thơ ca cách mạng” hình ảnh thơ

đậm chất lãng mạn, hình tượng người lính những ngày đầu cách mạng mang dáng dấp

của chàng Kinh Kha năm xưa khi bước chân vào mặt trận:

“Thôi hãy lên đường tráng sĩ ơi ?

Quê hương mong đợi đã bao đời

Biên thùy nghe dậy niềm ai oán

Gươm hận mài chưa? Khát máu rồi”.

(Biết gửi đưa ai – báo Vệ Quốc )

Đó là tâm trạng của những ngày đầu xung trận còn vương lại chút mơ mộng của

thời thanh bình đã mất:

Trang 45

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

“Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng

Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm

Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm

Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa

Mái đầu xanh thề mãi đến khi già

Phơi nắng gió hoa ngàn cỏ dại”.

(Ngày về – Chính Hữu )

Họ đi vào chiến trường với những hình ảnh đẹp nhất, anh dũng nhất và cũng

đầy chất lãng mạn nhất:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

(Tây tiến – Quang Dũng )

Đó là hình ảnh người lính Tây Tiến trong cuộc hành quân đầy gian khổ: ăn đói,

mặc rét, sốt rét đến xanh da trụi tóc. Người chiến sĩ vô danh ấy vẫn tiếp bước trên

đường với lòng yêu nước khôn nguôi, cho dù có phải nằm lại nơi chiến trường:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

(Tây tiến – Quang Dũng)

Nhưng rồi bom đạn, chết chóc, chiến tranh ngày càng ác liệt hơn. Hiện thực

cuộc sống đã khiến cho họ không còn những mơ mộng của ngày đầu nhập ngũ. Hình

tượng thơ có sự vận động đi từ lãng mạn đến hiện thực. Điều đó cũng là điều phù hợp

với những vận động biến đổi trong tâm hồn người chiến sĩ. Như chính nhà thơ Chính

Hữu từng tâm sự : “Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, là chính trị viên, hằng ngày tôi

phải chăm nom chôn cất những đồng đội của tôi đã hi sinh và tôi có nhận xét : Bạn tôi,

không có người nào chết trong động tác nằm ngủ, trong tư thế nghỉ ngơi. Họ đều hi

sinh trong khi đang bắn, hoặc ôm bộc phá xông lên”. Nhận xét này đã trở thành sự day

Trang 46

dứt, âm ỉ, nó trở thành một vấn đề trách nhiệm. Và một lúc nào đó, từ trong kỷ niệm,

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

một cách bất ngờ nhất, nó đã hiện lên thành những câu thơ trọn vẹn:

“Bạn ta đó

Chết trên dây thép ba từng

Một bàn tay chưa rời báng súng

Chân lưng chừng nửa bước xung phong

Ôi những con người mỗi khi nằm xuống

Vẫn nằm trong tư thế tiến công”

Đó là hình ảnh sẽ đeo đuổi suốt đời chúng ta về những cái chết, về sự tàn khốc

của chiến tranh. Nó không phải làm ta sợ hãi, trở nên hèn nhát và yếu mềm hơn mà chỉ

có tác dụng thôi thúc chúng ta chắc tay súng để đứng lên chiến đấu. Có lẽ vì vậy mà

hình ảnh người chiến sĩ không còn gắn với “bụi trường chinh” và “áo hào hoa” nữa,

mà đã trở thành người Vệ quốc quân trong tình đồng chí, đồng đội và tình quân dân,

cùng chiến đấu vì lòng yêu tổ quốc mặc cho khói lửa đạn bom vẫn không ngừng rơi,

mặc cho cái chết luôn rình rập.

2.2 Nỗi đau về sự mất mát hi sinh

2.2.1 Nỗi đau về sự mất mát hi sinh của đồng chí, đồng đội

Kháng chiến bùng nổ, người trai lên đường ra chiến trận theo lời kêu gọi toàn

quốc kháng chiến của Hồ chủ tịch kính yêu – lời kêu gọi của non sông, đất nước. Họ đi

vào chiến trường với những hình ảnh đẹp nhất, anh dũng nhất và cũng đầy chất lãng

mạn nhất:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

(Tây tiến – Quang Dũng )

Chính cảm hứng lãng mạn đã nâng đỡ và giúp họ vượt qua sự khắc nghiệt của

hiện thực chiến tranh. Nhưng rồi hiện thực chiến tranh với bao mất mát vốn dĩ của nó

đã tác động trực tiếp vào nhận thức của các nhà thơ. Hình tượng thơ có sự vận động từ

lãng mạn đến hiện thực. Đó là một xu hướng tất yếu của lịch sử. Khi những vần thơ

Trang 47

lãng mạn không đủ sức thuyết phục và giải quyết triệt để nhu cầu nắm bắt hiện thực

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

của độc giả thì sự vận động đó là tất yếu là hợp lí với xu thế chung của thi ca thời đại.

Vì vậy, trong Ba mươi năm – một nền thơ cách mạng, Trúc Chi viết: “Thơ ca những

năm đầu kháng chiến nhìn chung chưa phản ánh được cái không khí thực về cuộc cách

mạng, những tình cảm thực về cảnh đứng dậy của toàn dân. Tâm trạng của những bài

thơ còn nhiều hơi hướng cái “buồn rớt” hoặc “chân dung” của tráng sĩ một thời. Tác

giả đang đi tìm nẻo đường kháng chiến mà tâm hồn vẫn trú ngụ trong những tầng mây

huyền ảo, trí tưởng tượng vẫn trú ngụ ở những bóng dáng thời xưa lạc lõng”. Đó là lí

do cơ bản để thơ ca sau những năm 1945 có đủ điều kiện để nảy sinh đề tài sáng tác

mới. Từ khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn làm chủ đạo thơ ca dần tiếp cận

hiện thực cách mạng, tái hiện chân thực hiện thực cuộc chiến tranh vệ quốc cùng với

những mất mát hi sinh mà nó mang lại.

Đi kèm cùng với sự khốc liệt của chiến tranh tất yếu là những hi sinh mất mát

mà con người phải gánh chịu. Trong ba mươi năm chiến tranh chống thực dân Pháp và

sự can thiệp của Mĩ – Ngụy, không biết bao nhiêu chiến sĩ, đồng chí và đồng bào ta đã

bỏ lại chiến trường một phần cơ thể thậm chí họ đã ngã xuống nơi chiến trường. Để có

được độc lập cho dân tộc tất nhiên chúng ta phải chịu đánh đổi. Nhưng cái giá mà

chúng ta phải đánh đổi quả thật rất to lớn và hết sức nặng nề? Họ - những người lính

trận đều xuất thân từ “lũ chúng tôi, bọn người tứ xứ” hội tụ về đây từ những vùng

miền của Tổ quốc khác nhau “quê hương anh nước mặn đồng chua, làng tôi nghèo đất

cày lên sỏi đá”. Nhưng giữa họ có chung một lí tưởng để sống và chiến đấu, đó là giải

phóng dân tộc, giải phóng cho chính bản thân mình thoát khỏi nô lệ lầm than. Không

ai trong số các anh ôm súng ra chiến trường chiến đấu với mong ước được lưu danh

muôn thuở hay vì một mục đích cao xa nào khác. Tất cả chỉ mong muốn đất nước

thanh bình để được trở lại bên gia đình nơi làng quê của mình dẫu có nghèo khó mà

sống một cuộc sống bình dị nhất. Các anh ra đi và luôn mang theo bên mình ước mơ

giản dị ấy. Nhưng thử hỏi mấy ai trong số họ được thực hiện mong ước đó? Chiến

tranh ngày càng ác liệt hơn, bom đạn hàng ngày vẫn không ngừng rơi xuống đất nước

này. Không biết bao nhiêu người trai của quê hương đất nước đã ra đi, và trong đó

không ít người đã mang theo cả hình ảnh người con gái của quê hương trong tim mình

và mối tình đầu đầy thơ mộng mà chưa một lần dám ngõ lời ước hẹn:

Trang 48

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

“Đi suốt cả thời con trai

Bài thơ chưa kịp tặng ai một lần”

(Lời riêng của lính – Ngọc Bái)

Xưa có câu: “Làm trai phải biết mài gươm trên yên ngựa, nện gió câu qua mấy

dặm trường đình”, khi đất nước có giặc ngoại xâm triệu người như một cùng nhau

đánh đuổi chúng bảo vệ bờ cõi quê hương. Do đó, tình yêu đôi lứa tạm gát sang một

bên để người trai ra đi thực hiện “chí nhớn”. Nhưng khói lửa đạn bom chiến tranh thì

vô tình không có mắt. Họ ra đi hẹn ngày đất nước thanh bình, “chí nhớn” làm xong thì

sẽ thực hiện ước mong tình yêu đôi lứa. Và không ít người đã mãi mãi nằm xuống, mãi

mãi mang theo riêng mình mối tình ngày nào chưa một lần dám ngõ về với lòng đất

mẹ, về với cõi vĩnh hằng.

Chiến tranh là thế. Nó như một cỗ máy khổng lồ do chính con người tạo ra bằng

lòng tham và sự ích kỉ. Và “nhiên liệu” để vận hành cỗ máy đó chính là máu, nước mắt

và cả tính mạng con người. Khi con người tìm đến với cỗ máy vô hình ấy thì như quy

luật tất yếu họ phải để lại nơi chiến trường một thứ quý máu của riêng mình. Có khi

đó là một bàn chân trên cơ thể:

“Hôm nay trở về, một chân anh đã mất”

(Hoa chanh – Nguyễn Bao)

Chỉ một câu thơ vỏn vẹn, tưởng như quá bình thường. Nhưng nếu là người

trong cuộc thì mới thấu hiểu được nỗi đau của người phải gánh chịu mất mát ấy. Có

nỗi đau nào bằng một phần xương thịt cơ thể mình phải mất đi. Tạo hóa ban cho mỗi

người một cơ thể lành lặn và khỏe mạnh, nhưng vì nghĩa vụ thiêng liêng với quê

hương đất nước họ đã chiến đấu anh dũng và kiên cường để ngày trở về với quê hương

cho dù mang trên mình nhiều thương tật nhưng họ vẫn vui cười và hãnh diện vì mình

đã trả được nợ cho non sông, đất nước:

“Hơn mười năm xa anh

Mùa thu cau ra hoa

Mùa xuân đầy vườn quả

Chờ anh, em vẫn chờ

Bây giờ anh trở về

Mang trên mình thương tích”

Trang 49

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

(Vườn cau – Đào Cảng)

Văn học nước Nga có tác phẩm Chiến tranh không có gương mặt phụ nữ và khi

nghĩ về chiến tranh, người ta thường hay liên tưởng trước tiên đến sự mất mát hi sinh,

sự ác liệt gian khổ của những người trực tiếp ngoài chiến trường chiến đấu. Nhưng

không, cái chết và những hi sinh mất mát nó còn len lõi và bám díu lấy số phận của cả

những con người nơi hậu phương – đó là sự mỏi mòn chờ đợi của những người vợ trẻ

“mòn chân bên cối gạo canh khuya”. Trong lời thơ ta bắt gặp hình ảnh người phụ nữ

chờ chồng nơi chiến tuyến, chị ngồi đếm thời gian theo bao lần vườn cau thay lá. Kết

quả của sự chờ đợi mỏi mòn suốt mười năm dài là người chồng của chị đã trở về cùng

với những thương tích của chiến tranh. Chiến tranh đã lấy đi của chị một người chồng

lành lặn khỏe mạnh và đã trả lại cho chị người chồng “mang trên mình thương tích”.

Có lẽ không có nỗi xót xa, đau đớn nào bằng khi chứng kiến cảnh đồng chí, đồng đội

từng một thời san sẻ vui buồn sống chết có nhau với mình phải đổ máu, phải hi sinh:

“Máu đồng đội làm máu tôi đã đổ

Trên cát này mà gió quạt vừa se”

(Gió lào cát trắng – Xuân Quỳnh)

Máu các anh đã đổ xuống trên đất này cho quê hương ngày một xanh tươi trong

hòa bình độc lập. Nhưng biết làm sao khác được, chiến tranh là thế, đôi khi trên đường

đến với vinh quang với thắng lợi cuối cùng của một trận đánh chỉ còn một khoảng

cách rất ngắn ngủi nữa thôi, ấy vậy mà cũng phải kẻ còn người mất. Người ra đi với

khí thế hiên ngang bất khuất, kẻ ở lại thương tiếc không nguôi:

“Cánh rừng còn kia trận mạc còn kia

Vài bước nữa thì tới đường số Một

Vài bước nữa

Thế mà…

Không thể khác

Biển màu gì thăm thẳm lúc anh đi?”

(Phan Thiết, có anh tôi – Hữu Thỉnh)

Hay:

“Không khóc mà nghe nặng cả trời

Nghe lòng như gió bạt ngàn khơi

Trang 50

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Đuổi thuyền đánh cá vô trong bến

Tôi xót như vừa chôn cất ai”

(Thành phố quê hương – Lưu Quang Thuận)

Con đường số Một – đích đến của thắng lợi. Nhưng các anh mãi mãi không đến

được, các anh đã ngã xuống trước ngưỡng cửa của vinh quang. Những đồng đội của

anh còn đó và vẫn nhớ như in ngày anh đi. Lời thơ được kết thúc bằng một câu hỏi tu

từ hết sức đặc sắc: “Biển màu gì thăm thẳm lúc anh đi?”. Trước sự ra đi của anh,

chúng tôi – những đồng đội của anh sao cầm được nước mắt. Nước mắt ứa ra xóa nhòa

cảnh vật trước mắt và màu xanh của biển. Biển vẫn mãi một màu xanh bất tận. Ai cũng

biết như một quy ước. Nhưng trước sự ra đi hiên ngang và quá bất ngờ của các anh

trước thềm chiến thắng, những đồng chí, đồng đội của các anh như không muốn tin

vào sự thật đó. Có lẽ là người đàn ông và hơn thế là người lính trận nên tác giả mượn

câu hỏi tu từ ấy để nói giảm nói tránh, tránh nói trực tiếp đến nước mắt vì thế có vẻ

mềm yếu và quá ủy mị. Nỗi xót xa không nói được thành lời, nó đau đớn như chính

mình vừa chôn cất một người thân mình vừa ngã xuống. Cũng với cảnh xúc ấy, nhưng

Hoàng Lộc lại tái hiện cảm xúc của mình theo một cung bậc khác:

“Hôm qua còn theo anh

Đi ra đường quốc lộ

Hôm nay đã chặt cành

Đắp cho người dưới mộ

Khóc anh không nước mắt

Mà lòng đau như cắt

Gọi anh chữa thành lời

Mà hàm răng nghiến chặc”

(Viếng bạn – Hoàng Lộc)

Trong chiến tranh đôi khi ranh giới giữa sự sống và cái chết mỏng manh như

một sợi chỉ và nhanh như một cái chớp mắt. Chỉ mới ngày hôm qua thôi anh và tôi còn

kề vai nhau chiến đấu, còn trò chuyện vui đùa trên đường hành quân. Ấy vậy mà hôm

nay phải đối đầu với thực tại đau lòng, kẻ ở lại xây mồ cho người nằm xuống. Nếu

Hữu Thỉnh đã không khóc cho đồng đội nhưng nước mắt ông vẫn cứ rơi, thì Hoàng

Lộc đã không ngần ngại khi bật lên tiếng khóc nghẹn ngào cho đồng đội. Nhưng có lẽ

Trang 51

giọt nước mắt của người đàn ông đã chảy ngược vào hồn vào trái tim của người lính

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

trận nên không có giọt nước mắt nào rơi. Từ tiếng nấc đau thương ấy nó đã biến thành

lòng căm hờn tột độ. Những người còn lại xin hứa nghiến chặc hàm răng xiếc chặc tay

súng mà lao mình vào sương gió để sống trọn kiếp trai hùng, dành độc lập cho dân tộc

để sự hi sinh của các anh không trở nên vô nghĩa. Từ lời hứa danh dự của người Cộng

sản bậc lên thành lời thề của non sông đất nước, của người còn sống với người đã

khuất:

“Mai mốt lên cửa rừng

Anh có nghe súng nổ

Là chúng tôi đang cố

Tiêu diệt kẻ thù chung”

(Viếng bạn – Hoàng Lộc)

Chúng tôi không bao giờ quên các anh cũng như cái ngày “hôm qua” kinh

hoàng ấy:

“Hôm qua chúng giết anh

Xác phơi đầu ngõ xóm

Khi lũ chúng quay đi

Mắt trừng còn dọa dẫm:

Thằng này là cộng sản

Không được đứa nào chôn!

Không được đứa nào chôn!”

(Mồ anh hoa nở - Thanh Hải)

“Nghĩa tử là nghĩa tận” một nấm mồ coi như là điều phải có cho người chết để

họ về nơi an nghỉ cuối cùng dù bất cứ hoàn cảnh nào. Sinh mạng con người vô cùng

quý báu không ai có quyền tước đoạt tính mạng của người khác. Nhưng qua lời thơ ta

bắt gặp hình ảnh người chiến sĩ cánh mạng đã anh dũng hi sinh khi rơi vào tay giặc.

Chúng phơi xác anh nơi đầu ngõ xóm để hăm dọa người dân không ai được phép chứa

chấp Cộng sản cũng như chúng muốn cắt đứt tình quân dân. Các anh đã chiến đấu và

hi sinh anh dũng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Hình ảnh anh vệ quốc quân hay

người lính cụ Hồ mãi mãi là hình tượng đẹp nhất trong lòng nhân dân. Dẫu bọn chúng

có cấm đoán có hăm dọa thì làm sao cắt được mối tình thiêng liêng ấy: “Tình quân dân

Trang 52

– cá nước”. Và chỉ ngày mai thôi thân xác các anh cũng sẽ được yên nghỉ trong lòng

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

đất mẹ Việt Nam. Dù lũ chúng có giết các anh nhưng các anh vẫn sống mãi trong lòng

nhân dân, nấm mồ các anh do nhân dân xây đắp vẫn xanh mãi màu xanh hi vọng và

luôn nở tinh khôi một nụ hoa mang tên: “Chiến thắng”. Vì các anh là những người

chiến đấu và hi sinh anh hùng nhất:

“Những đồng chí, thân chôn làm giá súng

Đầu bịt lỗ châu mai

Băng mình qua núi thép gai

Ào ào vũ bão,

Những đồng chí chè lưng cứu pháo

Nát chân nhắm mắt còn ôm

Những bàn tay xẻ núi, lăn bom

Nhất định, mở đường, cho xe ta lên chiến trường tiếp viện”.

(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu )

Những ngày chiến đấu anh dũng đã bộc lộ một cách rực rỡ hình ảnh cao đẹp

của người chiến sĩ cụ Hồ: Kiên trì vượt qua mọi nguy hiểm, anh dũng quên mình vì

nhiệm vụ. Càng gian khổ, đau thương càng thắp sáng trong họ ngọn lửa nhiệt tình cách

mạng, họ vẫn tiếp tục chiến đấu với tâm thế lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi trước

mắt của dân tộc. Hình tượng người lính càng về giai đoạn sau càng tỏa sáng vẻ đẹp của

một quân đội trưởng thành về việc quân cũng như càng thể hiện tinh thần “vì nước

quên thân” của anh bộ đội. Con người mấy ai mà không một lần chết nhưng có cái

chết nặng tựa thái sơn có cái chết nhẹ tợ hồng mao. Vấn đề là chết như thế nào cho có

ý nghĩa, có ích cho đời. Các anh – những người trai sinh ra vào thời quê hương chìm

trong khói lửa thì sống và chết như thế nào lại là điều hết sức quan trọng. Ai mà chẳng

muốn sống yên vui bên gia đình nhưng khi quê hương lên tiếng gọi các anh đã dũng

cảm ra đi chiến đấu. Trong cuộc chiến đấu không cân sức với kẻ thù các anh đã không

ngần ngại nhận lấy về mình những mất mát hi sinh để vì lợi ích chung vì thắng lợi cuối

cùng của dân tộc dẫu biết rằng ngày ấy có thể mình không còn sống. Đáp ứng sự đòi

hỏi bức thiết của thời đại có nghĩa là phải trả lời câu hỏi “Tổ quốc hay là chết” (Lời

của chủ tịch Cuba – Phiđen Catxtơrô) – mà trả lời câu hỏi này chính là sự chọn lựa

của trái tim – và cái giá của sự chọn lựa là máu, là sinh mạng – nhưng trách nhiệm của

Trang 53

nhà thơ là phải trả lời. Câu trả lời ấy không phải của anh mà là với tư cách của một thế

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

hệ những thanh niên nước Việt – cả dân tộc Việt – một dân tộc chịu nhiều oan ức và

khổ đau, trong những tháng năm của một thời kỳ lịch sử lại sáng ngời “Chủ nghĩa anh

Dù thế nào chăng nữa, thì đối với các nhà thơ chiến sĩ - “cái giá trị thiêng

hùng Cách mạng”.

liêng và cuối cùng vẫn thuộc về Tổ Quốc”. Họ đã chứng minh như thế:

“Bạn ta đó

Ngã trên dây thép ba tầng

Một bàn tay chưa rời báng súng

Chân lừng chừng nửa bước xung phong

Ôi những con người mỗi khi nằm xuống

Vẫn nằm trong tư thế tiến công!”

(Giá từng thước đất – Chính Hữu)

Qua bài thơ ta bắt gặp hình tượng thơ hết sức xúc động và độc đáo. Những

người chiến sĩ áo vải cũng như các anh chưa hề biết đến chủ nghĩa anh hùng Cách

mạng nhưng chính các anh lại là người làm đẹp thêm trang sử của dân tộc và dựng nên

tượng đài bất tử cho chủ nghĩa anh hùng Cách mạng. Trong cuộc đối mặt với kẻ thù

không cân sức các anh đã chiến đấu và ngã xuống kiên cường với tư thế hiên ngang

của người chiến sĩ. Hình ảnh đó mãi là nỗi day dứt ám ảnh chúng ta về sự sống và cái

chết, những người còn lại phải sống như thế nào để xứng đáng với sự hi sinh đó:

“Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất

Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu anh phun theo lửa đạn cầu vòng”

(Dáng đứng Việt Nam – Lê Anh Xuân)

Có một điều dễ nhận thấy nhất là những sáng tác về đề tài người lính trong thơ

ca cách mạng hầu hết họ xuất hiện không có tên tuổi cụ thể. Có khi danh xưng là

“Anh”, “Bạn ta đó”, “Những đồng chí”, “Đồng đội”…Điều đó cũng rất dễ hiểu, các

anh đều xuất thân từ nông dân áo vải và chiến đấu cho đất nước của nhân dân nên mỗi

con người đều mang “gương mặt của nhau”. Mỗi người lính đều đại diện cho cả một

tập thể. Do đó, khó có sự phân biệt về tên tuổi, xuất thân của họ. Súng đạn làm anh

Trang 54

chết nhưng ý chí và tư thế hiên ngang của người Cộng sản thì mãi mãi còn đó và đã

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

“tạc vào thế kỉ”. Qua lời thơ của Lê Anh Xuân ta còn nhận ra một tượng đài mới về

người Cộng sản – đó là người “anh hùng vô danh”. Người anh hùng trong thơ xưa thì

“thành liền mong tiến bệ rồng”, họ chiến đấu để mưu cầu công danh còn đối với người

chiến sĩ cách mạng chiến đấu vì nghĩa vụ và đã hi sinh trong âm thầm lặng lẽ:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

(Tây tiến – Quang Dũng)

Có lẽ ước vọng lớn nhất của mỗi người khi cuối đời là được về yên người “nơi

chôn nhao cắt rốn”. Nhưng vì nghĩa vụ các anh đã ra đi và mãi mãi nằm lại nơi chiến

trường xa xôi không một cỗ quan tài không một người thân đưa tiễn chỉ có những

đồng đội thương xót tiễn đưa và núi rừng làm bạn:

“Để anh trên sườn núi vắng

Không biết có bao giờ trở lại

Một ngày về tìm anh ở đâu

Giữa rừng nghìn lối cỏ lan”

(Người tử sĩ – Nguyễn Đình Thi)

Giữa cuộc hành bốn bề rừng núi hoang vu khi giáp mặt với kẻ thù thì kẻ còn

người mất. Dẫu có thương tiếc như thế nào thì người còn sống còn phải tiếp tục lên

đường làm nghĩa vụ nên dù muốn hay không thì cũng phải để những người đã nằm

xuống ở lại. Họ ở lại nơi đây thân xác hòa cùng đất mẹ Việt Nam mà trở thành hồn

thiêng sông núi để sự hi sinh đó trở thành một câu chuyện cổ tích có thật giữa đời

thường:

“Chuyện kể rằng: Em, cô gái mở đường

Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương

Cho đoàn xe kịp giờ ra trận

Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa

Đánh lạc hướng thù, hứng lấy luồng bom”

(Khoảng trời, hố bom – Lâm Thị Mỹ Dạ)

Trang 55

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Nếu như người chiến sĩ cách mạng xuất hiện trong thơ đều “vô danh” thì sự hi

sinh của họ được hình tượng hóa hết sức nhẹ nhàn. Có lẽ không được trực tiếp nói đến

cái chết nên hầu hết các nhà thơ đều mượn hình ảnh: “về đất”, “ngã xuống”, “anh đi”,

“bỏ quên đời”…để nói về sự hi sinh. Trong chiến tranh gian khó người chiến sĩ cách

mạng nhườn nhau từng manh áo, bát cơm, ngụm nước và dành riêng về mình cái chết

cho đồng đội được sống và tiếp tục chiến đấu. Riêng Lâm Thị Mỹ Dạ bắt đầu lời thơ

bằng “chuyện kể rằng…” rất quen thuộc trong truyện cổ tích dân gian Việt Nam. Tác

giả như muốn hình tượng hóa câu chuyện người con gái mở đường đã hi sinh anh dũng

như một câu chuyện cổ tích có thật, mang tầm vóc vĩ đại, đại diện cho cả một dân tộc

Việt Nam anh hùng trong máu lửa.

Đôi khi trong một giây phút yên bình hiếm hoi nào có được trong vô vàn lửa

đạn, kí ức lại tràn về trong tâm tưởng chúng ta và như đặt ra hàng ngàn câu hỏi về sự

sống cái chết và đâu là niềm tin thật sự trong cuộc đời, trách nhiệm của chúng ta đối

với quá khứ đã qua:

“Cánh rừng nào hun hút Trường Sơn

Bạn đã hiến thanh xuân quý báu

Trận đánh nào phải mở con đường máu

Em ngã trên chốt chặn cuối cùng

Đêm tối nào tập kích vào cứ điểm

Bạn hi sinh không mảnh vải quấn thân”

(Vô danh – Ngô Kế Oanh)

Người ngã xuống mang theo cho riêng mình sự anh hùng bất khuất, kẻ còn lại

luôn luôn phải sống trong nhớ thương day dứt về quá khứ và mong chờ tương lai.

Trong suốt chặng đường dài hành quân của người chiến sĩ không ít lần các anh phải

xây mộ cho người nằm xuống bằng nỗi đau và nước mắt. Nếu có một lần ta được trở

lại nơi chiến trường cũ, nơi đồng đội ít nhiều người đã ngã xuống hỏi ai không đau

lòng luyến tiếc về một thời đã từng sống và chiến đấu cùng đồng đội:

“Vạt đồi yên nghỉ bao đồng đội

Nhang trầm một thẻ

biết làm sao

Thắp lên

Trang 56

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

đành cắm nơi đầu gió

Hương khói đừng quên nấm mộ nào”

(Thăm mộ chiều cuối năm – Nguyễn Thái Sơn)

Bài thơ hiện lên hình ảnh người chiến binh được trở về nơi chiến trường xưa.

Với tư thế là người còn sống sau biết bao trận chiến trở lại viếng những đồng chí đồng

đội của mình. Nhưng trong những năm tháng khốc liệt ấy biết bao nhiêu đồng đội của

mình đã ngã xuống nên làm sao có thể trở về viếng từng nấm mộ được, đành nhờ gió

mang tấm lòng thành của mình bay đi khắp nơi để viếng thăm và gửi lời khấn vái tới

từng đồng đội. Và đôi khi những con người dạn dày trong chiến tranh mượn lời người

nằm xuống để nhắn nhủ với những người còn sống:

“Chúng tôi những người lính đã chết

Không thể yêu như các bạn đang yêu

Không thể mong dẫu một lần cuối nữa

Nhìn mây bay lang bạt trong chiều

Chúng tôi những người lính đã chết

Không thể bước qua ngưỡng cửa nhà mình

Và mẹ tôi nhìn buồng cau mới trổ

Không dám nghĩ về cô gái nhà bên

Chúng tôi những người lính đã chết

Không thể đèo xe đưa vợ tới nhà hộ sinh

Không xót xa khi tóc mình chớm bạc

Vì tóc tôi mãi mãi cứ còn xanh!

Chúng tôi những người lính đã chết

Ngưng mọi điều có thể xảy ra

Chỉ mong sao không ai còn cầm súng

Chạy dọc những chiến hào chúng tôi đã từng qua…”

(Nhắn gửi – Trịnh Thanh Sơn)

Tóm lại, mất mát hi sinh trong chiến tranh là điều không thể nào tránh khỏi.

Việc thơ ca cách mạng những năm 1945 – 1975 đề cập đến những mất mát hi sinh là

góp phần phản ánh đa chiều hiện thực chiến tranh. Nó không chỉ đơn thuần là tố cáo

tôi ác của quân xâm lược mà nó còn cỗ vũ chiến đấu. Việc chỉ ra những mất mát hi

Trang 57

sinh mà quân ta phải gánh chịu trong chiến tranh nó là động lực hữu hiệu và to lớn

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

kích thích tinh thần chiến đấu của nhân dân ta quyết tâm dành độc lập cho dân tộc.

Việc nhìn nhận sự khốc liệt và mất mát trong chiến tranh không làm cho chúng ta yếu

hèn thêm, mà nó như khắc sâu ý chí chiến đấu và lòng căm thù giặc. Nó là động lực to

lớn giúp chúng ta đầy đủ nghị lực để vượt qua những năm tháng khốc liệt ấy để đến

với đích thắng lợi cuối cùng. Người còn sống đó mãi khắc trên môi lời thề đối với

người đã chết về mối thù chung nhất quyết phải trả vào một ngày không xa:

“Mai mốt bên cửa rừng

Anh có nghe súng nổ

Là chúng tôi đang cố

Tiêu diệt kẻ thù chung”

(Viếng bạn – Hoàng Lộc)

Trong cuộc sống ai cũng mong chờ hạnh phúc đến với mình, nhưng khi đất

nước chìm trong khói lửa thì hạnh phúc lớn nhất đó là sự hi sinh cho quê hương, cho

đất mẹ Việt Nam. Vấn đề bạn sống như thế nào, bao lâu không quan trọng nữa, mà vấn

đề quan trọng là bạn đã để lại dấu ấn gì cho riêng mình trong cuộc đời này.

2.2.2 Nỗi đau về sự mất mát hi sinh của đồng bào, người thân

Như đã trình bày, sự khốc liệt của chiến tranh cùng với những mất mát đau

thương kèm theo là vô cùng to lớn cho đất nước ta trong ba mươi năm kháng chiến ấy.

Khi nói về những mất mát đau thương trong chiến tranh, người ta thường chỉ nghĩ đến

những người trực tiếp nơi chiến trường chiến đấu. Nhưng “bàn tay” của chiến tranh

còn dang rộng bám díu lấy số phận của nhiều con người khác nữa. Trong ba mươi năm

khói lửa ấy ngoài việc chứng kiến vô vàn “chinh nhân” đã hi sinh, thì không ít đồng

bào ta cũng ngã xuống dưới tầm mưa bom bão đạn của quân thù. Đó có thể là Lượm -

một em bé liên lạc đưa thư, một người chiến sĩ nhỏ tuổi như rất đỗi anh hùng:

“Bỗng lòe chớp đỏ

Thôi rồi, Lượm ơi!

Chú đồng chí nhỏ

Một dòng máu tươi

Cháu nằm trên lúa

Trang 58

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Tay nắm chặt bông

Lúa thơm mùi sữa

Hồn bay giữa đồng”

(Lượm – Tố Hữu)

Khi đất nước có nạn ngoại xâm thì tất cả mọi người phải ra chiến trường chiến

đấu. Ở lứa tuổi lên năm lên mười lẽ ra em phải được cắp sách tới trường cùng bạn bè

trang lứa. Nhưng chứng kiến quê hương chìm trong “điêu tàn ôi lại nối tiếp điêu tàn”,

em đã tự nhận ra trách nhiệm và lí tưởng của cuộc đời mình là tranh đấu. Chưa thể ôm

súng ra chiến trường giết giặc thì các em làm liên lạc ở hậu phương. Đó là công việc

hết sức quan trọng và hữu ích, và em ngã xuống trên quê hương sứ Huế của mình.

Máu em cùng máu cha anh đã đổ trên mảnh đất quê hương để bông lúa trĩu hạt dâng

sự sống cho đời và em xứng đáng được gọi “đồng chí” như bao người chiến sĩ khác.

Hầu hết những “chinh nhân” khoát ba lô lên vai vào trận địa ít nhiều cũng mang

theo cho riêng mình hình ảnh của một “cô bé nhà bên…” và một mối tình đầu. Họ tạm

gác lại tình yêu của mình để “chinh nhân” đi thực hiện “chí nhớn”. Nhưng chiến tranh

thì luôn tìm tàng cho riêng nó bao điều không thể lường trước được:

“Nhưng không chết người trai khói lửa

Mà chết người em nhỏ hậu phương

Tôi về không gặp nàng

Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối

Chiếc bình hoa ngày cưới

thành bình hương…

tàn lạnh vây quanh”.

(Màu tím hoa Sim – Hữu Loan)

“Người trai” ra đi chiến đấu không ngoài mong muốn cho quê hương thanh

bình, người thân được sống trong an lành hạnh phúc. Nhưng chiến tranh thì ai đâu ngờ

trước được. Kẻ lao mình vào lửa đạn hằng ngày phải đối diện với mưa bom pháo dội,

giáp mặt với quân thù và tử thần nhưng lại phải xây mộ cho “người em nhỏ hậu

phương”. Chiếc bình hoa ngày nào là minh chứng cho một mối tình tuyệt đẹp nên

nghĩa vợ chồng, dẫu đám cưới ấy được diễn ra trong vội vã cùng với những ngày hạnh

phúc ngắn ngủi. Nhưng bây giờ nó lại được dùng “thành bình hương…” cho người đã

Trang 59

chết. Nếu màu tím của hoa sim hòa cùng khung cảnh chiều tà tạo nên hình ảnh “tím

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

chiều hoang biền biệt” – một hình tượng độc đáo của thơ ca. Thì chiếc áo dài cùng

màu trắng tinh khôi của lứa tuổi học sinh mãi mãi là nỗi trăn trở ray rứt trong lòng

Quang Dũng:

“Em đi áo mỏng buông hờn tủi

Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?”

(Đôi bờ - Quang Dũng)

Đó còn là sự ra đi đầy đau xót của cô gái sứ Huế mộng mơ:

“Nhớ em gái Thừa Thiên, hi sinh rồi chẳng nói

Mãi mãi để dành ta khoảng thắm bầu trời

Ta vuốt mắt cho em đôi mắt ấy vẫn trong ngời”

(Những gương mặt, những khoảng trời – Bằng Việt)

Vì quê hương “người trai” chấp nhận ra đi chiến đấu bỏ lại quê mối tình của

mình. Họ chỉ mang theo cho riêng mình hình ảnh “mắt xoe tròn thương thương quá đi

thôi” cùng với niềm tin của ngày trở lại. Nào ngờ chiến tranh đã vô tình cướp đi của họ

cái hạnh phúc đơn sơ và giản dị nhất. Đôi mắt xoe tròn ngày nào giờ chỉ còn là kỉ niệm

đẹp và trước mắt là hình ảnh em – người con gái thân yêu cùng với đôi mắt “trong

ngời” thơ ngây đã mãi mãi khép lại. Em đã nằm xuống chỉ còn ta ngồi đây với những

giọt nước mắt tiếc thương và cả một khoảng trời kỉ niệm.

Đôi khi lần gặp gỡ này cũng là lần chia tay vĩnh viễn mà trong số họ mấy ai

ngờ trước được:

“Ai dám ngờ đó là lần vĩnh biệt

Chúng mình gặp nhau thành phố đang thu”

(Một nén hương cho Đào Cảng – Nguyễn Thái Vận)

Mùa thu là mùa đẹp và buồn bã nhất trong năm - mùa gợi lại bao kỉ niệm và ta

tìm thấy trong lời thơ một mùa thu ảo não của chia li, một cuộc chia vĩnh viễn không

ngờ trước được. Con người sống trong chiến tranh phải biết cách chấp nhận sự thật, dù

đó là sự thật chua xót và mình khó có thể đón nhận nhất:

“Hôm nay nhận được tin

Không tin được dù đó là sự thật

Giặc bắn em rồi, quăng mất xác

Trang 60

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Chỉ vì em là du kích, em ơi!

Đau xé lòng anh, chết nửa con người!

Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm

Có những ngày trốn học bị đòn, roi…

Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi”

(Quê hương – Giang Nam)

Kí cứ về tuổi thơ đẹp đẽ và một tình yêu chưa ngõ cùng “cô bé nhà bên”. Nó

vẫn là hành trang quý báu và động lực thôi thúc “chinh nhân” trên đường chiến đấu.

Một nửa của anh trước hết là quê hương, một nửa còn lại đó chính là em. Lần gặp lại

sau ngày Hiệp định họ chỉ kịp cầm nhau trong thẹn thùng, để ngày hôm nay nhận lấy

một tin buồn vô hạn - giặc đã giết em rồi và một nửa linh hồn của anh cũng đã chết.

Em ra đi không có lấy cho riêng mình một nấm mộ đặt tên để ngày trở về anh còn có

cơ hội thắp lên nơi ấy một nén nhang. Thân xác của em giờ đã hòa cùng đất mẹ, hòa

cùng hồn thiêng sông núi Việt Nam. Để khắp đất nước này dù chỉ “từng nắm đất” nơi

đâu cũng có hình bóng của em, nơi đâu cũng là quê hương, xứ sở.

Đều là người lính trận, cũng là một nỗi đau về sự hi sinh của người yêu nơi hậu

phương. Nhưng có lẽ ngày trở về thăm lại “núi Đôi” của Vũ Cao lại nghẹn ngào, lại

quá muộn màng đến nỗi chưa một lần được gặp lại em sau những ngày “chiến đấu

quên mình năm lại năm”:

“Mới đến đầu ao tin sét đánh

Giặc giết em rồi dưới gốc thông

Giữa đêm bộ đội vay đồn Thửa

Em sống trung thành chết thủy chung!

Anh ngước lên nhìn hai dốc núi

Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen

Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói

Núi vẫn đôi mà anh mất em”

(Núi Đôi – Vũ Cao)

Người trai “chiến đấu quên mình năm lại năm” thì người con gái ở hậu phương

cũng hăng hái làm du kích để góp phần đánh đuổi quân xâm lược. Sự anh dũng hi sinh

Trang 61

của em để xứng đáng cùng lí tưởng với “chinh nhân”, xứng đáng được gọi hai từ

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

“đồng chí”. Ngày trở về thăm lại “núi đôi” lần này sao chua xót quá. Cảnh vật vẫn

đây: Hàng thông, bờ cỏ, con đường và “núi vẫn đôi”, như sao quá xa lạ và chia lìa, nó

hiện lên mờ ảo trong tầm mắt đầy ngấn lệ. Cách ngắt nhịp mới lạ, độc đáo làm giọng

thơ như ngẹn lại, bật thành tiếng nấc thê lương: “Núi vẫn đôi/ mà/ anh mất em”. Nỗi

xót xa đó đôi khi còn mãnh liệt, da diết như được thiên nhiên tạo vật đồng cảm, đồng

“Cây hoài vẫn còn đó

điệu:

Giặc Mĩ giết em rồi

Có nghe cành nức nở

Cùng gió gào, em ơi”

(Cô gái Bạch Long Vĩ – Xuân Thiêm)

Cố nén nỗi đau vào lòng, dẫu biết nó là một nỗi đau không gì khỏa lấp được. Và

nó không dừng lại ở hành động khóc thương da diết mà nó đã biến thành động lực,

thành sức mạnh thôi thúc người trai tiếp tục tranh đấu để sự hi sinh của em không trở

nên vô nghĩa, để nước nhà sớm ngày hòa bình thống nhất:

“Giặc giết em rồi

Lòng anh lửa đốt

Ôi dáng hình em anh nhớ anh thương

Đã cháy thành ngọn đuốt”

(Đuốt lá dừa – Lê Anh Xuân)

Trong chiến tranh đâu chỉ có người một lớp người nằm xuống, mà chúng ta còn

phải đối diện sự thật là người thân yêu nhất của ta ngã xuống trong mọi sự thiếu thốn.

Đôi khi ta phải tận mắt chứng kiến người thân yêu nhất của mình bị đòn roi tra khảo

mà chúng ta đành bất lực, vì cố gắng bảo vệ cho chúng ta thoát khỏi sự lùng bắt của

quân thù:

“Bầy giặc Mĩ xúm vào đánh mẹ

Nửa lời không hé

Mẹ lặng thinh trước trận đòn thù

Chúng có mắt như mù

Chúng đánh mẹ nằm chết ngất

Trang 62

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Trên mình mẹ mang nhiều thương tật

Tóc mẹ bạc rồi lại bạc thêm”

(Đất quê ta mênh mông – Dương Hương Ly)

Hình ảnh người mẹ đào hầm nuôi dấu cán bộ hiện ra thật giản dị nhưng quá đỗi

anh hùng. Cả thời xuân xanh cho đến bây giờ thì tóc đã điểm bạc, bà vẫn lặng lẽ đào

hầm để đêm về “tiếng cuốc vọng năm canh”. Trong vòng tay che chở của người mẹ

các anh được an toàn và để đổi lấy những binh đoàn “từ dưới đất xông lên” như thế thì

trên thân thể già yếu của mẹ phải “khắc” đầy thương tật và mái tóc lại bạc thêm theo

thời gian và những trận đòn của quân thù. Và chiến tranh có thể lấy đi người cha thân

yêu nhất:

“Không ván, không người đưa cha đi chôn cất,

Mẹ tháo khăn phủ mặt cho chồng

Con cởi áo liệm thân cho bố

Mẹ ẵm cha đi nằm ở chân rừng

Máu đầy tay, nước mắt đầy mặt…”

(Dọn về làng – Nông Quốc Chấn)

Qua lời thơ ta thấy rõ cảnh tan tóc thê lương của một gia đình tản cư trong vùng

tạm chiếm của địch và hình ảnh người cha nằm chết không có lấy một cỗ quan tài,

chẳng có một chiếc khăn tang và người đưa tiễn. Nó mãi mãi là nỗi ám ảnh kinh hoàng

nhất trong kí ức tuổi thơ tác giả và câu hỏi về trách nhiệm con người cho người trong

cuộc:

“Mẹ tôi em có gặp đâu không

Những xác già nua ngập cánh đồng

Tôi cũng có thằng con bé dại

Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông?”

(Đôi mắt người Sơn Tây – Quang Dũng)

Cái chết luôn hiện hữu và rình rập mọi nơi, nó sẵn sàng lấy đi tính mạng con

người của chúng ta bất cứ lúc nào. Đôi khi chớ trêu thay “tre già phải khóc măng non”:

“Con nghe tiếng kêu la của bà mẹ đi tìm

Quờ quạng xác con trong căn nhà gạch vụn

(…)

Trang 63

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Những tràng súng vô nhân giữa lòng đô thị

Bắn chết trẻ em, ông lão, bà già”

(Thưa mẹ, trái tim – Trần Quang Long)

Hay nỗi lòng của người cha mất con, trong những phút giây ban đầu ông chưa

muốn tin và sự thật cay đắng ấy:

“Điều mất con cha không thể tin

Con sống bây giờ hơn bao giờ đó nhỉ?”

(Góc kỉ niệm con tôi – Trần Lê Văn)

Cha mẹ luôn là người thương yêu và quan tâm nhất đến mọi đứa con của mình

vì đó là một phần máu thịt của họ. Đứa con ra đời là kết quả của bao vất vã nhọc nhằn

của đấng sinh thành. Vì thế, có nỗi đau xót nào hơn khi “người tóc bạc phải khóc kẻ

đầu xanh” trong nước mắt và bàng hoàng.

Nói tóm lại, ba mươi năm kháng chiến trường kì gian khổ đất nước ta phải đối

đầu với hai quân cướp nước hùng mạnh và độc ác. Chúng gây ra bao mất mát hi sinh

cho chiến sĩ và đồng bào ta trên mọi miền Tổ quốc. Gánh trên vai sứ mạng lịch sử vô

cùng to lớn và vẻ vang, thơ ca cách mạng giai đoạn 1945 -1975 đã hoàn thành xuất sắc

vai trò, nhiệm vụ của mình. Theo bước đi của lịch sử, thơ ca cách mạng giai đoạn này

chủ yếu sáng tác theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Nỗi buồn trong

thơ, mà cụ thể là cái bi trong thơ ca cách mạng ít được đề cập đến. Lịch sử dân tộc đã

từng có một thời kì sai lệch về cách nhìn cũng như đánh giá thiển cận giá trị của thơ

ca. Cụ thể là việc quy chụp những bài thơ có nội dung phản ánh chân thực hiện thực

cuộc kháng chiến cùng với những mất mát hi sinh như: Màu tím hoa Sim (Hữu Loan),

Tây tiến (Quang Dũng), Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm)… là “mang màu sắc tư sản

chủ nghĩa”. Những sáng tác này phần lớn đã bị hạn chế phổ biến hoặc đánh giá sai giá

trị nghệ thuật. Nhưng dù muốn hay không thì những hiện thực chiến tranh cùng những

mất mát hi sinh to lớn đã đi vào thơ ca cách mạng như một xu thế tất yếu của lịch sử.

Nó thể hiện đầy đủ những cung bậc cảm súc của con người Việt Nam trong cuộc chiến

không cân sức với kẻ thù. Ngoài ra, nó còn là tránh nhiệm, lương tâm của người cầm

bút đối với đời sống dân tộc, đối với giá trị đích thực của thơ ca nói riêng và nghệ

thuật nói chung.

Trang 64

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

2.3 Nỗi nhớ nhung của người lính trận

2.3.1 Nỗi nhớ quê hương, người thân, người yêu

“Quê hương” hai từ nghe bình dị và đơn sơ biết mấy. Nhưng để hiểu và trả lời

được câu hỏi “Quê hương là gì hở mẹ. Mà cô giáo dạy hãy yêu? Quê hương là gì hở

mẹ. Ai đi xa cũng nhớ nhiều?” mà nhà thơ Đỗ Trung Quân đặt ra thì không dễ dàng

gì. Quê hương là nơi chúng ta được sinh ra, lớn lên và hơn thế nữa nơi ấy gắn liền với

kí ức tuổi thơ của mỗi con người. Đối với Giang Nam thì kí ức tuổi thơ của ông gắn

liền với bao trò chơi tinh nghịch mà giản dị biết bao:

“Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:

"Ai bảo chăn trâu là khổ?"

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.

Những ngày trốn học

Ðuổi bướm cầu ao

Mẹ bắt được..

Chưa đánh roi nào đã khóc!”

(Quê hương – Giang Nam)

Hay là những buổi tắm sông hái trái cùng chúng bạn trang lứa:

“Quê hương tôi có con sông xanh biếc

(Quê hương – Tế Hanh)

Nước gương trong soi tóc những hàng tre”

Và những kí ức tươi đẹp của người lính trong thơ Nguyễn Duy bên người bà tần

tảo sớm hôm, cùng những trò quậy phá của tuổi thơ như: Câu cá, bắt chim sẻ, ăn trộm

nhãn…Nhờ những kỉ niệm ấy mà mãi sau này cùng những ngày chinh chiến người

lính mới không quên những địa danh của quê hương xứ sở:

“Thuở nhỏ tôi ra Cống Na câu cá

Níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng phật

Và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

Chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng”

Trang 65

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

(Đò lèn – Nguyễn Duy)

Chúng ta chỉ thật sự cảm thấy nhớ và yêu thương quê hương của mình da diết

nhất khi sống “nơi đất khách quê người”. Những nhà thơ cách mạng, họ cũng được

sinh ra và lớn lên trên ngay chính quê hương mình. Nhưng chiến tranh bùng lên, nghe

theo tiếng gọi của non sông đất nước, họ từ giả quê hương nơi “cất giữ” kỉ niệm tuổi

thơ để đi tìm “chí nhớn” cho riêng mình và giải phóng quê hương. Ai trong số họ mà

không mang theo trọn vẹn hình ảnh quê hương trong trái tim mình? Nỗi nhớ ấy được

đánh dấu bằng một ngày không thể nào quên trong kí ức của mỗi người lính trẻ trong

những ngày đầu tiên của cuộc kháng chiến:

“Kháng chiến bùng lên biệt thủ đô

Lên đường dẻo bước khoác ba lô”

(Tự thuật – Tú Mỡ)

Hay đó là ngày “tôi lớn lên”, ngày mà người trai giác ngộ được lí tưởng cách

mạng và hơn hết đã tìm được hướng đi, lí tưởng cho cuộc đời mình là tranh đấu cho

Tổ quốc cho giống nòi sớm ngày được hòa bình, độc lập:

“Tôi lớn lên. Giặc ngăn chia đất nước

Nhưng súng gươm đâu ngăn được tình thương

Đâu ngăn được mặt trời đỏ rực

Khi lòng ta đã hóa hướng dương”

(Gửi miền Bắc – Lê Anh Xuân)

Họ hầu hết là những người trai Hà thành chỉ quen với bút nghiêng giấy mực.

Nhưng bây giờ “xếp bút nghiêng theo việc đao cung” thì vẫn còn thoáng chút bâng

khuâng luyến tiếc cảnh thanh bình cũ khi bước chân lên đường vào mặt trận. Đó là

mùa thu Hà Nội đầy lưu luyến:

“Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Tôi nhớ những ngày thu đã xa

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những phố dài xao xác hơi may

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”.

Trang 66

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

(Đất Nước – Nguyễn Đình Thi)

Người trai Hà thành ra đi với khí phách hiên ngang như chàng Kinh Kha thuở

xưa sang sông Dịch “phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn” để làm nên nghiệp cả. Họ

quyết chí ra đi tìm “chí nhớn” bỏ lại phía sau lưng mình hình ảnh quê hương với đầy

ắp những kỉ niệm ngọt ngào và tha thiết của tuổi thơ.

Hay hình ảnh chàng trai trẻ từ giả quê hương vào một ngày “quê tôi đầy bóng

giặc” để ra đi chiến đấu vì quê hương xứ sở:

“Cách mạng bùng lên

Rồi kháng chiến trường kì

Quê tôi đầy bóng giặc

Từ biệt mẹ. Tôi đi”

(Quê hương – Giang Nam)

Quê hương càng tươi đẹp thì lòng người càng xót xa nhớ tiếc và quyết ra đi để

dẹp tan kẻ thù giày xéo quê hương, trả nợ nước báo thù nhà:

“Xanh xanh bãi mía bờ dâu

Ngô khoai biêng biếc

Đứng bên này sông sao nhớ tiếc

Sao xót xa như rụng bàn tay

Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lơn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)

Cảm hứng lãng mạn với khí khái “tráng sĩ” là cảm hứng chủ đạo về hình tượng

người lính những ngày đầu cách mạng. Người chiến sĩ mang dáng dấp của chàng Kinh

Kha năm xưa khi bước chân vào mặt trận:

“Thôi hãy lên đường tráng sĩ ơi?

Quê hương mong đợi đã bao đời

Biên thùy nghe dậy niềm ai oán

Gươm hận mài chưa? Khát máu rồi”.

(Biết gửi đưa ai – báo Vệ Quốc)

Trang 67

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Đó là tâm trạng của những ngày đầu xung trận còn vương lại chút mơ mộng của

thời thanh bình đã mất:

“Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng

Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm

Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm

Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa

Mái đầu xanh thề mãi đến khi già

Phơi nắng gió hoa ngàn cỏ dại”.

(Ngày về – Chính Hữu)

Rồi cuộc chiến không chóng tàn như họ nghĩ. Chiến tranh triền miên, cùng với

những hi sinh mất mát mà họ đã chứng kiến hoặc phải gánh chịu thì tuổi xuân, hi vọng

và niềm tin của “những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng” dần vơi đi theo từng bước

quân hành. Lúc này “chí nhớn” chưa biết bao giờ làm xong, những năm tháng xa quê

hương đã thôi thúc trong lòng họ một nỗi nhớ da diết:

“Quê hương ơi,

Mấy năm trời xa cách

Đêm nay ta nằm nghe mưa rơi,

Nghe tiếng trời gầm xa lắc…

Cớ sao lòng lại xót đau?”

(Nhớ quê hương – Lê Anh Xuân)

“Xa quê mới hiểu lòng đau”, câu nói đó mới nghe thì quá đỗi bình thường,

nhưng chỉ có những người đã, đang trải nghiệm mới hiểu và đủ sức nếm trải dư vị của

nó. Đôi khi nỗi nhớ quê hương bắt đầu từ những gì đơn sơ mộc mạc nhất mà chỉ quê

hương ta mới có:

“Thèm nghe một tiếng chuông chùa

Tiếng của ngày xưa vọng lại

Mảnh đất thoảng mùi hoang sơ

Một chiều bâng quơ khẽ gọi”

(Tiếng gọi – Ngô Quân Miện)

Nỗi nhớ quê hương xứ sở không dừng lại ở những kỉ niệm ngọt ngào của tuổi

thơ. Nó được cụ thể hóa bằng chi tiết thèm nghe lại một tiếng chuông chùa và nếm lại

Trang 68

vị mặn của mảnh đất quê hương. Sự khao khát được nghe, được thấy, được

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

nhìn…những gì của quê hương thật da diết thật mãnh liệt. Để rồi người lính trận nơi

chiến trường xa xôi tay ôm súng và ngồi đếm “thu về, thu lại qua” mà lòng không thôi

mong chờ ngày trở lại để được thấy nhành phượng đỏ, được nghe những âm thanh

quen thuộc của đời thường:

“Bao độ thu về, thu lại qua

Huế tôi thăm thẳm nhớ con xa

Mỗi lần phượng nở rung màu đỏ

Càng giục canh sương một tiếng gà”

(Nhớ Huế quê tôi – Thanh Tịnh)

Đôi khi nỗi nhớ thương da diết được dành cho Việt Bắc - nơi mà người lính

từng sống, chiến đấu và gắn bó như một quê hương thứ hai trong cuộc đời binh nghiệp

của mình:

“Chiều mưa đường số 5

Đôi mắt sao đăm đăm

Chứa cả trời mây nặng

Miền Việt Bắc xa xăm?

Ôi núi rừng thương nhớ

Rét mướt đã hai năm!”

(Chiều mưa đường số 5 – Thâm Tâm)

Đối với mỗi con người thì xa quê ai cũng nhớ, cũng thương về một thứ gì đó rất

riêng của quê hương mình. Nhưng nỗi nhớ quê hương thường gắn liền với nỗi nhớ về

những người thân yêu nhất của mình. Chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh người lính

trong thơ Nguyễn Duy nhớ về gia đình, mà trước tiên là hình ảnh người bà tần tảo sớm

hôm: Mò cua, xúc tép, đi bán trứng…để nuôi đứa cháu mình ngày một khôn lớn giữa

khói lửa mịt mù của chiến tranh. Để rồi đứa cháu ấy lớn lên đi theo tiếng gọi của quê

hương đất nước, chưa một lần trở lại thăm bà cho đến một ngày tất cả đã trở nên muộn

màng:

“Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại

Dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi

Khi tôi biết thương bà thì đã muộn

Trang 69

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”

(Đò lèn – Nguyễn Duy)

Do tuổi trẻ thiếu nghĩ suy nên người lính ấy đâu cảm nhận được tình thương vô

bờ bến của bà. Để rồi một ngày nhận ra quy luật khắc nghiệt của tạo hóa thì mọi việc

đã quá muộn màng không thể nào quay trở lại được vì “bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.

Ngoài hình ảnh người bà, trong thơ Nguyễn Duy ta còn bắt gặp hình ảnh người mẹ tảo

tần hôm sớm hiện lên thật bình dị nhưng quá vĩ đại trong lòng nhà thơ:

“Mẹ ta không có yếm đào

Nón mê thay nón quai thao đội đầu

Rối ren tay bí tay bầu

Áo nhuộm bùn, váy nhuộn nâu bốn mùa”

(Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa – Nguyễn Duy)

Người lính nhớ về người mẹ của mình với bao lo toan vất vả của cuộc sống

thường nhật. Hình ảnh người mẹ nghèo nàn về vật chất nhưng quá đỗi vĩ đại hiện lên

trong tâm tưởng của người lính suốt chặng đường dài hành quân. Nó như tiếp thêm sức

mạnh cho người lính trẻ vượt qua bao gian khổ của cuộc sống chiến tranh. Nếu người

mẹ của Nguyễn Duy là người mẹ của gia đình, của “đàn con lóc nhóc khóc cười” thì

người mẹ trong thơ Hoàng Đình Quang là người mẹ của đất nước, của dân tộc:

“Mẹ hiểu đất nước bằng những ngày cha đi biền biệt

Bằng nỗi ngóng trông đằng đẵng chín năm trường”

(Ngôi nhà của mẹ - Hoàng Đình Quang)

Hay hình ảnh người mẹ già yếu nhưng phải vẫn cố gắng tìm miếng ăn khi

những đứa con của mẹ phải đi xa chiến đấu:

“Bên kia sông Đuống

Mẹ già nua, còm cõi gánh hàng rong

Dăm miếng cau khô

Mấy lọ phẩm hồng

Vài thếp giấy đầm hoen sương sớm

(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)

Người mẹ trong thơ Hoàng Cầm hiện lên thật khắc khổ thật vất vả trong công

việc mưu sinh hằng ngày. Nhưng cuộc sống ấy cũng được chắc chiu tạm sống qua

Trang 70

từng ngày nếu không có “lũ quỷ mắt xanh” không có tính người. Chúng kéo đến “khua

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

giày đinh đạp đỗ quán gầy teo” cướp bóc và giết người không thương tiếc. Hay người

mẹ trong thơ của Yên Thao mỏi mòn chờ đợi tin con khi bóng xế tuổi già:

“Tôi còn người mẹ

Tóc đã ngả màu bông

Tuổi già non thế kỷ

Lưng gầy uốn nặng kiếp long đong

Nắng mưa từ buổi tang chồng

Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon

Thôi xa rồi! Mẹ tôi

Lệ nhòa mi mắt trông con phương trời

Có từng chợt tỉnh đêm vơi

Nghe ròn tiếng súng nhắc lời chia ly!

Mẹ ơi! Con mẹ tìm đi

Bao giờ hết giặc con về mẹ vui”

(Nhà tôi – Yên Thao)

Bên cạnh hình ảnh người mẹ tảo tần hôm sớm vất vả nuôi những đứa con thơ

của mình khôn lớn, thì vẫn còn đó hình ảnh người cha mang chí hướng bốn phương

“mài gươm trên yên ngựa. Nện gió câu qua mấy dặm trường đình”. Người cha đó đã

sống chọn vẹn cho quê hương đất nước:

“Mãi mê lang bạc kì hồ

Xây rồi bán nếp nhà không văn tự

Phủi tay về đẩy xe hồ

Ngán ngẫm những con đường mệt lữ”

(Dòng sông Mẹ - Nguyễn Duy)

Bên cạnh người cha “chí tại bốn phương” ấy vẫn còn đó một người cha mẫu

mực, suốt đời tận tụy cho nước cho dân mà vẫn không quên trách nhiệm với gia đình:

“Suốt đời thồ nặng

Trĩu cả hai vai, việc nước, việc nhà”

(Cầu Bố - Nguyễn Duy)

Trang 71

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Không những sống trọn vẹn cho núi sông mà vẫn gánh vác cả việc gia đình rất

tháo vác và người cha ấy là tấm gương cao đẹp về sự hi sinh trong âm thầm lặng lẽ, là

biểu ượng bất tử cho người đàn ông Việt Nam trong đời sống chiến tranh cũng như

cuộc sống thường nhật:

“Cha tôi đó, dân làng tôi vậy đó

Xả hết mình khi nước gặp tai ương

Rồi thanh thản trở về với ruộng

Sống lặng yên như cây cỏ trong vườn”

(Cầu Bố - Nguyễn Duy)

Nếu nói về nỗi nhớ của người lính mà không nhắc đến nỗi nhớ của người lính

về người yêu, người vợ trẻ nơi hậu phương là một thiếu xót rất lớn. Họ có một vị trí

đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của người lính trong những ngày tháng

chiến đấu gian lao. Hầu hết những người trai tham gia vào chiến tranh đều ở lứa tuổi

đang yêu và số ít vừa lập gia đình. Nên khi xa “nơi chôn nhao cắt rốn” ngoài nỗi nhớ

nhung về quê hương, gia đình thì trong lòng họ luôn luôn hiện hữu một nỗi nhớ

thương da diết về người yêu, người vợ trẻ nơi hậu phương. Nỗi nhớ ấy được khắc họa

với nhiều cung bậc cảm xúc khác: Mộc mạc giản dị nhưng chân thành và mãnh liệt.

Nỗi nhớ trong thơ Nguyễn Đình Thi trước hết là một nỗi nhớ thường trực luôn luôn

hiện hữu trong lòng:

“Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước

Mỗi tối anh nằm, mỗi bữa anh ăn”

(Nhớ - Nguyễn Đình Thi)

Có lẽ bằng sức trẻ đang căng nhựa sống và con mắt thi vị hóa của nhà thơ nên

nỗi nhớ ấy có phần mãnh liệt để khắc sâu thêm ý đồ nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi.

Một bài thơ khác, tuy không mang nỗi nhớ thường trực trong lòng, nỗi nhớ của người

lính trong thơ của ông chỉ “bỗng” nhớ về người yêu từ những đêm dài hành quân gian

khổ, nhưng vẫn hướng đôi mắt chan chứa yêu thương của mình về hậu phương bằng

niềm tin tất thắng cho ngày trở lại. Nỗi nhớ ấy được cụ thể hóa bằng từ “bồn chồn”,

một cảm giác khó tả bằng lời khi nhớ về người yêu, và người lính trẻ ấy vẫn cất giữ

trong lòng đôi mắt của nàng trong ngày đưa tiễn vào một buổi sáng mùa thu Hà Nội:

“Những đêm dài hành quân ta nung nấu

Trang 72

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”

(Đất nước – Nguyễn Đình Thi)

Một nét rất riêng, nỗi nhớ trong thơ của Hồng Nguyên là nỗi nhớ có phần thông

cảm, sẻ chia những vất vả lo toan mà người vợ trẻ phải gánh vác trong thời gian ông

vắng nhà chinh chiến:

“Ba năm rồi gửi lại quê hương

Mái lều gianh,

Tiếng mõ đêm trường,

Luống cày đất đỏ.

Ít nhiều người vợ trẻ

Mòn chân bên cối gạo canh khuya”

(Nhớ - Hồng Nguyên)

Trong cuộc sống này, thật kì diệu khi có nỗi nhớ là thứ duy nhất có thể vượt

qua mọi khoảng cách, mọi giới hạn về không gian cũng như thời gian. Dù khoảng cách

bao xa, dù năm dài tháng rộng cỡ nào đi chăng nữa thì bằng tình yêu con người có thể

vượt qua tất cả, vẫn hướng về nhau bằng cả trái tim tin yêu. Cũng chính nhờ nỗi nhớ

mà con người mới cất giữ trọn vẹn những kỉ niệm ngọt ngào của hai người yêu nhau

dù ngàn trùng cách trở. Đôi khi nỗi nhớ người yêu nó còn len lỏi vào trong những giấc

mơ của người lính từ nơi biên giới xa xôi hẻo lánh:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

(Tây tiến – Quang Dũng)

Bằng một nỗi nhớ nhẹ nhàng nhưng rất tha thiết, người lính trong thơ Nguyễn

Duy nhớ về người vợ của mình thông qua những hành động cụ thể, những công việc

bình thường nhưng ở đó chất chứa biết bao tình cảm mà em đã gửi gắm:

“Em vá cho tôi cái áo lính cũ càng”

(Âm thanh bàn tay – Nguyễn Duy)

Hay nỗi nhớ của người lính trong thơ của Kiên Giang về những buổi chiều chúa

nhật khi tan lễ bên người yêu tay trong tay dạo chơi qua những con phố thân quen:

Trang 73

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

“Lâu quá không về thăm xóm đạo

Từ ngày binh lửa xoá không gian

Khói bom che lấp chân trời cũ

Che cả người thương, nóc giáo đường

Mười năm trước, em còn đi học

Áo tím điểm tô đời nữ sinh

Hoa trắng cài duyên trên áo tím

Em là cô gái tuổi băng trinh”

(Hoa trắng thôi cài trên áo tím – Kiên Giang)

Kí ức về mười năm trước vẫn còn đọng lại trong tâm trí người lính trẻ và anh ra

đi chiến đấu vì muốn “giữ tà áo tím, người yêu cũ. Giữ cả lầu chuông, nóc giáo

đường”. Người trai lên đường gắn cuộc đời mình vào chiến tranh lửa đạn không hẹn

ngày trở lại, thì làm sao tránh được những cuộc chia tay trong luyến tiếc bịn rịn:

“Tôi có người vợ trẻ đẹp như thơ

Tuổi chớm đôi mươi cười buổi dâng cờ

Má trắng mịn thơm thơm mùi lúa chín

Ai đi qua mà chẳng từng bịn rịn

Rời đau thương nào đã mấy ai vui?

Em lặng buồn nhìn với lúc chia phôi

Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ”

(Nhà tôi – Yên Thao)

Tất cả đều nín lặng trong buổi chia li để tình yêu và nỗi nhớ dâng trào trong

lòng để khỏi bận lòng người đi kẻ ở. Đó có thể là một cuộc chia tay trong rực sắc đỏ

của màu cờ của niềm tin rực cháy:

“Chiếc áo đỏ rực như than lửa

Cháy không nguôi trước cảnh chia li

Vườn cây xanh và chiếc nón kia

Không giấu nỗi tình yêu cô rực cháy

Không che được nước mắt cô đã chảy

Những giọt long lanh nóng bỏng rạng ngời

Trang 74

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi”

(Cuộc chia li màu đỏ - Nguyễn Mỹ)

Dù bịn rịn trong lưu luyến nhưng họ vẫn chan chứa một niềm tin tất thắng ở

ngày mai. Họ chia tay trong nụ cười hòa lẫn nước mắt của muôn vàn những cảm xúc

đang ngự trị và trào dâng trong lòng.

Trong thơ Nguyễn Duy ta bắt gặp một buổi tiễn đưa diễn ra trên một triền đê.

Nơi mà, trong suốt buổi đưa tiễn chỉ có hạt mưa và ngọn cỏ theo chân và như nói hộ

họ biết bao lời thầm kín:

“Em đưa tiễn bước chân gìn giữ lắm

Hạt mưa dùng dằng ngọn cỏ ven đê”

(Sông Thao – Nguyễn Duy)

Dù tình yêu trong hai trái tim của họ đã rực cháy nhưng họ phải biết “gìn giữ”

cho nhau để chờ ngày chiến thắng. “Ngọn cỏ dùng dằng” hay chính bước chân của họ

dùng dằng, tâm trạng họ dùng dằng? Tình yêu của họ cao đẹp là thế đó, dù “tình trong

như đã mặt ngoài còn e” nhưng họ vẫn cố kìm chế cảm xúc của mình để khỏi bận lòng

người đi, đau xót người ở lại:

“Giấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay,

Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm,

Bên ấy có người ngày mai ra trận

Họ ngồi im không biết nói năng chi

Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi,

Nào ai đã một lần dám nói?”

(Hương thầm – Phan Thị Thanh Nhàn)

Tác giả xây dựng hình ảnh người phụ nữ khi xuất hiện thật tinh tế. Cái tinh tế ở

chi tiết cái khăn tay và cả hai người đều ngồi im lặng. Từ xưa, chiếc khăn tay là vật đại

diện cho lời thệ ước. Người con gái ấy giấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay là như

nói tất cả với người ra đi rằng: “Dù thời gian có trôi đi làm héo tàn nụ hoa trên tay em

cầm cùng với tuổi xuân đời con gái thì em vẫn chờ anh trở lại và chiếc khăn tay do tự

tay em làm trao tặng anh trước lúc lên đường là minh chứng cho lời hứa và tình yêu

của em”. Nên người con gái xuất hiện trong thơ “nào ai đã một lần dám nói” mà như

đã nói hết tất cả tâm sự của mình qua chiếc khăn tay.

Trang 75

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Nếu cuộc chia tay trong thơ Phan Thị Thanh Nhàn có một thứ hữu hình – chùm

hoa giấu sau chiếc khăn tay thì buổi tiễn đưa trong thơ Nguyễn Bao lại ngập tràn

hương hoa chanh – một thứ vô hình, lung linh như tình yêu của họ tuy chưa một lần

hứa hẹn:

“Anh nhớ ngày đi

Hai đứa nhìn nhau im lặng

Chúng mình chưa hẹn một lời”

(Hoa Chanh – Nguyễn Bao)

Họ không cần phải nói, vì không biết bắt đầu từ đâu và kết thúc từ đâu giữa vô

vàn điều muốn nói. Nên họ chỉ im lặng nhìn nhau để ánh mắt nói hộ tất cả để hình ảnh

của người thân yêu vẫn mãi sống trong lòng dù kẻ ở người đi.

Trong suốt ba mươi năm kháng chiến gian khổ, cái gì luôn thường trực trong

lòng người lính trận? Câu trả lời chỉ có một, đó là niềm tin và nỗi nhớ. Niềm tin vào

chiến thắng ở ngày mai giúp họ tiếp tục kiên cường chiến đấu gian khó. Nỗi nhớ: Quê

hương, gia đình, người yêu, đồng chí đồng đội…giúp họ lạc quan yêu đời và là động

lực to lớn giúp họ tiếp tục chiến đấu để bảo vệ người thân yêu, gia đình và Tổ quốc.

2.3.2 Tình đồng chí, đồng đội

Chưa có thời kì nào thơ ca lại viết về tình đồng, đồng đội, tình quân dân nhiều

như thơ ca kháng chiến. Một nhà phê bình đã nhận định: “Tình đồng đội là chủ đề đậm

nét trong thơ ca kháng chiến”. Trước hết, tình đồng chí đồng đội được xây dựng dựa

trên cơ sở những người cùng chí hướng, cùng quan điểm và cùng chiến đấu vì một lí

tưởng cao cả là giải phóng non sông, đất nước. Trong cuộc chiến tranh đầy gian khổ và

mất mát hi sinh, vô tình đã kéo sát những người lính lại với nhau hơn trong sinh hoạt

cũng như trong chiến đấu. Không giống như người nghĩa sĩ năm xưa: “Chàng tuổi trẻ

vốn dòng hào kiệt. Xếp bút nghiêng theo việc đao cung. Thành liền mong tiến bệ rồng.

Thước gương đã sẵn chẳng dong giặc trời”, họ đến với kháng chiến từ những vùng quê

khác nhau, từ những mảnh đời khác nhau nhưng đều xuất thân từ nghèo khó và đến

với kháng chiến chỉ mong được trở lại cuộc sống bình yên đơn sơ thuở nào:

“Lũ chúng tôi

Bọn người tứ xứ

Trang 76

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Gặp nhau hồi chưa biết chữ

Quen nhau từ buổi “một hai”

Súng bắn chưa quen,

Quân sự mươi bài,

Lòng vẫn cười vui kháng chiến”

(Nhớ – Hồng Nguyên)

Họ gặp nhau từ những miền quê khác nhau mà Hồng Nguyên gọi họ là “bọn

người tứ xứ” cùng đến với kháng chiến bằng sự bỡ ngỡ, lạ lẫm trong những ngày đầu

nhập ngũ. Trong số họ nào ai đã biết đến với súng đạn và chiến trường? Nào ai mong

đợi chiến tranh nổ ra để mình được ôm tay súng? Nhưng bằng “tình yêu sông núi” họ

đã ra đi, vẫn lạc quan cố gắng vượt qua những khó khăn trở ngại trong những ngày đầu

và “lòng vẫn cười vui kháng chiến”.

Nếu người lính trong thơ Hồng Nguyên là những “người tứ xứ” và đều “chưa

biết chữ” thì người lính trong thơ Chính Hữu cũng xuất thân từ “làng tôi nghèo đất cày

lên sỏi đá”. Nhưng người lính trong thơ Chính Hữu còn thông cảm sẻ chia cho hoàn

cảnh của đồng đội của mình khi họ đều xuất thân từ những nơi nghèo khó nhất và cùng

tề tựu về đây chiến đấu cho Tổ quốc thân yêu:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Anh với tôi đôi người xa lạ

Từ phương trời chẳng hẹn mà quen nhau”

(Đồng chí – Chính Hữu)

Sinh ra ở một đất nước vốn có truyền thống nông nghiệp, họ vốn là những

người nông dân mặc áo lính theo bước chân anh hùng của những nghĩa sĩ Cần Giuộc

năm xưa. Đất nước bị kẻ thù xâm lược, Tổ quốc và nhân dân đứng dưới một tròng áp

bức. "Anh" và "tôi", hai người bạn mới quen, đều xuất thân từ những vùng quê nghèo

khó. Hai câu thơ vừa như đối nhau, vừa như song hành, thể hiện tình cảm của những

người lính. Từ những vùng quê nghèo khổ ấy, họp tạm biệt người thân, tạm biệt xóm

làng, tạm biệt những bãi mía, bờ dâu, những thảm cỏ xanh mướt màu, họ ra đi chiến

đấu để tìm lại, giành lại linh hồn cho Tổ quốc. Những khó khăn ấy dường như không

thể làm cho những người lính chùn bước:

Trang 77

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

"Súng bên súng, đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Đồng chí !..."

(Đồng chí – Chính Hữu)

Họ đến với Cách mạng cũng vì lý tưởng muốn dâng hiến cho đời "Sống là cho

đâu chỉ nhận riêng mình". Chung một khát vọng, chung một lý tưởng, chung một niềm

tin và khi chiến đấu, họ lại kề vai sát cánh chung một chiến hào....Dường như tình

đồng đội cũng xuất phát từ những cái chung nhỏ bé ấy. Trong những năm tháng chiến

đấu gian lao vất vả, họ – những người lính luôn gắn bó san sẻ cho nhau những vui

buồn trong cuộc đời binh nghiệp. Đôi khi kỉ niệm chỉ đơn thuần là những lần chuyện

trò, những lần cùng tắm sông hay những đêm mưa lạnh giá phải “quờ chân tìm hơi

ấm”:

“Kỳ hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng

Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa

Đằng nớ vợ chưa?

Đằng nớ?

Tớ còn chờ độc lập

Cả lũ cười vang bên ruộng bắp

Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu”

(Nhớ – Hồng Nguyên)

Kỉ niệm của những người lính hiện lên thật giản dị nhưng rất ấm áp tình người.

Họ “kì hộ lưng nhau”, “quờ chân tìm hơi ấm”…thể hiện sự quan tâm chăm sóc cho

nhau như anh em trong một gia đình, điều mà ở cuộc sống đời thường rất khó tìm thấy.

Người lính trong thơ Nguyễn Duy biết và có thể cảm nhận những thay đổi dù là nhỏ

nhất của đồng đội:

“Ngủ hầm, ngủ võng, ngủ bưng

Gối đầu tay ngủ cầm chừng mỗi đêm

Có người ngủ thế thành quen

Đã nghe sợi tóc bạc trên tay mình”

(Lời ru đồng đội – Nguyễn Duy)

Trang 78

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Những người đồng đội của ông “đã nghe sợi tóc bạc trên tay mình” hay chính

ông đã nhận ra điều đó trước cả những người đồng đội của mình? Trong cuộc sống còn

nhiều gian khổ hi sinh nhưng họ vẫn lạc quan yêu đời vẫn chấp nhận hi sinh tuổi xuân

của mình để chờ ngày vui chung của dân tộc. Chỉ có những tháng ngày gian khó đó họ

mới có cơ hội thật sự hiểu thấu nhau hơn và mối tình đồng chí đồng đội lại gắn kết

chặt chẽ hơn bao giờ hết:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vừng trán đẫm mồ hôi

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt già

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

Đồng chí”

(Đồng chí – Chính Hữu)

Câu thơ chầm chậm vang lên nhưng lại đứt quãng, phải chăng sự khó khăn, vất

vả, thiếu thốn của những người lính đã làm cho nhịp thơ Chính Hữu sâu lắng hơn. Đất

nước ta còn nghèo, những người lính còn thiếu thốn quân trang, quân dụng, phải đối

mặt với sốt rét rừng, cái lạnh giá của màn đêm.....Chỉ đôi mảnh quần vá, cái áo rách

vai, người lính vẫn vững lòng theo kháng chiến, mặc dù nụ cười ấy là nụ cười giá buốt,

lặng câm. Tình đồng đội quả thật càng trong gian khổ lại càng tỏa sáng, nó gần gũi mà

chân thực, không giả dối, cao xa.... Một nụ cười lạc quan, một niềm tin tất thắng, một

tình cảm chân thành đã được Chính Hữu cô lại chỉ với nụ cười - biểu tượng của người

lính khi chiến đấu, trong hòa bình cũng như khi xây dựng Tổ quốc, một nụ cười ngạo

nghễ, yêu thương, một nụ cười lạc quan chiến thắng...

Tình cảm ấy lan tỏa trong lòng của tất cả những người lính. Tình đồng chí là sự

san sẻ cho nhau những thứ thiết yếu nhất trong cuộc đời quân nhân:

“Nửa dĩa cơm chia đỡ đói lòng

Phá rừng gai móc xé da lưng

Mồ hôi đổ xuống se lòng đất

Cho lúa khoai lên mướt rẫy vồng

Trang 79

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

(Nhớ miền Đông – Xuân Miễn)

Giữa cái khốn khó do chiến tranh mang lại thì mọi sự sẻ chia đều rất thiết thực

và cao quý biết bao nhiêu. Dù đói khổ nhưng người lính vẫn xẻ nửa bát cơm của mình

cho đồng đội để qua cơn đói lòng. Hành động đó làm sáng ngời vẻ đẹp con người Việt

Nam vốn có truyền thống “nhườn cơm xẻ áo” cho nhau trong khốn khó. Tình đồng chí

đồng đội còn là một thứ tình cảm thiêng liêng, vì nó mà con người có thể sẵn sàn giành

về mình cái chết để đồng đội được sống và chiến đấu cho Tổ quốc. Tình đồng chí là:

“Là hớp nước uống chung, nắm cơm bẻ nửa

Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa

Chia khắp anh em một mẩu tin nhà

Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp

Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết"

(Nhớ - Hồng Nguyên)

Trong cuộc sống này ai cũng mong muốn được sống trong hạnh phúc và yên

bình nên “nào ai mong nhận cái chết đến cho mình” (Vô danh – Ngô Kế Oanh). Nhưng

vì lí tưởng và trách nhiệm của con người đối với Tổ quốc thì họ sẵn sàn sẻ chia tất cả

từ: Hớp nước nắm cơm, một mẫu tin nhà và cả cái chết là điều đáng sợ nhất. Tình cảm

của họ giành cho nhau trên suốt chặn đường dài hành quân ngày một thắm thiết hơn,

nên mỗi khi tưởng tượng đến cảnh có người phải ngã xuống thì hỏi ai không đau xót

dù chưa biết ai còn ai mất sau cuộc chiến này:

“Ngày mai dù thiếu một hai người

Thiếu một mùi hôi quen thuộc

Con mắt thấy đời nhau và dĩ vãng

Những bàn tay không nói dặn dò”

(Những ngày động biển – Văn Cao)

Dẫu biết đến với chiến tranh là đã chấp nhận đón chào cái chết, nhưng hầu hết

những người lính ấy ai mà không mong mỏi được trở về với quê hương. Một ước mơ

thật giản dị và chính đáng nhưng cũng không thể thực hiện được. Người lính trong thơ

Nguyễn Duy ngoài sự sẻ chia còn thấu hiểu được ao ước đó của đồng đội nên người

lính ấy đã không tin vào sự thật đang hiện hữu trước mắt mình:

“Người bạn tôi không về tới nơi này

Trang 80

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Anh gục ngã bên kia cầu xa lộ

Anh nằm lại trước cửa vào thành phố

Giây phút cuối cùng chấm dứt cuộc chiến tranh”

(Nghe tắc kè kêu trong thành phố - Nguyễn Duy)

Người lính như không tin vào sự thật và rơi vào cảm giác hụt hẫn khi chứng

kiến sự ra đi quá đột ngột của đồng đội trước ngưỡng cửa của hòa bình độc lập. Chiến

tranh đã kết thúc, nụ cười nở tươi trên triệu triệu đôi môi người Việt Nam. Nhưng đối

với những người lính còn sống sót sau chiến tranh thì ngoài nụ cười hạnh phúc của

chiến thắng còn có chút đắng cay pha lẫn. Cái đắng cay khi trong ngày chiến thắng mà

không ít đồng đội đã phải ngã xuống, cái đắng cay của một niềm vui không trọn vẹn.

Nói tóm lại, tình đồng chí đồng đội là một thứ tình cảm vô cùng cao quý và

không thể thiếu trong đời sống chiến tranh của những người lính ngoài mặt trận. Đó là

sự thử thách quan trọng nhất, thử thách giữa sự sống và cái chết. Họ đến với nhau để

truyền cho nhau hơi ấm, nghị lực giữa vô vàn gian khổ của cuộc chiến đấu trường kì

chống quân xâm lược. Nó được thơ ca kháng chiến khắc họa chân thực, sinh động và

hết sức xúc động. Hình tượng người lính cụ Hồ xuất hiện trong thơ ca kháng chiến mãi

mãi là hình tượng thơ ca đẹp nhất trong thời kì kháng chiến và đến ngày nay, nó vẫn

giữ được nguồn cảm hứng thẩm mĩ với nhiều thế hệ người đọc.

Trang 81

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

CHƯƠNG 3

CÁI BI

TRONG THƠ CA CÁCH MẠNG VỀ ĐỀ TÀI HẬU PHƯƠNG

GIAI ĐOẠN 1945 - 1975

3.1 Nỗi lòng người mẹ trông con

Thời gian trôi qua, cùng với từng bước đi của lịch sử, hàng loạt các những bài

thơ ra đời có sức mạnh cổ vũ nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống quân xâm

lược. Nó thực sự trở thành món ăn tinh thần vô giá có mặt trong đời sống thường nhật,

cổ vũ quần chúng đi theo cách mạng và hướng con người tới đời sống tinh thần phong

phú theo hướng “chân - thiện - mỹ”. Các nhà thơ - chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng và

văn hóa đã dùng cây bút như một phương tiện, một vũ khí đấu tranh, tập hợp quần

chúng đi theo con đường của Đảng, đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp.

Bên cạnh các bài thơ viết về người lính, Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, nhân dân ta

anh hùng, trong đó phải kể đến những vần thơ khắc họa vẻ đẹp của người phụ nữ Việt

Nam từ tâm hồn cho đến hành động với tám chữ vàng Bác Hồ trao tặng: “Anh hùng -

bất khuất - trung hậu - đảm đang”. Khi đất nước có chiến tranh thì “giặc đến nhà đàn

bà cũng đánh”. Con cháu Bà Trưng, Bà triệu lại viết tiếp bài ca chiến đấu. Phần lớn

những sáng tác đều tập trung ngợi ca người phụ nữ Việt Nam “Anh hùng - bất khuất -

trung hậu - đảm đang” với chất sử thi hoành tráng, như cuốn biên niên sử của đất nước

trong những giai đoạn hào hùng của lịch sử dân tộc. Người phụ nữ Việt Nam tiễn con

lên đường chiến đấu hết sức dứt khoát và cứng rắn để những đứa con lên đường cho

“đi khỏi vấp”:

“Ngày mai con trai mẹ lên đường

Không bao giờ mẹ khóc

trước mặt con

Cho chúng tôi đi khỏi vấp

Chúng tôi đi, vầng ấm mãi sao lưng

Và tôi hiểu

Trang 82

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

đó là nơi tận cùng

của bề sâu Tổ quốc”

(Nơi tận cùng của bề sâu Tổ quốc – Vũ Đình Minh)

Tâm hồn người phụ nữ vốn mềm yếu, đưa tiễn những đứa con thân yêu lên

đường chiến đấu không biết ngày trở lại thì ai không đau lòng, không luyến tiếc.

Nhưng khi đất nước cần những đứa con của họ thì các mẹ vẫn sẵn lòng cho các anh ra

đi. Họ không khóc trong buổi chia li nhưng trái tim của người mẹ vẫn hướng về các

anh như dẫn dắt, sưởi ấm và soi đường cho những người lính trong suốt chặng đường

dài hành quân gian khổ. Người mẹ đếm từng giây phút quý báu còn lại được ở bên đứa

con thân yêu của mình nên mẹ rất trân trọng và như muốn cố níu kéo thời gian ngừng

lại. Người lính trong thơ Lê Đình Cánh hẳn không quên hình ảnh người mẹ thương

yêu chăm sóc cho anh từng miếng ăn giấc ngủ. Để các anh khỏi đói lòng và mãi nhớ

hương vị của quê hương mẹ đã cẩn trọng “gói tình thương quê nhà” là những nắm cơm

cho các anh mang theo trong lúc quân hành:

“Đưa con đánh Mĩ lên đường

Nắm cơm mẹ gói tình thương quê nhà”

(Mẹ ra Hà Nội – Lê Đình Cánh)

Người mẹ thì lúc nào cũng chu đáo và quan đến những đứa con thân yêu của

mình dù chỉ là một việc rất nhỏ. Hay hình ảnh người mẹ già tiễn các anh lên đường

hành quân trong im lặng và nước mắt:

“Chiều mưa lùa các cửa

Ngày bộ đội hành quân

Mẹ già không nói nữa

Nước mắt nhìn rân rân…”

(Chiều mưa đường số 5 – Thâm Tâm)

Nếu như người mẹ trong thơ Vũ Đình Minh đã cố cầm nước mắt để các con của

mẹ “lên khỏi vấp”, còn người mẹ trong thơ Thâm Tâm thì ngược lại. Vì cuộc chia li

nào không lưu luyến, không bịn rịn. Giọt nước mắt của mẹ rơi thể hiện niềm yêu

thương vô bờ bến dành cho các anh – những đứa con lên đường tìm “chí nhớn” không

hẹn ngày trở lại. Cũng như hình ảnh người mẹ Trà Vinh nghèo nàn nhưng hiếu khách

nhườn cơm xẻ áo, dù chỉ trao tay các anh một khoanh dưa hấu cùng một nhúm muối

Trang 83

mặn nhưng nó là vô giá đối với các anh. Những hành động dù nhỏ nhặt ấy đã mãi in

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

sâu vào lòng những người lính xa quê và làm ấm lòng họ trong những ngày gian khó

nhất:

“Nhớ sao cuộc hành quân

Qua ngọn đồi châu chấu

Người mẹ già Trà Vinh

Vời trao khoanh dưa hấu

Thêm nhúm muối mặn mà

Thấm lòng con chiến đấu”

(Mùa dưa hấu – Trang Nghị)

Trong cuộc kháng chiến bộ đội ta chủ yếu dựa vào dân là chính nên mỗi người

mẹ Việt Nam đều là những người mẹ của các anh lính trẻ và ngược lại mỗi người lính

bộ đội Cụ Hồ đều là những đứa con của các mẹ. Nên không có gì là khác lạ khi các

mẹ thương yêu các anh như con đẻ và những đứa con cũng tự nhủ “mẹ thương mình

nên thương họ”:

“Những buổi tiễn đưa cán bộ lên đường

Mẹ theo chân cho bát nước củ gừng

Con nói: Mẹ thương mình nên thương họ

Cho đến buổi giặc về, súng nổ

Mi cứ đi đi, việc nhà kệ đó

Nhớ nghe con, có chết cũng nên đời

Đừng nghĩ lo chi, tau đã già rồi…”

(Gửi mẹ trong vùng tạm chiếm – Chế Lan Viên)

Cũng chính vì thế nên các mẹ luôn dành những gì tốt đẹp nhất cho các anh –

những người lính trẻ, những người đang, đã và sẽ hi sinh tất cả cho độc lập dân tộc

thống nhất đất nước:

“Cho con nào áo, nào quà

Cho lửa con sưởi, cho nhà con ngơi”

(Bầm ơi – Tố Hữu)

Có lẽ các mẹ đã nhiều lần mẹ tiễn các anh, hết lớp trai này nối tiếp lớp trai khác

lên đường vào mặt trận và những cuộc chia nào cũng trong nước mắt luyến lưu. Để các

Trang 84

anh yên tâm lên đường chiến đấu người mẹ già đã cố tỏ ra cứng rắn và kiên quyết

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

trong buổi tiễn đưa, cùng với đó là lời căn dặn thiết tha “nhớ nghe con, có chết cũng

nên đời”. Chiến đấu và chiến thắng luôn là trách nhiệm và cũng là mong ước của mọi

người lính trận, nên khi đã dấng thân vào chiến trường thì đồng nghĩa với việc các anh

phải tạm gác lại nghĩa vụ với gia đình. Thấu hiểu được điều đó, người mẹ trong thơ

Chế Lan Viên đã một lần nữa củng cố lại lòng tin cho các anh trước giờ lên đường

bằng lời nói giản dị mà quả quyết: “Mi cứ đi đi, việc nhà kệ đó”. Sau những hành động

hi sinh tất cả cho Tổ quốc người chồng và những đứa con thân yêu của mình là một

người mẹ tảo tần hôm sớm vất vả gian lao để chờ ngày các con của mẹ chiến thắng và

trở về với mẹ. Tấm áo sờn vai ngày nào mẹ vá vẫn còn đó là minh chứng cao đẹp cho

tấm lòng thương nhớ mong ngóng tin con của người mẹ - Mẹ Việt Nam anh hùng:

“Mẹ vẫn chờ anh ngày trở lại

Ôi! Người mẹ trọn đời kim chỉ vá may

Vá tấm áo như vá đời mẹ khổ

Từ buổi con đi bấm đốt từng ngày

May tấm áo chờ anh về mặc

Ấp ủ ngày đêm mảnh áo quê nhà

Đem cả nhớ thương ngày đêm mẹ dệt

Gởi đứa con yêu chốn trời xa”

(Bài ca chim Chơrao – Thu Bồn)

Có ai biết được sau hình ảnh người mẹ cứng rắn tiễn các anh lên đường là

người vất vả gian nan, lo toan mọi việc trong nhà. Hơn thế, cứ mỗi đêm về là lúc ngơi

nghỉ mẹ lại chông đèn thâu đêm. Mẹ ngồi đó cố vá lại manh áo sờn vai và lắng nghe

từng tiếng động xa xa, đó có phải các anh về trong đêm hay tiếng bom thù đang dội.

Và thật hạnh phúc biết bao khi chứng kiến hình ảnh người mẹ già bên những người

con áo vải trở về từ đơn vị, dù những người lính ấy không phải là những đứa con ruột

thịt của mình. Nhưng tất cả đều không quan trọng, đều không làm giảm bớt niềm vui

của ngày sum họp:

“Mẹ già bịn rịn áo nâu

Vui đàn con nhỏ rừng sâu mới về”

(Bao giờ trở lại – Hoàng Trung Thông)

Trang 85

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Và kỉ niệm tươi đẹp của những lần họp mặt ngắn ngủi ấy là những kỉ niệm ngọt

ngào và khó quên nhất trong lòng mỗi người lính trận. Nó mãi đi theo các anh như

hành trang quý báu của cả đời binh nghiệp:

“Có mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa

Trăng lên tập hợp hát om nhà”

(Nhớ - Hồng Nguyên)

Mỗi người lính trẻ, mỗi đứa con của mỗi miền Tổ quốc tụ họp về đây vì có

chung lí tưởng, vẫn luôn là “báu vật” của các mẹ, các chị và luôn nhận được những

tình cảm nồng ấm nhất.

Trong kháng chiến gian khó, không ít người mẹ trẻ vì nghĩa vụ thiêng liêng với

đất nước đã không ngần ngại gửi lại đứa con thơ dại của mình và lao vào mặt trận.

Hình ảnh người mẹ trong thơ Lệ Thu là một minh chứng:

“Đêm cuối cùng được ở bên con

Mẹ thao thức lắng nghe từng nhịp thở

(…)

Gà gáy tan canh

Nắng hửng chân trời

Con ở lại với ông bà, con nhé”

(Viết cho con – Lệ Thu)

Trong đêm tiễn đưa, tâm hồn người mẹ trẻ có sự đấu tranh giằng xé dữ dội giữa

cái riêng – tình mẫu tử thiêng liêng với đứa con bé nhỏ đang say giấc nồng và cái

chung – nghĩa vụ với Tổ quốc, và cuối cùng cái chung đã chiến thắng. Trong giờ phút

ngắn ngủi còn được ở bên đứa con thân yêu của mình, người mẹ trẻ chỉ biết ngắn nhìn

thật lâu gương mặt ngây thơ của đứa con của mình vì ngày mai làm sao ai biết được

chuyện gì sẽ xảy đến.

Trong kháng chiến gian khó, hình ảnh người mẹ Việt Nam trông chờ những đứa

con ngoài mặt trận luôn là hình ảnh gây xúc động và cũng là nguồn cảm hứng là đề tài

lớn cho thơ ca kháng chiến. Các mẹ không những giỏi gánh vác việc nhà cho chồng

con yên tâm chiến đấu mà góp phần không nhỏ trong chiến thắng chung của toàn dân

tộc. Người mẹ Việt Nam trong kháng chiến là đại diện xuất sắc cho hình ảnh người

phụ nữ Việt Nam: “Anh hùng - bất khuất - trung hậu - đảm đang”.

Trang 86

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

3.2 Sự mỏi mòn chờ đợi của người yêu, người vợ

Trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam không ít những vần thơ được dành riêng

cho nỗi xót xa chờ đợi đến mỏi mòn của người thiếu phụ chờ chồng đi chinh chiến.

Vẫn còn đó hình ảnh người “chinh phụ” đếm thời gian trôi đi một cách nghiệt ngã

nhất: “Sương như búa bổ mòn gốc liễu. Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô” hay “khắc

giờ đằng đẵng như niên” để chờ đợi “chinh phu” trong tuyệt vọng. Đến thơ ca cách

mạng, bên cạnh hình ảnh người mẹ trông con thì vẫn còn đó hình ảnh con gái là người

yêu, người vợ mỏi mòn chờ tin người trai, người chồng chinh chiến.

Tình yêu thời nào cũng vậy, đẹp nhất hạnh phúc nhất là được sống bên nhau và

ngược lại không có gì đau khổ bằng khi phải sống xa người mình yêu. Nhưng tình yêu

được sinh ra trong thời lửa đạn thì không có sự toàn vẹn cho cả hai. Tức là phải có sự

chọn lựa giữa cái chung – nghĩa vụ với đất nước và cái riêng – tình yêu đôi lứa. Hầu

hết những người con trai thuở ấy đã chọn Tổ quốc và dù không muốn nhưng các chị

cũng phải tiễn các anh ra chiến trận. Và cảnh đưa tiễn nào mà không lưu luyến huống

chi đấy lại là một cuộc chia li không hẹn ước:

“Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay

Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm

Bên ấy có người ngày mai ra trận

Họ ngồi im không biết nói năng chi

Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi

Nào ai đã một lần dám nói?”

(Hương thầm – Phan Thị Thanh Nhàn)

Người con gái im lặng không nói vì không có gì để nói hay không biết nói từ

đâu? Với truyền thống tế nhị và duyên dáng ý tứ của người con gái Việt Nam tác giả

thật tinh tế khi cho người con gái im lặng để chùm hoa được giấu trong chiếc khăn tay

nói hộ lời mình. Chiếc khăn tay là kỉ vật đại diện cho lời hẹn ước sắc son của người

con gái muốn gửi đến cho người sắp ra đi và chùm hoa ấy được giấu thật kỉ lưỡng như

tuổi xuân đời con gái của em sẽ được “phong kín” để chờ ngày anh về:

“Tiễn chân anh ra đi

Em không buồn nhưng cũng nhớ

Trang 87

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Mỗi cánh chim bay qua ngoài cửa sổ

Em ước mình được vỗ cánh bay theo

(Nhớ - Hoàng Thị Minh Khanh)

Người con gái tiễn chân người trai lên đường vào mặt trận tuy không buồn vì

họ biết nỗi buồn của họ có xá gì so với “nỗi buồn” của quê hương đất nước – đó là

cảnh tan tóc chia li. Không buồn hay họ cố kìm nén cảm xúc của mình? Dù thế nào đi

chăng nữa thì nỗi nhớ vẫn sẽ luôn thường trực trong hai trái tim ấy và nó càng mãnh

liệt hơn theo năm tháng cách xa. Hằng ngày người con gái ngồi đếm thời gian hờ hững

trôi nhanh qua khung cửa sổ, để mỗi đêm về chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh “Cửa

sổ hai nhà cuối phố. Không hiểu vì sao không khép bao giờ”. Từ nỗi nhớ thương da

diết ấy cô ước muốn mình được hóa thành cánh chim để bay đến thật nhanh cùng anh

để cho thỏa nhớ thương. Nhưng ước mơ cũng chỉ là mơ ước, khi bừng tỉnh giấc thì

chúng ta phải ngỡ ngàng chua xót đón nhận sự thật và cô chỉ còn cách duy nhất là dõi

mắt về anh theo từng bước quân hành. Dù ở đâu thì họ vẫn ở bên nhau, dù chỉ là trong

nỗi nhớ xa xăm:

“Anh giờ đánh giặc nơi đâu

Chiều Vang, Vụ Bản hay vào Trị Thiên”

(Bao giờ trở lại – Hoàng Trung Thông)

Nhớ thương, cách chia là điều không ai mong muốn vì chia li mấy ai lòng

không đau. Nhưng “khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau” và giọt nước mắt của ngày

chia tay sẽ được thay thế bằng nụ cười xinh tươi trên những gương mặt rạng ngời

trong ngày chiến thắng:

“Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy

Không che được nước mắt cô đã chảy

Những giọt long lanh nóng bỏng rạng ngời

(…)

Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau”

(Cuộc chia li màu đỏ - Nguyễn Mỹ)

Hay nỗi nhớ giản dị nhưng thiết tha của người con gái quê dành cho “các anh”

– những người lính trận dù họ chỉ quen biết nhau qua những ngày bội đội dừng chân

Trang 88

bên một xóm nhỏ. Nhưng đó là một tình cảm vô cùng tha thiết và được khắc họa thành

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

nỗi nhớ và sự chờ đợi:

“Các anh đi

Khi nào trở lại

Xóm làng tôi

Trai gái vẫn chờ mong

Chờ mong chiến dịch thành công

Xác thù chất núi, bến sông đỏ cờ

Anh đi chín đợi mười chờ

Tin thường thắng trận, bao giờ về anh?”

(Bao giờ trở lại – Hoàng Trung Thông)

Họ biết biến nỗi nhớ thương chờ đợi thành lòng tin quyết thắng cho ngày mai

để nỗi nhớ thương chờ đợi của “người em xóm nhỏ” mỏi mòn chờ đợi trong chín năm

dài đằng đẵng về một tình yêu thuở nào không trở nên vô nghĩa:

“Chín năm trời anh đã mang đi

Cả tình em – xóm nhỏ”

(Nhớ - Hoàng Thị Minh Khanh)

Dù thời gian có vô tình trôi nhanh, dù người ta đã bảo thôi đừng trông ngóng

trong tuyệt vọng nhưng “riêng em thì em nhớ”. Em vẫn giữ trọn vẹn niềm tin chờ ngày

anh trở lại dù đã bốn năm trời cách biệt hay thêm bao nhiêu lâu nữa và không có tin

tức gì về anh:

“Xòe bàn tay bấm đốt

Tính đã bốn năm ròng

Người ta bảo không trông

Ai cũng nhủ đừng mong

Riêng em thì em nhớ”

(Thăm lúa – Trần Hữu Thung)

Cái vô giá của người con gái là tuổi xuân. Nó trôi đi rất nhanh và không bao giờ

trở lại. Vì thế, dù bặt vô âm tín về người yêu và chịu nhiều lời lẽ từ mọi người xung

quanh nhưng người con gái ấy vẫn sắc son một lòng chờ đợi. Họ biết vì đâu họ cách

biệt và càng hiểu rõ khi nào lại sẽ được sum vầy. Họ xa nhau vì có bóng quân xâm

Trang 89

lược và chỉ có cách duy nhất cho họ được ở bên nhau là họ phải chiến đấu để quét sạch

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

hết bóng quân xâm lược trên từng mảnh đất của đất nước. Nên dù có buồn khổ khi

phải sống xa nhau nhưng họ biết cách động viên nhau cố gắn vượt qua chờ ngày thắng

lợi thay vì cứ ngồi đó mặc cho nỗi nhớ giày xéo:

“Chúng ta cách nhau bao nhiêu dặm xanh

Chúng ta cách nhau bao nhiêu dặm lửa

Em đừng soi gương và nói chuyện với mắt mình thế nữa

Ta đang cách nhau một khoảng chết của quân thù”

(Em phương xa – Thi Hoàng)

Và họ tin vào ngày mai thắng lợi sẽ đến vì trái tim họ hướng về nhau, ý chí cả

hai hòa thành một:

“Dẫu chúng mình có ngày tháng cách chia

Dẫu chúng mình xa nhau ngàn dặm dài đất nước

Em biết giữa lòng Hà Nội đêm nay anh thức

Anh nghĩ những điều cũng giống như em”

(Mặt trời tháng tư – Ý Nhi)

Bên cạnh sự mỏi mòn chờ đợi của những cô gái đang xuân chờ người yêu chinh

chiến thì vẫn còn đó hình ảnh người “cô phụ” chờ chồng mặc cho thời gian trôi nhanh

tuổi xuân héo úa các chị vẫn tảo tần hôm sớm nuôi dạy con thơ để yên lòng người trai

ngoài mặt trận:

“Thế rồi từ bấy đến nay

Tám năm vất vả nuôi bầy con thơ

Một mình bừa sớm, cấy trưa

Đêm ru con đói lại vừa kéo bông

Xóm làng đi hết đàn ông

Đàn bà heo hút sống trong thẳm rừng

Trải bao kinh sợ hãi hùng

Phần lo Tây bắt, phần không cửa nhà”

(Kể chuyên Vũ Lăng – Anh Thơ)

Tám năm trời vất vả gian lao nuôi dạy đàn con trẻ dại trong vô vàn gian khó

nhưng các chị vẫn không một lời than vãn trách cứ bất cứ ai vì các chị biết các anh

Trang 90

ngoài mặt trận còn gian khổ gấp ngàn lần. Chính lòng cảm thông chia sẻ nên họ tự bảo

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

ban nhau vượt khó để chiến đấu cho thật tốt, mà hơn hết là phải lao động thật giỏi để

hậu phương ngày một vững chắc cho yên dạ “chinh nhân”:

“Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi

Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ

Mẹ chuyển lán, mẹ đi đạp rừng

Mẹ địu em đi để đánh trận cuối cùng

Từ trên lưng mẹ em đến chiến trường

Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn”

(Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm)

Người mẹ hát ru con trên nương hay đang tự bảo mình phải vượt khó vì thắng

lợi đang trước mắt không được để nhục ý chí chiến đấu. Hình ảnh những em bé thơ

ngây vào nông trường, vào mặt trận trên lưng những bà mẹ trẻ luôn là hình ảnh cảm

động nhất. Và bên cạnh những người mẹ may mắn còn có đứa con bầu bạn trong

những ngày chồng vắng nhà chinh chiến thì có không ít những người mẹ không có

được may mắn đó. Chiến tranh đã cướp đi của chị người chồng trong hai mươi năm và

ngày trở về của anh thì vẫn là một dấu hỏi lớn, nên chị thảng thốt khi nhìn lại mình đã

trọn vẹn với anh trong hai mươi chờ đợi và liệu mình có đủ nghị lực để vượt tiếp

chặng đường dài phía trước hay không hay phải đắm mình vì sự cám giỗ của cuộc đời.

Nhưng xóm làng và người thân đã thông cảm và sẻ chia với chị đó là một động lực to

lớn giúp chị mạnh mẽ đi tiếp chặng đường dài cùng dân tộc chiến đấu với kẻ thù xâm

lược:

“Xóm làng thương ý tứ vẫn kêu cô

Xóm làng thương không khoe con trước mặt

Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy

Chỉ sợ đắm mình vì mình còn nhan sắc”

(Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh)

Con người trong thời chiến đã một dạ đinh ninh chờ đợi nhưng đôi khi kết quả

của bao tháng năm chờ đợi lại là một sự thật nghiệt ngã đau lòng:

“Hơn mười năm xa cách

Mùa thu cau ra hoa

Trang 91

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Mùa xuân đầy vườn quả

Chờ anh, em vẫn chờ

Bây giờ anh trở lại

Mang trên mình thương tích”

(Vườn cau – Đào Cảng)

Có gì may mắn cho bằng nhìn người chồng của mình trở lại sau bao tháng năm

chinh chiến. Nhưng đó là một niềm vui không trọn vẹn vì sau cuộc chiến điêu tàn ấy

anh đã bỏ lại tuổi xuân và một phần thân thể của mình nơi chiến trường máu lửa. Rồi

đây, khi trở về với cuộc sống thường nhật với thân thể đầy vết tích của đạn bom liệu

các anh có thể nuôi sống mình và gia đình không hay lại trở thành một gánh nặng thêm

cho người vợ bé nhỏ đã quá cơ cực trong những ngày anh đi chinh chiến. Đó là nỗi

trăn trở giày vò những người trong cuộc, những người có trách nhiệm, có lương tâm

với các anh với đất nước với cuộc đời này.

3.3 Nỗi đau khi đất nước bị chia cắt

Chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi tuyệt đối buộc thực dân Pháp ngồi

vào bàn đàm phám kí kết hiệp định Giơneovơ ngày 21/7/1954. Sau ngày hiệp định

được kí kết - lấy vĩ tuyến 17 và con sông Bến Hải làm ranh giới, chia đất nước thành

hai bờ Nam – Bắc. Miền Bắc được sống trong hòa bình độc lập, tiến hành xây dựng

Chủ nghĩa xã hội đồng thời làm hậu phương chi viện sức người, sức của cho miền

Nam kháng chiến chống sự can thiệp của Mĩ – Ngụy. Cuộc sống mới với bao thành

quả lao động thiết thực hiện lên nhờ đôi bàn tay và khối óc người lao động tạo ra ngày

càng nhiều. Những cảnh đói khát thuở nào được thay bằng những cánh đồng lúa mênh

mông trĩu hạt, những con đường đầy hố bom được làm mới trải rộng thênh thang,

những công trường, nhà máy, xí nghiệp mọc lên ngày càng nhiều…hứa hẹn một cuộc

sống mới tốt đẹp hơn. Từ đây niềm tin của người nghệ sĩ vào cuộc đời ngày càng

mãnh liệt hơn. Họ hoàn toàn thoát khỏi sự “phân vân đứng giữa hai dòng nước” mà đặt

trọn vẹn niềm tin vào cuộc đời mới đang ngày một đơm hoa kết trái. Thơ ca cách

mạng giai đoạn 1955 – 1975 phản ánh sâu sắc và sinh động từng bước đổi thay trên

miền Bắc đang trên đường xây dựng CNXH. Nhưng đó là một niềm vui chưa trọn vẹn

vì miền Nam đang từng ngày từng giờ phải hứng chịu bom đạn của kẻ thù. Vĩ tuyến 17

Trang 92

- con sông Bến Hải như nhát dao vô hình chặt đôi “cơ thể” Việt Nam nên con đường

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

giải phóng dân tộc chúng ta đi được mới chỉ nửa chặng đường, phân nửa còn lại đầy

gian khổ và hi sinh:

“Đường giải phóng mới đi một nửa

Nửa mình còn trong nước lửa sôi”

(Ba mươi năm đời ta có Đảng – Tố Hữu)

Sông Bến Hải không rộng, cầu Hiền Lương không dài, vậy mà đôi bờ cách trở.

Đó là nỗi đau không thốt được nên lời:

“Sông Hiền Lương bên ấy bên này

Chống cửa giơ tay chừng với tới

Bóng mái nhà ai ngã đến đây

Chung một đò qua chung bến đợi

Như thế mà miền Nam miền Bắc,

Trăm thước mà vì sao rộng quá chừng?

Con sóng hay là dao kéo cắt

Đắng cay giọt muối lệ rưng rưng”

(Nước chảy ngang – Tế Hanh)

Chỉ đôi bờ sông nhỏ ấy vậy mà suốt hơn hai mươi năm dài phải sống cách trở

như hai thế giới xa xôi không bao giờ đến được. Lời thơ như dao cứa, kéo cắt, muối

xát vào lòng người, ai nghe mà không ngậm ngùi rưng rưng lệ? Trong suốt hơn hai

mươi năm ấy làm sao có thể vui sướng khi mỗi ngày phải chứng kiến cảnh chia li:

“Bờ nớ bờ ni trông thấy

Sao đành nón ngoắt tay đưa

Nhìn lại nhìn qua

Sao mắt đành ứa lệ”

(Sóng vỗ Cửa Tùng – Lưu Trọng Lư)

Không ứa lệ sao được khi non sông ta là một, Tổ quốc ta là một, nhưng bây giờ

làm sao chấp nhận được sự thay đổi đó. Thiên nhiên tạo vật vẫn như xưa, vẫn “trời

vẫn xanh một màu xanh Quãng Trị. Tận chân trời mây núi có chia đâu” (Nói chuyện

Hiền Lương – Tế Hanh) và bầu trời về đêm vẫn thế “sao đêm chung sáng chẳng chia

miền” (Đêm sao sáng – Nguyễn Bính)...Nhưng sao bây giờ hiện thực lại đất nước lại

Trang 93

chia phôi. Nỗi nhớ thương day dứt vẫn không nguôi trong lòng bao con người Việt

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Nam. Đó là nỗi trăn trở về sự khác biệt không đáng có trên hai bờ của một dòng sông:

“Tôi đứng bên này sông

Bên kia vùng địch đóng

Làng tôi đấy xạm đen màu tuyết đọng

Tre cau buồn tóc rũ ướt mưa sương

Màu trắng vôi lờm lợp mấy khung tường

Nếp đình xưa người hỡi đau gì không ?”

(Nhà tôi – Yên Thao)

Không đau xót sao được khi bên kia sông là quê hương ta đó, nhà ta ở đó mà

không bao giờ ta trở về nơi ấy được và hằng ngày ngày ta chỉ biết dõi mắt nhìn về nơi

ấy. Quê hương bên ấy càng đẹp thì nỗi xót xa càng lớn và nỗi căm hờn càng sâu:

“Cửa Tùng ơi Cửa Tùng

Tên đẹp như biển đẹp

Hờn sâu như biển sâu

Tôi nghe tiếng biển quê hương gầm thét

Sóng cuộn trong tim, gió chạy trên đầu”

(Cửa Tùng – Hoàng Trung Thông)

Sóng biển thét gào hay chính trái tim của mỗi con người yêu nước thương nòi

đang quặn đau, đang thét gào? Chiếc cầu Hiền Lương như ranh giới ở giữa hai đầu nỗi

nhớ Nam – Bắc. Ngày nào tập kết ra Bắc những chành trai miền Nam giơ cao hai ngón

tay trước mặt người thân ngụ ý hai năm sau sẽ trở về sau ngày hiệp thương, mà bây

giờ thấm thoát đã hai mươi năm mà đôi bờ chưa nối lại được hỏi ai không ngậm ngùi.

Đất nước ta là một vậy mà hết sức vô lí khi “đất nước Việt Nam, người Việt Nam

không bước tới” vì bọn Mĩ – Ngụy cấm đoán người ở hai đầu chiếc cầu qua lại với

nhau. Nên họ chỉ biết sống trong chờ đợi mỏi mòn:

“Mắt mải nhìn mòn cả nửa con ngươi

Thân đứng đây thân chết nửa con người

Lời tôi nói lời tôi nghe đứt đoạn”

(Sóng vỗ Cửa Tùng – Lưu Trọng Lư)

Trang 94

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Một nửa đất nước chìm trong đau thương thì cũng như một nửa thân thể con

người Việt Nam đã chết. Nỗi nghẹn ngào không thốt được thành lời, nếu có chăng

cũng chỉ là những lời đứt đoạn pha lẫn những tiếng nấc thê lương. Trong tâm khảm

mỗi con người luôn thường trực một câu hỏi: Tại vì sao đất nước chia đôi, tại vì ai dân

tộc ta khốn khổ? Câu trả lời là bởi chiến tranh và những con người tạo ra chiến tranh

mà thôi. Chỉ có chiến tranh mới mang lại cho con người bao cảnh tang tóc thê lương

như thế mà thôi.

“Hình ảnh miền Nam trong trái tim tôi”. Đó là câu nói hết sức xúc động mà lúc

sinh thời Bác vẫn thường nói. Trong khi miền Bắc đang ngày càng giàu đẹp thì miền

Nam đang phải gồng mình hứng chịu bao đau thương mất mát do chiến tranh mang lại.

Hiệp định Giơneovơ chia đôi đất nước. Con sông Bến Hải – Vĩ tuyến 17 như một nhát

dao chém đôi “cơ thể Việt Nam”. Hướng về miền Nam thân yêu – “miền Nam đi trước

về sau” cả nước hướng về đây với bao sự xót thương chia sẻ. Biết bao nỗi đau xót xa,

biết bao căm hờn được dồn nén vào những trang thơ. Đề tài lớn thứ hai của thơ ca giai

đoạn này đề tài về miền Nam thân yêu:

“Miền nam ơi vì sao mỗi lúc

Mây chiều xa bay giục cánh chim

Đêm khuya nghe một tiếng bầu, tiếng trúc

Một câu hò…cũng động trong tim”

(Miền Nam – Tố Hữu)

Miền Nam thân yêu thiết tha với tiếng bầu, tiếng trúc mỗi đêm khuya trỗi lên

như gieo vào lòng tác giả bao nỗi xót xa cay đắng về một nửa quê hương đang chìm

trong máu lửa. Nên tâm hồn ông luôn luôn trăn trở phân vân giữa việc “muốn viết

những dòng thơ tươi xanh” hay những vần thơ máu lửa cho miền Nam, giữa ca ngợi

“Hà Nội dập dìu rộn rã đường vui” nhưng tận đáy lòng ông “có thể nào yên”, “có thể

nào nguôi”, “có thể nào khuây” và “có thể nào quên”. Nên từng giờ từng phút từng

giây nhà thơ luôn trông ngóng tin từ miền Nam thân yêu:

“Có thể nào nguôi từng viên đạn Mĩ

Bắn miền Nam, nát thịt da xương tủy

Của mẹ cha, đồng chí, vợ con

Anh chị em ta, ai mất, ai còn?

Trang 95

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Hôm nay sáng mát trong, trời lặng

Hai mươi tám máy bay lên thẳng

Của lục quân lính thủy Mĩ, đi càn

Cách Sài Gòn 35 dặm phía Nam…

(Có thể nào yên – Tố Hữu)

Mỗi một quả bom rơi vào lòng miền Nam, mỗi một người miền Nam ngã xuống

dưới gót giày của bọn ngoại xâm như mỗi chiếc dao cắt vào trái tim nóng bỏng của Tố

Hữu. Ông nghẹn ngào nhưng không khóc vì ông biết giọt nước mắt chỉ dành cho ngày

thắng trận, cho ngày hòa bình thống nhất:

“Ta biết em rất khỏe, tim ơi

Không khóc đấy. Mà sao nóng bỏng”

(Bài ca xuân 61 – Tố Hữu)

Có phải vì nỗi đau quá lớn nên không thể bậc thành tiếng khóc mà giọt nước

mắt đã chảy ngược vào hồn, hay giọt nước mắt chỉ “để dành cho ngày gặp mặt”

(Chúng con chiến đấu – Nam Hà)? Nhưng những mất mát hi sinh của miền Nam vẫn

đang làm quặn thắt trái tim của Tố Hữu trong suốt chín năm ròng chờ đợi:

“Có ai biết ba ngàn đêm ấy

Mỗi đêm là biết mấy thân rơi

Có ai biết bao nhiêu máu chảy

Máu miền Nam hơn chín năm rơi”

(Miền Nam – Tố Hữu)

Trong nỗi vui mừng khi những thành quả ban đầu của chế độ đang mang lại cho

nhân dân miền Bắc thì vẫn còn đó nỗi đau xé lòng người khi miền Nam vẫn chìm

trong máu lửa. Cả dân tộc hướng về đây với nỗi xót thương chia sẻ bằng cả tấm lòng:

“Những ngọn đèn không bao giờ nhắm mắt

Như những tâm hồn không bao giờ tắt

Như miền Nam

hai mươi năm

không đêm nào ngủ được,

Như cả nước

Với miền Nam

Trang 96

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Đêm nào cũng thức”

(Ngọn đèn đứng gác – Chính Hữu)

Đó có thể là Trà Vinh mảnh đất kiên trung trong chiến đấu và hết sức thiết tha

nghĩa tình:

“Trà Vinh nay thịt nát máu sa

Ta theo dõi tin từng giây từng phút

Như đứa con, mẹ ngày đêm chăm chút

Như mẹ hiền, con sớm tối hỏi han

Trà Vinh đau, ta đau xé tim gan”

(Trà Vinh thương nhớ - Vân Đài)

Đó là nỗi đau như chính nỗi đau trên cơ thể mình phải gánh chịu. Nỗi nhớ

thương được vọng về từ miền Bắc xa xôi sau ngày đi tập kết. Ngày chia li vì biết bao

niềm thương giấu kín nên bây giờ giật mình thảng thốt khi chợt nhớ tới:

“Mẹ còn không hỡi mẹ?

Nhiều đêm thức giấc giữa canh khuya

Nhớ quê hương, nghĩ đến cảnh phân chia

Con lại hỏi:

Mẹ còn không hỡi mẹ?

(Mẹ mãi còn – Tế Hanh)

Cả người ra đi lẫn người ở lại đều thấu hiểu vì đâu mà có cảnh thương nhớ phân

chia, vì đâu mà quê hương khói lửa nên lòng người càng quyết chí ra đi chiến đấu cho

ngày mai sum hợp. Từ nỗi nhớ thương da diết họ đã biến nó thành sức mạnh để vượt

qua tất cả để chiến đấu và chiến thắng vẻ vang nhất:

“Con cảm thấy dồi dào thêm sức mạnh

Mẹ đã chấp cho hồn con thêm cánh

Mẹ mãi còn

Ở giữa trái tim con”

(Mẹ Mãi còn – Tế Hanh)

Từ những nhớ thương về một nửa quê hương đang ngày đêm bị bom đạn của kẻ

thù giày xéo nó đã biến thành lòng căm thù giặc sâu sắc và mãnh liệt. Nó kết thành

Trang 97

một làn sóng to lớn và vô cùng mạnh mẽ quyết chí tiêu diệt quân thù dù trong bất cứ

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

hoàn cảnh nào và phải chịu trả giá như thế nào:

“Gươm nào chém được sông Bến Hải?

Lửa nào thiêu được dãy Trường Sơn?

Căm hờn lại giục căm hờn

Máu kêu trả máu đầu van trả đầu”

(Ba mươi năm đời ta có Đảng – Tố Hữu)

Lời thơ thật hùng hồn, thật đanh thép một lần nữa khẳng định niềm tin tất thắng

của chúng ta ở tương lai. Dẫu hiện tại chúng ta có mất mát, có hi sinh nhưng ngày

chiến thắng nhất định đến, ngày cả dân tộc hòa chung lời ca đang ở rất gần phía trước.

Tình yêu và nỗi nhớ là hai thứ quý giá nhất của con người thời chiến mà không có gì

có thể dập tắt được. Dẫu hiện tại ở hai bờ chiến tuyến nhưng họ vẫn nhớ về nhau, vẫn

mong ngày gặp mặt và nỗi khao khát ấy len lỏi vào những giấc mơ của người cô phụ

nơi hậu phương:

“Đêm qua em vượt tuyến

Ra miền Bắc thăm anh

Bao nhiêu ngày mong đợi

Em đi nhanh thật nhanh

Gục vào anh em khóc

Năm năm rồi anh ơi!

Ghì em anh ôm chặt

Muốn nói bao nhiêu lời”

(Vượt tuyến – Thanh Hải)

Dù bị chia cắt ngăn đôi đất nước nhưng hai miền vẫn chung một đất nước, con

người vẫn sống trọn tin yêu chờ ngày thống nhất Tổ quốc. Vượt qua mọi giới hạn về

không gian và thời gian tình yêu và niềm tin vẫn luôn cháy bỏng trong mỗi trái tim con

người Việt Nam thời ấy để đủ nghị lực vượt qua khó khăn gian khổ mà dành thắng lợi

tuyệt đối với kẻ thù hùng mạnh nhất.

Trang 98

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

PHẦN KẾT LUẬN

…..…

Hiện thực đất nước trong ba mươi năm kháng chiến là đầy ắp những gian khổ,

mất mát và hi sinh. Do đó, thơ ca cách mạng không chỉ có những vần thơ như tiếng

kèn xung trận, cổ vũ chiến đấu và củng cố niềm tin mà nên phản ánh chân thực hiện

thực chiến tranh với bao hệ quả tất yếu của nó. Nghĩa là đề cập đến những mất mát hi

sinh trong chiến tranh mà nhân dân ta phải gánh chịu. Nói như thế không đồng nghĩa

với việc phản ánh trần trụi hiện thực chết chóc trong chiến tranh theo kiểu sao chép

nguyên xi: “Đứa đứt bay đầu. Đứa nhào lộn óc. Đứa phụt máu tanh. Đứa xanh mắt ốc”

(Trận phục kích đèo Hải Vân – Khương Hữu Dụng). Những vần thơ như thế gây phản

cảm lớn và mang tư tưởng hiếu chiến. Lúc này thơ ca cách mạng phải gánh vác một

trọng trách thật lớn lao là tái hiện chân thực hiện thực chiến tranh nhưng không làm

mất đi bản chất thẩm mĩ trong thơ ca. Lúc ấy ngoài thiên chức là “làm lạ hóa thế giới

này”, thơ ca cách mạng còn là công cụ hữu hiệu trong chiến đấu trên mặt trận tư

tưởng. Vì thế đó là bài toán khó, là nỗi trăn trở lớn của không ít nhà thơ lúc bấy giờ.

Thật khó khi viết về cái chết, những mất mát hi sinh mà không làm suy giảm ý

chí chiến đấu của các quân nhân. Nghĩa là, tái hiện cái bi trong thơ làm sao cho người

đọc thấy được đó là cái bi hùng, bi tráng chứ không phải là bi ai bi lụy. Khi nhà thơ

nào thỏa mãn được yêu cầu đó thì họ đã làm được điều “mỗi vần thơ bom đạn phá

cường quyền”.

Đồng thời, việc tái hiện những mất mát hi sinh trong chiến tranh qua từng trang

thơ còn là trách nhiệm, lương tâm của người cầm bút:

“Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng

Chỉ một đêm, còn sống có 30

Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó?

Tôi! Tôi - người viết những câu thơ cổ võ

Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong

Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm

Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ

Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ

Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!

Trang 99

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Ai chịu trách nhiệm vậy?

Lại chính là tôi!

Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời

Tôi ú ớ

Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong

Mà tôi xấu hổ

Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay

Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ

Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười”

(Ai? Tôi – Chế Lan Viên)

Trách nhiệm vì thơ ca cách mạng là người thư kí tận tụy trung thành nhất của

thời đại. Nó len lõi vào từng ngõ ngách của lịch sử xã hội để phản ánh chân thực và

thêm vào đó là cái nhìn chủ quan của con người trong hoàn cảnh ấy, điều mà các sử

gia chưa làm được. Thơ ca cách mạng phải tái hiện thật sinh động và chân thực nhất

hoàn cảnh lịch sử đất nước Việt Nam trong chiến tranh, tâm hồn con người Việt Nam

trong thực tại chiến tranh qua từng trang thơ. Ngoài ra, đó còn là lương tâm của những

người còn sống phải viết cho thật, cho đầy đủ, cho đúng những hành động, tâm tư, suy

nghĩ, mơ ước…của những người đã ngã xuống. Vì họ đã không được hưởng cảm xúc

hân hoan của ngày chiến thắng và nói những lời chúc tụng nhau.

Đất nước ta sau hơn ba mươi năm độc lập đã thay đổi rất nhiều, ngày càng giàu

đẹp hơn. Dấu tích và vết thương chiến tranh đã lắng sâu vào quá khứ nhưng chúng ta

không được phép quên lãng quá khứ hào hùng mà ông cha đã viết bằng máu và nước

mắt. Chúng ta mãi mãi tôn vinh và tri ân những con người anh hùng đã khuất dù

không ít người mãi mãi nằm lại nơi chiến trường xa xôi không một nấm mộ, không

một dòng tin địa chỉ:

“Và chiến tranh vẫn là chiến tranh

Nào ai mong nhận cái chết đến cho mình

Thơ tôi viết giờ in trong sách vỡ

Người ta đọc. Có thể người ta nhớ

Nhưng vì sao bia mộ các anh nằm?

Trang 100

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

Vẫn đời đời lặng lẽ ghi: Vô danh…”

(Vô danh – Ngô Kế Oanh)

Trách nhiệm, lương tâm của người cầm bút là phải nói cho mọi người biết, nhắc

cho nhớ về quá khứ - cái quá khứ vẻ vang của dân tộc trong ba mươi năm kháng chiến

đối mặt với kẻ thù hùng mạnh và thâm độc. Và những con người hôm nay được hưởng

trọn vẹn một cuộc sống hòa bình không chiến tranh phải có trách nhiệm với quá khứ,

với những người đã ngã xuống vì độc lập dân tộc. Họ phải sống, học tập và lao động

thật tốt, đạt được những thành quả tốt đẹp cho đất nước. Đó là để xứng đáng với công

lao của những người đi trước, những người đã ngã xuống cho thế hệ hôm nay được

sống trong hòa bình hạnh phúc.

Trang 101

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lại Nguyên Ân – 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội - 2003

2. Tào Văn Ân - Giáo trình mĩ học đại cương, Đại học Cần Thơ - 2003

3. Nguyễn Duy Bắc – Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại 1945 –

1975, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội - 1998.

4. Nguyễn Hoa Bằng – Giáo trình mĩ học đại cương, Đại học Cần Thơ - 2003

5. Nguyễn Lâm Điền, Trần Văn Minh – Văn học Việt Nam 1945 – 1975, Cần Thơ

- 2004.

6. Phan Cự Đệ - Văn học Việt Nam thế kỉ XX, NXB Giáo dục - 2004.

7. Hà Minh Đức – Khảo luận văn chương, NXB KHXH, Hà Nội - 1997

8. Hà Minh Đức - Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, NXB khoa học

xã hội, Hà Nội - 1974 (NXB Giáo dục, tái bản - 1998)

9. Hà Minh Đức – Lí luận văn học, NXB Giáo dục - 2000.

10. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) – Từ điển thuật

ngữ văn học, NXB Giáo dục - 2004.

11. Nguyễn Bá Hành - Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam, NXB Văn học -

1996.

12. Mã Giang Lân – Văn học hiện đại Việt Nam mấy vấn đề - tác giả, NXB Giáo

dục - 2005

13. Huỳnh Lí, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Trác, Trần Hữu Tá – Lịch sử văn học

14. Nguyễn Văn Long – Về cách tiếp cận để đánh giá văn học Việt Nam sau Cách mạng

tháng Tám – in trong 50 năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng tám – NXB .

ĐHQG – Hà Nội – 1996

Việt Nam, tập IV phần I, NXB Giáo dục - 1980.

15. Nguyễn Văn Long – Thơ giai đoạn 1945 – 1975, tiến trình và các khuynh

hướng, NXB Giáo dục Hà Nội – 2003

16. Phương Lựu – Lí luận văn học, NXB Giáo dục - 1987.

17. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) - Lịch sử văn học Việt Nam 1945 – 1975 (tập 1),

NXB Giáo dục Hà Nội - 1990.

18. Trần Đăng Suyền – Nhà văn hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo, NXB Văn

học Hà Nội - 2003.

Trang 102

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

19. Trần Đình Sử - Những thế giới nghệ thuật thơ, NXB Giáo dục Hà Nội - 1997.

20. Hoàng Trung Thông (chủ biên) - Văn học Việt Nam chống Mĩ cứu nước, NXB

KHXH Hà Nội - 1979.

21. Vũ Duy Thông - Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945 – 1975, NXB

Giáo dục Hà Nội - 1998.

23. Nhiều tác giả - Vẻ đẹp văn học cách mạng, NXB Giáo dục, Hà Nội - 2006

24. Nhiều tác giả - Một phần lịch sử Việt Nam qua thơ, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội

- 2006

25. Nhiều tác giả - 50 năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám, NXB Đại học

quốc gia Hà Nội

22. Nhiều tác giả - Nhà thơ Việt Nam hiện đại, NXB KHXH Hà Nội - 1984.

26. Trang web: http://www.maxreading.com

27. Trang web: http://www.tapchisonghuong.com.vn

28. Trang web: http://www.vannghesongcuulong.com.vn

29. Trang web: http://www.thivien.net

30. Trang web: http://www.qdnd.vn

31. Trang web: http://100years.vnu.edu.vn

Trang 103

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU Trang

1. Lí do chọn đề tài……………………………………………………. 1

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề………………………………………….. 2

3. Mục đích, yêu cầu…………………………………………………... 6

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………….. 6

5. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………… 7

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: Cái bi – Những vấn đề lí luận

1.4 Cái bi – Một phạm trù Mĩ học…………………………………….. 8

1.5 Cảm hứng về cái bi trong văn chương……………………………. 15

1.6 Mâu thuẫn, xung đột của cái bi trong nghệ thuật…………………..18

1.4 Hoàn cảnh lịch sử dẫn tới sự ra đời của cái bi…………………… .19

Chương 2: Cái bi trong thơ ca cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975

2.1 Cảm nhận về sự khốc liệt của chiến tranh………………………….33

2.2 Nỗi đau về sự hi sinh mất mát…………………………………….. .43

2.3 Nỗi nhớ nhung của người lính trận…………………………………60

Chương 3: Cái bi trong thơ ca cách mạng về đề tài hậu phương

3.1 Hình ảnh người mẹ trông con………………………………………78

3.2 Sự mỏi mòn chờ đợi của người yêu, người vợ……………………..82

3.3 Nỗi đau khi đất nước bị chia cắt……………………………………88

PHẦN TỔNG KẾT……………………………………………………95

Trang 104

Luận văn tốt nghiệp Đại học SVTH: Nguyễn Hoàng Thiên

LỜI NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………………..

Trang 105