intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Đảng lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1961 đến 1975

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:114

0
139
lượt xem
31
download

LUẬN VĂN: Đảng lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1961 đến 1975

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khi nghiên cứu xã hội tư bản, đặc biệt là sự hoạt động của người lao động trong xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng, thi đua là một hiện tượng khách quan nảy sinh do sự tiếp xúc xã hội trong quá trình lao động sản xuất. C.Mác viết “…ngay sự tiếp xúc xã hội cũng đã đẻ ra thi đua” [38, tr.474]. Trong một số tác phẩm của mình, V.I Lê nin đã đề cập đến thi đua, coi thi đua là một tất yếu và là một nguồn tiềm năng to lớn của chủ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Đảng lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1961 đến 1975

  1. LUẬN VĂN: Đảng lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1961 đến 1975
  2. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Khi nghiên cứu xã hội tư bản, đặc biệt là sự hoạt động của người lao động trong xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng, thi đua là một hiện tượng khách quan nảy sinh do sự tiếp xúc xã hội trong quá trình lao động sản xuất. C.Mác viết “…ngay sự tiếp xúc xã hội cũng đã đẻ ra thi đua” [38, tr.474]. Trong một số tác phẩm của mình, V.I Lê nin đã đề cập đến thi đua, coi thi đua là một tất yếu và là một nguồn tiềm năng to lớn của chủ nghĩa xã hội. Ngay từ năm 1918, V.I Lênin nhấn mạnh: chủ nghĩa xã hội “đã tạo ra khả năng áp dụng thi đua một cách thực sự rộng rãi, với một quy mô thực sự to lớn, tạo ra khả năng thu hút thực sự đa số nhân dân lao động vào vũ đài hoạt động khiến họ có thể tỏ rõ bản lĩnh, dốc hết năng lực của mình, phát hiện những tài năng mà nhân dân sẵn có cả một nguồn vô tận” [35, tr.234-235]. Vận dụng quan điểm của V.I.Lênin: “một trong những nhiệm vụ của đảng cộng sản cầm quyền là phải tổ chức thi đua” [35, tr.234-235], lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vận động thi đua yêu nước cả về lý luận và thực tiễn. Người coi đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của mọi thời kỳ cách mạng, là nền tảng, là động lực của sự phát triển, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của quốc gia dân tộc. Xuất phát từ quan điểm coi nhân dân là người làm nên lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nên ngay từ đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân tham gia việc nước, việc dân. Tháng 8 năm 1945, trong tình thế vận nước ngàn cân treo sợi tóc bởi “giặc đói”, “giặc dốt” và nạn thù trong, giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động ngay chiến dịch tăng gia sản xuất, chống nạn thất học và sau đó tổ chức phong trào “Tuần lễ vàng”, “Hũ gạo tiết kiệm”. Ngày 26 tháng 01 năm 1946, để phục vụ kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lệnh ban hành 10 điều thưởng và 10 điều phạt, văn bản có ý nghĩa pháp lý đầu tiên về chính sách khen thưởng của nhà nước ta. Ngày 27.3.1948, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị phát động “Phong trào thi đua ái quốc” để động viên mọi lực lượng làm cho kháng chiến mau thắng lợi,
  3. kiến quốc mau thành công. Ngày 11.6.1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Lời kêu gọi thi đua ái quốc. Lời kêu gọi mang sức mạnh của một mệnh lệnh, được phát đi như một lời hịch cứu nước đã lôi cuốn toàn quân, toàn dân ta tích cực tham gia. Lời kêu gọi thực sự là chất keo kết dính muôn triệu tấm lòng yêu nước tạo nền tảng vững chắc để từ đó phong trào thi đua yêu nước được dấy lên khắp nơi, thực sự trở thành nơi hội tụ của trí tuệ, tinh thần và nhân phẩm Việt Nam. Đúng như lời nhà thơ Dương Hương Ly đã viết: “Nơi hầm tối là nơi sáng nhất, Nơi con nhận ra sức mạnh Việt Nam”, thế kỷ XX đối với nước ta là thế kỷ của những biến đổi to lớn, thế kỷ đấu tranh oanh liệt giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong đó, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thiên anh hùng ca bất hủ của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đây là sự kiện của những chấn động, ngạc nhiên, bất ngờ và thú vị. Qua cuộc thử thách đầy cam go ấy, những phẩm chất cao đẹp của người Việt được thăng hoa và tỏa sáng. Điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi, một lần nữa được minh chứng hùng hồn. Trong muôn vàn sức mạnh làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975 thì vai trò của miền Bắc là không thể thay thế. Trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, miền Bắc đã hoàn thành xuất sắc vai trò của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn. Những đóng góp to lớn ấy được phản ánh qua thực tiễn sinh động của hàng loạt các phong trào thi đua yêu nước. Tinh thần và sức mạnh của phong trào thi đua yêu nước từ kháng chiến chống Pháp được phát huy trong điều kiện lịch sử mới đã góp phần quan trọng vào tiến trình thực hiện mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam thời kỳ này. Chọn vấn đề “Đảng lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1961 đến 1975” làm đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử - Chuyên ngành Lịch sử Đảng, chúng tôi muốn góp phần nghiên cứu vai trò của phong trào thi đua yêu nước trong quá trình miền Bắc thực hiện nhiệm vụ là hậu phương chiến lược, đặc biệt là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước của Đảng Lao động Việt Nam trong suốt tiến trình phát triển và đi đến
  4. thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Làm rõ bước phát triển và những đóng góp cụ thể của phong trào thi đua yêu nước là cơ sở đánh giá những hy sinh cao cả cũng như đóng góp vô giá mà nhân dân miền Bắc đã dành cho đồng bào miền Nam trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Tìm minh chứng thuyết phục để khẳng định một sự thật rằng: thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là thắng lợi chung của nhân dân Việt Nam. Đồng thời nghiên cứu những kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở một thời kỳ lịch sử hào hùng và oanh liệt như trong kháng chiến chống Mỹ sẽ góp phần thiết thực vào việc thực hiện thắng lợi các phong trào thi đua, các cuộc vận động lớn của Đảng trong sự nghiệp đổi mới. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Là thực tiễn sôi động của những ngày nhân dân miền Bắc thực hiện nhiệm vụ tạo dựng tiền đề đầu tiên cho chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng của hậu phương lớn cùng nhân dân miền Nam đánh bại âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, phong trào thi đua yêu nước phản ánh khá trung thực quá trình Đảng cũng như chính quyền cách mạng hiện thực hóa nhiệm vụ chiến lược mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9-1960) đề ra. Xét trên tất cả các mặt, “Đảng lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu n ước từ năm 1961 đến 1975” là một đề tài rộng, thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt là các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đồng chí trực tiếp tham gia hoạt động trong lĩnh vực thi đua khen thưởng. Thực tế, phong trào thi đua yêu nước đã được quan tâm nghiên cứu trên nhiều giác độ khác nhau: - Quan điểm của Đảng, đặc biệt là những sáng tạo độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phong trào thi đua yêu nước. - Vai trò, tác dụng của phong trào thi đua yêu nước trong cả nước nói chung, ở miền Bắc nói riêng trong kháng chiến chống Mỹ. - Diễn biến của một số phong trào thi đua yêu nước cụ thể cũng như đóng góp thiết thực của nó trong quá trình miền Bắc hiện thực hóa những mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược trong kháng chiến chống Mỹ.
  5. Ở địa phương vấn đề trên thường được viết lồng trong lịch sử Đảng bộ thời kỳ 1954 - 1975. Song nhìn chung còn nhiều nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu như: nội dung, mục đích, nguyên tắc, phương pháp… phong trào thi đua yêu nước, kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo, tổ chức phong trào thi đua yêu nước. Phong trào thi đua yêu nước không những là cao trào cách mạng quần chúng, mang hơi thở cuộc sống, mà qua từng giai đoạn cách mạng còn có sự kế thừa, phát triển và được nâng lên tầm cao mới phù hợp với điều kiện của đất nước và dòng chảy của thời đại. Việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện phong trào thi đua yêu nước là hoạt động được tiến hành thường xuyên, liên tục, luôn được Đảng ta coi trọng. Ở vào những thời điểm có tính bước ngoặt của đất nước, Đảng đã có những nghị quyết quan trọng về phong trào thi đua yêu nước. Xung quanh các nghị quyết này có nhiều cuộc hội thảo với nhiều bài viết, bài phát biểu góp phần làm rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp thực hiện phong trào thi đua yêu nước. Nhiều bài viết của các đồng chí trực tiếp lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước với các chuyên đề khác nhau đã được in thành những công trình có giá trị khoa học. Theo nguồn tài liệu khảo sát được có thể kể đến một số công trình như: “Tất cả vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước tiến lên giành những thắng lợi mới” của Tác giả Lê Thanh Nghị, (Nxb Sự thật, Hà Nội.1962); “Bước tiến mới của phong trào thi đua yêu nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” (Nxb Sự thật, Hà Nội.1962), “Phát triển mạnh mẽ và sâu rộng phong trào thi đua yêu nước, phấn đấu trở thành tổ và đội lao động xã hội chủ nghĩa, hoàn thành thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất” (Nxb Lao động, Hà Nội.1963), “Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2000) của Lê Văn Yên, Nguyễn Văn Cát, “Hồ Chí Minh: Về phong trào thi đua yêu nước” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2004), “Đảng, Bác Hồ với thi đua yêu nước và công tác thi đua khen thưởng” (Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội.2008) (Ban thi đua- Khen thưởng Trung ương, Tạp chí Thi đua - Khen thưởng), “Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2008). Nhìn chung các công trình trên đã góp phần làm rõ quan điểm chung của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, đồng thời đi vào luận chứng vai trò cũng như sự chủ động, sáng tạo trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với phong trào thi đua qua từng giai đoạn cách mạng. Ý
  6. nghĩa lý luận của các công trình này là rất lớn. Tuy nhiên, việc đánh giá một cách hệ thống, toàn diện về phong trào thi đua yêu nước cũng như tất cả những vấn đề có liên quan là điều mà các công trình kể trên chưa đạt được. Một số công trình đi sâu nghiên cứu thi đua yêu nước ở góc độ từng phong trào cụ thể như: “Lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam” (Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1980) của tác giả Nguyễn Thị Thập, “Phong trào phụ nữ Ba đảm đang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” (Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội 2003) của tác giả Lê Chân Phương, “Phong trào nữ công nhân lao động và hoạt động nữ công công đoàn Việt Nam (1930- 1993)” (Nxb Lao động, Hà Nội.1995), “Lịch sử Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Việt Nam” (Nxb Thanh niên, Hà Nội.2001) do Văn Tùng (Chủ biên)…Các công trình này góp phần phát họa bức tranh sinh động về phong trào thi đua yêu nước trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Song, vì nghiên cứu phong trào của từng giới, từng ngành, từng đối tượng cụ thể mà các công trình này hầu như mang giá trị lịch sử hơn là giá trị lý luận. Một trong những đóng góp quan trọng khác góp phần làm sinh động và sáng rõ lý luận về thi đua yêu nước cũng như thành tựu của phong trào thi đua yêu nước ở các cấp, ngành, địa phương là một số công trình được đăng tải rải rác trên các tạp chí, đặc biệt là các bài viết nhân kỷ niệm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động Lời kêu gọi thi đua ái quốc. Có thể kể đến một số bài viết có giá trị như: Trần Ngọc Tuệ (2005): Tính ưu việt và sức mạnh của miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu n ước, Tạp chí Cộng sản, Số 8, 4 – 2005; Phan Diễn, Bài phát biểu tại cuộc gặp mặt phụ nữ tiêu biểu trong phong trào “Ba đảm đang”, ngày 1 – 3 – 2005. Báo Nhân dân, ngày 2 – 3 – 2005; Đinh Xuân Hướng (2008): Về phong trào yêu nước tỉnh Thanh Hóa, Tạp chí Xưa và nay, số 299-300, 1 – 2008; Nguyễn Thị Doan (2008): Đẩy mạnh phong trào thi đua và công tác thi đua - khen thưởng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí cộng sản, Số 788, 6 – 2008; PGS – TS Bùi Đình Phong (2008): Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước, Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 4 – 2008. PGS - TS, Nguyễn Mạnh Hưởng, Viện khoa học xã học nhân văn quân sự, Bộ Quốc Phòng: Bản chất, động lực thi đua yêu nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Thi đua yêu nước, Số 11(155) năm 2008; Đỗ Xuân Thăng, Phó trưởng ban Thường trực, Ban Thi đua - Khen thưởng (2008): Thi đua ái quốc
  7. thúc đẩy phong trào cách mạng trong thời kỳ mới; Phạm Thị Lai (2008):Thi đua yêu nước theo tưởng Hồ Chí Minh – Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm ; Tạp chí Tuyên giáo số 6, 18 – 7 – 2008: Thi đua yêu nước theo những chỉ dẫn của C hủ tịch Hồ Chí Minh. PGS - NGND – Lê Mậu Hãn – Th.s Văn Thị Thanh Mai; Đinh Văn Tư – Phó chủ tịch Thường trực Hội người cao tuổi VN: Hồ Chí Minh nói về thi đua ái quốc của người cao tuổi VN, Đăng ngày 18 – 7 – 2008 (Tạp chí Tuyên giáo); T.S Trần Viết Hoàn: Nhớ lời Bác dạy – Thi đua ái quốc, Tạp chí Tuyên giáo số 7 – 2008. Ngoài ra còn có nhiều bài viết đăng trên Báo điện tử của các báo địa phương có liên quan đến phong trào thi đua yêu nước. Sự chân thực, sinh động của quá trình hiện thực hóa các cuộc vận động thi đua từ Trung ương đ ến các địa phương là điều mà những bài viết này đã phản ánh được. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu được công bố khá đa dạng và phong phú, đã cung cấp một bức tranh khá tổng thể, rõ ràng về phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ từ 1961 – 1975 dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ý nghĩa định hướng cho phong trào thi đua yêu nước, đặc biệt là sự gợi mở về các hướng nghiên cứu mới liên quan đến đề tài là đóng góp lớn không thể phủ nhận. Tuy nhiên, những khám phá mới trong cái nhìn hệ thống của các tác phẩm, bài viết, bài phát biểu đã kể trên là chưa nhiều, chưa có công trình nào nghiên cứu phong trào thi đua yêu nước từ 1961 – 1975 dưới giác độ một chuyên đề lịch sử. Vì vậy tìm hiểu sâu sắc và hệ thống hơn về phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc từ năm 1961 đến 1975 dưới sự lãnh đạo của Đảng vẫn là đề tài mới mẻ mà tác giả tâm huyết. 3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích của luận văn Luận văn hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc từ 1961- 1975, từ đó: - Làm sáng tỏ chủ trương của Đảng đối với phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong giai đoạn 1961 - 1975. Khẳng định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc từ 1961 đến 1975 là hoàn toàn đúng đắn.
  8. - Thông qua các phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc, khẳng định vai trò của hậu phương miền Bắc đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của đồng bào miền Nam. - Từ thực tiễn lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, luận văn nêu lên kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc những năm 1961 – 1975 và vận dụng vào công cuộc đổi mới hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ của luận văn - Luận văn trình bày yêu cầu khách quan để Đảng phát động phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhất là từ năm 1961 đến 1975. - Trình bày có hệ thống chủ trương, đường lối của Đảng đối với phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1961 đến 1975. - Trình bày quá trình Đảng tổ chức thực hiện các phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc từ năm 1961 đến 1975. - Tổng kết một số kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc từ năm 1961 đến 1975 để vận dụng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước cũng như lãnh đạo công cuộc đổi mới hiện nay. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng của luận văn - Luận văn tập trung nghiên cứu đường lối, chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng đối với các phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ từ năm 1961 đến 1975. - Luận văn trình bày các phong trào thi đua yêu nước trong một số lĩnh vực cụ thể như: nông nghiệp, công nghiệp, giáo dục, quân đội. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tác giả luận văn tập trung nghiên cứu phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc do Đảng lãnh đạo trong thời gian từ 1961 đến 1975 ở bốn lĩnh vực: trong nông nghiệp, trong công nghiệp, trong giáo dục, trong quân đội.
  9. 5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận - Luận văn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về phong trào thi đua yêu nước trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. - Dựa trên cơ sở nghiên cứu các báo cáo tổng kết phong trào thi đua yêu nước của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, giáo dục, quân đội…ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ thời kỳ từ năm 1961 – 1975. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ của Luận văn, tác giả của luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là chủ yếu, ngoài ra vận dụng các phương pháp phân tích, chứng minh, so sánh, khảo sát để giải quyết các yêu cầu đặt của đề tài ra. 6. Đóng góp của luận văn - Khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đối với cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. - Nêu bật vai trò, vị trí của hậu phương lớn miền Bắc đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. - Góp phần củng cố niềm tin của nhân dân cả nước đối với sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia làm 2 chương, 5 tiết
  10. Chương 1 PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC Ở MIỀN BẮC TỪ NĂM 1961 ĐẾN 1965 DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG 1.1. SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC Nhân tố quyết định làm nên tầm vóc vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chính là sự lãnh đạo của Đảng. Và một trong những vấn đề mang ý nghĩa chiến lược là Đảng đã giải quyết tốt quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng XHCN ở miền Bắc và CMDTDCND ở miền Nam. Đặc biệt là Đảng có đường lối CMXHCN nhằm xây dựng miền Bắc vững mạnh làm căn cứ địa cách mạng cả nước, đóng vai trò hậu phương đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Nhận thức rõ tình hình của đất nước nói chung, của miền Bắc nói riêng cũng như nhiệm vụ cách mạng mới đang đặt ra trở thành yêu cầu cấp bách, có ý nghĩa quyết định đối với quá trình Đảng lãnh đạo, tổ chức phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi với việc ký kết Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954), cách mạng nước ta bước vào thời kỳ mới với đặc điểm lớn nhất là đất nước tạm thời chia làm hai miền. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, tiến hành khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế và bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH. Ở miền Nam, đế quốc Mỹ từng bước gạt Pháp, độc chiếm miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành căn cứ quân sự, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Nhân dân miền Nam phải tiếp tục tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Miền Bắc bắt tay vào khôi phục kinh tế với những thuận lợi cơ bản là miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, có hòa bình, nhân dân cần cù, sáng tạo, lực lượng lao động dồi dào, lại có các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ về kinh nghiệm, vật chất. Tuy nhiên, quá trình đó lại diễn ra trong điều kiện khó khăn về nhiều mặt của một xã hội vốn là thuộc địa nửa phong kiến, vừa trải qua hai cuộc chiến tranh, bị tàn phá nặng nề và đang chuyển sang giai đoạn cách mạng mới. Sau ngày hòa bình mới lập lại, bức tranh kinh tế miền Bắc tiêu điều. Công nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân nhưng sản xuất mới được khôi phục, máy
  11. móc cũ kỹ, hư hỏng; thủ công nghiệp nghèo nàn, phân tán, lực lượng kỹ thuật hầu như không có gì. Đến năm 1954, giá trị tổng sản lượng công nghiệp chỉ chiếm 1,5% giá trị giá trị tổng sản lượng công nông nghiệp. Kinh tế nông nghiệp giữ vai trò chủ yếu nh ưng sản xuất nông nghiệp cũng gặp không ít khó khăn. “1/7 ruộng đất bị bỏ hoang, 1/3 ruộng đất không có nước tưới để cày cấy, các công trình thủy lợi đều bị phá hoại, 1/4 số trâu bò bị giặc bắn giết” [27, tr.92], “Máy móc, nông cụ vô cùng thiếu thốn. Thiếu sức kéo, phân bón, kỹ thuật canh tác lạc hậu. Đê điều hư hại nhiều, 8 công trình đại thủy nông và nhiều công trình thủy nông vừa và nhỏ bị phá hủy. Nông thôn xơ xác tiêu điều vì địch càn qué đốt phá” [65, tr.55]. Phần lớn ruộng đất cày cấy một vụ, năng suất kém. Thiên tai liên tiếp. Kỹ thuật sản xuất thủ công thô sơ. Năm 1954, cả miền Bắc chưa có một máy kéo. Nông thôn xơ xác tiêu điều vì bị càn quét, đốt phá. Hàng trăm nghìn gia đình không có nhà ở. Gần một triệu đồng bào công giáo bị địch dụ dỗ, cưỡng ép di cư vào Nam bỏ lại hàng chục nghìn héc ta ruộng đất hoang. Nạn đói lan rộng. Tháng 10 năm 1954, miền Bắc có gần nửa triệu người bị đói. Trước khi rút khỏi miền Bắc, thực dân Pháp đã cướp đi nhiều máy móc, phá hủy bến cảng, cầu cống, đường sắt và các phương tiện giao thông vận tải. Gần 50% kho tàng công sở bị phá hoại, 1.153 km đường sắt bị phá hủy hoàn toàn, 3.500 cầu lớn nhỏ bị đánh sập, hầu hết các cảng biển không đủ điều kiện có thể cho phép tàu lớn ra vào. Tất cả các nhà máy xí nghiệp then chốt bị tê liệt không có khả năng hoạt động [65, tr.55]. “Không một cân thép, không một cân hóa chất, điện lực chỉ đủ thắp sáng cho một số thành phố, cơ khí chỉ là những xưởng sửa chữa nhỏ” [54, tr.204-205]. Khoa học kỹ thuật vô cùng lạc hậu. Cả khu mỏ Hòn Gai chỉ có 2 cán bộ khoa học kỹ thuật. Nhà máy dệt Nam Định với hàng nghìn công nhân mà không có một kỹ sư nào. Hơn 15 vạn người bị thất nghiệp ở thành thị và nông thôn. Kinh tế quốc dân miền Bắc mất cân đối nghiêm trọng. Các tệ nạn xã hội, các hủ tục lạc hậu tàn dư của chế độ cũ chưa được xóa bỏ. Trình độ học vấn của của nhân dân rất thấp, nhiều người chưa biết đọc, biết viết, nhất là ở vùng các dân tộc ít người. Đội ngũ lao động có trình độ văn hóa và kỹ thuật để xây dựng xã hội mới thiếu trầm trọng. Đến năm 1955, cả miền Bắc chỉ có 30 kỹ sư và cán bộ kỹ thuật.
  12. Hệ thống y tế nhỏ yếu, lạc hậu. Năm 1955 hơn 13 triệu dân miền Bắc mới chỉ có 78 cơ sở điều trị với 115 bác sĩ, 3.796 y sỹ và y tá [65, tr.56]. Nhiều bệnh xã hội như lao phổi, sốt rét, hoa liễu, đau mắt hột chưa có khả năng loại bỏ. Tất cả những khó khăn trên là trở ngại lớn đối với miền Bắc khi thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Ở miền Nam, dưới sự chỉ huy của đế quốc Mỹ, Ngô Đình Diệm cùng bè lũ tay sai ra sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ. Chúng tổ chức “trưng cầu dân ý” giả hiệu, bày trò “phế truất Bảo Đại”, tổ chức tuyển cử riêng rẽ và gian lận, bầu ra quốc hội, âm mưu biến miền Nam thành một quốc gia riêng biệt. Đi đôi với xây dựng ngụy quyền, Mỹ - Diệm ra sức tăng cường ngụy quân. Xây dựng “quân đội quốc gia”, thực chất là một đội quân đánh thuê, do Mỹ tổ chức, chỉ huy, trang bị, huấn luyện và trả lương. Mỹ đã đưa vào miền Nam một khối lượng lớn vũ khí và phương tiện chiến tranh. Gấp rút xây dựng một hệ thống căn cứ và công trình quân sự bao gồm các sân bay, bến cảng, hệ thống thông tin liên lạc và kho tàng. Trong khi nhân dân miền Nam nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Giơnevơ, thì Mỹ và chính quyền tay sai đã tiến hành một cuộc chiến tranh thực dân mới phá hoại hòa bình. Với đầy rẫy nhà tù, dây thép gai và đồn bốt, cùng quốc sách “tố cộng, diệt cộng” của chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm nhân dân miền Nam phải sống trong bầu không khí căng thẳng, ngột ngạt. Cách mạng miền Nam đứng trước những thử thách nặng nề. Trên thực tế, sức mạnh của miền Bắc không chỉ do chủ nghĩa xã hội mang lại, mà đó còn là sức mạnh của ý chí giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thôi thúc. Còn miền Nam đánh Mỹ với sức mạnh tổng hợp của cả độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Miền Nam chiến đấu không phải chỉ để giải phóng miền Nam mà còn để bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, thực hiện thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Xuất phát từ nhận thức đặc điểm của cách mạng mỗi miền trước tình hình mới, mối quan hệ khăng khít không tách rời giữa cách mạng hai miền, đặc biệt là vai trò, vị trí của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã được Đảng Lao động Việt Nam nhận thức từ rất sớm. Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa II (mở rộng), từ ngày 3 đến ngày 12 – 3 – 1955, Đảng đề ra nhiệm vụ: củng cố miền Bắc về mọi mặt; giữ vững
  13. và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam. Trong đó, “củng cố miền Bắc về mọi mặt cũng là một nhiệm vụ quan trọng, vì miền Bắc có được củng cố ta mới có đủ lực lượng để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ trong toàn quốc. Có củng cố miền Bắc mới chiếu cố được miền Nam” [21, tr.209]. Tiếp đó, tại Hội nghị Trung ương 8 (8 – 1955), một lần nữa Đảng nhấn mạnh: “Muốn thống nhất nước nhà, điều cốt yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam. Củng cố miền Bắc tức là bồi dưỡng lực lượng cơ bản của ta, xây dựng chỗ dựa vững chắc cho nhân dân toàn quốc giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất” [21, tr.576]. Nghị quyết cũng xác định: “củng cố miền Bắc phải luôn chiếu cố miền Nam. Củng cố miền Bắc và chiếu cố miền Nam không thể tách rời nhau” [21, tr.576-577]. Đứng trước âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta của đế quốc Mỹ, ngày 6 – 7 – 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đồng tâm hiệp lực đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ. Trong thư Người viết: Đường lối đấu tranh của chúng ta hiện nay là: toàn dân từ Nam chí Bắc đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ra sức củng cố miền Bắc thành nền tảng vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà…chúng ta hoạt động không ngừng cho Nam – Bắc gần gũi nhau, chúng ta kiên quyết đấu tranh củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước [22, tr.276]. Đến Hội nghị Trung ương 10 (từ 25-8 đến 5-10-1956), Đảng chủ trương: “Ra sức khôi phục và phát triển quan hệ Bắc – Nam” vì “Đấu tranh khôi phục và phát triển quan hệ Bắc – Nam có một tác dụng lớn trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Quan hệ Bắc – Nam được thực hiện sẽ có ảnh hưởng tốt và có tác dụng quan trọng đối với đấu tranh thực hiện thống nhất. đó là công tác thiết thực để làm cho hai miền gần gũi nhau, để dần dần đi đến hiệp thương bàn việc thực hiện thống nhất nước nhà” [22, tr.591]. Trước sự vi phạm nghiêm trọng những điều khoản được quy định trong Hiệp định Giơnevơ của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, tại Hội nghị Trung ương 13 (12 – 1957), Đảng đã khẳng định lại nhiệm vụ cách mạng của toàn Đảng, toàn dân ta hiện nay là: củng cố
  14. miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội; tiếp tục đấu tranh để thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hòa bình. Trong đó, “xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện thống nhất nước nhà, những nhiệm vụ ấy đều phải phấn đấu lâu dài, gian khổ và phức tạp mới hoàn thành được”, “Miền Bắc là căn cứ địa cách mạng to lớn chung cho cả nước”, “miền Bắc có được củng cố và tiến dần lên chủ nghĩa xã hội thì đời sống nhân dân miền Bắc càng ngày càng được cải thiện. Điều đó cổ vũ cán bộ, đảng viên và đồng bào ở miền Nam đấu tranh mạnh mẽ để mau thống nhất với miền Bắc và được hưởng tự do, hạnh phúc như nhân dân miền Bắc”, “nhiệm vụ củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội có tính chất quyết định cho toàn bộ thắng lợi của cách mạng trong giai đoạn mới” [23, tr.772- 773]. Thực hiện chủ trương xây dựng và củng cố miền Bắc của Trung ương Đảng, quân và dân miền Bắc đã tích cực triển khai và giải quyết thành công nhiều việc cấp bách như: tiếp quản vùng địch tạm chiếm; hoàn thành việc chuyển giao quân tập kết; tiến hành cải cách ruộng đất, sữa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân miền Bắc đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, từng bước khắc phục hậu quả của cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, ổn định vững chắc tình hình chính trị, giữ vững trật tự an ninh, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, đạt thành tựu bước đầu về cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hội nghị Trung ương 15 (từ ngày 12 đến ngày 22 – 1 – 1959) xác định rõ mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng ở hai miền. Hội nghị nhận định: hiện nay, “cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy có tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, song song tiến hành, ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau, trợ lực mạnh mẽ cho nhau, nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội” [24, tr.62]. Vì vậy, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là củng cố và phát huy thắng lợi đã giành được, là xây dựng cơ sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà” [24, tr.63], “phong trào yêu nước của nhân dân miền Nam càng được giữ vững và phát triển thì một mặt càng tăng cường lực lượng cách mạng để đánh bại chính
  15. sách nô dịch, gây chiến và chia cắt của Mỹ - Diệm…Mặt khác, đó cũng chính là thiết thực bảo vệ miền Bắc, tạo điều kiện cho cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc được tiến hành thuận lợi” [24, tr.65]. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 có một ý nghĩa lịch sử to lớn, là hội nghị hoàn chỉnh đường lối cách mạng miền Nam, mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, làm xoay chuyển tình thế cách mạng. Hội nghị còn đồng thời mở ra một giai đoạn mới cho mối quan hệ giữa chiến lược cách mạng hai miền Nam – Bắc. Bước vào năm 1960, thực tiễn cách mạng Việt Nam đã có những chuyển biến nhanh chóng. Miền Bắc đã hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa với những thành tựu bước đầu, làm cho bộ mặt kinh tế, xã hội thay đổi theo chiều hướng tích cực. Với những thành tựu đạt được trong đối nội và đối ngoại dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc đã thực sự được củng cố và trở thành hậu phương ổn định, có khả năng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng miền Nam. Ở miền Nam, dưới ánh sáng Nghị quyết Trung ương 15 (1959), nhân dân miền Nam đã tiến hành cuộc Đồng khởi vĩ đại, đánh dấu bước nhảy vọt đầu tiên chuyển cách mạng miền Nam sang thế tiến công. Để kịp thời đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới, nhằm đề ra đường lối chiến lược và kiện toàn sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng được triệu tập tại thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến 10 – 9 – 1960. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà” [25, tr.186]. Đại hội đã phân tích một cách sâu sắc tình hình ở hai miền Nam, Bắc với hai chế độ chính trị, hai chiến lược cách mạng khác nhau, từ đó xác định nhiệm vụ cụ thể của cách mạng mỗi miền. Có thể nói, đường lối chính trị được đề ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng có nội dung cơ bản là kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Trong đó, nhiệm vụ tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là “nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân ta” [25, tr.510]. Miền Bắc là căn cứ địa chung của cách mạng cả nước. Cách mạng miền Nam “có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ
  16. nhân dân trong cả nước” [25, tr.511]. Tuy là hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ chiến lược nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền, nhưng cả hai nhiệm vụ chiến lược ấy đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước, đều nhằm mục tiêu chung là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước. Mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng ở hai miền Nam, Bắc được hình thành trong quá trình Đảng ta khảo nghiệm, tìm tòi, xác định đường lối đấu tranh cách mạng trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước về cơ bản đã được khẳng định rõ tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9 – 1960). Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ của lực lượng đấu tranh của nhân dân ta. Nền có vững, nhà mới chắc. Gốc có mạnh, cây mới tốt. Chúng ta phải ra sức củng cố miền Bắc về mọi mặt, phải làm cho miền Bắc vững mạnh và tiến lên mãi” [41, tr.67] trở thành nhận thức chung và xuyên suốt được phản ánh trong các văn kiện của Đảng ta thời kỳ này. Đây chính là cơ sở định hướng quan trọng để Đảng ta đề ra sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với phong trào thi đua yêu nước ở hậu phương miền Bắc trong giai đoạn triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Mục tiêu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất là “Phấn đấu xây dựng bước đầu cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hộichủ nghĩa và hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” [63, tr.209]. Việc tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với phong trào thi đua yêu nước nhằm hiện thực hóa mục tiêu này là hết cần thiết. Nhưng yêu cầu đặt ra đối với Đảng trong quá trình đó trước hết là phải bám sát nhiệm vụ chính trị của miền Bắc trong thời kỳ cách mạng mới, đặc biệt phải xuất phát từ chính thực tế tình hình miền Bắc sau giai đoạn khôi phục kinh tế (1954 – 1960). Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đã bước đầu mang lại cho miền Bắc một diện mạo mới. Tuy nhiên, khi miền Bắc bắt tay vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, những khó khăn do điểm xuất phát thấp vẫn chưa được khắc phục triệt để. Trình độ nhận thức của cán bộ, nhân dân còn thấp. Kinh nghiệm tổ chức thực hiện xây dựng một xã hội mới từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu do đế quốc và phong kiến cai trị, nhân dân bị bóc lột và bị kìm hãm về mọi mặt còn nhiều hạn chế. Những lề thói canh tác cũ, những
  17. phong tục, tập quán lạc hậu, lối làm ăn cá thể manh mún, nền sản xuất tiểu nông chưa thể xóa bỏ một sớm một chiều. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa vừa mới được xác lập, chưa được củng cố, trình độ kỹ thuật còn lạc hậu; nền kinh tế miền Bắc vẫn chỉ là nền kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ, thủ công, năng suất thấp và bấp bênh; công nghiệp nặng còn nhỏ bé, chưa đáp ứng được những yêu cầu về tư liệu sản xuất chủ yếu; các ngành sản xuất vật chất khác cũng ở trong tình trạng tương tự; đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề còn rất ít ỏi và không đồng bộ… Sự chi phối của tất cả những khó khăn này đối với quá trình nhân dân miền Bắc thực hiện nhiệm vụ cách mạng mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9-1960) đề ra, cũng như với phong trào thi đua yêu nước là rất lớn. Thực tế cho thấy, đến thời điểm này, trên cơ sở thắng lợi của các cuộc vận động cải tạo xã hội chủ nghĩa, của cuộc vận động cải tiến quản lý xí nghiệp quốc doanh, của đợt chỉnh huấn chính trị cho cán bộ và chiến sĩ trong quân đội, của các đợt giáo dục về hai con đường ở nông thôn…phong trào thi đua yêu nước đã phát triển mạnh mẽ từ thành thị tới nông thôn, trong khắp các xí nghiệp, công trường, nông trường, đơn vị bộ đội, hợp tác xã, cơ quan, bệnh viện, trường học. Trong quá trình phát triển của phong trào thi đua, trình độ giác ngộ chính trị, ý thức thi đua tập thể, phát huy sáng kiến, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật, cải tiến công tác và tinh thần học tập văn hóa, kỹ thuật, nghiệp vụ của các tầng lớp nhân dân đã có những tiến bộ rõ rệt. Kết quả của phong trào thi đua yêu nước đã đem lại những thành tích to lớn trên mọi mặt công tác, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành thắng lợi kế hoạch nhà nước ba năm cải tạo và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa. Tuy nhiên, phong trào thi đua yêu nước vẫn còn nhiều nhược điểm. Đó là tình trạng phong trào phát triển chưa đều, nội dung thi đua chưa toàn diện, chưa nhằm vào khâu quan trọng nhất hoặc khâu đương còn yếu nhất của từng ngành; trong sản xuất mới chỉ chú ý đến số lượng, chưa quan tâm đầy đủ đến chất lượng và giá thành; chưa chú ý đúng mức tới an toàn lao động và bồi dưỡng sức lao động; tư tưởng bảo thủ, ngại khó, tự ti, các hành động tự do chủ nghĩa, kém kỷ luật lao động và hiện tượng lãng phí, tham ô còn khá phổ biến, có nơi còn nghiêm trọng; về lãnh đạo thi đua thì chưa kết hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp, có khi ngày cả trong nội bộ từng đơn vị sản xuất; những khó khăn về nguyên liệu, tiêu thụ trong sản xuất chưa được giải quyết tốt; nhiều kinh nghiệm của quần chúng chưa được xác minh và phổ biến kịp thời; nhiều
  18. chính sách, chế độ về quản lý sản xuất, quản lý kỹ thuật và chế độ khen thưởng chưa được nghiên cứu, bổ sung v,v…Những nhược điểm này đã hạn chế phần nào kết quả của phong trào thi đua yêu nước đang trên đà phát triển. Năm 1961 là năm đầu tiên miền Bắc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965). Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đã bước vào một thời kỳ phát triển mới, đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân những yêu cầu mới, to lớn hơn trước. Đó là những yêu cầu của việc xây dựng các cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, của việc củng cố và phá t triển quan hệ sản xuất mới, và hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, của việc cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, của việc tăng cường lực lượng miền Bắc về mọi mặt: kinh tế, chính trị, quốc phòng, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Nhờ những phân tích chính xác tại Đại hội toàn quốc lần thứ III (9.1960), cũng như nắm bắt đầy đủ thực trạng phong trào thi đua yêu nước, Đảng đã nhanh chóng có những định hướng mới. Sau Đại hội, Đảng kịp thời chỉ đạo nhằm chuyển hướng, phát triển phong trào thi đua yêu nước đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng cả nước. Sự lãnh đạo của Đảng được phản ánh khá rõ trong các chỉ thị, nghị quyết của Ban Bí thư, Bộ Chính trị. Trong phạm vi có hạn, Luận văn chỉ trình bày và phân tích một số chỉ đạo mang tầm chiến lược, có ý nghĩa quyết định mục đích, nội dung, phương thức…của phong trào thi đua yêu nước của nhân dân miền Bắc từ năm 1961- 1965. Nhận thức đầy đủ thực trạng phong trào thi đua yêu nước cũng như những yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, ngày 26 tháng 1 năm 1961, Ban Bí thư ra Nghị quyết Về việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước đảm bảo hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch nhà nước năm 1961 và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Để đảm bảo hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ chính trị to lớn và những nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960) đề ra, cũng như để thực hiện vượt mức kế hoạch Nhà nước năm 1961 do Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định, Ban Bí thư chủ trương: bắt đầu từ năm 1961 phải động viên mọi lực lượng tinh thần và vật chất của toàn dân, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước phát triển sâu rộng trong mọi ngành sản xuất và công tác, trong mọi tầng lớp nhân dân, nhằm phát huy mọi khả năng và thuận lợi, khắc phục mọi khó khăn để không
  19. ngừng tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, quyết tâm thực hiện vượt mức và toàn diện kế hoạch nhà nước năm 1961 và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất theo phương châm: “nhiều, nhanh, tốt, rẻ”. Về lãnh đạo phong trào thi đua, Nghị quyết đề ra yêu cầu phải chú ý đầy đủ các mặt nhưng phải đặc biệt coi trọng sản xuất, hướng mọi hoạt động của phong trào thi đua yêu nước vào mục đích đẩy mạnh sản xuất phát triển theo phương hướng tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành và đảm bảo an toàn lao động. Ngoài ra phải phát huy tinh thần thi đua tập thể, học tập giúp đỡ lẫn nhau, làm cho mọi đơn vị, cá nhân trở thành tiên tiến để cùng nhau tiến bộ không ngừng. Căn cứ vào những nội dung chủ yếu của Chỉ thị số 168 - CT/TW ngày 28-10- 1959, nhằm thực hiện chủ trương phát động phong trào thi đua sâu rộng trong các cấp, các ngành, trong mọi tầng lớp nhân dân tiến tới cao trào thi đua yêu nước, Ban Bí thư đã bổ sung một số vấn đề nhằm phát triển phong trào thi đua trong giai đoạn mới: Đối với các ngành công nghiệp (sản xuất, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải), để đảm bảo hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch nhà nước, phong trào thi đua phải hướng vào các mục tiêu chính là đảm bảo không ngừng tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành. Hết sức coi trọng việc học tập để nắm vững kỹ thuật, nghiệp vụ. Đẩy mạnh cuộc vận động phát huy sáng kiến, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật, làm động lực đảm bảo hoàn thành và vượt mức kế hoạch Nhà nước. Đẩy mạnh phong trào “tiên tiến” thành một phong trào quần chúng sôi nổi, lấy phát huy sáng kiến, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật làm trọng tâm. Xây dựng các tổ hoặc đội lao động xã hội chủ nghĩa, như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III (9-1960) đã đề ra. Đối với ngành nông nghiệp, cần phát huy thắng lợi của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, phát động rộng rãi phong trào “bốn tốt” (đoàn kết tốt, sản xuất tốt, quản lý tốt, chấp hành chính sách tốt), trong khắp các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp nhằm tăng thu nhập cho xã viên, tăng tích lũy cho hợp tác xã và cho Nhà nước, thực hiện đúng chủ trương củng cố và phát triển hợp tác xã sản xuất nông nghiệp như Nghị quyết Bộ Chính trị đề ra. Đối với ngành giáo dục, thi đua cải tiến phương pháp giảng dạy, kết hợp lý thuyết với thực hành, kết hợp học tập với lao động và các hoạt động xã hội, xây dựng nhà trường xã hội chủ nghĩa. Thầy giáo thi đua tu dưỡng đạo đức, nâng cao trình độ giảng
  20. dạy. Học sinh thi đua học tập tiến bộ, rèn luyện thân thể, bồi d ưỡng tinh thần và đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đối với quân đội, đẩy mạnh phong trào rèn luyện và cải tiến kỹ thuật, dưới hình thức phong trào thi đua “ba nhất”.v.v… Đề cập đến điều kiện để phong trào thi đua yêu nước đạt kết quả mong muốn, Nghị quyết chỉ rõ: Cần kiên quyết khắc phục những tư tưởng không đúng đang trở ngại cho phong trào thi đua như: thái độ thờ ơ lạnh nhạt, thái độ cầu toàn đối với phong trào quần chúng, coi thường hoặc ít quý trọng sáng kiến, kinh nghiệm của quần chúng; cần kiên quyết chống các biểu hiện tư tưởng không tin, không dám phát động quần chúng thi đua; đồng thời cũng đề phòng xu hướng nóng vội, đi đến mệnh lệnh thúc ép quần chúng cải tiến lung tung, gây ảnh hưởng không tốt đến việc quản lý kinh tế, quản lý kỹ thuật. Phải hết sức coi trọng công tác giáo dục tư tưởng cho quần chúng, nhằm khắc phục những tư tưởng bảo thủ, tự ti, tự do chủ nghĩa, kém kỷ luật lao động, thiếu tinh thần trách nhiệm, lãng phí, tham ô [26, tr.170-179]. Sau khi ra đời, Nghị quyết của Ban Bí thư đã được các cấp, các ngành thảo luận và tích cực chuẩn bị kế hoạch cho phong trào thi đua nhằm mang lại sự chuyển biến mới với khí thế mạnh mẽ hơn, đảm bảo hoàn thành toàn diện và trước kế hoạch Nhà nước năm 1961 và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Tiếp tục và phát huy hơn nữa tinh thần chỉ đạo phong trào thi đua yêu nước theo Nghị quyết của Ban Bí thư ra ngày 26 tháng 1 năm 1961, ngày 19 tháng 2 năm 1962 Bộ Chính tri ra Nghị quyết Về việc thống nhất lãnh đạo và đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước. Nghị quyết này đã đánh giá phong trào thi đua yêu nước năm 1961, đặc biệt chỉ rõ những thiếu sót và nhược điểm còn tồn tại như: quần chúng lao động thi đua sôi nổi, nhưng nói chung, cán bộ lãnh đạo chuyển biến tư tưởng chậm, chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa to lớn của thi đua đối với việc phát triển kinh tế, còn coi nhẹ công tác lãnh đạo và tổ chức thi đua. Sự phân công trách nhiệm đối với phong trào thi đua giữa cơ quan nhà nước, tổ chức công đoàn, thanh niên dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ở nhiều nơi còn lúng túng. Sự phân công giữa Ban công tác nông thôn và Bộ Nông nghiệp chưa được ấn định cụ thể. Tổ chức công đoàn đã có nhiều tiến bộ mới trong công tác vận động tổ chức thi đua, song có nhiều nơi cán bộ chưa kết hợp chặt chẽ phong trào tiên tiến với
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2