intTypePromotion=3

Luận văn đề tài : "Khả năng ứng dụng chứng khoán phái sinh vào thị trường chứng khoán Việt Nam"

Chia sẻ: Nguyễn Đăng Khiêm | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:32

0
96
lượt xem
31
download

Luận văn đề tài : "Khả năng ứng dụng chứng khoán phái sinh vào thị trường chứng khoán Việt Nam"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong nền kinh tế thị trường, quá trình điều hoà các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu được diễn ra trên thị trường tài chính. Thị trường tài chính thường được phân làm hai loại là thị trường tiền tệ

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn đề tài : "Khả năng ứng dụng chứng khoán phái sinh vào thị trường chứng khoán Việt Nam"

  1. LỜI MỞ ĐẦU Trong nền kinh tế thị trường, quá trình điều hoà các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu được diễn ra trên thị trường tài chính. Thị trường tài chính thường được phân làm hai loại là thị trường tiền tệ (bao gồm th ị trường liên ngân hàng, thị trường hối đoái và quan trọng nhất là thị trường tín dụng ) và thị trường vốn (bao gồm thị trường cho thuê tài chính, thị trường thế chấp và quan trọng nhất là thị trường chứng khoán). Thị trường chứng khoán là b ộ ph ận quan trọng nhất trong thị trường tài chính, nó là nơi cung cấp v ốn đ ầu t ư dài h ạn cho nền kinh tế. Thị trường tài chính rất nhạy cảm, chỉ một tổn thất trong một thị trường bộ phận có thể lây lan sang cả thị trường tài chính rộng lớn và rất d ễ dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính, gây thiệt hại cho nền kinh tế. Từ đó đặt ra một yêu cầu là phải ổn định thị trường tài chính. Chính vì vậy mà trong suốt những thập kỷ vừa qua có sự tăng trưởng kỳ lạ của các thị trường phái sinh, một trong những phát triển quan trọng nhất của thị trường tài chính. Các công cụ tài chính phái sinh ngày càng được sử dụng rộng rãi, linh hoạt trong các ho ạt động tài chính. Đó là những công cụ mới và phức tạp, vì vậy muốn s ử d ụng nó một cách hiệu quả ta cần nghiên cứu, tìm hiểu nó. Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính phái sinh có nguồn gốc từ chứng khoán và có mối quan hệ chặt chẽ với chứng khoán gốc. Đây là nh ững công cụ tài chính đa năng và là các công cụ quan trọng được s ử d ụng m ột cách linh hoạt để giúp các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trên thị trường ch ứng khoán xử lý rủi ro về giá cả chứng khoán và giúp nhà đầu cơ tìm kiếm l ợi nhu ận. Nhưng chứng khoán phái sinh lại tạo ra sứ ép từ phía nhà đầu t ư và r ất ph ức t ạp nên chỉ dành cho những nhà đầu tư chuyên nghiệp và trong thị trường ch ứng khoán phát triển. Ở Việt Nam, thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt đ ộng t ừ năm 2000, còn trong giai đoạn bước đầu xây dựng nên vấn đề áp dụng chứng khoán phái sinh còn nhiều bất cập, nhưng khi th ị trường phát tri ển thì đó l ại tr ở thành tất yếu. 1
  2. Do còn mới và phức tạp, đề tài mới dừng lại ở nh ững lý thuy ết c ơ b ản về chứng khoán phái sinh. Nội dung của đề tài được trình bày đi t ừ lý thuy ết v ề chứng khoán phái sinh đến khả năng áp dụng chúng vào th ị trường ch ứng khoán Việt Nam bao gồm các phần sau: Phần 1 : CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH Phần 2 : KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2
  3. PHẦN I : CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH 1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính, thị trường chứng khoán được hiểu một cách chung nh ất là n ơi di ễn ra các giao dịch trao đổi mua bán, trao đổi chứng khoán _ ch ứng khoán được hiểu là những giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nhượng, xác định số vốn đầu tư (tư bản đầu tư); chứng khoán xác nhận quyền đòi nợ hợp pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản tương một thời hạn nào đó. Các quan h ệ trao đổi mua bán này làm thay đổi chủ sở hữu của chứng khoán, vậy thực ch ất đây là quá trình vận động của tư bản chuyển từ tư bản sở hữu sang t ư b ản kinh doanh. Th ị trường chứng khoán không giống như thị trường các hàng hoá thông thường khác vì hàng hoá thị trường chứng khoán là một loại hàng hoá đặc biệt, là quy ền sở hữu về tư bản. Loại hàng hoá này cũng có giá trị và giá trị s ử d ụng. Nh ư v ậy có thể nói, bản chất của thị trường chứng khoán là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó, giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư. Th ị trường ch ứng khoán là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hànhg hoá. Cấu trúc thị trường chứng khoán được phân theo nhiều tiêu thức khác nhau. Nếu phân loại theo hàng hoá, thì có th ể chia thành th ị tr ường trái phi ếu, th ị trường cổ phiếu và thị trường các công cụ dẫn xuất. Th ị trường trái phi ếu là th ị trường mà hàng hoá là trái phiếu; trái phiếu là chứng khoán nợ, một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành ( người đi vay ) phải trả cho người đứng tên sở hữu chứng khoán (người cho vay ) một khoản tiền nhất định bao gồm cả gốc lẫn lãi trong những khoảng thời gian cụ th ể. Th ị trường c ổ phi ếu là nơi giao dịch mua bán trao đổi cổ phiếu, cổ phiếu là một loại ch ứng khoán v ốn 3
  4. được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền s ở hữu và lợi ích hợp pháp đối với tài sản hoặc vốn của công ty c ổ ph ần. C ổ phi ếu là công cụ tài chính có thời hạn thanh toán là vô h ạn. Còn th ị tr ường các công c ụ dẫn xuất là thị trường có hàng hoá là các chứng khoán phái sinh, ch ứng khoán phái sinh bao gồm các loại như quyền mua trước, chứng khế, h ợp đ ồng kỳ h ạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn. Nếu phân loại theo quá trình luân chuyển vốn, th ị trường đ ược phân thành thị trường sơ cấp (thị trường cấp một )_là thị trường phát hành chứng khoán hay là nơi mua bán chứng khoán lần đầu tiên. Việc mua bán ch ứng khoán trên th ị trường sơ cấp làm tăng vốn cho nhà phát hành, thông qua đó chính phủ có thêm nguồn tài trợ cho dự án đầu tư và tiêu dùng của chính phủ, các doanh nghi ệp huy động được vốn cho dự án đầu tư của doanh nghiệp; Và th ị trường th ứ cấp ( th ị trường cấp 2 ) _ là thị trường giao dịch mua bán trao đ ổi nh ững ch ứng khoán đã được phát hành nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuy ển tài sản xã hội. Khi phân loại thị trường chứng khoán theo hình th ức tổ chức của th ị trường thì có : Thứ nhất, là tổ chức thành sở giao dịch ch ứng khoán, là thị trường chứng khoán được tổ chức tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch hoặc thông qua hệ thống máy tính. Các chứng khoán được niêm yết tại sở giao dịch là các chứng khoán đáp ứng các tiêu chuẩn niêm yết do sở giao dịch đặt ra; Thứ hai là tổ chức thành thị trường giao dịch phi tập trung ( th ị trường OTC ), là thị trường không có trung tâm giao dịch tập trung, đó là một mạng lưới các nhà môi giới và tự kinh doanh chứng khoán mua bán với nhau và v ới nhà đ ầu t ư. Ngoài hai thị trường trên còn có thị trường thứ ba dành cho các chứng khoán không đủ tiêu chuẩn trên hai thị trường trên. Các chủ thể trên thị tường chứng khoán có thể được chia làm ba nhóm : Một là chủ thể phát hành, người cung cấp hàng hoá ( chứng khoán ) cho th ị trường chứng khoán. Các chủ thể bao gồm chính phủ, doanh nghiệp và một số 4
  5. tổ chức khác như các quỹ đầu tư, tổ chức tài chính trung gian ….; Hai là nhà đ ầu tư, là những người có tiền, thực hiện việc mua và bán chứng khoán đ ể tìm ki ếm lợi nhuận, thường được chia thành nhà đầu tư cá nhân và nhà đ ầu t ư có t ổ ch ức; Ba là các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán như c ơ quan qu ản lý và giám sát các hoạt động thị trường chứng khoán như uỷ ban chứng khoán, hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán, tổ chức lưu ký, đăng ký và thanh toán bù trừ chứng khoán, các tổ chức hỗ trợ , các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm … 1.1.2 Khái niệm về chứng khoán phái sinh Trên các thị trường chứng khoán phát triển, ngoài hoạt động giao dịch các chứng khoán thông thường như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư còn có giao dịch các loại chứng khoán phái sinh. Chứng khoán phái sinh gồm có chứng khế ( warrants ), chứng quyền (rights ), hợp dồng kỳ hạn ( forwards ), h ợp đồng tương lai (futures ) và hợp đồng quyền chọn (options ). Các lo ại ch ứng khoán phái sinh không giống như các chứng khoán thông thường. Chúng không xác nhận quyền sở hữu hay quyền chủ nợ giữa người sở hữu đối với người phát hành, mà chỉ xác nhận quyền mua cổ phiếu thường của một công ty phát hành cho người sở hữu ( trường hợp chứng khế và chứng quyền ) hoặc xác nh ận quyền và nghĩa vụ giữa hai bên giao dịch hợp đồng ( trong trường hợp quyền lựa chọn và hợp đồng tương lai ). Các chứng khoán phái sinh này giúp cho th ị trường sôi động hơn và kích thích hoạt động đầu tư của những nhà đầu tư chứng khoán. Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính có nguồn g ốc t ừ ch ứng khoán và quan hệ chặt chẽ với các chứng khoán gốc. Các chứng khoán phái sinh được hình thành do nhu cầu của người mua, người bán ch ứng khoán, và s ự phát triển của chứng khoán phái sinh phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường chứng khoán. Các chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính đa năng và đòi h ỏi ph ải có sự vận dụng linh hoạt, mặt khác nó yêu cầu các nhà đ ầu t ư ph ải phân tích d ự đoán tình hình biến động của chứng khoán cơ sở trong tương lai một cách t ốt 5
  6. nhất. Sau đó vận dụng chứng khoán phái sinh linh hoạt đ ể ki ếm ti ền. Do đó, phải là những nhà đầu tư chuyên nghiệp và những chuyên gia mới có đ ủ tri th ức và thông tin để sử dụng tốt công cụ này. Và chỉ ở thị trường chứng khoán phát triển, chứng khoán phái sinh mới được áp dụng và phát triển. Các chứng khoán phái sinh mới được áp dụng vào thị trường chứng khoán từ thập kỷ 70 của thế kỷ 20, nhưng đến nay thị trừng chứng khoán phái sinh phát tri ển r ất sôi đ ộng và đạt được nhiều thành công. Trong tương lai không xa thị trường chứng khoán phái sinh còn phát triển vượt trội hơn nữa. Đó là quy luật tất yếu. 1.1.3 Vai trò chứng khoán phái sinh đối với thị trường chứng khoán. Chứng khoán phái sinh đóng vai trò to lớn trong thị trường ch ứng khoán, cũng như trên thị trường tài chính. Chứng khoán phái sinh chủ yếu đảm bảo sự ổn định cho thị trường chứng khoán với chức năng phòng ngừa rủi ro và tăng khả năng sinh lời cho nhà đầu tư chứng khoán. Tuy nhiên, việc sử dụng các ch ứng khoán phái sinh này cũng tạo ra sức ép từ phía các nhà đầu cơ. Với phương thức rất sôi động ( có tính ch ất cá cược v ề giá ) giúp các nhà đầu cơ thao túng về giá chứng khoán gốc. Ví dụ như có sự công khai v ề một hợp đồng quyền chọn mua một loại chứng khoán nào đó với một lượng ch ứng khoán lớn và với giá cao vào thời gian tới, thì trên th ị trường ngay l ập t ức x ảy ra tình trạng “ăn theo “ tức các nhà đầu tư mua chứng khoán nh ỏ l ẻ đ ổ vào mua chứng khoán đó tại thời điểm hiện tại tăng lên khiến cho giá chứng khoán đó lập tức lên giá ( do cầu chứng khoán đó tăng ). Ngoài ra, nó còn làm cho thị trường sơ cấp hoạt động với hiệu quả không cao. Như vậy, các thị trường chứng khoán mới nổi không nên áp dụng chứng khoán phái sinh, nếu không sẽ tạo ra những biến động bất lợi về chứng khoán cơ sở năm ngoài sự kiểm soát của các cơ quan quản lý. Còn với thị trường chứng khoán phát triển sự áp dụng ch ứng khoán phái sinh càng kích thích thị trường phát triển sôi đ ộng h ơn. Đó là nh ờ các chức năng kinh tế của các chứng khoán phái sinh như : 1.1.3.1 Chứng khoán phái sinh giúp phòng ngừa rủi ro . 6
  7. Nhà đầu tư là những người có tiền thực hiện giao dịch trao đổi mua bán chứng khoán nhằm mục đích sinh lời. Khi nhà đầu tư này n ắm gi ữ ch ứng khoán gốc như cổ phiếu trái phiếu, họ mong muốn chứng khoán này lên giá. Vì nh ư vậy họ sẽ được thêm kkhoản lời từ chênh lệch giá. Tuy nhiên, ph ần tài s ản c ủa họ sẽ bị thiệt hại khi thị trường có những biến động bất lơị làm gi ảm giá ch ứng khoán mà họ nắm giữ. Đó là những rủi ro gây tổn th ất cho nhà đ ầu tư, vì v ậy phải phòng ngừa giảm thiểu rủi ro. Mỗi loại chứng khoán phái sinh có cách phòng ngừa rủi ro riêng cho các trường hợp xảy ra rủi ro gây tổn th ất cho nhà đầu tư, bảo vệ tài sản ( giá trị ch ứng khoán) và c ả ph ần l ợi nhu ận c ủa nhà đ ầu tư. Chẳng hạn, chứng quyền đảm bảo quyền lợi cho những c ổ đông th ường hiện hữu của công ty phát hành khi công ty phát hành thêm cổ phiếu thường mới, điều đó xuất phát từ vấn đề nảy sinh là khi phát hành thêm cổ phiếu thường mới làm pha loãng quyền sở hữu của cổ đông hiện hữu và đồng thời chứng khoán này trên thị trường cũng thường bị giảm giá. Với chứng khế thì nó đảm b ảo lợi ích của nhà đầu tư mua cổ phiếu ưu đãi hay mua trái phiếu có độ rủi ro cao. Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn giúp cho các nhà đầu tư tự bảo vệ lợi ích của mình rước những rủi ro giảm giá chứng khoán họ nắm giữ trên thị trường …Với chức năng đó, chứng khoán phái sinh có vai trò to lớn giúp ổn đ ịnh thị trường chứng khoán. 1.1.3.2 Chứng khoán phái sinh được nhà đầu tư sử dụng để đầu cơ . Hoạt động đầu cơ là hoạt động giao dịch mua bán h ợp đồng c ủa nhà đ ầu tư mà không sử dụng đến hàng hoá cơ sở ( chứng khoán gốc ). Những nhà đầu cơ mua bán chứng khoán phái sinh nhằm mục tiêu tìm ki ếm l ợi nhuận. Nhà đ ầu cơ phải phân tích tình hình biến động, khả năng tăng trưởng phát triển của chứng khoán gốc trên thị trường tiền mặt _ là thị trường diễn ra các giao d ịch trao đổi mua bán hàng hoá _ trong tương lai. Từ những nhận định đó nhà đầu cơ đưa ra các quyết định mua hoặc bán chứng khoán phái sinh ( thường chỉ là hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ). Nhà đầu cơ hy vọng ki ếm được ti ền 7
  8. trong tương lai bằng cách đánh cuộc ( mang tính chất cá cược ) với sự biến động của giá cả. Như vậy nhà đầu cơ là người đánh bạc m ạo hi ểm nh ất trong nh ững nhà đầu tư. Nhà đầu tư sử dụng chứng khoán phái sinh đ ể đầu c ơ ph ải là nh ững người có sức chịu đựng vì thị trường này có độ rủi ro cao. Nhưng những nhà đầu cơ này lại có vai trò to lớn hình thành lên th ị trường ch ứng khoán phái sinh b ằng cách hoàn tất mối liên hệ cộng sinh giữa những người muốn tránh né rủi ro ( phòng ngừa rủi ro ) và những người chấp nhận rủi ro. Các chứng khoán phái sinh thực sự là rất đa năng, có thể sử dụng để phòng ngừa rủi ro và cũng có thể sử dụng để đầu cơ. Tuỳ từng quan điểm của nhà đầu tư và từng trường hợp mà nhà đầu tư gặp phải mà các chứng khoán phái sinh được sử dụng vào các mục đích khác nhau. Sự vận dụng chứng khoán phái sinh này rất linh hoạt, nó được đưa ra nhằm bảo vệ quy ền lợi của nhà đ ầu tư t ừ đó tạo ra sự sôi động, kích thích nhà đầu tư tham gia vào đầu tư trên thị trường chứng khoán. 1.2 CÁC LOẠI CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH, ĐẶC ĐIỂM VÀ CHỨC NĂNG CỦA MỖI LOẠI. Chứng khoán phái sinh được hình thành từ chứng khoán gốc dựa trên những nhu cầu giao dịch của nhà đầu tư, nh ững người mua và bán ch ứng khoán trên thị trường chứng khoán. Các trường hợp biến động giá do các nguyên nhân khác nhau và mục tiêu sử dụng của nhà đầu tư chứng khoán khác nhau có nh ững yêu cầu khác nhau từ đó hình thành lên các loại chứng khoán phái sinh khác nhau. Chứng khoán phái sinh rất phong phú và đa dạng về chủng loại, và cả về chức năng. Để nghiên cứu về chứng khoán phái sinh cho minh bạch và d ễ hiểu, ta phải đi nghiên cứu vào từng loại. Chứng khoán phái sinh thông thường bao gồm những loại sau : − Chứng quyền ( giấy đảm bảo quyền mua trước ) (rights ) − Chứng khế ( warrants ) − Hợp đồng tương lai ( futures ) 8
  9. − Hợp đồng quyền chọn ( options ) 1.2.1 Chứng quyền (rights) Chứng quyền là một loại chứng khoán phái sinh được hình thánh từ việc công ty phát hành muốn huy động thêm vốn bằng một đợt phát hành c ổ phi ếu mới, và chứng quyền chỉ dành cho cổ đông hiện hữu của công ty _ nh ững ng ười hiện đang nắm giữ cổ phiếu của công ty phát hành. Quyền mua trước hay đặc quyền mua cho phép những người sở hữu những cổ phần đang lưu hành được mua một số cổ phiếu nhất định trong đợt phát hành mới của công ty tại một mức giá xác định thấp hơn mức giá chào bán ra công chúng trong m ột th ời h ạn xác định . Các quyền này cũng chuyển nhượng giữa các cổ đông có quy ền th ụ hưởng quyền và các nhà đầu tư khác. Thông thường, chứng quyền có thời hạn là ngắn ( 2-3 tuần ) và việc phát hành thường được quy định trong v ốn đi ều l ệ. Chứng quyền được phát hành nhằm bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư. Ch ứng quyền không chỉ đảm bảo quyền mua cổ phiếu đối với cổ đông hi ện h ữu nh ằm đảm bảo quyền kiểm soát với một tỷ lệ cổ phiếu mới b ằng v ới t ỷ l ệ c ổ phi ếu trước khi phát hành thêm, mà nó còn nhằm mục tiêu đảm b ảo tài s ản c ủa ch ủ s ở hữu chứng khoán ( những cổ đông ). Đó là do khi phát hành thêm cổ phi ếu, c ổ phiếu trên thị trường của công ty phát hành này thường có xu hướng giảm giá. Người nắm giữ quyền này có thể dùng để mua cổ phiếu mới hoặc bán quy ền trên thị trường chứng khoán. Nếu cổ đông giữ để thực hiện quyền thì nó được ưu đãi mua chứng khoán với giá thấp hơn mức giá hiện hành của cổ phiếu vào th ời đi ểm quy ền đ ược phát hành. Là do: rủi ro có thể xảy ra khi giá thị trường giảm trong đợt phát hành quyền và có thể ảnh hưởng tới đợt phát hành. Mặt khác nó làm tăng tính h ấp dẫn đối với cổ đông cũ. Để tránh cho các cổ đông cũ kh ỏi thi ệt thì h ọ đ ược mua cổ phần mới theo giá lý thuyết bằng phần chênh lệch giữa thị giá cổ phiếu trước và sau khi tăng vốn. Phần chênh lệch giữa giá sau khi tăng v ốn với giá đ ược mua theo chứng quyền sẽ bù lỗ cho nhà đầu tư phần giảm giá tr ị ch ứng khoán tr ước 9
  10. khi tăng vốn và sau khi tăng vốn. Theo đó giá cổ phiếu sau khi phát hành đ ảm bảo cho nhà đầu tư không bị thiệt dừng ở mức sau : công thức P1 = trong đó : n_số lượng cổ phiếu trước khi phát hành thêm . p0_giá cổ phiếu ở thời điểm trước khi phát hành. m_số lượng cổ phiếu trước khi phát hành thêm. f_giá ưu đãi mua cổ phiếu của chứng quyền. p1_ giá của cổ phiếu sau khi phát hành. P1 chỉ là giá cổ phiếu sau khi phát hành dự kiến, còn trên thực tế thì có thể bằng hoặc không. Nếu giá cổ phiếu sau khi phát hành th ực t ế b ằng giá c ổ phi ếu sau khi phát hành dự kiền thì thì đợt phát hành thêm cổ phiếu không gây thi ệt h ại cho nhà đầu tư. nếu giá thị trường thực tế không giảm hoặc gi ảm nh ưng vẫn lớn hơn p1 thì cổ đông hiên hữu sẽ có lợi và ngược lại, nếu giá chứng khoán trên thị trường giảm xuống thấp hơn p1 thì cổ đông hiện hành s ẽ b ị thi ệt mặc dù h ọ được mua với giá thấp hơn giá thị trường lúc bấy giờ. Các cổ đông hiện hữu không nhất thiết phải thực hiện quyền này, họ có thể đem bán và giá của chứng quyền sẽ bù đắp vào phần thi ệt h ại do giá ch ứng khoán mà họ nắm giữ bị giảm giá. Như vậy, tổng tài sản của h ọ sẽ được bảo toàn. Giá của chứng quyền khi đem bán sẽ phản ánh giá trị c ủa ch ứng quy ền có thể cao hơn và có thể thấp hơn, nhưng giá của nó th ường n ằm trong kho ảng chênh lệch giữa giá thị trường của cổ phiếu sau khi đã phát hành quy ền mua c ổ phiếu với giá mà người có chứng quyền được mua ( giá mua cổ phiếu ghi trên chứng quyền ) và còn tuỳ theo thoả thuận và cung c ầu. Giá tr ị c ủa ch ứng quy ền được xác định như sau: M= Trong đó : p_ Là thị giá cổ phiếu . F_ Là gí ưu đãi của chứng quyền . 10
  11. M_ Giá trị của chứng quyền . N_ Là định mức cổ phiếu cũ đẻ mua một cổ phiếu mới hay là s ố lượng quyền cần để mua một cổ phần mới = số lượng cổ phần cũ đang l ưu hành / s ố lượng cổ phần mới ( n / m ). Ta thấy ở mẫu, N phải cộng thêm 1 là vì trong thời hạn đăng ký mua c ổ phần mới, giá trị thị trường của cổ phiếu ( P ) đã bao gồm luôn cả giá trị c ủa quyền. Ngoài ra cần lưu ý rằng vào ngày đầu tiên c ổ ph ần đ ược mua bán không có kèm đặc quyền, giá thị trường sẽ giảm một khoảng bằng v ới giá tr ị c ủa đ ặc quyền. Khi đó, giá trị của một đặc quyền sẽ là: M= Như vậy, ta có thể thấy rằng quyền mua trước cổ phiếu không ch ỉ có chức năng bảo vệ quyền lợi của nhà đầu cỏ mà nó còn có khả năng làm tăng vốn của công ty phát hành. Các công ty phát hành rất quan tâm t ới ch ức năng này của chứng quyền và các công ty này thường nghiên cứu kỹ tác dụng của nó để vận dụng vào trong các đợt phát hành thêm cổ phiếu tăng vốn cho công ty, tài trợ cho những dự án đầu tư. Chúng ta nghiên cứu một ví dụ để th ấy rõ h ơn công dụng của chứng quyền khi công ty phát hành thêm cổ phiếu. Ông A hiện đang nắm giữ 100.000 cổ phiếu của công ty X với giá thị trường là 40.000 đ/cổ phiếu. Công ty X có 1.000.000 cổ phiếu, công ty này muốn huy động thêm vốn bằng cách phát hành thêm 100.000 cổ phiếu mới. Để đảm bảo tỷ lệ sở hữu cổ phần của các cổ đông hiện hữu, công ty quy đ ịnh t ỷ l ệ chuyển đổi là 1/10 ( 100.000/1.000.000 ) tức là cứ nắm giữ 10 cổ phiếu cũ thì được quyền mua một cổ phiếu mới thấp hơn giá th ị trường giả sử với giá là 34.500đ/cổ phiếu. Như vậy, nhà đầu tư A sẽ được mua cổ phiếu mới của công ty X với số lượng là 10.000 cổ phiếu, khi đó tỷ lệ sở h ữu c ổ ph ần c ủa công cua ông A vẫn là 10% ( 110.000/1.100.000 ) nếu ông A th ực hi ện quy ền. Còn sau khi phát hành thêm cổ phiếu, thông thường giá cổ phiếu sẽ giảm giả sử là 39.500đ/cổ phiếu. Giá trị chứng khoán mà ông ta nắm giữ bị giảm giá và giảm 11
  12. 50.000.000đ=100.000x(40.000-39.500), nhưng ông A được bù lại một khoản bằng 50.000.000đ =10.000x(39.500-34.500) khi ông thực hiện quyền mua trước cổ phiếu. Nếu ông A không thực hiện quyền mà bán quyền này trên thị trường thì ông ta có thể bán với giá là 50 triệu đồng =((39.500-34.500):10)x10.000. Nh ư vậy, giá trị tài sản của ông A không bị suy giảm và ông A cũng có th ể b ảo v ệ quyền kiểm soát của mình khi công ty phát hành thêm cổ phiếu. 1.2.2 Chứng khế ( warrants ) . Trong các loại chứng khoán phái sinh, không chỉ chứng quyền là do công ty phát hành các chứng khoán phát hành ra mà để đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư họ còn phát hành ra chứng khế. Chứng khế hay còn gọi là bảo chứng phiếu ( cam kết bán ) là một loại chứg khoán được phát hành cùng với trái phi ếu hay cổ phiếu ưu đãi mà người sở hữu nó có quyền được mua một s ố lo ại ch ứng khoán nhất định và trong một thời hạn nhất định. Chứng khế thường được phát hành trong trường hợp tổ chức lại công ty, hoặc khi công ty phát hành nhằm mục tiêu khuyến khích các nhà đ ầu t ư ti ềm năng mua các trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi có điều kiện kém thuận lợi. Để bù đắp cho những rủi ro cao của của trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi đó, nhà đầu tư kỳ vọng có thể được nhận thêm phần chênh lệch do s ự lên giá có th ể x ảy ra đ ối với cổ phiếu thường. Chứng khế là công cụ kích thích nhà đầu tư mua các chứng khoán có điều kiện kém thuận lợi ở thời điểm hiện tại nh ằm đảm b ảo thành công cho đợt huy động vốn của công ty trong thời điểm khó khăn đ ể giúp công ty vượt qua được giai đoạn khó khăn tránh cho công ty kh ỏi bị thua l ỗ n ặng nề hơn thậm chí là thoát khỏi nguy cơ phá sản. Đổi lại, công ty ( ch ủ s ở h ữu hiện tại hay những cổ đông hiện tại ) phải chấp nh ận thiệt thòi trong tương lai khi mà công ty phải bán cổ phiếu thường cho nhà đầu tư nắm giữ chứng khế vớí giá rẻ hơn giá thị thị trường tại thời điểm đó và phải chấp nh ận chia sẻ quy ền kiểm soát công ty. Công ty phát hành quyết định phát hành ch ứng kh ế khi mà h ọ phân tích thiệt hơn của vấn đề, nó đảm bảo sao cho nh ững c ổ đông cũ có l ợi 12
  13. nhất. Ví nếu không có chứng khế thì không huy động được thêm vốn vào th ời điểm lúc bấy giờ gây thiệt hại cho họ và ngoài ra họ còn có thể hưởng lợi nhuận trong những năm sau. Chứng khế còn đảm bảo quyền lợi cho những nhà đầu tư mới của công ty . Tuy nhiên, những người sở hữu chứng khế không có tư cách cổ đông trong công ty, không được nhận cổ tức và không có quy ền bi ểu quy ết cho đ ến khi chuyển chứng khế ra thành cổ phiếu thường. Tại thời điểm phát hành ch ứng khế, giá mua cổ phiếu ghi trong chứng khế bao giờ cũng cao hơn giá th ị tr ường cổ phiếu cơ sở, và giá đó có thể cố định có thể được tăng lên đ ịnh kỳ, nh ằm đảm bảo răng quyền đó không được thực hiên ngay tránh gây khó khăn cho công ty. Khác với chứng quyền thời hạn chứng khế thường dài hơn rất nhiều thông thường là từ 2 năm, 3 năm, 10 năm, 20 năm và có th ể là vĩnh vi ễn. Các ch ứng khế này sau một thời gian có thể tách ra khỏi chứng khoán cơ sở và được giao dịch riêng biệt trên thị trường. Giá của chứng khế tuỳ thuộc vào giá trị của chứng khế và cung cầu trên thị trường . Giá trị của chứng khế = Giá trị nội tại + Giá trị thời gian Trong đó : Giá trị nội tại = ( Giá cổ phần – Giá thực hiện ) x Số c ổ ph ần được mua của chứng khế. Nhưng khi chứng khế được thực hiện thì nó sẽ làm giảm giá cổ phần do số lượng cổ phần tăng ảnh hưởng tới lợi nhuận tính cho một cổ phần. Khi đó giá trị của chứng khế được xác định gián tiếp thông qua hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ và được tính toán như sau: = x Với : Pc - Giá trị của hợp đồng quyền chọn mua ki ểu Mỹ với giá th ực hiện và thời gian đáo hạn giống như của chứng khế . q - tỷ lệ tăng trưởng cổ phần nếu như tất cả các chứng khế đều đ ược thức hiện . 13
  14. Giá trị thời gian cũng có tác động tỷ lệ thuận tới giá trị của chứng kh ế vì thời gian càng dài cơ hội cổ phiếu lên giá càng cao, nhà đ ầu c ơ hy v ọng t ại th ời điểm huy động trong tương lai họ sẽ mua được cổ phiếu với giá rẻ hơn giá thị trường tại thời điểm đó. Giá trị thời gian còn ph ụ thuộc vào s ự đánh giá kh ả năng phát triển của công ty phát hành. Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác như cổ tức mà công ty trả cho cổ đông, các mức lãi suất trên th ị tr ường và các điều kiện thị trường nói chung. Thông thường, các mức giá ch ứng kh ế s ẽ có xu hướng tăng trong thị trường lên và giảm trong thị trường xuống. Như ở trên đã nói, chứng khế có chức năng bảo vệ quyền lợi cho nhà đ ầu tư mua cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu của công ty. Rủi ro của các ch ứng khoán đó được bù đắp bởi thu nhập từ việc thực hiện chứng khế hoặc t ư vi ệc bán nó. Ta xét ví dụ sau : Đầu năm 2001 một công ty Y quyết định phát hành trái phi ếu kèm theo chứng khế. Mỗi chứng khế đảm bảo quyền mua 10 cổ phiếu th ường với giá 50.000đ/cổ phiếu vào bất cứ lúc nào cho đến ngày 31/12/2010. Giá th ị trường c ổ phiếu công ty đó tại thời điểm đầu năm 2001 là 34.000đ/cổ phiếu. Chứng kh ế này sẽ rất hấp dẫn nhà đầu tư nếu họ dự đoán trong th ời h ạn đó giá c ủa c ổ phiếu thường sẽ vượt giá được mua ghi trong chứng khế. Giá cổ phi ếu này trên thị trường tăng trưởng nhanh và đến tháng 6/2006 giá cổ phi ếu tăng lên 90.000đ/cổ phiếu, lúc này nếu nhà đầu tư thực hiện chứng khế thì nhà đầu tư sẽ được lợi một khoản là 400.000đ /1 chứng quyền =10x(90.000 – 50.000). Trong trường hợp nhà đầu tư không thực hiện chứng kh ế nhà đầu t ư có th ể bán và được hưởng giá của chứng khế. Nếu như thị trường đánh giá cổ phiếu của công ty còn có khả măng tăng trưởng hơn nữa thì giá của chứng khế sẽ cao hơn cả giá trị nội tại của chứng khế (400.000đ/cổ phiếu ). Nhưng nếu giá ch ứng khoán l ại tăng không vượt qua được mức giá ghi trên chứng khế thì nhà đầu tư sẽ không thực hiện quyền và sẽ không thu được khoản lợi nhuận từ chứng khế. Tuy nhiên, lúc này họ vẫn thu được khoản lãi từ chứng khoán gốc. 14
  15. Các chứng khế và chứng quyền sau khi tách khỏi chứng khoán gốc thì nó có nhiều đặc tính giống như hợp đồng quyền chọn mua kiểu Mỹ, đó là được mua chứng khoán với mức giá xác định và kh ối lượng nh ất đ ịnh t ại một th ời điểm xác định trong tương lai. Nhưng chứng quyền lại có th ời h ạn ngắn lên kh ả năng giá chứng khoán tăng lại rất ít khi xảy ra , còn với ch ứng quy ền thì kh ả năng này là cao hơn do thời hạn dài h ơn dù công ty này có kh ả năng tăng tr ưởng không cao. Như vậy nhà đầu tư sẽ mua chứng khoán phái sinh này khi họ nhận định là giá chứng khoán thời điểm tương lai sẽ cao hơn giá ch ứng khoán trong chứng khế cộng với giá mua chứng khế. Như vậy ngoài chức năng phòng ngừa hạn chế rủi ro nó còn có thêm chức năng đẻ đầu cơ, nhưng chức năng bảo vệ nhà đầu tư vẫn là chức năng chủ yếu. 1.2.3 Hợp đồng tương lai ( futures ) Khác với chứng khế và chứng quyền, hợp đồng tương lai và h ợp đồng quyền chọn được hình thành bởi các nhà đầu tư chứ không phải là do các công ty phát hành lập ra. Nó được hình thành hoàn tất mối quan hệ gi ữa nh ững ng ười muốn phòng ngừa rủi ro và những người chấp nhận rủi ro. Hợp đồng tương lai xuất hiện từ khá sớm nhưng đó lại là những hợp đồng về hàng hoá. Cho đ ến năm 1973 hợp đồng tương lai mới được ứng dụng vào thị trường chứng khoán, nhưng nó đã phát triển nhanh chóng và trở lên sôi đ ộng. Các h ợp đ ồng t ương lai được bắt nguồn từ hợp đồng kỳ hạn. 1.2.3.1 Hợp đồng kỳ hạn ( forwards ) Hợp đồng kỳ hạn là một thoả thuận giữa hai đối tác ( người mua và người bán ) thực hiện một giao dịch hàng hoá ở một th ời điếm chắc ch ắn trong t ương lai với khối lượng và mức giá xác định. Hợp đồng kỳ hạn giúp cho hai bên xác định trước giá cả của khối lượng hàng hoá từ đó họ có kế hoạch ổn định sản xuất kinh doanh, h ạn ch ế nh ững biến động giá bất lợi cho họ ( người mua sợ giá cả hàng hoá tăng lên còn ng ười bán thì sợ giá cả hàng hoá giảm xuống ). Nó tạo ra sự “ may đo v ừa khéo “ cho 15
  16. các bên, tuy nhiên hợp đồng kỳ hạn lại có một số yếu điểm như: hợp đồng kỳ hạn không cho phép huỷ bỏ đơn phương và nghĩa vụ h ợp đ ồng c ủa m ỗi bên nói chung là không thể chuyển giao cho người thứ ba , nh ư vậy nó không ph ải là một hợp đồng linh hoạt. Ngoài ra, hợp đồng kỳ h ạn s ẽ không h ạn ch ế đ ược r ủi ro tín dụng tức không thể đảm bảo rằng một bên s ẽ không v ỡ nợ và phá b ỏ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng. Mà điều này dễ xảy ra khi giá th ực hiện trong hợp đồng chênh lệch quá nhiều so giá thị trường tại thời điểm đó. Nếu giá th ị trường tại thời điểm thực hiện hợp đồng cao hơn giá định trước thì bên mua có lợi vì bên bán sẽ lỗ và ngược lại khi giá thị trường lúc đó th ấp h ơn gía đ ịnh trước thì bên bán có lợi. Phát huy nh ững mặt tích cực và h ạn ch ế nh ững y ếu điểm của hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai ra đời. 1.2.3.2 Hợp đồng tương lai ( futures) . Hợp đòng tương lai là một thoả thuận được tiêu chuẩn hoá để giao dịch trao đổi mua bán một tài sản vào thời điểm chắc chắn trong tương lai với một mức gía xác định. Hợp đồng tương lai là một trong các chứng khoán phái sinh hình thành d ựa trên cơ sở một công cụ tài chính hay một chỉ số tài chính được gọi là hợp đồng tương lai tài chính, bao gồm hợp đồng tương lai lãi suất, hợp đồng tương lai tiền tệ và hợp đồng tương lai chỉ số chứng khoán. Hợp đồng tương lai về lãi su ất có tài sản cơ sở là công cụ nợ, đối tượng giao dịch phổ biến là những trái khoán như trái phiếu kho bạc dài hạn, trung hạn và ngắn hạn; Hợp đồng tương lai ti ền tệ thì lại ghi rõ sự chuyển đổi một loại tiền tệ này lấy m ột lo ại ti ền t ệ khác và số đơn vị tiền tệ yêu cầu giao được chọn trước; Còn h ợp đ ồng t ương lai ch ỉ s ố chứng khoán là hợp đồng có hàng hoá cơ sở là những giá trị chỉ số riêng biệt như S&P500, nikkei…, hợp đồng tương lai chỉ số không được thanh toán bằng giao hàng mà sử dụng tiền mặt thay cho việc giao hàng vì chỉ số không phải là một dạng vật chất và hình thức thanh toán là đảo ngược vị thế. 16
  17. Hợp đồng tương lai nhờ đặc tính linh hoạt và một số đặc điểm mới mà nó khắc phục được những nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn và nó đ ược xem nh ư là một công cụ tốt để phòng ngừa rủi ro và đầu cơ. Các hợp đồng tương lai đã được tiêu chuẩn hoá tức là nội dung thoả thuận của mỗi hợp đồng tương lai đều được quy định thống nhất như là về thời hạn của hợp đồng, ví dụ như ch ỉ có hợp đồng đáo hạn vào tháng 3, 6, 9, 12, nó còn quy định v ề kh ối l ượng hàng hoá trong một hợp đồng tương lai, khi đó nhà đầu tư nào muốn mua hoặc bán hàng hoá với khối lượng lớn hơn thì thực hiện mua bán nhiều hợp dồng tương lai. Về hàng hoá thì không phải hàng hoá nào cũng là hàng hoá cơ sở để ký kết hợp đồng mà những hàng hoá đó phải được sở giao dịch hợp đồng tương lai chấp nhận khi nó đảm bảo các tiêu chuẩn niêm yết đưa ra và chất lượng của các hàng hoá cơ sở cũng có những tiêu chuẩn nhất định, ví dụ hàng hoá trong h ợp đ ồng t ương lai tiền tệ phải là những đồng tiền mạnh có khả năng trao dổi như USD,GBP, Mark Đức, đồng tiền chung Châu Âu,… Như vậy, các bên tham gia không th ể th ương lượng bất kỳ như hợp đồng kỳ hạn. Nhờ có đặc điểm tiêu chuẩn mà nó tạo điều kiện cho các bên đối tác trao đổi cho nhau dễ dàng h ơn. Các h ợp đ ồng t ương lai được giao dịch tại các trung tâm chứng khoán hay ở sở giao dịch chứng khoán. Lịch sử trên thế giới có nhiều trung tâm giao dịch hợp đồng t ương lai phát tri ển: Thị trường Future Chicago ( the Chicago Board of Trade _CBOT ) (1848) về nông sản và trái phiếu kho bạc; Thị trường CME ( the chicago mercantile Exchange ) (1919) về nhiều nông sản và chứng khoán ; Thị trường tiền tệ IMM ( the International Monetry Market ) (1972) về ngoại tệ ; LIFFE ( the London International Finacial Future Exchange …) gồm thị trường hàng hoá_tài chính. Tại các trung tâm, hợp đồng tương lai được giao dịch mua bán dưới hình th ức đặt lệnh tự do theo nguyên tắc đấu giá. Các nhà đầu tư mua vào và bán ra các hợp đồng với giá thoả thuận tuỳ ý khi có sự ch ấp nh ận của các th ương gia khác. Trung tâm sẽ đứng ra tổng hợp các lệnh đặt và khớp lệnh để tạo ra được các 17
  18. hợp đồng tương lai, khi hợp đồng được kí kết thì các bên không bi ết nhau mà qua môi giới trung gian _ trung tâm giao dịch. Sở giao dịch hợp đồng tương lai không chỉ tạo ra sự thuận lợi trong giao dịch mua bán hợp dồng mà còn hạn chế rủi ro trong thanh toán. Đó là do, th ứ nhất, hợp đồng tương lai không bắt buộc người giữ nó phải thực tiện h ợp đồng, tức là nếu thấy không có lợi hoặc không muốn th ực hiện hợp đồng thì có th ể xóa bỏ nó bằng một nghiệp vụ ngược chiều. Trên thực tế chỉ khoảng 2% hợp đồng tương lai có giao dịch nhận hàng hoá. Tất cả các hợp đồng tương lai còn lại đã được bù trừ hay trung hoà bằng hợp đồng ngược lại. Thứ hai, là trong giao dịch hợp đồng tương lai có vận dụng một nghiệp vụ trung gian là " phòng thanh toán bù trừ ", đây là một hệ thống hoạch định và phê chuẩn điều kiện tham gia thị trường đồng thời hoạch định các khoản thanh toán chênh l ệch. " Phòng thanh toán bù trừ " yêu cầu nhà đầu tư phải mở một tài khoản và đóng góp vào đó m ột số tiền gọi là quỹ dự phòng ban đầu ngay khi nhà đầu tư kí k ết h ợp đồng t ương lai. Sau mỗi ngày giao dịch “phòng thanh toán bù trừ “ s ẽ ho ạch toán l ỗ và lãi đ ể kết chuyển bù trừ cho nhau. Ngoài ra, để bảo vệ cho nhà đầu tư khi thị trường biến chuyển quá nhanh thì thị trường có cơ chế gọi là “khoá giới hạn”. Nó đặt ra giá “ giới hạn trên “ và giá “giới hạn dưới”, nếu giá h ợp đ ồng tương lai tăng vượt giá “giới hạn trên “ hoặc giảm xuống thấp h ơn giá “gi ới h ạn d ưới “ thì th ị trường ngừng giao dịch. Thời gian đóng cửa thị trường giao dịch nh ằm đ ảm b ảo cho người tham gia tỉnh táo và có cơ hội đánh giá l ại v ị trí c ủa mình t ừ đó có th ể ổn định thị trường. Như vậy, tuy xuất hiện sau hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai lại là phương thức giao dịch phổ biến. Một đặc điểm rất đặc trưng của hợp đồng tương lai đó là các bên tham gia hợp đồng tương lai đều có quyền và nghĩa vụ đối với bên kia. Tức là các bên vừa có quyền đòi bên kia thực hiện hợp đồng và đều có nghĩa v ụ th ực hi ện h ợp đồng _ giao hàng ( đối với người bán ) hay thanh toán (đối với người mua ) khi bên kia yêu cầu khi đến hạn. Chính vì đặc điểm này mà các bên tham gia giao 18
  19. dịch hợp đồng tương lai không phải mất chi phí cho nhau. Giá c ủa h ợp đ ồng tương lai tỉ lệ thuận với sự biến động giá của thị trường hàng hoá c ơ s ở, giá hàng hoá trên thị trường tiền mặt tăng làm giá hợp đồng tương lai tăng nh ưng ngoài ra nó còn phụ thuộc vào thời gian đáo hạn và các yếu tố kinh t ế khác. Th ời gian đáo hạn càng gần, giá hợp đồng tương lai càng sát giá của thị trường hàng hoá cơ sở. Những hợp đồng tương lai có sức lôi cuốn nhà đầu tư rất lớn, nhà đ ầu t ư có thể sử dụng nó như là một công cụ bảo hộ hoặc có thể sử dụng nó như là một công cụ để đầu cơ. Nhà đầu tư , những người đang nắm giữ chứng khoán cơ sở , lo sợ rằng giá cả chứng khoán cơ sở sẽ giảm xu ống . Nh ưng do m ột vài lý do họ không thể bán chứng khoán ngay được ví dụ như ch ứng khoán c ủa các cổ đông sáng lập chưa được phép bán … ) . Để đảm bảo ch ứng khoán trong tương lai không bị giảm giá , họ mua hợp đồng tương lai bán chứng khoán c ơ s ở đó tại mức giá xác định trong thời gian nhất định . Như vậy s ẽ bảo v ệ tài s ản của nhà đầu tư đó . Để thấy được nó bảo vệ nhà đầu t ư nh ư th ế nào chuúng ta xem xét ví dụ . Cuối tháng 6/2001 , ông B nắm giữ một rổ ch ứng khoán có k ết cấu như như các loại chứng khoán kết cấu thành chỉ số VN Index , chỉ số VN Index lúc này trên thị trường có diểm số là 570 điểm , giá trị ch ứng khoán ông B đang giữ là 5,7 tỷ đồng . Ông B cho rằng giá chứng khoán sẽ đi xuống trong 3 tháng tới nhưng lại không muốn bán vì cho rằng về lâu dài danh m ục đó là t ốt . Ông B sử dụng hợp đồng tương lai để bảo đảm giá trị danh m ục đ ầu t ư c ủa mình . Trên thị trường chứng khoán giá trị mỗi điểm là 100.000đ , một h ợp đ ồng tương lai có giá trị là 57 triệu đồng ( 570x100.000) . Như vậy ông B mua 100 hợp đồng (5.700.000.000 : 57.000.000) chỉ số tương lai đáo hạn tháng 9 đ ể đ ảm bảo cho danh mục đầu tư của mình . Đúng như dự đoán sau 3 tháng VNIndex giảm xuống còn 230 điểm , khi đó số tiền phải giao theo hợp đồng là 2.300.000.000đ = 230x100.000x100 nhưng lại nhận được tiền bán hợp đồng là 5,7 tỷ đồng s ố ti ền được lời từ hợp đồng tương lai 3,4 tỷ ( 5,7 – 2,3 ) bù đắp cho giá trị bị gi ảm đi 19
  20. trên thị trường chứng khoán cơ sở . Như vậy nhà đầu tư vẫn có tổng tài sản là 5,7 tỷ đồng . Kể cả trong trường hợp ông B dự đoán không chính xác , ch ỉ số VNIndex tăng lên giả sử là 600 điểm thì tổng giá tị tài s ản mà ông B n ắm gi ữ vẫn được bảo toàn do bị thiệt ở hợp đồng tương lai nhưng được bù đ ắp ở ph ần tăng lên của chứng khoán cơ sở . Như vậy nhà đầu t ư v ẫn gi ữ nguyên đ ược danh mục đầu tư và giá trị tài sản . Trước đây hợp đồng tương lai được sử dụng chủ yếu để phòng ngừa rủi ro nhưng dần dần nó lại được nhà đầu tư sử dụng để cá cược điểm số chứng khoán , tỷ giá …. Hợp đồng tương lai được nhà đầu tư s ử d ụng đ ể đ ầu c ơ , nhà đầu cơ phân tích thị trường rồi đưa ra những nhận định về kh ả năng bi ến đ ộng thị trường từ đó mua bán hợp đồng tương lai nhằm kiếm lời . Giả sử vào đầu tháng 3/2001 ông C có 100 triệu , chỉ số chứng khoán là 250 điểm , nhận định giá chứng khoán trên thị trường sẽ lên giá ( VNIndex sẽ tăng đi ểm ) . Ông C có 2 phương án đầu tư sinh lời , một là sử dụng tiền mua chứng khoán để kinh doanh chênh lệch giá , hai là kí kết hợp đồng tương lai , trên th ị trường mỗi điểm có giá trị 100.000đ và tiền kí quỹ mỗi hợp đồng là 5 tri ệu v ậy ông C có th ể mua 20 hợp đồng . Đến tháng 6/2001 VNIndex lên 570 điểm . Theo ph ương án 1 , ông C được lời là 128 triệu = 100x(570 : 250 - 1 ) .V ới phương án 2 , s ố hàng nh ận được là 1.140.000.000đ = 570x100.000x20 , và phải thanh toán số tiền là 500.000.000đ = 250x100.000x20 , như vậy được lời là 640 triệu đồng gấp 5 l ần so với phương án 1 . 1.2.4 Hợp đồng quyền lựa chọn ( options ) . Hợp đồng quyền chọn cũng là một loại chứng khoán phái sinh do nh ững nhà đầu tư tạo lập lên ( phát hành ) và giao d ịch trao đổi mua bán nh ư h ợp đ ồng tương lai . Hợp đồng tương lai là một hợp đồng cho phép ng ười n ắm gi ữ nó được nó được mua ( nếu là hợp đồng quyền ch ọn mua ) ho ặc đ ược bán ( n ếu là hợp đồng quyền chọn bán ) một khối lượng hàng hoá cơ sở nh ất định tại một mức giá xác định và trong một thời gian nhất định . Các hàng hoá c ơ s ở c ủa h ợp 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản