Luận văn
Lập kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài
chính do công ty Cổ phần Kiểm toán
và Định giá Việt Nam thực hiện
Li mở đầu
Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường và mcửa đhội
nhập quốc tế thì sxuất hiện của hoạt động kiểm toán là tt yếu khách quan.
mt bộ phận của nền kinh tế th trường, việc hình thành phát triển
ngành kiểm toán vừa là mt tất yếu khách quan, vừa là bphận cấu thành của
hệ thống công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế và đóng vai trò tích cực trong việc
phát trin nền kinh tế xã hi. Hoạt động kim toán là nhu cầu cần thiết trước
hết là lợi ích của chính các doanh nghiệp, của các nhà đầu trong
ngoài nước, của các chủ sở hữu vn và là yêu cầu của Nhà nước.
Người sử dụng kết qukiểm tn phải được đảm bo rng những thông
tin h được cung cấp là trung thực và hợp lý. Vì thế, mỗi cuộc kiểm toán
phải sự chuẩn bị đồng bộ từ khâu lập kế hoạch đến khâu kết thúc kiểm
toán, trong đó thực hiện tốt công tác lập kế hoạch là điều kiện tiên quyết
mang lại sự thành công cho mỗi cuộc kiểm toán.
Nhận thức được tầm quan trọng của ng tác lập kế hoạch kiểm toán, vì
thế trong qtrình thực tập tại ng ty Cổ phần Kiểm toán Định giá Việt
Nam (Công ty VAE) được tiếp c với thực tế công việc lập kế hoạch
kiểm toán tại ng ty, em đã chọn đtài Lập kế hoạch kiểm toán o o
tài chính do công ty Cphần Kiểm toán Đnh giá Việt Nam thực hiện
cho luận văn thực tập của mình. Luận n được chia thành 3 phn chính như
sau:
Phn I: Những vấn đluận chung vlập kế hoạch kiểm toán Báo cáo
tài chính
Phn II:Thực trạng công tác lập kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài chính do
ng ty C phần Kiểm toán và Định giá Việt Nam thực hiện
Phn III:Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch kiểm toán
Báo cáo tài chính tại công Cổ phần Kiểm toán Định giá Việt
Nam
Phần I
cơ sở lý luận về lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính
I.Khái quát lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.Lập kế hoạch kiểm toán trong qui trình kiểm tn Báo cáo tài chính
1.1.Khái niệm kiểm toán Báo cáo tài chính
Kiểm toán tài chính hoạt động đặc trưng nhất của kiểm toán bởi
chứa đựng đầy đsắc thái kiểm toán ngay từ khi ra đời cũng ntrong quá
trình phát triển. Kiểm toán tài chính có thể được định nghĩa như sau:
Kiểm toán tài chính hot động xác minh và bày tý kiến vc bảng
khai i chính của các thực thể kinh tế do những người trình độ nghiệp vụ
tương xứng đảm nhận và dựa trên h thống pháp đang có hiệu lực
Đối tượng kiểm toán tài chính là Bảng khai tài chính, bộ phận quan trọng
của những bảng khai này là c Báo cáo tài chính. Theo định nghĩa trong
chuẩn mực kiểm tn Việt Nam s200: “Báo cáo tài chính hthống báo
cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành(hoặc được chấp
nhận) phản ánh các thông tin kinh tế tài chính chyếu của đơn vị”. Ngoài ra,
Bảng khai tài chính n bao gồm những bảng khai đặc biệt (kcả những
bảng kê khai tài sản doanh nghiệp phá sản hoặc bán đấu giá…), các bảng kê
khai theo yêu cầu riêng của chủ đầu tư…Tng thường đây là đối tượng quan
tâm trực tiếp của các tchc, nhân. Do đó, Báo cáo tài chính đối tượng
trực tiếp thường của kiểm toán. Tuy nhiên, tu mối liên h giữa người
quan tâm cthể với bảng khai tài chính thường phát sinh những đòi hỏi v
tính pháp lý và chủ th kiểm toán khác nhau.
Chthể kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính kiểm toán Nhà
ớc, kiểm toán độc lập hay kiểm toán nội bộ. Kiểm toán viên của các đơn vị
kiểm toán phải ng lực chuyên môn cách đạo đức nghề nghiệp để
thực hiện hoạt động c minh và bày tý kiến về tính trung thực, hợp của
các thông tin trình y trên các bảng khai tài chính xét theo các khía cạnh
trọng yếu và stuân thủ các quy tắc chuẩn mực trong việc lập báo cáo tài
chính nhằm đạt được mục tiêu kiểm toán.
Mục tiêu kiểm toán đích cần đạt tới đồng thời thước đo kết quả
kiểm toán cho mỗi cuộc kiểm toán cụ thể trong đó mục tiêu chung của kiểm
toán phi gắn chặt với mục tiêu u cầu của quản . Theo chuẩn mực
kiểm toán Việt Nam số 200: “Mc tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính
giúp cho kiểm toán viên ng ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng
Báo cáo tài chính có đưc lập trênsở chuẩn mực chế độ kế toán hiện hành
hoặc được chấp nhận, tuân thủ pháp luật liên quan phn ánh trung
thực và hợp tình hình tài chính trên các khía cạnh trọng yếu hay không? ”.
Mục tiêu kiểm toán tài chính còn giúp cho đơn vị kiểm toán thấy rõ những tồn
tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn
vị.
Mục tiêu kiểm toán bao gồm mục tiêu chung mục tiêu kiểm toán đặc
thù. Các mục tiêu kiểm toán chung lại được chia thành hai loại cụ thể là s
hợp chung và các mục tiêu khác. Mục tiêu hợp bao hàm việc xem xét,
đánh gtổng thể số tiền ghi trên các khoản mục trên cơ s cam kết chung về
trách nhiệm của nhà quản thông tin thu được qua khảo sát thực tế
khách th kiểm toán trong quan hệ với việc lựa chọn các mục tiêu chung
khác.Do đó đánh giá sự hợp chung ng hướng tới khả ng sai t cụ thể
của các số tiền trên các khoản mục. Trên sở đó thể đánh giá khả năng
đạt được các mục tiêu khác.
Hiện nay tại Việt Nam, hoạt động kiểm toán chưa tính quy định bắt
buc đi với một số loại hình doanh nghiệp, tuy nhiên hot động kiểm toán
ngày càng ph biến. c đơn vị kinh tế thường tự nguyện mời các tổ chức
kiểm toán độc lập tiến hành kiểm toán Báo cáo tài chính nhằm ng cao hiệu
quả, hiệu năng của hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như trong lĩnh vực
quản lý.
1.2. Quy trình tổ chức công tác kiểm toán Báo cáo tài chính
hai cách cơ bản để tiếp cận trong kiểm toán Báo cáo tài chính là phân
chia các Bảng khai tài chính thành các phần hành kiểm toán theo khoản mục
hoặc theo chu trình.
Phân chia theo khoản mục là cách phân chia y c tng khoản mục
hoặc nhóm các khoản mục theo thứ tự trong các bảng khai vào mt phần
hành. Cách chia này đơn giản song không hiệu quả do tách biệt các khoản
mục vị trí khác nhau nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau như ng tn kho
và giá vốn hàng bán
Phân chia theo chu trình cách phân chia thông dụng hơn căn cứ vào
mi liên hchặt chẽ lẫn nhau giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành,
các yếu tố trong một chu trình chung của hoạt động tài chính. Chẳng hạn, các
nghiệp vụ về doanh thu, doanh thu trả lại, các khoản thu tiền bán hàng s
các khoản phải thu đều nằm trong chu trình tiêu th (Bán hàng- Thu
tiền)…Cách phân chia này hiệu quả hơn do xuất phát từ mối liên hvn
của các nghiệp vvà tđó thu gom được các đầu mối của các mối liên h
trong kinh tế và ghi s kế toán cha đng trong Bảng khai tài chính. Theo
cách phân chia này, kiểm toán Báo cáo tài chính thường bao gm những phần
hành sau:
Kiểm toán chu trình bán hàng- thu tiền
Kiểm toán tiền mặt
Kiểm toán chu trình mua hàng- thanh toán
..
Đđảm bo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc
kiểm toán cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và giá tr
làm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên vtính trung thực và hợp của
số liệu trên Báo cáo tài chính, cuc kiểm toán thường được tiến hành theo quy
trình gồm ba giai đoạn: lập kế hoạch và thiết kế c pơng pháp kiểm toán;
thực hiện kế hoạch kiểm toán; hoàn thành cuộc kiểm toán và công b báo cáo
kiểm toán. Quy trình một cuộc kiểm toán o cáo tài chính được khái quát
qua sơ đồ 1