LUẬN VĂN:
Lý luận chung về huy động vốn
cho sư phỏt triển kinh tế ở Việt
Nam hiện nay
Lời nói đầu
Sau 10 năm thực hiện đường li Đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta đã chuyển từ
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan lu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN; các thành
phần kinh tế được bình đẳng tự do cạnh tranh với nhau trong khuôn khổ pháp luật.
chế kinh tế mới đã có những c động tích cực. Các tổ chức thuộc mọi thành phần
kinh tế đã tăng nhanh cả số lượng lẫn chất lượng. vốn đầu tư đphát trin Việt Nam s
nhanh chóng dùng nó đểy dng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế và từ đó có cơ sở đphát
triển kinh tế nhanh chóng sánh vai với khu vực trên thế giới. Như vậy vốn có thể coi như
một yếu tố không thể thiếu đưc đối với sphát triển của một đất nước.
Với mục đích vận dng các kiến thức đã học vào giải quyết vấn đề vốn cho doanh
nghip Nhà
nước, em chọn đề tài này
Lý luận chung về huy động vn cho sư phỏt triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay
I. Đặt vấn đ
II. Nội dung
Chương 1: luận chung về huy động vốn cho phát triển kinh tế ở việt nam hiện nay
I. Những vấn đề chung về vốn đầu tư.
Vốn đầu tư vốn được sử dụng để thực hiện mục đích đầu tư đã dự tính. Hiện nay
các nưc đang phát triển kể cả nưc ta chưa có sự thống nhất nhận thức v bản chất, vai trò
của vốn ng như c hình thức biểu hiện . Vì vậy khi đng trưc thực trạng thiếu vốn
của nền kinh tế, có ý kiến cho rằng cần phải phátnh tiền cho hoạt dộng đầu tư hoặc có ý
kiến khác cho rằng cần tiến hành vay vốn nước ngoài trong đó kng ch vay cho nhu cầu
sản xuất mà còn vay cho cả nhu câù tiêu dùng. Do vy để huy động và sử dụng vốn đầu
một trong những vấn đề cần thiết đặt ra là phải có sự thống nhất nhận thức về vốn:
-Vn giá trị thực của tài sản hhình hình. i sản hữu hình gồm 2 bộ phận
chính: bộ phận thứ nhất tài sản phục vtrực tiếp sản xuất như máy móc thiết bị công cụ
nhà xưởng ; bộ phận thứ hai là những tài sản không trực tiếp phục vụ sản xuất như nhà ở,
trụ sở, cơ quan. Bộ phận thứ nhất vai trò to lớn và quyết định đến quá trình làm ng
tổng sản phm đầu ra nhiều hơn so với bộ phận thứ hai. Điều này gợi ý rằng việc hoạt động
vốn và sử dụng vốn cần tập trung vào việc làm tăng tài sản hữu hình là những năng lực sản
xuất. Đối với các nước đang phát triển kể cả nước ta chưa tự sản xuất và chế tạo ra được đủ
máy móc thiết bị thì vn đề đặt ra cần phải tăng ng xuất khẩu ngun vt liệu, sản
phẩm sơ chế, ng tiêu dùng để nguồn ngoại tệ phát triển nhập khẩu các liệu sản
xuất bằng việc giảm tiêu dùng trong c, hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng. Đồng thời
khi trình độ công nghệ đạt mức đủ khả năng sản xuất các liệu sản xuất trong nước thì
cần tập trung vào đầu tư đtạo ra các liệu sản xuất không vay c ngoài để tiêu dùng,
ch vay để nhập khẩu tư liệu sản xuất tài sản vô hình như : bằng phát minh sáng chế, bản
quyền, chi phí nhân công phát triển… cùng với tài sản hu hình nên trên đều là kết quả của
quá trình bỏ vốn theo mục đích đầu tư. Các tài sản y chính cơ sở đảm bảo cho quá
trình phát triển của tổng sản phm đầu ra và do vậy làm tăng nguồn vốn đầu cho quá
trình đầu tiếp theo. Đó do về sự cần thiết phải nhận thức vốn giá trị thực của tài
sản hữu hình và vô hình.
-Vn là hàng hóa cũng giống hàng hoá khác ở chỗ đều có giá trị và giá trị sử dụng, có
chủ sở hữu và là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như các yếu tố đầu vào sản xuất
khác. Nhưng vốn khác hàng hoá ở chỗ:
+ Vn là yếu tố đầu vào phải tính chi phí như hàng hoá khác nhưng bản thân lại
được cấu thành trong đầu ra của nền kinh tế.
+ Có thểch rời quyn sở hữu vốn với quyền sử dụng vốn tr hay còn gọi là lãi suất,
trên phương diện người sử dụng vốn thì phải chi phí sử dụng vốn hay còn gọi mua
quyền sử dụng vốn. Việc huy động vốn phải chú ý đến các mối quan hệ lợi íchgiá mua
bán quyền sử dụng vốn nếu không sẽ rất khó khăn hoặc kng huy động được vốn .
+ Chi phí vốn phải quan niệm như chi phí sản xuất khác kể ctrường hợp vốn tự
nếu phần vốn đầu tư sau khi tính toán thấy rằng không thu được chi phí vốn
hay do bị mất mát chi phí cơ hội thì họ sẽ đầu tư ở chỗ khác( đầu tư gián tiếp )
- Dưới dạng tiền t vốn được đnh nghĩa là khoản tích luỹ mt bộ phận của thu
nhập chưa đưc tiêu dùng. Bộ phận thu nhập y đại diện cho một lượng giá trị hàng hoá
tài sản dịch vụ nằm trong tổng sản phẩm đầu ra. vậy không thể phát hành tiền bỏ vào
đầu tư như ý kiến của một số người đnghị. Như vậy vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng
tiền phải vận động trong môi trường của hoạt dộng đầu kinh doanh sinh lời ttiền
mới được coi là vốn tiền đem ra dùng hàng ngày, đưa vào cất trữ thì người sở hữu tin đó
phải tr phải trả cho việc làm này đó là hy sinh tin lãi và và lợi nhuận do việc gi tiền cất
trữ.
Vốn giá trị về mặt thời gian, vốn phải được tích tụ giá vốn( lãi suất ) là giá trị đ
mua được quyền sử dụng vốn được tính bằng tỷ lphần trăm so với vn theo đơn vị thời
gian ( tháng, quý, m, 10 m ). Giá này cho ta một cách nhìn đối với vốn đó quan h
đặc bit của nó đối với thời gian. Thời gian dài lãi suất tín dụng sẽ cao hơn lãi suất của thời
gian ngắn. Chính nhờ có sự tách rời quyền sở hữu vn quyền sử dụng theo thời gian đã
làm cho vốnthể tích t vận động và lưu thông trong đầu kinh doanh sinh lời. Nói
cách khác là quá trình vận động cần tích tụ vốn theo thời gian đã làm cho vốn được hình
thành từ những khoản tiết kiệm nhỏ hoặc khoản vốn chưa hội đầu chuyển đến
những nhà đầu tư.
Vn đầu là giá trị tài sản xã hội được bỏ o đầu tư nhằm mang lại hiu quả
trong tương lai.
2. Scần thiết của việc huy động vốn cho sự phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay.
Với nền kinh tế như Việt Nam hiện nay,việc vốn đang là một nhu cầu cấp thiết. Để
trở thành mt nước phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới
Con đường ngắn nhất chcó thể là làm cách nào để huy động đưc vốn đầu nhằm
cung cấp cho nền kinh tế.Trước đây khi còn thực hiện cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung
nhà nước nắm toàn quyền quản lý cũng như kiểm soát thì việc huy động vốnrt khó khăn.
Chủ yếu huy động vốn qua các kênh trong nước hoặc không thì ng những viện trợ
không hoàn lacủa các chính phủ các nước khác tài trợ cho Việt Nam, hoặc kênh huy động
khác vay nnước ngoài nhưng nguồn vốn y đã bộc lộ hạn chế lớn đó việc nợ nước
ngoài quá nhiều. Khi nhà nước đổi mới cơ chế kinh tế năm 1986 từ nền kinh tế kế hoạch h
tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường thì việc huy động vốn tr nên dễ dàng n. Đã
hàng trăm các doanh nghiệp nước ngoài đã đến Việt Nam đầu tư phát triển kinh tế. Có th
i Việt nam rt vui mừng khi được đón tiếp hoan nghênh các nhà đầu tư. Một do rất
đơn gin cho việc đó là Việt Nam rất coi trọng những nguồn vốn này. vn đầu để
phát triển Việt Nam sẽ nhanh chóng dùng nó để xây dng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế
từ đó có cơ sở để phát trin kinh tế nhanh chóng sánh vai với khu vực trên thế giới. Như
vậy vốn thcoi nmột yếu tố không thể thiếu được đối với sphát triển của một đất
nước.
3. Nhng nguồn vốn thể huy động được đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam hin
nay.