
LUẬN VĂN:
Quy luật giá trị thặng dư hoạt
động và phát huy những đặc
điểm của nó

I - Phần mở bài:
Tất cả các quốc gia trên thế giới đều đang vận động phát triển không ngừng
trong tiến trình diễn ra của dòng thời gian và lịch sử. Nhìn lại những gì mà nền
kinh tế thế giới đã, đang đạt được chúng ta không thể phủ nhận rằng trong khi
hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa như nước ta đang gặp khó khăn, phát triển
chậm chạp thì các nước tư bản chủ nghĩa lại đạt được những thành tựu to lớn
trong phát triển đất nước với tốc độ phát triển chóng mặt ở tất cả các lĩnh vực
mà xuất phát điểm là từ sự phát triển của nền kinh tế: kĩ thuật và công nghệ bỏ
xa chúng ta hàng chục năm, năng suất lao động cao, phân công lao động và
chuyên môn hoá rõ rệt, lực lượng sản xuất đã đạt được trình độ xã hội hoá cao...
C. Marx đã nghiên cứu và tìm ra nguyên nhân của sự phát triển: Đâu là quy
luật vận động của phương thức sản xuất tư bản , cái gì là bí mật và thực chất
của sản xuất hàng hoá tư bản, điều gì là động lực cho kinh tế tư bản chủ nghĩa ?
_ Đó chính là quy luật giá trị thặng dư và sự vận dụng quy luật giá trị thặng dư
trong phát triển hàng hoá tư bản chủ nghĩa.
Việc nghiên cứu quy luật giá trị thặng dư_ quy luật trung tâm của xã hội tư
bản có ý nghĩa lí luận và thực tiễn cao. Thứ nhất nó sẽ cung cấp cho ta nhận
thức, nâng cao lí luận và hiểu biết về học thuyết kinh tế nổi tiếng này. Bên cạnh
đó, điều này là cần thiết vì hiện nay nước ta đang quá độ tiến lên chủ nghĩa xã
hội, phải xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, tiên tiến của nền đại công
nghiệp trong điều kiện nền tảng kinh tế của nước ta còn rất thấp kém. Chúng ta
đang thực hiện cơ chế thị trường, mở cửa nền kinh tế, xây dựng kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ chế kinh tế mới đồng thời với hàng
loạt những sự thay đổi về chế độ sở hữu, các thành phần kinh tế, chế độ phân
phối... Điều này cho phép quy luật giá trị thặng dư hoạt động và phát huy những
đặc điểm của nó cả ưu điểm và những khuyết tật. Tìm hiểu sâu sắc đề tài sẽ
giúp ta tìm ra biện pháp sử dụng hợp lý quy luật giá trị thặng dư làm đòn bẩy
kích thích nền kinh tế mà không chệch hướng chính trị.

II - Phần nội dung:
A. Lý luận về quy luật giá trị thặng dư:
1. Khái quát chung:
Trước tiên ta nghiên cứu về quy luật nổi tiếng: Quy luật giá trị thặng dư.
V. I Lênin đã đánh giá rất cao quy luật này. Ông coi quy luật giá trị thặng dư là
hòn đá tảng trong toàn bộ học thuyết kinh tế của Marx và học thuyết kinh tế của
Marx lại là nội dung căn bản của chủ nghĩa Marx. Vì vậy, nó chứng tỏ quy luật
giá trị thặng dư có một vai trò to lớn trong lý luận của chủ nghĩa Marx. Chủ
nghĩa tư bản đã vận dụng quy luật giá trị thặng dư trong nền sản xuất hàng hoá
tư bản bởi tác dụng của quy luật này. Việc tạo ra giá trị thặng dư chính là động
lực kích thích kĩ thuật tiến bộ, phân công lao động xã hội sâu sắc, lực lượng sản
xuất phát triển không ngừng, khối lượng của cải vật chất tạo ra rất lớn, năng
suất lao động nâng cao, nền kinh tế phát triển hiện đại. Các nước tư bản sở dĩ có
bước tiến xa vượt bậc như vậy là do họ đã vận dụng triệt để quy luật giá trị
thặng dư. Việc tìm hiểu bí mật và thực chất của nền sản xuất hàng hoá tư bản:
quy luật giá trị thặng dư là cần thiết và quan trọng.
2. Mặt chất của giá trị thặng dư:
Giá trị thặng dư được tìm hiểu đầy đủ thông qua cả mặt chất và mặt lượng.
Nghiên cứu quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư sẽ cho thấy bản chất của nó.
2.1. Điều kiện ra đời của giá trị thặng dư:
(a).Công thức chung của Tư bản:
Trong sản xuất hàng hoá, nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất là tiền vì
mọi quan hệ mua bán trao đổi giao dịch đều được thực hiện thông qua đồng
tiền. Tất cả các tư bản đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền mặt nhất định.
Điều này dễ dẫn đến sự lầm tưởng mọi đồng tiền bỏ ra đều là tư bản. Bản thân
tiền không phải là tư bản. Tiền chỉ biến thành tư bản khi chúng được sử dụng để
bóc lột lao động của người khác. Với tư cách là tiền thông thường, nó được
dùng làm vật ngang giá chung, làm môi giới trong mua và bán hàng hoá. Tiền
đơn giản chỉ là phương tiện của lưu thông hàng hoá giản đơn. Nhưng với tư

cách là tư bản, nó được thể hiện rõ trong công thức của lưu thông hàng hoá tư
bản chủ nghĩa.Thực vậy, hãy xem xét kĩ và so sánh hai công thức lưu thông đó.
Trao đổi lưu thông hàng hoá tư bản có công thức khác với công thức lưu
thông hàng hoá giản đơn. Nếu công thức lưu thông hàng hoá giản đơn là H-T-H
thì công thức của tư bản là T-H-T'. Ta không thể phủ nhận hai công thức trên có
nhiều điểm giống nhau vì chúng đều là những công thức lưu thông hàng hoá.
Cả hai công thức đều có các giai đoạn mua và bán hàng, tức là dùng tiền để
mua hàng hoá và đem hàng hoá đi bán để thu tiền. Các giai đoạn đó bao gồm đủ
cả người mua và người bán trên thị trường thì mới đảm bảo quá trình trao đổi
mua bán được diễn ra. Quan hệ trong lưu thông là quan hệ tiền với hàng. Nhưng
hai công thức trên khác nhau ở nhiều điểm căn bản như sau:
Công thức lưu thông hàng hoá giản đơn H-T-H có trình tự bán và mua
như sau: trước tiên người có hàng đem hàng của mình bán trên thị trường để thu
tiền về. Nhưng đối với anh ta tiền không phải là mục đích của lưu thông. Anh ta
lại dùng tiền bán được này để mua hàng hoá khác. Quá trình lưu thông lần đầu
kết thúc ở đây. Một ví dụ đơn giản là người nông dân bán một tạ gạo, số tiền
anh ta thu được nhờ bán gạo được anh ta sử dụng để mua một cái áo_ Điều đó
có nghĩa là mục đích bán gạo của anh ta là để mua áo. Điểm xuất phát và kết
thúc là hàng hóa, tiền chỉ đóng vai trò là môi giới trung gian. Công thức này cho
thấy mục đích của lưu thông hàng hoá giản đơn là giá trị sử dụng. Vì vậy công
thức là có giới hạn, nó kết thúc khi người mua tìm được giá trị sử dụng.
Còn công thức lưu thông hàng hoá của tư bản có trình tự ngược lại, mới
đầu là mua và kết thúc ở hành vi bán, thu tiền về. ở đây bắt đầu từ người có
tiền, thay vì giữ tiền trong túi anh ta ném nó vào lưu thông, dùng nó mua một số
lượng hàng hoá nhất định. Anh ta không hề có ý định sử dụng gì số hàng hoá
đó cả mà ngay sau đó anh ta bán tất cả chúng đi để lại thu tiền về. Hàng hoá
đóng vai trò trung gian, môi giới. ở đây tiền là điểm xuất phát cũng là điểm kết
thúc của công thức. Nhưng tiền thu về lúc sau khác số tiền bỏ ra ban đầu. Thực
vậy, nếu như anh ta chỉ thu về được số tiền đúng bằng cái khoản mà anh ta bỏ ra
thì anh ta dại gì mà bỏ tiền trong túi mình ra để phải chịu những rủi ro trong lưu
thông. Cả hai cách anh ta đều chỉ thu được như nhau mà thôi, và tiền trong túi

an toàn hơn nhiều. Như vậy là khi ném tiền vào lưu thông anh ta phải thu được
một cái gì đó rất có ý nghĩa làm cho anh ta bất chấp tất cả những rủi ro có thể
gặp phải trong lưu thông. Vì mục đích lưu thông hàng hóa của tư bản là giá trị,
hơn nữa là giá trị tăng thêm. Vì vậy, T' = T + t (t: giá trị mới dôi ra hay giá trị
thặng dư). Công thức này không có giới hạn, nhà tư bản luôn mong muốn
không ngừng gia tăng số tiền của họ. ở đây, tiền là tư bản. Vậy tư bản là giá trị
mang lại giá trị thặng dư.
Rõ ràng ta thấy giá trị thặng dư được tạo ra. Nhưng nó được tạo ra từ đâu? Trả
lời câu hỏi này dẫn ta tới mâu thuẫn sau:
(b).Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản:
Hãy thử đặt câu hỏi lưu thông có tạo ra giá trị và làm tăng giá trị hay
không? Nếu trong lưu thông, ta trao đổi ngang giá thì giá trị riêng của từng
người và tổng giá trị của xã hội không đổi, do đó không có động lực thúc đẩy
lưu thông hàng hoá. Ngược lại nếu trao đổi không ngang giá, mua rẻ, bán đắt.
Ta biết rằng mỗi người đều có hai vai trò người mua và người bán. Giả sử
người đó bán đắt hơn so với giá trị đã mua thì số tiền anh ta có được từ bán đắt
cũng chính là số tiền anh ta mất đi khi mua đắt. Nếu anh ta mua được hàng hoá
với giá rẻ hơn giá trị của nó thì số tiền anh ta có nhờ mua rẻ cũng chính là số
tiền anh ta mất do phải bán rẻ.Thực chất trong xã hội tổng giá trị không thay
đổi, chỉ có sự phân phối lại giá trị giữa các cá nhân trong xã hội mà thôi, hơn
nữa, giai cấp tư sản không thể làm giàu trên lưng của giai cấp mình, không thể
làm tổn hại và diệt vong chính bản thân giai cấp của mình. Như vậy cả trao đổi
ngang giá hay không ngang giá đều không tạo ra giá trị thặng dư hay lưu thông
không tạo ra giá trị thặng dư . Nhưng ta không thể nói lưu thông không hề có
tác dụng gì trong việc tạo ra giá trị thặng dư . Vì nếu không có lưu thông thì tiền
của nằm trong két, hàng nằm trong kho và không thể có giá trị thặng dư. Vậy
mâu thuẫn của công thức chung của tư bản là giá trị thặng dư vừa được tạo ra
trong lưu thông vừa không được tạo ra trong lưu thông.
Nghiên cứu sâu hơn và chuyển sang lĩnh vực sản xuất, Marx đã kết hợp cả
quá trình sản xuất và lưu thông để tìm xem giá trị thặng dư được sản xuất từ
đâu? Và ông đã tìm ra chìa khoá lí giải nguồn gốc của giá trị thặng dư .

