ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VŨ THỊ HOÀI

GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN BA CHẼ,

TỈNH QUẢNG NINH

Ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 8 62 01 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Dương Văn Sơn

Thái Nguyên, năm 2020

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa

công bố tại bất cứ nơi nào. Mọi số liệu sử dụng trong luận văn này là những thông tin

trình nghiên cứu khoa học nào trước đây.

xác thựcvà kết luận khoa học của luận văn chưa từng công bố bất kỳ công

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình.

Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2020

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Vũ Thị Hoài

ii

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Nông Lâm Thái

Nguyên, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của tập thể các thầy, cô

giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã là nguồn cổ vũ, động viên quan trọng để tôi

hoàn thành luận văn của mình.

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu Trường

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Đào tạo (bộ phận Sau đại học); Các đơn vị,

cơ quan huyện Ba Chẽ: Huyện ủy, UBND huyện Ba Chẽ, Phòng Nông Nghiệp và

PTNT, Phòng Lao động-Thương Binh và Xã hội, Phòng Tài chính- Kế hoạch, Phòng

Nội vụ, Phòng Tài nguyên- Môi trường, Huyện Đoàn Ba Chẽ, Chi cục Thống kê

huyện Ba Chẽ, Ủy ban nhân dân các xã: Lương Mông, Đạp Thanh, Thanh Lâm,

Thanh Sơn, Nam Sơn, Đồn Đạc đã tạo mọi điều kiện để giúp đỡ tôi hoàn thành luận

văn.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Dương Văn Sơn- Giảng viên

cao cấp, khoa Kinh tế và PTNT, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đã tận tình

hướng dẫn và giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn.

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp

đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Tổi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2020

Tác giả luận văn

Vũ Thị Hoài

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................... i

LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii

MỤC LỤC ........................................................................................................ iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .................................................................. vi

DANH MỤC CÁC BẢNG .............................................................................. vii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ............................................................................. viii

MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1

1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................. 1

2. Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................... 2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 2

3.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................. 2

3.2. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................... 2

4. Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn ........ 3

CHƯƠNG 1.CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI ............................................ 4

1.1. Cơ sở lý luận ............................................................................................... 4

1.1.1. Một số khái niệm và thuật ngữ .................................................................. 4

1.1.2. Quan niệm của Việt Nam về đói, nghèo .................................................. 12

1.1.3. Chương trình giảm nghèo ở Việt Nam .................................................... 12

1.1.4. Khái quát về chương trình giảm nghèo giai đoạn 2016 - 2020 tại huyện Ba

Chẽ, tỉnh Quảng Ninh ....................................................................................... 15

1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững .................................... 18

1.1.6. Bài học kinh nghiệm cho huyện Ba Chẽ về giảm nghèo bền vững .......... 32

CHƯƠNG 2.ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .. 34

2.1. Đặc điểm địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh .................................... 34

2.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................. 51

2.3. Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu ......................................................... 52

2.3.1. Tiếp cận nghiên cứu ................................................................................ 52

2.3.2. Phương pháp nghiên cứu......................................................................... 52

iv

2.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn ....................................... 55

2.4.1. Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với chương

trình giảm nghèo bền vững ở địa phương .......................................................... 55

2.4.2. Nhóm các chỉ tiêu về kết quả đã đạt được của chương trình giảm nghèo qua

các năm 2017, 2018 và 2019 ............................................................................. 55

2.4.3. Nhóm thông tin liên quan đến hộ gia đình và thu nhập của hộ gia đình ... 55

2.4.4. Nhóm thông tin liên quan hạn chế, yếu kém, nguyên nhân và giải pháp .. 56

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ......................... 57

3.1. Thực trạng công tác giảm nghèo huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh ............. 57

3.1.1. Hệ thống văn bản quy định có liên quan về giảm nghèo bền vững .......... 57

3.1.2. Công tác chỉ đạo triển khai, hướng dẫn khảo sát của Ban Chỉ đạo giảm nghèo

huyện Ba Chẽ ................................................................................................... 58

3.1.3. Kết quả giảm nghèo tại huyện Ba Chẽ .................................................... 59

3.2. Đánh giá chương trình giảm nghèo huyện Ba Chẽ ..................................... 61

3.2.1. Năng lực của người dân trong giảm nghèo bền vững .............................. 62

3.2.2. Năng lực của Cộng đồng ......................................................................... 81

3.2.3. Dịch vụ công cộng và dịch vụ xã hội ...................................................... 82

3.2.4. Tính an toàn (Khả năng chống chịu rủi ro) .............................................. 83

3.2.5 Đánh giá của người dân về chương trình giảm nghèo huyện Ba Chẽ ........ 84

3.3. Hạn chế, yếu kém và yếu tố ảnh hưởng đến công tác giảm nghèo ở huyện

Ba Chẽ .............................................................................................................. 86

3.3.1. Hạn chế, yếu kém và nguyên nhân .......................................................... 86

3.4. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo, góp

phần giảm nghèo và phát triển kinh tế-xã hội huyện miền núi Ba Chẽ, tỉnh Quảng

Ninh ................................................................................................................. 88

3.4.1. Tăng cường sự lãnh đạo, sự chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền từ huyện đến

cơ sở ................................................................................................................. 88

3.4.2. Giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người nghèo, vận động tự

vươn lên thoát nghèo ........................................................................................ 89

v

3.4.3. Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách và sự hỗ trợ, tạo điều kiện từ phía

chính quyền các cấp.......................................................................................... 92

3.4.4. Nhóm giải pháp tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội

còn thiếu hụt ................................................................................................... 100

3.4.5. Nhóm giải pháp tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, tăng thu

nhập................................................................................................................ 103

3.4.6. Một số giải pháp khác ........................................................................... 105

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ................................................................ 109

1. Kết luận ...................................................................................................... 109

2. Khuyến nghị ............................................................................................... 109

2.1. Đối với Trung ương ................................................................................. 110

2.2. Đối với tỉnh Quảng Ninh ......................................................................... 110

DANH MỤC TÀI LỆU THAM KHẢO ........................................................ 112

vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu và chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Ngân hàng thế giới WB

Tổ chức Lương Nông Liên hợp quốc FAO

Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh DFID

Tổ chức lao động quốc tế ILO

Chương trình phát triển Liên hợp quốc UNDP

Hội đồng Thế giới về môi trường và Phát triển WCED

Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ MDGs

Tổng sản phẩm quốc nội GDP

Ủy ban nhân dân UBND

Hội đồng nhân dân HĐND

Thương binh Xã hội TBXH

Chính sách xã hội CSXH

Phát triển nông thôn PTNT

Kinh tế xã hội KT-XH

Sản xuất kinh doanh SXKD

Xóa đói giảm nghèo XĐGN

LĐTBXH Lao động - Thương binh và Xã hội

Ban chỉ đạo BCĐ

Quyết định QĐ

Nghị quyết NQ

Vườn chuồng VC

Vườn ao chuồng VAC

Vườn ao chuồng rừng VACR

Tiểu thủ Công nghiệp TTCN

CN- TTCN Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp

vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Số lượng, cỡ mẫu nhóm hộ điều tra .......................................................... 53

Bảng 3.1. Thực trạng hộ nghèo huyện Ba Chẽ giai đoạn 2015-2019 ....................... 61

Bảng 3.2. Phân loại hộ điều tra ................................................................................... 62

Bảng 3.3. Lao động của hộ gia đình ......................................................................... 62

Bảng 3.4. Hộ nghèo theo độ tuổi năm 2015-2019 .................................................... 63

Bảng 3.5. Trình độ học vấn của chủ hộ .................................................................... 64

Bảng 3.6. Tổng hợp kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ ............................................. 65

Bảng 3.7. Đa dạng hóa việc làm của các nhóm hộ ................................................... 67

Bảng 3.8. Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình .............................................................. 68

Bảng 3.9. Tình hình sử dụng và nhu cầu vay vốn ..................................................... 70

Bảng 3.10. Tình hình nhà ở, phương tiện sinh hoạt chủ yếu .................................... 71

Bảng 3.11. Tổng hợp các yếu tố sản xuất kinh doanh .............................................. 72

Bảng 3.12. Thực trạng sử dụng đất đai ..................................................................... 73

Bảng 3.13. Tổng hợp các nguyên nhân chủ quan dẫn đến nghèo ............................. 74

của các hộ điều tra ..................................................................................................... 74

Bảng 3.14. Vai trò trong giảm nghèo của các cấp Chính quyền ............................... 75

Bảng 3.15. Các nguồn lực được huy động cho phát triển nhanh kinh tế nông thôn

huyện Ba Chẽ giai đoạn 2015-2019 .......................................................................... 80

Bảng 3.16. Kết quả đầu tư cho nông thôn, nông dân huyện Ba Chẽ ........................ 83

giai đoạn 2015-2019 .................................................................................................. 83

Bảng 3.17. Đánh giá của người nghèo về mức độ dễ tiếp cận .................................. 85

dịch vụ giảm nghèo ................................................................................................... 85

Bảng 3.18. Cảm nhận của người nghèo với các dịch vụ giảm nghèo ....................... 85

viii

Tên đề tài luận văn: Giảm nghèo tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Người thực hiện: Vũ Thị Hoài

Là học viên cao học khóa 26, ngành Kinh tế nông nghiệp

Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Với mục tiêu nghiên cứu: (1) Cập nhật và hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực

tiễn về giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn nghiên cứu huyện Ba Chẽ,

tỉnh Quảng Ninh; (2) Đánh giá thực trạng công tác giảm nghèo, những kết quả đã đạt

được của chương trình giảm nghèo huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh; (3) Đánh giá về

thu nhập hộ gia đình, về chương trình giảm nghèo đang thực hiện tại địa phương; (4)

Phân tích hạn chế, yếu kém và một số yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và giảm nghèo

tại địa bàn nghiên cứu, để từ đó (5) Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

công tác giảm nghèo, góp phần giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội đối với địa

bàn huyện miền núi Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những liên quan đến giảm nghèo và giảm

nghèo bền vững. Đối tượng điều tra khảo sát là hộ gia đình trong diện cận nghèo và

nghèo trên địa bàn toàn huyện Ba Chẽ và các xã được lựa chọn để nghiên cứu.

Bằng các phương pháp nghên cứu thu thập số liệu thứ cấp thu thập trên địa

bàn toàn huyện Ba Chẽ. Số liệu sơ cấp thu thập tại 3 xã đại diện huyện Ba Chẽ, tỉnh

Quảng Ninh. Số liệu thứ cấp được thu thập liên tục trong 3 năm 2017, 2018 và 2019,

là những năm đầu tiên triển khai thực hiện chương trình giảm nghèo tại địa phương.

Số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2019, thu nhập của hộ gia đình được thu thập trong

3 năm 2016, 2017 và 2018. Trong nội hàm rộng của giảm nghèo, đề tài luận văn chỉ

tập trung tìm hiểu kết quả đạt được trong giảm nghèo tại huyện Ba Chẽ và các xã

được lựa chọn, bao gồm số hộ và tỷ lệ hộ cận nghèo, hộ nghèo. Thu nhập của nhóm

đối tượng hộ cận nghèo và nghèo này cũng là nội dung cần được khảo sát cùng với

các ý kiến đánh giá của người dân về chương trình giảm nghèo đang được triển khai

ix

thực hiện tại địa phương.

Đề tài luận văn đã đánh giá thực trạng giảm nghèo, hiệu quả quản lý nhà nước

về giảm nghèo, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương

miền núi và gắn chặt với đó là thực hiện nhiệm vụ giảm nghèo bền vững trong tình

hình hiện nay. Đồng thời đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác giảm

nghèo, góp phần giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội đối với địa bàn huyện miền

núi Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh. Tác giả hy vọng rằng những giải pháp mà đề tài luận

văn đề xuất sẽ được chính quyền địa phương huyện Ba Chẽ và các địa phương khác

có điều kiện tương tự có thể tham khảo, vận dụng, áp dụng vào thực tiễn chỉ đạo để

phát triển kinh tế xã hội giảm nghèo bền, góp phần giảm nghèo và phát triển kinh tế

xã hội ở địa phương trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm vừa qua Nhà nước ta đã có rất nhiều chương trình, dự án để

đầu tư cho vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu

số. Những năm gần đây, mặc dù tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Ba Chẽ

đã có những bước phát triển đáng ghi nhận, nhưng đời sống của cộng đồng dân cư

vẫn còn nhiều khó khăn, số hộ nghèo, cận nghèo còn cao (chiếm trên 40% tổng số hộ

dân trên địa bàn huyện), đặc biệt là số hộ nghèo, cận nghèo nằm trong độ tuổi thanh

niên rất lớn chiếm đến chiếm 30% tổng số hộ cận nghèo trên địa bàn toàn huyện. Tình

trạng giảm nghèo thiếu tính bền vững (tái nghèo) cũng còn khá phổ biến. Nguyên

nhân là một bộ phận không nhỏ người dân còn mang nặng tâm lý trông chờ, ỷ lại vào

nhà nước, lười lao động, ngại khó, ngại khổ; chưa có ý thức tự vươn lên thoát nghèo

bằng chính khả năng của bản thân; người thoát nghèo không muốn ra khỏi danh sách

hộ nghèo với mong muốn được hưởng những chế độ, chính sách trợ giúp của Nhà

nước.Công tác tuyên truyền, định hướng phát triển sản xuất cho người nghèo mặc dù

đã được quan tâm nhưng vẫn chưa được nhiều và thực hiện triệt để, dẫn đến việc hiểu

sai về công tác hỗ trợ của Nhà nước cho công tác giảm nghèo, dẫn đến tình trạng

trông chờ, ỷ lại. Bên cạnh đó trình độ học vấn, nhận thức về nghề nghiệp việc của

một bộ phận không nhỏ người dân còn thấp; đặc biệt là lực lượng lao động trong độ

tuổi thanh niên ở vùng sâu, vùng dân tộc có tâm lý ngại đi làm xa hoặc không thích

đi làm hoặc bỏ việc theo tâm lý số đông. Một số nơi còn chịu ảnh hưởng nặng nề của

một số phong tục tập quán lạc hậu, sản xuất còn mang tính tự cung tự cấp, phụ thuộc

hoàn toàn vào thiên nhiên hay còn chưa mạnh dạn học hỏi, tiếp thu cái mới, chưa biết

áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất,...Trong đó diển hình là trong cộng

đồng dân tộc người Dao (Dao Thanh Y, Dao Thanh Phán) vẫn còn có thói quen sử

dụng tiền bạc, người nào làm ra tiền thì người đó tiêu, không biết cách hình thành

nguồn tài chính chung trong gia đình, để tương trợ lẫn nhau và không có kỹ năng chi

tiêu,... Nếu không có những giải pháp triệt để, mang tính thực tiễn cao, phù hợp đặc

thù của từng cá thể, đặc biệt là trong đối tượng hộ gia đình trẻ để thoát nghèo, sẽ tạo

thành lực cản rất lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội.

2

Từ những đặc điểm và yêu cầu bức thiết trên tôi chọn đề tài: “Giảm nghèo tại

huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh”.

2. Mục tiêu nghiên cứu

- Cập nhật và hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo và phát

triển kinh tế xã hội trên địa bàn nghiên cứu huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.

- Đánh giá thực trạng công tác giảm nghèo, những kết quả đã đạt được của

chương trình giảm nghèo huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.

- Đánh giá về thu nhập hộ gia đình, về chương trình giảm nghèo đang thực

hiện tại địa phương

- Phân tích hạn chế, yếu kém và một số yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và

giảm nghèo tại địa bàn nghiên cứu

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo, góp

phần giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội đối với địa bàn huyện miền núi Ba Chẽ,

tỉnh Quảng Ninh.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những liên quan đến giảm nghèo và giảm

nghèo bền vững. Đối tượng điều tra khảo sát là hộ gia đình trong diện cận nghèo và

nghèo trên địa bàn toàn huyện Ba Chẽ và các xã được lựa chọn để nghiên cứu.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Số liệu thứ cấp thu thập trên địa bàn toàn huyện Ba Chẽ. Số

liệu sơ cấp thu thập tại 3 xã đại diện huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.

Về thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập liên tục trong 3 năm 2017, 2018

và 2019, là những năm đầu tiên triển khai thực hiện chương trình giảm nghèo tại địa

phương. Số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2019, thu nhập của hộ gia đình được thu

thập trong 3 năm 2016, 2017 và 2018.

Giới hạn về nội dung: Trong nội hàm rộng của giảm nghèo, đề tài luận văn chỉ

tập trung tìm hiểu kết quả đạt được trong giảm nghèo tại huyện Ba Chẽ và các xã

được lựa chọn, bao gồm số hộ và tỷ lệ hộ cận nghèo, hộ nghèo. Thu nhập của nhóm

đối tượng hộ cận nghèo và nghèo này cũng là nội dung cần được khảo sát cùng với

3

các ý kiến đánh giá của người dân về chương trình giảm nghèo đang được triển khai

thực hiện tại địa phương.

4. Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn

Cập nhật và khái quát hoá những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến giảm

nghèo, hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh

tế - xã hội của một địa phương miền núi và gắn chặt với đó là thực hiện nhiệm vụ

giảm nghèo bền vững trong tình hình hiện nay.

Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo, góp phần

giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội đối với địa bàn huyện miền núi Ba Chẽ, tỉnh

Quảng Ninh. Tác giả hy vọng rằng những giải pháp mà đề tài luận văn đề xuất sẽ

được chính quyền địa phương huyện Ba Chẽ và các địa phương khác có điều kiện

tương tự có thể tham khảo, vận dụng, áp dụng vào thực tiễn chỉ đạo để phát triển kinh

tế xã hội giảm nghèo bền, góp phần giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội ở địa

phương trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.

4

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở lý luận

1.1.1. Một số khái niệm và thuật ngữ

1.1.1.1. Nghèo

Quan niệm của các tổ chức và chuyên gia quốc tế về đói, nghèo Tổ chức UNDP

đã đưa ra những định nghĩa về nghèo như sau: (trích theo Trần Lệ Thị Bích Hồng,

2018):

- Sự nghèo khổ của con người: Thiếu những quyền cơ bản của con người như

biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ.

- Sự nghèo khổ về tiền tệ: Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi

tiêu tối thiểu.

- Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định

như không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ

yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hay nước khác.

Đây chính là một khái niệm chung nhất về nghèo, một khái niệm mở, có tính

chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ biến về nghèo.

Các tiêu chí và chuẩn mực về mặt lượng hóa (định lượng) được bỏ ngỏ bởi vì còn

phải tính đến sự khác biệt chênh lệch giữa điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và

trình độ phát triển của mỗi vùng miền khác nhau. Vấn đề quan trọng nhất mà khái

niệm này đã đưa ra được đó chính là những nhu cầu cơ bản của con người, nếu không

được thỏa mãn thì họ chính là những người nghèo đói. Từ khái niệm chung này, khi

nghiên cứu thực trạng nghèo đói, người ta đã đưa ra hai khái niệm khác, đó là nghèo

tuyệt đối và nghèo tương đối.

+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và

thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội

thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương.

+ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung

bình của cộng đồng.

5

Để so sánh sự nghèo khổ giữa các quốc gia với nhau, người ta sử dụng khái

niệm nghèo tương đối. Để đấu tranh chống nạn nghèo cùng cực thì dùng khái niệm

nghèo tuyệt đối. Tuy nhiên, cả hai khái niệm trên đều không hoàn toàn đầy đủ. Khái

niệm nghèo tuyệt đối không tính đến sự khác nhau về mức sống ở các nước. Khái

niệm nghèo tương đối, không tính đến sự diễn biến của bối cảnh kinh tế xã hội, do đó

không tính đến diễn biến của những nhu cầu. (Nguyễn Thị Hằng, 2003)

1.1.1.2. Giảm nghèo

Giảm nghèo là cách thức vận dụng các nguồn lực, vật lực của Nhà nước, của

xã hội để triển khai thực hiện các chương trình, dự án nhằm tác động tới các đối tượng

cụ thể như người nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích giúp họ nâng cao chất

lượng cuộc sống, cải thiện khó khăn, tạo cơ hội cho họ về thu nhập, tiếp cận các dịch

vụ xã hội, đảm bảo các nhu cầu cơ bản của conngười.(Nguyễn Thị Hằng, 2003)

1.1.1.3. Giảm nghèo bềnvững

Cho đến nay, vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về giảm nghèo bền vững

hay giảm nghèo theo hướng bền vững là gì. Tuy nhiên vấn đề giảm nghèo luôn được

đề cập đến khi nói đến phát triển bền vững và giảm nghèo bền vững là một trong

những yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững. Ngược lại, phát triển kinh tế

bền vững lại là cơ sở, điều kiện để giảm nghèo bềnvững.

Về cơ bản, giải quyết nghèo đói nói chung trước hết cần đảm bảo cả 2 mặt: số

lượng và chất lượng. Số lượng giảm nghèo sẽ là số tuyệt đối hộ nghèo giảm được

trong một thời gian (thường được xem xét trong 1 năm, 5 năm). Cần phân biệt giữa

số hộ nghèo giảm với số hộ thoát nghèo, vì hai khái niệm này sẽ chỉ đồng nhất với

nhau khi không có các yếu tố khác tác động đến như di chuyển dân cư, tái nghèo,...

Chất lượng giảm nghèo là khái niệm để chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn

đề cần đạt được là đời sống người nghèo được nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ,

khoảng cách thu nhập với các nhóm dân cư khác được rút ngắn về mặt tốc độ, khi

gặp rủi ro hay bất trắc sẽ không bị rơi lại vào tình trạng nghèo đói, hay nói cách khác,

chất lượng giảm nghèo suy cho cùng là phản ảnh tính bền vững của quá trình giảm

nghèo.

6

Thực tiễn cho thấy: mặc dù tỷ lệ hộ nghèo liên tục giảm (thể hiện về mặt

lượng), tuy nhiên nếu xét về mặt chất lượng thì nhìn chung đại bộ phận nhân dân ở

nông thôn, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng núi cao đều có thu nhập thấp, chỉ

đạt trên chuẩn nghèo khoảng 5-10%; trong điều kiện giá cả 18 vật tư cho sản xuất,

hàng hoá cho tiêu dùng thiết yếu đều tăng nhanh; dịch bệnh, thiên tai, lũ lụt xảy ra

với quy mô, tần suất lớn, tập trung ở những vùng nghèo, thiệt hại về sản xuất, tài sản

và nhà ở rất lớn, đời sống nhân dân, nhất là hộ nghèo hết sức khó khăn; khả năng tự

phục hồi sau hậu quả dịch bệnh, thiên tai, lũ lụt của hộ nghèo rất hạn chế, trong khi

đó chúng ta lại chưa có cơ chế, phương thức hỗ trợ tại chỗ của cộng đồng (như quỹ

hỗ trợ cộng đồng,...). Mặt khác, tốc độ giảm nghèo còn chưa đồng đều giữa các khu

vực, vùng khó khăn, vùng nghèo chưa có đủ điều kiện để đột phá về giảm nghèo, tỷ

lệ hộ nghèo chênh lệch rất lớn giữa các vùng trên cảnước.

Nhìn chung, để giảm nghèo bền vững các nhà nghiên cứu, các chuyên gia về

kinh tế - xã hội, lao động - việc làm đều cho rằng, cần hỗ trợ phát triển hạ tầng, hỗ trợ

nghề cũng như các điều kiện tiếp cận cơ hội phát triển kinh tế dựa vào cộng đồng để

người nghèo có thể tự vươn lên thoát nghèo và làm giàu bằng chính khả năng của

mình dựa trên những điều kiện kinh tế - xã hội sẵncó.

Nhiều người thường nói: “không thể giúp người nghèo bằng cách tặng nhà,

tặng phương tiện sống”,... Đây là cách giảm nghèo, xóa nghèo nhanh nhưng chỉ tức

thời, không bền vững. Muốn giảm nghèo, xóa nghèo bền vững thì Nhà nước, cơ quan

chức năng cần phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà tự họ

không thể tiếp cận và duy trì. Bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa, loại trừ các yếu tố

gây rủi ro chứ không chỉ là sự nỗ lực khắc phục hậu quả sau rủi ro. Đặc biệt, sự hỗ

trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên cho các vùng có khả

năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận. Tác giả

luận văn cũng đồng ý với quan niệm trên về giảm nghèo bền vững. Đây chính là việc

tặng “cần câu” thay vì tặng “xâu cá”, bên cạnh đó còn tạo cho họ khả năng tự biết tìm

cách nuôi cá thay vì chỉ đi câu,… tạo ra sự chủ động trong việc thoát nghèo bằng

chính năng lực của mình chứ không chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của cộng đồng. Bên

cạnh đó cần có biện pháp giúp họ phòng ngừa rủi ro, để tự họ có thể khắc phục rủi ro

7

như họ có thể tự chuyển đổi phương thức sản xuất khi phương thức cũ không còn phù

hợp, có thể tìm được việc làm mới, xây dựng lại nhà cửa sau thiên tai,... Muốn vậy,

người nghèo cần được tiếp cận và duy trì với các loại dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa,

pháp lý,… Ngoài ra, những chương trình giảm nghèo đặc thù cho những đối tượng

cụ thể, một số vùng nhằm xác định nhằm tạo sức lan tỏa là hết sức cần thiết trong

điều kiện nguồn lực hạn chế như của chúng ta hiện nay. Do vậy, quan điểm giảm

nghèo bền vững ở nước ta chính là cần nắm bắt được các xu hướng và đặc điểm vận

động của các nhân tố tác động đến chất lượng của giảm nghèo và giải quyết đồng thời

tất cả những bài toán, bất cập nêutrên (Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh, 2012).

1.1.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo

Để đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo, không thể chỉ đánh giá dựa

trên số lượng người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo giảm xuống mà phải

căn cứ trên nhiều tiêu chí khác nhau như:

- Thu nhập thực tế của người nghèo, hộ nghèo được cải thiện, vượt qua được

chuẩn nghèo, hạn chế tối đa tình trạng tái nghèo về thu nhập, nếu gặp rủi ro hoặc sự

thay đổi của chuẩn nghèo.

- Được tạo cơ hội và có khả năng tiếp cận đầy đủ với các nguồn lực sản xuất

được xã hội tạo ra, các dịch vụ hỗ trợ người nghèo và được quyền tham gia và có

tiếng nói của mình đối với các hoạt động lập kế hoạch phát triển kinh tế, giảm nghèo

cho bản thân và địaphương.

- Được trang bị một số điều kiện "tối thiểu" để có khả năng tránh được tình

trạng tái nghèo khi gặp phải những rủi ro khách quan như thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh,…

hoặc sự thay đổi của chuẩnnghèo.

- Được đảm bảo tiếp cận bình đẳng về giáo dục dạy nghề và chăm sóc sức khoẻ

để về lâu dài, người nghèo, người mới thoát nghèo và con em họ có được kiến thức,

kinh nghiệm làm ăn, tay nghề nhằm tạo ra thu nhập ổn định trong cuộcsống.

- Căn cứ, so sánh với những chỉ tiêu này chúng ta có thể thấy được công tác

giảm nghèo, kết quả giảm nghèo bền vững ở mức độ nào, trên cơ sở đó có những biện

pháp để tăng tính bền vững của giảm nghèo (Nguyễn Thị Hằng, 2003)

1.1.1.5. Chuẩn nghèo

8

Chuẩn nghèolà thước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã hội ai

thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện nghèo. Hầu hết chuẩn nghèo dựa vào thu

nhập hoặc chi tiêu. Những người được coi là nghèo khi mức sống của họ đo qua thu

nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn mức tối thiểu chấp nhận được, tức là thấp hơn chuẩn

nghèo (đường nghèo). Những người có mức thu nhập hoặc chi tiêu ở trên chuẩn này

là người không nghèo hoặc đã vượt nghèo, thoát nghèo. Chuẩn nghèo là công cụ để

đo lường và giám sát nghèo đói. Một thước đo nghèo đói tốt sẽ cho phép đánh giá tác

động các chính sách của Chính phủ tới nghèo đói, cho phép đánh giá nghèo đói theo

thời gian, tạo điều kiện so sánh với các nước khác, và giám sát chi tiêu xã hội theo

hướng có lợi cho người nghèo. Cần phân biệt hai loại chuẩn nghèo tuyệt đối và chuẩn

nghèo tương đối.

Chuẩn nghèo tuyệt đối: Là chuẩn tuyệt đối về mức sống được coi là tối thiểu

cần thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại. Phương pháp chung để xác định

chuẩn nghèo này là sử dụng một rổ các loại lương thực được coi là cần thiết để đảm

bảo mức độ dinh dưỡng tối thiểu cho con người. Do vậy chuẩn nghèo này gọi là chuẩn

nghèo lương thực, thực phẩm và thường là thấp vì nó không tính đến chi tiêu cho các

sản phẩm phi lương thực khác.

Chuẩn nghèo tương đối (chuẩn nghèo chung):Được xác định theo phân phối

thu nhập hoặc tiêu dùng chung trong cả nước để phản ánh tình trạng của một bộ phận

dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng (ví dụ chuẩn nghèo tương đối có thể

là 50% mức thu nhập trung bình của cảnước).

Trên bình diện quốc tế, Ngân hàng Thế giới (WB) đã tính toán chuẩn nghèo

tuyệt đối quốc tế cho các nước có thu nhập thấp là 1USD/ngày và cho các nước có

thu nhập trung bình là 2 USD/ngày.

Trong những năm trước đây, nghèo đói thường được đo lường thông qua thu

nhập hoặc chi tiêu. Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những

nhu cầu tối thiểu và được quy ra bằng tiền. Người nghèo hay hộ nghèo là những đối

tượng có mức thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn chuẩn nghèo. Cách thức đo lường này

đã duy trì trong thời gian dài và bắt đầu bộc lộ những hạn chế sau đây:

9

Thứ nhất, một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy ra tiền (như

tham gia xã hội, an ninh, vị thế xã hội,…) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp

cận giao thông, thị trường, đường xá và các loại cơ sở hạ tầng khác, an ninh, môi

trường, một số dịch vụ y tế/giáo dục công,…).

Thứ hai, có những trường hợp hộ gia đình có tiền nhưng không chi tiêu vào

việc đáp ứng những nhu cầu tối thiểu (do cả những lý do khách quan như không có

sẵn dịch vụ hay lý do chủ quan như do tập tục văn hóa địa phương hay do chính nhận

thức của người dân).

Vì những hạn chế trên nếu chỉ sử dụng chuẩn nghèo thu nhập để đo lường và

xác định đối tượng nghèo đói sẽ dẫn đến bỏ sót đối tượng, nhận diện nghèo và phân

loại đối tượng chưa chính xác, từ đó chính sách hỗ trợ mang tính cào bằng và chưa

phù hợp với nhu cầu.

Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếu

thông qua thu nhập. Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những

nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền. Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn

nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo. Đây

chínhlàchuẩnnghèođơnchiềudoChínhphủquyđịnh.Tuynhiên,chuẩn nghèo hiện nay

của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới. Trên thực tế, nhiều hộ dân thoát

nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo, do đó số lượng hộ cận nghèo

vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ 03 hộ thoát nghèo thì lại có 01 hộ

trong số đó tái nghèo.

Thực tế cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường nghèo đói là không

đầy đủ. Về bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các quyền cơ bản của

con người, bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là thu nhập thấp. Có nhiều nhu cầu tối

thiểu không thể đáp ứng bằng tiền. Nhiều trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng

lại khó tiếp cận được các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục, thông tin. Mặc dù một số

hộ không có tên trong danh sách hộ nghèo nhưng lại thiếu thốn các dịch vụ y tế, nước

sạch, ở vùng sâu vùng xa học sinh phải học trong những căn nhà lá đơn sơ, bốn bề

gió lùa,… Do đó, nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ

10

dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và

bền vững trong thực thi các chính sách giảmnghèo.

Giống như quá trình phát triển, nghèo đói là một khái niệm đa chiều. Trong

cùng một thời điểm, người nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi khác nhau, có

thể là những khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, đất đai, nước sạch

hoặc điện thắp sáng. Sử dụng một tiêu chí thu nhập (hay chi tiêu) không đủ để nắm

bắt được tình trạng nghèo thực tế của người dân. Đánh giá nghèo cần được tiếp cận

rộng hơn từ chiều cạnh phát triển toàn diện con người. Sau 30 năm đổi mới, phát triển

và hội nhập, Việt Nam đã chuyển từ một quốc gia thu nhập thấp sang nhóm nước có

thu nhập trung bình nên cách tiếp cận đánh giá nghèo đơn chiều theo thu nhập đã bộc

lộ những hạn chế. Đã đến lúc xem xét, đánh giá nghèo từ góc độ đa chiều từ góc độ

nghèo vật chất, nghèo về con người và nghèo về xãhội.(Nguyễn Thị Hằng, 2003)

Hiện nay ở nước ta, theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính

phủ về Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, thì các tiêu

chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều gồm tiêu chí về thu nhập, và mức độ thiếu hụt

tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, cụ thể:

Các tiêu chí về thunhập

- Chuẩn nghèo:700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thônvà dưới

900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thànhthị.

- Chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và

1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thànhthị.

Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơbản

- Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và

vệ sinh; thôngtin.

Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số):

tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi

học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước

sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp

cận thôngtin.

Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai

11

đoạn2016-2020 ở nước ta như sau:

a) Đối với hộ nghèo

- Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trởxuống;

+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000

đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội

cơ bản trở lên.

- Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;

+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000

đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội

cơ bản trở lên.

b) Đối với hộ cận nghèo

- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/thángtrên

700.000đồngđến1.000.000đồngvàthiếuhụtdưới03chỉsốđolườngmức độ thiếu hụt tiếp

cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

-Khuvựcthànhthị:làhộcóthunhậpbìnhquânđầungười/thángtrên

900.000đồngđến1.300.000đồngvàthiếuhụtdưới03chỉsốđolườngmức độ thiếu hụt tiếp

cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

c) Đối với hộ có mức sống trung bình

- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên

1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng.

- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên

1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng.

Theo tiêu chí mới, một gia đình được coi là hộ nghèo nghiêm trọng nếu hộ đó

thiếu từ 1/2 tổng số nhu cầu cơ bản trở lên; thiếu từ 1/3 - 1/2 tổng số nhu cầu sống cơ

bản; thiếu từ 1/5 - 1/3 tổng số nhu cầu cơbản.

Hiện nay, ở huyện Ba Chẽ và tỉnh Quảng Ninh, chuẩn nghèo được áp dụng

theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về Chuẩn nghèo tiếp

cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020. Cụ thể, việc xác định chuẩn nghèo

12

dựa vào các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều gồm tiêu chí về thu nhập, và

mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơbản. Như vậy trong chuẩn nghèo, tiêu chí

thu nhập được đề cập như một tiêu chí quan trọng để đánh giá và phân loại hộ gia

đình hàng năm, do đó trong đề tài luận văn này, tác giả cũng sẽ khảo sát thu nhập của

nhóm hộ gia đình thuộc diện cận nghèo và hộ nghèo để tìm hiểu các mối quan hệ giữa

thu nhập với một số yếu tố nguồn lực của hộ nhằm tìm kiếm cách tiếp cận và giải

pháp để có thể làm tốt công cuộc giảm nghèo cho hộ gia đình nông thôn.(Nguyễn Thị

Hằng, 2003)

1.1.2. Quan niệm của Việt Nam về đói, nghèo

Ở nước ta, về lịch sử, quan niệm về đói, nghèo thường trực diện và đơn giản

hơn như: đói nghèo là không đủ ăn, nhà cửa dột nát, thường xuyên ốm đau, nhưng

không có tiền chữa bệnh, con cái không được đến trường,... Dựa trên các khái niệm

của các tổ chức thế giới, Việt Nam đã đưa ra các khái niệm cụ thể về đói, nghèo và

được nghiên cứu ở các cấp độ: cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.

Đói là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới mức tối

thiểu và thu nhập không đủ bảo đảm nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là

những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay mượn

của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cho cộng đồng.

- Khái niệm đói cũng có hai dạng: đói kinh niên và đói cấp tính (đói gay gắt).

Đói kinh niên là bộ phận dân cư đói nhiều năm liền cho đến thời điểm đang xét. Đói

cấp tính là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như

gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét.

- Hộ đói: là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học

hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà ở tạm bợ,...

- Hộ nghèo: là hộ đói ăn nhưng không đứt bữa, mặc không đủ lành, không đủ

ấm, không có khả năng phát triển sản xuất.

- Xã nghèo: là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những cơ sở

hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch, trình độ dân trí thấp,...

- Huyện nghèo: là huyện có tỉ lệ hộ nghèo trên 50%.

1.1.3. Chương trình giảm nghèo ở Việt Nam

13

Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã ra Nghị quyết số

100/2015/QH13 về phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia

giai đoạn 2016 - 2020. Theo đó, từ 16 chương trình, thì giai đoạn 2016 – 2020,

Chương trình mục tiêu quốc gia rút lại còn 2 chương trình, gồm Chương trình xây

dựng Nông thôn mới và Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.

Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, góp phần thực

hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống, tăng

thu nhập của người dân, đặc biệt là ở các địa bàn nghèo, tạo điều kiện cho người

nghèo, hộ nghèo tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở,

nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin), tháng 9/2016, Thủ tướng Chính phủ đã

ban hành Quyết định 1722/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình MTQG giảm nghèo bền

vững giai đoạn 2016-2020. Mục tiêu cụ thể là phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo cả nước

bình quân 1% - 1,5%/năm (riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm; hộ nghèo

dân tộc thiểu số giảm 3% - 4%/năm) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho

giai đoạn 2016 - 2020; Cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người

nghèo, bảo đảm thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cả nước cuối năm 2020

tăng lên 1,5 lần so với cuối năm 2015 (riêng hộ nghèo ở các huyện nghèo, xã nghèo,

thôn, bản đặc biệt khó khăn, hộ nghèo dân tộc thiểu số tăng gấp 2 lần); Thực hiện

đồng bộ, có hiệu quả cơ chế, chính sách giảm nghèo để cải thiện điều kiện sống và

tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo,… Đến năm 2020,

có 50% số huyện nghèo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn theo Nghị quyết số

30a/2008/NQ-CP; 30% số xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo

thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn; 20 - 30% số xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn

vùng dân tộc và miền núi thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn.

Cần nhấn mạnh một số điểm mới trong Chương trình MTQG giảm nghèo giai

đoạn 2016-2020 là: Tập trung vào địa bàn khó khăn nhất, vùng sâu, vùng xa, dân tộc,

miền núi; Tích hợp các chương trình, dự án trước đây như: CT30a, 135, xuất khẩu

lao động, thông tin truyền thông; Thực hiện giảm nghèo theo tiêu chí đa chiều, lấy

chỉ tiêu thu nhập là chính, bên cạnh đó cũng xác định mức độ thiếu hụt các dịch vụ

xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin; gắn kết với

14

thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và 21 Chương

trình có mục tiêu; Thực hiện phân bổ vốn trung hạn, bảo đảm công khai, minh bạch,

đẩy mạnh phân cấp cho địa phương, cơ sở; Chương trình lấy đối tượng người nghèo

làm trung tâm để thực hiện hỗ trợ, mở rộng thêm đối tượng hộ cận nghèo, hộ mới

thoát nghèo, tạo điều kiện để người lao động là người sau cai nghiện ma túy, nhiễm

HIV/AIDS, phụ nữ bị buôn bán trở về. (Trần Quế Anh, 2017)

Chương trình cũng chuyển mạnh từ việc cấp phát, cho không sang hỗ trợ có

điều kiện để nâng cao ý thức, trách nhiệm của người nghèo. Nhà nước chỉ hỗ trợ

những gì người dân không làm được, nhà nước không làm thay mà chỉ ban hành cơ

chế hướng dẫn thực hiện. Tăng cường trao quyền cho người dân, cộng đồng để phát

huy sáng kiến, cách làm hay phù hợp đặc điểm địa bàn, đặc điểm nhóm dân cư, giữ

gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, đi đôi với trách nhiệm giải trình. Nguồn lực

thực hiện Chương trình chủ yếu là từ ngân sách nhà nước, đồng thời huy động sự

đóng góp của doanh nghiệp, cá nhân, cộng đồng, điều này được thể hiện rõ trong cách

thức triển khai thực hiện các dự án, tiểu dự án của Chương trình. Về cơ chế, tổ chức

bộ máy chỉ đạo điều hành thực hiện được thống nhất từ Trung ương đến cơ sở.

Theo khung Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn

2016 - 2020 có tổng mức vốn thực hiện từ ngân sách nhà nước tối thiểu là gần 46.000

tỷ đồng. Ngoài ra, huy động nguồn viện trợ nước ngoài và các nguồn vốn hợp pháp

khác khoảng 2.000 tỷ đồng. Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững

gồm 5 dự án thành phần như sau:

- Dự án 1: Chương trình 30a, gồm 4 tiểu dự án: (1) Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng

các huyện nghèo, (2) Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi

ngang ven biển và hải đảo, (3) Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân

rộng mô hình giảm nghèo tại các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang

ven biển và hải đảo, (4) Hỗ trợ cho các hộ nghèo, cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc

thiểu số đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.

- Dự án 2: Chương trình 135, gồm 3 tiểu dự án (1) Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng

cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, thôn bản đặc biệt khó

khăn, (2) Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm

15

nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, thôn bản đặc biệt

khó khăn, (3) Nâng cao năng lực cho cộng đồng, cán bộ cơ sở xã đặc biệt khó khăn,

xã biên giới, xã an toàn khu, thôn bản đặc biệt khó khăn.

- Dự án 3: Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô

hình giảm nghèo trên địa bàn các xã ngoài chương trình 135 và chương trình 30a.

- Dự án 4: Truyền thông và giảm nghèo về thông tin.

- Dự án 5: Nâng cao năng lực và giám sát, đánh giá thực hiện chương

trình.(Trần Quế Anh, 2017)

1.1.4. Khái quát về chương trình giảm nghèo giai đoạn 2016 - 2020 tại huyện Ba

Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

Ba Chẽ là một huyện miền núi vùng sâu, vùng xa của tỉnh Quảng Ninh, tổng

diện tích tự nhiên 60.651,2 ha (chiếm 10% diện tích toàn tỉnh), trong đó rừng và đất

rừng chiếm 92% tổng diện tích tự nhiên, đất sản xuất nông nghiệp 1.376 ha chiếm

2,26%, còn lại là sông suối. Toàn huyện có 8 đơn vị hành chính gồm 07 xã và 01 thị

trấn, trong đó có 05 xã đặc biệt khó khăn. Dân số tính đến tháng 12/2015 là 21.355

người bằng 5.113 hộ, mật độ bình quân 32 người/km2, gồm 9 dân tộc anh em sinh

sống rải rác ở 86 điểm dân cư thuộc 74 thôn, bản, khu phố, tỷ lệ người dân tộc thiểu

số chiếm 80%, trong đó dân tộc Dao chiếm tỷ lệ cao nhất 41,6%. Được sự quan tâm

của tỉnh, những năm qua đã giành nguồn lực đầu tư từ ngân sách của tỉnh cho các

công trình hạ tầng thiết yếu, đặc biệt là công trình giao thông kết nối liên vùng; đầu

tư xây dựng hạ tầng nông thôn, xây dựng nông thôn mới, tạo điều kiện khắc phục khó

khăn, phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, giảm nghèo bền vững.

Tuy nhiên cho đến nay, huyện Ba Chẽ vẫn là địa phương còn rất nhiều khó khăn, kinh

tế chậm phát triển nhất so với các địa phương khác của tỉnh Quảng Ninh và các huyện

lân cận của tỉnh khác; hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều bất cập; tỷ lệ hộ nghèo và

cận nghèo cao chiếm51,1%; thu nhập bình quân người dân của huyện so với với thu

nhập bình quân chung của tỉnh còn một khoảng cách xa 18 triệu/người/năm (bằng

26% mức thu nhập bình quân của tỉnh); trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực

hạn chế,sản xuất kém phát triển, tư tưởng trông chờ ỷ lại của một bộ phận nhân dân

vào chế độ chính sách nhà nước,…. cản trở sự phát triển chung của cộng đồng.

16

Để khắc phục những hạn chế, khó khăn, đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội,

giảm nghèo bền vững những năm tới, huyện Ba Chẽ rất cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo

của tỉnh về xây dựng phát triển kinh tế xã hội huyện Ba Chẽ, thực hiện có hiệu quả

các giải pháp cụ thể đồng thời hỗ trợ nguồn lực và có cơ chế chính sách đặc thù tháo

gỡ khó khăn nhằm phát triển kinh tế - xã hội

Ngày 06/11/2015, Thường trực Tỉnh ủy đã có cuộc làm việc với Ban Thường

vụ Huyện ủy Ba Chẽ và có kết luận số 08-KL/TU ngày 25/11/2015, có ý kiến chỉ

đạo: “Huyện Ba Chẽ xây dựng Đề án Thực trạng và giải pháp giảm nghèo bền vững

trên địa bàn huyện Ba Chẽ giai đoạn 2016-2020”.

Thực hiện nội dung Kết luận của Thường trực Tỉnh ủy, Huyện Ba Chẽ đã xây

dựng Đề án “Thực trạng và giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Ba

Chẽ giai đoạn 2016-2020”, với quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp giảm nghèo

bền vững giai đoạn 2016-2020 cụ thể như sau:

- Quan điểm chỉ đạo:

+ Giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước và là sự nghiệp của toàn

dân, công tác giảm nghèo là một nhiệm vụ trọng tâm trong Chương trình tổng thể

phát triển kinh tế-xã hội chung của huyện và của các xã, thị trấn. Phải huy động nguồn

lực của Nhà nước, của xã hội và của người dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng,

lợi thế của huyện, nhất là sản xuất lâm nông nghiệp để giảm nghèo, phát triển kinh tế

xã hội bền vững. Cùng với sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng xã hội, sự nỗ

lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo của người nghèo, hộ nghèo là nhân tố quyết định

thành công của công cuộc giảm nghèo.

+ Việc thực hiện công tác giảm nghèo được kết hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa

việc thực hiện các mục tiêu giảm nghèo với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trên

từng địa bàn dân cư của từng xã, thị trấn và toàn huyện; đồng thời có cơ chế chính

sách giảm nghèo phù hợp đối với từng xã.

+ Công cuộc giảm nghèo nhanh, bền vững đối với huyện Ba Chẽ là nhiệm vụ

chính trị trọng tâm hàng đầu, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy đảng, sự chỉ

đạo sâu sát, cụ thể và đồng bộ của các cấp chính quyền, sự phối hợp tích cực của Mặt

trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Nâng cao nhận thức đúng đắn về trách nhiệm

17

vươn lên thoát nghèo của chính bản thân người nghèo, hộ nghèo; làm cho người

nghèo, hộ nghèo tự giác, chủ động thực hiện và có trách nhiệm phát triển kinh tế vươn

lên thoát nghèo bền vững.

+ Đảm bảo tính bền vững của Đề án, cần tập trung hỗ trợ để từng bước cải

thiện và nâng cao điều kiện sống, mức sống và chất lượng cuộc sống của các hộ mới

thoát nghèo, hộ cận nghèo, tăng cường giải pháp chống tái nghèo; chú trọng nâng cao

dân trí, đào tạo nghề và giải quyết việc làm ổn định, tăng năng suất lao động để từ đó

góp phần tăng thu nhập, có tích lũy tiến tới giảm nghèo bền vững.

+ Ưu tiên tập trung đầu tư trọng điểm vào những xã và nhóm dân cư khó khăn

nhất; khuyến khích sự tham gia trợ giúp của các doanh nghiệp đơn vị, tổ chức, cá

nhân đối với các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao.

+ Xây dựng các cơ chế, chính sách cụ thể, phân công trách nhiệm rõ ràng cho

các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, các xã, thị trấn triển khai giúp đỡ.

+ Thực hiện đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền nhằm hạn chế tư tưởng

chông chờ, ỷ lại, mong muốn được nghèo để thụ hưởng các chính sách ưu đãi của

nhà nước. Phân loại các nhóm đối tượng nghèo theo từng tiêu chí thiếu hụt để có

chính sách cụ thể hỗ trợ, trợ giúp phù hợp. Tăng cường chính sách hỗ trợ phát triển

sản xuất, có chính sách hỗ trợ mua phương tiện sản xuất, cây con giống nhằm khuyến

khích hộ nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững.

- Mục tiêu tổng quát của Đề án:Tạo sự chuyển biến nha nh hơn về đời sống

vật chất, tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đảm bảo đến

năm 2020 ngang bằng với các huyện khác trong tỉnh. Hỗ trợ phát triển sản xuất nông,

lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản xuất hàng hoá, khai thác tốt các thế mạnh của

địa phương. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp với đặc điểm của từng

xã, huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả

theo quy hoạch; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc;

dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; bảo đảm vững chắc an ninh,

quốc phòng. Tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tại các địa bàn nghèo tiếp cận

một cách tốt nhất đến các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt

và vệ sinh, tiếp cận thông tin), góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân trên địa bàn

18

huyện từ 6-7%/năm theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020, trong đó số hộ nghèo

trên địa bàn xã có tỷ lệ hộ nghèo cao giảm bình quân trên 9-10%/năm.

- Mục tiêu cụ thể của Đề án:

+ Thực hiện mục tiêu giảm nghèo theo chỉ tiêu của tỉnh, huyện đề ra: giảm tỷ lệ

hộ nghèo bình quân 6-7%/năm (riêng các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao giảm 9-10%/năm)

theo chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2016-2020, phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ hộ

nghèo toàn huyện dưới 10%. Cụ thể: Năm 2016 giảm 400 hộ, năm 2017 giảm 350

hộ, năm 2018 giảm 280 hộ, năm 2019 giảm 200 hộ, năm 2020 giảm 170 hộ. (Dự kiến

đến cuối năm 2020 hộ nghèo toàn huyện còn 450 hộ/5.500 hộ dân, tỷ lệ 8,18%).

+ Cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo, bảo đảm

thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo trên địa bàn huyện tăng lên 2,5 lần so

với cuối năm 2015 (2.000.000,đ/người/tháng) (riêng các hộ nghèo ở các xã nghèo,

thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc tăng gấp 2 lần, 1.430.000,đ/người/tháng);

+ Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả cơ chế, chính sách giảm nghèo để cải thiện

điều kiện sống của người nghèo và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như chính sách

phát triển sản xuất, đất sản xuất; chính sách tín dụng ưu đãi; chăm sóc sức khỏe và

bảo hiểm y tế; giáo dục và đào tạo; nhà ở; nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin;

giảm nghèo gắn với an ninh quốc phòng…;

+ Giải quyết một cách cơ bản về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các xã, thôn,

đặc biệt khó khăn theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như giao

thông, điện, nước sinh hoạt, nhà ở.

+ Thông qua các chiến lược, chương trình, nghị quyết phát triển kinh tế xã hội,

đảm bảo thúc đẩy các hộ dân tham gia phát triển kinh tế nhằm giảm sự chênh lệch về

giàu nghèo, mức sống giữa thành thị và nông thôn, khuyến khích tăng hộ khá, giàu,

giảm hộ nghèo bền vững.

1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững

1.1.5.1. Cơ chế chính sách

Hiện nay, nhiều chính sách giảm nghèo được ban hành nhưng chủ yếu mang

tính hỗ trợ như chính sách y tế, giáo dục, nhà ở..., trong khi đó chính sách đầu tư tạo

sinh kế cho người nghèo chưa nhiều, suất đầu tư thấp như vốn tín dụng ưu đãi, vay

19

vốn giải quyết việc làm, đào tạo nghề. Các chính sách cũng chưa thật sự hướng vào

mục tiêu nâng cao năng lực thị trường cho người nghèo và hỗ trợ họ tiếp cận thị

trường, mà còn mang nặng tính bao cấp nên phát sinh tư tưởng ỷ lại của người nghèo,

tạo ra xu hướng nhiều hộ dân muốn được vào diện hộ nghèo để được hưởng chính

sách. Một số chính sách hỗ trợ người nghèo còn mang tính ngắn hạn, giải pháp tình

thế, nên chưa tập trung đúng mức vào giải quyết nguyên nhân của đói nghèo như

chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo, chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo

vùng khó khăn… tạo ra tâm lý ỷ lại, trông chờ của một bộ phận hộ nghèo, không

quyết tâm vươn lên thoát nghèo. Các chính sách hỗ trợ cho nhóm hộ cận nghèo chưa

được quan tâm đúng mức, nên có sự mất công bằng giữa những hộ nghèo và cận

nghèo, tạo ra tâm lý bức xúc của nhóm hộ cận nghèo khi đời sống của họ lại trở nên

khó khăn hơn những hộ nghèo. Sự chồng chéo giữa các chương trình mục tiêu xóa

đói giảm nghèo, sự không thống nhất và đồng bộ giữa các chính sách là hợp phần của

các chương trình xóa đói, giảm nghèo sẽ làm giảm hiệu quả của các chương trình xóa

đói, giảmnghèo. Chẳng hạn, chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo, chương

trình 135 giai đoạn II và nghị Quyết 30a/2008/NQ-CP đề có các nội dung xây dựng

CSHT, phát triển sản xuất, hỗ trợgiáo dục, hỗ trợ y tế, đào tạo nghề và nâng cao năng

lực cộng đồng. Bên cạnh đó,các chính sách, dự án là hợp phần của chương trình mục

tiêu xóa đói, giảmnghèo có thể đượcban hành và thực hiện bởi các cơ quan khác nhau.

Nếu các cơ quan này không có sựphối hợp chặt chẽ có thể dẫn đến việc ban hành việc

thực thi các chính sách mâuthuẫn với nhau, hoặc chính sách đó không bao phủ hết

các lĩnh vực kinh tế, xã hội.Điều này gây khó khăn cho địa phƣơng trong việc thực

thi chính sách, nguồn lực sửdụng không hiệu quả, những vấn đề bức xúc của ngƣời

nghèo không được giảiquyết và mục tiêu xóa đói, giảm nghèo không đạt. (Trần Quế

Anh, 2017)

1.1.5.2. Ý thức vươn lên thoát nghèo

Để người nghèo thực hiện được mục tiêu giảm nghèo thì bản thân họ phải có

quyết tâm, ý chí. Thực tế, còn có tình trạng không ít người nghèo có tư tưởng cam

phận, không cố gắng vươn lên thậm chí là ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước.

Đây là vấn đề quan trọng, là mấu chốt trong giảm nghèo bền vững. Trong hệ thống

20

các chương trình, chính sách giảm nghèo hiện nay, nội dung về thay đổi nhận thức,

thúc đẩy ý chí quyết tâm vươn lên của người nghèo ít được quan tâm hơn so với các

nỗ lực hỗ trợ lợi ích trực tiếp như hỗ trợ lãi suất, nhà ở,…Việc được Đảng, Nhà nước

“bao cấp” ( khi giáp hạt, thiếu đói đã có gạo Nhà nước, không có tiền ăn Tết cũng có

Nhà nước, nhà cửa xuống cấp, hư hỏng, rồi không có nhà cũng có Nhà nước cấp tiền

để làm mới,...) ít nhiều đã ăn sâu vào suy nghĩ của một bộ phận người nghèo. Tình

trạng có đất mà không chịu trồng lúa, trồng ngô; có trâu, bò mà không chịu chăm sóc,

để cho gầy còm, ốm yếu rồi xẻ thịt, uống rượu; thậm chí có người nghèo được vay

tiền từ Ngân hàng Chính sách xã hội (CSXH) mà không biết tổ chức sản xuất, để ăn

dần vào cả gốc,….Gia đình đã nghèo, sau khi dựng vợ, gả chồng cho con, rồi cứ sinh

thoải mái, không đủ chỗ ở, xin tách 2-3 hộ khẩu, để được hưởng chính sách hộ

nghèo,…. không chịu làm ăn để phát triển kinh tế, làm giàu cho gia đình mà cứ muốn

tiếp tục nghèo để nhà nước “nuôi”. Đây là một thực trạng đã và đang xuất hiện ở

nhiều địa phương, đặc biệt là một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số cư trú tại miền

núi, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn.Do vậy cần nâng cao năng lực của người nghèo

để họ nhận thức đúng về nhu cầu, cách thức khắc phục khó khăn, có kỹ năng để hành

động và đặc biệt là họ có quyết tâm, ý chí vươn lên thoát nghèo.Về lý thuyết khi đã

có nhận thức, hiểu biết, kỹ năng và quyết tâm họ sẽ tìm cách để tiếp cận với cơ hội

phát triển, tiếp cận dịch vụ xã hội và chủ động khắc phục rủi ro vươn lên thoát nghèo

bền vững.

1.1.5.3. Nhóm yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: Nếu vị trí địa lý không thuận lợi ở những nơi xa xôi hẻo lánh,

địa hình phức tạp (miền núi, hải đảo vùng sâu), không có đường giao thông. Đây cũng

chính là một nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ nghèo đói cao ở các vùng và địa phương

ở vào vị trí địa lý này. Do điều kiện địa lý như vậy, họ dễ rơi vào thế bị cô lập, tách

biệt với bên ngoài, khó tiếp cận được các nguồn lực của phát triển, như tín dụng, khoa

học kỹ thuật và công nghệ, thị trường... làm cho cuộc sống của họ lạc hậu, khó phát

triển, kinh tế chủ yếu là tự cấp, tự túc là những yếu tố khách quan tác động mạnh mẽ

đến vấn đề nghèo đói.

21

- Về đất đai: Đất canh tác ít, đất cằn cỗi, ít mầu mỡ, canh tác khó, năng suất

cây trồng, vật nuôi đều thấp. Đây là nguyên nhân dẫn đến sản xuất trong nông

nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, làm cho thu nhập của người nông dân thấp, việc tích

luỹ và tái sản xuất mở rộng bị hạn chế hoặc hầu như không có, ảnh hưởng lớn đến

công tác giảm nghèo. Mặt khác khi người nghèo không có đất hay có ít đất thì phần

lớn sinh kế của họ đều dựa vào làm thuê, làm mướn, tham gia vào các hoạt động

phi nông lâm nghiệp, khai thác các nguồn tài nguyên, phá rừng…gây huỷ diệt, tàn

phá môi trường.

- Về khí hậu thời tiết:Điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên

xảy ra đặc biệt là bão, lụt, hạn hán, cháy rừng, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời

sống của nhân dân. Tác hại của bão lụt, hạn hán là rất lớn, nó luôn là vấn đề nóng

bỏng ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng nghèo đói của người dân.

1.1.5.4. Nhóm nhân tố liên quan đến mỗi cá nhân và hộ gia đình

-Tập quán sinh hoạt:Về một mặt nào đó, tập quán, lối sống cũng là một trở

lực tới sự phát triển của người nghèo. Tập quán du canh du cư; tình trạng sống thưa

thớt, phân bố rải rác không tập trung gây khó khăn trong việc triển khai và thực hiện

các chương trình, chính sách phục vụ cho việc sản xuất, giao thương (Công trình thủy

lợi, đường, điện). Bên cạnh đó một bộ phận người dân có tập quán trong gia đình ai

làm được tiền thì người đó tiêu, không có khái niệm hình thành quỹ chung trong gia

đình; Tình trạng ăn uống kéo dài trong các lễ cưới, đám ma cộng thêm các hủ tục lạc

hậu về văn hoá, lối sống bám chặt vào số phận của một số đồng bào miền núi là một

trong những nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo, tái nghèo.

- Quy mô và cơ cấu hộ gia đình:Qua nghiên cứu cho thấy quy mô hộ gia đình

có ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng nghèo đói. Người nghèo phổ biến ở những hộ gia

đình có quy mô lớn, mỗi hộ có rất nhiều con, tuổi còn nhỏ. Tình trạng sinh nhiều con,

sinh quá dầy ở các cặp vợ chồng trẻ, vợ chồng đang trong độ tuổi sinh đẻ làm cho

cuộc sống gia đình họ gặp rất nhiều khó khăn. Do số người trong gia đình là tương

đối nhiều nên chi tiêu cho những vấn đề thiết yếu hàng ngày là khá cao (chẳng hạn

chi tiêu cho lương thực, quần áo, thuốc men,...) trong khi đó, tổng thu nhập của một

hộ nghèo thường không tăng nhiều hoặc có tăng nhưng cũng không thể đủ để trang

22

trải các khoản chi tiêu hàng ngày, hoặc làm ngày nào ăn hết ngày đó, không thể có

được các khoản tích luỹ nên việc thoát khỏi nghèo trở nên bế tắc.

- Tỷ lệ người sống phụ thuộc: Theo số liệu của các cuộc điều tra mức sống dân

cư của Tổng cục Thống kê cho ta thấy, tỷ lệ trẻ em trên người lao động ở nhóm hộ

nghèo là rất cao. Có thể nói tình trạng phụ thuộc của các gia đình là “người làm thì

ít, người ăn thì nhiều” và thường xảy ra ra tình trạng thiếu lao động, do số người trong

gia đình đông nhưng phần lớn vẫn chưa tự lao động để nuôi sống bản thân mình mà

phải phụ thuộc vào một vài lao động chính. Tình trạng thiếu lao động còn thể hiện ở

chỗ, người lao động chính, ngoài công việc kiếm tiền nuôi gia đình còn phải gánh

thêm nhiều công việc nhà do số người phụ thuộc tăng. Lao động bỏ ra của họ cho

công việc nhà cũng là đáng kể, vì làm việc nhà nên họ không thể làm các công việc

tạo ra thu nhập khác. Có thể thấy tình trạng hộ nghèo có số người sống phụ thuộc cao

là rất phổ biến, nó xảy ra ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước. Đây là một yếu tố

quan trọng, ảnh hưởng rất lớn, thậm chí có tính chất quyết định, tới tình trạng nghèo

đói của người dân, nó cản trở việc thực hiện giảm nghèo của người dân. Cùng với

mức sinh cao (gia đình đông con), tỷ lệ người sống phụ thuộc cũng đã tạo nên một

vòng luẩn quẩn của đói nghèo “Do sinh nhiều con nên lao động thiếu, số người phụ

thuộc cao, gánh nặng đè lên vai những người lao động chính, một người làm để phải

nuôi mấy người do đó làm không đủ ăn. Vì vậy, con cái không được hưởng một cách

đầy đủ những nhu cầu thiết yếu như y tế, giáo dục... dẫn đến vòng đời của chúng sẽ

lại rơi vào cảnh nghèo đói.”

1.1.5.5. Các yếu tố kinh tế

- Nghề nghiệp và nguồn thu nhập: Trong các hộ nông dân, những hộ nghèo

thường là những hộ thiếu hoặc không có đất, do vậy, cuộc sống của họ phụ thuộc rất

nhiều vào thu nhập từ làm thuê. Trình độ học vấn thấp khiến họ ít có cơ hội tìm kiếm

việc làm ngoài công việc trong nông - lâm nghiệp không ổn định và thu nhập thấp.

Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, sức cạnh tranh của hàng hoá thấp, trình độ áp

dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất còn thấp, luôn phụ thuộc nhiều vào thời tiết;

nếu có rủi ro xảy ra (như hạn hán, lũ lụt, cháy rừng) thì nguy cơ mất trắng toàn bộ

sản phẩm là rất cao, đồng nghĩa với nguy cơ rơi vào cảnh nghèo, tái nghèo.

23

- Tình trạng không có hoặc thiếu việc làm: Hiện nay, trong nền kinh tế thị

trường, tình trạng không có việc làm, thiếu việc làm thường xuyên đã ảnh hưởng trực

tiếp đến thu nhập của người dân. Đây cũng chính là nguyên nhân cơ bản làm cho các

hộ gia đình rơi vào cảnh đói nghèo.

- Cơ cấu chi tiêu: Cơ cấu chi tiêu của các hộ nghèo thường rất eo hẹp. Họ chỉ

có khả năng trang trải với mức hạn chế, tối thiểu các chi phí lương thực và phí lương

thực thiết yếu khác. Họ thường phải bỏ thêm chi phí không đáng có hoặc bị giảm thu

nhập vì khó tiếp cận các cơ hội tăng trưởng kinh tế. Thu nhập thấp, họ chỉ có khả

năng trang trải tối thiếu các chi phí lương thực nhưng nó cũng chiếm tỷ trọng lớn

trong tổng chi tiêu của họ. Mặc dù tỷ trọng chi cho ăn uống cao, nhưng số lượng và

chất lượng bữa ăn của họ vẫn không được đảm bảo, tình trạng thiếu ăn, đứt bữa vẫn

còn. Khẩu phần ăn của họ không đảm bảo được lượng calo cần thiết cho cuộc sống

bình thường nhằm tái sản xuất sức lao động. Tình trạng sức khỏe kém cũng là một

nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, nó cũng làm người nghèo khó thoát khỏi vòng luẩn

quẩn của đói nghèo. Thu nhập thấp → ăn uống không đầy đủ → sức khỏe kém →

năng suất lao động thấp → làm không đủ ăn → thiếu đói → vay mượn nợ nần nhiều

→ thu nhập thấp... đó chính là vòng xoáy mà người nghèo rất dễ mắc phải.

- Nghèo do thiếu vốn: Thiếu hoặc không có vốn là nguyên nhân mà người nghèo

cho rằng có ảnh hưởng lớn nhất đến sự nghèo đói của họ. Không có vốn để sản xuất

kinh doanh chính là trở lực rất lớn đối với người lao động khi tham gia vào kinh tế thị

trường. Vốn là rất cần thiết, là điều kiện ban đầu cần phải có để giúp cho các hộ nghèo

thoát khỏi cảnh nghèo đói. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào các hộ nghèo có thể tiếp

cận với các nguồn tín dụng để họ có nhiều cơ hội trong sản xuất kinh doanh. Sở dĩ hộ

nghèo tiếp cận vốn còn khó khăn là do cách sản xuất của hộ nghèo còn giản đơn, không

biết thâm canh, thiếu kinh nghiệm sản xuất, do lãi suất vay vốn cao và thủ tục vay còn

rườm rà hoặc cũng có thể do họ ngại rủi ro vay về không biết đầu tư vào đâu, có hoàn

được vốn không. Họ sợ đầu tư vào những cái mới vì không biết nó thế nào, vì thế họ

vẫn cứ làm theo cách truyền thống, không có khoa học. Trong nông nghiệp thì do không

biết cách đầu tư, cải tạo đất cho tốt, không đưa các loại giống mới vào trồng, không có

các loại phân bón tăng trưởng hợp lý và cũng không sử dụng các loại thuốc phòng tránh

24

sâu bệnh dẫn đến năng suất cây trồng thấp và nghèo lại hoàn nghèo.

- Nghèo do thiếu tài sản vật chất: Thiếu hoặc không có tài sản luôn là nguyên

nhân gây ra nghèo đói đối với các hộ gia đình. Như là các đôi vợ chồng trẻ, mới bước

vào cuộc sống, có xuất phát điểm thấp (giá trị tài sản ban đầu nhỏ) họ gặp rất nhiều

khó khăn trong sản xuất kinh doanh, trong việc tiếp cận với thị trường, nắm bắt các

cơ hội, nhạy bén với các xu thế của xã hội. Các hộ có xuất phát điểm thấp thì rất dễ

rơi vào cảnh nghèo nếu có rủi ro xảy ra. Vì tài sản có giá trị của họ, xét cho cùng, chỉ

có căn nhà và một đồ đạc sinh hoạt thiết yếu điều quan trọng ở đây không phải là tổng

giá trị của tài sản là bao nhiêu mà chúng ta phải xem xét khả năng có thể hoá giá các

tài sản này để bù đắp cho các thiệt hại do các rủi ro đem lại. Chính vì không có tài

sản để tự bảo hiểm nên nhiều hộ gia đình đã phải sống chung với nghèo đói. Thiếu

tài sản còn thể hiện ở các hộ gia đình không có hoặc không đáng kể các tư liệu sản

xuất đế phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Họ thường phải sống ở trong

những căn nhà lán, lều tạm bợ. Qua đây ta thấy chính sự thiếu thốn các loại tài sản

trên làm cho việc đi lại, nuôi trồng, sản xuất gặp nhiều khó khăn, là nguyên nhân phổ

biến gây ra tình trạng nghèo đói ở nhiều nơi.

1.1.5.6. Nhóm yếu tố giáo dục

Người nghèo thường có trình độ học vấn tương đối thấp, thiếu kỹ năng làm việc và

thông tin, thiếu kinh nghiệm sản xuất, không có kinh nghiệm làm ăn, cho nên không có

được các giải pháp để tự thoát nghèo. Dân trí thấp, tự ti, kém năng động, lại không được

hướng dẫn cách thức làm ăn, đây là nguyên nhân làm cho nhiều hộ rơi vào cảnh đói nghèo

triền miên, đặc biệt là các hộ vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc miền núi, ít người.

Các hộ nghèo không có điều kiện học tập văn hoá, các con em họ không có nhiều cơ hội

đến trường, nhất là con em vùng dân tộc ít người, miền núi vùng sâu, vùng xa, đây cũng

là một trong các nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo dai dẳng, nghèo từ đời này sang đời

khác. Thực tế, bản thân các hộ nghèo cũng hiểu được rằng trình độ học vấn là chìa khóa

quan trọng để thoát khỏi cảnh nghèo đói. Tuy nhiên, các con số thống kê được đã chỉ ra

rằng, vấn đề lớn liên quan đến việc tiếp thu các kỹ năng, các kiến thức chung, việc có được

thông tin là đặc biệt quan trọng.

25

1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1. Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về giảm nghèo

1.2.1.1 Kinh nghiệm giảm nghèo của huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Trong những năm qua, cùng với nhiều giải pháp được triển khai đồng bộ như

đầu tư cơ sở hạ tầng ở vùng khó khăn theo Chương trình 135, Chương trình 30a,

chính sách hỗ trợ hộ nghèo vay vốn ưu đãi phát triển sản xuất... Huyện Quan Hóa còn

triển khai các mô hình, chính sách giảm nghèo cho các hộ nghèo vùng khó khăn tham

gia, giúp họ phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống.Thực hiện Nghị

quyết 09 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, nhiều năm qua xã Phú Nghiêm đã triển

khai các chủ trương, chính sách của cấp trên đến các đoàn thể và nhân dân; phân công

cán bộ, công chức theo dõi, giúp đỡ, hướng dẫn bản trong quá trình thực hiện các

chính sách giảm nghèo. Tại bản Pọng, thành viên ban chỉ đạo xóa đói, giảm nghèo đã

chỉ đạo, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để tập trung thực hiện có hiệu

quả các chương trình, dự án giảm nghèo trên địa bàn bản; thường xuyên vận động

nhân dân tham gia sản xuất, phát triển các mô hình chăn nuôi, trồng rừng để cải thiện

đời sống, phát triển kinh tế hộ gia đình; tham mưu với UBND xã hỗ trợ các công cụ

sản xuất, cây giống, con giống cho các gia đình hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn

cảnh khó khăn để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, do vậy, nâng tổng đàn gia súc

từ 179 con (năm 2015) lên gần 300 con (năm 2018), gia cầm từ 925 con lên 1.650

con. Đồng thời tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân áp dụng tiến bộ khoa học -

kỹ thuật trong sản xuất; thâm canh tăng năng suất, nhờ đó sản lượng lương thực hàng

năm đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch. Qua đó công tác giảm nghèo của bản Pọng đã có

nhiều chuyển biến, tỷ lệ hộ nghèo của bản giảm dần qua các năm, năm 2017 tỷ lệ hộ

nghèo theo phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều của bản là 7,79%; đến hết năm 2018

giảm xuống dưới 7%; cơ sở hạ tầng, đường giao thông được quan tâm xây dựng, kinh

tế - xã hội từng bước đi lên. Hay như, Hội Nông dân xã Nam Động đã triển khai xây

dựng các mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Hội nông

dân xã đã triển khai mô hình “một giúp một”, tức là một chi hội nông dân giúp đỡ ít

nhất một hội viên thoát nghèo. Để phong trào “một giúp một” đi vào thực chất và

hiệu quả, trong quá trình xây dựng mô hình, hội nông dân lựa chọn những hộ còn

26

nhiều khó khăn tham gia cùng với các hộ khá làm trước để giúp nhau cùng phát triển

sản xuất. Ngoài việc giám sát, giúp đỡ của cán bộ chi hội cơ sở, thông qua những mô

hình này, các hội viên nghèo sẽ học hỏi được kinh nghiệm sản xuất của các hộ khá

để tích lũy kiến thức và tận dụng các nguồn vốn hỗ trợ để phát triển kinh tế gia đình.

Từ những hoạt động thiết thực của hội, phong trào thi đua hộ gia đình nông dân sản

xuất, kinh doanh giỏi của xã đã có sự phát triển ngày càng sâu rộng. Qua 5 năm (từ

2013 đến 2018) trên địa bàn xã đã có 48 hộ thoát nghèo.

Để công tác giảm nghèo đạt hiệu quả, huyện Quan Hóa đã chỉ đạo các địa

phương rà soát, điều tra, xác định chính xác đối tượng thụ hưởng chính sách bảo đảm

tính minh bạch, đúng quy định, đúng đối tượng, từ đó hỗ trợ tạo điều kiện cho các hộ

nghèo vay vốn phát triển sản xuất nhằm khắc phục tình trạng trông chờ, ỷ lại của đối

tượng thụ hưởng... Cùng với đó, các cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể đã lãnh

đạo, chỉ đạo tổ chức hướng dẫn cách sản xuất, khuyến nông, khuyến công và chuyển

giao khoa học - kỹ thuật, công nghệ để người dân áp dụng vào phát triển kinh tế nhằm

xóa nghèo nhanh và bền vững. Theo số liệu thống kê của huyện Quan Hóa qua hơn

hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khóa XXII, công tác giảm

nghèo đã có nhiều chuyển biến tích cực; nhận thức của người dân nói chung và của

chính người nghèo nói riêng từng bước được nâng lên, ý thức vươn lên thoát nghèo

của người nghèo được thay đổi. Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo hàng năm đều giảm

và có xu hướng bền vững hơn. Sau khi tổng điều tra, rà soát theo phương pháp tiếp

cận nghèo đa chiều, đầu năm 2016, toàn huyện có 3.817 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ

35,46%, đến cuối năm 2017, toàn huyện còn 2.516 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 22,83%;

còn 3.247 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 29,46%. Như vậy, trong hai năm giảm được

1.301 hộ nghèo, tương đương 12,63%, bình quân mỗi năm giảm 6,32%, đạt 114,9%

kế hoạch. Cơ cấu các ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, lĩnh vực nông,

lâm, ngư nghiệp giảm dần, lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ - thương mại

tăng; tỷ trọng lao động trong các ngành chuyển dịch theo hướng tích cực. Cùng với

việc giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng năm, đời sống nhân dân cũng dần được cải thiện rõ rệt;

thu nhập bình quân đầu người từ 14 triệu đồng (đầu năm 2016) năm 2018 ước đạt 25

triệu đồng/người, đạt 100,4% kế hoạch.Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng,

27

tuy nhiên công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Quan Hóa vẫn gặp phải một số khó

khăn, vướng mắc, như: Một số mô hình phát triển sản xuất, chăn nuôi chưa duy trì và

nhân ra diện rộng; tái cơ cấu ngành nông nghiệp chậm. Mức độ đầu tư, quy mô sản

xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu, số lượng,

chất lượng sản phẩm không cao, sức cạnh tranh trên thị trường thấp; việc điều tra, rà

soát hộ nghèo hàng năm thực hiện đúng quy trình nhưng có xã kết quả chưa được

như mong muốn, chưa phản ánh đúng tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn...

Thời gian tới, một trong những mục tiêu lớn của huyện Quan Hóa trong công tác

giảm nghèo (đó là tăng dần sự chủ động tiếp cận các chính sách về giảm nghèo đối

với người nghèo, nhất là tiếp cận vốn vay để sản xuất, phát huy tính tự lực, chủ động

tiếp cận các dịch vụ xã hội, tránh việc hộ nghèo có tâm lý ỷ lại vào sự hỗ trợ, không

có tư tưởng vươn lên thoát nghèo. Để thực hiện mục tiêu này, cùng với việc thực hiện

tốt các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, huyện Quan Hóa tiếp tục đẩy mạnh tuyên

truyền chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước về công tác giảm nghèo

bền vững. Cùng với đó, từ việc triển khai những dự án, mô hình phù hợp với điều

kiện địa phương sẽ nhân rộng, khuyến khích người dân làm giàu trên chính mảnh đất

quê hương.

1.2.1.2 Kinh nghiệm giảm nghèo của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

Để góp phần thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo trên

địa bàn toàn tỉnh Yên Bái, huyện Văn Chấn đã đề ra 10 giải pháp thực hiện chương

trình giảm nghèo năm 2014.Tiếp tục bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán

bộ làm công tác xóa đói, giảm nghèo để lực lượng cán bộ cơ sở trong thời gian tới có

năng lực và trách nhiệm giúp cấp ủy, chính quyền cơ sở thực hiện Đề án giảm nghèo.

Tập trung huy động mọi nguồn lực để thực hiện Kế hoạch năm 2014. Thực hiện tốt

việc lồng ghép các nguồn vốn của các CTMTQG và các chương trình, dự án hỗ trợ

có mục tiêu trên địa bàn, vốn ngân sách địa phương cân đối, huy động vốn cộng đồng

và doanh nghiệp, bảo đảm thực hiện tốt các mục tiêu giảm nghèo năm 2014.Năm

2013, tỷ lệ hộ nghèo năm 2013 của Văn Chấn đã giảm 4,33%, tuy nhiên tỷ lệ hộ

nghèo trên địa bàn toàn huyện vẫn chiếm 30,79%. Trước thực trạng đó,

năm 2014, huyện Văn Chấn đề ra 10 giải pháp triển khai thực hiện Chương trình giảm

28

nghèo trên địa bàn toàn huyện trong đó tăng cường công tác chỉ đạo của các cấp ủy

đảng, chính quyền đối với công tác giảm nghèo bền vững. Đẩy mạnh công tác tuyên

truyền nhằm thay đổi và chuyển biến nhận thức trong giảm nghèo, nỗ lực vươn lên

vượt qua đói nghèo, không trông chờ, ỷ lại vào nhà nước.

Tăng cường nhân lực thực hiện công tác giảm nghèo, an sinh xã hội ở cơ sở,

chú trọng phát triển hệ thống mạng lưới an sinh xã hội để giúp đỡ đối tượng nghèo,

người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người yếu thế trong xã hội. Tăng cường tập

huấn, hướng dẫn kỹ năng giảm nghèo cho người dân, muốn giảm nghèo có kết quả

phải xuất phát từ nguyên nhân dẫn đến nghèo của các hộ gia đình như: Thiếu vốn,

thiếu lao động, thiếu đất sản xuất, gia đình có người nghiện ma túy… trên cơ sở đó

có biện pháp hỗ trợ phù hợp, đồng thời phải phân công cụ thể cán bộ cấp xã, thôn

trực tiếp giúp đỡ hộ nghèo để thoát nghèo.

Bên cạnh đó, phát động mạnh mẽ phong trào đóng góp vào “Quỹ vì người nghèo” và

huy động nguồn kinh phí từ xã hội hóa đến mọi tổ chức kinh tế, xã hội, các tầng lớp

dân cư, nhằm huy động nguồn lực chia sẽ trách nhiệm cộng đồng để năm 2014 tiếp

tục hỗ trợ cho hộ nghèo có khó khăn về nhà ở được sửa chữa, làm mới nhà ở.

Tăng cường và đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động ra ngoài nước và các

tỉnh ngoài, định hướng chọn những đơn hàng chắc chắn, có thu nhập ổn định, mức

đóng phí phù hợp với hoàn cảnh của đối tượng lao động là người nghèo. Phấn đấu

toàn huyện có từ 150 lao động trở lên và tham gia xuất khẩu lao động ở nước ngoài,

quan tâm xuất khẩu lao động đã qua đào tạo, có tay nghề chiếm ít nhất 30% để có thu

nhập tốt. Đẩy mạnh cung ứng lao động ra ngoài tỉnh để giúp người lao động có thu

nhập ổn định.

Tăng cường công tác kiểm tra giám sát, đánh giá kết quả thực hiện ở cấp huyện,

cấp xã, gắn với sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm trong công tác tổ chức triển khai

thực hiện chương trình giảm nghèo.Làm tốt công tác thi đua, khen thưởng, chế độ

thông tin, báo cáo để UBND huyện có các giải pháp chỉ đạo kịp thời nhằm thực hiện

tốt mục tiêu giảm nghèo năm 2014…

Mục tiêu của huyện Văn Chấn đề ra trong năm 2014 sẽ phấn đấu giảm 5,5%

tỷ lệ hộ nghèo tương ứng với giảm 1.883 hộ nghèo trở lên. Đến cuối năm 2014 tỷ lệ

29

hộ nghèo trên địa bàn huyện chỉ còn 25,29%.Huyện Văn Chấn cố gắng phấn đấu

100% số hộ nghèo có nhu cầu và đủ điều kiện vay vốn sản xuất được xét duyệt cho

vay vốn; 100% người nghèo sẽ được cấp phát thẻ khám chữa bệnh miễn phí; 100%

đối tượng bảo trợ xã hội đủ điều kiện được hưởng kinh phí chi trả trợ cấp hàng tháng

và cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí; 100% đối tượng thuộc diện được hưởng chính

sách miễn giảm học phí và hỗ trợ chi phsi học tập được thực hiện đầy đủ.Đồng thời

phấn đấu 100% hộ nghèo sẽ được hỗ trợ tiền điện theo đúng quy định của Nhà nước.

Sẽ có khoảng 1.628 lao động nông thôn được đào tạo nghề, chuyển giao kỹ thuật

nông nghiệp.

1.2.1.3 Kinh nghiệm giảm nghèo của huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh

Để thực hiện công tác giảm nghèo có hiệu quả, huyện Đầm Hà đã chú trọng

đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng về các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của Nhà nước.

Đồng thời, phát huy sức mạnh của các lực lượng; trong đó trọng tâm ý thức tự giác

của người dân, vai trò của cộng đồng và chính quyền cơ sở. Xác định rõ, quyết tâm

vươn lên thoát nghèo của người dân là yếu tố quyết định, cùng với sự hỗ trợ, giúp sức

của cộng đồng để đảm bảo hiệu quả công tác giảm nghèo bền vững, hàng năm, Ban

Chỉ đạo giảm nghèo các cấp ở Đầm Hà đã phát huy tốt vai trò công tác tham mưu cho

cấp uỷ, chính quyền và chủ động kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn trong quá trình tổ

chức thực hiện Chương trình giảm nghèo. Cấp ủy, chính quyền các cấp đã vừa tranh

thủ mọi nguồn lực để triển khai thực hiện chương trình, mục tiêu giảm nghèo vừa

tuyên truyền, động viên người dân tích cực phát huy nội lực trong thực hiện công tác

giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội.Điểm nổi bật trong thực hiện giảm nghèo bền

vững ở huyện miền núi Đầm Hà đó là địa phương đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền,

vận động về triển khai thực hiện công tác giảm nghèo, giới thiệu các mô hình giảm

nghèo có hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức cho người dân, đặc biệt là hộ nghèo, hộ

cận nghèo; giúp các hộ chủ động vươn lên thoát nghèo, tránh tư tưởng trông chờ, ỷ

lại,… Căn cứ vào đặc điểm tình hình và kế hoạch của địa phương, huyện đã chủ động

thực hiện lồng ghép chương trình giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội, các

chương trình dự án, hỗ trợ về y tế, giáo dục, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, trợ

giúp pháp lý, các chính sách an sinh xã hội.Công tác vận động hỗ trợ hộ nghèo cũng

30

luôn được các cơ quan, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể - chính trị xã

hội, các nhà hảo tâm tích cực ủng hộ, giúp đỡ. Thông qua đó đã giúp tăng cường các

nguồn lực hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, dự án, mô hình phát triển sản xuất, đặc biệt đối

với các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, tác động tích cực đến công tác giảm

nghèo.Theo số liệu thống kê, trong năm 2017, đã có 2.670 lượt người tại xã nghèo

được tập huấn khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất và được tiếp cận thông tin về

tình hình phát triển kinh tế xã hội, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Nhờ

đó, huyện Đầm Hà đã 513 hộ thoát nghèo; 595 hộ thoát cận nghèo; toàn huyện giảm

được trên 460 hộ nghèo tuyệt đối. Tiêu biểu trong công tác giảm nghèo bền vững là

các xã Quảng Lợi, Tân Bình, Đại Bình, Quảng Tân,… và thị trấn Đầm Hà.

Song song với đó, huyện Đầm Hà còn quan tâm triển khai có hiệu quả các giải

pháp tạo việc làm cho người lao động địa phương. Theo đó, các ban, ngành, đoàn thể

đã thực hiện tốt chương trình vay vốn giải quyết việc làm, chuyển đổi cơ cấu kinh tế,

mở rộng sản xuất thu hút nguồn lao động nhàn rỗi, tăng thu nhập cho người lao động.

Đến cuối năm 2017, tổng số vốn vay giải quyết việc làm toàn huyện Đầm Hà đã giải

ngân đạt trên 21 tỷ đồng. Trong năm đã có trên 1.000 lao động được tạo việc làm

mới. Năm 2018,Huyện Đầm Hà còn 1 xã (Quảng Lâm) và 19 thôn đặc biệt khó khăn,

huyện tiếp tục thực hiện tốt các chương trình, dự án phát triển kinh tế ở các xã miền

núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào vùng

dân tộc thiếu số để phát triển kinh tế xã hội, tăng cường xây dựng kết cấu hạ tầng,

giảm nghèo bền vững. Khuyến khích ứng dụng KHKT vào sản xuất, xây dựng và

phát triển các sản phẩm đặc trưng vùng dân tộc thiểu số góp phần nâng cao thu nhập

cải thiện đời sống cho nhân dân, phấn đấu đưa 10 thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn

và năm 2019 đưa xã Quảng Lâm ra khỏi diện 135.Với những giải pháp đa dạng và

cách làm phù hợp, công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện đã đạt được những kết

quả tích cực, góp phần nâng cao mức sống của người dân. Thời gian tới, trên cơ sở

sự hỗ trợ của Trung ương và tỉnh Quảng Ninh, huyện Đầm Hà sẽ tiếp tục đẩy mạnh

thực hiện công tác giảm nghèo bền vững theo hướng tập trung khai thác các nguồn

lực; chú trọng nâng cao thực chất đời sống người dân. Cùng với đẩy mạnh công tác

tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân về

31

giảm nghèo bền vững, Đầm Hà cũng sẽ tăng cường việc hướng dẫn, chuyển giao khoa

học kỹ thuật; nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả. Đồng thời, tập trung hỗ trợ

người dân phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hộ nghèo, cận nghèo;

thực hiện công tác giảm nghèo gắn với xây dựng nông thôn mới và đẩy mạnh xã hội

hóa công tác giảm nghèo bền vững

1.2.1.4. Kinh nghiệm về giảm nghèo nhanh và bền vững của huyện Bắc Quang, tỉnh

Hà Giang

Huyện Bắc Quang là huyện cửa ngõ phía Nam của Hà Giang, nằm trên quốc

lộ 2 cách thành phố Hà Giang 60 km. Bắc Quang có tổng diện tích tự nhiên

là 109.873,69 ha, tổng dân số của huyện là 105.091 người với 25.829 hộ, bình quân

4 người/hộ. Bao gồm nhiều dân tộc khác nhau, trong đó dân tộc Tày chiếm đa số

46,90%, Kinh 25,54%, Dao 14,24%, Nùng 4,80%, Mông 4,80%, còn lại là một số

các dân tộc thiểu số khác chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng dân số. Thực hiện Nghị quyết số

80 của Chính Phủ về định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020, huyện

Bắc Quang đã đạt những kết quả theo tiến độ đã đề ra, cụ thể: Để tiếp tục giúp dân

xoá nghèo mang tính bền vững, huyện Bắc Quang đã xác định phải phát huy nội lực

là chính và sản xuất nông lâm nghiệp vẫn là ưu tiên hàng đầu. Trong đó, chú trọng

đến công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào

sản xuất và đẩy mạnh đưa các loại giống mới vào canh tác và thâm canh tăng vụ đối

với các loại cây lương thực, nhất là với cây lúa, Nhờ vậy, huyện Bắc Quang không

những đã đảm bảo về an ninh lương thực trên địa bàn mà còn có sản phẩm lúa gạo

hàng hoá phục vụ nhu cầu của thị trường. Huyện đã đẩy mạnh xây dựng và phát triển

các mô hình sản xuất phát triển kinh tế hộ như hình thức kinh tế trang trại theo các

mô hình VC; mô hình VAC, mô hình VACR. Theo đó, nhiều hộ có quy mô sản xuất

khá tạo ra nguồn sản phẩm hàng hoá phục vụ nhu cầu của thị trường (Mô hình trồng

xen canh cây cam và chè của xã Kim Ngọc; các mô hình trồng rừng, vườn cây ăn

quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi cá; dự án nuôi trâu cái sinh sản,…). Các mô

hình trên chỉ là một số trong nhiều mô hình sản xuất phát triển kinh tế hộ ở huyện

Bắc Quang nhờ đó, nhiều hộ dân đã thoát nghèo bền vững và làm giàu chính đáng

trên quê hương mình. Có được kết quả này, ngoài việc được hưởng lợi từ các chương

32

trình dự án của trung ương, của tỉnh thì chủ trương phát huy nội lực của huyện đóng

vai trò quan trọng và mang tính quyết định. Trong thời gian qua, huyện Bắc Quang

đã thực hiện chủ trương khuyến khích các hộ nông dân trong toàn huyện tận dụng và

phát huy thế mạnh của mình để phát triển kinh tế gia đình. Các hộ nghèo, được bình

xét từ cơ sở, có phân loại các lý do dẫn đến nghèo để hỗ trợ. Vì vậy, việc đầu tư, hỗ

trợ vừa đảm bảo trọng tâm trọng điểm, đúng đối tượng, vừa khuyến khích để phát

huy nội lực và có tính bền vững.

Bên cạnh đó, huyện cũng thực hiện tốt các chính sách, chương trình giảm

nghèo của chính phủ. như Chính sách hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng

thu nhập cho người nghèo; Trong 2 năm 2011, 2012, Ngân hàng Chính sách XH

huyện đã cho 7.200 lượt người nghèo vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất

- kinh doanh với số tiền 7,1 tỷ đồng. Đối với chính sách hỗ trợ về y tế và dinh dưỡng:

mỗi năm huyện muavà cấp trên 60.000 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, người dân

tộc thiểu số; trên 5.000 thẻ cho trẻ em dưới 6 tuổi. Riêng năm 2012, huyện đã hỗ trợ

200 triệu đồng mua thẻ bảo hiểm y tế cho trên 400 người thuộc hộ cận nghèo. Huyện

cũng đã tổ chức xóa nhà tạm cho 203/312 hộ nghèo; tổ chức thực hiện tốt chương

trình đưa văn hoá, thông tin về cơ sở nhằm hỗ trợ người nghèo hưởng thụ văn hoá,

thông tin; Tăng cường các hoạt động truyền thông, giúp người nghèo tiếp cận các

chính sách giảm nghèo, phổ biến các mô hình giảm nghèo có hiệu quả, gương thoát

nghèo điển hình. Qua hơn hai năm thực hiện Nghị quyết, thu nhập bình quân người

nghèo của huyện Bắc Quang đã tăng lên 1,8 lần và giảm hộ nghèo bình quân xuống

3,05%/năm, đạt so với chỉ tiêu đề ra. Mỗi năm bình quân tăng 7% hộ khá và 4,5% hộ

giàu. Kết quả này là nền tảng để Bắc Quang tiếp tục thực hiện thắng lợi chỉ tiêu Nghị

quyết về xóa đói giảm nghèo từ nay đến 2015.

1.2.2. Bài học kinh nghiệm cho huyện Ba Chẽ về giảm nghèo bền vững

- Cấp ủy, chính quyền cần có những Nghị quyết chuyên đề về công tác giảm

nghèo, khuyến khích thoát nghèo; kịp thời ban hành các cơ chế chính sách hỗ trợ về

vốn, giống cây trồng, vật nuôi khuyến khích người dân đẩy mạnh sản xuất, tăng thu

nhập cho gia đình, giảm nghèo bền vững.

33

- Cần phải tập trung tuyên truyền vận động làm thay đổi dần tập quán sản xuất

lạc hậu, tư tưởng trông chờ ỷ lại; hun đúc cho người nghèo ý, khát khao vươn lên

thoát khỏi nghèo đói coi đó là “chìa khoá” để giảm nghèo bền vững.

- Thực hiện tốt công tác điều tra, khảo sát, phân loại được nhu cầu của từng hộ

nghèo: nhu cầu học nghề, nhu cầu vốn vay phát triển mô hình kinh tế, nhu cầu tập

huấn kiến thức làm ăn, nhu cầu hỗ trợ về lao động, nhu cầu hỗ trợ về giống cây trồng,

vật nuôi để thực hiện các biện pháp giúp đỡ. Hoạt động giúp giảm nghèo cần phù hợp

với từng nhóm đối tượng, từng địa bàn, từng nhóm đối tượng (Chẳng hạn, nhóm hộ

nghèo do thiếu vốn thì phải có chính sách hỗ trợ tín dụng thích hợp, nhóm thiếu kinh

nghiệm và tay nghề lao động thì phải hỗ trợ đào tạo nghề, hỗ trợ giáo dục,…).

- Tổ chức các hoạt động chia sẻ kinh nghiệm, đoàn kết tương trợ giúp nhau

thoát nghèo: Giúp nhau về vốn, ngày công lao động, cây con giống, hỗ trợ về khoa

học kỹ thuật, lập kế hoạch phát triển kinh tế, tạo thu nhập và nâng cao khả năng tiếp

thu, tiếp cận thông tin và áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất; Sử dụng có hiệu

quả nguồn vốn nhà nước trong công tác giảm nghèo.

- Đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền, phổ biến các mô hình, điển hình

giảm nghèo có hiệu quả để nhân rộng; đẩy mạnh công tác hỗ trợ người dân tự nhân

rộng những kinh nghiệm và mô hình tốt đang có ngay trong cộng đồng dân cư về

giảm nghèo. Thực hiện tốt việc huy động nguồn lực hỗ trợ từ cộng đồng, doanh

nghiệp và chính bản thân hộ nghèo trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo.

- Nâng cao hơn nữa trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể

và cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn huyện trong việc giúp đỡ,

hỗ trợ hộ nghèo thoát nghèo, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu giảm nghèo bền

vững trên địa bàn huyện Ba Chẽ.

34

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đặc điểm địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1. Vị trí địa lý

Huyện Ba Chẽ cách thành phố Hạ Long 95 km theo đường quốc lộ 18A hướng

Hạ Long đi Móng Cái. Huyện Ba Chẽ có toạ độ địa lý và tiếp giáp với các đơn vị

hành chính như sau:

Độ vĩ Bắc từ 2107'40" đến 21023'15"

Độ kinh Đông từ 106058'5" đến 107022'00"

Phía Bắc giáp huyện Đình Lập - tỉnh Lạng Sơn

Phía Nam giáp huyện Hoành Bồ và thành phố Cẩm Phả

Phía Đông giáp huyện Tiên Yên

Phía Tây giáp huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang.

2.1.1.2. Địa hình, địa mạo.

Địa hình Ba Chẽ bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi và các con sông, suối tạo

thành các thung lũng hẹp. Độ cao trung bình từ 300 - 500 m so với mực nước biển.

Độ dốc trung bình từ 20 - 250.

2.1.1.3. Khí hậu

Ba Chẽ nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi nên nóng ẩm,

mưa nhiều. Theo số liệu của trạm dự báo và phục vụ khí tượng thuỷ văn Quảng Ninh

khu vực miền Đông, khí hậu của Huyện có những đặc trưng sau:

- Nhiệt độ không khí:Nhiệt độ không khí trung bình từ 210C - 230C, về mùa

hè nhiệt độ trung bình giao động từ 26 - 280C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối đạt tới 37,60C

vào tháng 6. Về mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên thời tiết lạnh,

nhiệt độ trung bình giao động từ 12 -160C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối vào tháng 1 đạt

tới 10C.

- Độ ẩm không khí:Độ ẩm không khí tương đối trung bình hàng năm ở Ba Chẽ

là 83%, cao nhất và tháng 3, 4 đạt 88%, thấp nhất vào tháng 11 và tháng 12 cũng đạt

35

tới 76%. Do địa hình bị chia cắt nên các xã phía Đông Nam huyện có độ ẩm không

khí tương đối cao hơn, các xã phía Tây Bắc do ở sâu trong lục địa nên độ ẩm không

khí thấp hơn.

- Lượng mưa:Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.285 mm. Năm có

lượng mưa lớn nhất là 4.077 mm, nhỏ nhất là 1.086 mm. Mưa ở Ba Chẽ phẩn bố

không đều trong năm, phân hoá theo mùa tạo thành hai mùa trái ngược nhau là mùa

mưa nhiều và mùa mưa ít.

- Lũ: Do đặc điểm của địa hình, độ dốc lớn, lượng mưa trung bình hàng năm

cao (trên 2000 mm), mưa tập trung theo mùa, hệ thống sông suối lưu vự ngắn, thực

vật che phủ rừng thấp. Vì thế mùa mưa kéo dài và khi xẩy ra mưa cục bộ với thời

gian dài và lượng mưa tập trung thì xuất hiện lũ dầu nguồn gây thiệt hại từ thượng

lưu đến vùng hạ lưu theo một phản ứng dây truyền, ảnh hưởng xấu đến toàn bộ nền

kinh tế - xã hội trong khu vực.

- Nắng: Trung bình số giờ nắng dao động từ 1.600 - 1.700h/năm, nắng tập

trung từ tháng 5 đến tháng 11, tháng có giờ nắng ít nhất là tháng 12 và tháng 1.

- Gió: Ba Chẽ thịnh hành 2 loại gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa

Đông Nam.

- Bão: hàng năm bão xuất hiện từ tháng 6, 7, 8, 9. Trung bình có 3 - 4 cơn bão

ảnh hưởng tới Ba Chẽ, gây ra mưa nhiều làm xuất hiện lũ lớn như năm 2008 vừa qua.

2.1.1.4. Thuỷ văn

Hệ thống sông suối của huyện Ba Chẽ chịu ảnh hưởng sự chia cắt của địa hình

đã hình thành nên hệ thống sông suối chằng chịt.

Sông Ba Chẽ là con sông lớn nhất trong hệ thống sông suối của Huyện được

bắt nguồn từ các dãy núi phía Tây Bắc chạy dọc theo các xã rồi đổ ra biển. Vùng ảnh

hưởng bởi chế độ thuỷ văn của Sông Ba Chẽ là thị trấn Ba Chẽ và vùng hạ lưu. Do

trực tiếp ảnh hưởng bởi chế độ thuỷ triều nên những thời kỳ triều cường kết hợp với

mưa lớn ở thượng lưu thường gây lũ lụt, cốt ngập lụt thấp nhất là +6m. Ngoài ra còn

hệ thống các sông, suối nhỏ như:

36

Sông Quánh bắt nguồn từ huyện Hoành Bồ chảy qua phía Nam xã Minh Cầm

theo hướng Bắc đổ về sông Ba Chẽ, đây là nhánh sông đầu nguồn chính của sông Ba

Chẽ.

Sông Đoáng bắt nguồn từ huyện Hoành Bồ chảy qua phía Nam xã Đạp Thanh

chảy về hướng Bắc, đổ vào sông Ba Chẽ.

Sông Làng Cổng bắt nguồn từ phía Nam xã Đồn Đạc, chảy về phía Bắc đổ vào

sông Ba Chẽ.

Suối Khe Hương, Khe Lầy, Khe Liêu, Khe Buông, Khe Tráng bắt nguồn từ

phía Tây xã Lương Mông đổ vào sông Ba Chẽ. Suối Khe Lọng bắt nguồn từ phía Bắc

xã Thanh Sơn theo hướng Nam đổ vào sông Ba Chẽ.

Suối Khe Nháng cũng bắt nguồn từ phía Bắc xã Thanh Lâm theo hướng Nam

đổ vào sông Ba Chẽ.

2.1.1.5. Các nguồn tài nguyên khác.

a. Tài nguyên nước.

Ba Chẽ có hệ thống sông suối chằng chịt vì thế tạo nên nguồn nước dồi dào

phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt. Hầu hết các xã đều có đập nước trên các con suối,

kèm theo là hệ thống mương dẫn nước tưới cho lúa và hoa mầu. Ngoài lượng nước

mặt trên các con sông suối, Ba Chẽ còn có nguồn nước ngầm có trữ lượng lớn có thể

khai thác phục vụ cho sinh hoạt.

Trong những năm gần đây do việc khai thác rừng cạn kiệt đã tàn phá thảm

thực vật đầu nguồn làm giảm khả năng điều tiết nguồn nước giữa các mùa trong năm,

đồng thời chịu ảnh hưởng của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu đã phần nào ảnh

hưởng tới nguồn tài nguyên nước của địa phương. Đó là tình trạng thiếu nước về mùa

khô và dư thừa nước về mùa mưa.

Nhìn chung, trữ lượng nước của Ba Chẽ khá dồi dào, chất lượng nước đảm bảo, độ

pH trung tính phù hợp cho sản xuất nông nghiệp. Nước trên các con sông suối qua xử

lý sẽ đảm bảo chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho nhân dân.

b Tài nguyên rừng

Tài nguyên rừng là nguồn tài nguyên quan trọng của Ba Chẽ để phát triển kinh

tế, xoá đói, giảm nghèo.

37

- Diện tích đất có rừng năm 2019 của huyện như sau:

+ Diện tích đất rừng sản xuất: 48.844 ha, trong đó diện tích đất có rừng là

45.083,8 ha.

+ Diện tích đất phòng hộ: 7.847,2 ha, trong đó diện tích đất có rừng phòng hộ

là 6.420,3 ha.

Rừng tự nhiên ở Ba Chẽ phát triển rất phong phú về chủng loại với nhiều loài

cây gỗ có giá trị cao về kinh tế và giá trị về đa dạng sinh học như các loài: Lim xanh,

dẻ gai, dẻ đá, trám, sến, táu...

Rừng còn là nơi phân bố của các loài tre nứa phục hồi sau khai thác có thể khai

thác làm nguyên liệu công nghiệp giấy, làm ván sàn tre và xây dựng. Ngoài ra rừng

còn khá phong phú về các loại lâm sản phụ có giá trị cao làm dược liệu như: Ba Kích,

Đẳng Sâm, Sa Nhân, .... và các loại song mây, ràng ràng làm nguyên liệu cho ngành

mây tre đan xuất khẩu.

Trên diện tích đất trống đồi núi trọc nhiều vùng có khả năng phát triển trồng

rừng và các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cây sưa, dó bầu....

c) Đất đai, thổ nhưỡng

Theo báo cáo thuyết minh bản đồ thổ nhưỡng nông hoá tỉnh Quảng Ninh của

Trung tâm Tài nguyên và Môi trường thuộc Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp

thì trên địa bàn huyện Ba Chẽ có 3 nhóm đất chính. Cụ thể như sau:

* Nhóm đất phù sa (P) - FLUVISOLS (FL):

- Đất phù sa được hình thành từ các sản phẩm bồi tụ chủ yếu của các con sông.

Đất phù sa phân hoá theo mẫu chất, điều kiện địa hình và hệ thống sử dụng đất. Nhóm

đất này phân bố khắp các xã của Huyện nhưng tập trung nhiều ở các xã Đồn Đạc,

Nam Sơn, Thị trấn Ba Chẽ. Đất phù sa có diện tích 1.768,55 ha chiếm 2,91% tổng

diện tích tự nhiên của huyện

- Đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến sét, cấp hạt cát có tỷ lệ từ

16,91 - 27,18%, cấp hạt sét từ 23,87- 41,23%, còn lại là cấp hạt limon. Đất có phản

ứng từ chua đến chua vừa pHKCl 4,55-5,42. Hàm lượng mùn tầng mặt trung bình

(1,95%), các tầng dưới đều nghèo (<1%). Đạm tổng số tầng mặt trung bình (0,134%),

các tầng dưới nghèo; Lân tổng số tầng mặt khá (0,17%), các tầng dưới nghèo (0,021-

38

0,036%); Kali tổng số ở các tầng đều thấp (0,53-0,61%). Lân dễ tiêu tầng mặt trung

bình (8,6 mg/100g đất), các tầng dưới rất nghèo (<5mg/100g đất); kali dễ tiêu ở các

tầng đều rất nghèo (2,5-5,4mg/100g đất).Tổng lượng Cation kiềm trao đổi từ rất

nghèo đến nghèo (1,6-5,4meq/100g đất), dung tích hấp thu (CEC) từ nghèo đến trung

bình (6,34-11,43 meq/100g đất).

* Nhóm đất vàng đỏ (F) - ACRISOLS (AC)

- Đất vàng đỏ chiếm diện tích lớn 59068,79 ha chiếm 97,06% tổng diện tích

tự nhiên, phân bổ rộng hầu hết ở các xã trong huyện. Gồm các loại đất:

+ Đất vàng đỏ điển hình - Hapli Ferralic Acrisols

+ Đất vàng đỏ đá sâu - Endo lithi Ferralic Acrisols

+ Đất vàng đỏ đá lẫn nông - Epi Skeleti Ferralic Acrisols

- Đây là nhóm đất có tầng B tích sét (Argic) với khả năng trao đổi cation <

24meq/100g đất và độ no bazơ < 50%, tối thiểu là ở một phần của tầng B thuộc độ

sâu 0-120 cm, không có tầng E đột ngột ngay ở trên một tầng có tính thấm chậm. Đất

có phản ứng chua đến ít chua (pHKCl từ 4,72-5,05). Cation kiềm trao đổi và dung tích

hấp thu thấp (tương ứng 7,7 meq/100g đất và < 19 meq/100g đất). Hàm lượng hữu

cơ tầng mặt đạt từ khhá đến giàu (2,47-3,08%), xuống sâu hàm lượng mùn giảm dần.

Đạm tổng số trung bình đến giàu (0,169-0,236%) và giảm nhanh xuống tầng dưới.

Kali tổng số và dễ tiêu trung bình (tương ứng 1,29-2,22% và 9,7-18,6 mg/100g đất).

Lân tổng số trung bình (0,06-0,08%), lân dễ tiêu nghèo (4,3-8,2 mg/100g đất).

Tuy nhiên đất vàng đỏ phân bố ở những khu vực có địa hình dốc nên trong

quá trình khai thác, sử dụng đất cần đặc biệt quan tâm đến các giải pháp chống xói

mòn, bảo vệ đất, giữ ẩm cho đất vào mùa khô và cải tạo nâng cao độ phì nhiêu của đất.

* Nhóm đất nhân tác (NT) - ANTHROSOLS (AT)

Đất nhân tác là đất hình thành do tác động của con người, tầng đất bị xáo trộn

mạnh bởi các hoạt động của con người như hoạt động san ủi làm ruộng bậc thang.

- Đất có sự thay đổi về chế độ nhiệt, chế độ không khí, chế độ nước, chế độ

dinh dưỡng và hàng loạt đặc tính sinh học khác so với các nhóm đất tự nhiên. Tầng

đất từ 0-40 cm thường bị glây và hàm lượng hữu cơ cao hơn các tầng dưới. Tuy nhiên,

39

ở các tầng đất sâu hơn 50cm thường chua hoặc ít bị xáo trộn, nên còn giữ được đặc

trưng của mẫu chất ban đầu.

Tuy nhiên đây là loại đất tốt ở địa hình bằng thoải, hầu hết có độ phì nhiêu

khá, gần nguồn nước; rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.

- Đất có phản ứng của đất chua pHKCl từ 4,5-4,6 và có sự thay đổi lớn giữa các

tầng đất. Hàm lượng hữu cơ ở tầng đất mặt từ 1,27-1,55%, xuống các tầng dưới hàm

lượng hữu cơ giảm nhanh. Đạm tổng số trung bình (0,1-0,15% ở lớp đất mặt), ở các

tầng dưới đạm tổng số giảm. Lân tổng số trung bình từ 0,06-0,1%, lân dễ tiêu nghèo

4 - 10 mg/100g đất. Kali tổng số và dễ tiêu đều nghèo. Lượng canxi và manhe trao đổi

rất thấp dưới 2,0 meq/100g đất. Dung tích hấp thu (CEC) từ 10-14,7 meq/100g đất, thành

phần cơ giới thường là thịt trung bình, tỷ lệ sét vật lý đạt trên 40%.

- Hướng sử dụng và cải tạo: Đất ruộng bậc thang vùng đồi núi thích hợp trồng

lúa nước và hoa màu, để ngăn cản tình trạng đất bị hình thành tầng glây hoặc kết von

chặt cần có hệ thống thuỷ lợi cung cấp nước thường xuyên để trồng 2 vụ lúa hoặc

thêm 1 vụ rau màu..

* Đất đai theo công dụng kinh tế

Bảng 2.1. Đất đai phân theo công dụng kinh tế giai đoạn 2017 - 2019

Đơn vị tính: ha

So sánh Năm Năm Năm Chỉ tiêu 2019/2017 (%) 2017 2018 2019

Tổng diện tích đất tự nhiên 60.651,25 60.651,25 60.651,25 100,00

I. Đất nông nghiệp 54.284,32 55.323,11 55.713,15 102,63

1. Đất sản xuất nông nghiệp 2.052,26 2.056,48 1.949,40 94,99

1.1. Đất trồng cây hàng năm 1.461,47 1.461,29 1.564,70 107,06

1.2. Đất trồng cây lâu năm 590,79 595,19 384,70 65,12

2. Đất lâm nghiệp 52.175,15 53.209,72 53.497,30 102,53

2.1. Đất rừng sản xuất 46.174,58 47.209,15 46.045,30 99,72

2.2. Đất rừng phòng hộ 6.000,57 6.000,57 7.451,90 124,19

2.3. Đất rừng đặc dụng - - - -

3. Đất nuôi trồng thủy sản 53,51 53,51 54,15 101,20

40

4. Đất nông nghiệp khác 3,40 3,40 212,30 6.244,12

II. Đất phi nông nghiệp 1.538,39 1.538,81 1.998,10 129,88

1. Đất ở 127,89 128,30 332,40 259,91

2. Đất chuyên dùng 490,53 490,50 560,30 114,22

3. Đất tôn giáo, tín ngưỡng 5,12 5,11 4,30 83,98

4. Đất nghĩa trang, nghĩa địa 96,73 96,80 107,30 110,93

5. Đất sông suối và mặt nước 818,12 818,10 993,80 121,47 chuyên dùng

III. Đất chưa sử dụng 4.828,54 3.789,33 2.940,00 60,89

Nguồn: Phòng Tài nguyên và MT

2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.2.1. Điều kiện kinh tế

Bảng 2.2. Tăng trưởng và cơ cấu kinh tế huyện Ba Chẽ giai đoạn 2017-2019

STT Chỉ tiêu

Đơn vị tính Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019

Tổng giá trị sản xuất trên địa

I

bàn huyện (theo giá hiện

Triệu đồng

722.565

863.325

1.080.447

hành)

Ngành nông, lâm nghiệp, thủy

Triệu đồng

366.559,6

403.173,8

515.373,2

1

sản

Ngành công nghiệp, xây dựng Triệu đồng

146.680,7

207.198

291.720,7

2

Ngành dịch vụ

Triệu đồng

215.324,4

252.954,2

273.353,1

3

Tốc độ tăng giá trị sản xuất các

%

15,0

15,3

16,6

4

ngành kinh tế

Cơ cấu giá trị sản xuất các

II

ngành kinh tế (theo giá hiện

%

100,0

100,0

100,0

hành)

Ngành nông, lâm nghiệp, thủy

%

49,9

46,7

47,7

1

sản

Ngành công nghiệp

%

20,3

24,0

27,0

2

Ngành dịch vụ

%

29,8

29,3

25,3

3

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2019

41

Tổng giá trị sản xuất (theo giá hiện hành) trên địa bàn huyện tăng từ

722.565 triệu đồng năm 2017 lên 1.080.447 triệu đồng năm 2019. Tăng trưởng kinh

tế của huyện thể hiện ở cả 3 lĩnh vực sản xuất là ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản,

ngành công nghiệp và ngành dịch vụ, trong đó ngành nông, lâm nghiệp có mức tăng

trưởng cao nhất, 02 ngành còn lại có mức tăng trưởng tương đương nhau.

Cơ cấu kinh tế của huyện Ba Chẽ chuyển dịch theo hướng tích cực, cơ cấu

ngành nông, lâm nghiệp giảm từ 49,9% năm 2017 xuống còn 47,7% năm 2019 (giảm

2,2%). Ngành dịch vụ giảm từ 29,8% năm 2017 xuống còn 25,3% năm 2019 (giảm

4,5%). Ngành công nghiệp có sự tăng trưởng mạnh mẽ, từ 20,3% năm 2017 lên còn

27% năm 2019 (tăng 6,7%). Việc chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành đã góp phần

tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Ba Chẽ, tuy nhiên vẫn cần đẩy

nhanh tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ và công nghiệp nhất là công nghiệp chế biến,

trong đó chú trọng vào chế biến các sản phẩm nông, lâm nghiệp, dược liệu để thúc

đẩy sự tăng trưởng kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn.

2.1.2.2. Điều kiện xã hội

* Về dân số:

Huyện Ba Chẽ được chia thành 8 đơn vị hành chính gồm 07 xã và 1 thị trấn,

được chia thành 03 tiểu vùng. Tiểu vùng 1 bao gồm 3 xã phía Tây là Đạp Thanh,

Lương Mông, Minh Cầm; Tiểu vùng 2bao gồm 3 xã Thanh Lâm, Thanh Sơn, Đồn

Đạc; Tiểu vùng 3 gồm Thị trấn Ba Chẽ và xã Nam Sơn. Dân số toàn huyện ước tính

đến ngày 31/12/2019 là 22.210 người; dân số nông thôn: 17.534 người (chiếm 78,9%

dân số toàn huyện), dân số thành thị là 4.676 người (chiếm 21,1% dân số toàn huyện).

Theo giới tính: Năm 2019 dân số nữ trung bình là 10.786 người, chiếm

48,56%; Đặc biệt với sự kiên trì của công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình, tỷ số

giới tính đã chuyển về thế cân bằng hơn và đạt mức 101 nam/100 nữ.

Huyện Ba Chẽ có 9 dân tộc anh em sinh sống rải rác ở 86 điểm dân cư thuộc

75 thôn, khu phố. Nhiều nhất là dân tộc Dao với 9.750 người (chiếm 43,7%), tiếp

theo là dân tộc Kinh 4.485 người (chiếm 20,2%), dân tộc Sán Chỉ 4.020 người (chiếm

tỷ lệ 18,1%), Tày 3.620 (16,3%), các dân tộc còn lại (Sán Dìu, Hoa, Thái, Mường,

Nùng) chiếm tỷ lệ nhỏ (1,7%).(Theo Báo cáo 2019 của Chi cục Thống kê huyện).

42

Tỷ suất sinh của huyện năm 2019 giữ ở mức ổn định 19,6. Tỷ suất sinh ở khu

vực nông thôn cao hơn ở khu vực thành thị là do nguyên nhân sự nhận thức và tiếp

thu các kiến thức về KHHGĐ của người dân thành thị luôn nhanh và có hiệu quả hơn

người dân nông thôn. Bên cạnh đó các thông tin, truyền thông về dân số và KHHGĐ

đến với từng người dân thành thị được thuận lợi dễ dàng hơn.. Một nguyên nhân nữa

là do đặc thù của huyện, đặc biệt là các xã chiếm trên 80% dân số là dân tộc nên sự

nhận thức về kiến thức KHHGĐ còn rất hạn chế. Đặc biệt do sự nhận thức của người

dân các xã còn trọng nam khinh nữ nên số người sinh con thứ 3 trở lên ở các xã chiếm

tỷ lệ cao, trong năm 2019 toàn huyện có 117 cháu ra đời là con thứ 3 trở lên. Tuy

nhiên, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên toàn huyện giảm từ 2% năm 2017 xuống còn 1,61%

năm 2019.

Bảng 2.3. Dân số huyện Ba Chẽ giai đoạn 2017-2019

Năm Năm Năm STT Chỉ tiêu ĐVT 2017 2018 2019

Dân số phân theo thành thị, Người 21.977 23.377 22.210 1 nông thôn

Người 4.605 4.652 4.676 Thành thị -

Người 17.372 17.725 17.534 Nông thôn -

Dân số phân theo giới tính Người 21.977 22.377 22.210 2

Người 11.328 11.559 11.424 Nam -

Người 10.649 10.818 10.786 Nữ -

‰ 23,9 20,9 19,6 Mức giảm tỷ suất sinh 3

% 2,0 1,68 1,61 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 4

Nguồn: Niên giám thống kê 2019

43

* Về lao động và việc làm

Bảng 2.4.Tình hình lao độnghuyện Ba Chẽ giai đoạn 2017-2019

Năm Năm Năm STT Chỉ tiêu ĐVT 2017 2018 2019

Số người trong độ tuổi

1 lao động phân theo thành Người 13.867 13.631 13.811

thị, nông thôn

Thành thị Người 3.425 2.984 3.938 -

Nông thôn Người 10.442 10.647 9.873 -

Số người trong độ tuổi

2 lao động phân theo giới Người 13.867 13.631 13.811

tính

Nam Người 7.388 7.261 7.345 -

Nữ Người 6.479 6.370 6.466 -

Lao động theo ngành, Người 13.867 13.631 13.811 3 lĩnh vực

Nông nghiệp Người 10.066 10.196 9.855 -

Phi nông nghiệp Người 3.801 3.435 3.956 -

Giải quyết việc làm mới Lao động 475 495 550 4

Tỷ lệ lao động qua đào % 46,7 52,1 63,5 5 tạo

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2019

Số người trong độ tuổi lao động của huyện tính đến hết năm 2019 là 13.811

người, chiếm 62,2% tổng dân số toàn huyện. Giai đoạn 2017-2019 có sự chuyển dịch

lao động giữa khu vực thành thị và nông thôn, trong khi lao động thành thị tăng từ

3.425 người năm 2017 lên 3.938 người năm 2019 thì lao động nông thôn giảm từ

10.442 người năm 2017 xuống còn 9.873 người năm 2019 là Như vậy có thể thấy

lao động khu vực nông thôn vẫn chiếm một tỷ trọng rất lớn. Điều này đặt ra vấn đề

phải tạo việc làm cho lao động ở nông thôn.

44

Lao động theo giới tính: Lao động là nam giới tính đến hết năm 2019 là 7.345

người, chiếm 53,2% tổng số người trong độ tuổi lao động toàn huyện, tỷ lệ lao động

là nữ chiếm 46,8%.

Lao động theo ngành, lĩnh vực: Lao động có việc làm và đang làm việc ở các

ngành kinh tế của huyện tuy có tăng khá, song cơ cấu còn bất hợp lý. Số lao động

làm việc tại các ngành công nghiệp, dịch vụ tính đến hết năm 2019 là 3.956 người

trong khi lao động thuộc khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản là 9.855 người, chiếm

71,3% tổng số lao động toàn huyện. Mặc dù đã có sự chuyển dịch lao động từ khu

vực nông thôn sang khu vực thành thị nhưng tỷ lệ còn rất thấp. Lao động có tay nghề,

có kỹ năng, được đào tạo trong các lĩnh vực còn thấp cả về số lượng và chất lượng.

Số người được giải quyết việc làm mới trong giai đoạn 2017-2019 là 1.520 lao

động, bình quân giải quyết việc làm cho 506 lao động/năm. Tỷ lệ lao động qua đào

tạo tăng từ 46,7% năm 2017 lên 63,5%, điều đó cho thấy huyện rất quan tâm đến

công tác giáo dục đào tạo, qua đó góp phần đáng kể vào việc giải quyết việc làm và

giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện.

* Về thu nhập của người dân:

Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 25,6 triệu đồng năm 2017 lên 37,6 triệu

đồng năm 2019, nguyên nhân là do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành đã

góp phần tăng thu nhập cho người dân. Nếu khai thác tốt những tiềm năng thế mạnh

của huyện thì thu nhập bình quân đầu người còn có thể tăng cao hơn nữa.

Bảng 2.5.Thu nhập bình quân đầu người giai đoạn 2017-2019

Năm Năm Năm Chỉ tiêu ĐVT 2017 2018 2019

Triệu Thu nhập bình quân đầu người 25,6 33,2 37,6 đồng

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2019

45

2.1.2. Cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục:

2.1.2.1. Giao thông

Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và giao lưu hàng hóa, vật tư của nhân

dân. Trong những năm qua nhiều công trình giao thông, đặc biệt là giao thông nông

thôn đã hoàn thành, góp phần cơ bản đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hóa và đi lại

của nhân dân, thúc đẩy kinh tế huyện phát triển. Hiện trạng hệ thống giao thông đường

bộ của huyện hiện nay như sau:

Đường tỉnh lộ: Ba Chẽ có 3 trục đường tỉnh lộ là:

Tỉnh lộ 330: Hải Lạng - Ba Chẽ - Lương Mông - Sơn Động (Bắc Giang): dài

63 km. Hiện nay đang là cấp 6 miền núi: nền đường 6m, mặt đường 3,5m, kết cấu

mặt đường là bê tông xi măng.

Tỉnh lộ 342: Thanh Lâm (Ba Chẽ) - Kỳ Thượng (Hoành Bồ): dài 22,2km đạt tiêu

chuẩn cấp 6 miền núi: nền đường 6m, mặt đường 3,5m.

Tỉnh lộ 329: Thị trấn Ba Chẽ - Mông Dương (Cẩm Phả): có chiều dài 17km,

hiện nay đạt tiêu chuẩn cấp IV miền núi: nền đường 9m, mặt đường 6,5m.

Đây là các trục đường chính của tỉnh qua huyện có tầm quan trọng trong phát

triển kinh tế - xã hội của huyện nên trong giai đoạn tới cần nâng cấp các trục đường này.

Đường huyện: Dài 116,62 km, trong đó kết cấu mặt đường là bê tông xi măng

là 72,62 km (đạt 62,27%); đường cấp phối đạt 2,2km (đạt 1,88%); đường đất là

41,8km (35,8%).

Đường xã: Dài 49,43 km. Trong đó, có 12,42 km bê tông, xi măng (chiếm

25,1%); còn lại 37,01 km là đường đất (chiếm 74,8%).

Đường thôn: Tổng chiều dài 54,22km (đã cứng hóa 6,82%).

Đường ngõ xóm: Tổng chiều dài 143,41 km (hiện nay đã cứng hóa 9,96%).

Đường nội đồng: Tổng chiều dài là 119,71 km (chủ yếu là đường đất).

Đường đô thị thuộc thị trấn Ba Chẽ: dài 15,553 km hầu hết đó được bê tông

hóa, chất lượng khá.

Như vậy, có thể nói hệ thống giao thông được quan tâm đầy tư đã góp phần

quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, là điều kiện quan trọng đối với

việc hình thành và phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung.

46

2.1.2.2. Hiện trạng thủy lợi

Do đặc thù là huyện miền núi, diện tích đất canh tác nông nghiệp nhỏ, manh

mún nên các công trình thủy lợi trong huyện hầu hết là công trình có công suất nhỏ,

phục vụ diện tích canh tác nhỏ.

Hiện nay, toàn huyện Ba Chẽ có 162,6 km kênh mương (trong đó: đã kiên cố

hóa là 114 km) với năng lực tưới 1.694,5 ha. Xã Đồn Đạc có hệ thống kênh dài nhất

(61,85km); thấp nhất là thị trấn Ba Chẽ với 6 tuyến dài 1,1km. Có 221 đập dâng

(nhiều nhất là xã Đồn Đạc 130 đập; thấp nhất là thị trấn Ba Chẽ 6 đập) với chiều dài

thân đập là 3,3289 km (trong đó đã kiên cố 1,8358 km) với năng lực tưới 556,68 ha.

Về chất lượng công trình: Đập xây chiếm 51,13%; đập đất chiếm 48,87%. Có

114 km kênh đã được đầu tư kiên cố (70,37%), còn lại 48,6 km (29,88%) là kênh đất.

Do điều kiện địa hình, chế độ thủy văn phức tạp nên 50% các công trình đã xuống

cấp cần được nâng cấp, sửa chữa.

Năng lực tưới tiêu của hệ thống thủy lợi mới đảm bảo được cho gần 700 ha

đất nông nghiệp.

Đánh giá chung: Trong những năm qua, các công trình thủy lợi của huyện đã

được cải thiện nhiều, góp phần quan trọng thúc đẩy sản xuất nông lâm nghiệp phát

triển. Tuy nhiên, hầu hết các công trình đều nhỏ, kênh mương có khoảng 50% là chưa

được kiên cố hóa nên mỗi mùa lũ đến hàng năm hệ thống kênh mương và các phai

đập bị sụt lở, xuống cấp nhanh chóng, hơn nữa do việc khai thác rừng bừa bãi cho

nên nguồn sinh thuỷ bị ảnh hưởng, lượng nước rất hạn chế.

2.1.2.3. Hệ thống điện

Hiện nay Ba Chẽ đã có 100% số xã có điện. Khó khăn lớn nhất hiện nay là số

hộ chưa sử dụng điện mặc dù chỉ chiếm tỷ lệ 0,6% nhưng lại sống rải rác ở các xã mà

đường giao thông không thuận tiện nên việc kéo điện lưới vào các thôn bản này là

hết sức khó khăn do địa hình hiểm trở, dốc cao, tốn kém rất nhiều kinh phí.

Nhận xét chung: Việc đầu tư phát triển hệ thống điện góp phần quan trọng đối

với thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, nhất là hệ thống điện phục vụ cho các

tiểu ngành công nghiệp chế biến nông sản, hệ thống điện phục vụ hế thống trạm bơm

47

tưới tiêu nông nghiệp, hệ thống điện phục vụ cho các trang trại và doanh nghiệp đầu

tư sản xuất nông nghiệp.

2.1.2.4. Hệ thống viễn thông

Mạng lưới viễn thông huyện hiện có: 1 tổng A1000 E10 có 5 trạm V5X đặt tại

các xã: Thanh Sơn, Thanh Lâm, Đạp Thanh, Lương Mông, Minh Cầm mỗi trạm có

dung lượng mắc: 288 số.

Trạm phát di động: có 4 mạng điện thoại và 4 trạm phát sóng là: Vina phone, Mobi

phone, Vietel mobile, EVN-Telecom ở thị trấn và 5 trạm phát Vina phone ở: Lương

Mông, Đạp Thanh, Thanh Lâm, Thanh Sơn, Nam Sơn, có 1 trạm Viete ở xã LươngMông.

Nhận xét chung: Hệ thống viễn thông có vai trò quan trọng trong việc quảng

bá các sản phẩm nông nghiệp mang tính đặc thù cho Ba Chẽ như: Ba kích, lâm nghiệp,

dược liệu. Đây chính là kênh thông tin, cầu nối quan trọng để các nhà đầu tư trong

lĩnh vực nông lâm nghiệp tiếp cận với Ba Chẽ để đầu tư vào các vùng sản xuất nông

nghiệp hàng hóa tập trung trong thời gian tới.

2.1.2.4. Hệ thống chợ

Đến nay toàn huyện có tổng số 5 chợ gồm 1 chợ tại trung tâm thị trấn Ba Chẽ

và 4 chợ phiên tại trung tâm các xã, nơi tập trung đông dân cư như: Chợ phiên Lương

Mông tại trung tâm cụm xã Lương Mông; Chợ phiên Đạp Thanh tại trung tâm cụm

xã Đạp Thanh; Chợ phiên Thanh Lâm; Chợ phiên Tầu Tiên tại trung tâm cụm xã Đồn

Đạc. Hầu hết các chợ trên hiện chưa đạt chuẩn tiêu chuẩn quy định.

Các chợ nằm tại trung tâm xã là đầu mối, nơi giao lưu buôn bán của nhân dân

trên địa bàn xã và các xã lân cận tuy nhiên các chợ là chợ phiên. Hệ thống chợ góp

phần quan trọng đối với việc tiêu thụ (tiêu thụ nội huyện) các sản phẩm nông nghiệp

hàng hóa của huyện. Đồng thời là nơi giao thương đối với các khách hàng ngoài

huyện có nhu cầu thu mua nông sản với nhu cầu lớn phục vụ cho công nghiệp chế

biến nông sản - thực phẩm.Tình hình lưu chuyển hàng hóa xã hội: Tổng mức bán lẻ

trên địa bàn huyện năm 2019 là 47.174 triệu đồng, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân

là 12,3%/năm giai đoạn 2015 - 2019. Số người kinh doanh thương mại năm 2015 là

458 người, tăng so với năm 2015 là 113 người.

48

2.1.2.5. Y tế:

Ngày càng được củng cố phát triển, từng bước được hoàn thiện từ tuyến huyện

đến tuyến xã. Cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế từng bước được đầu tư; 100% các

xã, thị trấn có trạm y tế và 95,5% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động; 100% xã,

thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế; giường bệnh tăng từ 60 giường năm 2015 lên 80

giường năm 2019. Đội ngũ cán bộ được tăng cường đào tạo, số bác sỹ tăng từ 8,2 bác

sỹ/10.000 dân năm 2015 lên 12 bác sỹ/10.000 dân năm 2019.

2.1.2.6. Giáo dục:

Hiện nay trên địa bàn huyện có 21 trường, trong đó có 7 trường mầm non, 14

trường phổ thông. Hệ thống trường lớp đáp ứng được nhu cầu học tập của con em

nhân dân, trong đó có 16 trường đạt chuẩn Quốc gia; 08 điểm trường có học sinh bán

trú xã dân nuôi. Toàn huyện luôn duy trì được 8/8 xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo

dục trung học cơ sở theo tiêu chí của Bộ Giáo dục và Đào tạo tạo. Chất lượng giáo

dục đang có sự chuyển biến tích cực, tăng quy mô học sinh, giảm tỷ lệ học sinh bỏ

học, nâng cao dân trí vùng đồng bào dân tộc.

2.1.2.6. Dịch vụ du lịch - khách sạn, nhà hàng:

Ba Chẽ được thiên nhiên ưu đãi với các thắng cảnh thiên nhiên rừng núi trùng

điệp với khí hậu trong lành, mát mẻ và hấp dẫn; bên cạnh đó là truyền thống và bản

sắc văn hóa của 8 dân thiểu số và một số di tích lịch sử như Miếu Ông, Miếu Bà; lò

sứ cổ Nam Sơn,… Tuy nhiên đến nay hạ tầng du lịch chưa được đầu tư đúng mức,

du khách cũng ít biết đến Ba Chẽ nên ngành du lịch và kinh doanh khách sạn nhà

hàng của huyện chưa phát triển.

2.1.2.7. Dịch vụ Tài chính - Ngân hàng:

Hiện nay trên địa bàn huyện có 02 chi nhánh ngân hàng chủ yếu: Ngân hàng

nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng chính sách xã hội. Nguồn vốn tín

dụng ngân hàng cả năm 2013 đạt 189,6 tỷ đồng đã đảm bảo kịp thời nhu cầu vay

vốn phục vụ đời sống và sản xuất của nhân dân, các doanh nghiệp (trong đó nguồn

vốn huy động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là 120 tỷ đồng;

Ngân hàng Chính sách xã hội là 69,9 tỷ đồng). Ngân hàng Chính sách xã hội đã

49

làm tốt công tác cho vay vốn phát triển sản xuất, góp phần xóa đói giảm nghèo,

giải quyết việc làm.

Những thành tựu trong phát triển kinh tế ở cả 3 khu vực nông nghiệp, công

nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là phát triển cơ sở hạ tầng, thu nhập của người dân ngày

càng một tăng là tiền đề quan trọng cho công tác giảm nghèo ở Ba Chẽ có kết quả tốt.

Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, công tác quy hoạch chậm, thiếu ổn

định nên hạn chế tốc độ phát triển, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư. Kết cấu hạ tầng

chưa đáp ứng yêu cầu phát triển lại là yếu tố không thuận lợi trong phát triển kinh tế

và trong giảm nghèo ở Ba Chẽ.

Đánh giá điều kiện Kinh tế - Xã hội ảnh hưởng tới công tác giảm nghèobền

vững của huyện

a. Thuận lợi

- Ba Chẽ với vai trò là sân sau của thành phố Cẩm Phả, Hạ Long. Huyện Ba

Chẽ không có đường quốc lộ đi qua, nằm xa trung tâm, đất đai rộng (2,9ha/người).

Tuy nhiên, huyện có điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội trên cơ

sở tiếp nhận các cơ sở sản xuất công nghiệp được di dời từ Cẩm Phả, Hạ Long (nhằm

giải phóng mặt bằng cho các dự án phát triển đô thị, dịch vụ của các thành phố này).

- Ba Chẽ là huyện có thế mạnh về rừng và đất rừng (rừng và đất rừng chiếm

90,8% diện tích tự nhiên); Huyện có điều kiện để phát triển các vùng nguyên liệu gỗ

phục vụ cho chế biến trong nước và xuất khẩu. Một bộ phận lớn người dân đã sống

và có nhiều kinh nghiệm trong canh tác nghề rừng nếu được đầu từ khoa học công

nghệ thì giá trị kinh tế lâm nghiệp sẽ tăng lên.

- Địa bàn chia thành các tiểu vùng thuận tiện cho việc phát triển sản xuất nông,

lâm nghiệp mang tính đặc thù; đặc biệt là phát triển kinh tế trạng trại, chăn nuôi đại

gia súc, phát triển cây hàng hóa, sản phẩm có lợi thế so sánh (Nấm Linh chi, Măng

tre mai, Thanh Long, Mía tím, Bí nương, Khoai sọ nương,…). Bên cạnh đó Ba Chẽ

có nhiều nguồn dược liệu quý hiếm đặc biệt là Ba kích tím, cây Trà Hoa vàng, cây

Sâm Nam,…

- Có điều kiện phát triển du lịch sinh thái với cảnh quan rừng núi, khe suối tạo

nên những ngọn thác bên cạnh những rừng cây thiên nhiên thơ mộng như khu du lịch

50

Thác Trúc, Khe Lạnh, Khe O,... Đây là những khu du lịch sinh thái đang còn tiềm ẩn

ở Ba Chẽ.

- Tài nguyên nhân văn huyện khá đa dạng: Ba Chẽ là huyện có 9 dân tộc anh

em. Mỗi dân tộc với những truyền thống và bản sắc riêng đã hình thành nên nền văn

hóa đa dạng nhiều nét độc đáo. Ngoài ra còn một số di tích lịch sử như Miếu Ông,

Miếu Bà; Lò sứ cổ Nam Sơn,… Các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể trên tạo ra

một lợi thế cho Ba Chẽ phát triển du lịch tâm linh, du lịch cộng đồng gắn với nền văn

hóa bản địa.

- Huyện đã đầu tư các tuyến đường giao thông (Tỉnh lộ 329, đường Cửa cái -

Cái Gian,…) tạo thuận lợi cho thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tại TP. Cẩm

Phả và TP. Hạ Long.

- Ba Chẽ có mỏ sét với trữ lượng khoảng 500 ha phân bố ở vùng hạ lưu sông

Ba Chẽ thuộc thôn Làng Mới, Cái Gian, Sơn Hải là nguồn tài nguyên có thể khai thác,

chế biến sét nguyên liệu cho công nghiệp. Ngoài ra còn có mỏ đá xây dựng chiếm

diện tích khá lớn (20km2) thuộc thôn Bắc Cáy- xã Đồn Đạc (là đá mác ma, đá ryolit,...)

nhân dân khai thác làm đá xây dựng.

b. Khó khăn

- Vị trí địa lý không thuận lợi, không nằm trên quốc lộ đường 18A. Vì thế Ba

Chẽ giao lưu với bên ngoài có nhiều hạn chế. Đây cũng là một trong những nguyên

nhân làm cho sản xuất của huyện chậm phát triển.

- Tuy không thuộc vùng núi cao nhưng địa hình chia cắt phức tạp nên phần

lớn là đất dốc, thung lũng nhỏ hẹp gây khó khăn cho phát triển sản xuất nông nghiệp

cũng như phát triển cơ sở hạ tầng.

- Huyện nằm cách xa trung tâm kinh tế, công nghiệp của tỉnh nên có nhiều hạn

chế trong việc giao lưu kinh tế, tiếp cận khoa học công nghệ cũng như cạnh tranh thu

hút đầu tư từ bên ngoài.

- Điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, tiềm lực kinh tế của huyện còn nhỏ. Thu

ngân sách trên địa bàn thấp, phần trợ cấp của ngân sách tỉnh chiếm trên 90%. Thu nhập

bình quân đầu người thấp, năm 2019 là 34 triệu đồng/người/năm, bằng 26% so với mức

thu nhập bình quân của tỉnh Quảng Ninh.

51

- Kết cấu hạ tầng còn nhiều yếu kém so với yêu cầu phát triển: các tuyến đường

đi các huyện và tỉnh bạn chưa thông thương, gây khó khăn đi lại trong mùa mưa lũ.

Huyện thường xảy ra ngập lụt, hiện nay chưa có hồ chứa.

- Công nghiệp chưa phát triển, chủ yếu sản xuất nông, lâm nghiệp thuần túy.

Tuy một số vùng chuyên canh đã hình thành nhưng hiện nay sản xuất chủ yếu vẫn

mang tính tự phát, nhỏ lẻ. Tập đoàn cây lâm nghiệp chủ yếu là cây nguyên liệu ngắn

ngày, năng suất thấp (năng suất keo 70m3/ha).

- Hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp- tiểu thủ công

nghiệp còn mang tính tự phát, manh mún, kém hiệu quả và chưa có quy hoạch ổn

định, lâu dài. Ngành nghề thủ công nghiệp chậm phát triển, chưa tạo ra được nhiều

việc làm cho người lao động và chưa có những sản phẩm hàng hóa có tính chất cạnh

tranh trên thị trường.

- Mặt bằng dân trí chưa cao, một bộ phận lớn dân cư chưa có ý thức tự giác

vươn lên thoát nghèo, phong tục tập quán lạc hậu, tư tưởng trông chờ ỷ lại vào Nhà

nước còn nhiều.

2.2. Nội dung nghiên cứu

Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung chính sau đây:

- Thực trạng công tác giảm nghèo, những kết quả đã đạt được của chương trình

đến giảm nghèo huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.

+ Hệ thống văn bản quy định có liên quan về giảm nghèo bền vững

+ Công tác chỉ đạo triển khai, hướng dẫn khảo sát của Ban Chỉ đạo giảm nghèo

huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

+ Kết quả giảm nghèo tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

- Thu nhập hộ gia đình và đánh giá chương trình giảm nghèo tại địa phương

+ Thu nhập hộ gia đình huyện Ba Chẽ

+ Đánh giá của người dân về chương trình giảm nghèo tại địa phương

- Hạn chế, yếu kém và yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và giảm nghèo tại địa

bàn nghiên cứu

+ Hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

52

+ Một số yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và giảm nghèo của hộ gia đình huyện

Ba Chẽ

- Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo, góp

phần giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội đối với địa bàn huyện miền núi Ba Chẽ,

tỉnh Quảng Ninh

2.3.Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Tiếp cận nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sử dụng các tiếp cận sau đây:

- Tiếp cận vĩ mô: Sử dụng tiếp cận vĩ mô để thu thập các thông tin số liệu ở

tầm tổng thể, bao quát trên phạm vi toàn huyện Ba Chẽ hoặc thu thập thông tin qua

khảo sát ở cấp ban, ngành liên quan đến hoạt động giảm nghèo. Nghiên cứu khảo sát

các nội dung nghiên cứu trên phạm vi toàn huyện Ba Chẽ.

- Tiếp cận vi mô: Sử dụng tiếp cận này để nghiên cứu một cách chi tiết, chuyên

sâu các thông tin số liệu thu thập ở cấp độ hộ gia. Nghiên cứu, thu thập những số liệu

từ các hộ gia đình, những điển hình thông qua việc khảo sát và phỏng vấn trực tiếp

hộ trên địa bàn nghiên cứu đã xác định.

- Tiếp cận hệ thống: Hệ thống cấp từ huyện đến cấp hộ gia đình. Sử dụng tiếp

cận hệ thống để nghiên cứu một cách bài bản, đầy đủ và toàn diện các nội dung nghiên

cứu.

2.3.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu

a) Thu thập số liệu thứ cấp

Tài liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ sách, báo, tạp chí,

các trang web và các công trình nghiên cứu đã được công bố, các báo cáo, nghị quyết

của tỉnh Quảng Ninh, của huyện Ba Chẽ,...

Các tài liệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu được thu thập ở các phòng ban

của huyện và thông qua các báo cáo, thống kê tình hình kinh tế xã hội hằng năm của

huyện Ba Chẽ (Phòng Lao động-Thương binh và xã hội, Phòng Nông nghiệp &PTNT,

Phòng Tài chính - Kế hoạch, Chi cục thống kê và các Phòng ban liênquan).

b) Thu thập số liệu sơ cấp

53

Chọn điểm nghiên cứu

Với mục tiêu nghiên cứu, đề tài lựa chọn điều tra 150 hộ tại 03 xã của huyện

Ba Chẽ, các xã này đại diện cho các tiểu vùng và là nơi sinh sống của nhóm dân tộc

chính trên địa bàn huyện Ba Chẽ. Đối tượng điều tra bao gồm các dân tộc Kinh, Tày,

Sán Chỉ, Dao Thanh Y, Dao Thanh Phán; thông qua đây có sự so sánh và đánh giá

trình độ phát triển, trình độ nhận thức, ý thức của các nhóm dân tộc trong công tác

giảm nghèo.

Lựa chọn mẫu điều tra:

Bảng 2.1. Số lượng, cỡ mẫu nhóm hộ điều tra

Stt Xã Cỡ mẫu Tiêu chí

1 Lương Mông 40 Xã đại diện tiểu vùng 1

2 Thanh Lâm 45 Xã đại diện tiểu vùng 2

3 Đồn Đạc 65 Xã đại diện tiểu vùng 3

Tổng số 150

- Phương pháp điều tra phỏng vấn bằng phiếu điều tra

Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra hay còn gọi là bảng hỏi.

Đối tượng điều tra là các hộ gia đình thuộc diện cận nghèo và nghèo tại huyện 3 xã

điều tra. Nội dung của bảng hỏi bao gồm các thông tin liên quan đến đặc điểm danh

tính của của hộ gia đình, nguồn lực của hộ, thu nhập của hộ qua các năm 2016-2018,

ý kiến đánh giá của chủ hộ về chương trình giảm nghèo đang triển khai thực hiện tại

địa phương,,... Có 150 phiếu điều tra đã được thu thập số liệu tại 3 xã trên đây. Trong

mỗi xã, việc lựa chọn hộ để điều tra phỏng vấn dựa trên sự thuận tiện trong quá trình

khảo sát phỏng vấn trực tiếp hiện trường (Bảng 2.1). Số liệu điều tra được nhập trên

Excel dựa trên form đã thiết lập. Mẫu phiếu điều tra và số liệu điều tra này được trình

bày ở phụ lục.

54

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp

Sử dụng phương pháp này để tìm hiểu rõ thêm những điển hình, những hộ đã

thoát nghèo và giảm nghèo tại các xã được lựa chọn nghiên cứu nhằm minh họa rõ

thêm cho các đánh giá.

- Phương pháp quan sát trực tiếp

Quan sát trực tiếp hiện trường kết hợp với các chuyến đi thực địa tại 8 xã được

lựa chọn để thu thập các thông tin số liệu liên quan đến công tác giảm nghèo nhằm

hiểu rõ hơn về hoạt động của công tác giảm nghèo đang được triển khai ở địa phương

như thế nào.

2.3.2.2. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu

a) Phương pháp phân tích Excel

Các loại số liệu thu thập phục vụ nghiên cứu được được kiểm tra, phân tổ và

tổng hợp theo hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu đã xây dựng sử dụng phần mềm thống kê

Excel/PivotTable (Dương Văn Sơn và Bùi Đình Hòa, 2012). Các thông tin định lượng

trong bảng hỏi (phiếu điều tra) được tính toán xử lý một số đại lượng thống kê thông

dụng của mẫu như: Độ lệch chuẩn (SD), sai số chuẩn (SE) và hệ số biến động (CV%).

b) Phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp thống kê mô tả được áp dụng trong nghiên cứu nhằm phân tích

thực trạng công tác giảm nghèo và kết quả giảm nghèo trong các năm 2016, 2017 và

2018 thông qua việc sử dụng hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu đã xây dựng phản ánh

dưới dạng số tuyệt đối, số tương đối, số trung. Các kết quả này được biểu diễn dưới

dạng các bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị.

c) Phương pháp so sánh

Phương pháp này được sử dụng để đánh giá thực trạng giảm nghèo ở huyện

Lục Yên thông qua việc so sánh các chỉ tiêu nghiên cứu theo các mốc thời gian, theo

nhóm hộ khác nhau về dân tộc, về nghề nghiệp,... Kết quả của phân tích này sẽ là cơ

sở của việc tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng giảm nghèo và triển khai các

giải pháp góp phần nâng cao công tác giảm nghèo ở địa phương.

55

2.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn

2.4.1. Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với chương

trình giảm nghèo bền vững ở địa phương

- Hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến giảm nghèo từ Trung ương đến tỉnh

Quảng Ninh và huyện Ba Chẽ

- Công tác chỉ đạo triển khai, hướng dẫn khảo sát của Ban Chỉ đạo giảm nghèo

huyện Ba Chẽ; các khó khăn, bất cập, hạn chế, yếu kém,…

2.4.2. Nhóm các chỉ tiêu về kết quả đã đạt được của chương trình giảm nghèo qua

các năm 2017, 2018 và 2019

- Tổng số hộ toàn huyện và số hộ tại địa bàn được lựa chọn để nghiên cứu qua

các năm2017, 2018 và 2019

- Tổng số hộ cận nghèo toàn huyện và số hộ cận nghèo tại địa bàn được lựa

chọn để nghiên cứu qua các năm2017, 2018 và 2019

- Tổng số hộ nghèo toàn huyện và số hộ nghèo tại địa bàn được lựa chọn để

nghiên cứu qua các năm 2017, 2018 và 2019

- Tỷ lệ hộ cận nghèo toàn huyện và số hộ cận nghèo tại địa bàn được lựa chọn

để nghiên cứu qua các năm 2017, 2018 và 2019

- Tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện và số hộ nghèo tại địa bàn được lựa chọn để

nghiên cứu qua các năm 2017, 2018 và 2019.

- Tỷ lệ hộ cận nghèo giảm năm 2017, 2018 và 2019 trên địa bàn toàn huyện

và địa bàn được lựa chọn để nghiên cứu

- Các thông tin chi tiết về những điển hình thoát nghèo tại các xã được lựa

chọn nghiên cứu.

2.4.3. Nhóm thông tin liên quan đến hộ gia đình và thu nhập của hộ gia đình

- Các thông tin về đặc điểm danh tính của hộ gia đình: họ tên, tuổi, dân tộc,

nghề nghiệp, địa chỉ,...

- Các thông tin về nguồn lực của hộ gia đình: Nhân khẩu, lao động, vốn,...

- Các thông tin về thu nhập của hộ theo các năm 2016, 2017, 2018 và 2019

- Các thông tin đánh giá của người dân về chất lượng các công trình cơ sở hạ

tầng được xây dựng bằng nguồn vốn giảm nghèo, về mức hỗ trợ của chương trình,

56

cách thức triển khai chương trình, sự phù hợp của chương trình, tác động của chương

trình, hiệu quả của chương trình giảm nghèo, các thay đổi cuộc sống, nguyên nhân

của sự thay đổi,...

2.4.4. Nhóm thông tin liên quan hạn chế, yếu kém, nguyên nhân và giải pháp

- Hạn chế, yếu kém trong công tác giảm nghèo

- Nguyên nhân của hạn chế yến kém

- Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo, góp phần

giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội đối với địa bàn huyện miền núi Ba Chẽ, tỉnh

Quảng Ninh.

57

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thực trạng công tác giảm nghèo huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

3.1.1. Hệ thống văn bản quy định có liên quan về giảm nghèo bền vững

- Quyết định số 1064/QĐ-TTg ngày 08/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ Phê

duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Trung du và Miền núi phía

Bắc đến năm 2020 với quan điểm phát triển là: “Tập trung đầu tư có trọng điểm vào

những ngành, lĩnh vực có lợi thế của các địa phương trong Vùng. Phát triển kinh tế

gắn với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo và

nâng cao mức sống nhân dân trong Vùng, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu

số ở địa bàn kháng chiến cũ, vùng khó khăn”.

-Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII (nhiệm kỳ 2010 -

2015) xác định mục tiêu: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng;

xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát triển kinh tế với tốc độ

nhanh và bền vững; đẩy mạnh đầu tư, tạo bước phát triển đột phá về cơ sở hạ tầng

giao thông, đô thịvà phát triển nông thôn; phát triển văn hoá, đảm bảo an sinh xã hội

tương xứng với phát triển kinh tế, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, nâng cao chất

lượng nguồn nhân lực; tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, cải thiện rõ rệt môi

trường sinh thái; giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng, an ninh và trật tự

an toàn xã hội”.

- Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 29/5/2013 về Tăng cường sự lãnh đạo của

Đảng về công tác dân tộc trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững

gắn với bảo vệ vững chắc quốc phòng, an ninh tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, định

hướng đến năm 2030: “…Các cấp ủy Đảng, chính quyền tập trung lãnh đạo phát

triển toàn diện kinh tế- xã hội; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, phát triển sản xuất,

giảm nghèo bền vững và xây dựng kết cấu hạ tầng, đồng thời giải quyết tốt các vấn

đề an sinh xã hội.

- Nghị quyết số 108/NQ-HĐND ngày 27/9/2013 của HĐND tỉnh thông qua

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm

nhìn đến năm 2030.

58

- Quyết định 161/QĐ-UBND ngày 22/01/2014 của UBND tỉnh Quảng Ninh

phê duyệt chương trình giảm nghèo bền vững tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2014-2015

và định hướng đến năm 2020.

- Quyết định số 913/QĐ-UBND ngày 30/3/2016 của UBND tỉnh Quảng Ninh

về phân bổ nguồn vốn ngân sách Trung ương, ngân sách tỉnh hỗ trợ Chương trình

mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững(Chương trình 135) và chính sách hỗ trợ đất

ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở

các xã, thôn đặc biệt khó khăn.

- Định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Ba Chẽ đến

năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 xác định: “…Khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế

của huyện để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Phấn đấu đến năm 2020

cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch theo hướng công nghiệp - lâm nông nghiệp -

dịch vụ gắn với cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, giảm nghèo

nhanh và bền vững. Bản sắc văn hóa dân tộc được bảo tồn và phát huy. Hoàn thành

mục tiêu Chương trình Xây dựng nông thôn mới...”.

3.1.2. Công tác chỉ đạo triển khai, hướng dẫn khảo sát của Ban Chỉ đạo giảm

nghèo huyện Ba Chẽ

Triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững tại huyện Ba

Chẽ gồm 2 cấp như sau:

Cấp huyện: Thành lập Ban chỉ đạo giảm nghèo cấp huyện do Chủ tịch UBND

huyện làm Trưởng ban, thành viên gồm các đồng chí là Trưởng các Phòng, Ban có

liên quan đến các dự án thành phần của Chương trình; phân công các đồng chí lãnh

đạo huyện và lãnh đạo các phòng ban phụ trách các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn.

BCĐ giảm nghèo của huyện đã phân công các thành viên phụ trách từng địa bàn cụ

thể. Lãnh đạo các nghành thành viên của BCĐ giảm nghèo huyện căn cứ vào chức

năng nhiệm vụ của cơ quan mình tham mưu cho BCĐ và UBND huyện tổ chức triển

khai thực hiện tốt các chương trình nguồn vốn đầu tư của Nhà nước.

- Cấp xã: Thành lập Ban giảm nghèo, Ban quản lý Chương trình 135, Ban

Giám sát xã, trên cơ sở kiện toàn Ban giám sát xã của giai đoạn 2016-2020.

59

UBND huyện Ba Chẽ đã kiện toàn BCĐ giảm nghèo của huyện và chỉ đạo

kiện toàn BCĐ giảm nghèo cấp xã, thị trấn.

Cấp ủy Đảng và Chính quyền các xã, thị trấn đều xây dựng kế hoạch giảm

nghèo của địa phương trên cơ sở Kế hoạch huyện giao và hướng dẫn của cơ quan

chuyên môn cấp trên.

3.1.3. Kết quả giảm nghèo tại huyện Ba Chẽ

Trong những năm qua, cùng với sự tăng trưởng kinh tế cao và tương đối ổn định,

hàng loạt các chính sách XĐGN được triển khai đồng bộ ở tất cả các xã, thị trấn đã cải

thiện đáng kể diện mạo nghèo đói ở huyện, đặc biệt là vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc.

Những nỗ lực trên đã góp phần làm giảm nhanh tỷ lệ nghèo hộ nghèo của huyện từ 23,50%

năm 2009 (chuẩn cũ) xuống còn 16,55% năm 2019 (chuẩn mới). Bộ mặt các xã nghèo đã

có sự thay đổi đáng kể, chất lượng cuộc sống của người dân được nâng lên. Nhiều chính

sách tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ sản xuất, dịch vụ xã hội cơ bản được

thực hiện như lập quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo, huy động nguồn lực xóa nhà ở

tạm bợ,… đời sống vật chất văn hoá tinh thần của nhân dân được nâng lên. Các chỉ tiêu

của chương trình cơ bản hoàn thành theo đúng lộ trình, cụ thể:

- Tỷ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm giảm 10%, không có hộ tái nghèo, phát

sinh nghèo (Các hộ hộ tái nghèo, phát sinh nghèo hàng năm, nguyên nhân chủ yếu do

ốm đau bệnh tật, thiếu lao động, mới tách hộ, đông con, lao động chính bị chết,…)

- Có 6 xã (Lương Mông, Minh Cầm, Đạp Thanh, Thanh Lâm, Thanh Sơn) đã

được Chính phủ công nhận hoàn thành chương trình 135 của Chính phủ và thoát ra

khỏi danh sách các xã đặc biệt khó khăn của Tỉnh.

- Nhận thức của nhân dân về công tác giảm nghèo đã có bước chuyển biến tích

cực. Người dân đã thấy được trách nhiệm của mình trong việc XĐGN từ đó họ tự nỗ

lực vươn lên thoát nghèo.

- Các chính sách, dự án giảm nghèo của nhà nước và của Tỉnh cơ bản đảm

bảo tạo cho chương trình hiệu quả, nhất là chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng các xã, đặc

biệt khó khăn; tín dụng hộ nghèo, khuyến nông, khuyến lâm, đào tạo nâng cao năng

lực cho cán bộ giảm nghèo, dạy nghề cho lao động nông thôn,...

60

- Nhiều mô hình hay, cách làm mới đã đươc ứng dụng góp phần nâng cao hiệu

quả năng suất lao động trong sản xuất nông – lâm nghiệp trên địa bàn, như: Mô hình

trồng Nấm linh chi, trồng Ba kích tím, trồng Măng tre mai, thanh long, trồng cây chè

rừng, nuôi gà đồi, ngan đen, trồng cây dược liệu,...

- Số lượng và tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2016-2019:

+ Năm 2016 tổng số hộ toàn huyện tại thời điểm 31/10/2016 là 4.415 hộ, số

hộ nghèo là 2.097 hộ (theo tiêu chí mới) chiếm tỷ lệ 16,48,13 %.

+ Năm 2017 tổng số hộ toàn huyện tại thời điểm 31/10/2017 là 4.588 hộ, số

hộ nghèo là 1.624 hộ chiếm tỷ lệ 35,39%.

+ Năm 2018 tổng số hộ toàn huyện tại thời điểm 31/10/2018 là 4.746 hộ, số

hộ nghèo là 1.299 hộ chiếm tỷ lệ 27,37%. Hộ cận nghèo 662 hộ, chiếm 13,94%.

- Năm 2019 tổng số hộ toàn huyện tại thời điểm 31/10/2109 là 4.899 hộ dân,

số hộ nghèo là 811 hộ chiếm tỷ lệ 16,55%; hộ cận nghèo 656 hộ, chiếm 13,4% tổng

số hộ trên địa bàn huyện.

Từ năm 2016 việc rà soát hộ nghèo được thực hiện theo Quyết định số

59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn

nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020; Thông tư số 17/2016/TT-

BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ Lao động TB&XH hướng dẫn quy trình rà soát

hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho

giai đoạn 2016-2020.

Đánh giá kết quả giảm hộ nghèo huyện Ba Chẽ giai đoạn 2016-2019

Qua bảng trên cho thấy số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm,

tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm 10%. Nhiều xã có tỷ lệ giảm nghèo rất tốt

(Lương Mông, Đạp Thanh, Thanh Lâm); Tuy nhiên bên cạnh đó, một số xã còn có tỷ

lệ hộ nghèo rất cao (xã Đồn Đạc, Nam Sơn). Nguyên nhân của sự khác biệt trên: Đối

với những xã có tỷ lệ hộ nghèo thấp, nhận thức của cấp ủy, chính quyền đối với công

tác giảm nghèo rất cao, đã quan tâm đầu tư xây dựng các mô hình kinh tế, vận động

người dân tích cực tham gia triển khai thực hiện; làm tốt công tác giải quyết việc làm

cho hộ nghèo; người dân nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của bản thân và gia đình

đối với công tác giảm nghèo. Ngược lại, những xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, bên cạnh

61

yếu tố địa bàn rộng, bị chia cắt, giao thông đi lại khó khăn; ở đây các hình thức tổ

chức sản xuất chưa được phát triển, vai trò của cấp ủy, chính quyền và cộng đồng

tham gia vào hoạt động giảm nghèo còn hạn chế; nhận thức, tính chủ động tham gia

các hoạt động giảm nghèo của người dân chưa cao.

Hoạt động giảm nghèo và chỉ số giảm nghèo trong thời gian quan trên địa bàn

huyện Ba Chẽ đã có nhiều khởi sắc; tuy nhiên những kết quả trên chưa phản ánh đúng vấn

đề giảm nghèo bền vững trong cộng đồng dân cư; những vấn đề mang tính trụ cột trong

giảm nghèo bền vững chưa chưa được phân tích đánh giá một cách sát thực, chưa đi sâu

vào giải quyết những nguyên nhân sâu xa, cản trở đến công tác giảm nghèo.

Bảng 3.1. Thực trạng hộ nghèo huyện Ba Chẽ giai đoạn 2016-2019

Năm 2016

Năm 2017

Năm 2018

Năm 2019

Tổn

Hộ

Tổn

Danh mục

Hộ

Tỷ lệ

Tổng

Hộ

Tỷ lệ

Tỷ lệ

Tổng

Hộ

Tỷ lệ

g số

nghè

g số

nghèo

(%)

số hộ

nghèo

(%)

(%)

số hộ

nghèo

(%)

hộ

o

hộ

9

Lương Mông 318

36 11,32 328

4,88

339

2,65

344

16

4

1,16

Minh Cầm

113

54 32,99 120

18,26

126

14 16,82 129

31

3

9,64

Đạp Thanh

409

257 45,69 429

176

34,81

447 113 28,3

466

43

16,5

Thanh Lâm

383

200 34,92 388

152

25,46

424 115 19,00 439

73 11,47

Thanh Sơn

343

219 60,59 364

182

46,05

380 152 36,36 391

94 25,74

Nam Sơn

540

347 61,14 566

236

57,17

602 200 54,83 608

158 38,18

Đồn Đạc

1.175 906 58,43 1.238

767

52,23 1.271 651 48,33 1.340 410 45,78

1.13

Thị Trấn

78 14,85 1.155

64

10,63 1.157 45 10,45 1.182

26

5,91

4

4.41

2.09

Tổng cộng

47,50 4.588 1.624 35,40 4.746 1.299 27,37 4.899 811 16,55

5

7

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2019

3.2. Đánh giá chương trình giảm nghèo huyện Ba Chẽ

Để có số liệu phục vụ việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã tiến hành điều tra 150

hộ thuộc 3 xã: Lương Mông, Thanh Lâm, Đồn Đạc, cụ thể:

62

Bảng 3.2. Phân loại hộ điều tra

Nghèo và cận nghèo Thoát nghèo

Đơn vị Lương Mông Thanh Lâm

Stt 1 2 3 Đồn Đạc Tổng Tổng 40 45 65 150 20 22 30 72 20 23 35 78 (Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2019)

Đối với các hộ nghèo chúng tôi tập trung điều tra nghiên cứu các nguyên nhân

chủ yếu dẫn đến nghèo và các kiến nghị đề xuất của các chủ hộ nhằm tìm ra những

giải pháp thiết thực giúp các hộ vươn lên thoát nghèo. Đối với các hộ không nghèo,

chúng tập trung điều tra nghiên cứu thu nhập, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh của

các hộ để làm cơ sở cho các giải pháp thoát nghèo trên địa bàn toàn huyện. Bên cạnh

đó là tìm hiểu các nguồn lực của các trong phát triển kinh tế của 02 nhóm hộ trên,

thông qua đó hiểu rõ hơn về lý do của sự khác biệt giữa nhóm hộ nghèo và không

nghèo.

3.2.1. Năng lực của người dân trong giảm nghèo bền vững

a. Vốn nhân lực: Hộ nghèo theo độ tuổi và quy mô nhân khẩu

Trong nhóm hộ nghèo, số lao động bình quân/hộ gia đình là 1,83 thấp hơn so với

nhóm hộ không nghèo và thoát nghèo là 2,31; số lao động trực tiếp tham gia sản xuất và

có nghề phụ của nhóm hộ nghèo cũng thấp hơn so với nhóm hộ không nghèo.

Bảng 3.3. Lao động của hộ gia đình

Hộ nghèo và cận

không nghèo

nghèo

TT

Số lao động hộ

Tỷ lệ

Số hộ

Số hộ

Tỷ lệ (%)

(%)

0

0

1 Không có lao động

78.13

75

58

56.86

2 Từ 1 đến 2 lao động

21.88

21

44

43.14

3 Trên 2 lao động

1,83

2,31

4 Lao động bình quân/hộ

183

77,54

5 Lao động Lâm-nông nghiệp (người)

152

80,85

36

53

6 Lao động có nghề phụ (người)

96

102

Tổng

(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2019)

63

Việc thiếu lao động là một trong nguyên nhân tác động đến khả năng phát triển

kinh tế, vượt qua ngưỡng nghèo của các hộ gia đình. Phân tích bảng tổng hợp hộ

nghèo theo độ tuổi (Bảng 3.4) cho thấy lứa tuổi mà thuộc diện nghèo cao nhất là từ

18-30 và từ 31-40 tuổi; diện hộ nghèo từ 41 tuổi trở lên có xu hướng ổn định, tăng

giảm không nhiều qua các năm. Nguyên nhân của thực trạng trên là do:

Nguyên nhân thứ nhất: Tỷ lệ hộ gia đình trong độ tuổi từ 18 đến 40 cao, phần lớn

là do các hộ mới tách khẩu, chưa được chia đất rừng, diện tích đất phục vụ cho sản xuất

nông nghiệp ít hoặc không có; nhóm hộ này phải đầu tư cho xây dựng nhà cửa, vật dụng

trong gia đình, phương tiện sản xuất; nhiều hộ gia đình phải nuôi con nhỏ.

Bảng 3.4. Hộ nghèo theo độ tuổi năm 2015-2019

Năm Năm Năm Năm Năm Năm Stt Danh mục 2015 2016 2017 2018 2019

1 Tổng hộ nghèo 1.000 2097 1624 1299 811

2 Tổng số khẩu 4.452 9.437 7.307 5.711 3.611

153 Tuổi từ 18-30 (hộ) 415 853 580 382 3 596 Số khẩu 1.652 2.619 1.777 1.436

185 Tuổi từ 31-40 (hộ) 283 589 624 478 4 905 Số khẩu 1.429 2.961 3.156 2.393

312 Tuổi từ 41-60 (hộ) 216 427 316 250 5 Số khẩu 1.135 2.169 1.593 1.220 1.565

161 Tuổi từ 61 trở lên (hộ) 86 228 211 189 6 545 Số khẩu 321 849 781 662

(Nguồn: Số liệu tổng hợp từ Phòng Lao động TBXH huyện)

Nguyên nhân thứ hai: Là do tỷ lệ lao động phụ thuộc trong gia đình rất cao,

quy mô nhân khẩu bình quân của nhóm hộ nghèo năm 2019 là 4,51 nhân khẩu/hộ;

trong khi đó nhóm hộ không nghèo quy mô là 3,94 nhân khẩu/hộ. Đặc biệt qua kết

quả điều tra phần lớn các hộ gia đình trẻ được tách hộ thì vợ ở nhà chăm con nhỏ,

làm việc nhà, người chồng chịu trách nhiệm chính trong việc tìm kiếm các khoản thu

nhập từ làm thuê, khai thác lâm thổ sản,…

64

Nguyên nhân thứ ba: Là do tư tưởng của chủ hộ muốn tách khẩu để được

hưởng các cơ chế hỗ trợ về đất đai, nhà ở; đặc biệt là một bộ phận không nhỏ thanh

niên còn mang nặng tâm lý trông chờ, ỷ lại vào nhà nước, lười lao động; ý thức chưa

đầy đủ về việc phải tự giải thoát mình khỏi cảnh nghèo khó, chưa lo tích góp vốn để

đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh; còn cho rằng, đầu tư xóa đói, giảm nghèo là việc

của Nhà nước, của chính quyền các cấp. Đối với nhóm hộ nghèo có độ tuổi từ 40 tuổi

trở lên phần lớn nằm trong diện ốm đau, tàn tật; trong đó đáng chú ý là một bộ phận

không nhỏ hộ gia đình có điều kiện về kinh tế (diện tích rừng lớn, có lao động…) nhưng

không muốn thoát nghèo, không công khai các nguồn thu nhập trong quá trình điều tra,

bình xét,… một bộ phận thì mắc vào tệ nạn xã hội là cờ bạc (nhóm hộ này tập trung tại

các thôn Lang Cang, Nà Làng, Khe Vang xã Đồn Đạc).

- Trình độ học vấn của chủ hộ

Trình độ văn hóa của chủ hộ có ảnh hưởng lớn trong việc tiếp thu khoa học kỹ

thuật, đến trình độ tổ chức điều hành sản xuất cũng như chi tiêu của hộ. Kết quả điều

tra tổng hợp (bảng 3.5) cho thấy trình độ của những hộ nghèo thấp hơn hẳn những hộ

không nghèo. Trình độ trung bình của chủ hộ nghèo là lớp 5 còn những hộ không

nghèo là lớp 7.

Bảng 3.5. Trình độ học vấn của chủ hộ

Hộ nghèo và cận không nghèo nghèo Trình độ chủ hộ Stt Tỷ lệ Số hộ Tỷ lệ (%) Số hộ (%)

Chưa tốt nghiệp Tiểu học 11,76 12 26,04 25 1

Tốt nghiệp Tiểu học 56,86 58 59,38 57 2

Tốt nghiệp THCS 24,51 25 14,58 14 3

Tốt nghiệp THPT 6,86 7 0 4

Trung bình năm 7,039 5,708

(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2019)

Sự khác biệt về trình độ học vấn giữa hộ nghèo và hộ không nghèo cho thấy

học vấn có mỗi quan hệ tương đối chặt chẽ với tình trạng đói nghèo. Nên việc nâng

65

cao trình độ cho các hộ gia đình ở nông thôn miền núi là rất cần thiết. Tuy nhiên trong

quá trình khảo sát của nhóm điều tra cho thấy nhiều hộ nghèo có trình độ THCS và

đều thuộc các hộ gia đình trẻ; Ở đây có thể xác định được nguyên nhân nghèo của hộ

là do không biết cách làm ăn, thiếu kiến thức về khoa học kỹ thuật. Do vậy cần phải

đẩy mạnh hơn nữa việc nâng cao trình độ nhận thức cho người dân, để họ có thể tiếp

cận với trình độ kỹ thuật mới, phân tích được thông tin thị trường, để từ đó họ có thể

áp dụng cho hoạt động sản xuất, giúp họ tự thoát nghèo.

Bên cạnh yếu tố nâng cao trình độ học vấn và kiến thức sản xuất cho các hộ

gia đình, thì một nội dung quan trọng khác là động viên, đưa được lực lượng lao động

trẻ là con em của các hộ dân đã tốt nghiệp THCS, THPT đi học nghề, làm việc trong

ngành than hoặc lao động tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Thực tế cho thấy

nếu một hộ nghèo có một lao động được tuyển dụng làm việc tại các đơn vị trên thì

với mức lương, công lao động hiện tại có thể hỗ trợ gia đình thoát nghèo một cách

hiệu quả.

- Kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ

Kinh nghiệm sản xuât của chủ hộ có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra nguồn

thu nhập ổn định cho hộ gia đình, nâng cao hiệu quả sản xuất. Khi lao động gia đình

có kỹ năng và kiến thức tốt sẽ góp phần đa dạng hóa việc làm, thực hiện tốt hơn các

hoạt động sản xuất phi nông-lâm nghiệp góp phần nâng cao thu nhập cho hộ gia đình.

Bảng 3.6. Tổng hợp kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ

Hộ nghèo và cận

không nghèo

nghèo

Stt

Chỉ tiêu

ĐVT

Số hộ Tỷ lệ (%) Số hộ Tỷ lệ (%)

Hộ

37

38,54

54

52,94

1 Học nghề

Hộ

35

36,46

72

70,59

2 Tập huấn chuyển giao KHKT

Hộ

29

30,21

46

45,10

3 Thăm quan học tập kinh nghiệm

Được tư vấn, giúp đỡ của nhóm hộ

4

trong cộng đồng (cầm tay chỉ

Hộ

17

17,71

93

91,18

việc)

(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2019)

66

Từ kết quả điều tra cho thấy nhóm hộ nghèo có ít kinh nghiệm sản xuất hơn

từ việc tham gia các lớp học nghề, tham gia tập huấn, tham quan học tập mô hình.

Trong khi đó nhóm hộ thoát nghèo có số lượng hộ học nghề, được tập huấn rất cao.

Điều đáng nói là ý thức tham gia các chương trình tập huấn của người dân, đặc biệt

là nhóm hộ nghèo còn thấp, nhiều hộ gia đình có tư tưởng tham gia các lớp tập huấn

phải được hỗ trợ kinh phí mới tham gia, nếu không được hỗ trợ thì ở nhà. Kết quả

điều tra cũng cho thấy công tác tập huấn khoa học kỹ thật, hướng dẫn cách làm ăn

cho người dân được triển khai phổ cập đến mọi người dân, không phân biệt giầu,

nghèo. Tuy nhiên hiệu quả của các chương trình tập huấn vẫn chưa tạo ra được nhiều

các bước đột phá trong chuyển đổi nhận thức, thúc đẩy sản xuất của người dân.

Nguyên nhân là do nhiều nội dung mang tính chung chung, thiếu cụ thể, chưa sát với

nhu cầu của người dân, đặc biệt là chưa có sự phân loại định hướng cho từng đối

tượng cụ thể.

Kết quả điều tra cũng cho thấy, tính hiệu quả rất cao trong việc tư vấn, giúp

đỡ nhau thoát nghèo, giúp đỡ nhau làm giầu trong cộng đồng dân cư; đặc biệt là việc

học tập kinh nghiệm sản xuất từ những hộ tại địa phương theo hình thức cầm tay chỉ

việc, 93% số hộ thoát nghèo được nhận sự tư vấn giúp đỡ thường xuyên của cộng

đồng và của hộ khá giả, có kinh nghiệm làm ăn trong thôn xóm, anh em, họ hàng. Có

thể nói đây là mô hình thực sự có hiệu quả, sát với thực tiễn, bám sát được các yêu

cầu của nhóm hộ trong công tác giảm nghèo, làm giàu chính đáng.

- Khả năng đa dạng hóa việc làm

Khả năng đa dạng hóa việc làm được coi như là một phương cách cải thiện thu

nhập của hộ nông thôn trong điều kiện thiếu hụt về đất đai phục vụ sản xuất. Hoạt

động phi nông nghiệp và làm công, làm thuê, làm việc xa nhà là những nguồn thu

nhập quan trọng và phổ biến ở khu vực nông thôn.

67

Bảng 3.7. Đa dạng hóa việc làm của các nhóm hộ

Hộ nghèo và cận Thoát nghèo nghèo Stt Nội dung Tỷ lệ Số hộ Số hộ Tỷ lệ (%) (%)

1 Làm thêm, làm thuê 51 53,13 77 75,49

2 Kinh doanh dịch vụ 3 3,13 12 11,76

Lao động làm việc tại các khu 3 0 6 5,88 công nghiệp

4 Lao động làm trong ngành than 0 5 4,90

5 Xuất khẩu lao động 0 2 1,96

6 Nghề phụ 0 0

(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2019)

Từ biểu điều tra cho thấy khả năng đa dạng hóa viêc làm của nhóm hộ nghèo

thấp hơn nhiều so với nhóm hộ thoát nghèo, đặc biệt là việc thoát ly, đi làm việc tại

các công ty doanh nghiệp. Đối với các nhóm hộ thoát nghèo sau khi đã vượt ngưỡng

“đủ ăn”, đa số hộ có lợi thế đất đai sẽ đa dạng hóa để tăng thu nhập từ sản xuất lâm

nông nghiệp bằng cách kết hợp trồng cây hàng hóa ngắn ngày và dài ngày, và phát

triển chăn nuôi. Bên cạnh đó, một số hộ đã tìm cách tăng thu nhập phi nông nghiệp

bằng cách đi làm ăn xa hoặc xuất khẩu lao động, đầu tư thương mại – dịch vụ, phát

triển nghề truyền thống để đảm bảo dòng tiền và tăng thu nhập bền vững. Để giải

quyết tốt vấn đề giảm nghèo, cần phải quan tâm đẩy mạnh hơn nữa việc đưa lao động

nông thôn đi làm việc tại các công ty, đơn vị của Tập đoàn than và các doanh nghiệp

trên địa bàn Thành phố Hạ Long, Móng Cái, Vân Đồn; gắn chặt việc dạy nghề với

giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Bồi dưỡng cho người nghèo kiến thức

về thị trường gắn với hướng dẫn cách làm ăn, tiếp cận các nguồn lực kinh tế góp phần

tăng thu nhập.

b. Vốn tài chính của hộ

- Thu nhập của hộ gia đình

68

Theo báo cáo của Chi cục thống kê huyện Ba Chẽ thu nhập bình quân đầu

người 21triệu đồng/người/năm, năng suất lao động bình quân 51,23 triệu đồng/người/

năm. (Báo cáo của UBND huyện Ba Chẽ về tình hình kinh tế- xã hội huyện Ba Chẽ

năm 2015). Theo kết quả điều tra, tổng thu nhập của hộ nghèo trên địa bàn huyện

tương đối thấp (khoảng trên dưới 18.740.000,đồng/năm/hộ); theo đó, thu nhập trung

bình của hộ thuần nông chỉ đạt 100.500 đồng/ngày, tức khoảng 3.015.000 đồng/tháng.

Thu nhập khẩu/tháng được tính từ tổng thu nhập ròng của hộ (thu nhập toàn bộ trừ đi

chi phí cho sản xuất) chia cho nhân khẩu và tính theo tháng. Kết quả cho thấy nhóm

hộ nghèo có thu nhập khoảng trên dưới 590.000 đồng/tháng/người. Với thu nhập đầu

người như vậy cho thấy nhu nhập và đời sống của nhóm hộ thuộc diện nghèo rất khó

khăn, chưa có tích lũy để tái sản xuất và phát triển đời sống văn hóa tinh thần. Phần

thu nhập này được tính toán tất cả các sản phẩm do hộ sản xuất ra bao gồm cả phần

được sử dụng cho hộ gia đình. Như vậy thu nhập của người dân cơ bản còn rất thấp,

chủ yếu cố gắng đảm bảo an toàn lương thực, thực phẩm.

Bảng 3.8. Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình

Hộ nghèo và cận nghèo Không nghèo

Chỉ tiêu Giá trị Giá trị Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%) (1000đ) (1000đ)

Tổng thu nhấp 18.740 100 47.280 100

3.342 17,83 6.990 14,78 Trồng trọt

1.978 10,55 5.265 11,14 - Ruộng

1.364 7,28 1.725 3,65 - Vườn

5.657,6 30,19 15.254 32,26 Chăn nuôi

4.462 23,81 12.718 26,90 - Gia súc

1.195,6 6,38 2.536 5,36 - Gia cầm

4.863 25,95 18.285 38,67 Lâm nghiệp

753,4 4,02 1.266 2,68 Dịch vụ

4.124 22.01 5.485 11,6 Thu khác

(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2019)

69

Cơ cấu thu nhập của nhóm hộ nghèo tuy khá đa dạng bao gồm từ vườn hộ,

khai thác lâm sản, chăn nuôi, làm thuê và dịch vụ; tuy nhiên mức thu nhập này không

cao và thường kém ổn định do quy mô sản xuất, chăn nuôi còn nhỏ lẻ; nhiều hộ gia

đình không có đất để sản xuất, thu nhập phần lớn từ làm thuê (phát cỏ thuê, khai thác

gỗ keo) hoặc từ khai thác tre nứa, lâm sản khác,... nhưng tính ổn định không cao, chỉ

làm được vào ngày nắng, vào mùa khô. So với hộ nghèo, hộ thoát nghèo và hộ khá

có thu nhập cao hơn, nguồn thu này được tính từ sản xuất lâm nghiệp, chăn nuôi, cây

hoa mầu, dịch vụ và làm nghề khác. Những hộ không nghèo thường có nhiều diện

tích đất rừng, thuận tiện lợi trong việc khai thác lâm sản và đầu tư phát triển trồng

rừng hơn hộ nghèo. Như vậy hộ nghèo chủ yếu thu nhập từ cây hàng năm, ít được

tiếp cận với thu nhập từ sản xuất Lâm nghiệp và sản xuất hàng hóa. Chăn nuôi đóng

vai trò quan trọng trong thu nhập kinh tế hộ, các hộ thoát nghèo được nhờ có thu nhập

từ chăn nuôi, ngoài ra những hộ được cấp đất rừng và sản xuất lâm nghiệp thường có

thu nhập rất cao khi đến chu kỳ khai thác gỗ nguyên liệu, bên cạnh đó việc tận dụng

thời gian làm thêm, làm thuê góp phần đáng kể vào cơ cấu thu nhập của hộ khá giả

và hộ thoát nghèo.

- Tình hình sử dụng vốn và nhu cầu vay vốn

Vốn cho sản xuất tác động rất lớn đến kết quả sản xuất và thu nhập của các hộ

gia đình; quy mô sản xuất được mở rộng hay thu hẹp lại là phụ thuộc vào nguồn vốn

mà hộ dân nắm trong tay. Nhóm hộ có nguồn lực dồi dào thì quy mô sản xuất sẽ

không ngừng được mở rộng, còn nhóm hộ không có nguồn lực vốn thì quy mô sản

xuất không tăng lên; nếu khả năng sản xuất của hộ như nhau thì hộ nào có ít vốn hơn

chắc chắn sẽ gặp khó khăn hơn. Khi quyết định đầu tư sản xuất hoặc mở rộng sản

xuất thì buộc các hộ dân phải có vốn, trong đó vốn được hình thành từ các khoản tiết

kiệm của hộ gia đình được dùng vào sản xuất và các khoản vốn vay khác. Đối với

nhóm hộ có tiết kiệm cao sẽ chủ động về vốn đầu tư cho sản xuất hơn và ít chịu sự

rủi ro hơn so với nhóm hộ có nguồn tiết kiệm thấp.

Kết quả điều tra cho thấy nhóm hộ nghèo có mức tích kiệm tiền mặt bình quân

thấp (3,855 triệu đồng), trong khi đó nhóm hộ không nghèo có nguồn vốn tiết kiệm

cao hơn 2,43 lần nhóm hộ nghèo. Nguyên nhân là do nhóm hộ nghèo ít đất sản xuất,

phải bỏ nhiều lao động vào việc làm thuê hoặc vào phụ thuộc vào khai thác lâm thổ

70

sản,… để đảm bảo an ninh lương thực nên không tạo được nhiều sự dôi dư về tài

chính; Bên cạnh đó, trong cộng đồng dân tộc Dao (Dao Thanh Y, Dao Thanh phán)

vẫn còn có thói quen sử dụng tiền bạc, người nào làm ra tiền thì người đó tiêu, không

biết cánh hình thành nguồn tài chính chung trong gia đình. Tích lũy hạn chế, cùng

với thiếu kiến thức về sản xuất, khoa học kỹ thuật là nguyên nhân của việc đầu tư sản

xuất không mang lại hiệu quả cao ở nhóm hộ nghèo. Ngược lại những hộ có thu nhập

càng cao, càng có điều kiện tích lũy để đầu tư tái sản xuất, và càng có cơ hội để tạo

ra thu nhập.

Bảng 3.9. Tình hình sử dụng và nhu cầu vay vốn

TT Diễn giải ĐVT

1 Số hộ điều tra 2 Tiền tiết kiệm/hộ 3 Số vốn vay/hộ - Ngân hàng CSXH - Ngân hàng NN - Nguồn khác 4 Nhu cầu vay tiếp 1000đ 1000đ 1000đ 1000đ 1000đ Hộ nghèo và cận nghèo 72 3.855 18.750 3.021 1.055 20.000 Hộ không nghèo 78 9.389 20.540 8.627 2.260 30.000

So sánh (%) 243,55 109,55 285,57 214,22 150,00 (Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2019)

Đối với nguồn vốn vay, không có sự chênh lệch quá nhiều giữa các nhóm hộ.

Nguyên nhân là do việc cung cấp nguồn vốn của các tổ chức tín dụng ở địa phương

(Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Chính sách xã hội huyện…) đã hoạt động tương

đối tốt, đáp ứng được nhu cầu về vốn của tất cả các đối tượng có nhu cầu. Phân tích

số liệu cho thấy, mức vay hiện nay của các hộ nghèo còn thấp, nguyên nhân là do

những hộ này không có đất sản xuất hoặc diện tích đất sản xuất thấp, khó canh tác,

không biết lập các phương án sản xuất, thiếu tài sản thế chấp,… phần lớn các hộ

nghèo vẫn chỉ tiếp cận và quan tâm đến nguồn cho vay hộ nghèo là chủ yếu, chưa

biết cách khai thác nguồn cho vay giải quyết việc làm của Chính phủ; ngồn vốn của

Ngân hàng Nông nghiệp.

c. Vốn vật chất của hộ

- Thực trạng nhà ở, phương tiện sinh hoạt chủ yếu

Thiếu hoặc không có tài sản luôn là nguyên nhân gây ra nghèo đói đối với các

hộ gia đình. Như các đôi vợ chồng trẻ, mới bước vào cuộc sống, có điểm xuất phát

71

thấp (giá trị tài sản ban đầu nhỏ) họ gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh,

trong việc tiếp cận thị trường. Các hộ có xuất phát điểm thấp thì rất dễ rơi vào cảnh

nghèo đói nếu có rủi ro xảy ra. Để đánh giá khả năng đáp ứng một cuộc sống đẩy đủ

của các nhóm hộ, tác giả đã tiến hành đánh giá tình hình trang bị tài sản phục vụ đời

sống hàng ngày cua người dân.

Tình hình nhà ở và phương tiện sinh hoạt chủ yếu của nhóm hộ điều tra cho

thấy, đa số các hộ nghèo có nhà bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố và nhà tạm, số hộ có

nhà kiên cố chiếm tỷ lệ rất nhỏ (7,29%), cá biệt con một số hộ đang sinh sống trong

những ngôi nhà tạm. Các đồ dùng thiết yếu như chăn màn, quần áo không qua khó

khăn đối với các hộ nghèo. Tuy nhiên, các đồ dùng đắt tiền của hộ nghèo chiếm tỷ lệ

rất nhỏ, nhiều hộ mặc dù có xe máy nhưng phần lớn là xe cũ mua lại hoặc xe máy

Trung Quốc. Do 100% số hộ trong huyện đều được dùng điện nên các hộ đều có quạt

điện, 100% có Tivi nhưng giá trị không cao, phần lớn là Tivi Trung Quốc. Qua đây

ta thấy được bức tranh khái quát cuộc sống khó khăn, túng thiếu của hộ nghèo, đây

cũng chính là nguyên nhân làm cho họ phải sống trong cảnh lam lũ, cơ hàn.

Bảng 3.10. Tình hình nhà ở, phương tiện sinh hoạt chủ yếu

TT Diễn giải

Nhà ở

I 1 Nhà kiên cố 2 Nhà bán kiên cố 3 Nhà thiếu kiên cố 4 Nhà đơn sơ (nhà tạm) II Đồ dùng sinh hoạt 1 Xe máy Ti vi 2 3 Tủ lạnh, tủ bảo ôn 4 Đầu chảo 5 Đầu VCD 6 Quạt điện 7 Xe đạp 8 Máy giặt 9 Bếp Ga 10 Bình nóng lạnh 11 Bàn ghế loại tốt 12 Tài sản đắt tiền khác Nhóm hộ nghèo Số hộ 7 32 50 7 12 35 0 24 14 96 6 0 0 0 5 0 Tỷ lệ (%) 7,29 33,33 52,08 7,29 25,00 80,21 0,00 80,21 14,58 100,00 6,25 0,00 0,00 0,00 5,21 0,00 Hộ không nghèo Số hộ 47 55 0 0 83 102 21 102 43 102 4 2 14 17 45 39 Tỷ lệ (%) 46,08 53,92 0,00 0,00 81,37 100,00 20,59 100,00 42,16 100,00 3,92 1,96 13,73 16,67 44,12 38,24

(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2019)

72

- Thực trạng các yếu tố sản xuất của hộ

Bảng 3.11. Tổng hợp các yếu tố sản xuất kinh doanh

Nhóm hộ nghèo Hộ không nghèo

TT Diễn giải Số hộ Số hộ Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%)

- Trâu - Bò

0 0 0 18 5 0 7 0 0 0 0 0 0 7 0 19 So sánh (không nghèo/nghèo) % 800 900 256 300 - 743 300 - 200 - - 600 - 200 300 163 1,500 15 8 9 46 15 0 52 3 0 2 0 0 6 14 3 31 1 Dụng cụ sản xuất + Máy cày, máy kéo + Máy xay sát + Máy tuối lúa + Máy cắt cỏ + Cưa máy + Máy bào + Máy thái rau + Máy trộn thức ăn + Máy trộn bê tông + Ô tô vận tải + Ô tô khách + Máy xúc, gạt + Máy phát điện 2 Trâu, bò cày kéo 3 Chuồng trại

14,71 - 7,84 - 8,82 - 45,10 18,75 14,71 5,21 0,00 - 50,98 7,29 2,94 - 0,00 - 1,96 - 0,00 - 0,00 - 5,88 - - 13,73 7,29 2,94 - 19,79 30,39 (Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2019)

Điều tra các nhóm hộ nghèo của huyện Ba Chẽ cho thấy các yếu tố phục vụ

sản xuất nông lâm nghiệp của các hộ còn ít và thiếu nhiều. Trong số 96 hộ điều tra

chỉ có 18 hộ có máy cắt cỏ, 07 hộ có cưa máy, 07 hộ có Trâu. Qua đây ta thấy chính

sự thiếu thốn các loại tài sản trên làm cho việc nuôi trồng, sản xuất gặp nhiều khó

khăn, là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo hiệu nay.

Đối với các nhóm hộ không nghèo họ thường có xu hướng trang bị những máy

móc, thiết bị nhằm giúp nâng cao năng suất lao động, giải phóng sức lao động. Mặt

khác, áp dụng những máy móc thiết bị vào sản xuất lại góp phần tăng hiệu quả sản

xuất, và tăng thu nhập cho hộ. Việc trang bị những máy móc thiết bị cũng là giải pháp

góp phần tăng thu nhập cho hộ từ đó giúp hộ thoát nghèo bền vững.

73

d. Vốn tự nhiên (Thực trạng sử dụng đất đai)

Đất đai và nông dân là hai vấn đề không thể tách rời nhau, nhất là đối với vùng

núi, sản xuất Lâm –Nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo, vì vậy đất đai nhiều hai ít, điều

kiện canh tác thuận lợi hay khó khăn ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế gia đình có trở

lên khá giả hay đói nghèo của hộ.

Bảng 3.12. Thực trạng sử dụng đất đai

Hộ thoát TT Danh mục ĐTV Hộ nghèo nghèo

1 Diện tích đất nông nghiệp 1.620 m2 2.020

- Đất trồng lúa m3 1.440 1.150

- Đất trồng cây hàng năm khác m5 580 470

Hệ số canh tác lần 1,5 1,5

2 Đất Lâm nghiệp Ha 5,68 1,54

- Rừng sản xuất Ha 5,68 1,54

- Rừng phòng hộ khoanh nuôi Ha 0 0

(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2019)

Do đặc thù của huyện miền núi có tới trên 90% diện tích đất tự nhiên là rừng

và đất trồng rừng, nên diện tích dành cho sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình chiếm

tỷ lệ rất thấp; chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp. Từ biểu số liệu điều tra cho thấy:

Diện tích đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác giữa nhóm hộ nghèo và hộ

không nghèo có sự chênh lệch không nhiều. Tuy nhiện diện tích đất dành cho sản

xuất lâm nghiệp có sự chênh lệch tương đối cao giữa nhóm hộ nghèo và hộ không

nghèo; đặc biệt có nhiều hộ gia đình nghèo tại xã Đồn Đạc chưa được giao đất, giao

rừng, nhiều hộ có diện tích rất nhỏ < 3ha, kèm theo đó là nằm ở những vị trí xa xôi,

độ dốc quá cao, khó để thực hiện các biện pháp canh tác. Trong định hướng phát triển

kinh tế của huyện luôn xác định lâm nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn, thực tiễn đã

chứng minh hiệu quả của nghề rừng trong thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn miền

núi, thúc đẩy kinh tế hộ gia đình. Do vây việc có ít diện tích đất rừng đã ảnh hưởng

nhiều đến phát triển sản xuất của hộ cũng như khả năng thoát nghèo của hộ.

* Những nguyên nhân dẫn đến nghèo của nhóm hộ điều tra.

74

Việc dẫn đến tình trạng nghèo của các hộ được điều tra có rất nhiều nguyên

nhân: nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Các nguyên nhân chủ quan

cơ bản dẫn đến nghèo của các nhóm hộ điều tra được thể hiện qua biểu sau:

Bảng 3.13. Tổng hợp các nguyên nhân chủ quan dẫn đến nghèo

của các hộ điều tra

TT Nhân tố tác động dẫn đến nghèo Số hộ Tỷ lệ (%)

Thiếu đất canh tác 1 85 56.66

Thiếu kinh nghiệm sản xuất 2 121 80.66

Thiếu vốn 3 114 76.00

Lười lao động, thiếu ý trí vươn lên thoát nghèo 4 113 75.33

5 Khả năng đa dạng hóa việc làm 96 66.00

6 Thiếu phương tiện sản xuất 84 69.19

7 Chi tiêu không có kế hoạch 76 50.67

8 Không có việc làm thường xuyên 84 56.00

9 Đông người ăn theo 48 32.00

10 Mới tách hộ 42 28.00

11 Nguyên nhân khác 32 21.33

12 Mắc tệ nạn cờ bạc,… 9 13.50

(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2019)

Trong các nguyên nhân nghèo của nhóm hộ điều tra, nguyên nhân thiếu vốn,

thiếu tư liệu sản xuất, kinh nghiệm sản xuất và ý thức vươn lên thoát nghèo chiếm tỷ

lệ cao nhất. Số hộ nghèo không có việc làm ngoài nông lâm nghiệp là 96 hộ; không

có việc làm thường xuyên là 84 hộ, đây là vấn đề bức xúc cần nghiên cứu bứt phá

nhằm tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập cho hộ nghèo.

3.2.2. Năng lực của Chính quyền

a, Sự và cuộc của các cấp chính quyền trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền

vững: Cấp uỷ, chính quyền từ huyện đến cơ sở đã tăng cường công tác lãnh, chỉ đạo,

kiểm tra việc thực hiện chương trình giảm nghèo. Chỉ tiêu giảm nghèo được đưa vào

Nghị quyết của cấp uỷ. Đồng thời thường xuyên quán triệt trong Đảng, các tổ chức

đoàn thể, tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về mục tiêu chương trình giảm nghèo

75

về nhiệm vụ của các cấp, các ngành và của người dân về công tác giảm nghèo. Hàng

năm từ cơ sở đến cấp huyện xây dựng kế hoạch đăng ký giảm nghèo theo lộ trình của

chương trình giảm nghèo đã đề ra; thực hiện công tác rà soát, thống kê hộ nghèo, cấp

sổ hộ nghèo, đánh giá thực hiện chương trình theo hệ thống các chỉ tiêu theo dõi,

giám sát do UBND Tỉnh quy định cho giai đoạn 2010- 2015 và giai đoạn 2015-2020.

Đội ngũ cán bộ Thương binh và xã hội xã, thị trấn còn được dự các lớp tập huấn

nghiệp vụ công tác giảm nghèo do Sở lao động-TB&XH tổ chức hàng năm.

b, Nhận thức của cán bộ các cấp về công tác giảm nghèo bền vững

Nhận thức về nghèo có ảnh hưởng rất lớn đến hành động thúc đẩy giảm nghèo,

để giảm nghèo nhanh, bền vững cần có cả sự nỗ lực của bản thân người nghèo và sự

hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi của các cơ quan, tổ chức liên quan.

Bảng 3.14. Vai trò trong giảm nghèo của các cấp Chính quyền

Chung Cán bộ xã Cán bộ huyện

Đối tượng Số Số Số (%) (%) (%) lượng lượng lượng

41,67 27 50 54,0 46,00 23 Bản thân người nghèo

13,33 09 16 56,25 43,75 07 Chính quyền các cấp

16,67 12 20 60,0 40,0 08 Các hội, đoàn thể

11,66 08 14 57,14 42,86 06 Cộng đồng

16,67 11 20 55,0 45,0 09 Nhiệm vụ chung

100 100 85 Tổng 120 100 301

(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2019)

Tìm hiểu nhận thức của cán bộ các cấp về cách thức giải quyết đói nghèo có ý

nghĩa quan trọng vì các giải pháp mà họ đưa ra sẽ dựa trên cơ sở đó. Vì vậy, nghiên

cứu đã đặt câu hỏi: “Theo ông/bà, định hướng chính để giảm nghèo bền vững nên tập

trung vào giải pháp nào sau đây (đánh số từ 1 đến 4 theo thứ tự 1 là quan trọng nhất,

4 là ít quan trong nhất):

+ Hỗ trợ trực tiếp mang tính cho không (ví dụ: hỗ trợ bằng tiền mặt, thẻ bảo

hiểm miễn phí, cấp giống, ưu đãi vốn,...)

76

+ Nâng cao năng lực cho người dân (ví dụ: thúc đẩy ý thức tự vươn lên, nâng

cao kỹ năng sản xuất, khả năng quản lý kinh tế hộ gia đình,...)

+ Tạo môi trường thuận lợi (Ví dụ: thông tin cơ hội việc làm, cơ hội kinh

doanh, kêu gọi đầu tư vào địa phương,...).

+ Cải thiện dịch vụ xã hội cơ bản (ví dụ: tăng chất lượng dịch vụ y tế, giáo

dục, hạ tầng cơ sở,...)

Kết quả cho thấy, hai khía cạnh được đánh giá là quan trọng nhất là nâng cao

năng lực cho người nghèo và tạo môi trường thuận lợi với 42,14% và 39,26%. Chỉ có

12,63% cho rằng hỗ trợ trực tiếp mang tính cho không là quan trọng nhất và chỉ có 5,97%

cho rằng dịch vụ xã hội cơ bản là quan trọng nhất. Như vậy vấn đề hỗ trợ trực tiếp cho

người nghèo để người nghèo vươn lên được cho là không thực sự hiệu quả.

Trong nội dung khảo sát về thái độ hay mức độ quan tâm của cán bộ các cấp

đến công tác giảm nghèo xem họ có thích thú và nhận thấy tầm quan trọng với công

tác này hay không. Kết quả cho thấy họ đều coi công tác này cũng giống như những

công việc được giao khác mà họ phải thực hiện. Nguyên nhân hiện nay người dân

vẫn rất mong muốn được nằm trong hộ nghèo để được hưởng các cơ chế chính sách,

do vậy khi đến gia đình họ để tuyên truyền vận động, hướng dẫn họ triển khai thực

hiện các mô hình dự án phát triển sản xuất để vươn lên thoát nghèo, thường nhận

được cái nhìn thiếu thiện cảm, đôi khi còn bị gây cản trở bời những thành viên trong

hộ gia đình. Một số địa phương còn khoán trắng cho cán bộ giảm nghèo, tuyên truyền

vận động phong trào quần chúng tham gia giảm nghèo và tổ chức các hoạt động giảm

nghèo yếu

c. Triển khai các chính sách tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất,

tăng thu nhập

- Chính sách tín dụng ưu đãi: Từ năm 2015-2019 từ chương trình cho vay hộ

nghèo, chương trình cho vay giải quyết việc làm (Dự án 120) cùng với 6 chương trình

cho vay khác tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện đã đầu tư trên

128.419 triệu đồng cho các hộ gia đình được thụ hưởng vay vốn để tổ chức kinh

doanh, đầu tư sản xuất, tạo việc làm, thu hút thêm lao động, tăng thu nhập cho cả hộ

gia đình và người lao động, cải thiện đời sống, góp phần giảm nghèo và ổn định an

77

sinh xã hội tại địa phương. Trong đó: Doanh số cho vay hộ nghèo là 62.450 triệu

đồng cho 7.858 lượt hộ gia đình vay vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Chương

trình vay vốn tạo việc làm đã được chú trọng giải quyết cho 234 dự án thuộc hộ gia

đình và xây dựng 91 mô hình với 1.211 hộ tham gia, Hội đoàn thể vay vốn kinh

doanh, phát triển sản xuất với số tiền 16.715 triệu đồng cho 2.337 lượt hộ vay, tạo

việc làm cho trên 728 lao động và thu hút được 750 lao động mới. Đẩy mạnh chương

trình cho vay xuất khẩu lao động, từ 2010 – 2019 đã giải quyết cho 111 hộ gia đình

vay vốn với số tiền là 2.182 triệu đồng. Qua công tác kiểm tra việc sử dụng vốn vay,

đại đa số các hộ vay vốn đều sử dụng vốn đúng mục đích và đạt hiệu quả.

- Hỗ trợ người nghèo về chính sách dạy nghề, tạo việc làm, xuất khẩu lao

động: Xác định dạy nghề và tạo việc làm lao động nông thôn, nhất là người nghèo là

việc làm rất quan trọng trong chương trình giảm nghèo. Hàng năm tạo việc làm mới

cho trên 250 lao động trên địa bàn huyện. Từ năm 2009 đến năm 2013 huyện đã mở

được 38 lớp đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn với 1.307 học viên tham

gia học tập, gồm các nghề: Cơ điện nông thôn, chăn nuôi gia súc gia cầm, kỹ thuật

trồng và chăm sóc lúa lai, kỹ thuật chế biến món ăn, kỹ thuật trồng Nấm trên rơm,

Kỹ thuật trồng nấm linh chi, sửa chữa xe máy, nuôi cá nước ngọt... Từ chỗ tạo việc

làm tại chỗ, đã bước đầu có xuất khẩu lao động, trong 5 năm qua có 88 lao động phổ

thông đi xuất khẩu lao động tại Malaysia. Thông qua việc triển khai công tác dạy

nghề cho lao động nông thôn, nhiều nghề mới đã được mở ra phục vụ cho nông thôn,

nông dân, làm thay đổi cơ cấu lao động góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông

nghiệp, nông thôn trên địa bàn. Tuy nhiên còn gặp rất nhiều khó khăn do cơ sở dạy

nghề ở huyện chưa có, nhu cầu học nghề không tập trung, mức hỗ trợ học nghề thấp,...

vì vậy chưa khuyến khích được người nghèo tham gia học nghề.

- Các chính sách hỗ trợ đặc thù phát triển sản xuất:Trong những năm qua,

thực hiện chương trình 135 của Chính phủ, Quyết định 4162 của UBND tỉnh Quảng

Ninh, nhờ có sự quan tâm đầu tư về cơ sở hạ tầng và kinh phí hỗ trợ sản xuất. Huyện

đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành hướng dẫn, tập huấn kỹ thuật về cây trồng,

vật nuôi để nâng cao trình độ sản xuất của bà con nông dân đồng thời tuyên truyền

vận động nhân dân thực hiện nguồn vốn hỗ trợ phát triển sản xuất được sử dụng có

78

hiệu quả và đã phát huy được tác dụng các máy móc, thiết bị như máy cày, bừa đưa

vào sản xuất có hiệu quả, nhân dân đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, giống

cây trồng, vật nuôi, đưa các giống mới có giá trị kinh tế cao vào sản xuất, góp phần

tích cực trong công tác giảm nghèo. Xây dựng đạt 91 mô hình với 1.211 hộ tham gia,

phát triển sản xuất với số tiền 3.627,745 triệu đồng, các mô hình được xây dựng đều

cơ bản thành công và đạt hiệu kinh tế quả cao, được bà con hưởng ứng, một bộ phận

nhân dân đã học tập làm theo và nhân rộng mô hình. Tổng số vốn nhà nước hỗ trợ:

3.627,745 triệu đồng và nhân dân đóng góp: 334,5 triệu đồng.

- Chính sách trợ cước, trợ giá: đối với một số mặt hàng chính sách và giống

cây trồng vật nuôi, với kinh phí là 3.683,9 triệu đồng. Ngoài các chính sách trên hàng

năm huyện đã thực tốt các chính sách như hỗ trợ 5 lít dầu hỏa thắp sáng/năm cho hộ

nghèo, hộ cận nghèo ở các vùng chưa có điện lưới theo quy định của nhà nước và của

UBND Tỉnh, từ đó đã góp phần xây dựng nông thôn mới vùng cao.

- Chương trình hỗ trợ sản xuất trong xây dựng nông thôn mới.

+ Chương trình cải tạo vườn tạp: Huyện đã đầu tư từ nguồn vốn xây dựng nông

thôn mới cho 1.155 hộ tham gia, trồng được 56.596 cây ăn quả các loại, với tổng mức

đầu tư 1.220,750 triệu đồng Tập huấn kiến thức cho cộng đồng 9 lớp với 482 người tham

gia. Ngoài ra còn tập huấn theo từng dự án sản xuất cho 1.363 lượt người tham gia.

+ Chương trình “mỗi xã một sản phẩm” từ nguồn xây dựng Nông thôn mới: Từ

năm 2013, Huyện từng bước triển khai thực hiện đầu tư xây dựng mô hình “mỗi xã

một sản phẩm”, phát triển 5 sản phẩm đặc thù của địa phương (Măng Mai, Mía tím, Ba

Kích tím, Thanh Long, Nấm Linh chi) với tổng mức đầu tư 6.233 triệu đồng. Huyện

cũng đã ban hành Nghị quyết về cơ chế hỗ trợ sản xuất nông – lâm - ngư nghiệp trên

địa bàn huyện với việc thực hiện chính sách ưu đãi lãi suất tiền vay, hỗ trợ giống,

phân bón; trong đó đã hỗ trợ lãi suất tiền vay cho 256 hộ, số tiền 254,8 triệu đồng; lũy

kế sau hai năm thực hiện chính sách ưu đãi đã có 305 hộ được vay vốn với tổng số tiền

4.977,5 triệu đồng, hỗ trợ một lần sau đầu tư phát triển kinh tế trang trại, gia trại với

tổng kinh phí 1.030 triệu đồng cho 8 trang trại, gia trại; hiện toàn huyện có 15 trang

trại, gia trai.

- Đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ nông nghiệp nông thôn

79

+ Thủy lợi: Từ năm 2010 đến năm 2019 tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng

mới, sửa chữa, nâng cấp 59 công trình thủy lợi vừa và nhỏ, nâng tỷ lệ kênh mương

được kiên cố hóa từ 11,5% năm 2008 lên 65,5% năm 2013; nâng tổng diện tích chủ

động tưới, tiêu 85,4 ha năm 2015 lên 930 ha năm 2019.

+ Giao thông: Trong 05 năm qua huyện đã tập trung các nguồn lực đầu tư nâng

cấp 91,37km, mở mới 4,0 km đường giao thông tỉnh, huyện, trục xã, liên xã. Đến nay

100% số xã có đường giao thông đạt chuẩn của Bộ giao thông vận tải đến trung tâm

xã, thông suốt cả 04 mùa; hệ thống đường trục thôn được cứng hóa 50%.

+ Điện: Tập trung đầu tư cải tạo lưới điện nông thôn đảm bảo yêu cầu kỹ

thuật; Xây dựng mới 06 công trình điện, 17km đường dây tải điện hạ thế đảm

bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện. Đến nay hệ thống lưới điện trên địa bàn đã

cung cấp điện lưới quốc gia cho 75/75 thôn, bản, khu phố, đạt 100% số thôn bản

có điện lưới quốc gia; nâng tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện 90% năm 2010, lên

97% năm 2019.

- Thực hiện chương trình đưa cơ giới hóa vào nông lâm nghiệp: Tỷ lệ cơ giới

hóa nông nghiệp tăng cao, những khâu công việc nặng nhọc đã được cơ giới hóa trong

phần lớn các nông hộ, đẩy mạnh tiến động sản xuất, giảm sức lao động: Năm 2019

toàn huyện có 823 máy cày, bừa; 1.564 máy tuốt, máy xay xát, máy thái rau lợn, máy

tạch hạt và 659 máy cắt cỏ; 472 cưa máy, 15 máy xúc, ủi các loại... chính vì vậy góp

phần nâng cao năng suất, tăng hiệu quả kinh tế trong hộ gia đình.

Tổng nguồn vốn huy động 5 năm 2015-2019: 953.387,1 triệu đồng; trong đó:

Vốn ngân sách nhà nước: 845.855,1 triệu đồng.

80

Bảng 3.15. Các nguồn lực được huy động cho phát triển nhanh kinh tế nông

thôn huyện Ba Chẽ giai đoạn 2015-2019

Stt Chỉ tiêu Đvt Số lượng

1 Chương trình mục tiêu quốc gia Tr.đồng 24.530,9

2 Chương trình hỗ trợ có mục tiêu Tr.đồng 251.532,2

3 Kiên cố hóa trường lớp học Tr.đồng 5.032,0

4 Vốn vay ưu đãi Tr.đồng 32.200,0

5 Huy động các nguồn khác Tr.đồng 640.092,0

(Nguồn số liệu Phòng Tài chính- Kế hoạch huyện Ba Chẽ)

* Tồn tại, hạn chế trong năng lực của Chính quyền

- Đội ngũ cán bộ chuyên môn làm công tác giảm nghèo ở các xã - thị trấn vừa

thiếu, vừa yếu, lúng túng trong công tác tham mưu, triển khai thực hiện.

- Một số cấp ủy - chính quyền địa phương chưa nhận thức về ý nghĩa và tầm quan

trọng của công tác giảm nghèo nên thiếu sự tập trung đầu tư đúng mức và không được

ưu tiên trong chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Có nơi

công tác giảm nghèo không được xem trọng đúng mức, khoán trắng cho cán bộ giảm

nghèo, tuyên truyền vận động phong trào quần chúng tham gia giảm nghèo và tổ chức

các hoạt động giảm nghèo yếu, chưa phát huy tiềm năng thế mạnh sẵn có để đạt mục tiêu

xóa nghèo.

- Công tác đào tạo nghề còn hạn chế (tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt

16,65%), hiệu quả chưa cao, không đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong và

ngoài nước, từ đó làm cho lao động thất nghiệp, thiếu việc làm có chiều hướng gia

tăng.

- Các hoạt động tôn vinh các tấm gương nỗ lực vươn lên thoát nghèo còn ít;

chưa có nhiều cơ chế động viên các cá nhân có thành tích giảm nghèo hoặc tích cực

tham gia các chương trình tập huấn, hướng dẫn cách làm ăn; tổ chức các cuộc thi về

giảm nghèo. Hạn chế trong tổ chức các liên quan đến tay nghề, năng suất lao động,

sáng tạo,… từ cấp thôn bản trở lên

81

- Chưa xác định được các sản phẩm chủ lực, phát huy tiềm năng đất đai của

địa phương. Sản xuất còn mang tính tự phát chưa có tổ chức sản xuất gắn với sản

xuất-chế biến- tiêu thụ.

3.2.3. Năng lực của Cộng đồng

Thực hiện mục tiêu giảm nghèo các đoàn thể chính trị - xã hội của huyện đã

tích cực tham gia bằng nhiều hình thức như: tuyên truyền vận động nhân dân hiểu rõ

tầm quan trọng của công tác giảm nghèo, tổ chức các lớp hướng dẫn hội viên chăn

nuôi, mua bán nhỏ, mở các lớp tập huấn chăn nuôi, trồng rừng, chuyển gia khoa học

kỹ thuật, các lớp dạy nghề (Nấu ăn, Sơ cấp xây dựng, Trồng nấm Linh chi, chăn nuôi

Thú y, chăn nuôi gia súc gia cầm, trồng cây dược liệu dưới tán rừng,...), giới thiệu

cho vay vốn tín chấp thông qua Ngân hàng Chính sách…

Hàng năm, các tổ chức đoàn thể như Hội phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông

dân, Đoàn Thanh niên đều có kế hoạch và giải pháp cụ thể giúp đỡ hội viên vươn lên

thoát nghèo có địa chỉ, thông qua các mô hình, các giải pháp cụ thể như: "Phụ nữ giúp

nhau phát triển kinh tế gia đình", “Chi hội nông dân giúp nhau thoát nghèo”trong đó

nội dung chủ yếu là phân công các chi hội, cá nhân giúp đỡ cụ thể với nhiều hình thức

vốn, giống, ngày công, cho vay không lấy lãi. Thông qua những hoạt động này hàng

năm đã giúp cho người dân nâng cao được nhận thức, tự lực vươn lên thoát nghèo.

* Tồn tại, hạn chế trong năng lực của cộng đồng

- Chưa triển khai thực hiện được mô hình khuyến nông “từ nông dân đến nông

dân” trên cơ sở học hỏi từ người dân, phát huy vai trò lan tỏa của những người tiên

phong; việc phát triển các tổ nhóm nông dân kết hợp giữa người nghèo và người

không nghèo (người tiên phong) dựa trên các liên kết truyền thống trong cộng đồng

còn hạn chế

- Công tác vận động các doanh nghiệp tham gia giúp đỡ hộ nghèo tạo công ăn

việc làm và đưa lao động nghèo vào làm việc trong các doanh nghiệp của họ và xây

dựng mối liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp trong việc tiêu thụ sản phẩm còn

hạn chế.

- Chưa xây dựng được mô hình an sinh xã hội dựa vào cộng đồng trong việc

phòng chống rủi ro, hỗ trợ sản xuất.

82

3.2.4. Dịch vụ công cộng và dịch vụ xã hội

- Hỗ trợ hỗ nghèo về nhà ở: Thực hiện chương trình hỗ trợ về nhà ở cho hỗ

nghèo theo quy định tại Quyết định 167 ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ,

huyện Ba Chẽ có 453 hộ nghèo ở khu vực nông thôn được hỗ trợ nhà ở với số tiền

9.966 triệu đồng; hỗ trợ kinh phí cho các gia đình người có công xây dựng nhà ở từ

nguồn quĩ đền ơn đáp nghĩa với số tiền là 790 triệu cho 23 gia đình. Chương trình hỗ

trợ cho hộ nghèo về nhà ở đã giúp cho hộ nghèo có điều kiện cải thiện về nhà ở vững

chắc và vươn lên thoát nghèo bền vững. Từ đó đã góp phần giúp cho các hộ yên tâm

sản xuất và ổn định đời sống.

- Nước sinh hoạt cho hộ nghèo: Trong những năm qua Huyện đã tranh thủ được

sự quan tâm đầu tư của Nhà nước về các công trình thuỷ lợi. Xây dựng mới 22 công trình

nước sinh hoạt nông thôn, tổng vốn đầu tư 14.683,9 triệu đồng. Sửa chữa nâng cấp 8

công trình, vốn sửa chữa 2.787 triệu đồng, góp phần nâng cao số hộ nông thôn được sử

dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh từ 56% năm 2015 lên 94% năm 2019.

- Hỗ trợ người nghèo về chính sách về y tế, chăm sóc sức khoẻ: Các chỉ tiêu

về khám chữa bệnh, điều trị đều đạt cả 2 tuyến huyện và xã; 8/8 trạm Y tế xã đều đạt

chuẩn Quốc gia. Đại bộ phận người nghèo được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ y tế chăm

sóc sức khoẻ.

- Chính sách về giáo dục: Ngoài việc thực hiện chương trình cao tầng chuẩn

hoá trường học và các chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ vở viết, sách giáo khoa

cho học sinh con hộ nghèo theo quy định của Nhà nước, trong hơn hai năm qua được

sự quan tâm của Tỉnh, huyện tiếp tục xây dựng và duy trì mô hình "Nội trú xã dân

nuôi", để thu hút học sinh nghèo và những học sinh ở các thôn bản vùng sâu, vùng xa

theo học. Huyện đã thực hiện đầy đủ các chính sách, như chi trả kinh phí miễn giảm

học phí theo Nghị định 49/CP cho sinh viên; hỗ trợ cho 8.991 học sinh nội trú dân

nuôi thuộc các xã; hỗ trợ tiền ăn trưa cho 930 học sinh Mầm non (3-5 tuổi); hỗ trợ

tiền chi phí học tập theo NĐ 49 cho học sinh (Mầm non, TH,THCS,THPT). Triển

khai thực hiện hiệu quả chương trình cho vay ưu đãi học sinh sinh viên có hoàn cảnh

khó khăn. Đến nay trên địa huyện đã cho 1.264 học sinh, sinh viên được vay vốn đi

học với số tiền vay 7.404 triệu đồng.

83

Bảng 3.16. Kết quả đầu tư cho nông thôn, nông dân huyện Ba Chẽ

giai đoạn 2015-2019

Stt Chỉ tiêu Đơn vị tính Số lượng

1. Xây dựng hạ tầng Tr.đồng 855.746,2

- Điện Tr.đồng 37.908,0

- Giao thông Tr.đồng 484.330,0

- Thủy lợi, nước sinh hoạt Tr.đồng 58.850

- Trường học Tr.đồng 130.780,0

- Cơ sở vật chất văn hóa Tr.đồng 66.808,73

- Y tế, dịch vụ xã hội Tr.đồng 14.030,0

- Hạ tầng dịch vụ công cộng Tr.đồng 7.290,0

- Đầu tư khác Tr.đồng 66.970,0

2. Phát triển sản xuất Tr.đồng 96.714,30

3. Tuyên truyền Tr.đồng 5,6009

4. Đào tạo Tr.đồng 216,80

(Nguồn số liệu Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Ba Chẽ)

- Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người nghèo: Trong những

năm qua các hoạt động truyền thông về giảm nghèo chủ yếu do Sở Lao động- TB&XH

thực hiện như xây dựng cụm panô tuyên truyền tại 3 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao trên địa

bàn huyện: Đồn Đạc, Nam Sơn, Thanh Sơn. Đẩy mạnh thực hiện các nội dung tuyên

truyền: Phóng sự về mô hình giảm nghèo, tin, bài về chủ trương chính sách giảm

nghèo qua đài Truyền thanh – Truyền hình huyện; thực hiện phát thanh, truyền hình

bằng 03 thứ tiếng Kinh, Dao Thanh y và Dao Thanh phán. Tuy nhiên ý thức của một

bộ phận người nghèo ở Ba Chẽ chưa cao, nên việc thực hiện các chủ trương của nhà

nước về giảm nghèo còn hạn chế, chưa phát huy nội lực trong nhân dân.

3.2.5. Tính an toàn (Khả năng chống chịu rủi ro)

- Kết quả đạt được: Công tác phòng chống dịch bệnh cho người dân được quan

tâm chỉ đạo, các chương trình Y tế như: Tiêm chủng mở rộng, các chương trình phòng

chống quốc gia (bướu cổ, chống số rét, phòng chống lao, phòng chống HIV/AIDS),

tuyên truyền cho nhân dân về vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống, tiêm phòng

84

cho phụ nữ có thai và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ uốn ván đạt 98%. Đại bộ phận

người nghèo được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ y tế chăm sóc sức khoẻ; cấp đạt 100%

thẻ Bảo hiểm Y tế cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, đối tượng Bảo trợ xã hội,

trẻ em dưới 6 tuổi.

Công tác phòng chống bão lũ, thiên tai và đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn

được quan tâm chỉ đạo và tập trung giải quyết, kịp thời. Công tác tuyên truyền phòng

chống dịch bệnh trong chăn nuôi đều được tuyên truyền rộng rãi đến mọi người dân, việc

tiêm phòng dịch cho gia súc, gia cầm hàng năm đạt 70-80% tổng đàn.

- Tồn tại hạn chế:

+ Mối liên kết giữa hộ dân với nhau chưa đủ mạnh trong phòng chống lại các

biến động của giá cả, dịch bệnh; liên kết giữa người dân và doanh nghiệp chưa có.

+ Người dân chưa thực sự quan tâm đến phòng ngừa hạn chế rủi ro (ví dụ trong

chăn nuôi gia súc vẫn theo hình thức thả rông, không làm chuồng trại, không chủ

động phòng chống rét và chủ động nguồn thức ăn; chăn nuôi gia cầm khi phát hiện ổ

dịch mới tổ chức tiêm phòng...).

+ Nguồn hỗ trợ các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn khi gặp thiên tai, dịch

bệnh vẫn còn thấp.

3.2.5 Đánh giá của người dân về chương trình giảm nghèo huyện Ba Chẽ

Người nghèo là đối tượng tác động chính của các chương trình, chính sách hỗ trợ

giảm nghèo. Để đánh giá một cách xác thực về tính hiệu quả, tính phù hợp của các chính

sách, chương trình giảm nghèo, khả năng tiếp cận của người nghèo, việc thoả mãn với

dịch vụ được cung cấp và tác động của dịch vụ này đến giảm nghèo. Kết quả nghiên cứu

tại các địa phương trên địa bàn huyện cho thấy, các chính sách về giáo dục, y tế và tín

dụng được 100% người nghèo biết. Đồng thời, kết quả khảo sát cho thấy 100% người

nghèo đều khẳng định những chính sách, giải pháp như hỗ trợ y tế, giáo dục, tín dụng,

khuyến nông và xây dựng hạ tầng cơ sở đều cần thiết. Tuy nhiên vấn đề đáng quan tâm

hiện này là việc tiếp cận đến các lợi ích, dịch vụ có dễ dàng không? về lý thuyết dễ dàng

thấy rằng tuy cùng được cung cấp các dịch vụ, lợi ích như nhau nhưng việc tiếp cận đến

những dịch vụ, lợi ích này ở những vùng khác nhau, những nhóm đối tượng khác nhau

là khác nhau.

85

Bảng 3.17. Đánh giá của người nghèo về mức độ dễ tiếp cận

dịch vụ giảm nghèo

Rất dễ Bình thường Khó tiếp cận Chính sách, dự án (%) (%) (%)

Tín dụng ưu đãi 10,16 76,30 13,54

Khuyến nông, hướng dẫn cách làm ăn 8,57 73,7 17,73

Hỗ trợ y tế 4,13 80,20 15,67

Miễn giảm học phí 1,25 81,6 17,15

Hạ tầng cơ sở 1,27 95,87 2,86

(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2019)

Trong quá trình triển khai thực hiện các dịch vụ giảm nghèo thì người nghèo

cũng không dễ dàng hưởng lợi ích hoặc hài lòng với những lợi ích, dịch vụ đó. Những

nhận xét này đã được nhiều báo cáo đánh giá khác nhau nêu ra và nghiên cứu này sử

dụng khảo sát cũng như tham vấn người dân để kiểm chứng. Trước hết bằng bảng

hỏi, nghiên cứu đặt câu hỏi đối với người dân “có thấy cản trở khi tiếp cận các dịch

vụ giảm nghèo không?” Kết quả cho thấy cảm nhận về những trở ngại ở nhóm thoát

nghèo thấp hơn nhóm cận nghèo và nghèo.

Bảng 3.18. Cảm nhận của người nghèo với các dịch vụ giảm nghèo

Tín dụng Khuyến Hạ tầng Y tế Nội dung Giáo dục(%) nông(%) (%) (%) (%)

31,2 22,37 Thoát nghèo 23,81 13,33 11,43

32,25 38,57 Cận nghèo 35,10 24,35 13,47

34,45 56,64 Nghèo 37,24 28,15 19,05

(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2019)

Đây được coi là những rào cản đối với người nghèo khi tiếp cận chính sách,

dịch vụ giảm nghèo, qua đó không thúc đẩy người dân (nhất là người dân tộc) theo

đuổi những dự định đầu tư, phát triển kinh tế hộ gia đình.

86

3.3. Hạn chế, yếu kém và yếu tố ảnh hưởng đến công tác giảm nghèo ở huyện Ba

Chẽ

3.3.1. Hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

3.3.1.1. Hạn chế, yếu kém

- Tỷ lệ hộ nghèo của huyện có giảm nhưng vẫn còn rất cao (toàn huyện còn

811/4.899 hộ, chiếm tỷ lệ 16,55%). Trong đó còn 03/8 xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 20%

trở lên (xã Thanh Sơn 24,04%, Nam Sơn 25,99%, Đồn Đạc 30,6%). Tỷ lệ hộ nghèo

có giảm theo đúng lộ trình đề ra hàng năm, nhưng vẫn còn nhiều hộ phát sinh nghèo.

Tỷ lệ hộ nghèo năm 2013 có giảm nhưng không có sơ sở vững chắc, do đối tượng

điều tra, rà soát có sự thay đổi so với năm 2012 (Không xét vào diện hộ nghèo, hộ

cận nghèo đối với những hộ gia đình chỉ có 02 vợ chồng trẻ tuổi đời dưới 40 hiện

chưa có con hoặc nuôi con đang học phổ thông, có sức lao động, có tư liệu sản xuất

nhưng lười lao động); không bình xét vào diện hộ nghèo, hộ cận nghèo đối với những

hộ chỉ có người già, cao tuổi, nhưng con của họ có đời sống khá trở lên.

- Tỷ lệ hộ cận nghèo cao (656 hộ cận nghèo, chiếm 13,4% tổng số hộ trên địa

bàn huyện) tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo rất lớn, bởi vì mỗi khi có những tác động bất

lợi đến hộ cận nghèo (thiên tai, dịch bệnh, ốm đau...) thì họ dễ bị tái nghèo trở lại do

không đủ năng lực để đối phó với những biến cố đó. Kết quả giảm nghèo chưa bền

vững; mức sống của hộ nghèo và hộ cận nghèo chưa có sự khác biệt đáng kể nên vẫn

tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo, nhất là khi có thiên tai, dịch bệnh xảy ra. Tốc độ giảm

nghèo không đồng đều giữa các vùng, khu vực, tỷ lệ hộ nghèo còn chênh lệch cao,

tập trung lớn ở các xã vùng cao, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu

số.

- Cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch chậm; sản xuất các lĩnh vực còn nhỏ

lẻ, manh mún, năng suất, chất lượng, hiệu quả còn thấp, chưa có nhiều vùng sản xuất

hàng hóa tập trung đảm bảo nguồn nguyên liệu cung cấp ra thị trường. Chưa khai thác

được hết các tiềm năng, lợi thế của địa phương trong phát triển kinh tế xã hội, việc

kết nối tiêu thụ sản phẩm hàng hóa còn khó khăn.

- Việc lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế xây dựng nông thôn mới

với chương trình 135, chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất,… thực hiện các chính

sách cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn chưa mang lại kết quả như mong

muốn để góp phần giảm nghèo bền vững.

87

3.3.1.2. Nguyên nhân

- Huyện Ba Chẽ là địa phương xuất phát điểm kinh tế - xã hội chậm phát triển,

có khó khăn đặc thù, nguồn lực đầu tư của nhà nước còn hạn chế; tỉnh chưa có cơ chế

chính sách đặc thù cho huyện miền núi vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc

thiểu số. Kinh tế xã hội trên địa bàn huyện tuy đã có sự phát triển nhưng còn thấp,

chưa thực sự khai thác được thế mạnh của địa phương trong phát triển kinh tế, các

nghị quyết thúc đẩy phát triển kinh tế, an sinh xã hội của huyện chưa thực sự đi vào

đời sống nhân dân, bên cạnh đó do địa hình chia cắt phức tạp nên ảnh hưởng đến phát

triển kinh tế của người dân.

- Điều kiện kinh tế - xã hội, địa lý của các xã nghèo, thôn nghèo còn khó khăn,

một số phong tục tập quán lạc hậu ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, một bộ phận

người nghèo còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào chính sách của Nhà nước làm cản trở

mục tiêu giảm nghèo bền vững.

- Công tác phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành, Mặt trận tổ quốc, các đoàn

thể và UBND các xã, thị trấn trong việc thực hiện công tác giảm nghèo chưa chặt chẽ

và đồng bộ; công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế.

- Việc lồng ghép giữa cho vay vốn với tập huấn hướng dẫn cách sản xuất chưa

gắn kết nên việc sử dụng vốn vay của hộ nghèo còn kém hiệu quả.

- Cấp ủy, chính quyền ở một số nơi chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo

công tác giảm nghèo tại địa phương; biểu hiện trong việc chỉ đạo rà soát lập danh

sách hộ nghèo, hộ cận nghèo để có biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện cho

những hộ nghèo tiếp cận các nguồn tín dụng, tiếp cận các các dự án, mô hình làm ăn

có hiệu quả từ đó để họ vươn lên thoát nghèo bền vững.

- Trình độ dân trí không đồng đều, thiếu kiến thức và kinh nghiệm làm ăn; năng

lực trong phát triển kinh tế hộ và tham gia phát triển kinh tế- xã hội của đia phương

còn hạn chế; khi được hỗ trợ vay vốn thì không biết phát huy hiệu quả của đồng vốn,

dẫn đến không hoàn được nợ; chưa có ý thức tiết kiệm; chưa chủ động tìm kiếm và

tiếp cận các cơ hội phát triển cũng như chủ động phòng ngừa chống đỡ được với

những cú sốc và áp lực bên ngoài. Nhiều mô kinh tế, hình kinh nghiệm giảm nghèo

có hiệu quả chậm được áp dụng, phổ biến nhân rộng.

88

- Một bộ phận nhân dân vẫn còn có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào nhà nước để

được nhận sự hỗ trợ, trợ cấp của nhà nước; còn có tư tưởng bằng lòng với cuộc sống

hiện tại, có gì dùng đấy, không chịu khó làm ăn, lười lao động, không tự vươn lên

thoát nghèo.

- Sự vào cuộc của chính quyền ở một số xã đối với mục tiêu giảm nghèo còn

chưa thỏa đáng; chậm triển khai, tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách về giảm

nghèo. Việc chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện còn chung chung, thiếu giải pháp

cụ thể phù hợp cho từng đối tượng và từng địa bàn khác nhau. Thiếu phối hợp chặt

chẽ giữa các ngành và đoàn thể trong việc huy động các nguồn lực, xây dựng cộng

đồng đoàn kết, tương trợ lẫn nhau phòng chống rủi ro, hỗ trợ sản xuất.

- Cán bộ giảm nghèo chưa được xem trọng, một số nơi bố trí cán bộ không đủ

tầm, trình độ năng lực yếu phụ trách công tác giảm nghèo. Công tác tuyên truyền vận

động của cấp ủy, chính quyền về xóa nghèo vươn lên làm giàu ở một số xã thực hiện

chưa quyết liệt và thường xuyên; chưa làm tốt công tác tôn vinh, khen thưởng đối với

các cá nhân có thành tích xuất sắc trong giảm nghèo.

- Cơ chế hỗ trợ, giúp đỡ hộ thoát nghèo, cận nghèo trong vòng 3 năm đầu ổn

định cuộc sống chưa được quan tâm, phần nào tác động không nhỏ đến tâm lý, động

lực thoát nghèo trong đối tượng hộ nghèo. Một số cơ chế hỗ trợ dành cho người nghèo

của Trung ương đang tạo ra tâm lý ỷ lại của người người nghèo, chưa khuyến khích

tính chủ động vươn lên của người nghèo.

3.4. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo, góp

phần giảm nghèo và phát triển kinh tế-xã hội huyện miền núi Ba Chẽ, tỉnh

Quảng Ninh

3.4.1. Tăng cường sự lãnh đạo, sự chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền từ huyện đến

cơ sở

- Kiện toàn bộ máy Ban chỉ đạo giảm nghèo từ huyện đến cơ sở, nâng cao

năng lực chỉ đạo, điều hành của các ban chỉ đạo cho phù hợp với điều kiện thực tế

của từng địa phương. Đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ trực tiếp là công tác giảm nghèo

ở các huyện, các xã nhằm trang bị cho họ những kiến thức cần thiết về công tác dân

vận.

89

- Đổi mới công tác chỉ đạo, quản lý điều hành của chính quyền các cấp.Chỉ

đạo, điều hành linh hoạt, chủ động, quyết liệt, cụ thể hóa các chủ trương của cấp trên,

Nghị quyết của Huyện ủy, HĐND huyện, đề ra nhiều giải pháp tổ chức thực hiện các

cơ chế, chính phù hợp với tình hình địa phương; tuân thủ nguyên tắc tập trung dân

chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; UBND huyện thường xuyên duy trì mối

quan hệ công tác với UB MTTQ và các đoàn thể; chủ động phối hợp tốt với các sở,

ban ngành tỉnh trong việc thực hiện các cơ chế chính sách và thu hút xúc tiến đầu tư trên

địa bàn huyện; Tổ chức thực hiện có hiệu quảcác nhiệm vụ, giải pháp đột phá phát

triển kinh tế - xã hội của huyện như: huy động nguồn lực đầu tư hạ tầng đồng bộ, giải

quyết an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững.

- Để mang lại kết quả giảm nghèo bền vững cần phải có sự đầu tư và chỉ đạo

quyết liệt từ mọi cấp mọi ngành, đặc biệt là vai trò chỉ đạo điều hành tổ chức thực

hiện ở cấp huyện và cơ sở. Có sự phân công các tổ chức đoàn thể, các ban phòng, các

trường học, tổ chức trên địa bàn huyện mỗi đơn vị giúp đỡ hướng dẫn xóa nghèo cho

một số hộ. Cách thức chính là khảo sát hộ và hướng dẫn hộ cách làm ăn, vay vốn,

chuyển đổi cơ cấu sản xuất phù hợp, bởi trình độ và sự năng động cũng như kinh

nghiệm làm ăn của các hộ nghèo còn rất thấp cần sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình theo

phương thức cầm tay chỉ việc. Thời gian qua ở huyện Ba Chẽ đã có một số đơn vị

làm tốt việc hướng dẫn giúp đỡ hộ nghèo. Tuy nhiên nhiều bộ phận đang hưởng ứng

và chấp hành một cách miễn cưỡng, hình thức. Do vậy cần tăng cường sự chỉ đạo của

chính quyền cấp huyện để yêu cầu các tổ chức đơn vị được phân công giúp đỡ hộ

nghèo vào cuộc một cách thiết thực, có cam kết và có chương trình công tác cụ thể

để giúp đỡ hộ nghèo, cuối năm có đánh giá kiểm tra kết quả xoá nghèo tại hộ và kết

quả công tác của đơn vị giúp đỡ để làm tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ công

tác của đơn vị đó. Có như vậy kết quả giảm nghèo sẽ nhanh hơn và đi theo được

hướng giảm nghèo bền vững hơn.

3.4.2. Giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người nghèo, vận động tự

vươn lên thoát nghèo

3.4.2.1. Thúc đẩy ý chí, quyết tâm vươn lên thoát nghèo

Đây là giải pháp quan trọng, người nghèo phải có ý thức vươn lên thoát nghèo

và nỗ lực thoát nghèo thì mới thực hiện có hiệu quả công tác giảm nghèo bền vững.

90

Chính vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên làm cho người nghèo nhận thức đúng về giảm nghèo

bền vững và vai trò của họ trong tiến trình giảm nghèo, và đây sẽ là cơ sở quan trọng

cho việc chuyển đổi hành vi, ý chí ở người dân.

- Trước tiên cần chuyển tải đến người nghèo nhận thức là không ái có thể vượt

khỏi đói nghèo, tạo dựng cuộc sống đủ đầy mà chỉ dựa vào những hỗ trợ từ bên ngoài

(để tránh những tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào nhà nước). Giúp người nghèo xóa bỏ

mặc cảm (cho rằng nghèo đói là do số phận) và có thể có được cuộc sống tốt đẹp hơn,

sung túc hơn nếu nỗ lực vươn lên.

- Để cho mỗi một người dân, một cộng đồng dân cư có nhận thức đúng về

giảm nghèo, cần thực hiện một số giải pháp sau:

+ Huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, tuyên truyền vận động nhân dân tích

cực tham gia sản xuất, tuyên truyền xóa bỏ tập quán thói quen lạc hậu trong sinh hoạt

và sản xuất, khắc phục tư tưởng trông chờ ỷ lại, tích cực tham gia phát triển kinh tế.

+ Tổ chức các hoạt động phổ biến các chủ trương, chính sách thông qua các

hoạt động tại cộng đồng dân cư thông qua các buổi họp thôn, các buổi sinh hoạt của

các tổ chức đoàn thể, lồng ghép xem các phóng sự về các cá nhân, hộ gia đình biết

khắc phục khó khăn vươn lên làm giàu chính đáng, giới thiệu các mô hình giảm nghèo

hiệu quả.

+ Phát huy vai trò của các già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ và những người

có uy tín trong cộng đồng tuyên tryền, vận động nhân dân, con cháu mạnh dạn đăng ký

thoát nghèo, thi đua phát triển kinh tế, không bằng lòng với cuộc sống hiện tại; gương

mẫu thực hiện giảm nghèo.

+ Phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ từ huyện đến cơ sở, tăng cường bám nắm

hộ nghèo, hộ cận nghèo, cộng đồng dân cư nghèo, vận động họ từng bước thay đổi

cách nghĩ cách làm, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, chăn nuôi phát triển kinh tế gia đình,

không cam phận với cái nghèo

- Để giúp cho người nghèo, cộng đồng dân cư thấy được giá trị, lợi ích của

giảm nghèo bền vững, và mỗi người đều có thể thực hiện được, cần triển khai thực

hiện các biện pháp sau:

+ Đẩy mạnh tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chế độ chính sách của nhà

nước trong phát triển kinh tế, các chương trình mục tiêu giảm nghèo sâu rộng đến

91

mọi cấp, mọi ngành, các tầng lớp dân cư và người nghèo nhằm thay đổi và chuyển

biến nhận thức trong giảm nghèo, khơi dậy ý chí chủ động, vươn lên của người nghèo,

tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả chính sách và nguồn lực hỗ trợ của nhà nước, của

cộng đồng để thực hiện có hiệu quả, từng bước thoát nghèo.

+ Tuyên truyền, vận động những giá trị của giảm nghèo bền vững gắn với các

hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, truyền thống...của địa phương, dòng tộc.

+ Giới thiệu và tôn vinh những nhân tố điển hình, mô hình sản xuất, kinh doanh

và cách làm ăn thoát nghèo có hiệu quả ngay tại cộng đồng dân cư, ngay trong dòng

họ, ngay trong dân tộc mình.

+ Thường xuyên tuyên truyền về công tác xoá đói giảm nghèo với nhiều hình

thức phong phú như: Thông qua hệ thống phát thanh, truyền hình địa phương, Hệ

thống cụm loa FM tại thôn, khu phố, tờ rơi, áp phích…và các hoạt động văn hoá, văn

nghệ lồng ghép chủ đề xoá đói giảm nghèo cho phù hợp với tâm lý, tập quán của đồng

bào các dân tộc miền núi nhằm nâng cao nhận thức, xây dựng ý chí, lòng tin quyết

tâm tự vươn lên thoát nghèo.

- Thực hiện các hoạt động khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện cần thiết để

người nghèo có được trải nghiệm cũng như có các phần thưởng động viên kịp thời

khi tham gia vào hoạt động trên.

+ Cung cấp những hỗ trợ kèm theo (ưu đãi lãi suất, hỗ trợ con giống, vật nuôi

để họ mạnh dạn vay vốn đầu tư, sản xuât; tập huấn kỹ thuật chăm sóc cây trồng vật

nuôi được hỗ trợ tiền đi lại; hoặc thưởng cho những hộ vận động được hộ khác triển

khai thực hiện các mô hình, dự án có hiệu quả)

+ Tổ chức cho thử nghiệm, làm quen với cách làm mới, kỹ thuật mới, mô hình

mới.

+ Khen thưởng kịp thời nếu tổ chức thử nghiệm thành công (ví dụ: tặng thưởng

nếu thoát nghèo, tăng hỗ trợ nếu thực hiện các mô hình dự án thành công...).

92

3.4.2.2. Nâng cao nhận thức, năng lực ở hộ nghèo

- Giúp cho người nghèo, cộng đồng dân cư nhận thức sâu hơn về việc nâng

cao năng lực để tăng hiệu quả lao động, cải thiện thu nhập, nâng cao mức sống, thông

qua để giảm nghèo bền vững.

- Vận động hộ nghèo, người nghèo tích cực tham gia các lớp tập huấn, học tập

kinh nghiệm sản xuất, chuyển giao khoa học kỹ thuật, kỹ năng chi tiêu trong gia đình,

kỹ năng quản lý kinh tế hộ gia đình, lập kế hoạch sản xuất; tham gia vào các khóa

hoặc buổi tập huấn đầu bờ các mô hình, cách thức sản xuất theo từng lại cây, con

giống.

- Tạo điều kiện cho mọi người nghèo được tham gia các khóa tập huấn về

khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao KHKT,...khuyến khích họ áp dụng những

hiểu biết, kinh nghiệm sản xuất vào ứng dụng thực tế.

- Đa dạng hóa các hình thức tập huấn, hướng dẫn, định hướng nâng cao năng

lực cho hộ nghèo: Tổ chức mạn đàm tại trong các cuộc họp của thôn, sinh hoạt của

các đoàn thể nhân dân; tổ chức theo hình thức trình diễn; tổ chức chia sẻ, truyền đạt

kinh nghệm làm ăn giữa các hộ gia đình trong cộng đồng, dòng tộc; chia sẻ kinh

nghiệm làm ăn, các mô hình kinh tế hiệu quả giữa các thôn, bản, giữa các dòng họ

với nhau.

- Tổ chức các hội thi, liên hoan liên quan đến tay nghề, năng suất lao động;

vinh danh các sảm phẩm tiêu biểu, sáng tạo của nông dân từ cấp thôn khu trở lên.

3.4.3. Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách và sự hỗ trợ, tạo điều kiện từ phía

chính quyềncác cấp

3.4.3.1. Thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế xã hội nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế

Tập trung triển khai thực hiện tốt các quy hoạch được Tỉnh và HĐND huyện

được duyệt nhằm tạo động lực phát triển kinh tế của huyện nói chung và các xã khó

khăn nói riêng: Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, quy hoạch sản xuất nông - lâm

- ngư nghiệp giai đoạn 2011-2020, định hướng đến năm 2030; Quy hoạch tổng thể

phát triển kinh tế - xã hội huyện Ba Chẽ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030;

Quy hoạch Vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp tập trung, quy hoạch bảo vệ môi

trường, quy hoạch vùng xã, huyện, Quy hoạch đô thị và hạ tầng kỹ thuật; Quy hoạch

93

sản xuất, chế biến thức ăn chăn nuôi trên địa bàn huyện giai đoạn 2016-2020 định

hướng đến năm 2030; quy hoạch xây dựng nông thôn mới để thuận lợi cho việc thu

hút đầu tư xây dựng các công trình, dự án theo chủ trương của Tỉnh, của huyện.

3.4.3.2. Đẩy nhanh phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, thu nhập cho người nghèo,

xã nghèo

- Xuất phát từ những lợi thế của huyện và căn cứ vào phương hướng phát triển

kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn 2030, cần tập chuyển

dịch cơ cấu kinh tế theo hướng: Công nghiệp – xây dựng; thương mại-dịch vụ; nông-

lâm-ngư nghiệp, để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện:

+ Tập trung phát triển các vùng nguyên liệu gỗ, vùng dược liệu (chủ yếu ba kích

tím) theo hướng thâm canh gắn với chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị.

+Tiếp nhận các cơ sở sản xuất công nghiệp được di dời từ Cẩm Phả, Hạ Long

(nhằm giải phóng mặt bằng cho các dự án phát triển đô thị, dịch vụ của các thành phố

này).

+ Phát triển mạnh khu vực nông thôn với trọng tâm là phát triển nông nghiệp

hàng hóa an toàn chất lượng cao với những sản phẩm có lợi thế của huyện như: thanh

long ruột đỏ, mía tím, nấm linh chi, tre mai, chè hoa vàng, chăn nuôi đại gia súc cung

cấp cho 2 khu kinh tế mở Vân Đồn và Móng Cái, các khu du lịch, khu công nghiệp,

đô thị

+Phát triển du lịch tâm linh, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng gắn với nền

văn hóa bản địa.

- Bố trí kinh phí cho rà soát, xây dựng quy hoạch sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện cụ thể của huyện, xã,

nhất là những nơi có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thường xuyên bị thiên tai; Đối

với vùng còn đất có khả năng khai hoang, phục hoá để sản xuất nông nghiệp hỗ trợ 10

triệu đồng/ha khai hoang; 05 triệu đồng/ha phục hoá; Hỗ trợ một lần toàn bộ tiền mua

giống, phân bón cho việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao; ưu tiên

hỗ trợ trồng các loại cây lâm sản quý, cây dược liệu, lúa lai, ngô lai,…

- Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại đầu tư sản xuất,

chế biến, kinh doanh trên địa bàn huyện: Được hưởng các điều kiện thuận lợi và ưu

94

đãi cao nhất theo quy định hiện hành của nhà nước; Khuyến khích, tạo điều kiện và

có chính sách ưu đãi thu hút các tổ chức, nhà khoa học trực tiếp nghiên cứu, ứng

dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ ở địa bàn, nhất là việc tuyển chọn,

chuyển giao giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất ở huyện.

- Chú trọng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật - công nghệ mới, chuyển dịch cơ

cấu cây trồng, vật nuôi...phát triển các vùng sản xuất tập trung các sản phẩm có lợi

thế của huyện gắn với công nghiệp chế biến, công nghệ sau thu hoạch trên cơ sở liên

kết chặt chẽ 4 nhà; thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại theo chu trình khép kín từ

khâu sản xuất - tiêu thụ.

- Phát triển công nghiệp chế biến lâm sản. Gắn việc phát triển vùng nguyên

liệu với nhà máy chế biến, thực hiện tốt sự liên kết giữa người dân tham gia phát triển

vùng nguyên liệu với các nhà máy chế biến. Kêu gọi, thu hút các doanh nghiệp đầu

tư tập trung chủ yếu các lĩnh vực sau:

+ Chế biến gỗ: tập trung chủ yếu các sản phẩm: các loại ván nhân tạo, gỗ ghép

thanh, đồ gỗ nội thất,… phục vụ tiêu dùng trong nước và tiến tới xuất khẩu. Xuất phát

từ lợi thế của Ba Chẽ là điều kiện đất đai rộng có điều kiện phát triển các nhà máy

chế biến gỗ có quy mô lớn

+ Sản xuất rượu Ba kích và đa dạng hóa các sản phẩm về dược liệu

+ Sảm xuất các sản phẩm từ Chè Hoa vàng và các sản phẩm từ Tre.

+ Tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến kêu gọi đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp

công nghiệp chế biến lâm nông sản, chế biến dược liệu, sản xuất vật liệu xây dựng,...

vào cụm công nghiệp Nam Sơn, cụm công nghiệp Đạp Thanh và Thanh Lâm.

- Xây dựng khu vui chơi giải trí để du kháchđược ở nhà của người bản xứ, ăn

món ăn đặc sản của đồng bào dân tộc, giao lưu trao đổi văn hóa với người dân, được

tận hưởng những làn điệu dân ca, hát Soóng Cọ, hội Lồng Tồng của dân tộc Tày, hát

giao duyên của dân tộc sán chỉ, múa Phùn Voòng của người Dao, hát Then của đồng

bào Tày,… Ngoài ra còn xây dựng một số hình thức thể thao trên mặt nước như ô tô

nước, đua thuyền…các môn thể thao, các trò chơi dân gian của các dân tộc. Xây dựng

làng văn hóa du lịch cộng đồng gắn với phát triển nông thôn mới: Làng văn hóa dân

95

tộc (dân tộc Dao) tại thôn Nam Hả (xã Nam Sơn); Làng văn hóa dân tộc Tày Làng

Dạ (Thanh Lâm).

- Đề nghị Tỉnh quan tâm tạo điều kiện cơ chế chính sách; huyện chủ động

chuẩn bị các điều kiện: điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để bố trí quỹ đất thuận lợi;

có phương án bảo vệ môi trường sinh thái của huyện; đầu tư kết cấu hạ tầng thiết yếu

đồng bộ; có các giải pháp cụ thể về công tác di dân, đền bù giải phóng mặt bằng, bố

trí nghề nghiệp của người bị thu hồi đất,… thu hút nhà đầu tư chiến lược vào đầu tư

tại địa bàn, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm, nâng cao thu

nhập cho nhân dân địa phương.

- Dành quỹ đất thích hợp, thuận lợi cho việc thực hiện các dự án trồng cây

dược liệu. Tạo điều kiện giải phóng mặt bằng; tuyên truyền quảng bá giới thiệu tiềm

năng lợi thế nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư tại huyện.

- Đưa kinh tế lâm nghiệp phát triển theo hướng bền vững: Quy hoạch vùng sản

xuất lâm nghiệp, trú trọng phát triển cây trồng có giá trị kinh tế cao như Thông lấy

nhựa, Sa mộc, Quế, Keo, cây gỗ lớn,…Triển khai đề án phát triển rừng bền vững.

Quy hoạch vùng trồng rừng gắn với phát triển các cây trồng dưới tán rừng, nhằm tận

dụng tối đa giá trị sản phẩm từ rừng. Đảm bảo hài hòa trong việc giao đất rừng, nghiên

cứu điều chỉnh cơ chế chính sách về giao đất giao rừng bổ sung theo hướng phù hợp

với các đối tượng, tạo điều kiện cho nhân dân phát triển kinh tế, đặc biệt là các hộ

nghèo chưa có đất hoặc thiếu đất sản xuất.

3.4.3.3. Thực hiện tiếp nhận nguồn Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng và hỗ trợ phát triển

sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn, các thôn đặc biệt khó khăn theo chương trình

135:

- Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng: Hoàn thiện hệ thống đường giao thông nông

thôn phục vụ sản xuất, kinh doanh và dân sinh trên địa bàn xã, thôn, bản; Hoàn thiện

hệ thống các công trình bảo đảm cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất, kinh

doanh trên địa bàn xã, thôn, bản; Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu

về hoạt động văn hóa trên địa bàn xã gồm: Trạm chuyển tiếp phát thanh xã; nhà văn

hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng ở xã, thôn, bản; Hoàn thiện các công trình để bảo đảm

chuẩn hóa trạm y tế trên địa bàn xã; Hoàn thiện hệ thống các công trình để bảo đảm

96

chuẩn hóa giáo dục trên địa bàn xã; xây dựng lớp tiểu học, mẫu giáo, nhà trẻ, nhà ở

giáo viên, trang bị bàn ghế, điện, nước sinh hoạt, công trình phụ trên địa bàn thôn,

bản; Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã, thôn, bản; Duy tu, bảo dưỡng

các công trình hạ tầng cơ sở ở các xã đặc biệt khó khăn, các thôn đặc biệt khó khăn.

- Hỗ trợ phát triển sản xuất: Hỗ trợ các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm,

khuyến ngư, giúp người nghèo tiếp cận các dịch vụ và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ

thuật vào sản xuất; Hỗ trợ xây dựng và phổ biến nhân rộng mô hình sản xuất mới,

gồm: Mô hình chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi, chế

biến, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; hỗ trợ giống, cây trồng, vật nuôi có

năng suất cao; vật tư sản xuất, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật; Hỗ trợ mua sắm

trang thiết bị, máy móc, công cụ sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản; Hỗ trợ đất ở,

đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở

xã, thôn đặc biệt khó khăn.

3.4.3.4. Đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và

chương trình 135

- Áp dụng khoa học, kỹ thuật công nghệ tiên tiến trong sản xuất để tăng năng

suất sản lượng lương thực các loại cây trồng và hoa màu; thực hiện liên kết 4 nhà

trong phát triển sản xuất nông nghiệp, nhằm tăng cường nguồn lực; thu hút các nhà

đầu tư có tiềm lực đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp, phát triển các tổ chức sản

xuất trong nhân dân (Hợp tác xã, tổ hợp tác,…) nhằm tập hợp, thu mua, chế biến tiêu

thụ sản phẩm.

- Tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân có điều kiện và kinh nghiệm

đầu tư xây dựng một số trang trại chăn nuôi trên địa bàn theo mô hình trang trại chăn

nuôi công nghiệp; xúc tiến đầu tư, liên doanh, liên kết tìm kiếm thị trường nhằm giải

quyết tốt đầu ra ổn định cho các sản phẩm chăn nuôi.

- Quy hoạch vùng sản xuất lâm nghiệp, trú trọng phát triển cây trồng có giá trị

kinh tế cao như: Thông lấy nhựa, sa mộc, quế, keo; quy hoạch vùng trồng rừng gắn

với phát triển các cây trồng dưới tán rừng (dược liệu, gừng, địa liền,…) nhằm tận

dụng tối đa giá trị sản phẩm từ rừng. Phat triển lâm nghiệp gắn với sử dụng hiệu quả,

bền vững tài nguyên rừng hiện có.

97

- Tuyên truyền vận động, tạo sự đồng thuận, huy động sức mạnh của cả hệ

thống chính trị, đặc biệt là sự tham gia của người dân trong thực hiện chương trình

xây dựng nông thôn mới. Kịp thời, chủ động đề xuất tỉnh bố trí nguồn lực đầu tư theo

lộ trình xây dựng nông thôn mới. Áp dụng tốt các cơ chế chính sách hiện hành của

Trung ương, của tỉnh để thực hiện chương trình. Tiếp tục huy động nguồn lực xã hội

hóa, lồng nghép các nguồn vốn hỗ trợ của tỉnh, với sự đóng góp của nhân dân để hoàn

thành các chỉ tiêu, tiêu chí hạ tầng nông thôn, hạ tầng dân sinh như giao thông, thủy

lợi, môi trường, nhà ở.

- Thực hiện tốt nguồn vốn ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh hỗ trợ Chương

trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững, hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,

hỗ trợ phát triển sản xuất (Chương trình 135) và chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất,

nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở các xã đặc biệt

khó khăn, thôn đặc biệt khó khăn.

3.4.3.5. Thực hiện chính sách giao đất, giao rừng để các hộ nghèo có đất sản xuất

- Rừng và đất lâm nghiệp là nguồn tư liệu sản xuất không thể thiếu của bà con

các dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa như huyện Ba Chẽ. Cần đẩy mạnh việc giao đất,

giao rừng cho các hộ gia đình, tạo động lực khuyến khích nhân dân tích cực tham gia

bảo vệ và phát triển rừng; đảm bảo cho thu nhập từ rừng trở thành nguồn thu đáng kể

đối với các hộ nông dân miền núi; góp phần giảm nghèo bền vững, ổn định chính trị

- xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái

- Việc giao đất, giao rừng phải có sự tham gia của người dân địa phương và

công bố công khai phương án giao đất, giao rừng tại thôn, khu phố; hạn mức giao cho

mỗi hộ gia đình tối đa 5 ha/hộ (giao từ ≥ 3 đến ≤ 5 ha/hộ); nếu hộ bố, mẹ đã được

giao đất, giao rừng trên 10 ha, khi chia tách khẩu cho con cái thì phải tự chia đất cho

hộ mới tách, đảm bảo tối đa 5 ha/hộ.

- Gắn việc giao đất với khuyến nông và hỗ trợ tín dụng để giúp ngƣời dân sử

dụng có hiệu quả đất được giao.

98

3.4.3.6. Các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông lâm nghiệp

- Hội đồng nhân dân huyện ban hành Nghi quyết về các chính sách khuyến

khích sản xuất nông lâm nghiệp thủy sản theo hướng hành hóa (hỗ trợ lãi xuất vay

vốn Ngân hàng; hỗ trợ giống, hỗ trợ vật tư đối với từng cây, con vật nuôi).

- HĐND, UBND huyện nghiên cứu ban hành các hướng dẫn định mức, tiêu

chuẩn kỹ thuật và thủ tục thanh quyết toán nguồn ngân sách tập trung Chương trình

Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới đối với các loài cây, con vật nuôi có giá

trị kinh tế cao để thúc đẩy người dân sản xuất theo hướng hàng hóa, giảm nghèo bền

vững.

3.4.3.7. Triển khai thực hiện tốt việc liên kết, tiêu thụ sản phẩm

- Xây dựng được mối liên kết với các huyện lân cận (Tiên Yên, Đầm Hà,

Hoành Bồ, Bình Liêu) để thống nhất xây dựng vùng nguyên liệu (vùng nguyên liệu

gỗ, ba kích tím, thanh long ruột đỏ, mía tím,...) phục vụ cho công tác tiêu thụ, công

nghiệp chế biến ổn định, bền vững.

- Đẩy mạnh mối quan hệ kinh tế giữa Ba Chẽ với thành phố lớn, khu công

nghiệp, khu đô thị: đây là thị trường lớn tiêu thụ các loại lâm nông sản của Ba Chẽ.

Ngược lại Ba Chẽ có thể tiếp nhận được sự hỗ trợ của thành phố, khu công nghiệp,

đô thị trên các lĩnh vực: cung cấp công nghệ, hợp tác liên doanh, liên kết, trao đổi

hàng hóa, hợp tác và giúp đỡ về đào tạo cán bộ dạy nghề, giải quyết việc làm cho lao

động trên địa bàn huyện.

- Có sự phối hợp chặt chẽ các huyện lân cận để xây dựng nên những tuyến du

lịch mới, đồng thời phối hợp giúp đỡ nhau trong công tác quảng cáo tuyên truyền thu

hút khách du lịch và kêu gọi nhà đầu tư. Liên kết với các Công ty du lịch TP. Hạ

Long, liên kết với các tuor du lịch của các tỉnh thành phía Bắc (đặc biệt là thành phố

Hà Nội) để gắn kết các tuyến du lịch và thu hút khách.

3.4.3.8. Xây dựng các cơ chế hỗ trợ, chính sách phù hợp tạo điều kiện để người nghèo

vươn lên, thoát nghèo bền vững

- Thực hiện xoá bao cấp trong giảm nghèo, chuyển sang những phương pháp,

phương thức hỗ trợ phù hợp, trong đó triển khai thực hiện cơ chế, chính sách hỗ trợ

phát triển sản xuất Nông- Lâm- Ngư- Tiểu thủ công nghiệp: Người dân vay vốn, nhà

99

nước hỗ trợ lãi xuất để phát triển sản xuất; hỗ trợ cây con giống theo một tỷ lệ nhất

định (ví dụ: nhà nước hỗ trợ 70%, người dân bỏ ra 30%; nhà nước hỗ trợ chuồng trại,

thức ăn, người dân đầu tư con giống,....) thông qua đó để người dân có trách nhiệm

và ý thức hơn trong việc phát triển kinh, vươn lên thoát nghèo.

- Ban hành cơ chế hỗ trợ đối với những hộ gia đình thoát nghèo, cận nghèo để

ổn định cuộc sống trong vòng 03 năm đầu để tránh tái nghèo. Thực hiện việc hỗ trợ

lãi suất từ nguồn ngân sách địa phương, để Ngân hàng CSXH cho hộ cận nghèo vay

với lãi suất 0%, giúp họ sản xuất kinh doanh, chuyển đổi nghề nghiệp, phát triển kinh

tế vươn lên làm giàu.

- Nhà nước ưu tiên ngân sách để thực hiện chính sách khuyến khích thoát

nghèo bền vững đối với những hộ nghèo và thôn có tỷ lệ nghèo cao có ý chí tự nguyện

đăng ký thoát nghèo bền vững, trong đó lấy chính sách khuyến khích hộ thoát nghèo

bền vững làm chính sách cơ bản, nền tảng để giảm tỷ lệ hộ nghèo của thôn và xã.

Đồng thời phát huy vai trò chủ động, tính tự giác, tinh thần tích cực và ý thức thoát

nghèo của từng hộ nghèo, thôn có tỷ lệ nghèo cao để đăng ký thoát nghèo hoặc giảm

nghèo nhanh, bền vững.

- Tăng cường công tác khuyến nông –lâm-ngư miễn phí cho người nghèo làm

nông nghiệp ở nông thôn thông qua bồi dưỡng về kiến thức và kỹ năng áp dụng kỹ

thuật và công nghiệp mới, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất kinh doanh nông

nghiệp có năng suất và thu nhập cao; về kiến thức kinh doanh trong kinh tế hộ gia

đình; trước hết là kiến thức và kỹ năng xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, hạch

toán thu –chi, tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm,...để tăng thu nhập, thoát nghèo

bền vững.

- Nhà nước tiếp tục hỗ trợ, tạo điều kiện cho hộ nghèo về mặt bằng kinh doanh,

tạo cơ hội làm ăn và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, đồng thời tổ chức đào tạo, bồi dưỡng

kiến thức và kỹ năng phù hợp.

3.4.3.9. Tổ chức tốt việc huy động các nguồn lực cho giảm nghèo bền vững

- Ngoài nguồn vốn được ngân sách trung ương hỗ trợ từ chương trình mục tiêu

quốc gia về xoá đói giảm nghèo và việc làm và các chương trình phát triển kinh tế xã

hội miền núi có liên quan đến việc thực hiện giảm nghèo của địa phương, để tăng

100

thêm nguồn lực cho chương trình giảm nghèo bền vững, cần đẩy mạnh xã hội hoácông

tác giảm nghèo, thực hiện tuyên truyền vận động nhân dân phát huy nội lực tại chỗ;

khuyến khích các tổ chức đoàn thể, các tổ chức xã hội các doanh nghiệp và các nhà

hảo tâm tham gia ủng hộ nguồn lực vật chất cho công tác giảm nghèo của địa phương.

- Tổ chức tốt cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”. Tổng kết rút kinh nghiệm

và nhân rộng các mô hình xã hội hoá công tác giảm nghèo có hiệu quả, huy động các

nguồn lực trong xã hội cho công tác giảm nghèo.

- Tăng cường dân chủ và công khai hoá các hoạt động giảm nghèo để dân biết,

tham gia và giám sát thực hiện. Đề cao tinh thần trách nhiệm tính chủ động sáng tạo

của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp làm

thất thoát kinh phí, nhất là ngân sách nhà nước, vốn đóng góp của từng lớp dân cư

cho công tác giảm nghèo.

- Tổ chức tốt việc lồng ghép chương trình dự án phát triển với mục tiêu giảm

nghèo bền vững, đồng thời vận động các tổ chức trong và ngoài nước tăng cường

nguồn lực cho công tác giảm nghèo.

3.4.4. Nhóm giải pháp tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội

còn thiếu hụt

3.4.4.1 Tăng cường hỗ trợ về y tế cho người nghèo

- Củng cố hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả, phát triển

bền vững để mọi người dân được cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản, có điều kiện tiếp

cận các dịch vụ khám chữa bệnh ngay tại cơ sở; Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất

cho các trạm xá xã, nâng cao chất lượng y tế thôn bản đáp ứng ngày một tốt hơn công

tác chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng.

- Hỗ trợ kinh phí mua thẻ BHYT cho các thành viên trong hộ nghèo, hộ mới

thoát nghèo, đề nghị tỉnh sớm có chính sách trợ cấp xã hội hằng tháng cho các thành

viên trong hộ nghèo không có khả năng thoát nghèo, mức trợ cấp bằng mức chuẩn

của tỉnh quy định đối với đối tượng BTXH theo từng thời kỳ.

- Thực hiện tốt công tác y tế dự phòng nhằm tuyên truyền, vận động bà con ăn

chín, uống sôi, phổ biến kiến thức về y tế, để người dân tự chăm lo sức khỏe cho bản

101

thân và gia đình, đảm bảo 100% hộ nghèo đều được cấp thẻ Bảo hiểm Y tế, thẻ khám

chữa bệnh miễn phí cho người nghèo dân tộc thiểu số.

- Thực hiện tốt chính sách ưu đãi đặc biệt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo,

đảm bảo đa số được chăm sóc sức khỏe ban đầu ngay tại cơ sở. Cấp phát thuốc miễn

phí cho các đối tượng quá khó khăn.

- Thường xuyên tổ chức các đợt khám chữa bệnh lưu động miễn phí, định kỳ

tại các thôn, làn và hướng dẫn bà con cách phòng tránh bệnh tật.

3.4.4.2. Chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo

- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ sở giáo dục để đảm bảo thực hiện tốt các

nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo,

duy trì các lớp bổ túc văn hóa trung học cơ sở; duy trì và củng cố vững chắc kết quả

phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, nâng tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 – 35 đạt

100%, tỷ lệ người biết chữ độ tuổi từ 15-60 đạt 96%.

- Đẩy mạnh thực hiện phổ cập giáo dục THCS cho trẻ em hộ nghèo, phổ cập

nghề cho thanh niên nông thôn, vùng dân tộc.

- Nâng cấp cơ sở vật chất các trường PTCS, THCS hiện có ở các xã đặc biệt

khó khăn theo hình thức “bán trú dân nuôi” ở những nơi khó khăn cho con em đồng

bào dân tộc để tạo nguồn cán bộ.

- Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ giáo dục miền núi như: Cấp sách giáo

khoa miễn phí, miễn giảm học phí và các khoản đóng góp khác có liên quan đến học

tập của con em hộ nghèo, thực hiện trợ cấp và cấp học bổng nhằm tạo điều kiện cho

con em các gia đình đồng bào dân tộc thiểu số đi học ở 3 cấp học và cho vay tín dụng

để con em đồng bào học nghề và chuyên nghiệp nhằm tạo cơ hội cho tất cả con em

hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc được học tập ở hệ thống giáo dục quốc dân.

3.4.4.3 Tăng cường hỗ trợ về nhà ở cho người nghèo

Vận động các hộ nghèo tích cực tham gia chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ

nghèo theo Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo

396 hộ, vận động xã hội hóa từ các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, quỹ vì người

nghèo 150 hộ, vận động gia đình tự xây 100 hộ, từ chương trình tín dụng ưu đãi thông

102

qua ngân hàng chính sách xã hội 288 hộ… để hỗ trợ xây mới nhà ở đảm bảo đạt chuẩn

theo quy định.

Rà soát, thống kê lập danh sách hộ nghèo có khó khăn về nhà ở (hộ nghèo theo

chuẩn nghèo giai đoạn 2011 – 2015); đề nghị Trung ương, tỉnh hỗ trợ vay vốn để cải

thiện nhà ở, vận động xã hội hóa, hộ gia đình tiếp nhận nguồn hỗ trợ triển khai thực

hiện. Phấn đấu đến năm 2020 trên địa bàn huyện cơ bản không còn hộ nghèo ở nhà

tạm, dột nát.

3.4.4.4. Tăng cường hỗ trợ về nước sạch vệ sinh

Tiếp tục đầu tư công trình nước sinh hoạt tập trung, nhỏ lẻ tại các thôn bản, đưa

tỷ lệ người dân khu vực nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh lên 95%; Thực

hiện tốt chương trình 755 về chính sách hỗ trợ nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc

thiểu số; vận động xã hội hóa hỗ trợ làm nhà vệ sinh cho những hộ hiện chưa có nhà

vệ sinh từ các chương trình 900 hộ,…

3.4.4.5. Tăng cường hỗ trợ về tiếp cận thông tin

Đầu tư phát triển các trạm phát sóng của các mạng thông tin di động, đảm bảo

nâng cao chất lượng, phạm vi phủ sóng. Phấn đấu đến năm 2020 đạt 90 máy điện

thoại/100 dân; 100% số xã có điểm cung cấp dịch vụ viễn thông, 100% số xã có điểm

truy nhập Internet công cộng, tỷ lệ người dân truy cập Internet đạt 40 - 50%; vận động

đồng bào thay đổi tập tục lạc hậu trong sinh hoạt, nhất là trang sắm đồ dùng sinh hoạt

tối thiểu đài, tivi,…để nắm bắt, tiếp cận các thông tin về kinh tế xã hội…

3.4.4.6. Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách khác

Hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo theo Quyết định số 2409/QĐ-TTg ngày

19/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo; Chính sách

hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn theo Quyết định số

102/2009/QĐ-TTg ngày 07/8/2009; Thực hiện kịp thời, đầy đủ trợ cấp khó khăn, trợ

cấp đột xuất (do thiên tai, hỏa hoạn và rủi ro bất khả kháng gây ra).

103

3.4.5. Nhóm giải pháp tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, tăng thu

nhập

3.4.5.1. Đẩy mạnh tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo

- Thực hiện cho vay vốn sản xuất kinh doanh đối với những hộ nghèo theo

chuẩn nghèo của Tỉnh. Cho vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh đối với những

những hộ nghèo theo chuẩn nghèo của Tỉnh và những hộ mới thoát khỏi diện hộ cận

nghèo theo chuẩn nghèo Quốc gia quy định từng thời kỳ; Hằng năm Tỉnh bố trí cân

đối ngân sách ủy thác cho Ngân hàng Chính sách xã hội – Chi nhánh Quảng Ninh

thực hiện.

- Đảm bảo huy động đủ nguồn vốn cho số hộ nghèo và hộ có nguy cơ tái nghèo

vay, tạo điều kiện để người nghèo dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, vốn vay

thuận lợi và sử dụng có hiệu quả.

- Phối hộp chặt chẽ với các tổ chức hội: Hội phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn

Thanh niên, Hội cực chiến binh…thực hiện tốt hợp đồng uỷ thác, các tổ tiết kiệm có

lợi cho người nghèo.

3.4.5.2. Hỗ trợ khoa học kỹ thuật, vốn và kinh nghiệm làm ăn cho hộ nghèo

- Đẩy mạnh công tác hỗ trợ hộ nghèo về kiến thức và kỹ năng xây dựng kế

hoạch, bố trí sản xuất hợp lý, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào tổ chức sản xuất

kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm gắn với giải pháp hỗ trợ vốn, tăng thu nhập bền vững.

Đối tượng cần tập trung ưu tiên khi thực hiện chính sách hỗ trợ người nghèo cách làm

ăn là những hộ nghèo có lao động, có đất sản xuất nhưng thiếu kinh nghiệm, kiến

thức; những hộ nghèo thuộc đối tượng chính sách, phụ nữ nghèo.

- Duy trì việc mở các các lớp tập huấn tại địa bàn dân cư; hội nghị đầu bờ; xây

dựng mô hình trình diễn; sử dụng các tờ rơi; quảng cáo, phát hành tài liệu để phổ biến

kiến thức cho nhân dân, nhất là các đối tượng nghèo. Nội dung cần tập trung ưu tiên

hướng dẫn, phổ biến trong thời gian tới là: những kiến thức, kỹ năng về xây dựng kế

hoạch, ra quyết định sản xuất kinh doanh phù hợp với thị trường; bố trí sản xuất; quản

lý chi tiêu trong gia đình, quản lý sản xuất.

- Các phòng ban chuyên môn của huyện phối hợp chặt chẽ với chính quyền

địa phương, cộng đồng dân cư tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật canh tác,

104

trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp,

dịch vụ buôn bán nhỏ,...cung cấp thông tin về khoa học kỹ thuật, thị trường, nhất là

các đối tượng ở vùng sâu, vùng xa.

- Xây dựng các chương trình, dự án đào tạo, tập huấn hướng dẫn người nghèo

cách làm ăn phải phù hợp với tâm lý của người nghèo, phong tục của từng địa phương,

bảo đảm vừa học lý thuyết vừa thực hành tại chỗ để hộ nghèo nắm bắt nhanh và ứng

dụng ngay trong sản xuất, nâng cao thu nhập; hướng dẫn các hộ nghèo rèn luyện kỹ

năng và phương pháp làm ăn với những mô hình thiết thực nhất, đơn giản và có hiệu

quả.

3.4.5.3. Thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm

- Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách dạy nghề gắn với tạo

việc làm cho lao động nông thôn, trong đó quan tâm ưu tiên cho lao động nông thôn

thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo Đề án 1956 trên địa bàn tỉnh.

-Quan tâm đào tạo dạy nghề cho người lao động có tay nghề, có kỹ thuật theo

yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, để họ áp dụng vào sản xuất,

vươn lên làm giàu trong tương lai. Có các chính sách hỗ trợ phát triển ngành nghề,

khôi phục nghề truyền thống, tạo việc làm tại chỗ.

- Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá

và áp dụng công nghệ cao, nhất là công nghệ sinh học, hình thành các vùng sản xuất

nông nghiệp công nghệ cao để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn (vùng

chuyên canh trồng rau sạch, vùng sản xuất tập trung với các sản phẩm chủ lực như:

Mía tím, thanh long ruột đỏ, nấm linh chi, măng tre mai); phát triển các gia trại, trang

trại chăn nuôi tập trung. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp – tiểu thủ công

nghiệp: Công nghiệp chế biến nông – lâm thủy sản; Công nghiệp sản xuất vật liệu

xây dựng; Công nghiệp khai thác và sơ chế khoáng sản; Thủ công nghiệp và ngành

nghề.

- Phối hợp với Trường Đạo tạo nghề mỏ Hữu Nghị, Trường Đào tạo nghề mỏ

Hồng Cẩm vận động lực lượng thanh niên đã học xong THCS, THPT hiện đang chưa

có việc làm đi học Trung cấp nghề mỏ (Khai thác hầm lò, cơ điện,...) nhằm cung cấp

105

nguồn nhân lực cho ngành Thanh (Tốt nghiệp bố trí việc làm tại Công ty nhà nước

thuộc Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam).

- Giải quyết việc làm: Kết hợp chặt chẽ kế hoạch sử dụng đất và nguồn lao động

tại chỗ để giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập; khuyến khích các doanh nghiệp,

hợp tác xã hỗ trợ, tiếp nhận và sử dụng lao động là đồng bào dân tộc, người nghèo;

kêu gọi các doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư phát triển trồng cây dược liệu, trồng

rừng, chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn để thu hút lao động và tạo việc làm tại

chỗ. Đẩy mạnh việc đào tạo nghề để nâng cao chất lượng nguồn lao động; ưu tiên

việc đào tạo lao động tại chỗ( mỗi năm đào tạo từ 250 lao động rở lên). Vận động

người dân đi tham gia xuất khẩu lao động, lao động ở các doanh nghiệp trong tỉnh,

Công ty TNHH TEXHONG Ngân Long(tại Móng Cái, Hải Hà), Công ty Samsung

tại Thái Nguyên, Bắc Ninh, đặc biệt tham gia công nhân ngành than tại tỉnh (mỗi năm

tạo việc làm mới cho 450 lao động trở lên). Không ngừng nâng cao dân trí cho đồng

bào dân tộc thiểu số, người nghèo, vận động người nghèo tham gia học nghề, tiếp cận

khoa học kỹ thuât; hướng dẫn đồng bào thay đổi tập tục lạc hậu trong sinh hoạt và

sản xuất, nhất là nếp ăn ở hợp vệ sinh, học hành, tiếp cận khoa học kỹ thuật, thông

tin - đây là vấn đề cốt lõi để nâng cao đời sống mọi mặt của người dân.

3.4.6. Một số giải pháp khác

3.4.6.1. Giảm quy mô hộ gia đình và tỷ lệ phụ thuộc

- Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động toàn xã hội thực hiện mỗi

cặp vợ chồng chỉ một hoặc hai con, nhằm làm chuyển biến sâu sắc về nhận thức,

tâm lý tập quán sinh nhiều con trong cộng đồng dân tộc trên địa bàn huyện Ba

Chẽ. Hoạt động tuyên truyền vận động phải phù hợp với từng nhóm đối tượng,

từng khu vực, đặc biệt là những thôn có mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ ba còn cao,

vùng sâu, vùng xa.

- Vận động các tầng lớp nhân dân, người có uy tín trong cộng đồng, già làng,

người cao tuổi nhắc nhở con cháu thực hiện tốt chính sách DS-KHHGĐ, tich cực thực

hiện hương ước, quy ước nhằm nâng cao nhận thức từng bước chuyển đổi hành vi

một cách bền vững trong thực hiện chính sách DS-KHHGĐ.

3.4.6.2. Thực hiện tốt chính sách an ninh xã hội, trợ giúp các đối tượng yếu thế

106

- Hỗ trợ người nghèo khi gặp rủi ro và những hộ nghèo thuộc diện chính sách

mà không có khả năng lao động. Trong cuộc sống thường xảy ra các rủi ro gây thiệt

hại bất thường như mất mùa, sản xuất kinh doanh thua lỗ, tai nạn, ốm đau,... làm cho

rất nhiều người không nghèo cũng trở nên nghèo và cần sự hỗ trợ của Nhà nước, cộng

đồng.

- Xây dựng hệ thống các giải pháp cứu trợ xã hội đột xuất hữu hiệu đối với

người nghèo. Chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện cứu trợ kịp thời, nhanh chóng ứng

phó và hạn chế thiệt hại về người và của khi thiên tai xảy ra, trợ giúp người nghèo

khắc phục hậu quả thiên tai.

3.4.6.3. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong

công tác giảm nghèo bền vững

- Vận động thuyết phục đoàn viên, hội viên tự nguyện tham gia phong trào

giảm nghèo bằng những hành động cụ thể, thiết thực như: Tuyên truyền cho mọi

người dân thấy rõ giảm nghèo là trách nhiệm của cả cộng đồng, giáo dục cho hội viên

tinh thần tích cực lao động sản xuất; tuyên truyền các cơ chế chính sách hỗ trợ sản

xuất; cơ chế về vốn, tín dung; các định hướng về chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, cây

trồng; tuyên tryền vận động đoàn viên, hội viên đẩy mạnh sản xuất hàng hóa phát

triển ngành nghề.

- Phát động trong toàn thể hội viên thực hiện tiết kiệm để tạo tích lũy vốn phục

vụ sản xuất, phong trào xây dựng quỹ tín dụng, hỗ trợ người nghèo, thông qua đó

nhằm nâng cao đời sống thực hiện gia đình văn hóa mới, xây dựng nếp sống mới ở

khu vực dân cư, chăm lo phát triển sự nghiệp y tế và giáo dục.

- Động viên những người làm ăn giỏi có kinh nghiệm hướng dẫn giúp đỡ bồi

dưỡng đoàn viên, hội viên nghèo đói. Thường xuyên phối hợp tổ chức các hoạt động

hướng dẫn "đầu bờ", mời những chủ hộ nông dân nghèo đến tại thửa ruộng, chuồng

trại của các hộ làm ăn khá xem xét thực tế, cùng nhau bàn bạc, trao đổi. Từ đó để họ

tiếp thu kinh nghiệm làm ăn, học tập kỹ thuật mới, vì đối với người nghèo không chỉ

là vấn đề tri thức, mà còn là vấn đề tâm lý, nên nếu được những người cùng cảnh thực

sự thông cảm thì người nghèo đỡ mặc cảm, dễ gần, dễ học.

107

- Triển khai thực hiện được mô hình khuyến nông “từ nông dân đến nông dân”

trên cơ sở học hỏi từ người dân, phát huy vai trò lan tỏa của những người tiên phong;

phát triển các tổ nhóm nông dân kết hợp giữa người nghèo và người không nghèo (người

tiên phong) dựa trên các liên kết truyền thống trong cộng đồng.

- Tuyên truyền vận động bà con bài trừ các hủ tục nặng nề trong ma chay, cưới

xin, giỗ chạp,... đó cũng là một biện pháp gián tiếp để giúp người nghèo yên tâm sản

xuất, nâng cao đời sống từng bước thoát đói, vượt nghèo.

3.4.6.4. Xây dựng tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ trong cộng đồng dân cư

- Các tổ chức xã hội, cá nhân có uy tín trong cộng đồng làm tốt vai trò liên kết xã

hội, xây dựng tính đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng thôn, xóm nhằm chia sẻ

khó khăn, đóng góp hỗ trợ người nghèo, người gặp rủi ro, người khó khăn.

- Tuyên truyền trong cộng đồng dân cư, những giá trị như đoàn kết, tương thân

tương ái, đùm bọc lẫn nhau, hỗ trợ người khó khăn như là trụ cột cơ bản duy trì sự

tồn tại của cộng đồng, xã hội.

- Phát huy vai trò của mặt trận tổ quốc, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội

trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân phát huy truyền thống đoàn kết, tương

thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau, nêu cao đạo lý “uống nước nhớ nguồn” “Nhường cơm

xẻ áo” lúc khó khăn, hoạn nạn để giúp đỡ người nghèo mà trước hết là giúp đỡ ngay

những người nghèo khó bên cạnh mình, cộng đồng mình.

- Tổ chức các sự kiện trong cộng đồng, quyên góp cho mục tiêu hỗ trợ người

gặp rủi ro; tôn vinh những tấm gương, điển hình về xây dựng cộng đồng đoàn kết,

chia sẻ, hỗ trợ nhau khi khó khăn từ thôn, khu trở lên.

3.4.6.5. Hỗ trợ nâng cao năng lực giảm nghèo, truyền thông và giám sát đánh giá

thực hiện chương trình

Trang bị, bổ sung nghiệp vụ cơ bản về công tác giảm nghèo, nâng cao năng

lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo ở cơ sở; tuyên truyền, nâng cao nhận

thức của cộng đồng, người dân, các cấp, các ngành về ý nghĩa và tầm quan trọng của

giảm nghèo và cách tiếp cận về giảm nghèo bền vững.

- Nâng cao năng lực: Đối tượng tham gia: Người nghèo, hộ nghèo, hộ đồng

bào dân tộc thiểu số, cộng đồng dân cư; đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo các

108

cấp; Tổ chức tập huấn nâng cao năng lực giảm nghèo cho cán bộ làm công tác giảm

nghèo của các cấp từ huyện đến thôn bản, khu phố và cán bộ một số hội đoàn thể và

cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng nghiệp vụ, kinh nghiệm để triển khai

thực hiện tốt công tác giảm nghèo.

- Hoạt động truyền thông: Tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông

tin đại chúng, xây dựng phóng sự về triển khai thực hiện công tác giảm nghèo, giới

thiệu các gương sáng thoát nghèo, các mô hình giảm nghèo có hiệu quả nhằm nâng

cao nhận thức về giảm nghèo cho người dân đặc biệt là hộ nghèo, hộ cận nghèo giúp

người nghèo chủ động vươn lên thoát nghèo (hạn chế tư tưởng trông chờ ỷ lại), đồng

thời tổ chức thực hiện tốt các chính sách giảm nghèo.

109

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận

Giảm nghèo bền vững là chủ trương lớn, nhất quán và là một trong những

nhiệm vụ lâu dài, phức tạp đặt trong chương tình tổng thể phát triển kinh tế xã hội

của huyện Ba Chẽ, đòi hỏi cả hệ thống chính trị quyết tâm vào cuộc triển khai đồng

bộ đến từng thôn, xóm, người dân.

Trong những năm qua, huyện Ba Chẽ đã đạt được nhiều thành công trong công

tác giảm nghèo, số hộ nghèo đều giảm qua các năm (bình quân giảm 10% /năm). Từ

kết quả phân tích, ngoài các kết quả đạt được còn có xuất hiện các nguy cơ tái nghèo

trong một bộ phận khá lớn số hộ nghèo vừa vượt khỏi ngưỡng nghèo còn rất cao,

công tác giảm nghèo bền vững còn nhiều khó khăn thách thức. Do một bộ phận người

nghèo còn chưa thực sự có quyết tâm thoát nghèo, cơ chế chính sách còn thiếu đồng

bộ, chưa khuyến khích được được người nghèo đẩy mạnh phát triển kinh tế, chưa

thoát ra được tư tưởng trông chờ, ỷ lại…

Người nghèo là đối tượng tác động chính của các chương trình, chính sách hỗ trợ

giảm nghèo. Để đánh giá một cách xác thực về tính hiệu quả, tính phù hợp của các chính

sách, chương trình giảm nghèo, khả năng tiếp cận của người nghèo, việc thoả mãn với

dịch vụ được cung cấp và tác động của dịch vụ này đến giảm nghèo. Kết quả nghiên cứu

tại các địa phương trên địa bàn huyện cho thấy, các chính sách về giáo dục, y tế và tín

dụng được 100% người nghèo biết. Đồng thời, kết quả khảo sát cho thấy 100% người

nghèo đều khẳng định những chính sách, giải pháp như hỗ trợ y tế, giáo dục, tín dụng,

khuyến nông và xây dựng hạ tầng cơ sở đều cần thiết. Tuy nhiên vấn đề đáng quan tâm

hiện này là việc tiếp cận đến các lợi ích, dịch vụ có dễ dàng không? về lý thuyết dễ dàng

thấy rằng tuy cùng được cung cấp các dịch vụ, lợi ích như nhau nhưng việc tiếp cận đến

những dịch vụ, lợi ích này ở những vùng khác nhau, những nhóm đối tượng khác nhau

là khác nhau.

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo, góp phần giảm nghèo và phát

triển kinh tế-xã hội huyện miền núi Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, tác giả đã đề xuất một

số giải pháp như: Tăng cường sự lãnh đạo, sự chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền từ

110

huyện đến cơ sở; Giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người nghèo, vận

động tự vươn lên thoát nghèo; Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách và sự hỗ trợ, tạo

điều kiện từ phía chính quyềncác cấp; Nhóm giải pháp tạo điều kiện cho người nghèo

tiếp cận các dịch vụ xã hội còn thiếu hụt; Nhóm giải pháp tạo điều kiện cho người

nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập.

2. Khuyến nghị

2.1. Đối với Trung ương

- Tiếp tục triển khai thực hiện các chương trình giảm nghèo như chương trình

135 giai đoạn III, chương trình 167 và các chương trình hỗ trợ giáo dục, hỗ trợ y

tế.Chính sách giảm nghèo cần mở rộng sang các đối tượng “cận nghèo”, “mới thoát

nghèo” để tiếp tục hỗ trợ người dân thoát nghèo bền vững.

- Có thay đổi, điều chỉnh đối với các chính sách hỗ trợ cho người nghèo để

làm sao giúp người nghèo vươn lên thoát nghèo, tránh sự so bì, trông chờ, ỷ lại vào

chế độ chính sách. Đồng thời cần có sự chỉ đạo thống nhất và phối hợp đồng bộ của

nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều tổ chức cùng triển khai thực hiện.

2.2. Đối với tỉnh Quảng Ninh

- Đề nghị Tỉnh có cơ chế khen thưởng cho hộ thoát nghèo và có cơ chế khuyến

khích xã thoát nghèo bền vững. Có cơ chế hỗ trợ người nghèo khi gặp rủi ro và những

hộ nghèo thuộc diện chính sách mà không có khả năng lao động.

- Tỉnh nghiên cứu, ban hành một số chính sách đặc thù (như cơ chế chính sách

trong trong chương trình 135 giai đoạn III của quốc gia) cho Ba Chẽ để góp phần thúc

đẩy phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện đời sống của người dân, giảm nghèo nhanh và bền

vững. Sớm triển khai thực hiện đưa các ngành công nghiệp phụ trợ từ Hạ Long và Cẩm

Phả về Ba Chẽ (nhiệt điện, cơ khí, sản xuất hàng tiêu dùng,...).

- Đề nghị tỉnh phối hợp với Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam, Tổng Công

ty than Đông Bắc quan tâm, hỗ trợ nguồn lực giúp Ba Chẽ xây dựng một số cơ sở hạ

tầng thiết yếu (đường giao thông, hồ chứa nước, kênh mương thủy lợi). Quan tâm đầu

tư, sớm nâng cấp hệ thống tỉnh lộ trên địa bàn huyện (Tỉnh lộ 330: Hải Lạng - Ba

Chẽ - Lương Mông - Sơn Động (Bắc Giang); Tỉnh lộ 342: Thanh Lâm (Ba Chẽ) - Kỳ

Thượng (Hoành Bồ); Tỉnh lộ 329: Thị trấn Ba Chẽ - Mông Dương (Cẩm Phả).

111

- Đề nghị sớm ban hành Nghị quyết Phát triển Kinh tế rừng để khai thác triệt

để tiềm năng về tài nguyên rừng, tạo đà phát triển mạnh mẽ hơn cho kinh tế rừng của

tỉnh Quảng Ninh nói chung, huyện Ba Chẽ nói riêng.

112

DANH MỤC TÀI LỆU THAM KHẢO

1. Trần Quế Anh, 2017. Hoạt động của công tác xã hội trong giảm nghèo tại

thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Luận văn thạc sĩ ngành Công tác xã hội. Trường

Đại học Lao động-Xã hội, 2017.

2. TS Lê Xuân Bá, TS Chu Tiến Quang, TS Nguyễn Hữu Tiến, TS Lê Xuân

Đình, Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam, NXB nông nghiệp, Hà Nội –

2001.

3. Hoàng Thanh Đạm, 2014. Công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Đồng Văn,

tỉnh Hà Giang. Luận văn Thạc sĩ Kinh tế. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014.

4. Phan Huy Đường, Những tồn tại chủ yếu trong kinh tế nông nghiệp và phát

triển nông thôn hiện nay, tạp chí Kinh tế & Phát triển số 62 tháng 8 – 2002, Đại học

kinh tế quốc dân.

5. Nguyễn Thị Hằng và Nguyễn Văn Thiều, Đói nghèo ở Việt Nam, Nxb Bộ

LĐTB & XH, Hà Nội: 2003.

6. Phan Thị Huệ, 2011. Giải pháp giảm nghèo tại thành phố Đà Nẵng. Luận

văn thạc sĩ Kinh tế. Đại học Đà Nẵng, 2011.

7. Trần Lệ Thị Bích Hồng, 2018. Ảnh hưởng của chính sách xóa đói giảm nghèo

tới sinh kế của hộ nghèo dân tộc thiểu số ở huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên. Luận

án Tiến sĩ ngành Kinh tế nông nghiệp. Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái

Nguyên, 2018.

8. Nguyễn Hải Hữu, Báo cáo tại cuộc toạ đàm về chuẩn nghèo đói ở Việt Nam,

Hà Nội, 15 – 16/2/2000.

9. Trần Tiến Khai, Nguyễn Ngọc Danh, 2012. Quan hệ giữa sinh kế và tình

trạng nghèo ở nông thôn Việt Nam. Báo cáo khoa học. Đại học Kinh tế Thành phố

Hồ Chí Minh, 2012.

10. Ngô Văn Lệ, 2015. Về giải pháp góp phần xoá đói giảm nghèo ở Đắk Nông

(trường hợp các tộc người tại chỗ-bản địa). Tạp chí Phát triển Khoa học và Công

nghệ. Tập 18, số X5-2015.

11. Dương Văn Sơn và Bùi Đình Hòa, 2012. Giáo trình phương pháp nghiên

cứu kinh tế xã hội. Nxb Nông nghiệp, 2012.

113

12. Nguyễn Đức Thắng, 2016. Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở các

tỉnh Tây Bắc đến năm 2020. Luận án Tiến sĩ ngành Chính trị học. Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh, 2016.

13. Đậu Quang Vinh và nnk, 2016. Thực trạng và giải pháp giảm nghèo bền

vững tại các huyện miền núi tỉnh Nghệ An. Tạp chí Khoa học-Công nghệ Nghệ An,

số tháng 10/2016.

14. Nguyễn Văn Tốn, 2020. Chương trình giảm nghèo bền vững ở Việt Nam:

Thực trạng và giải pháp. Trang Thông tin điện tử - Hội Đồng lý luận Trung ương, số

tháng 8.2020.

PHỤ LỤC

PHIẾU KHẢO SÁT NGƯỜI DÂN

I. TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA HỘ

1. Địa bàn khảo sát.

Thôn:………………………………Xã……………………………………….

2. Chủ hộ: …………………………………………............... ……………….

Giới tính:…………

- Năm sinh:…………………. Dân tộc:……………..;

- Trình độ Học vấn:…………………... 1.

2. - Trình độ chuyên môn kỹ thuật được đào tạo cao nhất:

-Tổng số khẩu:……………..Nam…………………Nữ:………………

- Số điện thoại chủ hộ:………………………………………………….

3. Số năm tách khẩu

- Dưới 3 năm:.......................

- Từ 3 đến 5 năm:.................

- Từ 5 đến 10 năm:...............

- Trên 10 năm:......................

4. Một số đặc điểm về thành viên trong hộ.

Quan Giới Năm Trình Nghề Tình trạng TT Họ và tên hệ với tính sinh độ PT nghiệp việc làm chủ hộ

1

2

3

4

5

6

8

9

10

5. Tài sản của hộ gia đình hiện tại.

- Nhà ở của hộ gia đình (Hiện trạng: ………………………………………)

Quyền sử dụng: Nhà riêng của hộ Đang ở nhờ

Nhà đi thuê

Số lượng Giá trị hiện tại (1.000đ)

Tài sản phục vụ nhu cầu sinh hoạt (Chỉ tính những loại có giá trị từ 200.000 đồng trở lên) - Phương tiện đi lại:……………………… - Tài sản, đồ dùng lâu bền cho sinh hoạt: + Bàn ghế các loại………………… + Ti vi:…………………… + Đầu chảo……………….. + Loa máy các loại + Tủ lạnh:………………… + Máy bơm nước…………… + Tủ bảo ôn….. + Bếp ga + Nồi cơm điện + Tủ đựng quần áo các loại + Các loại tủ khác + Quạt điện + Máy phát điện sinh hoạt + Xe đạp + Bình nước nóng + Máy giặt, máy sấy quần áo + Tài sản, đồ dùng lâu bền đắt tiền khác… ………………………………………………... Tài sản phục vụ sản xuất Kinh doanh + Máy cày, máy kéo + Máy xay sát + Máy tuối lúa + Máy cắt cỏ + Cưa máy + Máy bào + Máy thái rau + Máy trộn thức ăn + Máy trộn bê tông + Ô tô vận tải + Ô tô khách + Máy xúc, gạt + Thuyền, xuồng đánh bắt thuỷ sản. + Tài sản khác trong gia đình.....……………….. ………………………………………………….

6. Đất đai phục vụ sản xuất:

Tổng diện tích (m2) Hình thức sở hữu Loại đất

- Đất nông nghiệp:

+ Đất 1 vụ lúa

+ Đất 2 vụ lúa

+ Đất vườn

+ Đất trồng mầu

+ Đất đồi

- Đất Lâm nghiệp

+ Khoanh nuôi tái sinh

+ Đất rừng trồng

+ Đất đi thuê

- Đất ao, hồ

- Mặt nước nuôi trồng thuỷ sản

7. Tổ chức sản xuất trên đất của hộ gia đình

Đơn vị tính Số lượng Ghi chú Các hình thức

ha ………….Cây ……….năm tuổi + Trồng Keo

+ Trồng Xa Mộc

+ Trồng Thông

+ Trồng Quế

+ Cây Tre Mai

+ Trồng cây dược liệu

(Hương bài, Tre mai,

Gừng, Địa liền, Kim

Ngân; Nhân trần, Ba

kích)………………..…

+ Trồng cây ăn quả (bưởi, …………..m2 ……….Cây …………..kg

vải, nhãn, mít, ổi)

+ Cây khác……

…………m2 + Cấy lúa

…………m2 + Trồng màu

8. Chăn nuôi của hộ gia đình:

+ Trâu:………..…….; Bò:………………;

+ Nuôi cá:………………………………………

+ Lợn:…………(trọng lượng:………….Kg);

+ Gia cầm:…….…………………………….

+ Động vật hoang dã:………………

+ Chăn nuôi khác:…………………………...…………………………

9. Công việc hiện nay hộ gia đình đang làm:

- Làm ruộng (Số ngày làm việc ruộng:…

- Kinh doanh, buôn bán nhỏ

- Trồng rừng, sản xuất lâm nghiệp ( Số ngày dành cho làm việc

trong tháng:….………

- Làm thuê ( Số ngày đi làm trong tháng:

- Chăn nuôi (lợn, gà, trâu, bò): :……………………………

- Công việc khác: (Thợ xây, chạy xe ôm, thợ mộc..)……………………..................

……………………………………………………….……………………….............

* Công việc của chồng:……………………………………………………...............

* Công việc của vợ:………………………………………………………..............…

10. Các nguồn thu nhập của hộ gia đình

Nguồn thu Số lượng/đơn vị Thành tiền TT Đơn giá (Tính 12 tháng qua) tính (1000,đ)

Lúa 1

Ngô 2

Khoai 3

Sắn 4

Đậu, Lạc 5

Rau quả 6

Lợn 7

Mía 8

Gà, ngan, vịt 9

Trứng gia cầm 10

Trâu, bò 11

Cá nuôi trong ao hồ 12

13 Ong mật

14 Cây dược liệu (Hương

bài, Gừng, Địa liền, ...

15 Trồng Nấm

16 Măng tre

17 Gỗ rừng trồng

18 Than củi

19 Củi

20 Từ đi làm thuê:……

21 Khai thác tre, lâm sản:

22 Buôn bán khác

23 Tiền lương, trợ cấp

24 Các khoản thu khác…

……………………..

Tổng cộng

* Thu nhập của hộ gia đình hàng tháng.

- Tổng thu nhập hàng tháng của hộ gia đình:………………đồng/ tháng.

+ Từ đi làm thuê:……………………………đồng

+ Khai thác tre, lâm sản:………………………… đồng

+ Bán rau củ quả:…………………………..đồng.

+ Các thu nhập khác:…………………………..………

………………………………………………………………………………………

- Trong các nguồn thu hàng tháng, nguồn thu nào là chủ yếu:………………

- Thu nhập của hộ gia đình thì do chồng hay vợ làm ra chính:…..…………

11. Các khoản thu nhập khác trong 12 tháng qua được tính vào thu nhập của

hộ gia đình.

Nguồn thu Mã số Trị giá (1.000 đ)

1. Lương hưu, mất sức 01

2. Trợ cấp xã hội thường xuyên 02

3. Tiền từ nước ngoài gửi về 03

4. Tiền lãi gửi tiết kiệm 04

5. Các khoản thu nhập khác 05

Cộng (1+2+3+4+5) 06

A. TỔNG THU CỦA HỘ GIA ĐÌNH = Tổng thu (9) + Tổng thu (10)

……………………………………………………………………………….

12. Chi phí sản xuất trồng trọt của hộ gia đình (trong 12 tháng qua).

Chi phí (1000,đ) Nội dung

- Giống cây trồng:

- Phân bón

- Thuốc trừ sâu

- Thuốc diệt cỏ

- Thuê phát thực bì

- Thuê cuốc hố

- Thuê trồng

- Thuê cày, làm đất

- Thuê cấy, gặt

- Thuê làm cỏ

- Thuê tuốt

- Thuê vận chuyển

- Chi phí khác

13. Chi phí sản xuất Chăn nuôi của hộ gia đình (trong 12 tháng qua).

Nội dung Chi phí (1000,đ)

- Giống Vật nuôi

- Thức ăn tinh

+ Gạo

+ Ngô

+ Sắn

+ Khoai

- Cám tăng trọng

- Thức ăn xanh

- Thuốc thú y

- Chi phí chuồng trại

- Chi phí khác

B. TỔNG CHI CỦA HỘ = Tổng chi (11) + Tổng chi (12)

………………………………………………………………………………..

14. Chi tiêu ăn uống bình quân/tháng của hộ gia đình

Chi tiêu trung bình 1

tháng của hộ Các khoản chi (bao gồm cả phần mua, TT trao đổi, tự túc….) Trị giá Số lượng (1.000 đ)

1. Chi cho lương thực:

- Gao các loai

- Lương thực khác (ngô, bột mì, khoai lang, săn...)

- Lương thực chế biến (mì ăn liền, miến dong, bún

tươi...)

2. Thực phẩm:

- Thịt các loai

- Trứng các loại

- Đâu phụ

- Mỡ, dầu ăn

- Cá các loại

- Rau các loại

- Quả các loại

- Nước măm, nước chấm

- Gia vị các loại

- Đường ăn

- Sữa các loại

- Bánh, mứt, kẹo

- Cà phê, chè (trà)

- Thực phâm khác

3. Chi cho chất đốt dành cho đun, nấu

4. Các khoản chi ăn uống khác

- Đồ uống

- Rượu, bia các loại

Tổng chi ăn uống

Chi ăn uống bình quân/khẩu/tháng

14. Các khoản chi tiêu khác ngoài ăn uống của hộ gia đình

Ước tính giá Ghi chú TT Các khoản chi trị

1. May mặc, mũ, nón, giày, dép

Sửa chữa các thiết bị (xe máy, bếp điện, bếp 2. gas, bếp dầu,...)

3. Nhà ở (thuê, sửa chữa)

4. Điện, nước sinh hoạt

5. Khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ...

6. Mua thuốc tư chữa bệnh

Chi cho giáo dục ( Học phí, đồ dùng học tập, 7. sách vở, các khoản tiền đóng góp ...)

8. Chi cho liên lạc (điện thoạt...)

Chi mua sắm thường xuyên các đồ dùng cho

9. sinh hoạt (bóng điện, xà phòng, kem đánh răng,

bàn chải, xô, chậu, khăn mặt, dây dẫn nước....

10. Trợ giúp họ hàng, người thân

Các khoản Ma chay, cưới hỏi, giỗ, tết, thăm 11. hỏi.

12. Thuế các loại

Các khoản đóng góp (An ninh quốc phòng,

khyến học, vệ sinh môi trường, lao động công 13. ích, nông thôn mới, ủng hộ cho các hiệp hội, từ

thiện, nhân đạo...)

14. Nộp bảo hiểm các loại..

15. Các loại quỹ là thành viên của các tổ chức hội,

đoàn thể...

16. Các khoản chi khác

Tổng cộng

15. Sử dụng các khoản vay từ Ngân hàng

- Vay vốn từ NHCS:

+ Đã vay bao nhiêu món……………Số tiền:…………

+ Mục đích sử dụng:

- Vay từ Ngân hàng NN&PTNT…………………………………

+ Đã vay số tiền:…………

+ Mục đích sử dụng:………………………….

16. Xác định các nguyên nhân nghèo:

- Chưa có việc làm, đang hành nghề tự do:

- Thiếu đất sản xuất:

- Thiếu vốn sản xuất:

- Không có kiến thức sản xuất:

- Lười lao động:

- Đông người ăn theo:

- Mới tách hộ:

- Ốm đau thường xuyên:

* Trong những nguyên nhân nghèo của hộ, thì những nguyên nhân nào là chính:

………………………………………………………………..………………………

………………………………………………………………………….……………

…………………………..………….……………………………

CÁC THÔNG TIN BỔ SUNG

1. Khi nói đến nghèo đói, ông/bà nghĩ đến vấn đề nào? (liệt kê 3 vấn đề quan tâm

nhất):

(1).......................................................................................................................

(2).......................................................................................................................

(3).......................................................................................................................

2. Theo ông/bà XĐGN là nhiệm vụ của:

Bản thân người nghèo Cộng đồng

Chính quyền các cấp Nhiệm vụ chung

Các hội, đoàn thể

3.Theo ông/bà, ai là người đóng vai trò chính trong công tác giảm nghèo?

Chung Xã

Huyện Tỉnh

4. Theo ông/bà, định hướng chính để giảm nghèo bền vững nên tập trung vào giải

pháp nào sau đây (đánh số từ 1 đến 4 theo thứ tự 1 là quan trọng nhất, 4 là ít quan

trong nhất):

Hỗ trợ trực tiếp mang tính cho không (ví dụ: hỗ trợ bằng tiền mặt, thẻ bảo hiểm

miễn phí, cấp giống, ưu đãi vốn,...)

Nâng cao năng lực cho người dân (ví dụ: thúc đẩy ý thức tự vươn lên, nâng cao kỹ

năng sản xuất, khả năng quản lý kinh tế hộ gia đình,...)

Tạo môi trường thuận lợi (ví dụ: thông tin cơ hội việc làm, cơ hội kinh doanh, kêu

gọi đầu tư vào địa phương,...)

Cải thiện dịch vụ xã hội cơ bản (ví dụ: tăng chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục, hạ

tầng cơ sở,... ).

5. Xin ông/bà cho biết đối với công tác giảm nghèo:

Ông bà chủ động tham gia công tác này với niềm đam mê.

Ông bà tham gia công tác này theo yêu cầu nhưng thấy thích thú

Ông bà tham gia công tác này và coi công việc này đơn thuần như

những công việc được giao khác.

Ông bà phải tham gia công tác này chứ không phải là mong muốn

6. Điều gì ông/bà thích nhất khi tham gia vào công tác giảm nghèo?

.............................................................................................................................

.............................................................................................................................

7. Ông/bà có mong muốn tiếp tục làm công việc này không?

1. Có Không

8. Có khát khao giải quyết tình trạng nghèo đói ở địa phương không?

Có Không

9. Ông/bà có thường đưa ra các sáng kiến, giải pháp trong công tác giảm nghèo

không?

Có Không Khác, cụ thể

10. Nếu có xin đưa ra 01 giải pháp nào đó mà ông/bà thấy rằng tâm đắc nhất:

............................................................................................................................

............................................................................................................................

11. Xin ông/bà nhớ lại trong tuần làm việc gần đây nhất ông/bà đã tham gia bao

nhiêu cuộc trao đổi về (liên quan đến) công tác giảm nghèo?

............................................................................................................................

............................................................................................................................

12. Trong các buổi họp, thảo luận về chính sách phát triển kinh tế-xã hội hoặc phân

bổ ngân sách, ông/bà có tích cực đề xuất chính sách, giải pháp có lợi cho người

nghèo hoặc yêu cầu nguồn lực nhiều hơn cho người nghèo không?

Có Không

13. Ông/bà có được thông tin, nhận thức về XĐGN qua (xếp theo thứ tự từ cao nhất

đến thấp nhất)

Tập huấn Quán triệt của cấp trên

Các phương tiện truyền thông (tivi, đài, báo...)

14. Ông/bà đã tham gia tập huấn các lĩnh vực liên quan đến XĐGN chưa?

Có Chưa

- Nếu có, cho biết đã được tập huấn bao nhiêu lần? ...................lần

- Tổng thời gian tham gia tập huấn: ngày

- Nội dung tập huấn:

15. Các lớp tập huấn này có giúp ích cho công tác hiện tại của ông/bà không?

Giúp ích nhiều Không nhiều Không giúp ích

16. Hàng năm có được phổ biến những thông tin, vấn đề mới liên quan đến XĐGN?

Có Không

Xin cảm ơn!