LUẬN VĂN:
Giáo dục quyền con người, quyền
công dân trong điều kiện xây dựng
nhà nước pháp quyền ở nước ta
hiện nay
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người, quyền công dân những yếu tố bản, nền tảng của một
hội dân chủ, văn minh. tưởng về quyền con người (nhân quyền) đã hình thành từ rất
sớm trong lịch sử nhân loại; nhưng không phải trong bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào,
trong bất cứ kiểu Nhà nước nào cũng tồn tại được thừa nhận một cách đầy đủ.
thế, quyền con người một phạm trù lịch s kết quả của cuộc đấu tranh không
ngừng của toàn nhân loại vươn tới những lý tưởng, giải phóng hoàn toàn con người nhằm
xây dựng một xã hội thật sự công bằng, dân chủ, nhân đạo.
Giai cấp sản khi thực hiện cách mạng sản, đã coi nhân quyền như một
khí của mình để tranh giành quyền lực với giai cấp phong kiến để tập hợp lực lượng
trong xã hội; do đó từ thế kỷ XVIII vấn đề nhân quyền đã được giai cấp tư sản đề cập đến
như Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1789, Tuyên ngôn nhân quyền
vàn quyền ca Pháp năm 1789.
Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, chủ nghĩa phát xít bị đập tan m
1945, vấn đề nhân quyền đã trở thành mối quan tâm của cả Nhà nước xã hội chủ nghĩa và
tư bản chủ nghĩa, nên khi tổ chức Liên Hợp Quốc ra đời thì vấn đề cơ bản, đầu tiên của tổ
chức này vấn đề nhân quyền. Nhân quyền đã trở thành vấn đề quan trọng, thường
xuyên được đề cập đến trong quan hệ quốc tế. Liên Hợp Quốc đã ban hành hàng loạt c
văn kiện khẳng định các quyền tdo của tất cả mọi người, đặc biệt Hiến chương
Liên Hợp Quốc 1945 Tuyên ngôn thế giới vquyền con người 1948 thì vấn đề nhân
quyền đã chuyển sang một bước ngoặt mới trong lịch sử nhân loại, trở thành một quan hệ
cơ bản được điều chỉnh bằng pháp luật quốc tế.
Đến nay quyền con người đã được ghi nhận, khẳng định trong Hiến pháp của
nhiều quốc gia trên thế giới.
ở Việt Nam, kể từ khi giành được độc lập (năm 1945), Đảng và Nhà nước ta luôn
tôn trọng quyền con người. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do
Chtịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba Đình, Nội ngày 2/9/1945 được coi
một văn kiện có tính lịch sử trên phương diện quốc tế về quyền con người. Trên cơ sở đó,
quyền con người đã được ghi nhận trong Hiến pháp nước ta: Hiến pháp năm 1946, Hiến
pháp năm 1959, Hiến pháp m 1980 Hiến pháp m 1992. Điều 50 Hiến pháp m
1992 của c ta khẳng định: "ớc Cng a hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con
người vchính tr, dân sự, kinh tế, văn a xã hội được tôn trọng và bảo đảm thực hiện".
Gần đây nhất, vấn đnhân quyền đã được tiếp tục khẳng định trong Báo cáo chính tr của
Ban Chấp nh Trung ương Đảng ka VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thIX của
Đảng: "Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mọi người; n
trọng thực hiện các điều ước quốc tế vquyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc
tham gia" [35, tr. 134].
Vấn đề nhân quyền vai trò quan trọng như vậy, nên nhiều nước trên thế giới
coi trọng việc giáo dục nhân quyền nhằm làm cho mỗi con người ý thức biết tôn trọng
quyền của người khác và tự mình biết bảo vệ quyền của mình. Năm 1978 UNESCO cũng
đã triệu tập Hội nghị quốc tế về giáo dục nhân quyền tại Viên (Thủ đô nước áo) để phát
triển hơn nữa những do cho việc giáo dục nhân quyền. Tuyên bố cuối cùng của Hội
nghị công nhận rằng: "Giáo dục nên m cho mỗi nhân thấy quyền của mình, đồng
thời họ cũng phải biết tôn trọng những quyền của người khác", đến 23/12/1994, Đại
hội đồng Liên Hợp Quốc bằng Nghị quyết số 49/184 đã chính thức tuyên bố: "Thập k
giáo dục nhân quyền bắt đầu từ 1/1/1995 đến 1/1/2004".
Nước ta đang trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới slãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì việc giáo dục nhân quyền lại càng ý nghĩa to lớn
hơn bao giờ hết, nhằm m cho Việt Nam sớm hội nhập với thế giới khu vực, góp
phần xây dựng nền văn hóa nhân quyền toàn cầu. Thực hiện được điều đó, Đảng Nhà
nước ta đã hưởng ứng, tham gia hiệu quả "Thập kỷ giáo dục nhân quyền" của Liên
Hợp Quốc.
Xuất phát từ những vấn đề luận thực tiễn trên đây, việc nghiên cứu m
sở luận, đánh giá những thành tựu, ưu điểm đã đạt được m những khuyết
điểm tồn tại của vấn đề giáo dục nhân quyền; đồng thời xác định phương hướng, nội
dung, phương pháp tiếp tục thực hiện giáo dục nhân quyền trong điều kiện xây dựng N
nước pháp quyền ở nước ta hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách.
2. Tình hình nghiên cứu
- Vấn đề giáo dục quyền con người, quyền công dân đã được Liên Hợp Quốc,
các nhà khoa học pháp nước ta thế giới quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, thể
xuất phát từ quan điểm cho rằng giáo dục pháp luật đã bao hàm cả giáo dục quyền con
người, quyền công dân nên các nhà luật học nước ta mới chỉ tập trung nghiên cứu vgiáo
dục pháp luật chưa quan tâm nghiên cứu vấn đề giáo dục quyền con người, quyền
công dân như là một lĩnh vực nghiên cứu độc lập, riêng biệt. Vì thế thời gian qua, ở nước
ta đã rất nhiều các công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật như: "Giáo dục ý thức
pháp luật với việc tăng cường pháp chế hội chủ nghĩa", luận án Phó tiến của Trần
Ngọc Đường; thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và giáo dục pháp luật cho nhân dân lao
động (ở Việt Nam)", luận án Phó tiến của Nguyễn Đình Lộc; "Giáo dục pháp luật cho
nhân dân" của Nguyễn Ngọc Minh (Tạp chí Cộng sản, số 10, 1983); "Giáo dục ý thức
pháp luật để ng cường pháp chế hội chnghĩa xây dựng con người mới" của
Phùng Văn Tửu (Tạp chí Giáo dục luận, số 4, 1985); "Giáo dục ý thức pháp luật" của
Nguyễn Trọng Bình (Tạp chí Xây dựng Đảng, số 4, 1989); "Cơ sở khoa học của việc xây
dựng ý thức lối sống theo pháp luật" đề i khoa học cấp nhà nước, mã số 07-17 do
Viện Nhà nước - Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học hội nhân văn chủ trì; "Một
số vấn đề luận thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới", đề tài
khoa học cấp Bộ, số 92-98-223ĐT của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp - Bộ
pháp; "Tìm kiếm hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiệu quả trong một số dân tộc
ít người" đề tài khoa học cấp bộ của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý; "Giáo dục pháp
luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp dạy nghề (không chuyên luật)
nước ta", luận án Phó tiến của Đinh Xuân Thảo; "Giáo dục pháp luật qua hoạt động
tư pháp ở Việt Nam", luận án Phó tiến sĩ của Dương Thị Thanh Mai; "Giáo dục pháp luật
cho dân tộc Khơme - Nam Bộ (qua thực tiễn tỉnh An Giang)", luận án Thạc sĩ của Lê Văn
Bền; "Bàn về giáo dục pháp luật" sách của Trần Ngọc Đường - Dương Thị Thanh Mai;
"Xây dựng ý thức lối sống theo pháp luật" sách của Đào Trí úc chủ biên; "Một số vấn
đề về phổ biến giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay" của Vụ Phổ biến giáo dục
pháp luật - Bộ Tư pháp; "Đổi mới giáo dục pháp luật trong hệ thống các trường chính trị
nước ta hiện nay", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Khoa Nhà nước - Pháp luật,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; "Thực trạng phương hướng đổi mới giáo
dục pháp luật hệ đào tạo trung học chính trị nước ta hiện nay", luận văn Thạc sĩ của Đng
Ngc Hoàng...
Trong khi đó vấn đề giáo dục quyền con nời, quyền công dân mới chỉ được
nghiên cứu mức độ rất hạn chế. Đến nay chưa công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn
đề này một cách hệ thống, đầy đủ; nên số lượng các công trình nghiên cứu chưa nhiều
cũng mới chỉ dừng lại mức độ các bài viết, n: "Giáo dục nhân quyền hưng tới thế
kỷ XXI" củaờng Duy Kiên (Tạp chí Thông tin Khoa học thanh niên, số 4, 1997).
vậy, thể nói, luận văn này công trình đầu tiên trình bày tương đối hệ
thống về vấn đề giáo dục quyền con người, quyền công dân trong điều kiện xây dựng nhà
nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.
3. Mc đích và nhiệm vụ của lunn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu sở luận, thực tiễn của vấn đề giáo dục quyền con người, quyền
công dân để đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác giáo dục quyền con người -
quyền công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ cơ sở lý luận về giáo dục quyền con người, quyền công dân.
- Đánh giá thực trạng giáo dục quyền con người, quyền công dân nước ta hiện
nay.