BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA
CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM
Ngành: LUẬT KINH TẾ
NGUYỄN MINH THẮNG
Hà Nội – năm 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
trong hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
Họ và tên học viên: Nguyễn Minh Thắng
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Văn Cảnh
Hà Nội – năm 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của bản thân, các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn được thu thập từ nguồn thực tế, được công bố trên các
báo cáo của các cơ quan nhà nước; được đăng tải trên các tạp chí, báo chí, các
website hợp pháp. Những thông tin và nội dung nêu trong đề tài đều dựa trên
nghiên cứu thực tế và hoàn toàn đúng với nguồn trích dẫn.
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin trân trọng cảm ơn sâu sắc nhất đến TS. Nguyễn Văn
Cảnh, người đã hướng dẫn tôi hết sức tận tâm, nhiệt tình, khoa học để tôi hoàn
thành luận văn Thạc sỹ này. Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ
của các Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Ngoại Thương, đặc biệt là các Thầy cô
trong khoa sau Đại học đã giúp tôi trong quá trình thực hiện luận văn. Tôi cũng xin
gửi lời cảm ơn tới gia đình, đồng nghiệp, những người đã quan tâm, sát cánh bên
cạnh và ủng hộ tôi là động lực cho tôi hoàn thành luận văn này một cách thuận lợi.
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN .......................................................................................................... iii
MỤC LỤC ................................................................................................................ iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ................................................................................. vii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................... viii
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài .......................................................................... 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................... 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 5
5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 5
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn ........................................................ 6
7. Kết quả nghiên cứu của luận văn ......................................................................... 7
8. Kết cấu của luận văn ............................................................................................ 7
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT HÀNH VI QUẢNG
CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ............................................................ 8
1.1. Khái quát về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh .......... 8
1.1.1. Khái niệm hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh ................ 8
1.1.2. Đặc điểm hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh ............... 10
1.1.3. Phân biệt hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh với các
hành vi quảng cáo bị cấm ...................................................................................... 11
1.2. Pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong
hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại ............................................................ 13
1.2.1. Khái niệm pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnhtrong hoạt động của các ngân hàng thương mại ........................................... 13
1.2.2. Đặc điểm pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh trong hoạt động của các ngân hàng thương mại .......................................... 19
1.2.3. Nội dung của pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh trong hoạt động của các ngân hàng thương mại .......................................... 22
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và thực hiện pháp luật về hành vi
quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của các ngân hàng
thương mại ............................................................................................................. 26
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN
THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH
TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM ..................................................................... 30
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh ................................................................................. 30
2.1.1. Thực trạng quy định về các hành vi quảng cáo nhằm cạch tranh không lành
mạnh trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại ......................................... 30
2.1.2. Đánh giá thực trạng pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của
các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay ..................................................... 38
2.2. Thực tiễn thực thi pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của
Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam hiện nay .......................................................... 46
2.2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật ........................................................................ 46
2.2.2. Thực tiễn xử lý hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong
hoạt động của các ngân hàng thương mại .............................................................. 52
Chương 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ HÀNH VI QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
VIỆT NAM .............................................................................................................. 62
3.1. Định hƣớng hoàn thiện pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam .. 62
3.1.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh .......................................................................................... 62
3.1.2. Một số định hướng hoàn thiện pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh của các Ngân hàng thương mại........................................ 64
3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam .. 66
3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh .................................................................................................... 66
3.2.2. Giải pháp nâng cao khả năng thực thi pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh của các Ngân hàng thương mại ............................... 74
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
TCTD Tổ chức tín dụng
UBCTQG Ủy ban cạnh tranh quốc gia
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài: “Pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam”, tác
giả đã tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài, qua đó nhận thức được sự cần thiết
của nghiên cứu pháp luật về vấn đề này. Đồng thời, đề tài sử dụng các phương pháp
thu thập dữ liệu thứ cấp để có những dữ liệu hữu ích phục vụ phân tích thực trạng
đề tài, sử dụng phương pháp thống kê, so sánh và phương pháp phân tích, tổng hợp
số liệu để phân tích các nội dung nghiên cứu của luận văn thông qua hệ thống hóa
các vấn đề lý luận về cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh, hành vi quảng cáo
nhằm cạnh tranh không lành mạnh; pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động của các NHTM Việt Nam.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành liên quan đến
hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Thực tiễn áp dụng các quy
định này trong hoạt động của các NHTM, để từ đó tìm ra những hạn chế của pháp
luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của
các NHTM ở Việt Nam. Luận văn nghiên cứu đề xuất các phương hướng, giải pháp
góp phần hoàn thiện pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh trong hoạt động của các NHTM ở Việt Nam, cụ thể: Xây dựng các tiêu chí để
nhận diện hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Hoàn thiện các
quy định liên quan đến việc xử lý hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh của các NHTM; Hoàn thiện và sớm ban hành Nghị định quy định về hành vi
cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng và giải pháp nâng cao khả
năng thực thi pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của
các NHTM.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Thông qua việc
cạnh tranh, người kinh doanh không ngừng cải tiến chất lượng hàng hóa, dịch vụ để
giành, giữ và nâng cao vị thế của mình trên thương trường. Tuy nhiên, bên cạnh
những tác động tích cực, cạnh tranh cũng có thể tác động tiêu cực đối với cho nền
kinh tế, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Do vậy, hoạt động cạnh tranh của các chủ
thể kinh doanh trên thị trường bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các thiết chế
nhà nước và các định chế pháp luật. Sự can thiệp của Nhà nước và tư duy cạnh
tranh từ đối đầu sang hợp tác cùng có lợi là xu hướng tất yếu bảo đảm cho nền kinh
tế phát triển bền vững. Trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh để nâng
cao vị thế của mình trên thị trường, doanh nghiệp sử dụng nhiều công cụ khác nhau,
trong đó có hoạt động quảng cáo. Có thể nói, quảng cáo là một trong những phương
tiện hữu hiệu để doanh nghiệp thông tin về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình
đến người tiêu dùng. Cùng với sự gia tăng về số lượng thì vấn đề cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ngày càng có xu hướng phát triển về quy mô và
thủ đoạn. Chính vì vậy, đây được coi là một trong những vấn đề rất được xã hội
quan tâm hiện nay. Trong điều kiện nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường,
việc nghiên cứu để làm rõ những vấn đề lý luận cũng như thực trạng các quy định
pháp luật về hành vi cạnh tranh, chống cạnh tranh không lành mạnh nói chung và
hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nói riêng là rất cần thiết.
Trong thời gian qua, việc nghiên cứu về cạnh tranh và chống cạnh tranh không lành
mạnh đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, song các nghiên cứu về hành vi quảng
cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh vẫn còn khiêm tốn. Vẫn còn không ít các
vấn đề lý luận và thực tiễn về hành vi quảng cáo nhằm
Bên cạnh đó, Theo cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO), kể từ ngày 01/04/2009, các TCTD nước ngoài được thành lập ngân hàng
100% vốn nước ngoài tại Việt Nam với các ràng buộc về vốn. Đây đang là sức ép
rất lớn đối với các NHTM trong nước, bởi lẽ, với một thị trường tài chính còn non
trẻ, chưa có kinh nghiệm thích ứng và xử lý với những biến động của kinh tế thị
2
trường, nhưng lại có quá nhiều chủ thể cung ứng dịch vụ ngân hàng, bởi vậy, việc
bảo đảm cho các NHTM trong nước có vị trí xứng đáng trên thị trường quả là công
việc khó khăn, nhất là tiềm lực tài chính và kinh nghiệm kinh doanh. Thực thi các
cam kết quốc tế, các NHTM trong nước buộc phải thay đổi các phương thức kinh
doanh, đặc biệt là cần phải có các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị
trường khi có sự hiện diện của các NHTM nước ngoài tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, Luật Cạnh tranh cũng bộc lộ nhiều điểm còn bất cập và khó
khăn khi đưa vào thực tế áp dụng. Trong đó có hoạt động quảng cáo, với tư cách là
một phần vô cùng quan trọng đối với hoạt động cạnh tranh của các tổ chức nói
chung và các NHTM nói riêng. Minh chứng là hoạt động quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh đang ngày có xu hướng gia tăng trong thời gian qua và có
những tác động không nhỏ đến đời sống xã hội của người dân. Số vụ việc bị điều tra
liên quan đến hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh tăng từ 41 vụ
(năm 2013) lên tới 53 vụ (năm 2015) và 77 vụ (năm 2017), trong đó c ó những vụ
việc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM thông qua hoạt động
quảng cáo. Mặc dù thời gian qua, các NHTM trong nước cũng đã tập trung mọi
nguồn lực để nâng cao năng lực tài chính và mở rộng quy mô, tuy nhiên, vấn đề
cạnh tranh giữa các NHTM tại thị trường Việt Nam cũng đang trở nên nóng bỏng và
khốc liệt. Là một lĩnh vực quan trọng và nhạy cảm trong nền kinh tế, ngành Ngân
hàng cần phải có những quy định pháp lý hết sức chặt chẽ và hiện đại để điều chỉnh
kịp thời các hành vi cạnh tranh đa dạng và thay đổi liên tục để duy trì môi trường
kinh doanh lành mạnh cho tất cả các TCTD. Pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh cần được giải quyết sâu hơn, đầy đủ hơn, qua đó, giúp
cho các cơ quan nhà nước, các NHTM, người dân có được công cụ và sự hiểu biết
nhất định để chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh thông qua hành vi quảng
cáo. Vì vậy, học viên đã lựa chọn vấn đề “Pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của các ngân hàng thương mại
Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn luật học của mình.
3
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cạnh tranh giữa các NHTM nói chung và hành vi cạnh tranh không lành
mạnh thông qua quảng cáo của các NHTM nói riêng là một trong những vấn đề
quan trọng, phong phú và phức tạp trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng, nên từ
trước đến nay, nó đã được một số nhà luật học đề cập đến trong các nghiên cứu của
mình như:
Tác giả Phạm Văn Lợi, Lê Thị Hoàng Oanh, Nguyễn Văn Cương, Hoàng
Thế Anh, Vũ Thị Hiệp, (2004), Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở
Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội; Tác giả Đỗ Văn Đại và
Nguyễn Thị Hoài Trâm (2012), Bồi thường thiệt hại do hành vi cạnh tranh không
lành mạnh gây ra, Tạp chí Khoa học pháp lý số 2, tr.62-71; Tác giả Quách Thị
Hương Giang (2011), Chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo
pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà
Nội; Tác giả Nguyễn Kiều Giang (2007), cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực ngân hàng - nhìn từ góc độ pháp lý, Tạp chí Luật học số 12, tr. 13 - 19; Tác giả
Viên Thế Giang (2013), Quảng cáo nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh
trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số
2(298) tr. 73 - 79; Tác giả Viên Thế Giang (2014), Pháp luật về chống cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các NHTM ở Việt Nam, Luận án
Tiến sĩ ngành Luật học.
Tác giả Nguyễn Văn Tuyến (2006),“Áp dụng Luật Cạnh tranh trong lĩnh vực
ngân hàng” đăng trên Tạp chí Luật học số 06/2006; Tác giả Bùi Thanh Lâm,
(2010),“Hành lang pháp lý liên quan đến sáp nhập và thâu tóm ngân hàng ở Việt
Nam” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11/2010;
Một số công trình luận văn thạc sĩ như: “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh của các NHTM Việt Nam thông qua hoạt động sáp nhập và mua lại”, Luận
văn Thạc sĩ Kinh tế, Phạm Thị Tuyết Vân, Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí
Minh, 2008; “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và
4
Phát triển Việt Nam đến 2015”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đặng Hoàng An Dân,
2010...
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã đưa ra những bàn luận và giải
quyết được một số vấn đề về lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật, song đều
nghiên cứu ở khía cạnh nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng. Tuy nhiên, kết quả nghiên
cứu của các công trình này cũng cho thấy, vấn đề cạnh tranh giữa các NHTM mặc
dù là một trong những chế định cơ bản nhưng cũng là một trong những chế định còn
nhiều nội dung chưa đạt đến sự đồng thuận và gây tranh luận sôi nổi trong giới khoa
học và kinh doanh từ trước đến nay. Trên cơ sở kế thừa những giá trị khoa học của
các công trình nghiên cứu trước đây, Luận văn này tiếp tục đi sâu, phát triển nhằm
hoàn thiện hơn nữa pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh trong hoạt động của các NHTM ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận pháp luật về
hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của các
NHTM Việt Nam. Từ đó, phân tích, đánh giá thực trạng, tìm ra những bất cập và đề
xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh trong hoạt động của các NHTM ở nước ta, góp phần bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các NHTM, các doanh nghiệp và người tiêu dùng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất, luận văn hệ thống hóa các vấn đề lý luận về cạnh tranh, cạnh tranh
không lành mạnh, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; pháp luật
về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của các
NHTM Việt Nam.
Thứ hai,luận văn phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam hiện
hành liên quan đến hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Thực tiễn
5
áp dụng các quy định này trong hoạt động của các NHTM, để từ đó tìm ra những
hạn chế của pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
trong hoạt động của các NHTM ở Việt Nam.
Thứ ba, luận văn nghiên cứu đề xuất các phương hướng, giải pháp góp phần
hoàn thiện pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong
hoạt động của các NHTM ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến hành vi quảng
cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; các quy định của pháp luật về hành vi
quảng cáo nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của các
NHTM Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung:cạnh tranh không lành mạnh được thực hiện thông qua nhiều
hành vi và trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau của tổ chức.Tuy nhiên, để phù
hợp với nội dung của đề tài, luận văn chỉ giới hạn sự nghiên cứu của mình trong các
quy định của pháp luật Việt Nam về các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động của các NHTM ở Việt Nam và cơ chế xử lý các
hành vi này.
Về thời gian và không gian: Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật
và thực tiễn thực hiện các quy định về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh trong hoạt động của các NHTM ở Việt Nam từ năm 2014 đến nay. Trong
quá trình nghiên cứu, có liên hệ, so sánh với quy định của một số quốc gia, khu vực
về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, luận văn đã sử dụng phương pháp luận
nghiên cứu là chủ nghĩa Mác - Lê Nin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các
quan điểm của Đảng và nhà nước ta về phát triển kinh tế trong thời kì đổi mới, xây
6
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có phát triển
thương mại và các hoạt động cạnh tranh, xúc tiến thương mại.
Ngoài ra, để hoàn thiện luận văn, các phương pháp nghiên cứu tổng hợp dưới
đây cũng được sử dụng như:
Phương pháp so sánh luật học được sử dụng xuyên suốt đề tài nhằm đối
chiếu quy định pháp luật với các nước để tìm ra những điểm hợp lý trong các quy
định pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh nói chung và hành vi quảng
cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích các tư liệu được sử dụng để
khái quát hóa rút ra những nhận xét, kết luận về từng nội dung của luận văn. Cụ thể
là phương pháp này được sử dụng để đi sâu vào tìm tòi, trình bày các hiện tượng,
quan điểm của pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
trong hoạt động của các NHTM ở Việt Nam; khái quát lại để từ đó đưa ra các đánh
giá, kết luận, kiến nghị và giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật về hành vi
quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của các NHTM ở
Việt Nam.
Phương pháp hệ thống hóa: được sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận văn nhằm
trình bày các vấn đề, nội dung trong luận văn theo một trình tự, một bố cục hợp lý,
chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đề, nội dung để đạt được mục
đích, yêu cầu đã được xác định cho luận văn.
Phương pháp tiếp cận hệ thống, đa ngành và liên ngành khoa học xã hội nhân
văn như lịch sử, kinh tế, luật học nhằm làm rõ bản chất kinh tế, xã hội, pháp lý của
cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động của các NHTM ở Việt Nam; đánh giá mức độ
phù hợp hay không phù hợp và nhất là tính khả thi của các quy định này.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Về mặt khoa học: Đây là công trình nghiên cứu cơ bản có tính hệ thống về pháp
luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của các
NHTM ở Việt Nam hiện nay. Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm
7
sáng tỏ thêm nhiều vấn đề lý luận về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh và pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng để
giải quyết nhiều vấn đề mà hoạt động thực tiễn đang đặt ra trong hoạt động của các
NHTM ở Việt Nam, đây là tài liệu tham khảo cho các cơ quan lập pháp, nhà hoạch
định chính sách, cơ quan quản lý nhà nước liên quan trong việc xây dựng và thực
hiện các quy định về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong
hoạt động của các NHTM ở Việt Nam. Luận văn cũng là nguồn tài liệu tham khảo
cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập nhiều lĩnh vực pháp luật, đặc biệt là pháp
luật về cạnh tranh tại các cơ sở đào tạo luật và kinh tế ở nước ta.
7. Kết quả nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở hệ thống lý luận về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh của NHTM và hệ thống các quy định của pháp luật về vấn đề này, đề tài
đã phân tích những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn
chế này khi thực thi các quy định của pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh của các NHTM. Luận văn đã đề xuất các giải pháp hoàn
thiện pháp luật như: Xây dựng các tiêu chí để nhận diện hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh; Hoàn thiện các quy định liên quan đến việc xử lý hành
vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM; Hoàn thiện và sớm
ban hành Nghị định quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
ngân hàng và giải pháp nâng cao khả năng thực thi pháp luật về hành vi quảng cáo
nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương, gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật hành vi quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh trong hoạt động của các NHTM
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động của các NHTM ở Việt Nam
8
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hành vi quảng
cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của các NHTM ở Việt Nam
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT HÀNH VI QUẢNG
CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Khái quát về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
1.1.1. Khái niệm hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Quảng cáo với vai trò là công cụ xúc tiến thương mại có lịch sử hình thành
từ lâu đời và cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, quảng cáo cũng không
ngừng phát triển.
Theo Hiệp hội quảng cáo Mỹ American Advertising Association 2008, một
trong những hiệp hội quảng cáo lâu đời và có uy tín nhất trên thế giới thì quảng cáo
được hiểu là “hoạt động truyền bá thông tin trong đó nói rõ ý đồ của chủ quảng cáo,
truyền tin hàng hoá, dịch vụ của chủ quảng cáo trên cơ sở có thu phí quảng cáo”.
Theo tác giả Philip Kotler 2008: “Quảng cáo là hình thức truyền thông không
trực tiếp được thực hiện thông qua những phương tiện truyền tin phải trả tiền và xác
định rõ nguồn kinh phí”. Trong một cuốn sách khác ông viết “Quảng cáo là một
hình thức trình bày gián tiếp và khuếch trương ý tưởng, hàng hoá hay dịch vụ được
người bảo trợ nhất định trả tiền”.
Dưới góc độ pháp lý, quảng cáo cũng được đề cập đến trong các từ điển luật
học và các văn bản pháp luật.
Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm quảng cáo cũng được đề cập trong
nhiều văn bản khác nhau. Pháp luật quảng cáo điều chỉnh hoạt động quảng cáo
chung, bao gồm quảng cáo nhằm mục đích lợi nhuận và không nhằm mục đích lợi
nhuận. Trong khi đó, Luật Thương mại chỉ điều chỉnh hoạt động quảng cáo với tư
cách là hoạt động xúc tiến thương mại. Như vậy, cho dù tiếp cận ở nhiều cách khác
nhau nhưng giữa chúng đều có điểm chung khi coi quảng cáo có bản chất thông tin.
9
Trong khoa học pháp lý, khi xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh
người ta thường đặt nó trong mặt đối lập với hành vi cạnh tranh lành mạnh. Cho đến
nay, cạnh tranh lành mạnh được nghiên cứu, tiếp cận, phản ánh trong nhiều học
thuyết và công trình khác nhau.
Dưới góc độ luật học, cạnh tranh lành mạnh được hiểu là “Sự ganh đua một
cách hợp pháp, trong sạch, đàng hoàng giữa các nhà kinh doanh trong cùng lĩnh
vực, ngành nghề để chiếm lĩnh thị phần mà không sử dụng thủ đoạn mờ ám, bất
chính nhằm loại bỏ đối thủ, tranh giành thị trường”. Thế nhưng, để đánh giá thế nào
là trong sạch, đàng hoàng, trung thực, công bằng là không đơn giản, bởi lẽ, các quan
điểm tiếp cận ở trên đều có chung nhận định, hành vi cạnh tranh lành mạnh phải
hợp pháp (phù hợp với quy định của pháp luật) và chuẩn mực thông thường về đạo
đức kinh doanh.
Công ước Paris 1883, về Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng đề cập đến
hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Theo đó, bất kì hành động nào trái với tập
quán trung thực trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành động cạnh
tranh không lành mạnh. Các hành động sẽ bị cấm nếu có dấu hiệu: (i) hành động có
khả năng gây nhầm lẫn dưới bất kì hình thức nào; (ii) những khẳng định sai lệch
trong hoạt động thương mại có khả năng gây mất uy tín của người cạnh tranh; (iii)
những chỉ dẫn hoặc khẳng định mà việc sử dụng chúng trong hoạt động thương mại
có thể gây nhầm lẫn cho công chúng về bản chất, quá trình sản xuất, tính chất, tính
thích hợp để sử dụng hoặc số lượng của hàng hoá.
Luật Cạnh tranh năm 2018 đã đưa ra khái niệm về hành vi cạnh tranh không
lành mạnh, đó là “hành vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung
thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại
hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác”.
Nhìn chung, cách tiếp cận hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của
pháp luật Việt Nam về cơ bản là phù hợp với Công ước Pari năm 1883 về bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp cũng như pháp luật một số nước. Bản chất pháp lý của
hành vi cạnh tranh không lành mạnh chính là tính trái với các chuẩn mực trung thực
10
và lành mạnh trong quan hệ thương mại, gây thiệt hại chủ yếu đến doanh nghiệp là
đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan.
Có thể thấy, có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh không lành mạnh
nhưng đều coi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cụ thể, đơn phương, vì
mục đích của các chủ thể kinh doanh khi thực hiện hành vi là không lành mạnh (chứ
không chỉ là tính bất hợp pháp), mà hậu quả của nó là gây ra sự bất lợi hay thiệt hại
cho đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh. Ở Việt Nam, Pháp lệnh Quảng cáo năm
2001, Luật Quảng cáo 2012, Luật Thương mại 2005 chỉ đề cập đến các hành vi
quảng cáo bị cấm, Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một trong số các
hành vi đó.
Trong phạm vi luận văn, khái niệm hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh được hiểu là “hành vi quảng cáo được thương nhân thực hiện
trong hoạt động kinh doanh, trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh
doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc của người tiêu dùng”.
Sở dĩ phải là hành vi quảng cáo thương mại bởi vì mặc dù hoạt động quảng
cáo không tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa, nhưng có vai trò rất lớn đối
với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh doanh.
1.1.2. Đặc điểm hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Thứ nhất, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là hành vi
quảng cáo thương mại. Với tư cách là chủ thể kinh doanh, thương nhân mong muốn
giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của mình đến với rộng rãi công chúng. Thông qua
quảng cáo, thương nhân truyền tải thông tin về hàng hoá, dịch vụ của mình đến thị
trường, giúp cho người tiêu dùng biết nhãn hiệu, tính năng, công dụng, cách bảo
dưỡng, giá cả, cách mua và địa điểm mua hàng hoá mình mong muốn bán. Nhờ vậy,
thương nhân có thể lôi kéo, thuyết phục lượng khách hàng, tăng doanh thu và tối đa
lợi nhuận. Việc thông tin này cũng rất cần thiết cho khách hàng, giúp họ có sự so
sánh trước khi quyết định lựa chọn sản phẩm nào. Có thể nói, quảng cáo có khả
năng định hướng tiêu dùng, qua đó giúp doanh nghiệp canh tranh, giành thị phần
11
trên thị trường. Do vậy, hành vi quảng cáo thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật
Cạnh tranh phải được hiểu theo khái niệm mà Luật Thương mại đã đề cập, theo đó,
quảng cáo phải là hành vi thương mại của thương nhân.
Thứ hai, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là hành vi
thương mại của thương nhân trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh
doanh trong hoạt động quảng cáo. Trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức
kinh doanh là căn cứ lý luận để xác định bản chất không lành mạnh của hành vi. Để
làm rõ “chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh” cần dựa vào hai căn cứ:
(i) Căn cứ luật định; (ii) Các tập quán kinh doanh, đạo đức kinh doanh thông thường
đã được thừa nhận. Khi xác định tính không lành mạnh của quảng cáo, cần dựa vào
động cơ, mục đích của hành vi trên cơ sở pháp luật cạnh tranh, pháp luật quảng cáo,
các văn bản chuyên ngành liên quan và chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh
doanh trong hoạt động quảng cáo.
Thứ ba, hậu quả của hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là
gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng. Thiệt hại mà hành vi gây ra
có thể có thật, xác định được hoặc cũng có thể chỉ là tiềm năng, có căn cứ rằng hậu
quả chắc chắn sẽ xẩy ra nếu không ngăn chặn hành vi.
1.1.3. Phân biệt hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh với các
hành vi quảng cáo bị cấm
Trước khi Luật Cạnh tranh năm 2004 được ban hành, hoạt động quảng cáo
được điều chỉnh trực tiếp bởi Luật Thương mại 1997 và Pháp lệnh Quảng cáo 2001.
Bên cạnh việc ghi nhận quảng cáo là quyền của người kinh doanh, các văn bản pháp
luật này cũng quy định các hành vi quảng cáo bị cấm. Từ khi Luật Cạnh tranh năm
2004 ra đời và được thay thế bởi Luật cạnh tranh năm 2018, các hành vi quảng cáo
bị cấm được bổ sung thêm là hành vi quảng cáo có nội dung nhằm cạnh tranh không
lành mạnh theo quy định của pháp luật về cạnh tranh (Điều 45, Luật Cạnh tranh
năm 2018). Mặc dù, cùng là hành vi quảng cáo so sánh trực tiếp, quảng cáo đưa
thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng và quảng cáo bắt chước,
12
nhưng khi xem xét các hành vi này từ phương diện là hành vi quảng cáo bị cấm
(theo Luật Quảng cáo năm 2012 và Luật Thương mại năm 2005) và phương diện là
hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh có sự khác biệt. Đối chiếu cấu
thành của hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh và các hành vi
quảng cáo so sánh trực tiếp, quảng cáo bắt chước, quảng cáo đưa thông tin gian dối
hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng bị cấm theo Luật Thương mại năm 2005, Luật
Quảng cáo năm 2012 và các văn bản liên quan khác có thể thấy, có một số nét khác
biệt rõ rệt như sau:
Thứ nhất, cả hành vi quảng cáo bị cấm và hành vi quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh đều do chủ thể thực hiện trong hoạt động kinh doanh, nhằm
thúc đẩy hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ của mình. Tuy nhiên, sẽ
không thể khẳng định một hành vi quảng cáo là nhằm cạnh tranh không lành mạnh
nếu trên thực tế, các chủ thể không phải là “đối thủ” của nhau, không cùng thị
trường liên quan. Đây chính là dấu hiệu đầu tiên để phân biệt hai hành vi này. Đối
tượng bị mang ra để so sánh, hoặc bị bắt chước không cùng thị trường liên quan với
người quảng cáo nếu cho rằng quyền và lợi của mình bị xâm phạm thì có quyền
khởi kiện đến cơ quan có thẩm quyền về hành vi quảng cáo bị cấm theo Luật
Thương mại, Luật Quảng cáo nhưng không thể khởi kiện vụ việc cạnh tranh không
lành mạnh.
Thứ hai, rõ ràng, hành vi quảng cáo nhằm mục đích cạnh tranh không lành
mạnh không thể được thực hiện bởi lỗi vô ý. Bởi vì khi thực hiện hành vi quảng cáo
so sánh hay đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn, chủ thể đã có mục đích
“nhằm cạnh tranh không lành mạnh”, có động cơ, mục đích rõ ràng, dù biết rằng,
hành vi đó trái với pháp luật, trái chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh.
Động cơ để thực hiện hành vi là gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh để tối đa hóa
lợi nhuận cho mình, lôi kéo khách hàng thông qua việc tạo cho họ có nhận thức sai
lệch theo chiều hướng tích cực về hàng hóa, dịch vụ, từ đó đưa ra quyết định giao kết
hợp đồng. Các hành vi quảng cáo nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh có bản
chất là việc tạo ra những lợi thế không chính đáng trong tương quan cạnh tranh trên
thị trường. Hậu quả của hành vi là điều mà người quảng cáo mong muốn xẩy ra. Trên
13
thực tế có thể bắt gặp những hành vi quảng cáo so sánhnhưng không phải nhằm mục
đích cạnh tranh, vì hàng hóa, dịch vụ của chủ thể không cùng thị trường liên quan.
Hành vi này sẽ được xem xét dưới góc độ là hành vi quảng cáo bị cấm.
Bên cạnh đó, khi thực hiện các hành vi quảng cáo bị cấm, chủ thể có thể biết
hoặc không biết mình đang thực hiện hành vi mà pháp luật cấm. Do vậy, trong cấu
thành của hành vi quảng cáo bị cấm, lỗi là không phải là yếu tố bắt buộc phải có.
1.2. Pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong
hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại
1.2.1. Khái niệm pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnhtrong hoạt động của các ngân hàng thương mại
1.2.1.1. Ngân hàng thương mại và hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh
tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói
chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó, NHTM thường chiếm tỷ trọng lớn
nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng. Khoản 3 Điều 4 Luật
các TCTD 2010 đã định nghĩa: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất
cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của
Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Nói cách khác, NHTM là một doanh nghiệp
kinh doanh tiền tệ, là một TCTD thực hiện huy động vốn nhàn rỗi từ các chủ thể
trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn tín dụng và cho vay phát triển kinh tế, tiêu
dùng… cho xã hội.
Hoạt động ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh đặc thù, đòi hỏi phải có những
hướng dẫn cụ thể riêng về vấn đề này. Mặc dù vậy, cho đến thời điểm hiện nay, mới
chỉ có một vài quy định rải rác trong các văn bản pháp luật về mà chưa có những
quy định chi tiết mang tính đặc thù cho lĩnh vực ngân hàng.
Luật các TCTD năm 2010 chỉ có duy nhất một quy định liên quan đến cạnh
tranh không lành mạnh của NHTM, đó là quy định về hợp tác và cạnh tranh trong
hoạt động ngân hàng (Điều 9). Theo đó, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
14
được hợp tác và cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh
khác theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc
hành vi cạnh tranh không lành mạnh có nguy cơ gây tổn hại hoặc gây tổn hại đến
việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn của hệ thống các TCTD, lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và giao cho Chính
phủ quy định cụ thể các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân
hàng và hình thức xử lý các hành vi này.
Từ các quy định mang tính nguyên tắc trên đây, có thể rút ra những dấu hiệu
về hành vi quảng cáo nhằm CTKLM của NHTM như sau:
- Đó là hành vi quảng cáo của các NHTM phát sinh trong hoạt động kinh
doanh ngân hàng, trái với đạo đức thông thường trong kinh doanh;
- Gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của NHTM khác hoặc với khách hàng. Về dấu hiệu này, cần quy định
hết sức thận trọng, đặc biệt là xác định như thế nào là thiệt hại hoặc có thể gây thiệt
hại, ai là người chứng minh thiệt hại.
+ Thiệt hại ở đây được hiểu là những thiệt hại về vật chất, tức là ảnh hưởng
tới doanh thu, khả năng sinh lợi trong hoạt động của đối thủ cạnh tranh và những
tổn hại về uy tín của đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Về dấu hiệu có thể gây thiệt
hại cần xem xét kỹ lưỡng, vì hoạt động ngân hàng rất nhạy cảm với những thông tin
không tốt, những thông tin này có thể “giết chết” một NHTM cũng như gây tác
động xấu đối với xã hội, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Do vậy, khi
có dấu hiệu có thể gây thiệt hại, đối thủ cạnh tranh cần tìm đến một giải pháp hỗ trợ
từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tránh thiệt hại cho cả hai bên cũng như
đối với nền kinh tế và xã hội;
+ Người phải chứng minh mức độ thiệt hại là đối thủ cạnh tranh của NHTM.
Cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình thực thi công vụ nếu phát hiện ra hành vi
quảng cáo nhằm CTKLM thì phải báo cáo kịp thời đến NHNN, UBCTQG, Bộ
Công Thương để có biện pháp phối hợp xử lý;
15
+ Thông thường, hành vi quảng cáo nhằm CTKLM có mức độ ảnh hưởng
tiêu cực trên thị trường hẹp, thường chỉ tác động lên một số chủ thể nhất định mà
không ảnh hưởng đến một khu vực thị trường rộng như hành vi hạn chế cạnh tranh.
Tuy nhiên, đối với lĩnh vực ngân hàng, do sự khác biệt trong hoạt động nên
việc xác định mức độ ảnh hưởng của hành vi quảng cáo nhằm CTKLM trong lĩnh
vực ngân hàng cần được hiểu là trên phạm vi rộng, trên toàn bộ thị trường ngân
hàng, bởi các lý do sau:
Thứ nhất, hoạt động ngân hàng là hoạt động rủi ro cao và mang tính dây
chuyền. Do vậy, hậu quả của mà hành vi quảng cáo nhằm CTKLM gây ra thường là
rất lớn, trên diện rộng, và có nguy cơ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng.
Thứ hai, hậu quả của hành vi quảng cáo nhằm CTKLM trong lĩnh vực ngân
hàng thường diễn ra rất nhanh chóng và khắc phục rất khó khăn. Hoạt động ngân
hàng gắn liền với phạm trù “niềm tin” - niềm tin của người gửi tiền vào ngân hàng.
Một khi niềm tin vào một ngân hàng bị một hành vi quảng cáo nhằm CTKLM làm
cho đổ vỡ thì hậu quả diễn ra rất nhanh chóng và phải mất nhiều thời gian mới phục
hồi lại được.
Thứ ba, hành vi quảng cáo nhằm CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng có tác
động nhất định đến nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng được coi là xương sống của
nền kinh tế, là nơi tập trung những nguồn vốn lớn của xã hội. Ngân hàng là trung
gian giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Vậy nên, một khi ngân hàng bị ảnh
hưởng bởi hành vi quảng cáo nhằm CTKLM thì cả người thừa vốn và người thiếu
vốn sẽ bị ảnh hưởng theo. Bên cạnh đó, mọi biến động của mỗi mắt xích trong hệ
thống ngân hàng đều gây ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế nói chung và từng
lĩnh vực có liên quan nói riêng.
Thứ tư, hoạt động ngân hàng mang tính chuyên ngành cao. Các hành vi quảng
cáo nhằm CTKLM cũng vì vậy mà mang tính chất chuyên ngành và tinh vi hơn.
Tóm lại, các dấu hiệu hành vi quảng cáo nhằm CTKLM của NHTM bao
gồm: (i) Cạnh tranh giữa các NHTM với nhau hoặc với tổ chức khác có hoạt động
ngân hàng; (ii) Hành vi trái với chuẩn mực kinh doanh ngân hàng; (iii) Hành vi gây
16
thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại cho NHTM khác, ảnh hưởng đến an toàn hệ thống
ngân hàng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của khách hàng. Trong bối cảnh chưa có
các văn bản của NHNN quy định chi tiết về hành vi quảng cáo nhằm CTKLM giữa
các NHTM, việc chỉ ra những dấu hiệu chung của hành vi quảng cáo nhằm CTKLM
trong lĩnh vực ngân hàng để giúp nhận diện được các hành vi này là điều cần thiết.
Để làm được điều đó, có thể sử dụng các dấu hiệu hành vi quảng cáo nhằm CTKLM
được ghi nhận ở trong Luật Cạnh tranh 2018 trên cơ sở có tính đến các đặc thù của
lĩnh vực ngân hàng.
1.2.1.2. Pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các
Ngân hàng thương mại
Pháp luật cạnh tranh không phải là loại pháp luật có mục tiêu trực tiếpnhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh hay rộng hơn là của nền
kinh tế quốc gia. Thực chất, mục tiêu của pháp luật cạnh tranh là ngăn cản và xử lý
những hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp với động cơ cạnh tranh nhưng trái với
pháp luật, chuẩn mực đạo đức kinh doanh, tập quán kinh doanh, qua đó tìm cho
mình những lợi thế cạnh tranh mà đúng ra sẽ không có được nếu không thực hiện
hành vi vi phạm. Trong pháp luật cạnh tranh, chủ thể thực hiện các hành vi cạnh
tranh là các doanh nghiệp nói chung, những người được quyền tự do kinh doanh, tự
do sáng tạo để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Pháp luật điều chỉnh hoạt
động này thuộc về luật tư. Tuy nhiên, những quy định cấm đoán, ngăn cản các hành
vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội cũng như trình tự thủ tục, cơ chế, chế tài
xử lý các hành thuộc về các quy định của luật công. Do vậy, pháp luật cạnh cạnh
vừa mang tính chất của luật tư và mang tính chất của luật công.
Quyền tự do kinh doanh được quy định trong Hiến pháp - đạo luật cơ bản,
đạo luật gốc của Nhà nước đã tạo nền tảng quan trọng cho việc hình thành và phát
triển của khung pháp luật cho nền kinh tế thị trường. Các quan điểm về thiết lập thể
chế kinh tế thị trường phải dựa trên ba trụ cột tương ứng với các thiết chế pháp luật
cần thiết: i) Quyền tự do kinh doanh; ii) Tự do cạnh tranh và chống độc quyền -
pháp luật cạnh tranh; iii) Bảo đảm rút lui khỏi thị trường một cách có trật tự - pháp
luật phá sản. Theo Maria-Eleni K. Agoraki, Manthos D. Delis và Fotios Pasiouras
17
2009, tự do giữa các doanh nghiệp được xem là phương tiện thỏa mãn cung và cầu
tốt nhất trong nền kinh tế phục vụ cho lợi ích của người tiêu dùng và nền kinh tế nói
chung. Tuy nhiên, ở đâu có cạnh tranh thì ở đó cũng có thể xảy ra các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh. Có thể thấy rõ hiện tượng này ở tất cả các nước vào mọi
thời điểm, bất kể hệ thống chính trị xã hội hiện hành nào.
Tác giả Nguyễn Như Phát 2001, cho rằng: Xét về lịch sử thì pháp luật chống
cạnh tranh không lành mạnh ra đời trước và được coi là pháp luật cạnh tranh theo
nghĩa rộng hay nghĩa kinh điển. Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ra đời
cùng với sự thừa nhận và bảo đảm quyền tự do kinh doanh và trong bối cảnh các
đối thủ cạnh tranh biết và không thừa nhận một nguyên lý là “tự do là việc nắm bắt
được quy luật”. Sự giục dã của lợi nhuận tối đa, lại được bảo hộ bởi quyền tự do
kinh doanh, các đối thủ cạnh tranh đã không tự nhiên từ bỏ mọi thủ đoạn “xấu chơi”
nhằm giảm khả năng cạnh tranh của các đối thủ khác và cuối cùng là gây cho họ
thiệt hại trong kinh doanh. Chính vì mọi thủ đoạn chơi xấu luôn có khả năng sử
dụng bởi các chủ thể kinh doanh nên để chống cạnh tranh không lành mạnh, Nhà
nước cần nhận diện được các lợi ích cần được bảo vệ do hành vi cạnh tranh không
lành mạnh xâm hại.
Theo đánh giá của tác giả Phạm Duy Nghĩa 2001, thì mọi hành vi cạnh tranh
không lành mạnh hoặc hạn chế, cản trở cạnh tranh, dù chúng vô cùng đa dạng và
ngày càng tinh vi song suy cho cùng đều vi phạm hoặc ảnh hưởng tới ba lợi ích cơ
bản: a) lợi ích của doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, bị thiệt hại do những hành vi
cạnh tranh không lành mạnh; b) lợi ích của khách hàng nói riêng và người tiêu dùng
nói chung bị nhầm lẫn hoặc lừa dối thông qua các hành vi cạnh tranh gian trá và c) lợi
ích của cộng đồng và pháp luật cạnh tranh cung cấp các công cụ đa dạng để bảo đảm
một cách hợp lý nhất các lợi ích cơ bản kể trên. Điều này giải thích vì sao luật chống
cạnh tranh không lành mạnh của một số nước vừa có quy định mang tính dân luật,
vừa có các quy định hành chính và một số quy định xác định tội danh và hình phạt.
Trong thời gian gần đây, nhiều nước đã thông qua một cơ chế pháp luật đặc biệt về
đối tượng hoặc đã thay thế những bộ luật trước đó về cạnh tranh không lành mạnh.
18
Xuất phát từ tính chất, đặc điểm của hành vi cạnh tranh, pháp luật của các
quốc gia thường chia pháp luật cạnh tranh thành hai lĩnh vực chính: pháp luật về
hành vi hạn chế cạnh tranh và pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Trongđó, pháp luật về hành vi hạn chế cạnh tranh điều chỉnh các “hành vi của
doanh nghiệp làm sai giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm
hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm
dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế”. Còn pháp luật về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh điều chỉnh các “hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá
trình kinh doanh, trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây
thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của doanh nghiệp và người tiêu dùng”. Pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh là một bộ phận của pháp luật về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh. Cho nên, khi tiếp cận hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh cũng phải dựa trên những quan điểm, nguyên tắc chung của pháp luật
cạnh tranh nói chung và pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh nói riêng.
Từ những phân tích trên về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi
quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, có thể hiểu: “Pháp luật về hành vi
quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnhtrong hoạt động của các NHTM là
tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh
hành vi quảng cáo của các NHTM trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức
kinh doanh, do các NHTM thực hiện trong hoạt động kinh doanh, gây thiệt hại hoặc
có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, doanh nghiệp, cá nhân khác; trình tự, thủ tục khiếu nại, khởi kiện và trách
nhiệm pháp lý áp dụng đối với NHTM khi thực hiện hành vi này”.
Như vậy, pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
là một bộ phận của pháp luật cạnh tranh nói chung và pháp luật về hành vi cạnh
tranh không lành mạnh nói riêng. Mặc dù vẫn vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau,
nhưng pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh ở các
quốc gia đều thống nhất ở đối tượng và phạm vi điều chỉnh.
19
1.2.2. Đặc điểm pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh trong hoạt động của các ngân hàng thương mại
Thứ nhất, về các nhóm lợi ích cần được bảo vệ của pháp luật về hành vi
quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng rộng hơn
so với các lĩnh vực kinh doanh khác.
Bảo đảm cho hoạt động ngân hàng hoạt động an toàn, lànhmạnh, ổn định
không chỉ giúp ích cho Nhà nước trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
mà còn giúp cho TCTD tối đa hóa được mục tiêu lợi nhuận, người tiêu dùng có
nhiều cơ hội lựa chọn dịch vụ ngân hàng tốt nhất.Xuất phát từ hậu quả mang lại cho
những nhóm lợi ích cần được bảo vệ trong cạnh tranh, pháp luật chống hành vi cạnh
tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng hướng tới bảo vệ các nhóm lợi
ích cơ bản sau đây: (i) Lợi ích của Nhà nước được thể hiện trong việc duy trì môi
trường cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm thực hiện tốt chính sách tiền tệ quốc gia; (ii)
Bảo vệ lợi ích của các TCTD; (iii) Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền; (iv) Bảo đảm
quyền tiếp cận nguồn vốn của người có nhu cầu vay vốn; (v) Ngăn ngừa tình trạng
đổ vỡ mang tính dây chuyền do hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt
động ngân hàng gây ra.
Thứ hai, về phương pháp tiếp cận và xác định hành vi quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng theo hướng ngăn cản, can thiệp
từ phía công quyền trên cơ sở pháp luật cạnh tranh và nền tảng của văn hóa, đạo
đức, tập quán.
Như vậy, ngoài pháp luật chống hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh trong hoạt động ngân hàng cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể sử
dụng một cách trực tiếp các tập quán, đạo đức kinh doanh để giải quyết các vụ việc
cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng. Đây là nguồn bổ sung
quan trọng cho pháp luật chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt
động ngân hàng.Mặc dù còn nhiều băn khoăn về việc mở rộng hay không mở rộng
quyền tự do kinh doanh của các TCTD, song những cam kết khi gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới buộc các quốc gia, trong đó có Việt Nam phải chấp nhận cạnh
20
tranh như một xu thế không thể đảo ngược của quá trình tự do hóa tài chính. Và vì
vậy, sự tồn tại của thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh vẫn được các TCTD sử
dụng để chiếm lĩnh thị trường là tất yếu. Do vậy, tiếp cận pháp luật chống cạnh
tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng cũng phải dựa trên nguyên lý
tiếp cận của pháp luật cạnh tranh nói chung, nghĩa là pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng là loại pháp luật ngăn cản, coi các
hành vi này là các hành vi tiêu cực, có thể gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh,
người tiêu dùng, lợi ích của Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng – đây là những
nhóm lợi ích được pháp luật cạnh tranh bảo vệ.
Về phương pháp xác định “tính không lành mạnh” của hành vi quảng cáo
nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các TCTD ngoài quy định của pháp luật còn
cần phải dựa trên một nền tảng văn hóa và đạo đức kinh doanh ngân hàng vững
chắc. Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng đặt
nền tảng cho việc xác lập các chuẩn mực pháp lý trong hoạt động ngân hàng cho
việc xác định các hành vi hoặc những biểu hiện của tính không lành mạnh trong
hoạt động cạnh tranh của các NHTM. Nội dung các quy định này hướng tới việc
xác lập các nguyên tắc pháp lý cho việc xác định những biểu hiện trái với chuẩn
mực thông thường về đạo đức kinh doanh làm cơ sở cho việc nhận diện, xử lý phù
hợp, kịp thời.
Thứ ba, pháp luật chống hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh trong hoạt động ngân hàng là công cụ được Ngân hàng Trung ương sử dụng
để giải quyết hài hòa giữa yêu cầu chống cạnh tranh không lành mạnh (mà thực chất
là yêu cầu bảo vệ quyền TCTD cạnh tranh trên thị trường, người tiêu dùng) với yêu
cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các TCTD và thực hiện tốt
chính sách tiền tệ quốc gia (lợi ích Nhà nước và xã hội).
Kiểm soát và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các TCTD
là nhiệm vụ trung tâm của Ngân hàng Trung ương các nước. Việc chống cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng cần phải cân nhắc tới lợi ích cần bảo
vệ và độ tràn hậu quả do hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân
hàng mang lại. Điều đó có nghĩa là, khi quy định, phát hiện, ngăn ngừa, xử lý hành
21
vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng phải luôn cân nhắc tới
yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các TCTD. Như vậy, để
bảo vệ môi trường kinh doanh an toàn, bình đẳng, lành mạnh có những lúc lợi ích
của các TCTD tham gia thị trường, của người gửi tiền, khách hàng sử dụng dịch vụ
ngân hàng phải đứng sau mục tiêu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ
thống các TCTD.
Thứ tư, mặc dù tính không lành mạnh của hành vi cạnh tranh phụ thuộc vào
các yếu tố thị trường và luôn được điều chỉnh bằng phương thức của luật tư, tức là
chừng nào người bị ảnh hưởng, bị thiệt hại hay có nguy cơ bị thiệt hại chưa đưa ra sự
phản đối và khiếu kiện thì pháp luật và tòa án chưa thể vào cuộc, song đối với hoạt
động ngân hàng, pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh tronghoạt động
ngân hàng đòi hỏi phải quy định sự tham gia trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước
về tiền tệ và hoạt động ngân hàng trong quá trình phát hiện và xử lý hành vi cạnh
tranh không lành mạnh của các TCTD. Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
đòi hỏi phải quy định rõ vai trò và khả năng tác động/can thiệp của NHNN trong việc
điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng.
Thứ năm, nguồn của pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng tương đối đa dạng, bao gồm cả án lệ, luật tục,
luật thành văn, trong đó luật thành văn có thể là quy định chung của pháp luật về
dân sự, thương mại, cũng có thể là một đạo luật riêng về cạnh tranh không lành
mạnh, hay là rải rác các quy định nằm trong các lĩnh vực pháp luật khác có liên
quan như Luật Thương mại năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2006, Luật Quảng
cáo năm 2012, Luật Cạnh tranh 2004, Luật TCTD năm 2010, Luật TCTD sửa đổi bổ
sung năm 2017, Luật Cạnh tranh năm 2018…
Thứ sáu, pháp luật chống hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh trong hoạt động ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều lĩnh vực pháp
luật khác và có thể áp dụng trực tiếp tập quán, đạo đức kinh doanh để xác định tính
không lành mạnh của hành vi cạnh tranh của các TCTD.
22
Pháp luật cạnh tranh và chống độc quyền phải được hiểu là cả một hệ thống,
nó đòi hỏi cả một hệ thống pháp luật đồng bộ dựa trên nền tảng của bình đẳng và tự
do kinh doanh hướng đến cạnh tranh lành mạnh, có nghĩa là sẽ liên quan đến một
loạt các lĩnh vực pháp luật như luật dân sự, luật thương mại, luật thuế, luật ngân
hàng và cả luật hành chính, luật hình sự... Vì vậy, việc xác định rõ mối quan hệ giữa
luật cạnh tranh và các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành khác, đặc biệt là với các luật
thuộc lĩnh vực pháp luật kinh tế, thương mại là vấn đề phải chú ý trong hoạch định
chính sách, xây dựng và áp dụng pháp luật.
1.2.3. Nội dung của pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh trong hoạt động của các ngân hàng thương mại
1.2.3.1. Đối tượng điều chỉnh
Như đã phân tích ở trên, pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh của các NHTM là hệ thống quy phạm pháp luật do nhà nước ban
hành hoặc thừa nhận để điều chỉnh các hành vi quảng cáo trái với chuẩn mực thông
thường về đạo đức kinh doanh - các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh. Đây cũng chính là đối tượng điều chỉnh chủ yếu của pháp luật về hành vi
cạnh tranh không lành mạnh.
Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh bao gồm các nhóm: (i)
Nhóm hành vi quảng cáo xâm phạm đến đối thủ cạnh tranh trên thị trường; (ii)
Nhóm hành vi quảng cáo xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng và trật tự hoạt
động quảng cáo.
Nhóm hành vi quảng cáo xâm phạm đến đối thủ cạnh tranh trên thị trường là
những hành vi quảng cáo của người kinh doanh mà ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
của đối thủ kinh doanh khác trên thị trường như: quảng cáo so sánh, quảng cáo bắt
chước sản phẩm quảng cáo khác, quảng cáo gây nhầm lẫn. Đặc điểm chung của
nhóm hành vi này là nhằm hướng tới cạnh tranh với một doanh nghiệp đối thủ cụ
thể và thường gắn với một loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể của doanh nghiệp. Các
hành vi quảng cáo có thể là: Hành vi quảng cáo so sánh hàng hóa, dịch vụ của
doanh nghiệp quảng cáo với hàng hóa, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh; Hành vi
23
quảng cáo bắt chước sản phẩm quảng cáo của doanh nghiệp khác; Hành vi
quảng cáo gây nhầm lẫn về nguồn gốc, nhà sản xuất của hàng hóa.
Nhóm các hành vi quảng cáo xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng và
trật tự hoạt động quảng cáo. Một trong những quyền cơ bản của người tiêu dùng là
được thông tin chính xác về hàng hóa, dịch vụ. Từ đó, họ có sự lựa chọn và quyết
định để đáp ứng nhu cầu của bản thân. Nhưng hoạt động quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh đã xâm phạm đến quyền được thông tin chính xác và có thể
ảnh hưởng đến sức khỏe tính mạng của người tiêu dùng. Ngoài ra, có những hành vi
còn làm ảnh hưởng đến tâm lý của người tiêu dùng. Các hành vi quảng cáo cụ thể:
Hành vi quảng cáo gian dối và gây nhầm lẫn cho khách hàng về các nội dung như
giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, cách thức sử dụng, phương thức sử
dụng, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa; Hành vi quảng cáo quấy rối; Quảng cáo ép
buộc, lôi kéo.
1.2.3.2. Cơ chế điều chỉnh đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh
Bên cạnh quy định các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
của các NHTM, pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnhcủa các NHTM cũng quy định về cơ chế xử lý đối với các hành vi này, bao
gồm các nội dung cụ thể:
Về thẩm quyền xử lý đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh của các NHTM và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong xử lý hành vi
quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM: Để pháp luật về hành
vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnhcủa các NHTM đi vào cuộc sống,
phát huy hiệu quả của nó, cần có một cơ chế và bộ máy thực hiện quản lý nhà nước
nói chung và xử lý đối với các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnhcủa các NHTM nói riêng. Các cơ quan trong bộ máy này cần phải có sự phối hợp
với nhau trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình.
Trong lĩnh vực hoạt động quảng cáo của các NHTM, Bộ Công thương và
NHNN là cơ quan có chức năng thực hiện quản lý nhà nước. Các Bộ, cơ quan
24
ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với
hai đơn vị này thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo của các NHTM.
Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo của các
NHTM trong phạm vi địa phương theo thẩm quyền.
Trong quản lý nhà nước về cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh có nhiệm
vụ xử lý, xử phạt các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM. Vì vậy,
trong quy định về thẩm quyền xử lý đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong xử lý hành vi quảng
cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnhcủa các NHTM cần phải có những nội dung
sau: (i) Quy định về thẩm quyền của Cơ quan quản lý cạnh tranh trong việc xử lý
các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM; (ii) Quy
định về cơ chế phối hợp giữa Cơ quan quản lý cạnh tranh, các cơ quan ngang bộ
khác trong việc xử lý, xử phạt các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh của các NHTM; (iii) Quy định về cơ chế phối hợp giữa Cơ quan quản lý cạnh
tranh các cơ quan ngang bộ khác có liên quan với cơ quan điều tra trong các vụ án
hình sự liên quan đến hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các
NHTM; (iv) Quy định về sự tham gia của Cơ quan quản lý cạnh tranh, Bộ Công
thương và NHNN trong quá trình tố tụng yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với hành vi
quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM tại Tòa án nhân dân.
Các quy định về xử lý các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnhcủa
các NHTM cần được xây dựng rõ ràng, tránh chồng chéo, đồng bộ, thống nhất thì
mới tăng cường được tính hiệu quả của việc áp dụng pháp luật trong thực tế.
Về biện pháp chế tài: Pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh của các NHTM là bộ phận của pháp luật cạnh tranh không lành mạnh.
Do vậy, khi xác định biện pháp xử lý đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh của các NHTM, trước hết phải xem xét các chế tài đối với hành vi
cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM. Pháp luật các quốc gia có các cách
thức và chế tài khác nhau như: yêu cầu chấm dứt hành vi và bồi thường thiệt hại;
yêu cầu chấm dứt hành vi và phạt tiền. Nghiên cứu các quy định của pháp luật về
chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM, cho thấy, Việt
25
Nam áp dụng các hình thức yêu cầu chấm dứt hành vi, bồi thường thiệt hại và hình
phạt. Do vậy, chế tài áp dụng đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh của các NHTM cũng phải dựa trên các nguyên tắc, chế tài chung đó.
Nghiên cứu các quy định của pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh, có thể thấy, chế tài đối với hành vi này bao gồm: Chấm dứt thực
hiện hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Các biện pháp xử phạt
hành chính đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh (bao gồm
các hình phạt chính và hình phạt bổ sung); Quy định về bồi thường thiệt hại do hành
vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh gây ra; Chế tài hình sự (đây là hình
thức chế mới được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, khi thừa nhận trách
nhiệm hình sự đối với pháp nhân).
Trong các hành thức chế tài này, buộc chấm dứt thực hiện hành và xử phạt
tiền là hai chế được áp dụng nhiều nhất.
Từ những phân tích nội dung của pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh của các NHTM, có thể rút ra một số nhận định như sau:
Một là, dù tiếp cận theo cách thức của pháp luật của quốc gia nào thì pháp
luật cạnh tranh cũng đều giữ vai trò chủ yếu trong việc xác định hành vi quảng cáo
nhằm cạnh tranh không lành mạnh, đồng thời, đề ra các quy tắc chung trong việc áp
dụng và xử lý các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Hai là, có hai xu hướng lập pháp về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh:
(i) Xu hướng quy định cụ thể từng hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh (như Đài Loan, Việt Nam); (ii) Chỉ đưa ra các nguyên tắc để xác định
hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, việc xác định hành vi cụ thể
sẽ do cơ quan có thẩm quyền thực hiện (như Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ).
Ở cách thứ nhất, có ưu điểm là dễ áp dụng vì trong đó đã liệt kê ra hành vi cụ
thể, người bị xâm phạm có thể dễ vận dụng để bảo vệ quyền và lợi ích cho mình.
Tuy nhiên, nhược điểm là dễ bị lạc hậu, và bỏ lọt các hành vi vi phạm do pháp luật
không theo kịp thực tiễn đời sống. Ở cách thứ hai, không quy định cụ thể hành vi
26
quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh sẽ khắc phục được nhược điểm dễ bị
lạc hậu của các quy phạm pháp luật. Nhưng, với các quy định này đòi hỏi phải cho
tòa án quyền giải thích một hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lạnh mạnh và
sử dụng án lệ khi giải quyết các vụ việc liên quan đến hành vi quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh.
Ba là, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi trái với chuẩn mực
thông thường về đạo đức kinh doanh, vì vậy, tập quán thương mại, đạo đức kinh
doanh nói chung và đạo đức kinh doanh trong hoạt động quảng cáo nói riêng cần
phải có vị trí xứng đáng trong hệ thống quy phạm pháp luật, được sử dụng như là
công cụ hữu hiệu để chống các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh. Đây được coi là nguồn bổ sung cho những lỗ hổng của pháp luật trong việc
xác định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Do vậy, song song với việc hoàn
thiện các quy định củapháp luật cạnh tranh, thì việc xây dựng các chuẩn mực đạo
đức kinh doanh là việc làm cần thiết.
Bốn là, thông thường, các quốc gia thường tiếp cận hành vi quảng cáo so
sánh - một trong những hành vi đặc trưng của hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh - từ phương diện tiêu cực, và cấm tuyệt đối các hành vi này. Tuy
nhiên, không phải lúc nào hành vi quảng cáo so sánh cũng là sai. Bởi nếu việc nội
dung so sánh là đúng và chứng minh được rõ ràng thì đây cũng là cơ hội cho người
tiêu dùng có thêm ý kiến tham khảo khi đưa ra quyết định lựa chọn sử dụng hàng
hóa, dịch vụ nào. Do vậy, cần phải có những tiêu chí để xác định hành vi quảng cáo
là hợp pháp, và loại trừ ra khỏi các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và thực hiện pháp luật về hành
vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của các ngân
hàng thương mại
1.2.4.1. Yếu tố về chính trị
Yếu tố về chính trị có ảnh hưởng mang tính định hướng, chỉ đạo quan trọng
đối với việc hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo. Ở Việt
Nam, yếu tố về chính trị thể hiện chủ yếu trong chủ trương, quan điểm của Đảng
27
Cộng sản Việt Nam. Từ chủ trương, định hướng chiến lược, yêu cầu xây dựng chính
sách và pháp luật về cạnh tranh được Đảng ta chỉ rõ trong các văn kiện của Đại hội
lần thứVIII (năm 1996) và lần thứ IX (năm 2001) của Đảng như: “... Phải nghiên
cứu ban hành Luật bảo đảm cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh,
chống cạnh tranh không lành mạnh và chống hạn chế thương mại”. “... Xây dựng
khuôn khổ pháp lý và thể chế để thị trường hoạt động năng động, có hiệu quả, có
trật tự kỷ cương trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, hạn
chế và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh...”. “Ban hành Luật cạnh tranh và
kiểm soát độc quyền trong kinh doanh phù hợp với những điều kiện thực tế của Việt
Nam...”. Luật Cạnh tranh ra đời chính là công cụ mà Nhà nước sử dụng để điều tiết,
đảm bảo cho quá trình cạnh tranh diễn ra một cách lành mạnh, tránh những ảnh
hưởng tiêu cực đến thị trườngvà nền kinh tế xã hội, trong đó có lĩnh vực quảng cáo.
1.2.4.2. Yếu tố pháp luật
Để thực hiện và áp dụng pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động của các NHTM có hiệu quả trước hết phải có hệ
thống pháp luật tốt. Nói cụ thể hơn là phải có một hệ thống pháp luật thống nhất,
đồng bộ, sát thực tế, phù hợp với các quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế -
xã hội, phù hợp với những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, tâm lý, cá
nhân mà trong đó pháp luật sẽ tác động, đáp ứng những nhu cầu đòi hỏi của con
người ở mỗi thời kỳ phát triển. Các văn bản áp dụng pháp luật về hành vi quảng cáo
nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của các NHTM được ban hành
phù hợp như: hợp pháp, nghĩa là nó được ban hành đúng thẩm quyền hoặc chỉ được
ban hành một số văn bản áp dụng pháp luật nhất định theo quy định của pháp luật;
được ban hành có cơ sở thực tế, nghĩa là nó được ban hành căn cứ vào những sự
kiện, những đòi hỏi thực tế đầy đủ, chính xác và đáng tin cậy. Thực tế cho thấy, do
có nhiều thay đổi, biến động trong chính sách về tín dụng, cạnh tranh, quảng cáo
trong thời gian qua, cộng thêm sự không đồng bộ trong quy định pháp luật về quảng
cáo, về các quy định về hành vi bị cấm và hành vi cạnh tranh không lành mạnhđã
ảnh hưởng lớn đến hiệu quả điều chỉnh pháp luật cũng như giải quyết các vấn đề
28
tranh chấp liên quan đến hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
trong hoạt động của các NHTM
1.2.4.3. Trình độ, năng lực xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về
hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của các
NHTM
Kết quả việc hoàn thiện pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động của các NHTM phụ thuộc rất nhiều vào trình độ,
năng lực xây dựng pháp luật. Trước hết, các cơ quan xây dựng pháp luật về cạnh
tranh trong lĩnh vực quảng cáo, về tín dụng ngân hàng phải nắm vững đường lối,
quan điểm của Đảng về xây dựng trật tự kinh doanh lành mạnh, công bằng trong
lĩnh vực quảng cáo của các NHTM, khuyến khích cạnh tranh và phát triển kinh
doanh một cách lành mạnh. Trên cơ sở đó, xác định rõ ràng mục tiêu của văn bản,
phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp luật mà mình
có trách nhiệm xây dựng. Đặc biệt, năng lực phân tích chính sách, xây dựng báo cáo
tác động của văn bản pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh trong hoạt động của các NHTM tới đời sống có ý nghĩa hết sức quan trọng
đối với chất lượng, hiệu quả của văn bảnquy phạm pháp luật. Việc xây dựng các
phương án điều chỉnh, phân tích, so sánh các phương án, cung cấp số liệu, dữ liệu
cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân đóng góp ý kiến cho dự thảo văn bản pháp luật
cũng là khâu cần thiết để bảo đảm tính phù hợp và khả thi của văn bản pháp luật về
cạnh tranh nói chung và pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh trong hoạt động của các NHTM nói riêng. Tiếp đó, trình độ, kỹ năng tiếp
thu, chỉnh lý văn bản, kỹ thuật trình bày các quy phạm phápluật sao cho hợp lý,
khoa học, logic là yếu tố chi phối chất lượng pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của các NHTM. Việc thực hiện pháp
luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của
các NHTM đòi hỏicác chủ thể phải tiến hành theo các hình thức nhất định. Nó cũng
đòi hỏi cácchủ thể phải có trình độ, năng lực và kỹ năng nhất định để nhận biết
đượcnhững hành vi nào bị “cấm” (hoặc “nghiêm cấm”, “không được thực hiện”…)
để tuân thủ; những hành vi nào phải làm (hoặc “bắt buộc phải làm”, “có nghĩa vụ”,
29
“có trách nhiệm”) để thi hành; những hành vi nào có thể thực hiện hay không thực
hiện (đối với “quyền”, “lợi ích”) tùy theo ý chí của cá nhân công dân để sử dụng
pháp luật…
1.2.4.4. Yếu tố hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là một chủ trương lớn trong chính sách đối ngoại của
Đảng và Nhà nước ta. Trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế là một quá
trình mà trọng tâm là chủ động mở cửa kinh tế, giao lưu văn hóa, xã hội, mở rộng
không gian và môi trường để phát triển và tìm chỗ đứng phù hợp trong quan hệ
quốc tế. Để đảm bảo pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh trong hoạt động của các NHTM không chỉ phù hợp với thực tiễn Việt Nam,
mà còn phải có sự hài hòa, tương thích với pháp luật của các nước trên thế giới thì
hiện nay, pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong
hoạt động của các NHTM Việt Nam cũng đã thừa nhận đã quy định các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng (ngay cả đối với các ngân
hàng 100% vốn nước ngoài).
30
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN
THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH
TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh
2.1.1. Thực trạng quy định về các hành vi quảng cáo nhằm cạch tranh không
lành mạnh trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại
2.1.1.1. Các quy định trong Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Cạng tranh năm 2018
và Luật Quảng cáo năm 2012
Hiện nay, hoạt động quảng cáo được điều chỉnh ở nhiều lĩnh vực pháp luật.
Điều chỉnh trực tiếp hoạt động quảng cáo là Luật Quảng cáo của Quốc hội, số
16/2012/QH13; Nghị định 181/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo; Nghị định 158/2013/NĐ-CP
ngày 12/11/2013 của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo; Thông tư 10/2013/TT-BVHTTDL
ngày 6/12/2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết và hướng
dẫn thực hiện một số điều của Luật Quảng cáo.
Dưới góc độ cạnh tranh, điều chỉnh hoạt động quảng cáo có Luật Cạnh tranh
năm 2004, Luật Cạnh tranh 2018; Nghị định số 71/2014/NĐ-CP của Chính phủ
ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử phạt vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực cạnh tranh (sau đây gọi là Nghị định 71/2014/NĐ-CP); Nghị
định số 05/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 9 tháng 1 năm 2005 về thành lập và
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh
đã được thay thế bởi Nghị định số 07/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 1 năm2015 quy
định chức năn, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh;
Nghị định số 06/2005/NĐ-CP ngày 9 tháng 1 năm 2005 quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của UBCTQG. Ngoài ra, trong từng lĩnh vực cụ
thể, nhà nước cũng ban hành các quy định liên quan đến hoạt động quảng cáo.Tuy
31
nhiên, pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh ở Luật
Cạnh tranh Việt Nam chỉ mới dừng lại ở việc liệt kê các hành vi mà chưa được cụ
thể giống như các quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh hay tố tụng cạnh tranh.
(1) Hành vi quảng cáo so sánh
Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2018 nghiêm cấm doanh nghiệp thực hiện
hành vi quảng cáo “so sánh trực tiếp” hàng hóa dịch vụ của mình với hàng hóa dịch
vụ của người khác. Tính không lành mạnh của hành vi này được thể hiện thông qua
việc so sánh này để làm nổi bật hàng hóa, dịch vụ của mình, lôi kéo khách hàng về
với mình bằng cách hạ uy tín của doanh nghiệp khác; cũng có thể doanh nghiệp
quảng cáo giới thiệu, khẳng định vị trí của mình bằng cách dựa vào những doanh
nghiệp nổi tiếng, có thương hiệu khác trên thị trường. Tuy nhiên trong các quy định
này, có một số vấn đề mà pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh chưa làm rõ:
Thứ nhất, thế nào được coi là hàng hoá, dịch vụ cùng loại? Qua quy định tại
Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2018, cấm việc so sánh trực tiếp giữa hai doanh
nghiệp kinh doanh hàng hoá, dịch vụ cùng loại. Xác định thế nào là hàng hoá, dịch
vụ cùng loại là vấn đề đang bị bỏ ngõ trong Luật Cạnh tranh Việt Nam. Có quan
điểm cho rằng, có thể tiếp cận hàng hóa, dịch vụ kinh doanh cùng loại qua 2
phương án: (i) Sử dụng khái niệm “hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau trên
thị trường liên quan” quy định trong Nghị định 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ
hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh; (ii) Sử dụng khái niệm của
pháp luật sở hữu trí tuệ “về hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan đến
hàng hoá thuộc danh mục được đăng ký kèm theo nhãn hiệu”.
Nếu sử dụng phương án thứ nhất thì sẽ tạo được sự thống nhất về mặt khái
niệm trong Luật Cạnh tranh nhưng sẽ rất phức tạp và không khả thi, bởi tính chất và
hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh là
khác nhau. Nếu sử dụng phương án thứ hai thì hàng hoá, dịch vụ được coi là cùng
loại khi cùng danh mục hàng hoá đăng ký nhãn hiệu. Chúng tôi cho rằng, đây là
cách xác định thuận tiện và hợp lý. Bởi lẽ, danh mục này được cập nhật thường
32
xuyên, tra cứu dễ dàng và đã được áp dụng tại Việt Nam. Do vậy, hàng hoá sẽ
được coi là cùng loại với nhau khi cùng một danh mục, chúng có khả năng cạnh
tranh với nhau.
Thứ hai, xác định vấn đề “so sánh trực tiếp”
Trước khi Luật Cạnh tranh năm 2004 được ban hành, các văn bản có liên quan
đã liệt kê quảng cáo so sánh là một trong những hành vi quảng cáo bị cấm nhưng
không nói rõ về phương thức so sánh. Theo Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Thương
mại năm 2005 và gần đây là Luật Quảng cáo năm 2012 và Luật cạnh tranh năm 2018,
quảng cáo sánh sánh bị cấm là quảng cáo so sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của
mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác. Cũng có thể hiểu,
quảng cáo so sánh trực tiếp là việc cố ý đưa vào các sản phẩm quảng cáo của doanh
nghiệp mình các thông tin có tính chất so sánh trực tiếp giữa hàng hoá dịch vụ của
mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác theo hướng có lợi cho
doanh nghiệp mình.
(2) Quảng cáo bắt chước
Sản phẩm quảng cáo là kết quả của một quá trình sáng tạo, từ việc lên ý
tưởng, nội dung, thực hiện và tạo ra sản phẩm. Nó có thể là hình ảnh, hành động,
âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng và các hình thức tương
tự, chứa đựng thông tin về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ (thương hiệu,
loại sản phẩm, và tính ưu việt cũng như tiện ích của nó…) hoặc thông tin về doanh
nghiệp mà người quảng cáo muốn thông báo rộng rãi đến công chúng, khách hàng.
Người quảng cáo có thể tạo ra sản phẩm quảng cáo của mình giống với sản phẩm
quảng cáo của đối thủ như phim quảng cáo với phim quảng cáo, giữa pano với
pano, giữa hình ảnh với hình ảnh. Nhưng cũng có thể, chỉ sử dụng hình ảnh hoặc ấn
tượng đặc trưng trong sản phẩm quảng cáo của đối thủ để đưa vào sản phẩm quảng
cáo của mình (như sử dụng hình ảnh trong phim quảng cáo để đưa lên pano, thông
qua đặc điểm, hình ảnh đó, người tiêu dùng có thể nhận biết được sản phẩm được
quảng cáo nhưng không biết hoặc nhầm lẫn giữ sản phẩm bắt chước và sản phẩm bị
bắt chước.
33
Để có thể khẳng định một sản phẩm quảng cáo là bắt chước sản phẩm quảng
cáo khác thì phải xác định được những đặc điểm bắt chước là những đặc điểm đặc
trưng, nổi bật của sản phẩm, dịch vụ được quảng cáo này so với dịch quảng cáo
khác. Không thể nói bắt chước quảng cáo khi các phim quảng cáo về dầu gội đầu
đều sử dụng hình ảnh cô gái có mái tóc dài, bóng mượt và sạch gầu.
Việc quảng cáo bắt chước sẽ thể hiện rõ nhất trong các hành vi quảng cáo có
sử dụng các nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại… Nhãn hiệu: là những dấu hiệu
dùng phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác
nhau. Tên thương mại: là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong kinh doanh để
phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong
cùng lĩnh vực và khu vực. Nhìn chung, bất kì chữ cái, từ ngữ, chữ số, hình vẽ, màu
sắc, hình ảnh, sự sắp đặt, tiêu đề quảng cáo nhãn hàng hoặc sự kết hợp các yếu tố kể
trên được sử dụng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các công ty khác nhau có thể
coi là nhãn hiệu hoặc tên thương mại.
Cũng như tên thương mại và nhãn hiệu hàng hóa, thương nhân có quyền
đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm quảng cáo thương mại theo
quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 21 Nghị định 37/2006/NĐ-CP). Như vậy, sản
phẩm quảng cáo cũng là đối tượng điều chỉnh trực tiếp của Luật Sở hữu trí tuệ. Các
hành vi sao chép nội dung, cách thức sản phẩm quảng cáo trước tiên đặt ra vấn đề
về xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
(3) Quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng
Hành vi quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng
là một dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh phổ biến được quy định trong hầu
hết pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh của các quốc gia. Bởi vì mục đích
của quảng cáo là xúc tiến thương mại, thuyết phục khách hàng bằng những thông
điệp về công dụng, kiểu dáng, chủng loại hàng hóa, chất lượng, giá cả dịch vụ… Vì
lợi nhuận, doanh nghiệp đã không ngần ngại đưa vào trong các sản phẩm những
thông tin gian dối, không trung thực hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng.
34
Dưới góc độ cạnh tranh, Luật Cạnh tranh điều chỉnh trực tiếp vào hành vi cụ
thể ở đây là quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn. Cũng giống như điều chỉnh
quảng cáo bắt chước, quảng cáo so sánh, pháp luật cũng hiện hành chưa quy định
thế nào là quảng cáo gian dối hay quảng cáo gây nhầm lẫn, cũng không liệt kê các
hành vi quảng cáo gian dối cụ thể.
Có thể thấy, cả hai quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 45 Luật Cạnh tranh
năm 2018 đều quy định về dấu hiệu gây nhầm lẫn cho khách hàng. Nhưng quảng
cáo bắt chước tại khoản 2, khách hàng nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm, người
sản xuất hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Doanh nghiệp bắt chước dựa dẫm vào uy tín,
thương hiệu của doanh nghiệp khác, làm cho khách hàng tin tưởng về nguồn gốc
của sản phẩm. Mặt khác, việc bắt chước đó cũng làm giảm tính đặc trưng, nổi trội
của sản phẩm được quảng cáo. Như vậy, quảng cáo bắt chước gây hậu quả trực tiếp
lên cho đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp. Còn quảng cáo đưa thông tin gian dối
hoặc gây nhầm lẫn cho khách cũng có yếu tố gian dối và sự gian dối này tác động
trực tiếp, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, làm cho họ nhầm lẫn, nhận thức sai lệch
về hàng hoá dịch vụ và có sự lựa chọn không chính xác.
(4) Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh khác
Ngoài các quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2018 về
các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, khoản 4 điều này còn
cấm doanh nghiệp thực hiện “các hoạt động quảng cáo khác mà luật có quy định
cấm”. Có thể dễ nhận thấy đây là một dạng quy định mở trong lập pháp để quét các
quy định của pháp luật, tránh trường hợp bỏ sót hoặc những quy định được bổ sung
trong các văn bản pháp luật chuyên ngành sau khi Luật Cạnh tranh đã được ban
hành và có hiệu lực. Trong trường hợp này có thể hiểu hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh đồng nghĩa với hành vi quảng cáo trái pháp luật.
Trên thực tế, có những hành vi quảng cáo không đúng, gây phản cảm hoặc
ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng nhưng không thuộc đối tượng điều
chỉnh của pháp luật cạnh tranh và cũng chưa được bất kì văn bản pháp luật hay tập
quán thương mại nào điều chỉnh. Bên cạnh đó, pháp luậtcũng chưa cho phép Tòa án
35
hay cơ quan quản lý cạnh tranh có thể giải thích hoặc xác định các hành vi quảng
cáo này là có phải là hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh hay
không. Bởi cũng có nguyên tắc rằng, thương nhân được làm những gì pháp luật
không cấm. Chính vì vậy, cơ quan có thẩm quyền cũng gặp khó khăn trong việc giải
quyết các hành vi quảng cáo có dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh nhưng chưa
được pháp luật điều chỉnh.
2.1.1.2. Các quy định trong Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 và sửa đổi bổ sung
năm 2017
Luật các TCTD được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2010, thay thế Luật các
TCTD số 02/1997/QH10 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD
số 20/2004/QH1. Luật các TCTD năm 2010 không chỉ thể hiện sự cải cách hành
chính trong hệ thống ngân hàng, khắc phục tồn tại, hạn chế của luật hiện hành, mà
còn hướng đến mục tiêu cao hơn là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân có quan hệ tín dụng với TCTD, bảo vệ sự an toàn của hệ thống ngân hàng
nói riêng và nền kinh tế nói chung. Luật các TCTD năm 2010 cũng đã cụ thể hóa
nhiều quy định của Luật Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng nhằm bảo đảm tính
phù hợp giữa luật chung và luật chuyên ngành, bảo đảm hoạt động kiểm soát, quản
lý các hành vi cạnh tranh trên thị trường một cách tốt nhất.
Theo quy định tại khoản 2, Điều 9, Luật TCTD năm 2010 về Hợp tác và
cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng: “Nghiêm cấm hành vi hạn chế cạnh tranh
hoặc hành vi cạnh tranh không lành mạnh có nguy cơ gây tổn hại hoặc gây tổn hại
đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn của hệ thống các TCTD, lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.”
Điều này được thể hiện ở các điểm sau đây:
(1) Trước khi Luật các TCTD năm 2010 ra đời, thực tế đã tồn tại sự không
thống nhất giữa Luật Cạnh tranh với pháp luật ngân hàng trong cách tiếp cận vấn
đề cạnh tranh.
Cụ thể, Luật Cạnh tranh năm 2018 đã dự liệu hai nhóm hành vi liên quan đến
cạnh tranh cần được kiểm soát chặt chẽ, bao gồm các hành vi hạn chế cạnh tranh
36
(Chương II) và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh (Chương III). Trong khi
đó, vấn đề cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng lại được tiếp cận bằng khái niệm
cạnh tranh hợp pháp và cạnh tranh bất hợp pháp. Hay nói cách khác, pháp luật ngân
hàng hoàn toàn không đề cập những hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm thực hiện,
mà chỉ liệt kê một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh điển hình trong lĩnh vực
ngân hàng, dưới một cách gọi khác là “hành vi cạnh tranh bất hợp pháp”. Vấn đề
này tuy không ngăn cản việc áp dụng trực tiếp các quy định của Luật Cạnh tranh về
những hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm, nhưng lại có thể tạo nguyên cớ cho một
số TCTD tìm cách liên kết với nhau thông qua hình thức “độc quyền nhóm” để gây
thiệt hại cho các TCTD khác và cho khách hàng. Luật các TCTD năm 2010 ra đời
đã có sự thay đổi thuật ngữ “cạnh tranh bất hợp pháp” thành “hành vi hạn chế cạnh
tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh”. Sự phân biệt hành vi hạn chế cạnh tranh,
cạnh tranh không lành mạnh là phù hợp và hoàn toàn thống nhất với quy định của
Luật Cạnh tranh.
(2) Luật Cạnh tranh đã quy định rõ trường hợp có sự khác nhau giữa quy
định của Luật Cạnh tranh với quy định của luật khác về hành vi hạn chế cạnh
tranh, cạnh tranh không lành mạnh thì áp dụng quy định của Luật Cạnh tranh.
Điều đó có nghĩa là, việc xác định hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh
không lành mạnh được quy định theo hướng mở là các luật chuyên ngành được quy
định các tiêu chí xác định hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh
phù hợp với đặc thù ngành. Do vậy, Luật các TCTD năm 2010 giao cho NHNN quy
định cụ thể về các hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh và hình
thức xử lý các hành vi này như hiện nay là phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của cơ quan quản lý nhà nước về ngân hàng. Tuy nhiên, việc quy định các tiêu
chí để xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh không phải là chuyện đơn giản,
vì nếu không quy định cụ thể, rõ ràng, sẽ tác động tiêu cực đến diễn biến hoạt động
của thị trường ngân hàng. Hiện nay, NHNN đang trình Chính phủ Dự thảo Nghị
định về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng (dự thảo lần 2 vào
tháng 06/2011). Dự thảo Nghị định có những quy định khá chi tiết, rõ ràng về
37
những hành vi cạnh tranh không lành mạnh đặc thù của hoạt động ngân hàng, song
vẫn tồn tại nhiều vấn đề còn tranh cãi trong quá trình lấy ý kiến góp ý hiện nay.
(3) Các quy định về hành vi quảng cáo nhằmcạnh tranh không lành mạnh
của NHTM
Theo quy định tại Điều 8, Luật Quảng cáo năm 2012 về hành vi cấm trong
hoạt động quảng cáo:… 7. Quảng cáo xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của tổ
chức, cá nhân. Quảng cáo có sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi
chưa được cá nhân đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép. Quảng cáo
không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản
phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch
vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, xuất xứ,
chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm, hàng hoá, dịch
vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố. Quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so
sánh trực tiếp về giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
của mình với giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
cùng loại của tổ chức, cá nhân khác.
So với sự cạnh tranh giữa các loại hình doanh nghiệp khác thì hành vi cạnh
tranh theo kiểu này giữa các TCTD có tính nguy hiểm cao hơn rất nhiều. Bởi lẽ, uy
tín và lợi ích của mỗi TCTD có tác động, ảnh hưởng trực tiếp và mang tính dây
chuyền đến lợi ích của nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội. Tính nhạy cảm cao và
sự ảnh hưởng mang tính chất dây chuyền của hoạt động ngân hàng đối với hệ thống
các quyền lợi khác nhau trong xã hội chính là mối lo thường trực của những cơ quan
công quyền có chức năng quản lý cạnh tranh ở mọi quốc gia trên thế giới. Chỉ cần
một thông tin thất thiệt về một TCTD nào đó được tung ra trước công luận, cũng đủ
để cho tổ chức này lâm vào tình trạng khốn đốn do bị khách hàng rút tiền hàng loạt và
hệ quả kéo theo là cả hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế bị ảnh hưởng.
Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh có thể là hành viquảng cáo sai
sự thật về mình. Đối với một tổ chức kinh doanh thông thường, hành vi này có thể
gây lầm lẫn và dẫn đến hậu quả không nhỏ đối với một bộ phận khách hàng. Tuy
38
nhiên, hậu quả của quảng cáo sai sự thật của một TCTD sẽ lớn hơn nhiều, bởi lẽ, số
lượng khách hàng lớn hơn, phạm vi ảnh hưởng lớn hơn và cao hơn hết là có thể dẫn
đến sự mất niềm tin của khách hàng vào cả hệ thống ngân hàng. Trong lĩnh vực
ngân hàng, hành vi quảng cáo sai sự thật có thể được thể hiện như:Quảng cáo sai,
không trung thực hoặc không rõ ràng gây nhầm lẫn về lãi suất, điều kiện, thời hạn,
hạn mức, các khoản phí vay vốn;Quảng cáo gây nhầm lẫn hoặc sai lệch với quy
định về tính năng, tiệních của thẻ tín dụng;Quảng cáo sai, không trung thực về các
chương trình quà tặng, khuyến mại;Cung cấp thông tin sai sự thật về các chiến lược
trong tương lai với các đối tác nước ngoài như: đối tác nước ngoài mua cổ phần, ký
kết hợp đồng hợptác cung cấp dịch vụ… khiến cho khách hàng lầm tưởng vào khả
năng tài chính, khả năng kinh doanh của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
khác;Hành vi so sánh dịch vụ mình cung cấp với dịch vụ của các TCTD khác theo
hướng làm giảm uy tín của các TCTD khác, gây nhầm lẫn cho khách hàng để nhằm
mục đích làm giảm lượng khách hàng của các TCTD này.
Bắt chước sản phẩm quảng cáo của một TCTD khác làm cho khách hàng
nhầm lẫn với dịch vụ mà khách hàng đã biết và tín nhiệm trước đó do TCTD khác
cung cấp.
Trong số các hoạt động kể trên, sự so sánh và đưa thông tin gian dối hoặc
gây nhầm lẫn thường xuyên xảy ra. Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh và các văn bản
pháp lý thực thi Luật Cạnh tranh không có hướng dẫn chi tiết nào về vấn đề này.
2.1.2. Đánh giá thực trạng pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
của các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay
2.1.2.1. Những kết quả đạt được
Luật Cạnh tranh năm 2018 đã được ban hành that thế cho Luật cạnh tranh
năm 2004 (có hiệu lực hơn 10 năm) cùng với những quy định tại Luật TCTD năm
2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đây cũng là khoảng thời gian những quy định của
pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnhcủa các NHTM đi
vào cuộc sống. Trong thời gian qua, pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh
39
tranh không lành mạnh của các NHTM cũng như việc áp dụng các quy định này đã
đạt được những thành tựu nhất định, thể hiện trên các điểm sau:
Thứ nhất, trước khi Luật Cạnh tranh ra đời, chưa có văn bản nào điều chỉnh
về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM. Tuy
nhiên, những hành vi quảng cáo so sánh, quảng cáo bắt chước hay quảng cáo gian
dối hoặc gây nhầm lẫn cũng đã được điều chỉnh trong các văn bản khác nhau với tư
cách là các hành vi quảng cáo bị cấm thực hiện. Luật Cạnh tranh ban hành đã chính
thức ghi nhận các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các
NHTM là một bộ phận của các hành vi cạnh tranh không lành mạnhcủa các NHTM
nhưng đồng thời cũng là một phần trong số các hành vi quảng cáo bị cấm trước đây.
Tuy nhiên, mục đích của pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh của các NHTM không chỉ bảo vệ người tiêu dùng mà còn bảo vệ các
doanh nghiệp và góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng và
lành mạnh. Cùng với Luật Thương mại và pháp luật quảng cáo, các quy định của
pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM
góp phần tạo nên hành lang pháp lý cho thị trường quảng cáo phát triển, xây dựng
nền kinh tế cạnh tranh công bằng và lành mạnh.
Thứ hai, pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
của các NHTM đã giải quyết được nhiều nội dung liên quan đến việc hành vi quảng
cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh như: Xác định được mối quan hệ giữa pháp
luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnhcủa các NHTM với
pháp luật chuyên ngành; Đề ra các nguyên tắc để xác định hành vi cạnh tranh không
lành mạnh của các NHTM nói chung, liệt kê một số hành vi quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh của các NHTM bị cấm là hành vi quảng cáo so sánh, quảng
cáo bắt chước, quảng cáo đưa thông tin gian dối và gây nhầm lẫn. Đồng thời, pháp
luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM cũng
đã xây dựng được các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục xử lý hành vi quảng
cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM cũng như chế tài đối với các
chủ thể thực hiện hành vi vi phạm. Đây là cơ sở để các cơ quan nhà nước phát hiện
và xử lý hành vi quảng cáo trái với chuẩn mực thông thường trong đạo đức kinh
40
doanh, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, doanh nghiệp
và Nhà nước.
Thứ ba, trên cơ sở các quy định của pháp luật, trong thời gian qua, UBCTQG
đã phát hiện và xử lý được nhiều vụ việc cạnh tranh không lành mạnh của các
NHTM nói chung và các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của
các NHTM nói riêng. Kết quả giải quyết của cơ quan quản lý cạnh tranh một lần
nữa khẳng định sự cần thiết của Luật Cạnh tranh nói chung và pháp luật về hành vi
quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nói riêng trong việc chống hành vi
cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM. Bên cạnh đó, khi phát hiện các hành
vi vi phạm pháp luật về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các
NHTM, cơ quan quản lý cạnh tranh đã kịp thời áp dụng các biện pháp chế tài như
phạt tiền, yêu cầu chấm dứt hoạt động quảng cáo vi phạm nhằm trừng trị, răn đe các
chủ thể thực hiện hành vi vi phạm và ngăn ngừa các chủ thể khác đang thực hiện
hoạt động quảng cáo.
Thứ tư, công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật cho các NHTM đã có
những hiệu quả nhất định. Mặc dù, số lượng các doanh nghiệp biết sử dụng Luật
Cạnh tranh như là một công cụ để bảo vệ mình còn chưa nhiều, nhưng qua thực tiễn
cho thấy, càng ngày có càng nhiều NHTM gửi đơn lên cơ quan quản lý cạnh tranh
khiếu nại các hành vi quảng cáo của đối thủ, có nguy cơ xâm phạm đến quyền và lợi
ích của mình. Điều này chứng tỏ rằng, vai trò của Luật Cạnh tranh đã phát huy được
tác dụng, giá trị của pháp luật cạnh tranh bước đầu đã được các doanh nghiệp khai
thác. Bên cạnh đó, việc thông tin các vụ việc hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh của các NHTM góp phần răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp
luật của các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường.
2.1.2.2. Những hạn chế
Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, pháp luật về hành vi quảng cáo
nhằm cạnh tranh không lành mạnhcủa các NHTM vẫn còn một số hạn chế, bất cập
cần bổ sung, hoàn thiện trong thời gian tới:
41
Thứ nhất, pháp luật cạnh tranh chưa tạo ra cơ chế điều chỉnh pháp luật hiệu
quả do pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh ở
Việt Nam đều được xây dựng chung trong một đạo luật nên không tạo ra cơ chế
điều chỉnh pháp luật hiệu quả đối với mỗi hành vi, đặc biệt là đối với các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh. Từ thực tiễn cạnh tranh trên thị trường ngân hàng cho
thấy, vai trò của Luật Cạnh tranh chưa phát huy được tác dụng kiểm soát, điều tiết
hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh. Trong những năm gần đây, thị trường dịch vụ
ngân hàng bùng nổ cạnh tranh khốc liệt, nhưng những quy phạm của pháp luật cạnh
tranh gần như chỉ có tính tham khảo cho các TCTD. Điều đó thể hiện vai trò mờ
nhạt của Luật Cạnh tranh, khi mà các chủ thể coi đó không phải là một “chiếc gậy”
pháp lý cần tránh, mà chỉ khi nào vi phạm quá rõ ràng, bị nhắc nhở thì mới tạm
ngừng hành vi. Điều này có thể kết luận rằng, cần thiết phải có một cơ chế bảo đảm
để Luật Cạnh tranh phát huy tác dụng của nó trong đời sống xã hội.
Trong hệ thống pháp luật cạnh tranh hiện hành, dường như đang thiếu những
hướng dẫn thi hành đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Hiện nay, ngoài
Luật Cạnh tranh và Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật Cạnh tranh, thì thực tế cho thấy, hệ thống các văn bản quy phạm pháp
luật hướng dẫn chi tiết còn thiếu. Hiện những dạng văn bản này vừa ít và cũng chỉ
dừng lại ở mức định tính do chưa thể định lượng, nên đây cũng là một khó khăn cho
việc áp dụng pháp luật cạnh tranh trong thực tiễn.
Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật chỉ mới dừng lại ở việc liệt kê một
số hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM là quảng
cáo so sánh trực tiếp, quảng cáo bắt chước và quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc
gây nhầm lẫn. Những quy định này là nguyên tắc chung mà chưa mô tả hay đưa ra
được tiêu chí cụ thể làm căn cứ xác định được các hành vi. Ngoài ra, có một số
hành vi quảng cáo xâm phạm quyền và lợi ích của người tiêu dùng nhưng vẫn chưa
được điều chỉnh trong các văn bản pháp luật, chưa bị xử lý vì cũng chưa có quy tắc
đạo đức kinh doanh điều chỉnh hành vi này. Các quy định về hành vi quảng cáo
nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM mới chỉ ra được ba hành vi. Một
42
số hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến người tiêu dùng, trật tự xã hội nhưng chưa
được điều chỉnh.
Thứ hai, như đã phân tích ở trên, hành vi cạnh tranh không lành mạnh của
NHTM được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau (Luật Cạnh tranh và
các văn bản hướng dẫn thi hành, Luật các TCTD và các văn bản pháp luật có liên
quan). Vì vậy, nếu xảy ra một hành vi cạnh tranh không lành mạnh giữa các NHTM
và có ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh thì nguyên tắc áp dụng pháp luật sẽ
được xác định thế nào, đặc biệt trong trường hợp có sự khác nhau về nội dung điều
chỉnh giữa chúng?
Khoản 1 Điều 5 Luật Cạnh tranh đưa ra nguyên tắc áp dụng pháp luật cạnh
tranh trong trường hợp các luật chuyên ngành có quy định khác về các hành vi cạnh
tranh thì áp dụng quy định của luật này. Mặc dù đây là một nguyên tắc mang tính
giải quyết sự mâu thuẫn trong áp dụng luật, nhưng thực tế, tại Luật các TCTD và
Dự thảo Nghị định đều đưa ra những quy định mang tính bổ sung thêm về hành vi
cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng và chỉ ra rằng, khi áp dụng
pháp luật về những hành vi này, cơ quan xử lý vụ việc cạnh tranh phải xin ý kiến
của NHNN. Như vậy, trong trường hợp này nguyên tắc áp dụng pháp luật tại khoản
1 Điều 5 của Luật Cạnh tranh khó có thể thực hiện được.
Thứ ba, từ năm 2001, Pháp lệnh về quảng cáo được Ủy ban Thường vụ Quốc
hội thông qua và năm 2012, Luật Quảng cáo đã được Quốc hội ban hành, trong đó tại
Điều 8 quy định rõ về 19 hành vi cấm trong hoạt động quảng cáo. Hiện nay, các hình
thức xử phạt hành vi vi phạm pháp luật về quảng cáo còn nhẹ, chủ yếu là phạt tiền và
xử lý hành chính, cho nên tính răn đe chưa cao, vì thế cần nâng mức phạt, thậm chí
tùy theo mức độ có thể cấm chủ thể vi phạm đăng hoặc phát sóng các quảng cáo mới.
Bên cạnh đó, để các vi phạm không tái diễn cần trao trách nhiệm kiểm tra, giám sát
cho cá nhân, lãnh đạo đơn vị, tổ chức, địa phương. Mỗi cá nhân hay cơ quan được
giao trách nhiệm phụ trách hoạt động quảng cáo sẽ nhận hình thức khen thưởng, hoặc
khiển trách tương ứng với kết quả làm được. Hình thức giao trách nhiệm cụ thể này
giúp đánh giá năng lực của cơ quan chức năng liên quan và bộ máy chính quyền từ
cấp cơ sở, sớm ngăn chặn các hành vi tiêu cực trong quảng cáo.
43
Thứ tư, những tồn tại xuất phát từ đặc thù của hoạt động ngân hàng tại Việt
Nam. Do ảnh hưởng bởi các điều kiện lịch sử - chính trị, các NHTM Nhà nước ở
Việt Nam hiện đang chiếm giữ gần 70% tổng nguồn vốn huy động và khoảng 80%
thị phần tín dụng cả nước, nhưng cơ bản vẫn là một hệ thống yếu kém về năng lực
cạnh tranh so với các NHTM trên thế giới. Việc mở cửa hội nhập với bên ngoài
buộc Việt Nam phải chấp nhận xu thế cạnh tranh công bằng, bình đẳng giữa các
NHTM trong nước với nhau và giữa các NHTM trong nước với các NHTM nước
ngoài. Tuy nhiên, trên thực tế, Nhà nước đã không hề buông xuôi để cho “bàn tay vô
hình” của thị trường tự do điều chỉnh, mà bằng chứng là pháp luật hiện hành vẫn có
những điều khoản thể hiện mục đích duy trì vai trò chủ đạo, chủ lực của các NHTM
Nhà nước trong thị trường dịch vụ ngân hàng.
Theo quy định của Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg ngày 24/05/2006 của
Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án phát triển ngành ngân hàng đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020 xác định: Các NHTM Nhà nước và các NHTM
cổ phần chi phối của Nhà nước đóng vai trò chủ lực và đi đầu trong hệ thống ngân
hàng về quy mô hoạt động, năng lực tài chính, công nghệ, quản lý và hiệu quả kinh
doanh. Các NHTM Nhà nước cùng với NHTM cổ phần trong nước đóng vai trò
nòng cốt trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Các TCTD nước ngoài và các TCTD phi ngân hàng khác góp phần bảo đảm
sự phát triển hoàn chỉnh, an toàn và hiệu quả của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Theo định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của các NHTM Việt Nam
với chất lượng dịch vụ cao và thương hiệu mạnh này dường như xác nhận, Nhà
nước vẫn coi trọng và dành một “khu vực riêng” các NHTM Nhà nước, vậy có phải
Nhà nước đã gián tiếp thừa nhận vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền NHTM
Nhà nước trên thị trường ngân hàng? Việc thực hiện chủ trương này có thể sẽ tạo ra
những rào cản nhất định đối với quá trình thực thi Luật Cạnh tranh trong lĩnh vực
dịch vụ ngân hàng, mà hệ quả là có thể sẽ làm chậm lại quá trình xây dựng môi
trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng và bình đẳng thực sự giữa các TCTD đang
hoạt động tại Việt Nam.
44
Bên cạnh đó, như đã phân tích, trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, vì mục
tiêu thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, NHNN có thể can thiệp vào hoạt động
kinh doanh của các TCTD bằng việc quy định lãi suất cơ bản và lãi suất chiết khấu,
tái chiết khấu; ấn định tỉ lệ dự trữ bắt buộc; áp dụng chế độ kiểm soát đặc biệt…
Song đôi khi, sự can thiệp của cơ quan công quyền đặc biệt này còn có thể tạo ra
những lợi thế cạnh tranh cho một vài TCTD so với các đối thủ khác trên thị trường
và điều đó dường như có ảnh hưởng không tốt đến sự vận hành bình thường của
quy luật cạnh tranh. Ví dụ, khi một TCTD có nguy cơ lâm vào tình trạng phá sản,
NHNN có thể can thiệp để “cứu” doanh nghiệp này bằng cách “bơm” thêm vốn cho
nó thông qua cơ chế cho vay, hoặc buộc TCTD phải tiến hành một số cải cách mạnh
mẽ, triệt để trên nhiều lĩnh vực để khôi phục dần khả năng hoạt động trên thị trường
thông qua việc áp dụng chế độ kiểm soát đặc biệt.
Vì vậy, có thể nhận định rằng, việc khắc phục những khó khăn, vướng mắc
trên đây trong quá trình áp dụng pháp luật cạnh tranh vào lĩnh vực dịch vụ ngân
hàng là vấn đề phức tạp.
Thứ năm, những tồn tại từ ý thức pháp luật. Nhận thức pháp luật, ý thức, văn
hóa tuân thủ pháp luật của con người có vai trò hết sức quan trọng trong thực hiện
pháp luật cạnh tranh đối với tất cả các lĩnh vực nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói
riêng. Một trong những nguyên nhân lớn dẫn đến việc các chủ thể tham gia thị
trường ngân hàng chưa thực hiện nghiêm và đầy đủ quy định của pháp luật cạnh
tranh chính là xuất phát từ ý thức tuân thủ pháp luật còn yếu kém, hạn chế về hiểu
biết pháp luật.
Thứ sáu, quy định của pháp luật về thẩm quyền cũng như trình tự thủ tục xử
lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM chưa rõ ràng; có sự
chồng chéo giữa thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh và cơ quan quản lý nhà
nước đối với hoạt động quảng cáo trong quá trình giải quyết các vụ việc liên quan
đến hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM. Pháp luật
cũng như quy định về sự phối hợp giữa các cơ quan trong việc giải quyết và áp
dụng các chế tài đối với chủ thể có hành vi vi phạm. UBCTQG vừa mang tư cách là
cơ quan hành chính nhà nước, đồng thời là cơ quan tài phán giải quyết các vụ việc
45
cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM, nhưng lại không liên quan đến quá
trình giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra.
Thứ bảy, nhiều vụ việc về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh của các NHTM đã được phát hiện và xử lý, tuy nhiên, chế tài áp dụng chỉ mới
dừng lại ở việc đình chỉ thực hiện hành vi và phạt tiền. Một số chế tài được pháp
luật quy định hiện nay gần như chưa được áp dụng như: tịch thu phương tiện thực
hiện hành vi, chế tài bồi thường thiệt hại do hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh của các NHTM gây ra. Bên cạnh đó, thông tin về các vụ việc về
hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM nói chung và hành vi quảng
cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nói riêng chưa được công khai, phổ biến
rộng rãi nên tác dụng tuyên truyền và phổ biến pháp luật tới rộng rãi cộng đồng
doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng chưa cao.
2.1.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Nguyên nhân thứ nhất, do các tổ chức cung cấp dịch vụ ngân hàng chưa quan
tâm, tìm hiểu nghiêm túc đến sự hiện diện, vai trò của Luật Cạnh tranh, Luật Quảng
cáo, Luật Tổ chức tín dụng… trong đời sống xã hội dẫn đến không chấp hành
nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật cạnh tranh như lợi dụng kẽ hở của pháp
luật để thực hiện các hành vi CTKLM (ví dụ hoạt động khuyến mại, quảng cáo
nhằm mục đích CTKLM…); không tuân thủ, chủ động áp dụng pháp luật cạnh tranh
trước các hành vi CTKLM mà lựa chọn các cách giải quyết khác như đàm phán,
giải quyết bằng con đường hành chính…
Nguyên nhân thứ hai, do ý thức tuân thủ pháp luật của những cá nhân có
quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc thực thi pháp luật, do đó dẫn đến tình trạng
nhiều cơ quan quản lý chuyên ngành chưa thực sự phối hợp với cơ quan giải quyết
cạnh tranh (UBCTQG). Trong nguyên nhân này cũng có một yếu tố chi phối đó
chính là công cụ pháp lý để bảo đảm tính thực thi của Luật Cạnh tranh còn yếu, lực
lượng con người còn mỏng.
Nguyên nhân thứ ba, là do ý thức người dân về pháp luật cạnh tranh còn hạn
chế. Bên cạnh vai trò bảo đảm sự hoạt động hiệu quả của các chủ thể tham gia thị
46
trường, phát huy quyền tự do kinh doanh thông qua thị trường và bảo đảm môi
trường kinh doanh lành mạnh thì một trong những mục tiêu quan trọng của Luật
Cạnh tranh chính là mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng. Người tiêu dùng được Luật
Cạnh tranh bảo vệ trong vai trò là một tác nhân ảnh hưởng quan trọng đến quá trình
cạnh tranh trên thị trường, là đối tượng thu hút của cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp. Người tiêu dùng trên thị trường chính là lực lượng chiếm số lượng đông
đảo, đại đa số, do đó người tiêu dùng có vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc
đẩy, thực thi pháp luật cạnh tranh.
2.2. Thực tiễn thực thi pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của
Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam hiện nay
2.2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật
Từ thực tiễn áp dụng pháp luật cạnh tranh nói chung và pháp luật về hành vi
quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM nói riêng, có thể khái
quát một số đặc điểm của thực trạng áp dụng pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnhcủa các NHTM trong ở Việt Nam thời gian qua như sau:
Trong bối cảnh thị trường ngân hàng đang dần bão hòa, việc áp dụng các
hình thức cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng chính là lựa chọn
như một cứu cánh để tồn tại. Do đó, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng
khốc liệt và kéo theo là sự tính toán của các TCTD để có “chiêu thức” cạnh tranh
hiệu quả nhất. Trong bối cảnh đó, việc thực hiện các hành vi quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh của các NHTM vẫn tiếp tục diễn ra, khiến lòng tin của
khách hàng bị giảm sút và chắc chắn sẽ tác động tiêu cực đối với sự phát triển bình
thường của ngành ngân hàng.
Qua nghiên cứu thị trường ngân hàng trong những năm gần đây cho thấy, các
hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các NHTM phổ biến nhất trong ngành
ngân hàng là khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh và chỉ dẫn gây nhầm lẫn. Tuy nhiên tỷ lệ vi phạm không quá
cao, lần lượt là 45%, 35% và 25%. Trong đó, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh đáng kể nhất được giới quản trị ngân hàng phản ánh nhiều nhất là
47
quảng cáo trong hoạt động huy động - cho vay của các ngân hàng. Nhiều ngân hàng
do sức ép về huy động đã thông qua hoạt động quảng cáo “lách” trần lãi suất huy
động bằng cách “thưởng” cho các khoản huy động vốn. Trong khi có thể góp phần
mở rộng số lượng khách hàng trong ngắn hạn, hành vi này là nguy cơ tiềm ẩn rất
lớn tới an toàn tín dụng cũng như khả năng tồn tại và phát triển của ngân hàng trong
dài hạn.
Có thể khẳng định rằng, thị trường ngân hàng Việt Nam đang trong giai đoạn
tái cấu trúc để phát triển theo hướng thị trường và tình hình cạnh tranh trên thị
trường ngày càng thực chất hơn. Các NHTM cạnh tranh với nhau về chất lượng
dịch vụ ngân hàng và những tiện ích từ dịch vụ ngân hàng; cạnh tranh bằng việc
tăng cường các chương trình khuyến mại, cạnh tranh thông qua việc mở rộng thị
phần thông qua việc mở thêm chi nhánh, văn phòng đại diện… Nhìn chung, hoạt
động cạnh tranh của các NHTM được thực hiện đúng luật và hiện tại chưa có vụ
việc cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng bị xử lý. Tuy nhiên,
thực tiễn diễn biến thị trường ngân hàng Việt Nam đã xuất hiện những hành vi cạnh
tranh không lành mạnh buộc NHNN phải ra văn bản chấn chỉnh thị trường và đó
cũng là lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ cạnh tranh không lành mạnh.
Theo Công văn số 339/NHNN-CSTT ngày 07/04/2004 của Thống đốc
NHNN giải trình Thủ tướng Chính phủ về hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh
trong hoạt động của các NHTM theo yêu cầu tại công văn số 826/VPCP-KTTH
ngày 24/02/2004 của Văn phòng Chính phủ, về hiện tượng cạnh tranh không lành
mạnh trong hoạt động của các NHTM tại Báo Thanh niên số 40 ngày 09/02/2004.
Theo văn bản này, trong hoạt động ngân hàng có các hình thức cạnh tranh chủ yếu
là cạnh tranh lãi suất (phí), tỷ giá, chất lượng và tiện ích của dịch vụ, công nghệ
phong cách giao dịch... Qua theo dõi, thanh tra, kiểm tra hoạt động của NHTM cho
thấy, sự cạnh tranh trong hoạt động ngân ngày càng gia tăng, về cơ bản là lành
mạnh và đúng pháp luật, phù hợp dần với thông lệ, chuẩn mực quốc tế và mức độ
phát triển của thị trường tài chính nước ta trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh
tế thị trường xã hội chủnnghĩa. NHNN cũng thừa nhận trên thị trường tiền tệ, tín
dụng ở thành phố Hồ Chí Minh và một số nơi khác có hiện tượng cạnh tranh không
48
lành mạnh, nếu không được ngăn chặn, chấn chỉnh sẽ tác động xấu đối với thị
trường và kinh doanh của các ngân hàng, biểu hiện là:
Một là, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt
động ngân hàng ở nước ta chưa hình thành một cách rõ nét, chủ yếu được biểu hiện
ở những hành vi đánh bóng hoặc nói quá tên tuổi, dịch vụ ngân hàng do mình cung
cấp; bước đầu hình thành các biểu hiện của hành vi gièm pha doanh nghiệp khác.
Các biểu hiện của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng
của các NHTM đa phần được phát hiện bởi báo chí và là hệ quả của việc buông
lỏng quản lý hoặc lợi dụng chính sách của nhà nước trong thực tiễn điều hành thị
trường ngân hàng để thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Điều đó có
nghĩa là, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các
NHTM được phát hiện không phải từ quy định của pháp luật mà chính là từ thực
tiễn cạnh tranh của các NHTM, nhưng cách xử lý đối với các biểu hiện cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng theo hướng coi đó là hành vi vi phạm
pháp luật, được xử lý bằng biện pháp hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động
ngân hàng. Cách thức nhận diện, xử lý đối với các biểu hiện hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các NHTM không phản ánh đúng
bản chất của thực tiễn diễn biến của tình hình cạnh tranh không lành mạnh trong
hoạt động ngân hàng của các NHTM.
Hai là, do điều kiện lịch sử nên các NHTM nhà nước vẫn chiếm thị phần
tương đối lớn trên thị trường, trong khi đó, về cơ bản đó vẫn là một hệ thống yếu
kém về năng lực cạnh tranh so với các TCTD là NHTM khác, nhất là các NHTM
100% vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Theo quy định của
Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg ngày 24/05/2006 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt đề án phát triển ngành ngân hàng đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2020 xác định: các NHTM nhà nước và các NHTM cổ phần chi phối của Nhà
nước đóng vai trò chủ lực và đi đầu trong hệ thống ngân hàng về quy mô hoạt động,
năng lực tài chính, công nghệ, quản lý và hiệu quả kinh doanh. Các NHTM nhà
nước cùng với NHTM cổ phần trong nước đóng vai trò nòng cốt trong hệ thống
ngân hàng Việt Nam. Các NHTM nước ngoài và các NHTM phi ngân hàng khác
49
góp phần bảo đảm sự phát triển hoàn chỉnh, an toàn và hiệu quả của hệ thống ngân
hàng Việt Nam. Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của các NHTM Việt Nam
với chất lượng dịch vụ cao và thương hiệu mạnh. Định hướng này dường như Nhà
nước vẫn coi trọng và dành một “khu vực riêng” các NHTM nhà nước hoặc nhà
nước chiếm đa số vốn.
Thực tiễn pháp lý này đã gián tiếp gây ra hiện tượng các NHTM nhà nước
được những lợi thế một cách không chính đáng. Chính sự ưu tiên này đã tạo nên sức
mạnh cho các ngân hàng này, làm ảnh hưởng đến hoạt động của các NHTM ngoài
nhà nước. Diễn biến thị trường ngân hàng nước ta thời gian qua cho thấy, các
NHTM nhỏ đã bất chấp các quy định của pháp luật đẩy lãi suất huy động lên cao để
hút vốn nhằm bảo đảm sự tồn tại của mình đã dẫn đến cuộc đua lãi suất huy động
mà NHNN đã tốn nhiều công sức mới có thể lập lại được trật tự của thị trường. Do
vậy, việc tiếp tục thừa nhận vai trò chủ đạo của các NHTM nhà nước trong điều
kiện thị trường Việt Nam có thể là nguyên nhân dẫn đến những bất ổn trên thị
trường ngân hàng và Nhà nước cũng rất “khó” khi xử lý các ngân hàng nhỏ khi họ
có những hành vi cạnh tranh không lành mạnh để duy trì hoạt động.
Ba là, hiện tại vấn đề cạnh tranh không lành mạnh chưa phải là vấn đề lớn
của thị trường ngân hàng Việt Nam, nhưng nó sẽ trở thành vấn đề cần phải quan
tâm giải quyết song song với quá trình vận hành thị trường ngân hàng, bởi lẽ, cạnh
tranh không lành mạnh là hiện tượng tất yếu của kinh tế thị trường, nó sẽ ngày càng
đa dạng, phức tạp theo sự phát triển của thị trường. Hiện tại hệ thống NHTM Việt
Nam đang trong quá trình tái cơ cấu nhằm tạo lập hệ thống ngân hàng có đủ sức
mạnh, hoạt động an toàn và hiệu quả. Trọng tâm của quá trình tái cơ cấu là tìm kiếm
các giải pháp nâng cao năng lực tài chính, khả năng quản trị - đây là những khâu
yếu nhất đã được các chuyên gia khẳng định. Trong quá trình tái cơ cấu này chắc
chắn sẽ xuất hiện những hành vi cạnh tranh không lành làm ảnh hưởng đến thị
trường, đây sẽ là cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc nhận diện và luật hóa các hành
vi cạnh tranh không lành mạnh nhằm thiết lập hành lang pháp lý điều chỉnh hành vi
cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng.
50
Trong thực tiễn hoạt động, các NHTM đang cố gắng kinh doanh theo pháp
luật thì việc sử dụng chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh để đánh giá
hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các NHTM là
rất khó khăn. Kể từ khi Luật Cạnh tranh có hiệu lực đến nay chưa có vụ việc cạnh
tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng nào bị xử lý. Quan sát trên thị
trường ngân hàng nước ta thời gian qua cho thấy, đã có khá nhiều biểu hiện của
cạnh tranh không lành mạnh, nhưng nó lại được xử lý bằng các đợt thanh tra, xử lý
vi phạm của NHNN Việt Nam. Về bản chất cách thức xử lý như trên không phản
ánh đúng bản chất của vụ việc.
Bốn là, trong điều kiện thị trường ngân hàng còn nhiều biến động, NHNN sẽ
còn phải sử dụng nhiều biện pháp can thiệp hành chính vào thị trường - đây cũng sẽ
là nguyên nhân cho việc xuất hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
hoạt động ngân hàng. Bởi lẽ, các biện pháp can thiệp hành chính không phù hợp với
quy luật của thị trường sẽ cản trở các hành vi cạnh tranh lành mạnh, tạo cơ hội cho
các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có cơ hội tồn tại và phát triển.
Bên cạnh đó, cũng không loại trừ trường hợp các NHTM lợi dụng những kẽ
hở trong các biện pháp can thiệp hành chính nhằm mục đích cạnh tranh không lành
mạnh. Chẳng hạn, để chống lại cuộc đua lãi suất huy động tiền gửi trên thị trường
ngân hàng Việt Nam trong những năm 2008-2012, NHNN đã chuyển từ cơ chế điều
hành lãi suất thỏa thuận sang cơ chế điều hành lãi suất “trần” và cơ chế điều hành
lãi suất này là minh chứng sinh động cho tình trạng “trên bảo, dưới không nghe”,
các hành vi vượt trần lãi suất và cạnh tranh không lành mạnh trong huy động lãi
suất không được ngăn chặn và xử lý kịp thời với nhiều quyết định xử phạt vi phạm
hành chính do vi phạm trần lãi suất huy động, các cá nhân vi phạm bị cách chức, xử
lý… được ban hành. Song, quan sát trên thị trường ngân hàng sau hàng loạt các đợt
ra quân “ào ạt” đó người ta lại thấy “sự im ắng” của NHNN mặc dù trên thị trường
vẫn liên tục diễn ra các đợt đua lãi suất huy động như trước đây. Hệ quả của việc
điều hành lãi suất bằng mệnh lệnh hành chính là thị trường không tuân theo mà vận
động theo đúng “quy luật” của nó nhưng “trái luật”, không phù hợp với mong muốn
của nhà quản lý và như vậy, nếu “khoảng cách” giữa hoạch định chính sách và thị
51
trường không được thu hẹp thì những bất ổn, méo mó trên thị trường tài chính Việt
Nam vẫn không thể nào giải quyết, các chủ thể tham gia thị trường sẽ vẫn phải “đi
đêm”, không thể tiên liệu được tương lai của những thay đổi chính sách. Bởi lẽ,
nguyên nhân của cuộc đua lãi suất huy động “không phải hoàn toàn xuất phát từ
nhu cầu vốn mà từ nhu cầu giữ khách hàng”
Năm là, vai trò của Hiệp hội ngân hàng trong phát hiện hành vi cạnh tranh
không lành mạnh chưa cao. Với vai trò là tổ chức đại diện của các TCTD, Hiệp hội
Ngân hàng Việt Nam mới chỉ trú trọng đến “nhiệm vụ chính trị” hơn là nhiệm vụ
bảo vệ quyền lợi của hội viên cũng như mức độ bình ổn của thị trường ngân hàng.
Điều này được chứng minh khi Hiệp hội ngân hàng đứng ra “làm chủ” cho cuộc
thỏa thuận lãi suất hồi buộc dư luận xã hội phải đặt câu hỏi việc đứng ra “làm chủ”
đó của Hiệp hội ngân hàng có vi phạm Luật Cạnh tranh hay không?
Sáu là, dư luận xã hội, sức mạnh của người tiêu dùng, giá trị của đạo đức
kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng chưa được phát huy tác dụng, chưa trở thành
công cụ hiệu quả trong việc chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực ngân hàng. Điều này được thể hiện ở, người tiêu dùng/khách hàng vẫn còn tâm
lý “xin vay” và ngân hàng vẫn còn tư tưởng “cho vay” nên việc ngân hàng áp đặt
những điều kiện bất lợi với khách hàng vay vốn vẫn còn phổ biến; các NHTM được
“tự do” ấn định các loại phí, trong đó có không ít những thứ “phí vô lý”, song
không có biện pháp hay cơ chế nào loại bỏ khiến người đi vay đành chấp nhận nó
như một điều kiện bất xâm phạm. Không những thế, tình trạng vi phạm pháp luật, vi
phạm đạo đức kinh doanh thông qua việc thông đồng giữa cán bộ tín dụng với
người có thẩm quyền quyết định cho vay của NHTM vẫn còn khá phổ biến, tình
trạng “lại quả” cho cán bộ tín dụng khi vay được vốn vẫn còn phổ biến và chưa có
biện pháp ngăn chặn...
Bảy là, khảo sát nội dung các Báo cáo công tác ngành tòa án do Tòa án nhân
dân tối cao công bố các năm 2013 - 2017 cho thấy chưa có vụ việc yêu cầu bồi
thường thiệt hại do hành vi quảng cáo nhằmcạnh tranh không lành mạnh trong hoạt
động ngân hàng gây ra nào được giải quyết. Thực tiễn giải quyết yêu cầu bồi
thường thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh cho thấy, việc giải quyết
52
yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại cũng khá phức tạp, có những vụ án phải trả qua thủ
tục giám đốc thẩm.
2.2.2. Thực tiễn xử lý hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
trong hoạt động của các ngân hàng thương mại
2.2.2.1. Xử lý theo quy định tại Luật Cạnh tranh và các văn bản liên quan
Để Luật Cạnh tranh đi vào cuộc sống, cần phải có các thiết chế tương ứng
đảm bảo sự thực thi. Các thiết chế này chính là những cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, tiến hành những thủ tục tố tụng trong các vụ việc cạnh tranh. Ở Việt Nam,
cơ quan có thẩm quyền quản lý cạnh tranh là UBCTQG và Hội đồng cạnh tranh.
Theo Điều 50 Luật Cạnh tranh năm 2018, UBCTQG có thẩm quyền điều tra, xử lý
và xử phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Hội đồng cạnh tranh chỉ có thẩm
quyền giải quyết các vụ việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh. Nội dung xử
lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh hiện nay được thực hiện theo Nghị định số
71/2014/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết Luật
Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh (gọi tắt là Nghị định
71/2014/NĐ-CP). Khi giải quyết vụ việc về hành vi cạnh tranh không lành mạnh,
UBCTQG phải thực hiện theo quy định của Luật Cạnh tranh và pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính.
Nghiên cứu quy định pháp luật về thẩm quyền và các biện pháp xử lý vụ việc
cạnh tranh, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Thứ nhất, về bản chất, UBCTQG vừa mang bản chất “hành chính” vừa mang
bản chất “tài phán”.
Đây là cơ quan thực thi quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực cạnh tranh,
Bên cạnh đó, vừa có quyền điều tra, xem xét để ra quyết định như một cơ quan tài
phán. Đây là mô hình có nhiều ưu điểm, giúp giải quyết triệt để các vấn đề liên
quan đến vụ việc cạnh tranh. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, UBCTQG được quy
định “ôm đồm” quá nhiều chức năng, từ điều tra xử lý các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh, điều tra các hành vi hạn chế cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng đến
quản lý nhà nước về chống bán phá giá, chống trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự
53
vệ trong thương mại quốc tế. Có một thực tế là không một cơ quan quản lý cạnh
tranh nào trên thế giới được quy định nhiều chức năng, đặc biệt là bao gồm cả các
chức năng thực thi pháp luật về các biện pháp đảm bảo công bằng trong thương mại
quốc tế như Việt Nam. Điều này đã dẫn đến tình trạng quá tải cho hoạt động của
UBCTQG trong thời gian qua. Việc đảm nhận nhiều chức năng mà đối tượng điều
chỉnh áp dụng khác nhau như vậy sẽ làm cho chức năng chính là quản lý cạnh tranh
bị giảm đi.
Thứ hai, pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
chưa có quy định rõ ràng về thẩm quyền và thủ tục xử lý hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh
+ Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính:
Luật Cạnh tranh quy định, cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động cạnh
tranh là UBCTQG, thuộc Bộ Công Thương. Để thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của mình, UBCTQG có thẩm quyền “Thu thập, tiếp nhận thông tin nhằm phát
hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh; Tổ chức điều tra vụ việc
cạnh tranh; Kiến nghị áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn và
bảo đảm xử lý vi phạm hành chính trong điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh; Thực
hiện các biện pháp nghiệp vụ điều tra trong quá trình điều tra phù hợp với quy định
của pháp luật” (Khoản 2, Điều 50 Luật Cạnh tranh 2018). Là một trong các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
cũng thuộc thẩm quyền điều tra, xử lý của UBCTQG. Tuy nhiên, bản thân các hành
vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại Điều 45 Luật
Cạnh tranh năm 2018 cũng đồng thời là những hành vi quảng cáo bị cấm theo pháp
luật quảng cáo. Theo Luật Quảng cáo, Bộ Thể thao, Văn hóa và Du lịch, Ủy ban
nhân dân các cấp là những cơ quan trực tiếp thực hiện các nội dung quản lý nhà
nước về hoạt động quảng cáo, có quyền “thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố
cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động quảng cáo”.
+ Về thủ tục giải quyết vụ việc quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh: Luật Cạnh tranh quy định “việc giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến
54
hành vi cạnh tranh không lành mạnh thực hiện theo quy định của Luật này và pháp
luật về xử lý vi phạm hành chính”. Điều 43 Nghị định 71/2014/NĐ-CP quy định:
“Việc xử lý hành vi vi phạm quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh và
cạnh tranh không lành mạnh phải tuân theo trình tự, thủ tục trong tố tụng cạnh tranh
được quy định tại Chương V của Luật Cạnh tranh và các quy định tại Chương III của
Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh
tranh”. Thế nhưng, nội dung của Chương 3 Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày
15 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Cạnh tranh lại hướng dẫn thủ tục tố tụng đối với hành vi hạn chế cạnh tranh.
Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng như Nghị định 158/2013/NĐ-CP có
chứa đựng quy định về thủ tục và thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính nói chung
và trong hoạt động quảng cáo nói riêng với trình tự thủ tục đơn giản hơn, về thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành vi vi phạm pháp luật quảng cáo được trao cho nhiều cơ
quan khác nhau cùng có chức năng quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo.
Với những quy định như vậy, dễ dẫn đến chồng chéo trong việc giải quyết
các vụ việc liên quan đến hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Người bị vi phạm lúng túng trong việc tìm cơ quan có thẩm quyền; còn các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cũng dễ đùn đẩy cho nhau khi giải quyết các trường hợp cụ
thể. Trong quá trình xử lý các hành vi vi phạm, cần có sự phối hợp giữa cơ quan
quản lý nhà nước trong lĩnh vực quảng cáo với UBCTQG trong việc xác định tính
không lành mạnh của hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh lại chưa
được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành.
+ Về chế tài bồi thường thiệt hại:
Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định rõ trách nhiệm
của chủ thể có hành vi vi phạm, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường
theo pháp luật dân sự, Nghiên cứu các quy định của pháp luật cạnh tranh cũng như
pháp luật về bồi thường thiệt hại cho thấy:
55
(i) Pháp luật cạnh tranh chưa quy định rõ ai là người có quyền yêu cầu bồi
thường thiệt hại cũng như cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường
thiệt hại do hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh gây ra;
(ii) Điều 40 của Nghị định 71/2014/NĐ-CP quy định về thẩm quyền xử lý
hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh của cơ quan quản lý cạnh tranh, trong đó không
có quy định về thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại. Vì vậy, có thể
hiểu, thẩm quyền này được trao cho Tòa án theo quy định của pháp luật dân sự;
(iii) Pháp luật cạnh tranh và pháp luật dân sự không quy định về mối quan hệ
giữa việc xử lý vi phạm hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh của
UBCTQG và giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của Tòa án. Theo đó, Tòa án
có thể giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại mà chưa cần có quyết định xử phạt vi
hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Từ những phân tích này cho thấy, việc giải quyết các yêu cầu khác nhau liên
quan đến một hành vi vi phạm mà trao cho nhiều cơ quan sẽ dẫn đến sự chồng chéo,
mất thời gian của các cơ quan tiến hành tố tụng. Khi Tòa án giải quyết yêu cầu bồi
thường thiệt hại được thực hiện trước, UBCTQG xử phạt hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh sau thì cả hai cơ quan đều phải tiến hành để xác định
tính không lành mạnh của hành vi quảng cáo. Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa
quy định về cơ chế phối hợp giữa hai cơ quan trong quá trình giải quyết yêu cầu liên
quan đến một hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ ba, mức xử phạt của Luật Cạnh tranh đối với hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh là chưa có tính răn đe, chưa thống nhất ở các văn bản
pháp luật và chưa phù hợp với thực tế.
Một là, để phù hợp với thực tiễn đời sống kinh tế cũng như Luật Xử phạt vi
phạm hành chính năm 2012, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2013, Chính phủ
ban hành Nghị định 71/2014/NĐ-CP thay thế Nghị định 120/2005/NĐ-CP, đã
nâng mức xử phạt đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh lên tối đa là 100
triệu đối với cá nhân và 200 triệu đối với tổ chức. Trong đó, tổ chức có hành vi
quảng cáo so sánh và quảng cáo bắt chước có mức phạt từ 60 triệu đến 80 triệu;
56
hành vi quảng cáo gian dối có mức phạt từ 80 triệu đến 140 triệu. Nếu cá nhân có
cùng hành vi vi phạm thì bị áp dụng mức phạt bằng một phần hai mức phạt đối với
tổ chức. Trong khi đó, số tiền mà doanh nghiệp phải trả để có thể quảng cáo 30 giây
trên Kênh truyền hình VTV1 vào khung giờ từ 20h đến 21h30 là 80 triệu – 90 triệu.
Mức phạt này cũng chỉ bằng 1 hoặc 2 lần phát sóng quảng cáo trên truyền hình vào
các khung giờ vàng . Do vậy, có thể nói, mức phạt này là chưa phù hợp, chưa có
tính răn đe, trừng trị các doanh nghiệp có hành vi vi phạm. Nhiều doanh nghiệp
chấp nhận nộp phạt để có thể thực hiện hành vi giúp họ đưa được thông tin cần thiết
đến với đông đảo người tiêu dùng.
Hai là, chưa có sự thống nhất mức xử phạt đối với hành vi quảng cáo gian
dối, gây nhầm lẫn của Nghịđịnh 71/2014/NĐ-CP và Nghịđịnh 158/2013/NĐ-CP về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo
(Nghị định 158/2013/NĐ-CP). Theo Nghị định 158/2013/NĐ-CP, đối với hành vi
quảng cáo thuốc không đúng nội dung đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thì bị phạt từ 10 triệu đến 20 triệu đồng; hành vi quảng cáo thực phẩm chức
năng và các sản phẩm không phải là thuốc với nội dung không rõ ràng, gây hiểu
nhầm sản phẩm đó là thuốc bị thì phạt từ 30 triệu đồng đến 40 triệu đồng (Điều 68).
Chúng tôi cho rằng, đây cũng là hành vi quảng cáo gian dối và hành vi quảng cáo
gây nhầm lẫn thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 45 Luật Cạnh tranh.
Nhưng mức xử phạt mà Nghị định 71/2014/NĐ-CP đưa ra mức phạt là 40 triệu
đến70 triệu đối với cá nhân. Có ý kiến cho rằng, hình thức phạt tiền chưa đủ ngăn
ngừa hành vi vi phạm, các hình phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được
trông đợi sẽ góp phần khắc phục được vấn đề này. Hình thức xử phạt bổ sung và
biện pháp khắc phục được quy định tại khoản 3 Điều 33, dẫn chiếu khoản 4 Điều 28
của Nghị định 71/2014/NĐ-CP: “(a) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng
để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc
thực hiện hành vi vi phạm; (b) Buộc cải chính công khai”. Theo chúng tôi, quy định
này có một số bất cập như: (i) Đối với hành vi quảng cáo, đặc biệt là quảng cáo trên
báo chí (bao gồm báo nói, báo hình và báo giấy), việc tịch thu tang vật và phương
tiện để thực hiện hành vi vi phạm là không phù hợp với thực tiễn. Bởi người quảng
57
cáo không phải là người có toàn bộ các phương tiện để thực hiện hoạt động quảng
cáo, bên cung ứng dịch vụ (Đài truyền hình, Đài phát thanh, cơ quan báo chí) mới là
người có các phương tiện để thực hiện hành vi để có thể thực hiện hành vi quảng
cáo; (ii) Để thu được khoản lợi nhuận có được do hành vi vi phạm mà có thì phải
xác định được khoản lợi này là bao nhiêu không phải là điều dễ dàng. Hiện nay,
pháp luật cũng chưa có quy định cụ thể về cách thức xác định khoản lợi thu được do
thực hiện hành vi vi phạm mà có.
2.2.2.2. Xử lý theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các văn bản pháp
luật khác có liên quan
Theo quy định tại khoản 2 Điều 118 Luật Cạnh tranh, cơ quan có thẩm quyền
xử phạt có thể tiến hành phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh
không lành mạnh và các hành vi khác vi phạm quy định của Luật này không thuộc
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này theo quy định của pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan. Như vậy, đối với
mỗi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh nói chung, tổ chức, cá nhân vi phạm
về cơ bản sẽ được xử lý theo pháp luật hành chính; đồng thời, do đặc thù trong lĩnh
vực ngân hàng, sau khi Nghị định về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
ngân hàng được chính thức ban hành và có hiệu lực, thì chủ thể thực hiện hành vi vi
phạm pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực này sẽ bị xử lý theo những quy định
của Nghị định mới. Luật các TCTD năm 2010 cũng có quy định tương tự về việc xử
lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng nói chung: “Chính phủ quy định cụ thể các
hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng và hình thức xử lý
các hành vi này” (khoản 3 Điều 9).
Dự thảo Nghị định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
ngân hàng có quy định như sau:
Việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng
thực hiện theo nguyên tắc quy định tại Điều 3 Pháp lệnh số 44/2002/PL-
UBTVQH10 ngày 2/7/2002 về xử phạt vi phạm hành chính và Điều 3 Nghị định
120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh
58
tranh.Tuy nhiên cần chú ý rằng, Pháp lệnh về xử phạt vi phạm hành chính đã bị
chấm dứt hiệu lực và được thay thế bằng Luật Xử lý vi phạm hành chính số
15/2012/QH13, hơn nữa, Nghị định 120/2005/NĐ-CP cũng đã bị thay thế bởi Nghị
định 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 của Chính phủ.
Điều 6 Dự thảo Nghị định quy định về căn cứ xác định mức độ xử lý đối với
các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thực hiện theo quy định của Luật các
TCTD và Điều 7 Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 quy định về xử lý vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh. Tuy nhiên, trong Luật các TCTD năm
2010 hiện tại không có điều khoản nào quy định về căn cứ để xác định mức độ xử
lý đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực ngân hàng và Nghị định
120/2005/NĐ-CP cũng đã hết hiệu lực.
Về thẩm quyền xử phạt: Thẩm quyền xử phạt hành vi cạnh tranh không lành
mạnh là những cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền tiến hành các thủ tục
trong các vụ việc về cạnh tranh không lành mạnh. Dự thảo Nghị định có quy định
cụ thể về thẩm quyền xử phạt cạnh tranh không lành mạnh đó là: Thanh tra giám sát
NHNN (Điều 22) và Chủ tịch UBCTQG (Điều 25).
Quy định như trong Dự thảo Nghị định là phù hợp, bởi lẽ, hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng là những hành vi có tính chất phức tạp,
thường xuyên xảy ra và có khả năng gây biến động lớn cho hệ thống ngân hàng nói
chung, gây hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế... nên cần phải qua quá trình điều tra,
xem xét, xác minh bởi các cá nhân, tổ chức có trình độ, có kinh nghiệm chuyên sâu
trong lĩnh vực ngân hàng. Vì vậy, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản
lý cạnh tranh và Thanh tra giám sát NHNN như trong Dự thảo Nghị định là nhằm
đảm bảo tính khách quan, đúng đắn khi ra các quyết định đối với từng vụ việc cạnh
tranh không lành mạnh cụ thể trong hoạt động ngân hàng.
Ngày 12/6/2014 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 35/2014/QĐ-
TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan
Thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc NHNN Việt Nam. Theo đó, cơ quan chịu
trách nhiệm chính việc thanh tra, giám sát các TCTD hiện nay là Cơ quan thanh tra
59
giám sát ngân hàng, được tổ chức thành hai cấp, trực thuộc NHNN trung ương và
trực thuộc NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, hiện nay, các văn bản
hướng dẫn thực hiện Luật NHNN 2010 và Luật Thanh tra rất chậm được ban hành.
Các văn bản pháp lý hiện còn thiếu như: Thông tư về trình tự, thủ tục thanh tra ngân
hàng, giám sát ngân hàng; Thông tư về hệ thống quản lý rủi ro trong hoạt động ngân
hàng; Thông tư về giám sát rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản và rủi ro tỷ giá đối với
TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài… Tình trạng này dẫn đến khuôn khổ pháp
lý cho hoạt động thanh tra giám sát TCTD còn rất nhiều khoảng trống.
Về các chế tài xử lý áp dụng đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực ngân hàng. Bên cạnh các quy định về xử phạt hành vi vi phạm cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng trong khuôn khổ pháp luật cạnh
tranh còn có các quy định về xử phạt vi phạm hành chính khác điều chỉnh nội dung
trên. Trong số đó có thể kể đến Nghị định 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của
Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng
(thay thế các Nghị định 202/2004/NĐ-CP ngày 10/12/2004 của Chính phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, Nghị định
số 95/2011/NĐ-CP ngày 10/12/2004 về sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định
số 202). Theo các văn bản trên cùng với Dự thảo Nghị định, các hình thức xử phạt
chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền và các hình thức xử phạt bổ sung cũng như các
biện pháp khắc phục hậu quả. Các hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử
dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng
để vi phạm hành chính; công khai mức phạt trên trang Thông tin điện tử Ngân hàng
và Thời báo Ngân hàng theo quy định của NHNN; xử lý theo quy định tại khoả 12
Điều 4 và khoản 2 Điều 59 Luật NHNN Việt Nam (theo Khoản 3 Điều 9 Dự thảo
Nghị định). Các biện pháp khắc phục hậu quả như: buộc khôi phục lại tình trạng
ban đầu đã bị thay đổi do hành vi vi phạm gây ra; và các biện pháp khắc phục hậu
quả khác do người có thẩm quyền quyết định áp dụng theo quy định của Chính phủ.
Nhưng nhìn chung, hình thức xử phạt chủ yếu là xử phạt hành chính, biện pháp truy
cứu trách nhiệm hình sự chưa được chú ý nhiều. Bên cạnh đó, Điều 22 và Điều 25
Dự thảo Nghị định quy định về hình thức xử phạt cảnh cáo là chưa hợp lý vì mức
60
độ ảnh hưởng của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng
thường rất lớn nên khó có thể áp dụng biện pháp xử phạt này.
Về thủ tục xử phạt của thanh tra giám sát NHNN:
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012,
mức phạt trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, tín dụng tối đa là 2.000.000.000 đồng
(Hai tỷ đồng), mức phạt tiền tối đa của lĩnh vực này quy định tại Nghị định
96/2014/NĐ-CP là 1 tỷ đồng, trong khi đó, Dự thảo Nghị định về cạnh tranh không
lành mạnh trong hoạt động ngân hàng cũng chỉ quy định là 100 triệu đồng. Theo
quan điểm cá nhân, mức phạt như quy định tại Dự thảo Nghị định là quá thấp và
chưa đồng bộ với các văn bản pháp luật hiện hành. Mức xử phạt này cần cân đối với
tình hình lợi nhuận của ngành nghề, lĩnh vực và mức độ thiệt hại đến kinh tế, xã hội
để đảm bảo khả năng răn đe, cưỡng chế. Trong thời điểm hiện nay, lợi nhuận của
ngành ngân hàng đem lại là không nhỏ, thu nhập trong ngành ngân hàng thuộc loại
cao trong xã hội, nếu quy định mức xử phạt tiền cao nhất là 100.000.000 đồng e
rằng sẽ không có tính chất răn đe, bởi lẽ, lợi nhuận mà TCTD thu được từ hành vi
cạnh tranh không lành mạnh gấp nhiều lần so với số tiền bị phạt, hi sinh lợi ích bé
cho lợi nhuận cao sẽ là môi trường thuận lợi cho các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh tiếp tục sinh sôi. Đó là chưa kể đến thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành
mạnh gây ra trong lĩnh vực ngân hàng còn mang tính chất dây chuyền, gây nguy
hiểm đến toàn bộ hệ thống. Khi mức phạt hành chính thấp so với thực tế, không đủ
sức ngăn chặn và răn đe, các vi phạm có thể xảy ra là điều hoàn toàn không thể
tránh khỏi. Trong khi đó, các hình thức cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
ngân hàng biến tướng ngày một tinh vi hơn, các vi phạm pháp luật về cạnh tranh
trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng nhiều. Do đó, việc tăng mức phạt tiền trong Dự
thảo Nghị định về cạnh tranh không lành mạnh là cần thiết để phù hợp với Luật Xử
lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định 96/2014/NĐ-CP và việc tuân thủ pháp
luật nghiêm túc hơn; đồng thời tạo điều kiện để công tác quản lý nhà nước đối với
lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, tín dụng đạt hiệu quả cao hơn.
Thứ hai, Luật các TCTD năm 2010 chưa tạo được cơ chế phối hợp giữa
NHNN và UBCTQG thuộc Bộ Công thương trong việc phát hiện, xử lý các hành vi
61
vi phạm Luật Cạnh tranh và tố tụng cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng. Chưa kể
trong tình hình hiện nay, UBCTQG được quy định “ôm đồm” quá nhiều chức năng,
từ điều tra xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, điều tra các hành vi hạn
chế cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng đến quản lý nhà nước về chống bán phá giá,
chống trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế. Có một
thực tế là, không một cơ quan quản lý cạnh tranh nào trên thế giới được quy định
nhiều chức năng, đặc biệt là bao gồm cả các chức năng thực thi pháp luật về các
biện pháp đảm bảo công bằng trong thương mại quốc tế như Việt Nam. Điều này đã
dẫn đến tình trạng quá tải cho hoạt động của UBCTQG trong thời gian qua.
Do vậy, để bảo đảm thực thi tốt chức năng của UBCTQG và giảm tải số
lượng công việc cho cơ quan này, NHNN cần phối hợp với UBCTQG trong việc
quản lý hoạt động cạnh tranh và cơ chế chia sẻ thông tin về hoạt động quản lý cạnh
tranh, nhất là việc phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh của các
TCTD.
62
Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ HÀNH VI QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
VIỆT NAM
3.1. Định hƣớng hoàn thiện pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam
3.1.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh
Quảng cáo là một hoạt động xúc tiến thương mại có vai trò quan trọng đối
với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Nhận thức được ý nghĩa này,
ngay từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã ban hành các văn
bảncác quy phạm điều chỉnh hoạt động quảng cáo. Tuy nhiên, phải đến năm 2004,
khi Luật Cạnh tranh được thông qua thì mới đánh dấu sự ra đời chính thức của pháp
luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Từ đó đến nay, pháp
luật về hành vi quảng cáo đã phát huy vai trò của mình trong việc góp phần bảo vệ
môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng, bảo vệ các doanh nghiệp kinh doanh,
người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong thời gian tới, tiếp tục hoàn thiện các quy định
của pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là điều
cần thiết vì các lý do sau:
Trước hết, trong bối cảnh hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế được coi là xu
hướng chủ đạo chi phối sự phát triển của ngành ngân hàng trong 10 năm tới, đem
lại nhiều cơ hội cho sự phát triển thị trường tài chính ở Việt Nam. Khi hội nhập
ngày càng sâu rộng, cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhu cầu của người dân ngày
càng đa dạng, thì các NHTM đều đang cố gắng mở rộng thị phần, tiếp cận một
lượng lớn người dân chưa biết đến các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Do đó, xu
hướng khai thác dịch vụ ngân hàng bán lẻ là một xu thế tất yếu của ngành ngân
hàng Việt Nam. Trên thực tế, các NHTM Việt Nam cũng đã bước đầu tập trung
khai thác thị trường bán lẻ thông qua việc mở rộng mạng lưới hoạt động nhằm cung
ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đến các cá nhân, hộ gia đình các doanh nghiệp
63
nhỏ và vừa, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ ngân hàng, phát triển các loại dịch vụ
mới, đa tiện ích như Internet Banking, Home Banking, PC Banking, Mobile
Banking….
Thứ hai, sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, đặc biệt là xu hướng hình
thành và phát triển của nền kinh tế tri thức đã khiến nhu cầu về các dịch vụ tài chính
nói chung và dịch vụ ngân hàng gia tăng mạnh mẽ. Cùng với đó là sự cải tổ nhanh
chóng về chất lượng của các dịch vụ dựa trên khoa học - kỹ thuật hiện đại, đặc biệt
là sự phát triển của mạng lưới công nghệ thông tin, mạng internet trên toàn cầu đã
cho ra đời các dịch vụ ngân hàng hiện đại, việc ứng dụng công nghệ thông tin và
phát triển các kênh phân phối đang là một trong những giải pháp mang tính tiên
quyết cho phát triển. Tại Việt Nam, gần 50 năm phát triển vừa qua, hầu hết các
ngân hàng mới chỉ có duy nhất kênh phân phối truyền thống - hệ thống chi nhánh,
hiện nay đã xuất hiện những kênh phân phối mới thông qua sự trợ giúp của công
nghệ thông tin như ATM, Mobile Banking... với nhiều ưu điểm về thời gian và mức
phí. Xu hướng của các ngân hàng hiện này vẫn là tiếp tục củng cố các kênh phân
phối truyền thống, bao gồm: (i) Hệ thống các chi nhánh; (ii) Ngân hàng đại lý
(thường được áp dụng đối với các NHTM chưa có chi nhánh) và phát triển kênh
phân phối hiện đại bao gồm: Các chi nhánh tự động hoá hoàn toàn; chi nhánh ít
nhân viên; ngân hàng điện tử (E - Banking); Ngân hàng qua mạng gồm Ngân hàng
qua mạng nội bộ và Ngân hàng qua mạng internet.
Thứ ba, một trong những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính bùng
phát đầu tiên tại Mỹ năm 2008 là do những yếu kém trong khâu quản lý rủi ro gây
ra đổ vỡ hàng loạt các ngân hàng. Vì vậy, trong thời gian tới, xu hướng tập trung
hóa quản trị rủi ro và cơ cấu lại danh mục đầu tư sẽ được các ngân hàng đặc biệt
quan tâm. Theo đó, ở Việt Nam, việc cơ cấu lại danh mục đầu tư, giảm tỷ trọng cho
vay vào các lĩnh vực nóng như bất động sản và chứng khoán, tăng tỷ trọng cho vay
tiêu dùng và cho vay đầu tư kinh doanh phục vụ sản xuất sẽ được các ngân hàng đặc
biệt quan tâm nhằm giải quyết những khoản nợ xấu được cho là đang gia tăng do
tác động từ khủng hoảng. Các NHTM ở Việt Nam cũng đã bước đầu xây dựng
khung hệ thống quản lý rủi ro bao gồm cơ cấu tổ chức, các quy định nội bộ, nhằm
64
quản lý rủi ro ở mọi phạm vi từ khoản mục đến danh mục và các loại hình kinh
doanh, các rủi ro tín dụng, thị trường và hoạt động…
Thứ tư, xu hướng sáp nhập, mua lại các NHTM sẽ diễn ra mạnh mẽ trong
quá trình tái cơ cấu, phục hồi nền kinh tế. Trong thời gian qua, cuộc khủng hoảng
kinh tế, tài chính của thế giới đã ảnh hưởng, tác động xấu đến nền kinh tế toàn cầu
và tất yếu theo quy luật thị trường, sẽ có hàng loạt các vụ mua bán, sáp nhập các
công ty tài chính, ngân hàng, điều này diễn ra mạnh nhất tại Mỹ - nơi đã có hàng
trăm ngân hàng bị phá sản và hàng chục ngân hàng tự nguyện hoặc bị mua bán và
sáp nhập trong những năm vừa qua. Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống các TCTD có
số lượng tương đối lớn, nhưng trình độ phát triển không đồng đều, quy mô hoạt
động nhỏ và chưa thật sự hiệu quả. Do đó, việc thực hiện cơ cấu lại hệ thống các
TCTD, xử lý dứt điểm tình trạng các NHTM yếu kém, khắc phục tình trạng thiếu
thanh khoản, lành mạnh hóa và ổn định hoạt động của hệ thống ngân hàng, thiết lập
trật tự kỷ cương thị trường tiền tệ sẽ là một xu hướng tất yếu.
3.1.2. Một số định hướng hoàn thiện pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh của các Ngân hàng thương mại
Quán triệt chủ trương của Nghị quyết Hội Nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa X về một số chủ trương, chính sách để nền kinh tế phát triển
nhanh và bền vững khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, một trong những
nhiệm vụ của yếu của Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đó là hoàn
thiện pháp luật và thể chế kinh tế. Cạnh tranh trên thị trường vốn dĩ là những quan hệ
có sự vận động sáng tạo không ngừng vì thế mà pháp luật cạnh tranh có khả năng lạc
hậu nhanh so với thực tiễn khách quan. Do vậy, việc bổ sung, hoàn thiện pháp luật về
cạnh tranh nói chung và pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh nói riêng là nhu cầu luôn được đặt ra đối với các quốc gia.
Cũng như các khu vực thị trường khác, cạnh tranh trong thị trường dịch vụ
ngân hàng là quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường. Quá trình cạnh tranh chỉ
đem lại hiệu quả và được coi là biện pháp bảo đảm thiết lập trật tự thị trường phát
triển an toàn, lành mạnh khi có được các quy định pháp luật cạnh tranh cụ thể, rõ
65
ràng, dễ áp dụng, nhất là đối với lĩnh vực nhạy cảm, dễ làm tổn thương đến nền
kinh tế - xã hội, thì cần phải được nghiên cứu một cách thận trọng để tránh những
hậu quả xảy ra. Trong bối cảnh hiện nay, các quy định pháp luật cạnh tranh nói
chung và các quy định về chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
ngân hàng nói riêng cần được hoàn thiện theo những định hướng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của
NHTM cần có sự phù hợp với đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát
triền nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Hơn nữa, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 được Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XI thông qua đã xác định rõ: Tạo lập đồng bộ và vận hành
thông suốt các loại thị trường... Phát triển thị trường tài chính với cơ cấu hoàn
chỉnh, quy mô tăng nhanh, phạm vi hoạt động mở rộng, vận hành an toàn, được
quản lý và giám sát hiệu quả; Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh và kiểm
soát độc quyền trong kinh doanh, bảo vệ người tiêu dùng.
Thứ hai, pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của NHTM phải
đảm bảo phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải được hoàn thiện phù
hợp với khung pháp lý của các tổ chức quốc tế mà chúng ta là thành viên, đặc biệt
là phù hợp khuân khổ các Hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Ở
Việt Nam, mặc dù trong hầu hết các văn bản pháp luật quan trong như Bộ luật Dân
sự, Luật Thương mại… đều có các quy định dẫn chiếu trực tiếp đến điều ước quốc
tế, nhưng theo thói quen lập pháp và hành pháp của chúng ta, việc trực tiếp viện dẫn
các quy định của điều ước quốc tế để áp dụng cho những trường hợp cụ thể không
thể thực hiện được. Do đó, pháp luật cạnh tranh nói chung và cạnh tranh không lành
mạnh của NHTM nói riêng luôn phải được đặt trong xu thế chung của tiến trình
nhất thể hóa pháp luật cho phù hợp với khung pháp lý đã được thừa nhận trong
thương mại quốc tế.
Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của
NHTM phải đồng bộ với hệ thống pháp luật chung, mà cụ thể là Luật Cạnh tranh,
66
Luật NHNN, Luật các TCTD, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính… Một hệ
thống pháp luật thống nhất, đồng bộ sẽ tránh được sự chồng chéo, mâu thuẫn gây
khó khăn trong thực tiễn áp dụng.
Thứ tư, pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh cần đảm bảo nguyên tắc
độc lập trong tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan thực thi pháp luật
Có thể thấy, độc lập trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan thực thi
Luật Cạnh tranh là yếu tố tiên quyết để có được sự công bằng trong việc xử lý các
vụ việc và cũng là điều mà các bên liên quan chờ đợi ở cơ quan này. Vì thế, cho dù
tổ chức bộ máy cơ quan cạnh tranh theo mô hình nào đi nữa thì nguyên tắc quan
trọng hàng đầu là phải đảm bảo chúng không chịu bất kì sự can thiệp hay chi phối
nào từ các cơ quan khác làm ảnh hưởng tới sự công bằng trong thương mại quốc tế.
Chỉ khi sự công bằng được đảm bảo bằng một bộ máy đủ mạnh và công tâm thì lúc
ấy thị trường mới thực sự lành mạnh và phát triển bền vững.
Thứ năm, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh của NHTM không thể tách rời với công tác xây dựng các chính sách cạnh
tranh hợp lý và hiệu quả
Sự đồng bộ của các biện pháp kinh tế, tài chính, pháp lý… sẽ góp phần nâng
cao giá trị điều chỉnh của pháp luật. Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh của NHTM nói riêng và pháp luật nói chung chỉ thực sự có ý nghĩa khi mang
tính khả thi, đáp ứng được điều kiện đời sống cũng như nhu cầu của các chủ thể
tham gia dịch vụ. Vì vậy, pháp luật về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của
NHTM cần phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, giải quyết những
nhu cầu của các chủ thể tham gia, muốn thực hiện tốt điều này pháp luật phải phản
ảnh ý chí của các ngân hàng, khách hàng và cơ quan chức năng.
3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam
3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh
67
3.2.1.1. Xây dựng các tiêu chí để nhận diện hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh
Bên cạnh việc kế thừa các quy định của pháp luật hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh hiện hành, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng
cần hoàn thiện hơn các quy định để dễ dàng nhận diện hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh, cụ thể:
Thứ nhất, xây dựng tiêu chí cụ thể để nhận diện hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh bên cạnh việc quy định một số hành vi quảng cáo
nhằm cạnh tranh không lành mạnh đặc trưng, tiêu biểu, phổ biến như hiện nay. Bên
cạnh đó, pháp luật cũng đưa ra tiêu chí để nhận diện hành vi quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh, cụ thể:
(i) Có hành vi truyền tải thông tin về hàng hóa, dịch vụ, người kinh doanh
đến với người tiêu dùng;
(ii) Trái pháp luật hoặc không phù hợp với chuẩn mực đạo đức kinh doanh;
(iii) Có thể gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại đối với người tiêu dùng hoặc
doanh nghiệp khác hoặc Nhà nước.
Thứ hai, cần sửa đổi và làm rõ thêm quy định cụ thể về hành vi quảng cáo so
sánh được quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Cạnh tranh
Một là, làm rõ thuật ngữ “hàng hóa, dịch vụ của mình” khi thực hiện hành vi
quảng cáo so sánh. Nếu hiểu theo nghĩa thông thường, “hàng hóa, dịch vụ của
mình” là hàng hóa do doanh nghiệp quảng cáo sản xuất ra, thuộc quyền sở hữu của
chính doanh nghiệp đó.
Hai là, xây dựng tiêu chí xác định “hàng hóa, dịch vụ cùng loại”.
Ba là, cần giải thích rõ về cách hiểu quảng cáo “so sánh trực tiếp” hàng hóa,
dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác”.
Bốn là, bên cạnh tiếp cận hành vi quảng cáo so sánh là hành vi bất hợp pháp,
pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh cũng nên quy
68
định quảng cáo so sánh sẽ hợp pháp nếu có tài liệu chứng minh nội dung quảng cáo
đó là đúng, trung thực.
Thứ ba, xác định tiêu chí để nhận diện hành vi quảng cáo “bắt chước một sản
phẩm quảng cáo khác” đồng thời, hướng dẫn về nội dung của “gây nhầm lẫn cho
khách hàng”. Pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh cần
làm rõ cả hai vấn đề này. Việc bắt chước trong hành vi này không thể là làm giống,
y hệt một sản phẩm quảng cáo khác như hành vi bắt chước được điều chỉnh trong sở
hữu trí tuệ. Do đối tượng bị bắt chước là một sản phẩm quảng cáo, kết quả của việc
bắt chước cũng là một sản phẩm quảng cáo khác, được sử dụng để thông tin rộng rãi
đến công chúng. Cho nên, người bắt chước thường có sự thay đổi, biến hóa để tránh
sự lỗ liễu.
Thứ tư, cần phân biệt hành vi quảng cáo gian dối và hành vi quảng cáo gây
nhầm lẫn được quy định tại khoản 3 Điều 45 Luật Cạnh tranh. Mặc dù, hành vi
quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng đều có đặc
điểm chung: (i) Tạo ra ấn tượng sai lệch về hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo; (ii)
Đối tượng tác động trực tiếp là người tiêu dùng. Nhưng đây là hai hành vi có dấu
hiệu khác nhau.
Thứ năm, pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
cần điều chỉnh một số hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh mới
như quảng cáo quấy rầy, quảng cáo ép buộc.
3.2.1.2. Hoàn thiện các quy định liên quan đến việc xử lý hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh của các Ngân hàng thương mại
Thứ nhất, nâng cao thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh trong việc xử
lý các vụ việc canh tranh không lành mạnh, đồng thời, thống nhất thẩm quyền xử lý
các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Một là, về thẩm quyền của UBCTQG: Hiện nay, UBCTQG là tổ chức thuộc
Bộ Công Thương có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà
nước và tổ chức thực thi pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, chống bán phá giá,
chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt
69
Nam; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; đối phó với các vụ kiện trong thương mại
quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ theo quy
định của pháp luật. Nhiều ý kiến cho rằng, UBCTQG được giao quá nhiều nhiệm
vụ, quyền hạn dẫn đến hạn chế hiệu quả giải quyết vụ việc cạnh tranh nói chung và
vụ việc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh nói riêng.
Hai là, xây dựng các quy định đảm bảo cho UBCTQG là có thẩm quyền giải
quyết tất cả các vụ việc liên quan đến hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh
Ba là, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13, có
hiệu lực từ ngày 1/7/2016, theo đó, tòa án được áp dụng tập quán để giải quyết vụ
việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có
quy định; tập quán không được trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân
sự. Tương tự, khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự cũng có
quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng; nếu đương sự viện
dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa
nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự. Bên cạnh đó, Tòa án cũng không được từ chối
giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.
Thứ hai, hoàn thiện các quy định liên quan đến xử lý hành vi quảng cáo
nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Một là, sửa đổi Điều 56 Nghị định 116/2005/NĐ-CP. Đối tượng được miễn
nộp tiền tạm ứng chi phí xử lý vụ việc cạnh tranh, miễn nộp phí xử lý vụ việc cạnh
tranh không chỉ là người tiêu dùng có thu nhập thấp, mà phải là cá nhân người tiêu
dùng nói chung.
Hai là, hoàn thiện chế định liên quan đến việc yêu cầu bồi thường thiệt hại
do hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh gây ra. Theo nghị định
71/2014/NĐ- CP thì: “1. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh
tranh gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân khác thì phải bồi thường. 2. Việc bồi thường thiệt hại quy định tại khoản1
Điều này được thực hiện theo các quy định của pháp luật về dân sự”. Theo quy định
70
của Bộ luật Dân sự, để được bồi thường thiệt hại, người có quyền và lợi ích bị xâm
phạm phải làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền, người yêu cầu phải có nghĩa vụ
chứng minh cho yêu cầu của mình là đúng. Trong lĩnh vực cạnh tranh, quy định
nghĩa vụ chứng minh cho các cá nhân người tiêu dùng đã thực sự cản trở quyền
khiếu nại, yêu cầu, bởi vì, thu thu thập chứng cứ là đối tượng quản lý của doanh
nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền không phải là điều dễ dàng.
Ba là, pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh cần
xây dựng cơ chế phối hợp giữa UBCTQG và các cơ quan quản lý nhà nước ở các
lĩnh vực chuyên ngành trong trong việc xử lý các hành vi vi phạm.
Thứ ba, cần chấn chỉnh hoạt động quảng cáo đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ
của các cấp, ngành và ý thức tuân thủ pháp luật của mọi tổ chức, cá nhân. Hiện nay
trong lĩnh vực này đang tồn tại một số vấn đề cần được giải quyết. Thứ nhất, cần
thấy rằng từ lâu quảng cáo đã không còn chỉ là dịch vụ của nền kinh tế thương mại
mà tự thân đã chuyển hóa thành một mặt hàng thương mại và ngang hàng với sản
phẩm khác. Quảng cáo góp phần kích thích tăng trưởng thị trường, tạo môi trường
cạnh tranh cho các doanh nghiệp, truyền bá các giá trị văn hóa,... Vì vậy, chấn chỉnh
hoạt động quảng cáo cần gắn với thực tế và với lợi ích chung của xã hội. Các chính
sách phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, không ảnh hưởng tới các lợi ích mà quảng cáo
mang lại. Các cơ quan ban hành chính sách cần nắm rõ thực tế, triển khai tìm hiểu,
khảo sát trên quy mô cả nước, giải quyết hài hòa giữa lợi ích người dân và đơn vị
kinh doanh để quảng cáo hoạt động đúng quy định của pháp luật; tạo điều kiện cho
quảng cáo phát triển lành mạnh, thông qua các sản phẩm thương hiệu Việt góp phần
quảng bá văn hóa, nâng cao hiểu biết của thế giới về Việt Nam. Thứ hai, sự khác
biệt về đặc thù địa phương, đặc thù từng loại hình quảng cáo có thể gây khó khăn
trong công tác quản lý và sự đồng nhất về chính sách, vì vậy các cơ quan chức năng
có nhiệm vụ ban hành chính sách cần nghiên cứu để đưa ra quy định cụ thể, phù
hợp từng địa phương, từng loại hình quảng cáo để tránh hiện tượng máy móc,
khuôn mẫu, phụ thuộc vào ý chí người quản lý. Thứ ba, cần tham khảo kinh nghiệm
xây dựng hệ thống pháp luật về quảng cáo ở các quốc gia tiên tiến, từ đó hoàn thiện
các chế tài và có hình thức xử lý nghiêm minh những sai phạm, tiêu cực. Thêm nữa,
71
cần lưu ý, việc quản lý, chấn chỉnh hoạt động quảng cáo cần có sự phối hợp giữa
nhiều ngành và địa phương; cho nên có thể làm nảy sinh mâu thuẫn về quyền hạn
và trách nhiệm mỗi bên, vì thế, nếu các ngành và địa phương không được phân công
nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể sẽ dễ xảy ra tình trạng “cha chung không ai khóc”.
3.2.1.3. Hoàn thiện và sớm ban hành Nghị định quy định về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng
Hiện nay, Dự thảo Nghị định về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
ngân hàng đang trong quá trình lấy ý kiến góp ý của các chuyên gia và người dân.
Sau đây là một số góp ý cho Dự thảo Nghị định (Dự thảo 2):
Thứ nhất, cần làm rõ quan niệm “hợp tác” và “cạnh tranh” trong hoạt động
ngân hàng làm cơ sở cho việc xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh giữa
các NHTM. Theo Từ điển tiếng Việt, hai thuật ngữ trên có nội hàm khác nhau, hơn
nữa, trong hoạt động, các TCTD có mối liên hệ khá chặt chẽ với nhau, tuy nhiên, có
những chủ thể lợi dụng việc hợp tác giữa các chủ thể kinh doanh để trục lợi bất hợp
pháp hoặc gây khó khăn cho đối tác. Do vậy, hành vi lợi dụng “chính sách hợp tác”
trong kinh doanh hoặc theo yêu cầu của NHNN của TCTD phải được coi là hành vi
cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ hai, cần mở rộng khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực ngân hàng theo hướng: thay vì xác định hành vi cạnh tranh không lành
mạnh dựa vào dấu hiệu quan trọng là “vì quá chạy theo mục tiêu lợi nhuận”, các
nhà làm luật có thể căn cứ vào dấu hiệu là hành vi vi phạm “chuẩn mực thông
thường về đạo đức kinh doanh”. Hơn nữa, bản chất của hành vi cạnh tranh không
lành mạnh là chủ thể kinh doanh sử dụng nhiều biện pháp, hành vi trái với chuẩn
mực thông thường về đạo đức kinh doanh để gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại
cho đối thủ cạnh tranh.
Do đó, khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân
hàng nên quy định như sau: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động
ngân hàng là hành vi của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động ngân
hàng trái với những chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại
72
hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp khác của TCTD, đến việc
thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn của hệ thống các TCTD”.
Thứ ba, Nghị định về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng
cần phải quy định chi tiết hơn để giúp các TCTD hiểu và nắm chắc rằng hình thức
cạnh tranh nào bị luật pháp cấm và được phép. Do 9 hành vi trong Điều 39 Luật
cạnh tranh cũng chịu sự điều chỉnh của các luật khác, nên sẽ hiệu quả hơn nếu quy
định của NHNN tham chiếu tới các nguyên tắc đã được quy định tại những luật đó.
Tham khảo tới các luật khác cũng giúp đảm bảo duy trì tính đồng bộ của cả hệ
thống pháp lý và tránh chồng chéo khi áp dụng các văn bản pháp lý. Chỉ nên xây
dựng hệ thống các quy tắc về cạnh tranh không lành mạnh khi không có hướng dẫn
của bất kể luật nào hoặc trong trường hợp do các đặc thù của ngành ngân hàng.
Liên quan tới sự so sánh các hàng hoá và dịch vụ, NHNN có thể tham khảo
các nguyên tắc của Nghị định 37/2006/NĐ-CP cung cấp chi tiết hướng dẫn thực
hiện Luật Thương mại về xúc tiến thương mại ngày 04/4/2006. Trong Nghị định
này, các doanh nghiệp có thể sử dụng quảng cáo so sánh trong trường hợp: so sánh
giữa các hàng giả và hàng thật; hoặc so sánh giữa hàng thật và hàng hoá được cơ
quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền quy định là vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Liên quan tới quảng cáo gian dối, NHNN có thể tham chiếu quy tắc tại Điều
8 của Luật Quảng cáo 2012. Khoản 9 của Điều này định nghĩa quảng cáo gian dối là
quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung
cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng
hóa, dịch vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu,
xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố.
Ngoài ra, NHNN nên đưa ra chi tiết yêu cầu về các thông tin tối thiểu mà
một ngân hàng phải cung cấp trong quảng cáo về mỗi hình thức dịch vụ của ngân
hàng mình. Thông tin tối thiểu nên bao gồm toàn bộ thông tin có thể ảnh hưởng tới
lợi ích của khách hàng (chẳng hạn như quảng cáo về thẻ của ngân hàng cần bao
gồm tất cả các thông tin về chi phí và các yêu cầu về tiền gửi tối thiểu...).
73
Điều 3 Dự thảo nghị định cần tuân thủ quy định tại Luật NHNN và Luật Các
TCTD vừa ban hành, không nên mở rộng bằng cách bổ sung “hoạt động cung ứng
dịch vụ ngoại hối”, vì đây là một nội dung kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng nếu
TCTD đã đăng kí với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo đó, hoạt động ngân
hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ
sau đây: (i) Nhận tiền gửi; (ii) Cấp tín dụng; (iii) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua
tài khoản (Khoản 12 Điều 4 Luật các TCTD và Khoản 1 Điều 6 Luật NHNN).
Khoản 3 Điều 3 Dự thảo Nghị định quy định “xử phạt vi phạm tại Nghị định
này dưới đây được hiểu là xử phạt vi phạm hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
hoạt động ngân hàng”. Cần bỏ cụm từ “dưới đây” vì không có nghĩa và chỉnh sửa như
sau: “Xử phạt vi phạm tại Nghị định này được hiểu là xử phạt vi phạm hành chính đối
với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng”.
Sửa đổi lại đồng bộ nội dung quy định tại điểm b khoản 1 Điều 4 và khoản 1,
Điều 3 Dự thảo Nghị định. Bởi lẽ, điểm b khoản 1 Điều 4 quy định: “Các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh khác trong hoạt động ngân hàng căn cứ theo tiêu chí
xác định tại Khoản 1 Điều 3 của Nghị định này”, song khoản 1 Điều 3 lại quy định:
“Tổ chức và cá nhân có liên quan đến hành vi canh tranh không lành mạnh trong
hoạt động ngân hàng tại Nghị định này dưới đây được hiểu là tổ chức và cá nhân
nêu tại Điều 2 Nghị định này”.
Điều 6 Dự thảo Nghị định cần được quy định theo hướng cụ thể hoá, bởi lẽ,
Luật Các TCTD năm 2010 không có quy định về căn cứ xử lý đối với hành vi cạnh
tranh không lành mạnh, nội dung quy định tại Khoản 4 Điều 4 Nghị định
71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh là để áp dụng chung đối với các hành vi vi phạm
pháp luật cạnh tranh nên khó có thể áp dụng để xử lý đối với hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng. Theo đó, nội dung điều này nên quy
định theo định hướng sau đây: “Điều 6. Căn cứ xác định mức độ xử lý đối với các
hành vi vi phạm Khi xác định mức độ xử lý đối với các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh trong hoạt động ngân hàng, cơ quan có thẩm quyền có quyền căn cứ vào
một hoặc một số yếu tố sau đây:Mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra; Khả
74
năng gây hạn chế cạnh tranh của các đối tượng vi phạm; Khoản lợi nhuận thu được
từ việc thực hiện hành vi vi phạm; Mức độ ảnh hưởng của hành vi vi phạm đối với
việc thực hiện chính sách tiền tệ, khả năng bảo đảm an toàn đối với hệ thống ngân
hàng; Các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 85 của Nghị
định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh.
3.2.2. Giải pháp nâng cao khả năng thực thi pháp luật về hành vi quảng cáo
nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các Ngân hàng thương mại
Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của NHTM với những quy
định điều chỉnh đầy đủ, chặt chẽ là rất cần thiết và việc Nhà nước - với tư cách là
chủ thể quyền lực tối cao - quản lý, triển khai áp dụng những quy định đó vào thực
tiễn ra sao cho hiệu quả lại càng quan trọng. Một đạo luật cho dù tốt đến đâu nhưng
chưa có thiết chế thực thi thì không thể phát huy được giá trị điều chỉnh của nó. Một
khi pháp luật chưa làm rõ vị trí, vai trò của các cơ quan trong bộ máy thực thi pháp
luật thì cũng khó có thể thuyết phục người dân tin tưởng vào tính công minh và tính
khả thi của đạo luật. Tuy nhiên, cơ chế đảm bảo thi hành pháp luật vẫn còn tồn tại
một số bất cập. Việc triển khai ban hành một số quy định tương đối chung chung,
chưa bao quát chặt chẽ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của NHTM, tình
trạng buông lỏng trong quản lý vẫn còn tồn tại ở một số địa phương, việc xử lý vi
phạm về cạnh tranh không lành mạnh của NHTM chưa kịp thời, thiếu nghiêm
minh... Công tác quản lý nhà nước về cạnh tranh nói chung và cạnh tranh không
lành mạnh của NHTM nói riêng còn chưa hiệu quả cũng là một trong những nguyên
nhân gây ra hạn chế trong việc thực thi pháp luật. cạnh tranh không lành mạnh của
NHTM là một hoạt động mang tính nhạy cảm cao, do vậy, nhận thức, quan điểm
khác nhau của cơ quan quản lý, các TCTD và khách hàng cũng là một rào cản
không nhỏ gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động này.
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực ngân hàng chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục, có hiệu quả đến các đối
tượng tham gia cũng là yếu tố làm gia tăng vi phạm đối với hoạt động ngân hàng.
75
Vì những lý do đó,kiến nghị cần phải có biện pháp khắc phục những bất cập trên để
từng bước hoàn thiện cơ chế bảo đảm thi hành pháp luật.
Thứ nhất, cần phải nâng cao vai trò và hoàn thiện cơ chế hoạt động hiệu quả
cho cơ quan quản lý cạnh tranh trong việc triển khai các quy định của pháp luật,
quản lý, giám sát hoạt động tài chính - ngân hàng nói chung và cạnh tranh trong lĩnh
vực ngân hàng nói riêng, bao gồm hai cơ quan chính là UBCTQG và Cơ quan
Thanh tra giám sát của NHNN.
UBCTQG là một thiết chế kinh tế đặc biệt, được xây dựng để thực thi pháp
luật cạnh tranh của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, cùng với sự ra đời của Luật Cạnh
tranh là sự hình thành UBCTQG và Hội đồng cạnh tranh. Mặc dù đây là mô hình
cần thiết phải có để thực thi pháp luật cạnh tranh, nhưng trong những năm qua, cơ
quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam nói chung và cụ thể là UBCTQG đã bộc lộ
nhiêu bất cập như: Quy mô và năng lực nhân sự chưa đáp ứng được nhu cầu ngày
càng tăng của cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội và người tiêu dùng. Hình ảnh, vai
trò của cơ quan này trong xã hội còn mờ nhạt; quy định quá nhiều chức năng nhiệm
vụ trong khi tổ chức chưa đáp ứng được điều kiện cần thiết.
Vì vậy, trong thời gian tới, UBCTQG cần được quan tâm tăng cường về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy, theo đó chức năng giám sát chính
sách vào theo dõi tình hình cạnh tranh theo ngành cần phải được chú trọng tăng
cường. Xu hướng chung trên thế giới hiện nay là đi liền với việc xử lý các vụ việc
điển hình theo cơ chế ad-hoc, cơ quan điều tiết cạnh tranh thường tiến hành các
cuộc giám sát định kỳ theo từng ngành, trước mắt tập trung vào các ngành quan
trọng đối với nền kinh tế, từ đó đề xuất sửa đổi/bổ sung thể chế liên quan. Cũng
theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, thẩm quyền điều
tra của điều tra viên cạnh tranh gần như tương đương với điều tra viên trong lĩnh
vực hình sự và cảnh sát tư pháp.
Chỉ có như vậy, cơ quan quản lý cạnh tranh mới có thể phát huy được vai trò
của mình trong việc giám sát và thực thi Luật Cạnh tranh.
76
Đối với Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng trực thuộc NHNN - được coi
là cơ quan chịu trách nhiệm chính việc thanh tra, giám sát các TCTD hiện nay,
trong thời gian qua cũng bộc lộ một số hạn chế như: hoạt động thanh tra giám sát
vẫn chủ yếu tập trung vào rủi ro an toàn vi mô của từng TCTD, trong khi cơ sở
pháp lý về thanh tra, giám sát rủi ro an toàn vĩ mô chưa được ban hành và không
được thực hiện trên thực tế. Bên cạnh đó, phương pháp thanh tra giám sát chưa phù
hợp với chuẩn mực quốc tế vì hoạt động thanh tra tại chỗ, thanh tra tuân thủ vẫn là
các phương pháp chủ yếu trong khi thanh tra tuân thủ và khả năng giám sát từ xa
nhằm phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn xử lý rủi ro còn nhiều hạn chế. Công
tác giám sát hoạt động NHTM hiện mới tập trung nhiều vào giám sát mang tính
định lượng, trong khi còn thiếu những nhận định mang tính định tính về mức độ rủi
ro và khả năng quản trị rủi ro của NHTM. Trong nội bộ các cơ quan thanh tra giám
sát, việc phối hợp cũng còn hạn chế, chưa hiệu quả. Việc phối hợp giữa cơ quan
thanh tra giám sát ngân hàng với NHNN chi nhánh không chặt chẽ và không hiệu
quả, nhất là trong quản lý thanh tra giám sát và xử lý sai phạm của TCTD.
Về lâu dài, Chính phủ cần chỉ định hoặc thành lập cơ quan chịu trách nhiệm
chính về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng. Hiện nay,
mới chỉ một phần rất nhỏ trong các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của NHTM
được phát hiện, nguyên nhân do chưa có một cơ quan nào được thành lập chuyên
trách để đảm nhiệm vai trò quản lý vấn đề này. Những sự việc như NHNN “tuýt
còi” Techcombank vì vượt trần lãi suất vào cuối năm 2010 và một số các NHTM
khác như ngân hàng Đông Á, Agribank… chỉ là một trong số ít những hành động
can thiệp đối với các NHTM có hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Do nhiệm vụ
chính của NHNN là điều hành chung chính sách tiền tệ nên NHNN khó có thể theo
dõi sát sao để kịp thời nhận diện và đưa ra can thiệp kịp thời đối với tất cả các hành
vi vi phạm trong toàn bộ hệ thống ngân hàng. Mục tiêu căn bản của giải pháp này là
nhằm đảm bảo trách nhiệm rõ ràng, cụ thể và tập trung đối với việc chống các hành
vi cạnh tranh không lành mạnh của NHM trong thời gian tới ở Việt Nam.
Thứ hai, tăng cường công tác đào tạo cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ (điều
tra viên, thành viên Hội đồng cạnh tranh, luật sư…) đủ trình độ và năng lực. Cho
77
đến nay, trong nhiều cuộc tranh luận khoa học về đào tạo luật học tại các cơ sở đào
tạo trên cả nước, những người có trách nhiệm vẫn còn nghi ngờ về vị trí của pháp
luật cạnh tranh. Trong khi đó, chúng ta hiện đang rất thiếu cán bộ, chuyên gia, luật
sư đủ trình độ và kinh nghiệm xử lý các vụ việc cạnh tranh vốn luôn phức tạp. Vì
thế, để có thể thực thi luật cạnh tranh hiệu quả, chúng ta cần có chiến lược đào tạo
hợp lý. Xử lý cạnh tranh không lành mạnh là những vấn đề pháp lý rất mới ở nước
ta. Chính vì thế, trong thời gian tới, Bộ Công thương cần có biện pháp thích hợp để
đào tạo cán bộ, nhất là các cán bộ hoạt động thực tiễn trong vấn đề này (điều tra
viên). Hình thức đào tạo cán bộ có thể đa dạng (đào tạo chính quy hoặc ngắn hạn; đào
tạo trong nước hoặc đào tạo ở nước ngoài). Bên cạnh đó, phía Toà án nhân dân tối
cao cũng cần có biện pháp đào tạo, bồi dưỡng thẩm phán thích hợp để chuẩn bị kiến
thức, kinh nghiệm cần thiết khi phải xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ ba, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về
cạnh tranh không lành mạnh cũng góp phần hoàn thiện cơ chế bảo đảm thi hành
pháp luật. Bởi lẽ, các TCTD - chủ thể trực tiếp thực hiện các hoạt động trong lĩnh
vực ngân hàng có hiểu rõ về vấn đề này thì các quy định của pháp luật mới được thi
hành một cách nghiêm túc và hiệu quả. Do đó, đối tượng tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh chủ yếu nên hướng tới trước tiên
chính là các TCTD. Nội dung tuyên truyền cần giúp các TCTD nhận diện rõ những
hành vi bị coi là cạnh tranh không lành mạnh và quyền khiếu nại, khởi kiện của
TCTD bị xâm hại, các hình thức chế tài có thể được áp dụng đối với TCTD có hành
vi vi phạm. Các nội dung khác như trình tự, thủ tục khiếu nại, khởi kiện đối với
hành vi cạnh tranh không lành mạnh, phạm vi chứng minh, kinh nghiệm xử lý hành
vi cạnh tranh không lành mạnh cũng cần được tuyên truyền, phổ biến. Pháp luật về
cạnh tranh không lành mạnh cũng nên được đưa thành một nội dung trong công tác
đào tạo cử nhân luật, cử nhân kinh tế, thương mại ở nước ta.
Thứ tư, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao hiểu biết và chấp hành
nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của
NHTM đến cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ ngân hàng. Vì các ảnh hưởng của hoạt
động ngân hàng, kể cả tích cực lẫn tiêu cực đều phụ thuộc và khả năng nhận thức và
78
ứng xử của khách hàng. Không một cơ chế nào bảo vệ khách hàng tốt hơn chính bản
thân họ tự bảo vệ mình. Khi mặt bằng kiến thức, tri thức của khách hàng được nâng
cao, hoạt động ngân hàng nói chung sẽ phát huy vai trò tích cực thúc đẩy sự phát triển
của thị trường, và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực này sẽ dần
bị triệt tiêu. Khách hàng sẽ nhận diện được đâu là hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong hoạt động ngân hàng để tẩy chay dịch vụ của TCTD đó, góp phần làm
cho các TCTD đó không thể đạt được mục đích cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luật chống cạnh
tranh không lành mạnh. Đấu tranh với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh là
nhiệm vụ khá mới mẻ đối với
Việt Nam nhưng lại là lĩnh vực mà nhiều quốc gia trên thế giới rất có kinh
nghiệm. Quá trình xây dựng Luật Cạnh tranh năm 2004 cho thấy, các nhà lập pháp
Việt Nam cũng còn nhiều lúng túng khi phải đối mặt với lĩnh vực đầy mới mẻ này.
Trong bối cảnh ấy, việc tham khảo, học tập kinh nghiệm nước ngoài trong việc xử
lý các vấn đề về cạnh tranh trong đó có cạnh tranh không lành mạnh là rất cần thiết.
Trong thời gian tới, Bộ Công Thương cần có các chương trình hợp tác nghiên cứu,
học tập trao đổi kinh nghiệm với các nước có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực
pháp luật cạnh tranh nói chung và trong việc đấu tranh chống hành vi cạnh tranh
không lành mạnh nói riêng để tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan quản lý cạnh
tranh của Việt Nam và các cán bộ của cơ quan ấy có thêm kiến thức, năng lực và
trình độ để xử lý các vấn đề mà thực tiễn Việt Nam đặt ra.
Thứ sáu, giảm tính độc quyền của ngành ngân hàng, tạo sân chơi bình đẳng
hơn cho các NHTM ngoài quốc doanh, cổ phần và sáp nhập một số các NHTM
quốc doanh để tăng vốn tự có, từ đó nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ
thống ngân hàng, nâng cao hiệu quả hoạt động; phát triển thị trường tài chính với
nhiều định chế tài chính trung gian.
79
KẾT LUẬN
Quảng cáo là công cụ xúc tiến thương mại hữu hiệu đối với các doanh
nghiệp. Khi hoạt động cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ thì quảng cáo cũng được sử
dụng triệt để hơn và không loại trừ việc sử dụng cả các hành vi quảng cáo trái với
pháp luật và chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh. Vì vậy, “Pháp luật
về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của
các ngân hàng thương mại Việt Nam” là vấn đề được giới chuyên môn quan tâm.
Đây là đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn áp dụng. Chống cạnh tranh không
lành mạnh nói chung và chống các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh là hoạt động có vai trò cần thiết để đảm bảo môi trường cạnh tranh, công
bằng, bảo vệ quyền và lợi ích của doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh, tăng cường năng lực của cơ quan quản lý
cạnh tranh trong việc xử lý các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh chính là quyết
tâm của Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn tới, giai đoạn thực hiện cuộc “phẫu
thuật” tái cơ cấu nền kinh tế. Như vậy, có thể thấy rằng việc bảo đảm cho cạnh
tranh tồn tại và hoạt động là điều kiện quan trọng để xây dựng thành công mô hình
nền kinh tế thị trường định hướng xã hôi chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đối với lĩnh vực ngân hàng, hiện đang là một trong những lĩnh vực kinh
doanh sôi động, có tiềm năng và tình hình cạnh tranh cũng đã và đang diễn ra rất
mạnh mẽ. Nhìn lại lịch sử phát triển của thị trường dịch vụ ngân hàng cho thấy vai
trò và giá trị của cạnh tranh được biểu hiện, hình thành rất rõ nét. Cạnh tranh đã đưa
đến cho thị trường dịch vụ ngân hàng một không khí mới, màu sắc mới, khách hàng
có cơ hội tiếp cận và thụ hưởng lợi ích lớn hơn. Từ hình ảnh thị trường độc quyền
đến cạnh tranh đa dạng của nhiều TCTD và các tổ chức tài chính thực hiện các hoạt
động ngân hàng là kết quả, thành công của sức mạnh và vai trò điều tiết của cạnh
tranh.
Từ những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn thị trường dịch vụ ngân hàng
cho thấy, các tổ chức thực hiện hoạt động ngân hàng cần nhận thức sâu sắc về vai
trò, giá trị và quy luật vận động của cạnh tranh. Để tiếp tục đủ sức cạnh tranh tồn tại
80
và phát triển, các tổ chức trên cần phải nhận thức, nắm rõ quy luật thị trường, quy
luật cạnh tranh, quy định của pháp luật về chính sách cạnh tranh trong nền kinh tế.
Với những nghiên cứu, phân tích của Luận văn, những vấn đề sau đây đã
được tập trung giải quyết: Một là, phân tích và đánh giá thực trạng các quy định về
cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng của Luật Cạnh tranh, các văn
bản hướng dẫn thi hành và Luật các TCTD cũng như ở các văn bản pháp luật khác
có liên quan. Hai là, phân tích và đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về chống
hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam hiện nay
trong đó có thực trạng xử lý các hành vi này. Từ đó, kiến nghị những điểm cần được
hoàn thiện, những vấn đề cần được bổ sung nhằm tạo khung pháp lý chặt chẽ, phù
hợp điều chỉnh hoạt động ngân hàng, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của hoạt
động ngân hàng trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường Việt Nam.
Tất cả những điều này sẽ góp phần xây dựng một chính sách cạnh tranh, môi trường
cạnh tranh lành mạnh, khoa học phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế và
đạt được mục tiêu xây dựng một thị trường tài chính ngân hàng lành mạnh, hiệu quả
duy trì lợi ích đa chiều giữa nhà nước, TCTD và khách hàng./.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Phương Anh, Pháp luật về kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm
lẫn tại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 2006.
2. TS.Nguyễn Hoàng Ánh, Đạo đức kinh doanh tại Việt Nam, thực tại và giải
pháp, Kỷ yếu hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ 3, Tiểu ban kinh tế Việt
Nam, Hà Nội 2012, tr 5.
3. Công ước Paris, Về bảo hộ sở hữu công nghiệp thông qua ngày 20/03/1883
và được tổng sửa đổi ngày 28/09/1979, Paris 1983.
4. UBCTQG, Bộ Công thương, Báo cáo đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực,
Hà Nội 2010.
5. Bùi Ngọc Cường, Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật
kinh tế hiện hành ở Việt Nam, sách chuyên khảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội 2014
6. Bùi Ngọc Cường, Vai trò của pháp luật kinh tế trong việc bảo đảm quyền tự
do kinh doanh, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 7/2002.
7. Chính phủ, Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/09/2005 quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh, Hà Nội 2005.
8. Chính phủ, Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh,
Hà Nội 2006.
9. Chính phủ, Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 quy định chi tiết
Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại, Hà Nội 2006.
10. Chính phủ, Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 quy định về nhãn
hàng hóa, Hà Nội 2006.
11. Chính phủ, Nghị định số 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 về quản lý hoạt
động bán hàng đa cấp, Hà Nội 2014.
12. Chính phủ, Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết
Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, Hà
Nội 2014.
13. Chính phủ, Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, Hà Nội 2014.
14. Chính phủ, Nghị định số 07/2015/NĐ-CP ngày 16/01/2015 quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng Cạnh tranh, Hà
Nội 2015.
15. Nguyễn Thị Dung, Khái niệm “quảng cáo” trong pháp luật Việt Nam và ảnh
hưởng của nó đến việc hoàn thiện pháp luật về quảng cáo, Tạp chí Nhà nước
và pháp luật số 12/2005, tr.33.
16. Đỗ Văn Đại và Nguyễn Thị Hoài Trâm, Bồi thường thiệt hại do hành vi cạnh
tranh không lành mạnh gây ra, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2012, tr.62-
tr.71.
17. Nguyễn Hữu Đễ, Đạo đức kinh doanh ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và
thực tiễn, Tạp chí Triết học, số 12/2013, tr.271.
18. Đặng Minh Đức, Chính sách cạnh tranh của Liên minh Châu Âu trong bối
cảnh phát triển mới, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội 2010.
19. Quách Thị Hương Giang, Chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành
mạnh theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội năm 2011.
20. Nguyễn Kiều Giang, “Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân
hàng – Nhìn từ góc độ pháp lý”, Tạp chí Luật học, số 12/2017.
21. Viên Thế Giang, Quảng cáo nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh
trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp
luật, số 2/2013, tr.73 – tr.79.
22. Viên Thế Giang, Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt
động ngân hàng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ
ngành Luật học, Hà Nội năm 2014
23. Đỗ Thị Bích Hồng, Một vài nhận định về xu hướng phát triển ngân hàng
trong năm 2012, Viện Chiến lược Ngân hàng trên website: sbv.gov.vn, truy
cập năm 2012.
24. Phan Huy Hồng, Quảng cáo so sánh trong Luật cạnh tranh – Một nghiên
cứu so sánh luật, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 7 (2007).
25. Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độ quyền và chống cạnh tranh không
lành mạnh ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà
Nội năm 2002.
26. Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh
không lành mạnh ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2004.
27. Nguyễn Hữu Huyên, Luật cạnh tranh của Pháp và Liên minh Châu Âu, NXB
Tư pháp, Hà Nội 2004.
29. Philip Kotler, Maketting căn bản, Nxb Thống kê, Hà Nội 1998.
28. Bùi Nguyên Khánh, Chức năng của luật tư trong việc bảo vệ trật tự cạnh
tranh từ góc độ nghiên cứu so sánh giữa pháp luật cạnh tranh không lành
mạnh của Việt Nam và Cộng Hoà Liên Bang Đức, Tạp chí Nhà nước và pháp
luật, số 10/2007, tr 46 - tr.50.
30. Đinh Thị Mỹ Loan, Quảng cáo dưới góc độ cạnh tranh, Nxb Lao động xã
hội, Hà Nội 2008.
31. Phạm Văn Lợi & Nguyễn Văn Cương, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Tạp chí Nghề luật, số 2/2006.
32. Phạm Văn Lợi, Lê Thị Hoàng Oanh, Nguyễn Văn Cương, Hoàng Thế Anh,
Vũ Thị Hiệp, Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam –
Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội 2004, tr.4.
33. Nguyễn Xuân Lưỡng, Pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh dịch
vụ điện thoại di động ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa
học xã hội, Hà Nội 2012.
34. Michael E.Porter, Chiến lược cạnh tranh, Nxb Trẻ, Hà Nội 2012.
35. Michael E.Porter, Lợi thế cạnh tranh, Nxb Trẻ, Hà Nội 2012.
36. Phạm Duy Nghĩa, Pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam - Nhu cầu, khả năng và
một vài kiến nghị, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2001.
37. Phạm Duy Nghĩa, Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam
hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2001, tr.185.
38. Tăng Văn Nghĩa, Giáo trình Luật cạnh tranh, Nxb Giáo dục, Hà Nội 2009.
39. Phùng Bích Ngọc, Quảng cáo nhằm CTKLM theo luật cạnh tranh năm 2004,
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6/2013, tr.54 - tr.60.
40. NHNN Việt Nam, Công văn số 9577/NHNN-CSTT ngày 09/12/2010 về việc
lãi suất huy động VNĐ, Hà Nội 2010.
41. NHNN Việt Nam, Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 07/9/2011 về việc chấn
chỉnh việc thực hiện quy định về mức lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam
và bằng đô la Mỹ của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Hà Nội
2011.
42. NHNN Việt Nam, Công văn số 8839/NHNN-TTGSNH1 ngày 14/11/2011
về việc xử lý vi phạm vượt trần lãi suất tại Ngân hàng Phát triển Nhà
TP.HCM (HDBank), Hà Nội 2011.
43. Lê Hoàng Oanh, Bình luận khoa học Luật cạnh tranh, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội 2005.
44. Nguyễn Như Phát và Bùi Nguyên Khánh, Tiến tới xây dựng pháp luật về
cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2001.
45. Nguyễn Như Phát, Trần Đình Hảo, Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh
tranh hiện nay ở Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2001.
46. Quốc hội nước CHXH Việt Nam, Luật các TCTD, Hà Nội 1997.
47. Quốc hội nước CHXH Việt Nam, Bộ luật Hình sự, Hà Nội 1999.
48. Quốc hội nước CHXH Việt Nam, Luật Cạnh tranh, Hà Nội 2004.
49. Quốc hội nước CHXH Việt Nam, Bộ luật Dân sự, Hà Nội 2005.
50. Quốc hội nước CHXH Việt Nam, Luật Sở hữu trí tuệ, Hà Nội 2005.
51. Quốc hội nước CHXH Việt Nam, Luật các TCTD, Hà Nội 2010.
52. Quốc hội nước CHXH Việt Nam, Luật Quảng cáo, Hà Nội 2012.
53. Quốc hội nước CHXH Việt Nam, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội
2012.
54. Quốc hội nước CHXH Việt Nam, Bộ luật Hình sự sửa đổi (được Quốc hội
thông qua ngày 27/11/2015, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015), Hà
Nội 2015.
55. Quốc hội nước CHXH Việt Nam, Luật Các Tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ
sung, Hà Nội 2017.
56. Quốc hội nước CHXH Việt Nam, Luật Cạnh tranh, Hà Nội 2018.
57. Nguyễn Ngọc Sơn, Quyền tự do kinh doanh và bảo vệ cạnh tranh lành
mạnh” Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Hà Nội 2012.
58. Nguyễn Trọng Tài, Cạnh tranh của các ngân hàng thương mại - nhìn từ góc
độ lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng, Hà Nội 2008.
59. Nguyễn Trọng Tài, Nguyên nhân và những hệ quả của tình trạng cạnh tranh
không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu
châu Âu, Hà Nội 2012.
60. Lê Anh Tuấn, Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn: Điều chỉnh theo pháp luật
cạnh tranh hiện hành, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Hà Nội 2007.
61. Nguyễn Văn Tuyến, Áp dụng Luật cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ ngân
hàng, Tạp chí Luật học, Hà Nội 2006, tr.51-56.
62. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg ngày 24/05/2006 về
việc phê duyệt đề án phát triển ngành ngân hàng đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020, Hà Nội 2006.
63. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 35/2014/QĐ-TTg ngày 12/6/2014 quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan Thanh
tra, giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hà Nội
2014.
64. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Cạnh tranh, NXB Công an
nhân dân, Hà Nội 2011.
65. Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, Từ điển Luật học, NXB Tư pháp và Nxb
Từ điển bách khoa, Hà Nội 2006.
66. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb Chính trị, Hà Nội 1998.
67. Viện Nhà nước và Pháp luật, Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở
Việt Nam hiện nay, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2000.