BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
------------------------
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
PHAN THỊ NỮ
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
GIẢM NGHÈO Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Chính sách Công
Mã ngành: 603114
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN TRỌNG HOÀI
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
------------------------
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
PHAN THỊ NỮ
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
GIẢM NGHÈO Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Chính sách Công
Mã ngành: 603114
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN TRỌNG HOÀI
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện. Các đoạn trích dẫn và số
liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi
hiểu biết của tôi. Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học
Kinh tế TP. Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright.
Tác giả
Phan Thị Nữ
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................................. i
MỤC LỤC ........................................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................................... iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ ................................................................... v
TÓM TẮT ........................................................................................................................... vi
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ............................................................................................... 1
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .................................. 3
2.1. Khái niệm về đói nghèo ........................................................................................ 3
2.2. Các phương pháp xác định nghèo .......................................................................... 3
2.2.1. Phương pháp chi tiêu ...................................................................................... 3
2.2.2. Phương pháp thu nhập .................................................................................... 4
2.2.3. Phương pháp xếp loại của địa phương ........................................................... 4
2.2.4. Phương pháp vẽ bản đồ nghèo đói ................................................................. 4
2.3. Lý thuyết về thu nhập và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ............................. 5
2.4. Lý thuyết về vòng xoáy nghèo đói ......................................................................... 6
2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến mức sống của hộ nghèo ............................................. 9
2.5.1. Vai trò của tín dụng đối với giảm nghèo ...................................................... 10
2.5.2. Các yếu tố về nhân khẩu học………………………………………………..11
2.5.3. Tình trạng việc làm và giáo dục của hộ ........................................................ 12
2.5.4. Năng lực sản xuất của hộ ............................................................................. 12
2.5.5. Các điều kiện bên ngoài ................................................................................ 13
2.5.6. Đặc điểm dân tộc .......................................................................................... 13
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ TỔNG QUAN VỀ .................... 15
THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG NÔNG THÔN VIỆT NAM .............................................. 15
3.1. Tiêu chí xác định nghèo ........................................................................................... 15
3.2. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................... 15
3.2.1. Các phương pháp được sử dụng trong các nghiên cứu trước ...................... 15
3.2.2.Phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) .............................................. 16
3.2.3. Kết hợp phương pháp Khác biệt trong khác biệt với hồi qui OLS ............... 17
3.3. Mô tả dữ liệu ............................................................................................................ 21
iii
3.4. Đặc điểm về thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam ............................................ 22
3.4.1. Khái niệm về tín dụng và tín dụng cho người nghèo ........................................ 22
3.4.2. Đặc điểm của thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam .................................... 23
3.4.3. Mục tiêu của tín dụng cho người nghèo ........................................................... 26
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ....................................................................... 27
4.1. Tác động của tín dụng đối với thu nhập của hộ nghèo ............................................ 27
4.2. Tác động của tín dụng đến chi tiêu đời sống hộ nghèo............................................ 30
4.3. So sánh tác động của tín dụng chính thức và tín dụng phi chính thức lên mức sống
của người nghèo .............................................................................................................. 33
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH .................................................. 36
5.1. Kết luận .................................................................................................................... 36
5.2. Gợi ý chính sách ...................................................................................................... 37
5.3. Hạn chế của nghiên cứu ........................................................................................... 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................ 42
PHỤ LỤC ........................................................................................................................ 445
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Australian Agency of : Cơ quan Phát triển Quốc tế Australia AAID
International
Development
: Bộ Lao động và Thương binh xã hội Bộ LĐTBXH
Difference In Difference : Khác biệt trong khác biệt (khác biệt kép) DID
International Food Policy : Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực IFPRI
Research Institute Quốc tế
Institute of Development : Viện Nghiên cứu Phát triển IDS
Studies
: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Ngân hàng NNPTNT
nông thôn
: Ngân hàng Chính sách xã hội Ngân hàng CSXH
Viet Nam Household : Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam VHLSS 2004
Living Standard Survey năm 2004
Viet Nam Household : Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam VHLSS 2006
Living Standard Survey năm 2006
United Nations : Chương trình phát triển Liên hiệp quốc UNDP
Development Programme
: Đồng đô la Mỹ USD
World Bank : Ngân hàng thế giới WB
v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Danh mục các bảng biểu
Bảng 1. Nguồn tín dụng nông thôn ……………………………………………… 23
Bảng 2. Thông tin về đặc điểm của hai nhóm hộ vào năm 2004 ……. …..............33
Bảng 3. Tác động của tín dụng đối với thu nhập thực của hộ nghèo…….………. 35
Bảng 4. Tác động của tín dụng đối với chi tiêu cho đời sống của hộ nghèo ..…... .39
Bảng 5. Tác động của tín dụng chính thức và tín dụng phi chính thức lên
thu nhập và chi tiêu thực bình quân đầu người của hộ nghèo……………..43
Danh mục các sơ đồ
Sơ đồ 1: Vòng xoáy nghèo đói……………………………………………………..9
Sơ đồ 2: Phá vỡ vòng xoáy nghèo đói bằng trợ cấp tín dụng……………………..10
Sơ đồ 3: Phá vỡ vòng xoáy nghèo đói bằng trợ cấp y tế ………………………….11
Sơ đồ 4: Vòng xoáy nghèo đói của quốc gia………………………………………11
Sơ đồ 5: Các nhân tố ảnh hưởng đến mức sống của hộ nghèo…………………….19
vi
TÓM TẮT
Nghiên cứu này đánh giá tác động của tín dụng đối với giảm nghèo ở nông thôn Việt
Nam dựa trên số liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004 và 2006. Điểm đặc biệt so
với những nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa tín dụng và giảm nghèo là nghiên
cứu này sử dụng phương khác biệt trong khác biệt (DID) kết hợp với hồi qui OLS, nhờ vậy
phản ánh chính xác hơn tác động của tín dụng đối với mức sống của người nghèo. Kết quả
nghiên cứu chỉ ra rằng tín dụng có tác động tích cực lên mức sống của người nghèo thông
qua làm tăng chi tiêu cho đời sống của họ. Tuy nhiên, tín dụng không có tác động cải thiện
thu nhập cho người nghèo vì vậy có thể sẽ không giúp người nghèo thoát nghèo một cách
bền vững. Hơn nữa, khả năng tiếp cận tín dụng của người nghèo ở nông thôn Việt Nam
cũng rất thấp. Tín dụng chính thức mặc dù có giá rẻ nhưng rất khó đến được với người
nghèo do những thủ tục rườm rà và khoảng cách xa so với người nghèo. Ngoài ra, nghiên
cứu cũng tìm thấy tác động tích cực của giáo dục và đa dạng hóa việc làm đến mức sống
của hộ nghèo. Dựa trên những kết luận đó, đề tài đã đề xuất một số gợi ý chính sách để cải
thiện mức sống cho người nghèo ở nông thôn Việt Nam, bao gồm: Đơn giản hóa thủ tục
vay vốn và mở rộng mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng; điều chỉnh
chính sách lãi suất ở nông thôn; kết hợp cho vay vốn và hướng dẫn đầu tư sản xuất và một
số chính sách khác.
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Việt Nam được xem là một trong số ít nước có thành tựu đáng khích lệ về xóa đói
giảm nghèo. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (dựa trên chuẩn nghèo quốc tế 1
USD/người/ngày), trong vòng 12 năm từ 1993 đến 2004, Việt Nam đã đưa hơn 40% dân số
thoát khỏi nghèo đói. Con số này có thể khác đi nếu như sử dụng các thước đo về nghèo
đói khác nhau, ngay cả như vậy, đây cũng là một kết quả mà rất ít nước có thể đạt được. Để
đạt được thành quả này, nhiều chương trình hỗ trợ xóa đói giảm nghèo đã được thực hiện
tại Việt Nam, trong đó có các chương trình tín dụng. Tuy nhiên, có nhiều quan điểm khác
nhau về chính sách tín dụng cho người nghèo. Một quan điểm phổ biến cho rằng hỗ trợ tín
dụng cho người nghèo là cách tốt để giúp họ thoát khỏi nghèo đói. Nhưng cũng có quan
điểm ngược lại cho rằng, tín dụng ưu đãi cho người nghèo không phải là cách tốt để giảm
nghèo mà thậm chí sẽ làm cho người nghèo lún sâu vào nợ nần nếu họ không biết cách sử
dụng hiệu quả. Vậy, thực tế chính sách tín dụng có tác động như thế nào đến việc nâng cao
mức sống cho người nghèo ở nông thôn Việt Nam? Để trả lời câu hỏi này, tôi thực hiện đề
tài: “Đánh giá tác động của tín dụng đối với giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam” dựa
trên dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình 2004 và 2006.
Có một sự thừa nhận rộng rãi rằng cung cấp tín dụng cho người nghèo là một cách
để giúp người nghèo tăng cường thế lực và nâng cao mức sống. Mối quan hệ tích cực giữa
tín dụng và giảm nghèo đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu: World Bank (2004),
Khandker (2006), Mordutch (2006), Nguyễn Trọng Hoài (2006), Ryu Fukui và Gilberto M.
Llanto (2003): Tín dụng làm tăng tín tự chủ cho hộ nghèo và giảm tác động của những bất
ổn kinh tế. Những nghiên cứu của Margaret Madajewicz (1999) ở BangLades và James
Copestake, Sonia Blalotra (2000) ở Zambia nhận thấy việc cho người nghèo vay vốn sẽ
giúp họ tự làm việc cho chính mình, và có vốn để thực hiện những hoạt động kinh doanh
nhỏ mà đây là cơ hội để họ thoát nghèo.
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về vai trò của tín dụng đối với giảm nghèo ở nhiều
nước khác nhau nhưng cho đến nay chưa có một đánh giá đầy đủ nào về tác động của tín
dụng đối với giảm nghèo ở Việt Nam. Hơn nữa, các nghiên cứu trước đây chủ yếu dựa vào
nghiên cứu tình huống hoặc phương pháp hồi qui đa biến thông thường và dữ liệu chéo.
2
Theo đó, kết quả được rút ra dựa vào sự so sánh những hộ có vay với hộ không vay vốn tại
cùng một thời điểm nhất định nào đó sẽ có những hạn chế nhất định, do có thể có sự khác
nhau trong nội tại năng lực sản xuất giữa các hộ.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tác động của tín dụng đối với giảm
nghèo dựa trên dữ liệu bảng và phương pháp Khác biệt trong khác biệt kết hợp với hồi quy
OLS. Phương pháp này có ưu điểm là tách bạch được tác động của tín dụng với tác động
của các yếu tố khác lên mức sống của hộ nghèo, vừa phản ánh được những khác biệt về
mặt thời gian (trước và sau khi vay vốn) vừa phản ánh được sự khác biệt chéo (giữa hộ có
vay và hộ không vay).
Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm tìm ra mối quan hệ giữa tín dụng và mức sống
của người nghèo ở nông thôn Việt Nam dựa trên những cơ sở và bằng chứng thuyết phục.
Trên cơ sở đó, đề xuất những gợi ý chính sách giúp cải thiện đời sống cho người nghèo ở
nông thôn Việt Nam.
Vì nghèo ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở nông thôn do đó đề tài chỉ nghiên cứu tác
động của tín dụng đến mức sống của hộ nghèo ở nông thôn. Dữ liệu mà chúng tôi sử dụng
để phân tích là hai bộ dữ liệu Điều tra mức sống hộ gia đình 2004 và Điều tra mức sống hộ
gia đình 2006.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tín dụng có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao
mức sống cho người nghèo. Tuy nhiên, tác động của tín dụng chỉ mới dừng lại ở việc cải
thiện chi tiêu đời sống cho người nghèo mà chưa tạo ra được những nguồn thu nhập bền
vững. Hơn nữa, người nghèo ở nông thôn Việt Nam rất khó tiếp cận với các nguồn tín
dụng, đặc biệt là tín dụng chính thức. Chính vì vậy, cần thiết phải có những chính sách để
phát triển thị trường tín dụng nông thôn theo hướng hỗ trợ cho người nghèo.
Báo cáo được chia làm bốn chương. Chương I giới thiệu vấn đề chính sách, câu hỏi,
phương pháp, mục tiêu nghiên cứu. Chương II trình bày cơ sở lý luận và phương pháp
nghiên cứu được sử dụng trong luận văn, đặc biệt chú trọng đến phương pháp Khác biệt
trong khác biệt. Chương III phản ánh kết quả nghiên cứu về tác động của tín dụng đến mức
sống của người nghèo trên hai khía cạnh thu nhập và chi tiêu đời sống. Chương IV tóm tắt
những phát hiện của luận văn và đề xuất một số gợi ý chính sách để cải thiện đời sống cho
người nghèo.
3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Khái niệm về đói nghèo
Nghèo thường được định nghĩa như một mức thu nhập hay chi tiêu không mang lại
cuộc sống vừa đủ cho một người hay một gia đình để họ có thể tham gia đầy đủ vào cuộc
sống cộng đồng. Nhưng cho đến nay, không có một định nghĩa duy nhất về nghèo. Theo
quan điểm của nhà kinh tế học người Mỹ, Galbraith thì “Người được cho là nghèo khi mà
thu nhập của họ rơi xuống dưới mức thu nhập bình quân của cộng đồng, ngay cả khi mức
thu nhập đó được cho là thích đáng để tồn tại. Khi đó, họ không thể có những gì mà đa số
cộng đồng xem là cái tối thiểu để có một cuộc sống đúng mức”.
Trong khi đó, khái niệm nghèo được đưa ra tại hội nghị Thượng đỉnh thế giới và phát
triển xã hội được tổ chức tại Đan Mạch vào năm 1995 cho rằng: “Nghèo là những người có
thu nhập bình quân dưới một đô la một ngày cho một người.” Khái niệm này cụ thể hơn và
dễ xác định tuy nhiên, có thể phù hợp với một số quốc gia nhưng một số khác thì không.
Nghèo đói theo quan điểm của Liên Hiệp Quốc là “Không có khả năng tham gia vào
cuộc sống quốc gia, đặc biệt là về mặt kinh tế” (Liên Hiệp quốc, 1995).
Theo Ngân hàng thế giới, “Nghèo là tình trạng thiếu thốn nhiều phương diện, thu
nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong
những lúc khó khăn, dễ bị tổn thương trước những hoàn cảnh bất lợi, ít có khả năng truyền
đạt nhu cầu đến những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra
quyết định, cảm giác bị xỉ nhục…” (Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004).
Mặc dù nghèo được thể hiện ở nhiều khía cạnh như vậy và không có một khái niệm
duy nhất về nghèo nhưng chung quy, nghèo thường thể hiện trên ba khía cạnh chính: có thu
nhập thấp hơn mức thu nhập bình quân của dân cư, có mức sống không đảm bảo những
nhu cầu tối thiểu để tồn tại và không có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển của xã hội.
2.2. Các phương pháp xác định nghèo
2.2.1. Phương pháp chi tiêu
Phương pháp này xác định các hộ nghèo dựa trên chi phí cho một giỏ tiêu dùng bao
gồm lương thực và phi lương thực, trong đó chi tiêu cho lương thực phải đảm bảo 2100
calo mỗi người/ngày. Các hộ được cho là nghèo nếu như mức tiêu dùng không đạt được
4
mức này. Đây là phương pháp được Tổng cục thống kê sử dụng để xác định hộ nghèo trong
các cuộc điều tra mức sống dân cư và điều tra mức sống hộ gia đình.
2.2.2. Phương pháp thu nhập
Đây là phương pháp xác định hộ nghèo dựa trên tiêu chuẩn về một mức thu nhập tối
thiểu đảm bảo cho họ có một cuộc sống tối thiểu. Theo chuẩn nghèo thế giới, một người có
mức thu nhập thấp hơn 1 USD/ngày được xem là nghèo (chuẩn nghèo 1 đô la). Chuẩn
nghèo theo thu nhập ở mỗi quốc gia lại khác nhau, tùy theo mức thu nhập trung bình của
quốc gia đó. Ở Việt Nam, chuẩn nghèo theo thu nhập mới nhất do Bộ lao động và thương
binh xã hội (LĐTBXH) ban hành áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 là 350 nghìn
đồng/người/tháng ở nông thôn và 450 nghìn đồng/người/tháng ở thành thị.
Tuy nhiên, phương pháp này ít được áp dụng đồng nhất ở các địa phương. Bởi vì rất
khó để lấy được thông tin chính xác về thu nhập của các hộ gia đình. Thông thường người
dân có tâm lý khai thấp thu nhập của mình khi được hỏi. Hơn nữa, việc tính toán đầy đủ
các nguồn thu nhập của người dân là rất khó khăn.
2.2.3. Phương pháp xếp loại của địa phương
Đây là phương pháp được Bộ LĐTBXH sử dụng để lập danh sách các hộ nghèo đói
theo địa phương dựa trên thông tin được cung cấp từ chính quyền địa phương, nhất là chính
quyền cấp thôn, bản. Dựa trên một số tiêu chí để xác định hộ nghèo do Bộ LĐTBXH cung
cấp, chính quyền các thôn sẽ tổ chức bình bầu xem những hộ nào trong thôn là nghèo, sau
đó lên danh sách và gửi cho cấp xã, cấp xã sẽ xem xét và trình lên Phòng LĐTBXH cấp
huyện để cấp sổ hộ nghèo cho hộ đó. Thông tin này được sử dụng để xác định những hộ
nghèo nhất được hưởng các chương trình trợ cấp đặc biệt như: tín dụng ưu đãi, thẻ khám
chữa bệnh miễn phí, nước sạch, trợ cấp nhà ở… Vì số tiền trợ cấp thường ít nên mỗi lần
như vậy các thôn phải bình bầu xem ai sẽ là người đáng được hưởng trợ cấp, do vậy danh
sách các hộ nghèo có thể được thay đổi mỗi khi có các chương trình trợ cấp mới.
2.2.4. Phương pháp vẽ bản đồ nghèo đói
Phương pháp này do Nicholas Minot, Bob Baulch, Micheal Epprecht (IFPRI) phối
hợp với Nhóm tác chiến lập bản đồ nghèo đói liên bộ (2003) sử dụng để ước lượng các chỉ
số nghèo đói ở cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh. Phương pháp này kết hợp giữa phỏng vấn
sâu của điều tra hộ với phạm vi rộng để tính mức chi tiêu dự báo của hộ. Mức chi tiêu dự
5
báo được dùng để phản ánh mức sống của hộ và so sánh mức độ nghèo đói giữa các vùng
khác nhau.
2.3. Lý thuyết về thu nhập và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập
Có nhiều lý thuyết kinh tế giải thích thu nhập được tạo ra từ đâu và yếu tố nào có
ảnh hưởng quyết định đến thu nhập của người lao động, hộ gia đình hay các doanh nghiệp.
Lý thuyết sản xuất của trường phái Kinh tế học cổ điển cho rằng có ba yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến thu nhập là đất đai, lao động và vốn vật chất. Tuy nhiên, các nhà kinh tế học
Tân cổ điển cho rằng những yếu tố này chỉ là điểm đầu của câu chuyện, họ đã đưa ra Lý
thuyết vốn nhân lực, Lý thuyết Thu nhập và sự phân biệt đối xử, Lý thuyết phát tín hiệu…
để giải thích cho nguồn gốc sâu xa của sự khác biệt về thu nhập giữa các cá nhân. Đó là do
những yếu tố như: Đặc thù của nghề nghiệp, vốn nhân lực, năng lực tự nhiên, trình độ giáo
dục, sự phân biệt đối xử…
- Đặc thù của nghề nghiệp: Trong chừng mực nào đó, sự khác nhau về thu nhập
giữa các cá nhân là để đền bù cho những đặc trưng của nghề nghiệp. Với những yếu tố
khác không đổi, người lao động thực hiện những công việc nặng nhọc, nguy hiểm sẽ được
trả lương cao hơn những người có công việc dễ dàng, nhẹ nhàng.
- Vốn nhân lực: Là sự tích lũy các khoản đầu tư vào con người. Vốn nhân lực quan
trọng nhất là giáo dục. Đầu tư vào vốn nhân lực làm tăng năng suất lao động vì vậy những
người có mức trang bị vốn nhân lực cao hơn sẽ nhận được mức thu nhập cao hơn những
người có mức trang bị vốn nhân lực thấp.
- Năng lực tự nhiên: Mỗi người sinh ra có thể có những năng lực bẩm sinh khác
nhau và nỗ lực, cơ hội của mỗi cá nhân để phát triển năng lực đó cũng khác nhau. Điều này
có thể giải thích cho phần lớn sự khác biệt thu nhập giữa mỗi cá nhân mà những nhân tố
khác không giải thích được.
- Lý thuyết về phân biệt đối xử cho rằng một sự khác biệt về tiền lương cũng có thể
do phân biệt chủng tộc, giới tính hoặc một số nhân tố khác. Tuy nhiên, xác định mức độ
phân biệt là việc làm khó khăn vì người ta loại trừ những khác biệt về vốn nhân lực và
những đặc trưng của công việc.
- Lý thuyết phát tín hiệu giáo dục cho rằng những người có trình độ cao thường có
thu nhập cao hơn không phải do giáo dục làm tăng năng suất lao động mà do người lao
động sử dụng bằng cấp như một tín hiệu để phân biệt người có năng lực cao với những
6
người có năng lực thấp hơn. Người có trình độ cao là những người có năng lực bẩm sinh
cao hơn vì vậy các doanh nghiệp sẽ thuê họ.
- Vốn xã hội (social capital): Vốn xã hội được xem là sự tin cẩn giữa các thành viên
khác nhau trong cùng một cộng đồng, sự tuân theo lề thói hay phong tục tập quán của cộng
đồng ấy (Bourdieu, 1983). Vốn xã hội có thể tạo thành một yếu tố sản xuất độc lập. Trên
cấp độ vĩ mô, các nghiên cứu thường xem xét vai trò của vốn xã hội đối với tăng trưởng.
Trên cấp độ vi mô, vốn xã hội được xem như là lợi ích của sự hợp tác và có vai trò quan
trọng trong thu nhập của từng cá nhân, hộ gia đình. Những người có mối quan hệ xã hội tốt,
được người khác tin cậy có thể có việc làm tốt hơn, dễ dàng tiếp cận với các nguồn lực vì
vậy có cơ hội nhận thu nhập cao hơn những người khác.
Như vậy, thu nhập là một hàm đa biến phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau,
Y=f(x1, x2, x3… xn). Dạng hàm sản xuất được sử dụng phổ biến để phân tích các nhân tố
(cid:14)
D x D (cid:14) 1
i
(cid:79) i
D 2
X
.
X
.
X
...
ảnh hưởng đến thu nhập là hàm sản xuất Cobb – Douglas:
(cid:68) 1 1
(cid:68) 2 2
(cid:68) 3 3
(cid:68) (cid:69) X e .n i n
Y= A.
Trong đó, Y là thu nhập, A là hằng số; Xi (i=1, n ) là các nhân tố ảnh hưởng đến thu
nhập của hộ như: vốn, lao động, đất đai, trình độ giáo dục…, e là các yếu tố khác ngoài Xi.
1
2
n
X X X (cid:14) ... (cid:14) (cid:14) Ngoài ra, dạng hàm bán logarit: LN(Y)= 0 (cid:14) (cid:69) (cid:69) 1 (cid:69) 2 (cid:69) n + i(cid:72) (Mincer,1974)
1
2
n
i(cid:72) cũng được sử
X X X + (cid:14) ... (cid:14) (cid:14) hoặc dạng hàm tuyến tính đa biến: Y= 0 (cid:14) (cid:69) (cid:69) 1 (cid:69) 2 (cid:69) n
dụng khá rộng rãi để ước lượng thu nhập và chi tiêu của cá nhân và hộ gia đình.
2.4. Lý thuyết về vòng xoáy nghèo đói
Vòng xoáy nghèo đói được định nghĩa là sự tiếp diễn dường như không kết thúc của
nghèo đói. Là tập hợp những nhân tố, những sự kiện mà nghèo mỗi khi đã xuất hiện thì sẽ
tiếp tục từ thế hệ này sang thế hệ khác trừ khi có một sự can thiệp từ bên ngoài (Bussiness
Dictionary).
7
Sơ đồ 1. Vòng xoáy nghèo đói1
Sơ đồ 1 mô tả vòng xoáy nghèo đói. Trong đó, người nghèo bị mắc kẹt trong một
loạt các tình huống xã hội bất lợi: thu nhập thấp, giáo dục thấp, thiếu thốn nhà ở, sức khỏe
yếu kém… Thu nhập thấp làm giảm khả năng tiếp cận nguồn lực như giáo dục, tín dụng,
không có đủ lương thực và nước sạch cho sinh hoạt… vì thế không có đủ điều kiện để cải
thiện thu nhập, họ rơi vào tình trạng đói nghèo, dẫn đến bệnh tật, suy dinh dưỡng và chết
chóc; kết quả là kiệt quệ sức lao động và dẫn đến kinh tế gia đình càng suy giảm hơn, thu
nhập càng thấp hơn.
Vấn đề là làm thế nào để giúp người nghèo thoát khỏi vòng luẩn quẩn này? Có thể
cung cấp cho họ những phương tiện có giá trị để giúp họ thoát khỏi sự bần cùng. Quan
trọng nhất là những khoản vay tín dụng, nó giúp người nghèo có vốn để tự sản xuất, nhờ đó
đảm bảo tốt hơn những nhu cầu cơ bản như lương thực, nước sạch…
1 Tham khảo từ nguồn: CRNA Ministries, Dự án Sea to Sea, Ending the Cycle of Poverty
8
Sơ đồ 2. Phá vỡ vòng xoáy nghèo đói bằng các khoản tín dụng1
Cung cấp thuốc men hoặc dịch vụ khám chữa bệnh cho người nghèo sẽ giúp họ có
sức khỏe tốt hơn, khỏe mạnh hơn để làm việc và nuôi sống bản thân, vượt qua khỏi vòng
luẩn quẩn của bệnh tật, nợ nần và nghèo đói.
Sơ đồ 3. Phá vỡ vòng xoáy nghèo đói bằng trợ cấp y tế1
1 Tham khảo từ nguồn: CRNA Ministries, Dự án Sea to Sea, Ending the Cycle of Poverty
9
Ngoài ra, vòng xoáy này có thể được mở rộng thành một vòng xoáy nghèo đói ở
cấp độ quốc gia. Ở những nước nghèo, hộ nghèo không chỉ không được tiếp cận với lương
thực hay nước sạch mà còn bị hạn chế hoặc không có tiền trang trải chi phí giáo dục cho
con cái. Vì thế trình độ giáo dục ngày càng thấp, dẫn đến thiếu cơ hội làm việc, dẫn đến các
hoạt động tội phạm, nghiện ngập, kiệt quệ sức khỏe, chết sớm, tan vỡ gia đình, và dẫn đến
cả tương lai ảm đạm cho thế hệ tương lai…
Sơ đồ 4. Vòng xoáy nghèo đói ở những quốc gia thu nhập thấp1
Có thể phá vỡ vòng luẩn quẩn này bằng cách giúp người nghèo có được kiến thức
và công nghệ mới ứng dụng vào sản xuất, hoặc cung cấp cho họ các khoản tín dụng nhỏ…
Ngoài ra, đảm bảo sức khỏe và giáo dục cho trẻ em sẽ giúp cải thiện chất lượng và năng
suất lao động trong tương lai, nhờ đó vượt qua đói nghèo.
2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến mức sống của hộ nghèo
Mức sống của người nghèo được phản ánh trên nhiều khía cạnh như thu nhập, chi
tiêu đời sống, mức độ tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục… Các nghiên cứu thực
1 Tham khảo từ nguồn: CRNA Ministries, Dự án Sea to Sea, Ending the Cycle of Poverty
10
nghiệm về nghèo đói đã phân tích và chỉ ra các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức sống của
người nghèo ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó tín dụng là một yếu tố quan trọng.
2.5.1. Vai trò của tín dụng đối với giảm nghèo
Vốn là đầu vào quan trọng cho quá trình sản xuất, chính vì vậy thiếu vốn là một trong
những nguyên nhân rơi vào nghèo, làm cho thu nhập và chi tiêu của người nghèo bị hạn
chế. Có nhiều vốn sản xuất và dễ dàng tiếp cận được các nguồn vốn sẽ tạo cơ hội nâng cao
mức sống cho người nghèo.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tiếp cận tín dụng là điều kiện quan trọng để người
nghèo tăng cường đầu tư cho sản xuất, trang trải chi phí học hành cho con cái… Nhờ đó,
nâng cao thu nhập và có cơ hội thoát nghèo bền vững. Ngân hàng thế giới (1995) đã
khuyến cáo rằng cải thiện thị trường tín dụng là một chính sách quan trọng để giảm nghèo
đói ở Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, tín dụng ở nông thôn Việt Nam vẫn rất kém phát
triển.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tín dụng và giảm nghèo ở một số quốc gia Châu Phi,
các tác giả Yasmine F. Nader (2007), Shahidur R. Khandker (2005), Jonathan Morduch,
Barbara Haley (2002) đã khẳng định vai trò quan trọng của việc cấp tín dụng với những
điều kiện ưu đãi cho người nghèo, đó là phương tiện để giúp họ thoát nghèo. Ryu Fukui,
Gilberto M. Llanto (2003): Vai trò của hoạt động tín dụng cho người nghèo thể hiện qua sự
đóng góp của nó vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm tác động của sự bất ổn kinh tế và
tăng tính tự chủ cho các hộ nghèo. Margaret Madajewicz – Colombia University (1999) và
James Copestake, Sonia Blalotra (2000) nhận thấy việc cho người nghèo vay vốn sẽ giúp
họ tự làm việc cho chính mình, và có vốn để thực hiện những hoạt động kinh doanh nhỏ,
đó chính là cơ hội để họ thoát nghèo.
Một số nghiên cứu khác ở Việt Nam như Phạm Vũ Lửa Hạ (2003), Nguyễn Trọng
Hoài (2005) cũng khẳng định rằng tín dụng và tiếp cận tín dụng là điều kiện quan trọng
quyết định đến khả năng nâng cao mức sống và thoát khỏi đói nghèo của các hộ nghèo.
Tín dụng vi mô cũng được nhiều nghiên cứu khẳng định có vai trò tích cực trong việc
giảm nghèo, đặc biệt ở nông thôn. Sudan Jhonson and Ben Rogaly (1997), Hege Gulli
(1998), Beatriz Amendáris de Aghion, Jonathan Morduch (2005) khẳng định rằng tài chính
vi mô giúp giảm nghèo, đặc biệt là những người nghèo nhất và dễ tổn thương nhất thông
qua việc cung cấp tín dụng dễ dàng kết hợp với những hướng dẫn về cách thức sử dụng.
11
Nhờ đó giúp người nghèo tăng cường được vị thế của mình trong xã hội, phát triển các hoạt
động sản xuất kinh doanh nhỏ, kể cả sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập và giảm khả năng
dễ tổn thương.
Những người bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ tin rằng tín dụng cho người nghèo làm
tăng quyền lợi cho phụ nữ bởi vì nó thúc đẩy phát triển đồng thời với việc loại bỏ bất bình
đẳng nam nữ.
Nhìn chung, tín dụng cho người nghèo được ủng hộ bởi các chuyên gia kinh tế vì nó
thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong dài hạn ở các vùng khó khăn.
2.5.2. Các yếu tố về nhân khẩu học
Số nhân khẩu trong hộ: Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004 chỉ ra rằng những hộ gia
đình càng đông người thì thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người càng giảm xuống.
Dorter Verner (2005), Dự án Diễn đàn miền núi (2005), Nguyễn Trọng Hoài (2005) cũng
có kết luận tương tự về mối quan hệ nghịch biến giữa số nhân khẩu trong hộ và phúc lợi
của người nghèo.
Tỷ lệ phụ thuộc: Tỷ lệ phụ thuộc là số người ăn theo trên một lao động trong hộ. Các
nghiên cứu về nghèo đói của Ngân hàng thế giới và các chuyên gia kinh tế phát triển đều
nhất trí rằng tỷ lệ phụ thuộc là một yếu tố quan trọng quyết định sự sung túc hay nghèo khó
của các hộ gia đình ở các địa phương. Tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì phúc lợi mà mỗi người
trong hộ nhận được càng thấp, do một người lao động phải nuôi sống nhiều người hơn. Đặc
biệt là những hộ có nhiều trẻ em sẽ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn những
hộ có ít trẻ em.
Giới tính của chủ hộ: Có những quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa giới
tính của chủ hộ và nghèo đói. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những hộ có chủ hộ là nam
thường có thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người cao hơn hộ có chủ hộ là nữ. Những hộ
gia đình mà vợ (hoặc chồng) của chủ hộ bị chết hay li dị có mức thu nhập và chi tiêu đầu
người thấp hơn những hộ có đầy đủ cả vợ và chồng. Tuy nhiên, theo đánh giá của UNDP
(1995), ở Việt Nam, những hộ do phụ nữ làm chủ hộ không nghèo hơn so với những hộ do
nam giới làm chủ.
12
2.5.3. Tình trạng việc làm và giáo dục của hộ
Những hộ gia đình có nhiều người có trình độ cao có khả năng có thu nhập cao hơn
những hộ khác do họ có thể tiếp cận được những công việc được trả lương cao hơn. Baulch
và McCulloch (1998) đã nghiên cứu về nghèo đói ở Pakistan trong năm năm và kết luận
rằng trình độ giáo dục cao hơn, đặc biệt là giáo dục phổ thông làm tăng khả năng thoát
nghèo của các hộ. World Bank (2004) cho rằng đầu tư vào giáo dục là cách tốt nhất để
người nghèo thoát nghèo một cách bền vững. Người nghèo có trình độ cao hơn không chỉ
có khả năng sản xuất tốt hơn mà có thể dễ dàng chuyển đổi nghề nghiệp hơn nếu như có
một biến cố nào đó xảy ra với công việc của họ.
Dorter Verner (2005), R.Khandker (2009) chỉ ra rằng những hộ gia đình có người
làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp hay làm việc hưởng lương sẽ có mức sống cao hơn
những hộ chỉ làm nông nghiệp. Krishna (2004) theo dõi việc rơi vào nghèo và thoát nghèo
ở 35 ngôi làng ở vùng Rajashthan, Ấn Độ và kết luận rằng sự đa dạng hóa thu nhập và khả
năng tiếp cận các việc làm công ăn lương (kể cả việc làm không thường xuyên) sẽ tăng khả
năng thoát nghèo của người dân.
Nguyễn Trọng Hoài (2005) nghiên cứu về nghèo đói ở các tỉnh Đông Nam Bộ đã kết
luận yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến phúc lợi của hộ là việc làm. Một hộ gia đình có việc
làm chi tiêu nhiều hơn hộ không có việc làm và một hộ có việc làm thuần nông có mức chi
tiêu bình quân đầu người thấp hơn hộ có việc làm phi nông nghiệp.
Chứng tỏ có một sự nhất trí cao giữa các nghiên cứu rằng việc làm là một yếu tố quan
trọng có ảnh hưởng đến phúc lợi của người nghèo và việc làm phi nông nghiệp là cơ hội để
họ thoát nghèo.
2.5.4. Năng lực sản xuất của hộ
Đất đai: Vì đa số người nghèo ở Việt Nam sống ở nông thôn và phụ thuộc rất lớn vào
sản xuất nông nghiệp. Do đó đất đai là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập,
chi tiêu cũng như những cơ hội cải thiện phúc lợi khác của người nghèo.
Báo cáo tổng hợp về đánh giá nghèo đói ở Việt Nam có sự tham gia của người dân
(1999) đã chỉ ra rằng có đủ đất đai tương đối tốt để sản xuất là cơ sở để hộ nghèo cải thiện
cuộc sống. Những hộ gia đình có đất đai tốt hơn (độ dốc thấp, gần gủi với nhà ở, có hệ
thống tưới tiêu tốt và không nhiễm mặn) sẽ khấm khá hơn những hộ khác. Những hộ sở
13
hữu nhiều đất đai có thể đa dạng hóa loại cây trồng, nhờ đó cải thiện mức sống tốt hơn
những hộ khác.
R. Khandker (2009), GayaTri Datar (2009), Nguyễn Trọng Hoài (2005) cũng khẳng
định diện tích đất đai và khả năng tiếp cận đất đai có ảnh hưởng cùng chiều tới mức thu
nhập và chi tiêu của hộ nghèo.
Tư liệu sản xuất: Đối với các hộ nghèo ở nông thôn, gia súc (trâu, bò, ngựa, lợn
nái…) là một phần quan trọng của tư liệu sản xuất vì nó cung cấp sức cày bừa, kéo và phân
bón phục vụ sản xuất. Ngoài ra, lợn nái, bò cái… cung cấp con giống cho chăn nuôi của hộ
gia đình.
2.5.5. Các điều kiện bên ngoài
Điều kiện địa lý, giao thông, khoảng cách đến khu vực trung tâm có tác động đáng kể đến
mức sống của các hộ gia đình. Báo cáo phát triển Việt Nam, 2004 đã khẳng định rằng
những hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa có mức chi tiêu đầu người thấp hơn những hộ ở
đồng bằng và thành thị. Trong báo cáo “Việt Nam – Đánh giá sự nghèo đói và chiến lược”
(1995), World Bank khẳng định cơ sở hạ tầng là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng tới năng
suất nông nghiệp, gắn liền với sự phát triển việc làm phi nông nghiệp và thúc đẩy sự tham
gia của người nghèo vào nền kinh tế thị trường. Những người dân sống gần cơ sở hạ tầng
có mức sống cao hơn và có khả năng tận dụng những ưu thế của thị trường hơn những hộ ở
xa.
Nicholas Minot, Bob Baulch kết hợp với Nhóm tác chiến lập bản đồ nghèo đói
(2003) cho rằng nghèo đói ở Việt Nam có mối quan hệ chặt chẻ với các yếu tố địa lí như
địa hình, độ dốc, đặc điểm đất đai, khoảng cách từ nơi ở đến trung tâm. Đặc biệt, nghèo đói
ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây nguyên.
2.5.6. Đặc điểm dân tộc
Các nghiên cứu trước chỉ ra rằng các hộ thuộc dân tộc thiểu số có thu nhập thấp hơn
các hộ người Kinh hay người Hoa. Trong điều kiện như nhau, người dân tộc thiểu số có
mức chi tiêu thấp hơn người Kinh và người Hoa 13% (WB, 2004). Bởi vì phần lớn dân tộc
thiểu số ở Việt Nam sống ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng kém phát triển;
ít có điều kiện học hành vì thế kỹ năng ứng dụng kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh cũng rất
kém. Hơn nữa, các hộ dân tộc thiểu số thường có đông con, đất đai ít và không màu mỡ…
14
Tóm lại, dựa vào lý thuyết về thu nhập và những nghiên cứu thực nghiệm về nghèo
đói, có thể chia các nhân tố ảnh hưởng đến phúc lợi của người nghèo thành các cấp độ sau
đây.
- Cấp độ cá nhân: Gồm có trình độ giáo dục, tuổi, giới tính, năng lực tự nhiên, cơ hội và sự
nỗ lực cá nhân…
- Cấp độ hộ gia đình: Qui mô nhân khẩu của hộ, diện tích đất, số lao động, tỷ lệ phụ thuộc,
đặc điểm dân tộc, trang thiết bị sản xuất, nợ...
- Cấp độ vùng: Khoảng cách từ nơi ở đến trung tâm, đặc điểm vùng, giao thông
- Cấp độ chính phủ: Sự hỗ trợ về giáo dục, y tế, tín dụng…
Tuổi
Giới tính
Cấp độ cá nhân
Trình độ
Tình trạng việc làm
Số nhân khẩu
Sơ đồ 5: Các nhân tố ảnh hưởng đến phúc lợi hộ nghèo
Phúc lợi của hộ nghèo Thu nhập
Số lao động
Chi tiêu đời sống
Tỷ lệ phụ thuộc
Cấp độ hộ
Diện tích đất
Sức khỏe
Tiếp cận tín dụng
Thu nhập phi nông nghiệp
Nước sạch
Dân tộc
Cải thiện mức độ tiếp cận giáo dục
Vùng miền sinh sống
Cấp độ vùng
Khoảng cách đến trung tâm
….
Giao thông
Chính sách tín dụng
Bảo hiểm y tế
Cấp độ chính phủ
Trợ cấp về giáo dục
15
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ TỔNG QUAN VỀ
THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG NÔNG THÔN VIỆT NAM
3.1. Tiêu chí xác định nghèo
Nghiên cứu này xác định hộ nghèo dựa trên sự phân loại của chính quyền địa
phương. Những hộ nghèo là những hộ trả lời “Có” đối với câu hỏi “Hộ có được địa phương
xếp vào diện hộ nghèo trong năm hay không?” trong điều tra mức sống hộ gia đình 2004.
Mục đích là nhằm hạn chế sự khác biệt về khả năng được hưởng lợi từ các chính sách khác
ngoài chính sách tín dụng giữa các hộ nghèo.
3.2. Phương pháp nghiên cứu Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng. Sử dụng phương pháp khác biệt
kép (DID) để đánh giá mức độ tác động của tín dụng đối với mức sống của hộ nghèo. Sử
dụng phương pháp thống kê mô tả để phản ánh đặc điểm của hộ nghèo và khả năng tiếp
cận tín dụng của hộ.
3.2.1. Các phương pháp được sử dụng trong các nghiên cứu trước Có nhiều nghiên cứu về nghèo đói cho rằng tín dụng là một yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến mức sống của người nghèo. Tuy nhiên, các nghiên cứu đó đều đánh giá tác
động của tín dụng đối với thu nhập hay chi tiêu của hộ nghèo dựa vào mô hình hồi qui đa
biến thông thường. Mô hình hồi qui OLS thường được các nghiên cứu trước sử dụng là: Y
k
2
1
1
= α+β X +β X +....+β X 2 k
Trong đó, Y là biến phụ thuộc thường thể hiện thu nhập (hoặc logarit của thu nhập)
hay chi tiêu (hoặc logarit của chi tiêu) bình quân đầu người. Các Xi (i=1,k ) là các biến độc
lập giải thích mức độ đóng góp của các yếu tố khác nhau đến thu nhập hay chi tiêu bình
quân đầu người của hộ, tình trạng tín dụng là một trong những biến giải thích đó. Các ước
lượng này thường dựa trên số liệu chéo về thu nhập hay chi tiêu và các đặc điểm khác của
hộ được quan sát tại một thời điểm nào đó. Như vậy, ước lượng này sẽ cho biết tác động
của tín dụng và các yếu tố khác lên thu nhập hay chi tiêu bình quân đầu người của hộ là
iβ .
bao nhiêu thông qua hệ số ước lượng
Tuy nhiên, cách ước lượng này có hạn chế là không tách bạch được tác động của tín
dụng và tác động của những yếu tố khác lên thu nhập của người dân. Do kết quả ước lượng
16
của mô hình đa biến dựa vào so sánh thu nhập hoặc chi tiêu giữa hộ có vay vốn và hộ
không vay vốn tại một thời điểm nhất định. Nhưng có rất nhiều đặc điểm khác nhau trong
nội tại các hộ này nên rất khó để nói rằng đó là tác động do tín dụng đem lại. Chính vì vậy,
đánh giá tác động của chính sách hay các chương trình tín dụng đối với mức sống của
người dân bằng phương pháp hồi qui đa biến thông thường là không chính xác.
3.2.2. Phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) Ngày nay, phương pháp Khác biệt trong khác biệt được sử dụng khá rộng rãi trong
nghiên cứu để đánh giá tác động của một chính sách kinh tế, một phương pháp chữa bệnh
mới, hay một công nghệ mới, chiến lược kinh doanh mới… Để áp dụng được phương pháp
DID, cần phải có số liệu bảng, tức là số liệu phải vừa phản ánh thông tin theo thời gian vừa
phản ánh thông tin chéo của nhiều đối tượng quan sát khác nhau.
Phương pháp này được thực hiện bằng cách chia các đối tượng phân tích thành hai
nhóm, một nhóm được áp dụng chính sách (nhóm tham gia), nhóm còn lại không được áp
dụng chính sách (gọi là nhóm so sánh). Gọi D là biến giả phản ánh nhóm quan sát, D=0: hộ
quan sát thuộc nhóm so sánh, D=1: hộ quan sát thuộc nhóm tham gia.
Một giả định quan trọng của phương pháp này là hai nhóm này phải có đặc điểm
tương tự nhau vào thời điểm trước khi áp dụng chính sách. Do đó đầu ra của hai nhóm này
phải có xu hướng biến thiên giống nhau theo thời gian nếu không có chính sách.
Gọi Y là đầu ra của chính sách (thu nhập, lợi nhuận, …). Với T=0 là trước khi có
chính sách, T=1 là sau khi chính sách. Trước khi áp dụng một chính sách hay chương trình
mới, tiến hành thu thập thông tin về đầu ra (Y) của cả hai nhóm và so sánh xem có sự khác
nhau như thế nào. Sau đó, áp dụng chính sách lên nhóm tham gia và không áp dụng chính
sách lên nhóm so sánh. Khi chương trình kết thúc hoặc sau một thời gian áp dụng nhất
định, thu thập thông tin về đầu ra của hai nhóm này một lần nữa. So sánh sự khác biệt trước
và sau khi có chính sách trong đầu ra của cả hai nhóm. Nếu có sự khác biệt trong mức độ
biến thiên trong đầu ra giữa hai nhóm này thì đó chính là tác động của chính sách. Kết quả
này vừa phản ánh sự khác biệt về mặt thời gian trước và sau khi có chính sách vừa phản
ánh sự khác biệt chéo giữa nhóm tham gia và nhóm không tham gia. Vì thế được gọi là
khác biệt trong khác biệt (khác biệt kép).
17
Phương pháp DID được mô tả cụ thể như sau:
Vào thời điểm trước khi có chính sách, đầu ra của nhóm so sánh là Y00 (D=0, T=0)
và đầu ra của nhóm tham gia là Y10 (D=1, T=0). Chênh lệch đầu ra giữa hai nhóm này
trước khi có chính sách là Y10-Y00.
Tại thời điểm x nào đó sau khi áp dụng chính sách, đầu ra của nhóm so sánh là Y01
(D=0, T=1) và đầu ra của nhóm tham gia là Y11 (D=1, T=1). Khi đó, chênh lệch đầu ra giữa
hai nhóm này là Y11-Y01.
Đầu ra, Y
Y11[D=1]
Ước lượng DID
Y10[D=1]
Y01 [D=0]
Y00 [D=0]
T= 0
T = 1
Thời gian, T
(Nguồn: Nguyễn Xuân Thành, 2006, Phân tích tác động chính sách công)
Tác động của chính sách là (Y11-Y01) – (Y10-Y00).
Đồ thị trên đây mô tả phương pháp DID. Giả thiết tối quan trọng của phương pháp này là
nếu không có chính sách thì đầu ra của nhóm so sánh và nhóm tham gia có xu hướng biến
thiên như nhau. Sự khác nhau trong biến thiên theo thời gian giữa hai nhóm này là do tác
động của chính sách hay chương trình mới.
3.2.3. Kết hợp phương pháp Khác biệt trong khác biệt với hồi qui OLS
Để đánh giá tác động của tín dụng đến mức sống của hộ nghèo, đề tài sử dụng
phương pháp DID, trong đó, tín dụng được xem là một biến chính sách. Đề tài chọn ngẫu
nhiên hai nhóm hộ nghèo phù hợp với giả định của phương pháp DID. Nhóm 1, được gọi là
nhóm tham gia, bao gồm những hộ nghèo theo phân loại của địa phương có tham gia vay
vốn trong vòng một năm trong VHLSS 2006 và không vay vốn trong VHLSS 2004. Nhóm
18
2, gọi là nhóm so sánh là những hộ nghèo không tham gia vay vốn trong cả hai cuộc điều
tra.
Tuy nhiên, mức sống của hộ nghèo là hàm đa biến, không chỉ phụ thuộc vào tín
dụng mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Chính vì vậy, đánh giá tác động của tín
dụng đối với mức sống của hộ nghèo sẽ chính xác hơn nếu đưa thêm các biến này vào làm
biến kiểm soát. Để làm được điều này đề tài kết hợp giữa phương pháp khác biệt kép và
phương pháp hồi qui đa biến OLS.
3.2.3.1. Mô hình kinh tế lượng
it
2
0
4
1
3
Yit = β +β D+β T+β D*T+β Z + itε
Trong đó, Yit là chỉ tiêu phản ánh mức sống của hộ i tại thời điểm t
D = 1: Hộ khảo sát thuộc nhóm tham gia; =0: Hộ khảo sát thuộc nhóm so sánh.
T = 0: Hộ khảo sát năm 2004; =1: Hộ khảo sát trong năm 2006
Zit là các biến kiểm soát: bao gồm các nhóm biến phản ánh đặc điểm nhân khẩu, đặc
điểm về giáo dục và việc làm, năng lực sản xuất của hộ…
+ Hộ thuộc nhóm so sánh vào năm 2004 có D =0 và T = 0 nên mức sống là:
0
E(Y00) = β +β Z β +β Zi it 4
+ Hộ thuộc nhóm tham gia vào năm 2004 có D=1, T =0 nên mức sống là:
0
4
E(Y10) = β +β +β Z β +β +β Zi it 1
=> Khác biệt mức sống giữa hai nhóm hộ vào năm 2004 là:
E(Y10) – E(Y00) = 1ββ
+ Hộ thuộc nhóm so sánh, năm 2006 có D=0, T=1 nên mức sống là:
0
4
E(Y01) = β +β +β Z β +β +β Zi it 2
+ Hộ thuộc nhóm tham gia vào năm 2006 có D=1, T=1 nên mức sống là:
1
3
4
0
E(Y11) = β +β +β +β +β Z β +β +β +β +β Zi it 2
=> Khác biệt mức sống giữa hai nhóm hộ vào năm 2006 là:
E(Y11 ) – E(Y01) = 1 β +ββ +β 3
=> Tác động của tín dụng lên mức sông của hộ nghèo là:
3ββ = DID
= {E(Y11) –E(Y01 )} –{E(Y10) – E(Y00)} =
19
3.2.3.2. Mô tả và định nghĩa các biến trong mô hình
a/ Biến phụ thuộc: Mặc dù mức sống của người nghèo thể hiện ở nhiều khía cạnh,
nhưng quan trọng nhất là thu nhập và chi tiêu cho đời sống, do đó đề tài sử dụng hai biến
phụ thuộc: thu nhập bình quân đầu người, chi tiêu đời sống bình quân đầu người theo giá
thực đại diện cho mức sống của hộ nghèo.
b/ Các biến độc lập
Dưới đây là danh sách và định nghĩa các biến độc lập mà tác giả dự định sẽ đưa vào
mô hình hồi qui để giải thích cho thu nhập hoặc chi tiêu của hộ nghèo dựa trên cơ sở lý
thuyết và kết quả của những nghiên cứu thực nghiệm về nghèo đói. Tuy nhiên trong quá
trình hồi qui có thể thêm vào hay bớt ra một số biến cho phù hợp.
20
Ký hiệu
Định nghĩa
ĐVT
Dấu kỳ vọng
CREDIT
Biến dumy về nhóm hộ, =0 nếu hộ thuộc nhóm so sánh (không vay vốn), =1 nếu hộ thuộc nhóm
tham gia (có vay vốn).
+
Biến dumy về thời điểm khảo sát, = 0 nếu thời điểm
T
khảo sát là năm 2004, = 1 nếu là năm 2006. Biến tương tác giữa nhóm hộ và thời gian, hệ số ước
+
lượng của biến này chính là tác động của tín dụng đối
T*CREDIT
với thu nhập hoặc chi tiêu của hộ
Người
-
HHSIZE
Qui mô hộ, bằng số nhân khẩu trong hộ
Tỷ lệ phụ thuộc của hộ, bằng số người ăn theo trên một
Người
-
DEPRATE
lao động.
Tuổi của chủ hộ
Tuổi
-
HEADAGE
Giới tính của chủ hộ, =1 nếu chủ hộ là nam, =0 nếu chủ
+
HEADMALE
hộ là nữ Dân tộc của chủ hộ, =1 nếu là dân tộc Kinh hoặc dân
+
ETHNIC
tộc Hoa, =0 nếu là dân tộc khác
Năm
+
Trình độ giáo dục trung bình của hộ, bằng số năm đi
AVERHHEDU
học bình quân/1 người trong hộ
%
+
NONFARMINC Tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp trong tổng thu nhập
+
M2
LANDPERCA Diện tích đất canh tác bình quân đầu người
+/-
Miền Bắc, =1 nếu hộ thuộc miền Bắc, =0 nếu hộ thuộc
NORTH
miền khác
Miền Nam, =1 nếu hộ thuộc miền Nam, =0 nếu hộ
+
SOUTH
thuộc miền khác
21
3.3. Mô tả dữ liệu
Đề tài sử dụng số liệu của hai cuộc điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS) năm
2004 và 2006. VHLSS 2004 khảo sát thu nhập và chi tiêu trên 9180 hộ và VHLSS 2006
khảo sát thu nhập và chi tiêu trên 9189 hộ. Trong đó, có 4270 tham gia cả hai cuộc điều tra
này. Trong số đó, có 457 hộ được các địa phương xếp loại nghèo vào năm 2004. Trong 457
hộ này, có 157 hộ trả lời có vay vốn trong vòng 1 năm trong cuộc điều tra năm 2006 và trả
lời không vay vốn trong cuộc điều tra 2004, và 147 hộ trả lời không vay vốn trong cả hai
cuộc điều tra này. Vì cách lấy mẫu của hai cuộc khảo sát mức sống này được chọn một
cách ngẫu nhiên nên đáp ứng yêu cầu lấy mẫu của phương pháp DID là phải đảm bảo tính
ngẫu nhiên. Đồng thời, căn cứ vào chuẩn nghèo của Việt Nam là 200 nghìn
đồng/người/tháng ở nông thôn vào năm 2006 và chuẩn nghèo quốc tế 1 đô la/người/ngày
(tương đương khoảng 500 nghìn đồng/người/tháng), đề tài loại bỏ bớt những hộ nghèo có
thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người vượt ra xa khỏi ngưỡng này để loại bỏ trường hợp
hộ không nghèo thực chất nhưng vẫn được xếp vào diện hộ nghèo. Đề tài đã chọn ra 113
hộ nghèo theo phân loại của địa phương vào năm 2004 có tham gia vay vốn trong VHLSS
2006 và không vay vốn trong VHLSS 2004 làm nhóm tham gia, và 104 hộ nghèo theo xếp
loại của địa phương vào năm 2004 nhưng không tham gia vay vốn trong cả hai cuộc điều
tra có đặc điểm tương tự với các hộ có vay vốn làm nhóm so sánh. Vì hai nhóm này đều là
những hộ nghèo theo phân loại của địa phương cho nên nếu có chính sách hỗ trợ nào khác
thì cả hai đều được hưởng lợi như nhau. Với giả định rằng vào năm 2004, hai nhóm này có
xuất phát điểm như nhau, nếu hai nhóm đều không vay vốn thì thu nhập và chi tiêu của họ
thay đổi tương tự nhau từ năm 2004 đến 2006.
Kiểm định thống kê t-student (bảng 2) về sự khác biệt trung bình giữa hai nhóm hộ
cho thấy, năm 2004, hai nhóm này có nhiều đặc điểm tương đồng nhau như đặc điểm giới
tính của chủ hộ, thu nhập, chi tiêu bình quân đầu người, diện tích đất bình quân/hộ, tỷ lệ
thu nhập phi nông nghiệp… Tuy nhiên, có một số đặc điểm khác nhau giữa hai nhóm hộ
này như tỷ lệ phụ thuộc, số nhân khẩu/hộ, tuổi chủ hộ. Chính vì vậy, trong mô hình hồi qui
sẽ đưa những biến này vào làm biến kiểm soát.
22
Bảng 2: Thông tin về đặc điểm của hai nhóm hộ vào năm 2004
Nhóm so sánh, năm
T-Stat (Kiểm định giả
2004
Nhóm tham gia, năm 2004
thiết
Chỉ tiêu
Obs Mean0 Std.Dev. Obs Mean1 Std.Dev
H0: Mean1=Mean0; H1: Mean1 (cid:122) Mean0)
Qui mô hộ (người)
104
4
2.1
5
1.97
-3.611
113
104 70%
46%
74%
44%
-0.678*
Chủ hộ là nam
113
Tuổi chủ hộ
104
51
113
17
43
13
3.577
Thu nhập/người (1000 đ)
104
206
113
93
195
84
0.924*
Chi tiêu/người (1000 đ)
104
167
113
83
157
50
0.972*
Tỷ lệ phụ thuộc
104
0.7
0.77
113
1.3
1.41
-3.931
Trình độ THCS
104 23%
42%
113
24%
43%
-0.141*
Trình độ THPT
104
9%
28%
113
19%
39%
-2.158
Số năm đi học bình quân
104
3
113
2.6
3.94
2.43
-2.914
1.6
Số lao động/hộ
104
2.6
113
2.27
1.54
1.626*
Diện tích đất/người (m2)
104
468
912
113
417
721
0.452*
Tỷ lệ thu nhập phi nông
104 28%
32%
113
29%
30%
-0.419*
nghiệp
Dân tộc kinh
104 60%
50%
113
50%
50%
1.475*
North
104 40%
49%
113
50%
50%
-1.487*
South
104 30%
44%
113
20%
40%
1.747*
Ghi chú: * Hai nhóm có đặc điểm tương đồng (giả thiết H0 không được bác bỏ ở mức ý nghĩa thống kê 5% hoặc
10%)
3.4. Đặc điểm về thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam
3.4.1. Khái niệm về tín dụng và tín dụng cho người nghèo
Theo điều 20 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng, hoạt
động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để
cấp tín dụng.
Theo Ts. Nguyễn Minh Kiều (2008), “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền
sử dụng vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác trong một khoảng thời gian nhất định với
một khoản chi phí nhất định”.
23
Như vậy, tín dụng bao gồm cả hoạt động vay và cho vay. Nhưng đề tài này chủ yếu
xem xét tác động của tín dụng đến mức sống của người nghèo theo nghĩa tín dụng cho
người nghèo là hoạt động cho người nghèo vay vốn.
3.4.2. Đặc điểm của thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam
Đặc điểm chung của tín dụng nông thôn là bao gồm cả tín dụng chính thức và tín
dụng không chính thức. Có thể chia tín dụng nông thôn Việt Nam thành ba nhóm: tín dụng
chính thức, tín dụng phi chính thức và tín dụng bán chính thức.
Tín dụng chính thức được cung cấp bởi ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác
hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và Luật ngân hàng. Mặc dù Việt Nam là nước
nông nghiệp, hơn 75% dân số sống ở nông thôn nhưng tín dụng chính thức cho khu vực
nông nghiệp nông thôn phát triển rất chậm. Tín dụng chính thức ở nông thôn Việt Nam chủ
yếu do hai ngân hàng quốc doanh là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
(NNPTNT) và Ngân hàng Chính sách xã hội (CSXH) đảm nhận. Ngân hàng NNPTNT
được thành lập từ năm 1988, lĩnh vực cho vay chủ yếu là khu vực nông nghiệp nông thôn
và hộ nông dân được xem là khách hàng chủ yếu của ngân hàng này. Cho đến nay, ngân
hàng NNPTNT đã có hệ thống chi nhánh khá rộng khắp ở tất cả các tỉnh trong cả nước, và
là tổ chức tín dụng quan trọng nhất ở nông thôn.
Ngân hàng CSXH được thành lập vào tháng 10/2002 trên cơ sở Ngân hàng Phục vụ
người nghèo trước đây và chính thức hoạt động vào năm 2003. Ngân hàng CSXH có 64 chi
nhánh và 592 phòng giao dịch tại các tỉnh thành. Chức năng chủ yếu là thực hiện các
chương trình cho vay hộ nghèo, đối tượng chính sách, học sinh sinh viên và các đối tượng
được trợ giúp xã hội khác. Nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng này là từ ngân sách Nhà
nước, có thể được cấp trực tiếp hoặc thông qua các chương trình trợ giúp xã hội như:
chương trình 135, chương trình 134, chương trình cho học sinh, sinh viên nghèo vay
vốn,… Theo đó, vốn trợ cấp của các chương trình này sẽ được giải ngân thông qua ngân
hàng CSXH thay vì giải ngân trực tiếp như trước đây. Sau bảy năm thành lập, Ngân hàng
CSXH cũng có vai trò quan trọng trong cung cấp tín dụng cho khu vực nông thôn với lãi
suất thấp, đặc biệt là tín dụng cho người nghèo.
Ngoài ra, tín dụng chính thức còn được cung cấp bởi các ngân hàng cổ phần và các
qũy tín dụng. Tuy nhiên, các tổ chức này chỉ có vai trò rất mờ nhạt ở khu vực nông thôn.
Tín dụng phi chính thức thường được cung cấp bởi những cá thể, hộ gia đình cho
vay lãi, người quen, các nhóm hụi… Đặc điểm của tín dụng phi chính thức là có lãi suất
24
cao hơn mức lãi suất của khu vực chính thức, khối lượng cho vay thường không lớn nhưng
thủ tục đơn giản, nhanh chóng đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn của các hộ. Những người
cung cấp tín dụng phi chính thức thường ở trong cùng thôn, bản với người đi vay nên họ
hiểu rất rõ về điều kiện, khả năng trả nợ của người đi vay. Vì vậy, thường cho vay không
cần thế chấp, thậm chí không cần giấy tờ và có thể vay được vốn ngay lập tức nếu cần.
Điều này thật sự rất phù hợp với nông dân, nhất là người nghèo.
Tín dụng bán chính thức là nguồn tín dụng được cung cấp bởi các dự án, các
chương trình tài trợ của nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức đoàn thể, chính
trị xã hội. Trong đó, hiệu quả nhất là Hội Liên hiệp phụ nữ (HLHPN) các cấp - cầu nối
giữa ngân hàng với người dân, nhất là phụ nữ. HLHPN thường nhận triển khai các chương
trình hỗ trợ tín dụng đối với người nghèo của ngân hàng CSXH hay ngân hàng NNPTNT,
hoặc vay tiền của ngân hàng với lãi suất thấp sau đó cho các hội viên vay lại. Vì có mạng
lưới tổ chức đến từng bản, làng, và có sinh hoạt rất gần gủi với người dân nên HLHPN có
thể đưa vốn tới tận tay người nông dân. Nhờ vậy hỗ trợ rất lớn cho các hộ nghèo. Ngoài ra,
các tổ chức đoàn thể này còn kết hợp cung cấp tín dụng với hướng dẫn kỹ thuật, chia sẽ
kinh nghiệm làm ăn, giúp cho người dân sử dụng vốn hiệu quả.
Số liệu từ VHLSS 2006 (bảng1) cho thấy tín dụng chính thức đến từ các ngân hàng
quốc doanh và các tổ chức tín dụng thường có lãi suất thấp nhưng hộ nghèo rất khó tiếp cận.
Chỉ có 47% các hộ nghèo được vay vốn, trong đó có 50% các khoản vay của hộ nghèo là từ
khu vực chính thức và đa số là từ ngân hàng CSXH (38%) nhưng mức vốn vay được từ
Ngân hàng CSXH thấp hơn một số nguồn khác. Các khoản vay từ khu vực phi chính thức
chiếm tới 38% trong số các khoản vay. Điều này cho thấy tín dụng phi chính thức có vai trò
rất quan trọng trong việc hỗ trợ vốn cho người nghèo. Hơn nữa, người nghèo sẵn sàng trả
giá cao để có được khoản vay kịp thời, nhanh chóng. Bằng chứng là lãi suất từ khu vực phi
chính thức cao hơn từ 2 đến 5 lần so với lãi suất của khu vực chính thức nhưng người
nghèo vẫn chấp nhận. Chứng tỏ lãi suất thấp, hay tín dụng giá rẻ không phải là cách hỗ trợ
tốt đối với người nghèo mà quan trọng hơn là thủ tục đơn giản, nhanh chóng, và dễ dàng
tiếp cận.
25
Bảng 1: Nguồn tín dụng nông thôn
Hộ nghèo
Hộ không nghèo
Lãi suất/tháng (%)
Nguồn tín dụng
Giá trị (ngđ)
Giá trị (ngđ)
%
%
Tỷ lệ hộ được vay vốn
47
56
Tổng số khoản vay
100
100
Tín dụng chính thức
50
64
8476
15991
Ngân hàng CSXH
30
14
5703
5548
0.41
Ngân hàng NN&PTNT
18
42
13481
19429
0.95
Ngân hàng khác
0
3
0
21430
1.02
Quỹ tín dụng
2
5
2500
13124
Tín dụng phi chính thức
38
27
7720
8607
2.50
Bạn bè, người thân
28
20
8115
8834
Người cho vay cá thể
10
6
6644
7878
Tín dụng bán chính thức
12
9
2500
8374
0.56
Tổ chức chính trị xã hội
8
6
2500
4825
Khác
4
3
2500
14527
(Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình 2006)
Số liệu trên cũng cho thấy tín dụng chính thức chủ yếu được dành cho những hộ
khá giả, hộ không nghèo. Có tới 64% khoản vay của những hộ không nghèo là từ khu vực
chính thức, so với 50% đối với nhóm hộ nghèo. Hơn nữa, mức vốn vay của hộ không
nghèo cũng cao hơn so với mức vốn vay của các hộ nghèo. Lý do là đối với các ngân hàng,
cho người nghèo vay vốn là rất rủi ro. Người nghèo thường không có tài sản thế chấp nên
mức vốn vay được sẽ thấp. Ngoài ra còn do thủ tục phức tạp và thiếu sự thân thiện giữa
ngân hàng với người nghèo.
Vấn đề khó khăn hiện nay đối với thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam là thiếu
cơ chế để thúc đẩy sự phát triển của khu vực phi chính thức, khu vực bán chính thức cũng
như không có cơ chế để thúc đẩy sự phát triển của các ngân hàng cổ phần ở khu vực nông
thôn. Thông thường các chính sách tín dụng dành cho người nghèo của chính phủ thường
với mức lãi suất ưu đãi hoặc thậm chí là cho không. Nhưng để vay được nguồn vốn này thì
người nghèo phải điền rất nhiều giấy tờ, phải qua rất nhiều cấp phê duyệt và mất rất lâu để
chờ đợi. Người nghèo thường thiếu thông tin, trình độ thấp và khả năng quan hệ kém nên
những khoản vay ưu đãi này rất khó đến được với họ, thường trở thành khoản hỗ trợ cho
những hộ khá giả có quan hệ thân quen với những người xét duyệt. Hơn nữa, những khoản
26
vay với lãi suất ưu đãi này thường làm cho lãi suất thực âm, điều này ngăn cản sự thâm
nhập của các ngân hàng cổ phần vào khu vực nông thôn.
3.4.3. Mục tiêu của tín dụng cho người nghèo
Hầu hết các chương trình tín dụng cho người nghèo đều nhằm mục tiêu giúp người
nghèo cải thiện mức sống, cụ thể như: cải thiện thu nhập, chi tiêu đời sống, nhà ở, cải thiện
mức độ tiếp cận giáo dục, chăm sóc sức khỏe, môi trường sống… Tùy theo từng chương
trình cho vay khác nhau mà mục tiêu cụ thể cũng khác nhau. Chương trình cho người
nghèo vay vốn để phát triển nhà ở có mục tiêu là giúp người nghèo cải thiện nhà ở, môi
trường sống; Chương trình cho người nghèo vay vốn để phát triển chăn nuôi có mục tiêu là
để cải thiện thu nhập cho hộ nghèo; Chương trình cho học sinh, sinh viên nghèo vay vốn có
mục tiêu là cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục cho người nghèo, nâng cao trình độ và
năng lực cho người nghèo. Nói tóm lại, mỗi chương trình cho vay đều có một mục tiêu
riêng, nhưng chung quy đều nhằm giúp người nghèo cải thiện được cuộc sống trong hiện
tại (trang trải cho những nhu cầu cơ bản nhất) và thoát nghèo bền vững trong tương lai (cải
thiện thu nhập và tự trang trải cuộc sống trong tương lai).
27
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Tác động của tín dụng đối với thu nhập của hộ nghèo
Để đánh giá xem tín dụng có giúp nâng cao mức sống của hộ nghèo hay không, đề
tài tiến hành xem xét tác động của tín dụng đối với thu nhập của người nghèo bằng phương
pháp Khác biệt trong khác biệt kết hợp hồi qui OLS. Kiểm định White cho thấy có hiện
tượng phương sai sai số thay đổi (HET) nên đề tài điều chỉnh bằng cách ước lượng ma trận
hệ số đồng phương sai nhất quán của Het (phụ lục 1), kết quả được trình bày ở bảng 3 (đã
điều chỉnh HET).
Trước hết, tiến hành hồi qui mối quan hệ giữa thu nhập thực bình quân đầu người
với tín dụng, thời gian và biến tương tác giữa tín dụng và thời gian. Kết quả mô hình hồi
qui 1 cho thấy tín dụng có tác động làm tăng thu nhập bình quân của hộ nghèo. Nếu các
yếu tố khác không đổi, với mức ý nghĩa 5%, việc vay vốn làm tăng thu nhập của hộ lên
42.9 nghìn đồng/người/tháng.
Tuy nhiên, ngoài tín dụng còn có nhiều biến khác tác động đến thu nhập chính vì
vậy sẽ không hợp lý nếu như không đưa thêm các biến này vào mô hình. Khi đưa thêm các
biến kiểm soát khác vào mô hình, kết quả hồi qui ở mô hình hồi qui 2 cho thấy: với mức ý
nghĩa 5%, tín dụng có tác động làm tăng thu nhập của hộ nghèo lên 39.3 nghìn
đồng/người/tháng so với trường hợp không vay vốn. Ngoài ra, với mức ý nghĩa 1%, qui mô
hộ càng lớn thì thu nhập bình quân càng giảm, một hộ có thêm một nhân khẩu sẽ làm thu
nhập thực bình quân đầu người sẽ giảm đi 10.8 nghìn đồng/tháng.
Trình độ giáo dục của hộ được đại diện bởi số năm đi học bình quân/người. Trình
độ giáo dục bình quân của hộ càng cao thì thu nhập bình quân càng lớn. Với mức ý nghĩa
1%, một hộ có số năm đi học bình quân tăng thêm một năm sẽ có thu nhập cao hơn 6.6
nghìn đồng/người/tháng. Vì có trình độ cao hơn sẽ giúp người nghèo dễ dàng lĩnh hội và
ứng dụng kỹ thuật mới vào sản xuất, có cơ hội làm những công việc được trả lương cao
hơn nhờ đó làm tăng thu nhập. Tuy nhiên, hầu hết người nghèo ở nông thôn Việt Nam đều
thiếu điều kiện học hành.
28
Bảng 3: Tác động của tín dụng đối với thu nhập thực của hộ nghèo
Biến phụ thuộc: Thu nhập thực bình quân đầu người/tháng (Realincperca)
ĐVT: 1000 đồng/người/tháng
Hệ số ước lượng
Tên biến độc lập
Hồi qui 1
Hồi qui 2
Hồi qui 3
Tung độ gốc
206.127
201.37
206.469
(0.000)
(0.000)
(0.000)
Nhóm hộ
-11.133+
-5.997+
6.488+
(0.3561)
(0.6034)
(0.5895)
Thời gian
15.100+
16.193+
18.600+
(0.2725)
(0.1975)
(0.1338)
Thời gian*Nhóm hộ
42.854**
39.323**
25.142+
(0.0336)
(0.0402)
(0.1907)
Qui mô hộ
-10.754*
-8.071*
(0.000)
(0.0018)
6.610*
6.462*
Trình độ giáo dục trung bình
(0.0021)
(0.0010)
57.150*
52.806*
Tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp
(0.0005)
(0.0001)
Dân tộc
-1.910+
(0.8601)
Miền Nam
-1.470+
(0.9145)
Tuổi chủ hộ
0.280+
0.167+
(0.3666)
(0.5831)
Giới tính chủ hộ
0.745+
(0.9537)
0.0013+
Diện tích đất bình quân đầu người
(0.8314)
Tỷ lệ phụ thuộc
-14.484*
(0.0001)
0.036
0.1293
0.1554
R2 điều chỉnh
Ghi chú: Số trong ngoặc đơn là Pvalue, * có ý nghĩa thống kê ở mức 1%; ** có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%, + không có ý nghĩa ở mức 10%.
29
Mô hình 2 cũng cho thấy, những hộ có tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp càng cao thì
thu nhập bình quân đầu người càng lớn. Nếu những yếu tố khác là như nhau, những hộ có
thu nhập phi nông nghiệp có thu nhập bình quân đầu người cao hơn những hộ chỉ có thu
nhập thuần nông 57.2 nghìn đồng/tháng. Điều này cho thấy, đa dạng hóa hoạt động kinh tế
sẽ giúp người nghèo cải thiện mức sống tốt hơn so với chỉ chuyên vào sản xuất nông
nghiệp. Bởi vì hoạt động nông nghiệp thường rủi ro mà suất sinh lợi lại rất thấp, hơn nữa
thời gian nhàn rỗi lớn. Nếu các hộ nghèo biết tận dụng thời gian nhàn rỗi này để làm những
công việc khác như làm thuê, làm thợ nề, thợ mộc … thì sẽ cải thiện tốt hơn thu nhập của
hộ.
Đất đai không có tác động đến thu nhập bình quân đầu người của hộ ở mức ý nghĩa
10%. Điều này cho thấy tăng thêm đất đai chưa hẵn là cách tốt để giúp người nghèo cải
thiện thu nhập nếu như không cải thiện về trình độ giáo dục, việc làm và những yếu tố khác.
Đặc điểm dân tộc cũng không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10%, do ở Việt
Nam, mặc dù các hộ nghèo dân tộc thiểu số thường ở vùng sâu vùng xa nhưng nhận được
nhiều ưu ái trong các chính sách hỗ trợ của chính phủ nên có thể không có sự khác nhau
trong cơ hội tiếp cận các nguồn lực để đầu tư sản xuất, nâng cao thu nhập. Đặc điểm giới
tính và tuổi của chủ hộ cũng không có tác động đến thu nhập của hộ nghèo, điều này cho
thấy thu nhập của người nghèo không nhất thiết phụ thuộc vào những đặc điểm nhân chủng
học của chủ hộ mà quan trọng là cơ hội tiếp cận các nguồn lực và đầu vào để đầu tư sản
xuất.
Ngoài ra, đặc điểm về vùng miền sinh sống của hộ nghèo không có ý nghĩa thống
kê ở mức ý nghĩa 10%. Điều này cho thấy không có sự khác nhau trong thu nhập của người
nghèo ở nông thôn giữa các vùng miền khác nhau.
Trong mô hình hồi qui 3, tác giả đưa thêm biến tỷ lệ phụ thuộc (Deprate) vào mô
hình làm biến kiểm soát, đồng thời căn cứ vào kết quả kiểm định Wald (phụ lục 1.3 và 1.4)
để loại bỏ những biến không có ý nghĩa thông kê trong mô hình 2. Ở mức ý nghĩa 1%, tỷ lệ
phụ thuộc tăng lên 1 làm giảm thu nhập thực 14.5 nghìn đồng/người/tháng. Theo lý thuyết
và các nghiên cứu trước, tỷ lệ phụ thuộc là một biến quan trọng. Hơn nữa, kết quả kiểm
định Wald về ý nghĩa của các nhóm biến cho thấy việc loại bỏ các biến không có ý nghĩa
trong mô hình hồi qui 2 ra khỏi mô hình là hợp lý và kết quả kiểm định thống kê về mức độ phù hợp của mô hình (phụ lục 1.5) cho thấy, giá trị Pvalue(F-stat) <1% và R2 của mô hình
hồi qui 3 lớn hơn hai mô hình hồi qui còn lại. Điều này chứng tỏ mô hình hồi qui 3 giải
30
thích tốt hơn cho thu nhập thực bình quân của hộ. Chính vì vậy, mô hình cuối cùng được
chấp nhận là mô hình 3.
Kết quả mô hình 3 cho thấy, quy mô hộ, tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp, trình độ
giáo dục và tỷ lệ phụ thuộc có tác động đến thu nhập bình quân đầu người của hộ ở mức ý
nghĩa 1%. Tuy nhiên, tác động của tín dụng đối với thu nhập bình quân đầu người lại
không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10%. Điều này có thể giải thích bởi hai lý do:
Thứ nhất, do các hộ vay vốn chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trước mắt, chưa có phương
án sử dụng vốn hiệu quả. Hơn nữa, vốn cho người nghèo vay chủ yếu là từ khu vực không
chính thức với mức vốn thấp, lãi suất cao và thời hạn ngắn trong khi đó để đầu tư sản xuất
thì cần lượng vốn đủ lớn, thời gian đủ dài để thu hồi vốn. Một lý do khác cũng rất quan
trọng là số liệu về thu nhập thường không chính xác do các hộ thường không khai thật thu
nhập của mình khi được hỏi, hơn nữa việc tính toán đầy đủ, chính xác thu nhập của hộ
cũng rất khó khăn. Do vậy, đánh giá tác động của tín dụng đối với thu nhập có thể sẽ không
chính xác.
4.2. Tác động của tín dụng đến chi tiêu đời sống của hộ nghèo
Mức sống của người nghèo không chỉ thể hiện ở thu nhập mà còn thể hiện qua mức
chi tiêu cho đời sống của họ. Chính vì vậy, để xem xét tín dụng có tác động như thế nào
đến mức sống của hộ nghèo, đề tài tiến hành hồi qui mối quan hệ giữa mức chi tiêu cho đời
sống bình quân đầu người với tín dụng và các biến kiểm soát khác. Trong đó, hệ số hồi qui
của biến tương tác giữa tín dụng và thời gian phản ánh tác động của tín dụng đến chi tiêu
đời sống bình quân đầu người. Để loại bỏ ảnh hưởng của lạm phát, đề tài sử dụng chi tiêu
theo giá thực. Các bước hồi qui cũng được thực hiện tương tự như khi xem xét tác động
của tín dụng đối với thu nhập (phụ lục 2). Kết quả hồi qui được phản ánh ở bảng 4 (đã
chỉnh HET).
Với mức ý nghĩa thống kê 5%, trong cả ba mô hình hồi qui đều cho thấy tín dụng
có tác động làm tăng chi tiêu thực cho đời sống của hộ nghèo. Kiểm định thống kê về mức
độ phù hợp của mô hình cho thấy mô hình 3 phù hợp hơn hai mô hình còn lại do có Pvalue(Fstatic)=0.000<1% và R2 lớn hơn hai mô hình còn lại (phụ lục 2.5) chứng tỏ mô
hình 3 giải thích tốt hơn cho chi tiêu bình quân của hộ nên đề tài sử dụng kết quả của hồi
qui 3 để phân tích.
31
Bảng 4: Tác động của tín dụng đối với chi tiêu đời sống của hộ nghèo
Biến phụ thuộc: Chi tiêu thực cho đời sống/người/tháng (nghìn đồng)
Hệ số ước lượng
Tên biến
Hồi qui 1
Hồi qui 2
Hồi qui 3
166.567
Tung độ gốc
133.279
131.924
(0.0000)
(0.0000)
(0.0000)
Nhóm hộ
-9.125+
5.473+
5.376+
(0.3316)
(0.5211)
(0.5299)
Thời gian
3.287+
-0.270+
0.237+
(0.7683)
(0.9779)
(0.9810)
Thời gian*Nhóm hộ
28.985**
37.191**
29.056**
(0.0129)
(0.0273)
(0.0272)
Qui mô hộ
-9.468*
-9.550*
(0.0000)
(0.0000)
6.974*
6.950*
Trình độ giáo dục trung bình
(0.0000)
(0.0000)
Tuổi chủ hộ
0.401***
0.416***
(0.0664)
(0.0584)
Giới tính
21.410**
21.059**
(0.0175)
(0.0216)
5.994+
Tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp
(0.5924)
Tỷ lệ phụ thuộc
-5.657**
-5.457**
(0.0302)
(0.0416)
0.0002+
Diện tích đất bình quân đầu người
(0.6011)
Dân tộc
16.791**
16.224**
(0.0238)
(0.0478)
Miền Nam
38.613*
36.190*
(0.0001)
(0.0013)
Miền Bắc
-1.122+
(0.8860)
0.032
0.2516
0.2561
R2 điều chỉnh
Ghi chú: Số trong ngoặc đơn là Pvalue, * có ý nghĩa thống kê ở mức 1%; ** có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%, *** có ý nghĩa thống kê ở mức 10%, + không có ý nghĩa ở mức 10%.
Theo kết quả ở mô hình hồi qui 3, tín dụng đã làm tăng mức chi tiêu cho đời sống
của hộ nghèo thuộc nhóm tham gia 29 nghìn đồng/người/tháng. Đối với người nghèo, đây
là một mức cải thiện có ý nghĩa rất lớn, tương đương 20% mức chi tiêu thực bình quân của
32
hộ. Chi tiêu cho đời sống cao hơn có nghĩa là người nghèo có thể đảm bảo một mức sống
tốt hơn, nhờ đó đảm bảo cho thế hệ tương lai có thể phát triển tốt hơn về thể chất và tinh
thần. Vì thế, việc tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo tiếp cận được nguồn tín dụng là
thật sự cần thiết.
Các biến kiểm soát được đưa vào mô hình hồi qui 2 và hồi qui 3 để giải thích tốt
hơn về chi tiêu đời sống của hộ nghèo. Kết quả hồi qui cũng cho thấy qui mô hộ càng lớn
thì mức chi tiêu cho đời sống của hộ càng thấp. Qui mô hộ được đo lường bằng tổng số
lượng nhân khẩu trong hộ. Ở mức ý nghĩa 1%, nếu các yếu tố khác không đổi, hộ nghèo có
thêm một nhân khẩu sẽ có mức chi tiêu cho đời sống thấp hơn 9.5 nghìn đồng/người/tháng.
Trình độ giáo dục là một biến có ảnh hưởng đáng kể đến chi tiêu của hộ. Nếu các
yếu tố khác không đổi, ở mức ý nghĩa 1%, số năm đi học bình quân của hộ tăng thêm 1
năm thì mức chi tiêu đời sống tăng thêm 7 nghìn đồng/người/tháng. Điều này là do những
người có trình độ học vấn cao sẽ có nhiều cơ hội hơn để có thu nhập cao hơn do đó đảm
bảo tốt hơn cho nhu cầu của cuộc sống.
Mức chi tiêu cho đời sống của hộ nghèo còn phụ thuộc vào tuổi của chủ hộ. Với
mức ý nghĩa 5%, tuổi của chủ hộ càng cao thì chi tiêu càng lớn. Giới tính của chủ hộ cũng
có ảnh hưởng đến chi tiêu cho đời sống của hộ. Ở mức ý nghĩa 5%, những hộ có chủ hộ là
nam có mức chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người cao hơn những hộ có chủ hộ là nữ
21.4 nghìn đồng/người/tháng. Kết quả này thể hiện tồn tại sự bất bình đẳng lớn giữa nam
và nữ ở nông thôn Việt Nam. Nguyên nhân là do ở nông thôn, công việc chủ yếu là nông
nghiệp đòi hỏi sức lao động lớn. Chủ hộ là nữ thường là những phụ nữ một mình nuôi con
hoặc có chồng bị ốm đau nên thiếu sức lao động và do vậy thu nhập thấp, hơn nữa bản chất
của phụ nữ vẫn luôn tiết kiệm hơn nam giới ngay cả những nhu cầu chi tiêu cơ bản nhất, vì
thế mức chi tiêu thấp hơn những hộ có chủ hộ là nam giới.
Tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì mức chi tiêu đời sống càng thấp. Điều này hoàn toàn
phù hợp với lý thuyết, thực tế và kết quả của các nghiên cứu trước. Nếu tỷ lệ phụ thuộc
càng cao có nghĩa là một người lao động phải nuôi sống nhiều người hơn, do đó mức chi
tiêu đời sống bình quân sẽ giảm xuống. Ở mức ý nghĩa 5%, nếu tỷ lệ phụ thuộc tăng lên 1
thì mức chi tiêu cho đời sống bình của hộ xuống 5.7 nghìn đồng/người/tháng.
Khác với kết luận của những nghiên cứu trước, tác động của tỷ lệ thu nhập phi nông
nghiệp đến chi tiêu đời sống của hộ không có ý nghĩa thống kê ở mức 10%.
33
Những hộ thuộc dân tộc Kinh hoặc dân tộc Hoa có mức chi tiêu cho đời sống cao
hơn những hộ thuộc dân tộc thiểu số. Điều này là hoàn toàn hợp lý. Bởi vì hộ dân tộc kinh
thường sống ở đồng bằng nên có đủ hàng hóa, thực phẩm hơn những hộ dân tộc thiểu số
thường sống ở những vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại khó khăn. Hơn nữa, các hộ người
Kinh hoặc người Hoa có thể có kỹ năng sản xuất tốt hơn nên mức thu nhập cao hơn và nhờ
vậy làm tăng chi tiêu. Đông con và sinh đẻ không có kế hoạch cũng là một đặc trưng của
người dân tộc thiểu số, vì thế mức sống càng thấp hơn.
Nếu chia các các hộ thành 3 miền khác nhau, Miền Bắc, Miền Nam và Miền Trung
và đặt hai biến giả là South (Miền Nam) và North (Miền Bắc), kết quả hồi qui cho thấy chỉ
có hệ số hồi qui của biến giả South là dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, hệ số hồi
qui của biến giả North không có ý nghĩa thống kê ở mức 10%. Nghĩa là có đủ cơ sở để
khẳng định rằng nếu các yếu tố khác là như nhau, các hộ nghèo ở Miền Nam có mức chi
tiêu đời sống cao hơn các hộ nghèo ở Miền Trung và Miền Bắc 38.6 nghìn
đồng/người/tháng.
Như vậy, dựa trên dữ liệu VHLSS 2004 và VHLSS 2006, sử dụng phương pháp
Khác biệt kép kết hợp với OLS, đề tài đã chỉ ra rằng tín dụng có tác động tích cực đến cải
thiện mức sống cho người nghèo ở nông thôn Việt Nam thông qua làm tăng chi tiêu cho
đời sống của họ. Nhưng không có đủ cơ sở để kết luận về mối quan hệ nhân quả giữa tín
dụng và thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo. Có thể do sai số về mặt số liệu hoặc
do vốn vay chưa thực sự được đầu tư vào sản xuất hiệu quả. Mặc dù vậy, tác động tích cực
của tín dụng đến chi tiêu đời sống của hộ nghèo cũng góp phần quan trọng cải thiện đời
sống cho người nghèo, giúp cho họ có cơ hội để hòa nhập vào cuộc sống của cộng đồng.
Chính vì vậy, cải thiện chính sách để tín dụng phục vụ người nghèo ở nông thôn là thật sự
cần thiết.
4.3. So sánh tác động của tín dụng chính thức và tín dụng phi chính thức lên mức
sống cửa người nghèo
Khi đánh giá tác động của tín dụng đối với mức sống của người nghèo, một câu hỏi
đặt ra là liệu có sự khác nhau nào giữa tác động của tín dụng chính thức và tín dụng phi
chính thức hay không? Để trả lời câu hỏi này tác giả tiến hành hồi qui hai mô hình, một
phản ánh tác động của tín dụng chính thức và phi chính thức lên thu nhập và mô hình khác
phản ánh tác động của tín dụng chính thức và phi chính thức lên chi tiêu của hộ nghèo.
34
Kết quả hồi qui được thể hiện ở bảng 5 (đã điều chỉnh HET) cho thấy tác động của
tín dụng chính thức và phi chính thức lên thu nhập của hộ nghèo đều không có ý nghĩa
thống kê ở mức ý nghĩa 10%. Do đó không có đủ cơ sở để kết luận có sự khác biệt giữa tác
động của tín dụng chính thức và phi chính thức đối với thu nhập của người nghèo.
Tuy nhiên, ở mức ý nghĩa 10%, tác động của cả hai loại tín dụng này lên chi tiêu
đều dương và có ý nghĩa thống kê. Nghĩa là cả hai loại tín dụng này đều có tác động làm
tăng chi tiêu của hộ nghèo đáng kể. Nếu các yếu tố khác không đổi, trung bình một hộ
nghèo vay vốn từ khu vực chính thức sẽ cải thiện chi tiêu cho đời sống 27.3 nghìn
đồng/người/tháng so với trường hợp không vay, nếu hộ nghèo vay vốn từ khu vực phi
chính thức sẽ tăng chi tiêu thực cho đời sống thêm 31.8 nghìn đồng/người/tháng so với
trường hợp không vay vốn. Như vậy, việc tiếp cận tín dụng đã giúp người nghèo cải thiện
đời sống không kể đó là tín dụng chính thức hay tín dụng phi chính thức.
35
Bảng 5: Tác động của tín dụng chính thức và tín dụng phi chính thức lên thu
nhập và chi tiêu thực của hộ nghèo
ĐVT: 1000 đ/người/tháng
REALINCPERCA
REALEXPERCA
216.83
Biến độc lập Tung độ gốc
131.564
Thời gian
Tín dụng chính thức
Tín dụng phi chính thức
Thời gian* Tín dụng chính thức
Thời gian* Tín dụng phi chính thức
(0.0000) 18.763+ (0.1317) 11.058+ (0.4157) -1.649+ (0.9048) 28.130+ (0.2294) 21.316+ (0.3773)
(0.0000) -0.286+ (0.9767) 12.078+ (0.2100) -3.350+ (0.7216) 27.330*** (0.0711) 31.856*** (0.0540)
-8.495*
Qui mô hộ
-9.534*
(0.0013)
(0.0000)
6.469*
6.860*
Trình độ giáo dục trung bình
(0.0010)
(0.0000)
-14.504*
Tỷ lệ phụ thuộc
-5.439**
(0.0002)
(0.0402)
52.477*
Tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp
(0.0002)
Giới tính chủ hộ
22.470**
(0.0116)
Tuổi chủ hộ
0.412***
(0.0639)
Dân tộc
18.526**
(0.0125)
Miền Nam
38.270*
(0.0001)
434
Số quan sát
434
0.2562
0.156
R2 điều chỉnh
Ghi chú: - Tín dụng chính thức =1 nếu hộ có vay vốn từ khu vực chính thức trong năm 2006 và không vay trong năm 2004,
=0 nếu hộ không vay vốn trong cả hai thời điểm trên. Tín dụng phi chính thức=1 nếu hộ có vay vốn từ khu vực phi chính thức trong năm
2006 và không vay trong năm 2004, =0 nếu hộ không vay vốn trong cả hai thời điểm trên.
- Số trong ngoặc đơn là Pvalue, * có ý nghĩa thống kê ở mức 1%; ** có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%, *** có ý nghĩa
thống kê ở mức 10%, + không có ý nghĩa ở mức 10%..
36
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH
5.1. Kết luận
Bằng phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) và dựa vào bộ số liệu VHLSS
2004 và VHLSS 2006, đề tài đã tiến hành đánh giá tác động của tín dụng đối với giảm
nghèo ở nông thôn Việt Nam. Với qui mô mẫu là 217*2 =434 quan sát được lọc ra từ hai
bộ dữ liệu nói trên hy vọng có thể đại diện cho những hộ nghèo ở nông thôn cả nước. Qua
quá trình nghiên cứu, đề tài đã rút ra những kết luận quan trọng sau đây:
1. Tín dụng có tác động làm tăng chi tiêu thực cho đời sống của hộ nghèo, tuy nhiên
tín dụng không có tác động cải thiện thu nhập cho hộ nghèo. Việc tiếp cận tín dụng đã giúp
tăng chi tiêu cho đời sống của hộ nghèo lên 29 nghìn đồng/người/tháng, tương đương
khoảng 20%. Nhờ vậy, tín dụng góp phần đáng kể vào cải thiện đời sống cho hộ nghèo.
Nhưng đáng tiếc là chưa tìm thấy bằng chứng về tác động của tín dụng đối với thu nhập
của hộ nghèo.
2. Tác động của tín dụng chính thức và phi chính thức đến mức sống của người
nghèo giống nhau ở chổ cả hai đều có tác động làm tăng chi tiêu đời sống nhưng không có
tác động làm tăng thu nhập của hộ nghèo. Mặc dù tín dụng phi chính thức có lãi suất cao
hơn tín dụng phi chính thức từ hai đến năm lần nhưng tín dụng phi chính thức vẫn là nguồn
tín dụng rất quan trọng với hộ nghèo ở nông thôn Việt Nam. Cho thấy, chính sách tín dụng
cho người nghèo không nhất thiết là có lãi suất ưu đãi mà quan trọng là nhanh chóng, kịp
thời.
Bên cạnh đó, kết hợp với hồi qui OLS đề tài cũng tìm ra mối liên kết giữa mức sống
của hộ nghèo với những yếu tố khác:
3. Đầu tư cho giáo dục là cách tốt để người nghèo thoát nghèo bền vững. Kết quả
hồi qui cho thấy những hộ có trình độ giáo dục trung bình càng cao thì thu nhập và chi tiêu
đời sống bình quân đầu người càng cao.
4. Số người phụ thuộc trên một lao động cao hay thấp cũng là một yếu tố quan
trọng ảnh hưởng đến thu nhập cũng như chi tiêu cho đời sống của hộ. Có thêm một người
phụ thuộc trên một lao động sẽ làm giảm thu nhập thực 14.5 nghìn đồng/người/tháng và
làm giảm chi tiêu cho đời sống 5.7 nghìn đồng/người/tháng. Chính vì vậy, thực hiện tốt
chính sách kế hoạch hóa gia đình là biện pháp tốt để giúp người nghèo thoát nghèo nhanh
hơn.
37
5. Tồn tại sự khác biệt đáng kể giữa mức sống của hộ có chủ hộ là nam với hộ có
chủ hộ là nữ. Những hộ có chủ hộ là nam có chi tiêu đời sống bình quân đầu người cao hơn
21.4 nghìn đồng/người/tháng so với hộ có chủ hộ là nữ.
6. Cũng như kết luận của nhiều nghiên cứu trước, đề tài này một lần nữa khẳng định
rằng đa dạng hóa việc làm là một cách tốt để thoát nghèo nhanh chóng. Vì vậy, chính sách
của chính phủ nên hướng đến tạo thêm việc làm cho người nghèo để họ sử dụng thời gian
hiệu quả, cải thiện thu nhập.
7. Mặc dù không tìm thấy bằng chứng về sự khác biệt trong thu nhập nhưng có đủ
bằng chứng cho thấy những hộ nghèo dân tộc Kinh có mức chi tiêu cho đời sống cao hơn
những hộ nghèo dân tộc thiểu số.
5.2. Gợ ý chính sách
Từ kết quả nghiên cứu trên đây, tác giả đề xuất một số gợi ý chính sách như sau:
Thứ nhất, phát triển hệ thống ngân hàng nông thôn thân thiện với người nghèo
bằng cách giảm khoảng cách giữa người nghèo với ngân hàng và đơn giản hóa thủ tục cho
vay. Tiếp cận tín dụng là điều kiện cần thiết để người nghèo cải thiện mức sống, có cơ hội
để hòa nhập với cộng đồng và nâng cao vị thế của họ trong xã hội. Tín dụng cho người
nghèo được cung cấp từ khu vực chính thức là rất quan trọng. Tuy nhiên, đa phần người
nghèo ở nông thôn Việt Nam vẫn rất khó tiếp cận với nguồn vốn từ các ngân hàng và các
chương trình hỗ trợ của chính phủ. Do đó cần phát triển một hệ thống ngân hàng ở nông
thôn sao cho thật sự gần gủi với người nghèo, giảm bớt khoảng cách giữa người nghèo với
ngân hàng.
Hiện nay, Ngân hàng NNPTNT và Ngân hàng CSXH Việt Nam đã có chi nhánh và
phòng giao dịch đến hầu khắp các tỉnh, huyện trên cả nước. Tuy nhiên hầu hết các chi
nhánh và phòng giao dịch này thường gắn liền với đơn vị hành chính cấp tỉnh, huyện và
được đặt tại các khu vực trung tâm như thị trấn, thị xã… Trong khi người nghèo thường ở
những vùng sâu, vùng xa nên họ rất e ngại khi đến ngân hàng vay vốn. Chính vì vậy, để hỗ
trợ và cung cấp dịch vụ tốt hơn cho người nghèo ở nông thôn, các ngân hàng này nên mở
rộng mạng lưới các phòng giao dịch xuống đến cấp xã, thậm chí cấp thôn, bản để dễ dàng
hiểu được người nghèo và giảm bớt sự xa lạ đối với họ.
Hơn nữa, đơn giản hóa các thủ tục cho vay để người nghèo vay vốn nhanh chóng và
kịp thời là một việc làm cần thiết. Bởi vì các thủ tục cho người nghèo vay vốn hiện nay khá
38
rườm rà, phức tạp trong khi người nghèo có trình độ thấp nên hoàn thành được các thủ tục
này là một trở ngại lớn đối với họ. Thủ tục phức tạp sẽ dẫn đến tình trạng thiếu minh bạch
trong xét duyệt đối tượng được vay. Do vậy để tín dụng chính thức đến được với người
nghèo thì điều quan trọng khác là phải đơn giản hoá thủ tục cho vay.
Tất nhiên, để làm được những điều này đòi hỏi phải có những chính sách hỗ trợ từ
phía Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Bởi vì về phía các ngân hàng, mở thêm
phòng giao dịch sẽ làm tăng thêm chi phí, và cho người nghèo vay vốn có rủi ro rất cao. Do
đó, cần được tài trợ từ phía Chính phủ để khuyến khích phát triển hệ thống ngân hàng ở
nông thôn gần gủi hơn với người nghèo.
Thứ hai, thực hiện chính sách lãi suất ở nông thôn phù hợp với cơ chế thị
trường, dần dần bỏ lãi suất ưu đãi. Hiện nay, các chương trình cho người nghèo vay vốn
của Chính phủ thường được thực hiện thông qua ngân hàng CSXH dưới hình thức lãi suất
ưu đãi. Tuy nhiên, mức lãi suất ưu đãi đã dẫn đến nhiều hệ quả đi ngược lại với mục đích
hỗ trợ người nghèo của các chương trình này. Một là, những khoản vay này khó đến được
với người nghèo. Lý do là: Về phía ngân hàng, cán bộ tín dụng luôn chịu áp lực thu hồi nợ
vì rủi ro vỡ nợ đối với người nghèo vẫn rất cao. Trong khi đó, mức lãi suất ưu đãi thường
thấp hơn nhiều so với lãi suất thị trường nên có rất nhiều người (nghèo và không nghèo)
muốn vay. Trong trường hợp đó, cán bộ tín dụng thường quyết định cho những hộ có thu
nhập trung bình, khá giả hoặc những người có quan hệ thân quen vay vốn để có lợi cho cả
đôi bên. Đối với người nghèo, để vay được vốn họ phải làm rất nhiều thủ tục, qua rất nhiều
khâu phê duyệt làm cho họ nãn lòng. Thậm chí, đôi khi họ không có được thông tin đầy đủ
về những khoản vay này cũng như không được hướng dẫn đầy đủ về những thủ tục cần
thiết. Kết quả là những khoản tín dụng có lãi suất càng ưu đãi thì càng khó đến được với
người nghèo. Vì vậy, lãi suất thấp không hẵn là hỗ trợ được người nghèo. Lãi suất có thể
bằng với lãi suất của thị trường nhưng thủ tục cho vay đơn giản là một cách để giảm chi phí
giao dịch cho cả người dân và ngân hàng, từ đó nâng cao mức độ tiếp cận tín dụng của
người nghèo.
Hai là, lãi suất thấp dẫn đến tình trạng sử dụng vốn vay không hiệu quả. Lãi suất
vừa phản ánh giá cả của tín dụng vừa là cơ chế để sàng lọc người vay. Nếu lãi suất quá thấp
sẽ khuyến khích vốn chảy vào những dự án kém hiệu quả nhất. Đối với người nghèo,
khoản vay với lãi suất ưu đãi thường được xem như “tiền chùa” nên họ chi tiêu một cách
hoang phí. Vì vậy không cải thiện được thu nhập bền vững trong tương lai. Mức lãi suất
39
cao hơn sẽ khuyến khích người vay vốn sử dụng vốn hiệu quả hơn và giảm được rủi ro cho
ngân hàng.
Ba là, lãi suất thấp ở khu vực nông thôn không khuyến khích được các ngân hàng
cổ phần tham gia vào khu vực này, do đó kìm hãm sự phát triển của thị trường tín dụng
nông thôn.
Như vậy, một chính sách lãi suất có tính thị trường sẽ giúp giảm chi phí giao dịch,
tăng lượng vốn đến với người nghèo, khuyến khích người nghèo sử dụng vốn hiệu quả và
khuyến khích các ngân hàng cổ phần tham gia vào thị trường nông thôn, tăng cơ hội lựa
chọn cho người nghèo.
Thứ ba, xây dựng cơ chế quản lý phù hợp đối với hoạt động cho vay phi chính
thức để phát huy vai trò tích cực của khu vực này trong xóa đói giảm nghèo ở nông thôn.
Thực tế, các khoản vay phi chính thức có vai trò rất quan trọng đối với đời sống của hộ
nghèo nên cần được khuyến khích. Tuy nhiên, tín dụng phi chính thức thường gắn liền với
mức lãi suất rất cao, đặc biệt là những vùng sâu vùng xa nơi mà tín dụng chính thức không
vươn tới được, nên cần được quản lý chặt chẻ để giảm nguy cơ rơi vào tình trạng cùng cực
do không trả được nợ của người nghèo.
Thứ tư, cho người nghèo vay vốn cần kết hợp với các chính sách hỗ trợ hướng
dẫn sản xuất, kinh doanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tín dụng không có tác động làm
tăng thu nhập của người nghèo có thể do họ chưa có một phương án sử dụng vốn vay hiệu
quả. Vì thế người nghèo dễ rơi vào tình trạng nợ nần trầm trọng hơn và khó thoát ra khỏi
vòng luẩn quẩn của nghèo đói. Do đó, cung cấp tín dụng cho người nghèo cần gắn liền với
những chương trình hướng dẫn đầu tư sản xuất để người nghèo biết đầu tư vào đâu và đầu
tư như thế nào để sinh lợi. Đồng thời người cho vay cũng cần giám sát chặt chẻ mục đích
sử dụng vốn vay của người nghèo để hạn chế khả năng không trả được nợ.
Thứ năm, nghiên cứu này cũng như những nghiên cứu khác chỉ ra rằng đầu tư cho
giáo dục là cơ hội giúp người nghèo cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập và sớm thoát
khỏi cảnh nghèo đói. Chính vì vậy, cùng với chính sách tín dụng, nâng cao trình độ giáo
dục cho người nghèo là chìa khóa giúp họ thoát nghèo một cách bền vững. Mặc dù vậy,
điều này không đơn giản chỉ là miễn giảm học phí cho người nghèo. Bởi vì đối với hộ
nghèo thì những em nhỏ trong độ tuổi đi học cũng là một nguồn lao động quan trọng. Nếu
không nhận thấy được lợi ích lâu dài của giáo dục, các hộ nghèo sẽ buộc con mình ở nhà để
giữ em, chăn trâu… thay vì khuyến khích chúng đến trường. Vì vậy, chính sách giáo dục
40
cho người nghèo ở nông thôn đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa cần được thực hiện như thế nào
cũng phải xem xét thêm.
Thứ sáu, đẩy mạnh chính sách kế hoạch hóa gia đình cho người nghèo để giúp
họ thoát nghèo nhanh hơn. Kết quả nghiên cứu cho thấy những hộ gia đình có tỷ lệ phụ
thuộc cao sẽ có mức thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người thấp. Tỷ lệ phụ thuộc cao
không những không đảm bảo về đời sống sinh hoạt mà còn không có điều kiện để tiếp cận
với dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Chính điều này làm cho người nghèo cứ nghèo
từ đời này sang đời khác. Hơn nữa, đông con sẽ làm cho phụ nữ kiệt sức và thiếu điều kiện
hòa nhập với cộng đồng. Do vậy, cần có chương trình giáo dục, tuyên truyền phù hợp để
khuyến khích người nghèo giảm sinh đẻ, giúp họ thoát nghèo nhanh và bền vững hơn.
Thứ bảy, đa dạng hóa việc làm cũng là một cách để cải thiện đời sống cho người
nghèo. Chính quyền các địa phương cần phát triển các làng nghề, các ngành thủ công
nghiệp ở nông thôn để tạo thêm việc làm cho người nghèo vào lúc nhàn rỗi. Cho người
nghèo vay vốn để phát triển các ngành nghề hoặc kinh doanh, buôn bán… cần được xem
xét hỗ trợ cho phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng hộ.
5.3. Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng bộ số liệu có sẵn nên có một số hạn chế nhất định. Thứ
nhất, không có thông tin về động cơ vay vốn của các hộ nghèo. Có thể những hộ vay vốn là
tích cực tìm lối thoát nghèo hơn những hộ không vay hoặc có mối quan hệ tốt với người
xét duyệt. Nếu điều này xảy ra thì việc chia hộ nghèo thành hai nhóm sẽ không mang tính
ngẫu nhiên, làm giảm mức độ chính xác trong đánh giá tác động của tín dụng. Tuy nhiên,
sử dụng phương pháp Khác biệt kép cũng giúp hạn chế phần nào nhược điểm này.
Thứ hai, nghiên cứu này sẽ có ý nghĩa hơn nếu có thêm thông tin về khoảng cách từ
nơi ở của hộ nghèo đến trung tâm, đến điểm giao dịch gần nhất của ngân hàng, đến chợ…
Nhưng rất tiếc không thể khai thác từ bộ dữ liệu này.
Thứ ba, nghiên cứu chỉ mới chú trọng đến đánh giá tác động của tín dụng lên thu
nhập và chi tiêu trong khi tín dụng có thể đem lại nhiều lợi ích khác như cải thiện sức khỏe,
giáo dục, môi trường sống,… cho hộ nghèo. Do những lợi ích này khó đo lường và thiếu
thông tin nên nghiên cứu này chưa đánh giá được.
41
Để có kết quả chính xác hơn trong đánh giá tác động của tín dụng đến giảm nghèo,
các nghiên cứu tiếp theo nên xây dựng một bộ số liệu riêng để khắc phục những hạn chế
này, và nên xem xét tác động của tín dụng ở cả khu vực thành thị./.
42
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TIẾNG VIỆT
1. AAID (2003), Chương trình phân tích hiện trạng nghèo đói vùng Đồng bằng sông
Cửu Long, Báo cáo tổng hợp giai đoạn 1.
2. Lê Xuân Bá và đ.t.g (2001), Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, NXB
Nông Nghiệp, Hà Nội.
3. Phạm Vũ Lửa Hạ (2003), “Phát triển hệ thống tín dụng nông thôn”, Làm gì cho
nông thôn Việt Nam, NXB TP. HCM.
4. Nguyễn Trọng Hoài (2005), Nghiên cứu ứng dụng các mô hình kinh tế lượng phân
tích các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói và đề xuất giải pháp xóa đói giảm nghèo
ở Đông Nam Bộ, Đề tài Khoa học và Công nghệ cấp Bộ, Trường Đại học Kinh tế
TP. HCM.
5. Nguyễn Minh Kiều (1995), Tiền tệ, tín dụng ngân hàng và thanh tóa quốc tế,
Trường Đại học Kinh tế TP.HCM.
6. Liên Hợp Quốc (1995), Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, Hà Nội.
7. Mankiw, N. Gregory (2003), Nguyên lý kinh tế học, NXB Thống kê, Hà Nội.
8. Morduch, Jonathan (2005), Hứa Hẹn Tài chính vi mô, Bản dịch của Chương trình
Giảng dạy kinh tế Fulbright, TP. HCM.
9. Nhóm Tác chiến Bản đồ Nghèo đói liên Bộ (2003), Đói nghèo và bất bình đẳng ở
Việt Nam, các yếu tố về khí hậu, nông nghiệp và không gian, Viện Nghiên cứu
Chính sách Lương thực Quốc tế và Viện Nghiên cứu, Hà Nội.
10. Nguyễn Xuân Thành (2006), “Phân tích tác động của chính sách công: Phương
pháp ước lượng khác biệt trong khác biệt”, Bài giảng môn Thẩm định dự án Đầu tư
công, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, TP. HCM.
11. Nguyễn Xuân Thành (2006), “Ước lượng suất sinh lợi của việc đi học tại Việt Nam:
Phương pháp khác biệt trong khác biệt”, Bài giảng môn Thẩm định dự án Đầu tư
công, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, TP. HCM.
43
12. Văn Phòng Chính Phủ, Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc, Viện Phát triển
Kinh tế Ngân hàng Thế giới (1997), Xóa đói giảm nghèo, Tài liệu Đào tạo Quản lý
Kinh tế, NXB Hà Nội.
13. WB (2004), Báo cáo phát triển thế giới 2004: Cải thiện dịch vụ để phục vụ người
nghèo, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
14. WB (2009), Trợ cấp tiền mặt có điều kiện – Giảm nghèo trong hiện tại và tương lai,
Báo Cáo Nghiên cứu chính sách.
15. WB (2003), Báo cáo phát triển Việt Nam 2004: Nghèo, Hà Nội.
16. WB (1999), Tấn công nghèo đói, Hà Nội.
17. WB và Bộ phận phát triển quốc tế của Sứ quán Anh phối hợp với các Tổ chức phi
Chính phủ Action Aid Việt Nam, Oxfam (Anh), Save the Children (Anh) và
Vietnam-Sweden MRDP (1999), Việt Nam Tiếng nói của người nghèo.
18. WB khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, Vụ khu vực 1 (1995), Việt Nam – Đánh
giá sự nghèo đói và chiến lược.
TIẾNG ANH
19. Aghion, Beatriz Armendáriz de., Morduch, Jonathan (2005), The Economics of
Microfinace, Massachusetts Institute of Technology, USA.
20. Baker, Judy L. (2000), Evaluating the Impact of Development Projects on Poverty:
A Handbook for Paractittioners, The World Bank, Washington DC.
21. Copestake, James , Bhalotra, Sonia, and Johnson, Susan (2000), Assessing The
Impact Of Microcredit On Poverty: A Zambian Case Study, Centre for
Development Studies, University of Bath, UK.
22. Diagne, Aliou (1998), “Impact of Access to Credit on Income and Food Security in
Malawi”, A Discussion Papers, No. 46.
23. Gulli, Hege (1998), Microfinance and Poverty: Questioning the Conventional
Wisdom, Inter - American Development Bank, New York.
24. Johnson, Susan and Rogaly, Ben (1997), Microfinace and Poverty Reduction,
Oxfam Publication, UK.
25. Khandker, Shahidur R. (2009), Welfare Impacts of Rural Electrification: An
Evidence From Viet Nam, World Bank.
44
26. Margaret Madajewicz (1999), The Impact of Lending Programs on Poverty in
Bangladesh, Colombia University.
27. Marguerite S. Robinson (2001), The Microfinance Revolution, WB
28. Park, Albert, Brandt, Loren, and Giles, John (1997), Giving Credit Where Credit Is
Due: The Changing Role of Rural Financial Institution in China, The William
Davison Institute at The University of Michigan Business School.
29. Ravallion, Martin (2009), “A Comparative Perspective on Poverty Reduction in
Brazil, China and India”, A World Bank Policy Research Working Paper, truy cập
ngày 17/02/2010 tại địa chỉ: http://econ.worldbank.org.
30. Verner, Dorte (2005), “Poverty in Rural and Semi-Urban Mexico During 1992-
2002”, A World Bank Policy Research Working Paper, truy cập ngày 19/04/2010
tại địa chỉ: http://econ.worldbank.org.
31. Wolz, Axel, Fritzsch, Jana and Reinsberg, Klaus (2005), The Impact of Social
Capital on Farm and Household Income: Results of a Survey among Individual
Farmers in Poland, UK.
32. Zaman, Hassan (1999), Assessing the Impact of Micro-Credit on Poverty and
Vulnerability in Bangladesh, World Bank Development Economics Office of
Senior Vice President and Chief Economist.
33. Zeller, Manfred and Sharma, Manohar (2006), Rural Finance and Poverty
Alleviation, A Policy Report of International Food Policy Research Institute,
Washington DC, USA.
45
PHỤ LỤC
Dưới đây trình bày phụ lục về kết quả hồi qui trước và sau khi đã điều chỉnh hiện
tượng phương sai sai số thay đổi (HET) được thực hiện trên Eview để ước lượng tác động
của tín dụng đối với mức sống của người nghèo và một số kiểm định thống kê cần thiết.
Đối với mỗi mô hình, quá trình ước lượng được thực hiện theo các bước: bước 1, hồi qui
thông thường; bước 2, kiểm định White về hiện tượng phương sai sai số thay đổi, nếu thấy P(n*R2) <10%, chứng tỏ mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi thì thực hiện
bước 3, ước lượng ma trận đồng phương sai nhất quán để điều chỉnh sai số chuẩn trong
phép hồi qui ban đầu. Mặc dù phương pháp này không loại bỏ hoàn toàn được HET nhưng
kết quả chính xác hơn vì đã điều chỉnh cho phương sai và duy trì phương sai nhất quán.
Phụ lục 1. Kết quả hồi quy trên Eview về Tác động của tín dụng và các yếu tố khác
đến thu nhập của hộ nghèo
Phụ lục 1.1: Kết quả hồi qui 1
Biến phụ thuộc: Thu nhập thực/người/tháng (1000 đồng)
Tên biến độc lập
Hồi qui chưa chỉnh HET
Hồi qui đã chỉnh HET
Hệ số hồi qui
Pvalue
Hệ số hồi qui Trị thống
Pvalue
Trị thống kê T
kê T
Tung độ gốc
206.127
20.005
0.0000
206.127
22.614
0.0000
Nhóm hộ
-11.133
-0.780
0.4360
-11.133
-0.924
0.3561
Thời gian
15.100
1.036
0.3007
15.100
1.099
0.2725
Thời gian*Nhóm hộ
42.854
2.122
0.0344
42.854
2.132
0.0336
Tổng số quan sát
434
434
R2 điều chỉnh
0.043
0.043
Prob(F-statistic)
0.000286
0.000286
46
Phụ lục 1.2. Kết quả hồi qui 2: Đưa thêm các biến kiểm soát khác vào mô hình
Biến phụ thuộc: Thu nhập thực/người/tháng (1000 đồng)
Tên biến độc lập Hồi qui chưa chỉnh HET Hồi qui đã chỉnh HET
Pvalue Hệ số hồi Pvalue Hệ số hồi qui Trị thống kê T Trị thống kê T qui
Tung độ gốc 201.370 7.381 0.0000 201.370 8.305 0.0000
Nhóm hộ -5.997 -0.424 0.6721 -5.997 -0.520 0.6034
Thời gian 16.193 1.160 0.2466 16.193 1.291 0.1975
39.323 2.046 0.0413 39.323 2.058 0.0402
Thời gian*Nhóm hộ Qui mô hộ -10.754 -3.916 0.0001 -10.754 -4.119 0.0000
6.609 3.130 0.0019 6.609 3.102 0.0021
57.150 3.659 0.0003 57.150 3.489 0.0005
Trình độ giáo dục trung bình Tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp Dân tộc -1.910 -0.149 0.8819 -1.910 -0.176 0.8601
Miền Nam -1.469 -0.111 0.9116 -1.469 -0.107 0.9145
Tuổi chủ hộ 0.280 0.837 0.4032 0.280 0.904 0.3666
0.745 0.063 0.9499 0.745 0.058 0.9537
0.001 0.203 0.8393 0.001 0.213 0.8314
434 434
Giới tính chủ hộ Diện tích đất bình quân đầu người Tổng số quan sát R2 điều chỉnh 0.1293 0.1293
Prob(Fstatistic) 0.000000 0.000000
Phụ lục 1.3. Kiểm định Wald về ý nghĩa thống kê của hệ số hồi qui của các yếu tố: giới
tính của chủ hộ (Headmale), Dân tộc (Ethnic), Miền Nam (South), Diện tích đất canh tác
bình quân đầu người (Landperca).
β(8)=β(9)=β(11)=β(12)=0 Giả thiết: H0: β(8)=β(9)=β(11)=β(12)=0
β(8) β(9)
khác 0 H1: Có ít nhất một trong các hệ số β(8), β(9), β(11), β(12)
Mức ý nghĩa (cid:68)(cid:32) 5%.
47
Wald Test:
Equation: EQ02THUNHAP
Test Statistic
Value
df Probability
F-statistic
0.032307
(4, 422)
0.9980
Chi-square
0.129229
4
0.9980
Null Hypothesis Summary:
Normalized Restriction (= 0)
Value
Std. Err.
C(8)
-1.909874 10.83153
C(9)
-1.468858 13.67194
C(11)
0.744763 12.83338
C(12)
0.001315 0.006174
Restrictions are linear in coefficients.
β(8)=β(9)=β(11)=β(12)=0 , hay
Kết quả kiểm định Wald trên Eview cho thấy: Pvalue =0.9980> (cid:68)(cid:32) 5%. Do đó,
β(8) β(9) β(11) β(12) không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%. Tức là các yếu tố: β(8), β(9), β(11), β(12)
không đủ điều kiện để bác bỏ giả thiết H0. Nghĩa là β(8)=β(9)=β(11)=β(12)=0
giới tính của chủ hộ, dân tộc, vùng và diện tích đất bình quân đầu người không có tác động
đến thu nhập thực bình quân đầu người, vì vậy có thể đưa ra khỏi mô hình.
Phụ lục 1.4. Kết quả hồi qui 3: Đưa thêm biến tỷ lệ phụ thuộc và loại bỏ các biến giới
tính của chủ hộ, dân tộc, vùng và diện tích đất ra khỏi mô hình
Biến phụ thuộc: Thu nhập thực/người/tháng (1000 đồng)
Tên biến độc lập
Hệ số
Pvalue
Hệ số
Pvalue
Hồi qui chưa chỉnh HET Trị thống kê T
Hồi qui đã chỉnh HET Trị thống kê T
Tung độ gốc
206.469
8.461
0.0000
206.469
9.277
0.0000
Nhóm hộ
6.488
0.449
0.6540
6.488
0.540
0.5895
Thời gian
18.596
1.353
0.1769
18.596
1.502
0.1338
Thời gian*Nhóm hộ
25.142
1.293
0.1967
25.142
1.311
0.1907
Qui mô hộ
-8.071
-3.091
0.0021
-8.071
-3.133
0.0018
3.405
Trình độ giáo dục trung bình
6.462
0.0007
6.462
3.310
0.0010
3.809
Tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp
52.806
0.0002
52.806
3.860
0.0001
0.529
0.167
0.5974
0.167
0.549
0.5831
Tuổi của chủ hộ
-14.484
-3.191
0.0015
-14.484
-3.896
0.0001
Tỷ lệ phụ thuộc
0.1554
R điều chỉnh
0.1554
10.962
F-statistic
10.962
Prob(F-statistic)
0.000000
48
0.000000
Phụ lục 1.5: Kiểm định mức độ thích hợp của mô hình hồi qui về mối quan hệ giữa
thu nhập thực bình quân đầu người với tính dụng và các yếu tố khác.
Kết quả hồi qui cho thấy, trong cả 3 mô hình hồi qui về mối quan hệ giữa thu nhập
thực bình quân đầu người với tín dụng và các yếu tố khác, giá trị Prob(F-statistic)=0.000,
luôn nhỏ hơn 1%, chứng tỏ cả ba mô hình đều có ý nghĩa thống kê. Trong đó, mô hình 3 có R2 điều chỉnh là 15,54%, cao hơn so với R2 điều chỉnh của hai mô hình còn lại nên mô hình phù hợp nhất là mô hình 3. Hệ số R2 điều chỉnh này không cao là do mẫu quan sát rãi đều khắp cả nước nên mức độ phân tán rất lớn. Tuy nhiên trong mô hình đa biến, hệ số R2 điều
chỉnh bằng 15.54% vẫn chấp nhận được.
Phụ lục 2: Các bước hồi qui trên Eview về tác động của tín dụng và các yếu tố khác
lên chi tiêu thực cho đời sống bình quân người của hộ nghèo.
Phụ lục 2. 1. Kết quả hồi qui 1
Biến phụ thuộc: Chi tiêu đời sống thực/người/tháng (1000 đồng)
Hồi qui chưa chỉnh HET
Hồi qui đã chỉnh HET
Tên biến độc lập
Hệ số hồi qui
Pvalue Hệ số hồi qui
Pvalue
Tung độ gốc
166.567
0.0000
166.567
Trị thống kê T 20.449
0.0000
Trị thống kê T 21.991
Nhóm hộ
-9.125
-0.869
0.3851
-9.125
-0.972
0.3316
Thời gian
3.287
0.307
0.7591
3.287
0.295
0.7683
Thời gian*Nhóm hộ
37.191
2.505
0.0126
37.191
2.497
0.0129
434
434
0.032
0.032
5.746
Tổng số quan sát R2 điều chỉnh F-statistic
5.746
0.000734
0.000734
Prob(F-statistic)
49
Phụ lục 2. 2. Kết quả hồi qui 2: Đưa thêm các biến kiểm soát khác vào mô hình
Biến phụ thuộc: Chi tiêu thực cho đời sống/người/tháng (1000 đồng)
Hồi qui chưa chỉnh HET
Hồi qui đã chỉnh HET
Tên biến độc lập
Hệ số hồi qui
t-stat
Pvalue
t-stat
Pvalue
6.433
131.924
Tung độ gốc
Hệ số hồi qui 131.924
0.0000
0.0000
6.964
0.537
5.376
Nhóm hộ
5.376
0.5917
0.5299
0.629
0.025
0.237
Thời gian
0.237
0.9801
0.9810
0.024
2.164
29.056
Thời gian*Nhóm hộ
29.056
0.0310
0.0272
2.217
-4.855
-9.550
Qui mô hộ
-9.550
0.0000
0.0000
-4.581
4.820
6.949
Trình độ giáo dục trung bình
6.949
0.0000
0.0000
5.037
1.797
0.416
Tuổi của chủ hộ
0.416
0.0731
0.0584
1.898
2.613
21.059
Giới tính chủ hộ
21.059
0.0093
0.0216
2.306
0.562
5.994
Tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp
5.994
0.5741
0.5924
0.536
-1.718
-5.457
Tỷ lệ phụ thuộc
-5.457
0.0865
0.0416
-2.044
0.416
Diện tích đất bình quân đầu người
0.002
0.002
0.6775
0.6011
0.523
1.760
16.224
Dân tộc
16.224
0.0791
0.0478
1.985
3.728
36.190
Miền Nam
36.190
0.0002
0.0013
3.238
-0.137
-1.122
Miền Bắc
-1.122
0.8912
0.8860
-0.143
434
434
0.2516
0.2516
Tổng số quan sát R2 điều chỉnh
12.199 0.000000
12.199 0.000000
F-statistic Prob(F-statistic)
Phụ lục 2.3. Kiểm định Wald về ý nghĩa thống kê của hệ số hồi qui của các biến Tỷ lệ
thu nhập phi nông nghiệp (Nonfarinc), diện tích đất bình quân (landperca), Miền Bắc
(North).
β(9)=β(11)=β(14)=0 Giả thiết: H0: β(9)=β(11)=β(14)=0
β(9) β(11) β(14) khác 0
H1: Có ít nhất một trong các hệ số β(9),β(11),β(14)
Mức ý nghĩa (cid:68)(cid:32) 5%.
Wald Test:
Equation: EQ04CHITIEU
Test Statistic
Value
df Probability
F-statistic
0.177525
(3, 420)
0.9116
Chi-square
0.532574
3
0.9117
Null Hypothesis Summary:
Normalized Restriction (= 0)
Value
Std. Err.
5.994414 11.18789
C(9)
0.001843 0.003524
C(11)
-1.121966 7.818836
C(14)
50
β(9)=β(11)=β(14)=0 , hay
Kết quả kiểm định Wald trên Eview cho thấy: Pvalue =0.9116> (cid:68)(cid:32) 5%. Do đó,
β(9) β(11) β(14) không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%. Tức là không đủ cơ sở để β(9),β(11),β(14)
không đủ điều kiện để bác bỏ giả thiết H0. Nghĩa là β(9)=β(11)=β(14)=0
khẳng định các yếu tố: tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp, Diện tích đất bình quân/người, Miền
Bắc và diện tích đất bình quân đầu người có tác động đến thu nhập thực bình quân đầu
người của hộ nghèo, vì vậy có thể đưa ra khỏi mô hình.
Phụ lục 2. 4.Kết quả hồi qui 3: Loại các biến không có ý nghĩa thống kê trong mô hình
hồi qui 2
Biến phụ thuộc: Chi tiêu thực cho đời sống/người/tháng (1000 đồng)
Hồi qui đã chỉnh HET
Hồi qui chưa chỉnh HET
Tên biến độc lập
Pvalue Hệ số hồi qui
Pvalue
Hệ số hồi qui 133.279 5.473 -0.270 28.985
Trị thống kê T 7.439 0.549 -0.029 2.166
0.0000 0.5835 0.9772 0.0309
133.279 5.473 -0.270 28.985
Trị thống kê T 8.828 0.642 -0.028 2.215
0.0000 0.5211 0.9779 0.0273
Tung độ gốc Nhóm hộ Thời gian Thời gian*Nhóm hộ
-9.468
-4.916
0.0000
-9.468
-4.499
0.0000
Qui mô hộ Trình độ giáo dục trung bình
6.974 0.401
4.871 1.777
0.0000 0.0763
6.974 0.401
5.104 1.841
0.0000 0.0664
Tuổi chủ hộ
21.410
2.673
0.0078
21.410
2.386
0.0175
-5.657 16.791 38.613
-1.802 2.026 4.550
0.0723 0.0434 0.0000
-5.657 16.791 38.613
-2.175 2.269 4.048
0.0302 0.0238 0.0001
434
434
Giới tính chủ hộ Tỷ lệ phụ thuộc Dân tộc Miền Nam Tổng số quan sát R2 điều chỉnh
0.2561
0.2561
15.907
F-statistic
15.907 0.000000
0.000000
51
Prob(F-statistic)
Phụ lục 2.5: Kiểm định tính thích hợp của mô hình hồi qui về mối quan hệ giữa chi
tiêu thực cho đời sống của hộ nghèo với tín dụng và các yếu tố khác.
Kết quả hồi qui cho thấy, trong cả 3 mô hình hồi qui về mối quan hệ giữa chi tiêu
thực cho đời sống bình quân đầu người với tín dụng và các yếu tố khác, giá trị Prob(F-
statistic) =0.000, luôn nhỏ hơn 1%, chứng tỏ cả ba mô hình đều có ý nghĩa thống kê. Trong đó, mô hình 3 có R2 điều chỉnh bằng 25.61%, cao hơn so với R2 điều chỉnh của hai mô hình
còn lại nên mô hình phù hợp nhất là mô hình 3.
Phụ lục 3: Kết quả hồi qui trên Eview về tác động của tín dụng chính thức và phi
chính thức đối với thu nhập của hộ nghèo
Phụ lục 3.1. Kết quả hồi qui 1
Biến phụ thuộc: Thu nhập thực/người/tháng (1000 đồng)
Hồi qui chưa chỉnh HET
Hồi qui đã chỉnh HET
Tên biến độc lập
Pvalue
Pvalue
Hệ số hồi qui
Trị thống kê T
Hệ số hồi qui
Trị thống kê T
Tung độ gốc
193.248
6.676
0.0000 193.248
7.086
0.0000
Thời gian
18.641
1.348
0.1783
18.641
1.484
0.1385
Tín dụng chính thức
12.263
0.740
0.4600
12.263
0.878
0.3806
Tín dụng phi chính thức
-1.493
-0.081
0.9351
-1.493
-0.109
0.9135
Thời gian*Tín dụng chính thức
28.437
1.269
0.2053
28.437
1.214
0.2254
Thời gian*Tín dụng phi chính thức
21.707
0.867
0.3864
21.707
0.898
0.3698
Qui mô hộ
-7.921
-2.780
0.0057
-7.921
-2.972
0.0031
Giới tính chủ hộ
0.341
0.7332
4.017
0.312
0.7551
4.017
Trình độ giáo dục trung bình
2.856
0.0045
5.990
2.825
0.0050
5.990
Dân tộc
0.581
0.5613
7.638
0.666
0.5060
7.638
Tỷ lệ phụ thuộc
-14.241
-3.084
0.0022
-14.241
-3.733
0.0002
Tuổi chủ hộ
0.221
0.656
0.5123
0.221
0.703
0.4825
Tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp
52.618
3.409
0.0007
52.618
3.279
0.0011
Miền Nam
0.084
0.9331
1.177
0.080
0.9362
1.177
Miền Bắc
0.787
0.4315
9.378
0.765
0.4449
9.378
Tổng số quan sát
434
434
R2 điều chỉnh
0.1484
0.1484
F-statistic
6.388
6.388
0.000000
0.000000
52
Prob(F-statistic)
Phụ lục 3.2. Kết quả hồi qui 2
Biến phụ thuộc:Thu nhập thực/người/tháng (1000 đồng)
Hồi qui đã chỉnh HET
Hồi qui chưa chỉnh HET
Tên biến độc lập
Pvalue
Pvalue
Hệ số hồi qui
Trị thống kê T
Hệ số hồi qui
Trị thống kê T
Tung độ gốc
216.830 13.492
0.0000
216.830
13.673
0.0000
Thời gian
18.763
1.366
0.1727
18.763
1.510
0.1317
Tín dụng chính thức
11.058
0.679
0.4977
11.058
0.815
0.4157
Tín dụng phi chính thức
-1.649
-0.091
0.9277
-1.649
-0.120
0.9048
28.129
1.261
0.2081
28.129
1.204
0.2294
Thời gian*Tín dụng chính thức
0.856
0.3927
21.316
0.884
0.3773
Thời gian*Tín dụng phi chính thức 21.316
Qui mô hộ
-8.495
-3.295
0.0011
-8.495
-3.241
0.0013
Trình độ giáo dục trung bình
6.469
3.410
0.0007
6.469
3.302
0.0010
Tỷ lệ phụ thuộc
-14.504
-3.196
0.0015
-14.504
-3.789
0.0002
Tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp
52.477
3.797
0.0002
52.477
3.805
0.0002
Tổng số quan sát
434
434
R2 điều chỉnh
0.1560
0.1560
F-statistic
9.890
9.890
Prob(F-statistic)
0.000000
0.000000
Phụ lục 4: Kết quả hồi qui về tác động của tín dụng chính thức và phi chính thức lên
chi tiêu thực đời sống của hộ nghèo
Biến phụ thuộc: Chi tiêu thực cho đời sống/người/tháng (1000 đồng)
Hồi qui chưa chỉnh HET
Hồi qui đã chỉnh HET
Tên biến độc lập
Pvalue
Pvalue
Hệ số hồi qui
Trị thống kê T
Hệ số hồi qui
Trị thống kê T
Tung độ gốc
131.564
7.328
0.000
131.564
8.575
0.0000
Thời gian
-0.287
-0.030
0.976
-0.287
-0.029
0.9767
Tín dụng chính thức
12.078
1.064
0.288
12.078
1.255
0.2100
Tín dụng phi chính thức
-3.349
-0.267
0.790
-3.349
-0.357
0.7216
53
27.330
1.779
0.076
27.330
1.809
0.0711
Thời gian*Tín dụng chính thức Thời gian*Tín dụng phi chính thức
31.856
1.857
0.064
31.856
1.932
0.0540
Qui mô hộ
-9.534
-4.949
0.000
-9.534
-4.551
0.0000
Tuổi chủ hộ
0.412
1.824
0.069
0.412
1.857
0.0639
Giới tính chủ hộ
22.470
2.793
0.006
22.470
2.535
0.0116
Trình độ giáo dục trung bình
6.859
4.784
0.000
6.859
5.058
0.0000
Dân tộc
18.526
2.212
0.028
18.526
2.508
0.0125
Tỷ lệ phụ thuộc
-5.439
-1.727
0.085
-5.439
-2.058
0.0402
Miền Nam
38.269
4.508
0.000
38.269
3.999
0.0001
434
434
Tổng số quan sát R2 điều chỉnh
0.2562
0.2562
F-statistic
13.431
13.431
Prob(F-statistic)
0.000000

