BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH- TRƯỜNG
CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO II
ĐỖ THỊ LAN ANH
XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở
QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC VĂN HÓA,
GIÁO DỤC
MÃ SỐ : 5.07.03
NGƯỜI HƯỚNG DẨN KHOA HỌC: TS. ĐÀO QUANG TRUNG
TP. HỒ CHÍ MINH-2003
MỤC LỤC
4TMỤC LỤC4T .................................................................................................. 3
4TLỜI CẢM ƠN4T ............................................................................................ 7
4TPHẦN I. MỞ ĐẦU4T .................................................................................... 8
4T1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI4T .............................................................................. 8
4T2.MỤC ĐÍCH VÀ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI4T .............................................. 12
4T3.KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI4T............. 12
4T4.GIẢ THUYẾT KHOA HỌC4T ..................................................................... 13
4T5.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU4T ..................................................................... 13
4T6.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU4T ............................................................. 13
4T7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN4T ........................................................................ 14
4TCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI4T ................................... 15
4T1.1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU4T...................................................... 15
4T1.2.KHÁI NIỆM VÀ NỘI DƯNG CỦA XÃ HỘI HÓA VÀ XÃ HỘI HÓA
4T1.2.1. Xã hội hóa và xã hội hóa cá nhân4T .................................................. 18
4T1.2.2. Xã hội hóa hoạt động giáo dục4T ....................................................... 22
4T1.3. CƠ CHẾ CỦA XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC4T ................. 24
4T1.4.VAI TRÒ XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Đối VỚI VIỆC
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC4T .......................................................................... 18
PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO NÓI CHƯNG VÀ
4T1.4.1.Vai trò của xã hội hóa hoạt động giáo dục đối với việc phát triển sự
VỚI VIỆC HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CON NGƯỜI NÓI RIÊNG 4T ..... 28
4T1.4.2. Vai trò của xã hội hóa đối với việc hình thành nhân cách con người 4T
nghiệp giáo dục-đào tạo4T ........................................................................... 28
.................................................................................................................. 30
4T1.5.NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG
4T1.5.1.Giáo dục hóa xã hội:4T........................................................................ 31
4T1.5.2.Cộng đồng hóa trách nhiệm đối với hoạt động giáo dục:4T ............... 31
4T1.5.3.Đa dạng hóa các loại hình đào tạo:4T ................................................. 31
4T1.5.4.Đa phương hóa nguồn đầu tư:4T ......................................................... 32
4T1.5.5. Thể chế hóa sự quản lý Nhà nước về trách nhiệm:4T ........................ 32
4T1.6.CON ĐƯỜNG ĐỂ THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO
GIÁO DỤC4T ................................................................................................... 30
4T1.6.1. Xây dựng và củng cố mối quan hệ giữa nhà trường và các lực lượng
DỤC4T .............................................................................................................. 32
4T1.6.2. Dân chủ hóa giáo dục4T ..................................................................... 35
4T1.6.3. Đa dạng hóa giáo dục4T ..................................................................... 37
4T1.6.4. Đại hội Giáo dục các cấp4T................................................................ 38
4TCHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO
xã hội trong việc tham gia công tác giáo dục4T ........................................... 32
DỤC Ở QUẬN 124T .................................................................................... 40
4T2.1.VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN QUẬN 124T .................................. 40
4T2.2. NHẬN THỨC CỦA CÁC CÁP, CÁC NGÀNH TRONG QUẬN 12 VỀ
4T2.2.1. Nhận thức về xã hội hóa giáo dục4T .................................................. 42
4T2.2.2. Nhận xét về các giải pháp thực hiện xã hội hóa hoạt động giáo dục 4T
VẤN ĐỀ XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC4T ................................. 41
4T2.3.THỰC TRẠNG VIỆC TRIỂN KHAI XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG
.................................................................................................................. 43
4T2.3.1. Những giải pháp đã và đang thực hiện4T ........................................... 44
4T2.3.3. Những bài học từ thực tiễn xã hội hóa hoạt động giáo dục ở quận
GIÁO DỤC TẠI QUẬN 12, THÀNH PHÔ Hồ CHÍ MINH4T ....................... 44
4TCHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP TẰNG CƯỜNG XÃ HỘI HÓA
124T .............................................................................................................. 68
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ở QUẬN 124T ............................................... 69
4T3.1. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC-
4T3.1.1. Mục tiêu và nhiệm vụ phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo và hoạt
ĐÀO TẠO Ở QUẬN 12 ĐẾN NĂM 2005 VÀ 20104T .................................. 69
động xã hội hóa giáo dục ồ thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2005 và
4T3.1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo và hoạt
20104T .......................................................................................................... 69
4T3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG
động xã hội hóa giáo dục đến năm 2005 tại quận 124T ............................... 71
4T3.2.1.Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận
GIÁO DỤC Ở QUẬN 124T ............................................................................. 72
4T3.2.2.Tổ chức đại hội giáo dục các cấp4T .................................................... 74
4T3.2.3. Thu hút các lực lượng xã hội tham gia hoạt động giáo dục4T ........... 76
4T3.2.5. Thực hiện có hiệu quả cuộc vận động dân chủ hóa nhà trường4T ..... 80
4T3.2.6. Đa dạng hóa các loại hình giáo dục-đào tạo4T .................................. 83
4TPHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ4T ..................................... 84
4T1. KẾT LUẬN4T .............................................................................................. 84
4T2. KHUYẾN NGHỊ4T ...................................................................................... 85
4T2.1. Đối với Nhà nước và Bộ Giáo dục-Đào tạo:4T .................................... 85
4T2.2. Đối với thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giáo dục-Đào tạo:4T ............... 87
4T2.3.Đối với chính quyền và ngành giáo dục-đào tạo quận 12:4T ................. 89
4TTÀI IIỆU THAM KHẢO4T ....................................................................... 92
4TA. VĂN KIỆN, NGHỊ QUYẾT, TÀI IIỆU CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC 4T92
thức của các lực lượng xã hội về vai trò, vị trí của giáo dục4T ................... 72
4TB. CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN:4T ............................................................. 92
4TC. VĂN KIỆN VÀ TÀI LIỆU CỦA ĐỊA PHƯƠNG:4T ................................. 93
4TD. SÁCH, BÁO, TÀI IIỆU KHOA HỌC:4T ................................................... 94
4TPHỤ LỤC4T ............................................................................................... 100
LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
Cô Hiệu trưởng, Phòng Đào tạo và Quản lý khoa học Trường Cán bộ
Quản lý Giáo dục và Đào tạo II,
Thầy Hiệu trưởng, Phòng Khoa học công nghệ-sau Đại học Trường Đại
học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh,
Sở Giáo dục-Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh,
Phòng Giáo dục-Đào tạo quận 12 thành phố Hồ Chí Minh, đã tận tình
giúp đỡ chúng tôi hoàn thành luận án này.
Chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS. Đào Quang Trung, người
trực tiếp hướng dẫn chúng tôi suốt quá trình thực hiện luận án.
Chân thành cám ơn bạn bè cùng lớp Cao học nữ, đồng nghiệp và gia đình
đã động viên, nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi vượt mọi khó khăn để hoàn thành
luận án này.
Tác giả
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhân loại đang bước vào những năm đầu của thế kỷ 21- thế kỷ có rất
nhiều cơ may và thách thức. Mỗi quốc gia, cộng đồng, dân tộc có vượt qua
được mọi thách thức, nắm lấy những cơ may để phát triển bền vững hay không-
điều này phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố con người và vấn đề giáo dục.
Giáo dục có vai trò vô cùng to lớn trong sự nghiệp đào tạo và phát huy
nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Những con
người có học vấn, trung thực, có phẩm chất cao đẹp là tài sản quý báu nhất, là
nguyên khí của quốc gia. Những con người ấy chỉ có được thông qua quá trình
giáo dục. Giáo dục là sự nghiệp của quẫn chúng, trực tiếp Liên quan đến cuộc
sống, tương lai của mọi người, mọi gia đình và toàn xã hội.
Hơn nửa thế kỷ qua, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng
ta luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám
thành công, một trong những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước là xóa nạn mù
chữ và xây dựng nền giáo dục mới của nước Việt Nam độc lập.
Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và thời gian sau
chiến tranh, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, sự nghiệp giáo dục của nhân dân ta
vẫn được duy trI, ổn định và phát triển, tạo nên đội ngũ trí thức và lao động có
kỹ thuật, góp phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong
thời kỳ đổi mới hiện nay, Đảng ta càng quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đào
tạo con người và nguồn nhân lực.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ vu khẳng định giáo dục-đào tạo là quốc
sách hàng đầu, đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo
nàn và lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới. Cùng với việc khẳng
định vị trí, vai trò vô cùng quan trọng của giáo dục-đào tạo trong sự nghiệp đổi
mới, Đảng ta cũng cho rằng, giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng,
toàn dân nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII chỉ rõ: "Các vấn đề chính
sách xã hội đều giải quyết theo tình thần xã hội hóa. Nhà nước giữ vai trò nòng
cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong
xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những
vấn đề xã hội".[3- tr.114]
Văn kiện Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
đã khẳng định: "Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước
và mỗi cộng đồng, của từng gia đình và mỗi công dân. Kết hợp tốt giáo dục học
đường với giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, xây dựng môi trường giáo dục
lành mạnh; người lớn làm gương cho trẻ con noi theo. Phát động phong trào
rộng khắp toàn dân học tập, người người đi học, học ở trường, lớp và tự học
suốt đời"[5-Tr.11-12]
Tại phiên họp thường kỳ tháng 3-1997, Chính phủ đã thông qua Nghị
quyết số 90/CP về "Phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo
dục, y tế, văn hóa". Theo đó, xã hội hóa hoạt động giáo dục được hiểu là một
cuộc vận động quần chúng rộng rãi nhằm làm cho mỗi người được hưởng đầy
đủ quyền lợi, đồng thời nâng cao vai trò, trách nhiệm của Minh đối với hoạt
động giáo dục-đào tạo.
Thực chất của xã hội hóa hoạt động giáo dục-đào tạo theo Nghị quyết
90/CP của Chính phủ là: "Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các
tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của
Nhà nước".[6-Tr.5]
Giáo dục-đào tạo không phải là công việc của riêng những người làm
công tác giáo dục mà mọi cán bộ, đảng viên, mọi thành viên của các to chức
đoàn the xã hội và mọi người dân đều có trách nhiệm đóng góp tài lực, vật lực,
nhân lực nhằm phát triển giáo dục "thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước
trở thành một xã hội học tập" như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng
định.
Quan điểm trên đây của Đảng một mặt khẳng định trách nhiệm của các tổ
chức xã hội đối với giáo dục; mặt khác, nêu rõ mục đích, chức năng của giáo
dục.
Trước đây cũng như hiện nay, xu thế chung trong phát triển giáo dục tại
nhiều nước trên thế giới là xã hội hóa hoạt động giáo dục. Không chỉ ở các
nước đang phát triển mà cả các nước phát triển cũng tIm các biện pháp đẩy
mạnh xã hội hóa hoạt động giáo dục. Bởi vI, thực hiện xã hội hóa hoạt động
giáo dục cũng tức là trả lại bản chất xã hội của giáo dục cho giáo dục, đồng
thời trả lại nhiệm vụ giáo dục của xã hội cho chính nó, hướng tới xây dựng một
xã hội học tập.
Thế giới ngày nay đang dậy lên làn sóng cách mạng kỹ thuật mới, vừa
rộng rãi, vừa vô cùng sâu sắc, đặc biệt nhất là sự phát triển ồ ạt của công nghệ
thông tin. Xã hội hiện đại đòi hỏi mọi người phải có tri thức để xử lý nhanh
nhạy các thông tin và hòa nhập vào cộng đồng. Nhữns thay đổi nhanh chóng
của xã hội đặt ra cho giáo dục những yêu cầu mới: về mặt thời gian, giáo dục
phải kéo dài suốt đời người; về mặt không gian, giáo dục phải mở rộng khắp
toàn xã hội. Việc học tập trở thành quá trình không ngừng nâng cao năng lực
của mỗi cá nhân. Mỗi người không chỉ học ở trong nhà trường, mà học cả ở
trong gia đình, ngoài xã hội, học bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu, học những gI
cần thiết cho cuộc sống, học Liên tục, học suốt đời. Và như vậy, cả xã hội đều
phải gánh vác chức năng giáo dục chứ không chỉ riêng ngành giáo dục.
Với quan niệm như vậy, có thể thấy rõ nội hàm cơ bản của xã hội hóa
hoạt động giáo dục là hệ thống định hướng các hoạt động cá nhân, lực lượng xã
hội nhằm thúc đẩy tiến trình xã hội hóa cá nhân, nâng cao mặt bằng dân trí, xây
dựng cơ chế tổ chức quản lý giáo dục mới.
Quán triệt tư tưởng xã hội hóa hoạt động giáo dục được định hướng từ các
Nghị quyết Đại hội Đảng, những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và
chính quyền quận 12, bằng nhiều giải pháp thích hợp, ngành giáo dục ở đây đã
tích cực đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động giáo dục với nhiều nội dung phong
phú. Cùng với việc vận động xã hội đóng góp nhân lực, tài lực, vật lực, huy
động các nguồn đầu tư cho giáo dục, đa dạng hóa các loại hình trường lớp,
quận 12 đà tổ chức Đại hội giáo dục các cấp, vận động xã hội tham gia xây
dựng môi trường lành mạnh cho giáo dục, gắn kết giáo dục nhà trường với
cộng đồng xã hội. Nhờ vậy, từ một quận gặp rất nhiều khó khăn. đặc biệt là sự
mất cân đối nghiêm trọng về mạng lưới trường lớp, đến nay quận 12 đã giải
quyết một cách cơ bản chỗ học cho học sinh các cấp; chất lượng và hiệu quả
giáo dục không ngừng nâng cao. Đặc biệt, đây là quận đầu tiên trong 22 quận.
huyện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hoàn thành phổ cập THCS theo
chuẩn mới. Từ nguồn vốn ngân sách và nhân dân đóng góp, quận 12 đã xây
2 đóng góp 3,7 tỷ đồng và hơn 11.000 mP
P đất để xây trường học.
thêm 10 trường học mới với 245 phòng học khang trang. Nhân dân quận 12 đã
Thực tế cho thấy xã hội hóa hoạt động dáo dục đã làm cho sự nghiệp giáo
dục phát triền mạnh mẽ, phục vụ đắc lực cho các mục tiêu phát triển kinh tê -xã
hội. Xã hội hóa hoạt động giáo dục đã làm thay đổi căn bản phương pháp đào
tạo của giáo dục nhà trường, tạo điều kiện kết hợp dạy chừ, dạy người, dạy
nghề, kết hợp giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Xã
hội hóa hoạt động giáo dục làm cho giáo dục và nhà trường thực sự là bộ phận
khăng khít của xã hội, công tác giáo dục là nhiệm vụ của toàn xã hội. Ngoài ra,
xã hội hóa hoạt động giáo dục cũng tạo điều kiện cho giáo dục phát triển nhân
cách con người và tạo điều kiện cho con người tạo ra giá trị của Minh để phục
vụ xã hội.
Thời gian qua, trên thế giới và trons nước đã có nhiều nhà nghiên cứu đề
cập các khía cạnh khác nhau của xã hội hóa hoạt động giáo dục. Song các
nghiên cứu này chỉ dừng lại ở tầm vĩ mô và khái quát. Đến nay, chưa có công
trình nghiên cứu nào đi sâu vào tình hình cụ thể về xã hội hóa hoạt động giáo
dục tại quận 12-một trong những quận có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất ở thành
phố Hồ Chí Minh. Đảng bộ và chính quyền ở đây đã xác định xã hội hóa hoạt
động giáo dục là giải pháp cơ bản đê phát triển giáo dục nhằm phục vụ cho các
mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của quận. Là một phóng viên chuyên trách
theo dõi mảng giáo dục-đào tạo của Báo Sài Gòn Giải Phóng-cơ quan ngôn
luận của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, tiếng nói của nhân dân thành phố
mang tên Bác- ngoài việc thông tin kịp thời, đầy đủ các hoạt động giáo dục trên
báo, tôi cảm thấy rất thú vị khi đi sâu nghiến cứu vấn đề xã hội hóa hoạt động
giáo dục ở thành phố Hồ Chí Minh nói chung, quận 12 nói riêng. Tôi hy vọng
rằng, nghiên cứu này sẽ góp phần nhỏ bé thúc đẩy sự nghiệp giáo dục ở quận
12 và thành phố Hồ Chí Minh ngày càng phát triển.
2.MỤC ĐÍCH VÀ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
* Mục đích của đề tài:
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng xã hội hóa hoạt động giáo dục ở quận
12 thành phố Hồ Chí Minh, luận văn cố gắng đưa ra một số giải pháp thúc đẩy
sự phát triển hơn nữa công tác xã hội hóa hoạt động giáo dục nhằm nâns cao
chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội quận 12 nói
riêng và thành phố Hồ Chí Minh nói chung.
* Giới hạn của đề tài:
Xã hội hóa nói chung, xã hội hoa hoạt động giáo dục nói riêng là vấn đề
rất phức tạp, rộng lớn. Do điều kiện thời gian và khuôn khổ của một luận văn
cao học, đề tài chỉ:
- TIm hiểu một số nội dung cơ bản về xã hội hóa hoạt động giáo dục.
- Phân tích, đánh giá thực trạng xã hội hóa hoạt động giáo dục của quận
12 thành phố Hồ Chí Minh, từ đó cố gắng đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy
mạnh công tác xã hội hóa hoạt động giáo dục ở địa bàn này.
3.KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
* Khách thể nghiên cứu:
Xã hội hóa hoạt động giáo dục và những vấn đề có Liên quan như nội
dung hoạt động giáo dục, nguồn lực và môi trường giáo dục...
* Đối tượng nghiên cứu:
Phướng hướng, thực trạng, giải pháp xã hội hóa hoạt động giáo dục ở
quận 12 thành phố Hồ Chí Minh.
4.GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Xã hội hóa là một quy luật diễn ra trên mọi lĩnh vực của cuộc sống. Xã
hội hóa hoạt động giáo dục là tư tưởng chỉ đạo chiến lược, là giải pháp tổng
thể, chủ lực để giải quyết bài toán giáo dục của Đảng và Nhà nước. Thực tế tại
thành phố Hồ Chí Minh nói chung, quận 12 nói riêng, xã hội hóa giáo dục đã
có những thành công nhất định. Tuy nhiên, trong thực hiện xã hội hóa hoạt
động giáo dục tại quận 12, còn rất nhiều vấn đề đang đặt ra cần nhanh chóng
giải quyết. Từ việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi cho rằng, có thể và cần thiết
phải xây dựng những giải pháp trên cơ sở phát huy vai trò của các lực lượng xã
hội có tính đặc thù của địa phương quận 12 nhằm góp phần thúc đẩy sự nghiệp
phát triển giáo dục.
5.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau: Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận
về vấn đề xà hội hóa hoạt động giáo dục làm định hướng cho việc nghiên cứu
đề tài.
Thứ hai, phân tích thực trạng xã hội hóa hoạt động giáo dục ở quận 12.
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm thúc đẩy quá trình
xã hội hóa hoạt động giáo dục ở quận 12.
6.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về con
người, về giáo dục đào tạo và xã hội hóa hoạt động giáo dục.
Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết sử dụns các phương pháp sau
để nghiên cứu:
* Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Sưu tầm, phân tích các tài IIệu Liên quan đến giáo dục và xã hội hóa hoạt
động giáo dục như các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII,VIII,IX;
Nghị quyết Hội nghị lần thứ II BCHTƯ Đảng khóa VIII; Báo cáo của Bộ
Chính trị kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ II BCHTƯ
Đảng khóa VIII và phương hướng phát triển giáo dục từ nay đến năm 2005 và
2010; Chương trình hành động vI giáo dục-đào tạo của Đảng bộ và ƯBND
quận 12; Nghị quyết số 90/CP của Chính phủ về "Phương hướng và chủ ưương
xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa"...
Ngoài ra, người viết cũng sưu tầm và nghiên cứu nhiều bài báo, các báo
cáo tổng kết kinh nghiệm thực hiện xã hội hóa hoạt động giáo dục của nhiều
tỉnh, thành phố trong cả nước và ở các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh.
* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Tổng kết kinh nghiệm qua khảo sát bằng phiếu dưới dạng câu hỏi về
những vấn đề Liên quan đến xã hội hóa hoạt động giáo dục. Đặc biệt, chúng tôi
đã đi thực tế gặp gỡ, nghiên cứu những điển hình tiên tiến trong việc thực hiện
xã hội hóa hoạt động giáo dục tại quận 12 để từ đó rút ra những bài học thành
công và đề xuất hướng giải quyết những mặt tồn tại.
Ngoài ra, chúng tôi còn dự nhiều hội thảo khoa học, Đại hội giáo dục các
cấp ở quận 12 và các quận, huyện trong thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi
cũng gặp gỡ, thăm dò ý kiến của các cá nhân, tập thể, các nhà quản lý giáo dục,
các nhà hoạt động xã hội có kinh nghiệm về vấn để này.
7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn gồm 3 phần: Phần I: Mở đầu Phần II: Nội dung nghiên cứu
Gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng xã hội hóa hoạt động giáo dục ở quận 12
Chương 3: Những giải pháp tăng cường xã hội hóa hoạt động giáo dục ở
quận 12
Phần II: Kết luận và khuyến nghị
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tại các quốc gia trên thế giới, mặc dù bản chất xã hội, thể chế chính trị,
mục đích và tính chất của các nền giáo dục khác nhau, song xã hội hóa hoạt
động giáo dục là xu thế chung trong phát triển giáo dục của các nước. Không
chỉ những nước đang phát triển mà cả những nước phát triển như Mỹ, Pháp,
Anh, Nhật, Nga... cũng tIm các biện pháp của Minh nhằm huy động mọi nguồn
lực và điều kiện để phát triển giáo dục. ở nước ta, xã hội hóa hoạt động giáo
dục không phải là một quan điểm mới xuất hiện trons thời kỳ đổi mới mà là sự
thể hiện đường lối vận động quần chúng, huy động sức mạnh của toàn xã hội
vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đảng ta luôn coi trọng trong suốt quá
trình lãnh đạo đấu tranh cách mạng. Đại hội lần thứ VIII của Đảng chính thức
sử dụng thuật nsữ "xã hội hóa" thể hiện quan điểm chỉ đạo không những nhằm
phát triển sự nghiệp giáo dục nói riêng, mà để hoạch định hệ thống các chính
sách xã hội nói chung: "Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tình
thần xã hội hóa. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người
dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và các tổ chức
nước ngoài cùng tham sia giải quyết những vấn đề xã hội."[3-tr. 114]
Điều 11 Luật Giáo dục quy định: Mọi tổ chức, gia đình và công dân có
trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi
trường giáo dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo
dục. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển sự nghiệp giáo dục thực
hiện đa dạng hóa các loại hình nhà trường và hình thức giáo dục; khuyến khích,
huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp
giáo dục.
Nghị quyết 90/CP của Chính phủ khẳng định: Xã hội hóa hoạt động giáo
dục, y tế, văn hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân,
của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao
mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hóa và sự phát triển về thể chất và tình
thần của nhân dân.
Trong công trình nghiên cứu "Xã hội hóa công tác giáo dục- Nhận thức và
hành động", các giáo sư Bùi Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình
(Viện Khoa học Giáo dục xuất bản năm 1999) nhấn mạnh: Xã hội hóa hoạt
động giáo dục không phải là cách làm giáo dục chỉ có ở riêng nước ta mà là
cách làm giáo dục phổ biến trên thế giới, kể cả những nước công nghiệp hiện
đại, có nền kinh tế phát triển cao. Tuy thuật ngữ họ dùng không phải là xã hội
hóa hoạt động giáo dục mà là sự tham gia của cộng đồng vào giáo dục nhưng
về mặt ngữ nghĩa đã thể hiện được rõ ràng nội dung cơ bản của xã hội hóa hoạt
động giáo dục.
Xã hội hóa hoạt động giáo dục không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm
và vai trò của Nhà nước. Trái lại, xã hội hóa hoạt động giáo dục chỉ có thể thực
hiện thành công khi có sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Đảng, sự quản
lý chặt chẽ của Nhà nước và vai trò chủ động, nòng cốt của ngành giáo dục. Tại
TPHCM, Báo cáo số 991/GD-ĐT "Tổng kết 4 năm thực hiện Nghị quyết TƯ II
(khóa VIII), Chương trình hành động 05 của Thành ủy và mục tiêu, phương
hướng nhiệm vụ phát triển giáo dục-đào tạo thành phố từ 2001-2005" khẳng
định: Những năm gần đây, nhờ đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, làm tốt việc đa
dạng hóa các loại hình trường lớp nên không những đã góp phần ổn định, phát
triển quy mô mạng lưới các bậc học, ngành học theo cơ cấu mới của hệ thống
giáo dục quốc dân mà còn nâng cao được chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Nhiều giải pháp đa dạng mang tính khả thi như huy động các thành phần kinh
tế đầu tư xây dựng trường dân lập, tư thục; sử dụng tốt nguồn vốn vay kích
cầu; chuyển sang bán công các trường mầm non, trung học cơ sở và trung học
phổ thông ... đã góp phần ổn định tình hình của ngành giáo dục thành phố, tạo
thêm nhiều chỗ học cho con em nhân dân lao động, đồng thời cũng góp phần
từng bước hướns tới xây dựng một xã hội học tập. Thực hiện xã hội hóa giáo
dục, sự phối hợp giữa ngành giáo dục với chính quyền và các tổ chức xã hội
ngày càng chặt chẽ, tạo nên một môi trường giáo dục lành mạnh, góp phần làm
tốt công tác giáo dục và quản lý học sinh, tránh cho các em nhiễm những thói
hư tật xấu do tác động tiêu cực của cơ chế thị trường đang ngày càng phát triển
trong xã hội những năm qua. Bằng việc thực hiện xã hội hóa hoạt động giáo
dục, huy động nhiều nguồn lực đóng góp cho giáo dục, thành phố cũng đã có
nhiều chính sách ưu tiên, hỗ trợ cho giáo viên và học sinh vùng xa, vùns khó
khăn ngoại thành, đặc biệt là đối với giáo viên giảng dạy tại cần Giờ, Nhà Bè...
Sở GD-ĐT thành phố Hồ Chí Minh đã đề ra Chiến lược phát triển giáo
dục phổ thông thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 và những chỉ tiêu thực
hiện 5 năm 2001-2005. Chiến lược này nhấn mạnh các giải pháp pháp phát
triển giáo dục phổ thông ở TPHCM đến năm 2005 và những năm tiếp theo
gồm: nhóm giải pháp về tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học;
nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo; nhóm
giải pháp xây dựng đội ngũ; nhóm giải pháp về xã hội hóa giáo dục; nhóm giải
pháp về cải tiến công tác quản lý giáo dục.
Mục tiêu cơ bản của nhóm giải pháp về xã hội hóa giáo dục được thành
phố Hồ Chí Minh xác định là: huy động các thành phần xã hội cùng ngành giáo
dục-đào tạo xây dựng môi trường giáo dục, gắn kết nhà trường với xã hội để
tiến tới xã hội học tập. Phát huy tiềm năng các nguồn lực xã hội để tăng cường
cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học, huy động tối đa trẻ 5 tuổi đi học mẫu
giáo, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, hoàn thành phổ cập THCS, tiến
tới phổ cập THPT.
Tổng kết 5 năm (1995-2000) công tác xã hội hóa giáo dục tại một số quận
huyện ở TPHCM như quận 12, quận Gò vấp, quận 10, quận Bình Thạnh... cho
thấy: xã hội hóa giáo dục thể hiện tư tưởng chiến lược, coi sức mạnh của toàn
xã hội là điều kiện không thể thiếu để phát triển có chất lượng và hiệu quả sự
nghiệp giáo dục, có giá trị chỉ đạo quá trình phát triển giáo dục một cách lâu
dài chứ không phải là một ý đồ chiến thuật được vận dụng một cách nhất thời
cho một giải pháp tình thế.
Vấn đề xà hội hóa hoạt động giáo dục đã được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm. Bên cạnh những công trình nghiên cứu đã xuất bản thành sách như Xã hội
hóa công tác giáo dục của GS.TS Phạm Minh Hạc (Tổng chủ biên), NXB Giáo
dục- Hà Nội xuất bản năm 1997; "Xã hội hóa công tác giáo dục- Nhận thức và
hành động" Viện Khoa học Giáo dục xuất bản năm 1999...có một số luận văn
thạc sĩ về quản lý giáo dục cũng đã nghiên cứu về xã hội hóa hoạt động giáo
dục của các địa phương như Thực trạng và những biện pháp xã hội hoa giáo
dục trên địa bàn Đà Nấng (Luận văn Thạc sĩ cao học của Huỳnh Phước, Đại
học Sư phạm Hà Nội).... Hàng loạt các bài viết trên các báo, tạp chí cũng đề
cập đến các khía cạnh khác nhau của xã hội hóa hoạt động giáo dục...
Như vậy, xã hội hóa hoạt động giáo dục là con đường rất quan trọng để
phát triển giáo dục. Đây cũng là đề tài đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu, trao
đổi, học hỏi, đúc rút kinh nghiệm giữa các nước trong quá trình giao lưu, hợp
tác quốc tế về lĩnh vực giáo dục; giữa các địa phương trong nước, các cơ sở
giáo dục để đưa giáo dục đát nước ngày càng phát triển.
1.2.KHÁI NIỆM VÀ NỘI DƯNG CỦA XÃ HỘI HÓA VÀ XÃ HỘI
HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
Dựa trên lịch sử phát triển của con người, loài người và bằng thế giới
quan duy vật kết hợp với phương pháp biện chứng khoa học, C. Mác đã chỉ ra
rằng, bản thân đời sống xã hội về thực chất là hoạt động thực tiễn; con người
muốn tồn tại và phát triển trước hết cần phải ăn, mặc, ở, sau đó mới có thể làm
chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo...Muốn có cái để ăn, mặc, ở thI con
người phải sản xuất. Để sản xuất, con người cần có điều kiện tự nhiên và điều
kiện xã hội, đồns thời phải quan hệ với tự nhiên và quan hệ với nhau. Tất cả
những yếu tố và quan hệ đó hợp thành cái mà C. Mác gọi là "xã hội", tức là
toàn bộ đời sống hiện thực của con người. Nói cách khác, xã hội là tổng hợp
hoạt động và quan hệ của con người, còn bản chất của con người là tổng hòa
các quan hệ xã hội như C.Mác đã khẳng định.
1.2.1. Xã hội hóa và xã hội hóa cá nhân
a) Khái niệm
* Xã hội hóa
Xã hội hóa là khái niệm chỉ quá trình làm cho một cái gI đó mang tính xã
hội, hay trở thành cái chung của xã hội. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, xã hội
hóa là "làm cho thành của chung xã hội: xã hội hóa tư IIệu sản xuất".[90 - tr.
1.848]
Xã hội hóa là một quy luật diễn ra trên mọi lĩnh vực của cuộc sống. Xã
hội càng phát triển bao nhiêu thI càng cần xã hội hóa bấy nhiêu. Tuy nhiên, khi
xã hội càng phát triển thI phương thức xã hội hóa cũng sẽ khác.
* Xã hội hóa cá nhân
Xã hội hóa cá nhân là quá trình chuyển hóa từ "con người sinh học" trở
thành "con người xã hội", hay nói cách khác, đó là quá trình phát triển nhân
cách. Xã hội hóa cá nhân là quá trình giáo dục mỗi cá nhân từ một thực thể sinh
vật-người trở thành một thành viên xã hội có năng lực, có phẩm chất tham gia
vào các mặt hoạt động như học tập, lao động, hoạt động xã hội, chính trị, thể
thao, giải trí...biết cách ứng xử với tự nhiên, xã hội, con người, công việc, bản
thân Minh để hợp tác và hòa nhập được với cộng đồng, xã hội.
Xã hội hóa cá nhân là quá trình tương tác giữa cá nhân và xà hội, trong đó
cá nhân học hỏi và thực hành các tri thức, kỹ năng, phương thức cần thiết để
hội nhập vào xã hội. Nói cách khác, xã hội hóa cá nhân là quá trình cá nhân gia
nhập vào cộng đồng xã hội, đồng thời xã hội tiếp nhận cá nhân như một thành
viên, một phần tử tích cực của Minh. Quá trình này gồm 3 mặt:
-Học hỏi, học tập tri thức và các phương cách để cá nhân tham gia vào xã
hội, được xã hội chấp nhận và thừa nhận cách ứng xử của Minh.
-Phát triển năng lực cá nhân để đáp ứng các yêu cầu của xã hội, phù hợp
với những thay đổi của xã hội.
-Thích nghi với các nhóm xã hội khác nhau, với môi trường xung quanh.
Xã hội hóa cá nhân là một quá trình kéo dài suốt đời và được chia thành 3
giai đoạn: gia đình, nhà trường và xã hội. Để có thể xã hội hóa cá nhân, cần các
thiết chế xã hội nhất định. Nói cách khác, các thiết chế xã hội giữ vai trò quan
trọng trong quá trình hình thành con người xã hội.
Tóm lại, xã hội hóa không phải là một quá trình thụ động, bắt buộc, mà là
một quá trình hội nhập và có vai trò tích cực, tự giác, sáng tạo của cá nhân. Khi
xã hội thay đổi thI xã hội hóa cũng thay đổi. Ngược lại, xã hội hóa thay đổi tức
là xã hội đã thay đổi cả về cơ cấu, mối Liên hệ và nhịp độ.
b) Các thiết chế xã hội và vai trò của nó trong xã hội hóa cá nhân
Các thiết chế xã hội là một tổ chức với những con người cụ thể (tổ chức
Nhà nước, đoàn thể, gia đình, nhà trường...) và những quan hệ tương tác giữa
chúng ít nhiều có tính cách ổn định nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của
con người trong xã hội. Ví dụ, nhà trường là tổ chức kết hợp giữa thầy và trò,
hình thành nền một hệ thống nhưng quan hệ xã hội và thông qua đó tạo nên
hoạt động siáo dục-đào tạo.
Thiết chế xà hội theo một nghĩa nhất định là tập hợp các tương quan, các
ứng xử, các chuẩn mực..với những con người cụ thể thực hiện chúng. Trong
đời sống xã hội, người ta thường nói đến các thiết chế gia đình, giáo dục, kinh
tế, chính trị, văn hóa...Thiết chế xã hội còn được dùng để chỉ một thói quen hay
một tập tục, tập quán, một tổng thể các chuẩn mực được áp dụng trong một hệ
thống xã hội. Các chuẩn mực ấy sẽ không được áp dụng nếu thiếu những tổ
chức và con người thực hiện chúng.
Ở đây, chúng tôi xin đề cập đến 2 thiết chế xã hội có vai trò tác động trực
tiếp đến tiến trình xã hội hóa cá nhân:
-Gia đình:
Gia đình là tế bào cơ bản của xã hội để phát triển nhận thức của mỗi cá
nhân. Sự hình thành và phát triển nhân cách bao gồm những quá trình giáo dục
tổng thể; trong đó gia đình đóng vai trò quan trọng. Những tiền đề tốt đẹp nhất
của sự giáo dục được tạo ra ở mái ấm gia đình, nơi có mối quan hệ tốt đẹp của
tình yêu thương và tôn trọng giữa các thành viên của nó. Trong môi trường gia
đình êm đềm hạnh phúc, đứa trẻ được sống tốt đẹp, vIII vẻ và nhân cách của nó
sẽ được hình thành ngay từ tuổi ấu thơ trên một cơ sở lành mạnh và hài hòa.
Đối với đứa trẻ, cha mẹ là người thầy đầu tiên trong cuộc đời, sau đó là những
thành viên khác, trường học, đoàn thể và môi trường văn hóa. Vừa được sinh
ra, đứa trẻ đã được mẹ dạy cho cách bú dòng sữa ngọt ngào. Bằng dòng sữa ấy,
đứa trẻ lớn dần trong câu ca, lời ru êm đềm của mẹ. Việc giáo dục được hình
thành từ những ngày đầu tiên của đời người. Trong gia đình, đứa trẻ được phát
triển tốt về thể chất và tình thần. Sự gắn bó với những người thân yêu trong gia
đình hình thành nên tình đồng loại, tạo nên niềm tin, các giá trị và chuẩn
mực...Dần dần ở đứa trẻ sẽ xuất hiện ý niệm đầu tiên về "mái nhà" và hình
thành những cơ sở của đời sống tình cảm mà sau này sẽ giúp nó trong quan hệ
với mọi người và mọi vật. Cơ sở của những thái độ, những đức tính sau đây sẽ
được hình thành: sự đồng cảm với người khác, ý thức về sự công bằng và hài
lòng khi được cộng tác với người khác trong công việc, tình đoàn kết, lòng tận
tụy, đức hy sinh...Trên con đường phát triển của Minh, tính cách của đứa trẻ
được mài giũa, sẽ trở nên phong phú hơn, sẽ được điều chỉnh và phát triển
nhưng chính từ những ngày đầu tiên của tuổi ấu thơ, các giá trị nhân cách của
nó đã được hình thành.
Ảnh hưởng tích cực của gia đình được thực hiện qua môi trường gia đình:
môi trường văn hóa gia đình, môi trường giáo dục gia đình... Gia thế, gia cảnh,
giáo dục gia đình...tất cả đều tác động đến nhân cách còn non nớt của đứa trẻ.
Những đứa trẻ có hoàn cảnh gia đình không êm ấm sẽ ảnh hưởng không nhỏ
đến cuộc sống sau này.
-Nhà trường: Trường học đóng vai trò chủ đạo trong quá trình giáo dục,
phát triển nhân cách và xã hội hóa cá nhân.
Giáo dục là một hoạt động xã hội, là hiện tượng lịch sử, tồn tại trong mọi
thời đại. Nhưng cũng chính trong tiến trình phát triển của lịch sử, sự phân công
lao động, chuyên môn hóa đã làm xuất hiện hệ thống giáo dục và nhà trường.
Công việc giáo dục, đặc biệt là giáo dục thế hệ trẻ được giao cho một thiết chế
chuyên biệt, đó là thiết chế giáo dục. Thiết chế này bao gồm một hệ thống các
ngành học, bậc học mà đơn vị cơ sở là nhà trường. Nhà trường trở thành một
hình thức, thiết chế mang tính tổ chức cao với một hệ thống các thành tố: mục
tiêu, nội dung, phương pháp, điều kiện, hình thành tổ chức, quy chế đánh giá
đối với các hoạt động đào tạo. Nhà trường hoạt động theo chương trình, kế
hoạch, có đội ngũ những nhà chuyên môn-những nhà giáo dục được đào tạo
một cách có hệ thống. Nhà trường có những phương tiện chuyên môn bao gồm
cơ sở trường lớp và trang thiết bị dạy học tương ứng với từng bộ môn để
chuyển tải nội dung giáo dục bằng những phương pháp khoa học, hợp lý, nhằm
thực hiện một hệ thống những mục tiêu, mục đích giáo dục đã xác định. Nhà
trường là nơi cung cấp nền học vấn một cách hệ thống, đầy đủ, phong phú để
phát triển nhân cách, phát triển tư duy và trí tuệ của con người. Nhà trường nào
cũng gắn với cộng đồng, hoạt động theo mục tiêu phát triển cộng đồng. Một
nhà trường đích thực, chân chính là nhà trường tổ chức được quá trình đào tạo
mang tính lao động dân chủ, nhân văn hiện thực. Hiểu nhà trường là như vậy
để đặt nó trong hệ thống xã hội và làm rõ vai trò của nó trong xã hội hóa hoạt
động giáo dục.
1.2.2. Xã hội hóa hoạt động giáo dục
Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống xã hội của loài người. Triết học
Mác đã khẳng định: Trong quá trình tồn tại, con người bao giờ cũng cải tạo tự
nhiên, chình phục tự nhiên để tự nhiên phục vụ cho Minh. Trong quá trình tồn
tại, con nsười cũng nhận thức chính Minh, cải tạo chính Minh và chình phục
chính Minh để phục vụ cho Minh. Con người luôn sống trong các hoàn cảnh xã
hội nhất định, và khi nói đến con người tức là phải xem đó là con-người-xã-
hội.
Xã hội luôn phát triển và tiến bộ không ngừng. Trong quá trình phát triển
của xã hội, giáo dục là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất, là động lực của mọi sự
phát triển. Điều này có nghĩa là không thể tách rời giáo dục ra khỏi đời sống xà
hội, hay nói cách khác, không có giáo dục đứng ngoài xã hội, không có xà hội
nào có thể phát triển mà không gắn IIền với vai trò lịch sử của một nền giáo
dục. Sự tồn tại và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ
phát triển kinh tế-xã hội và ngược lại. Điều này phản ánh tính chất xã hội của
giáo dục. Giáo dục mang bản chất xã hội. Xã hội càng phát triển thI vai trò của
giáo dục càng to lớn. Tuy nhiên, tính chất xã hội của giáo dục và xã hội hóa
giáo dục không phải la một. Bởi vI tự thân hoạt động giáo dục luôn có tính chất
xã hội nhưng không thể tạo nên động lực mạnh mẽ, mới mẻ của hoạt động giáo
dục trong một xã hội năng động luôn phát triển.
Vậy xã hội hóa hoạt động giáo dục là gI?
Nếu như "xã hội hóa" là làm cho một cái gI đó mang tính xã hội và trở
thành cái chung của xã hội, thI "xã hội hóa hoạt động giáo dục" là quá trình
giáo dục gia nhập và hòa nhập vào xã hội, vào cộng đồng, đồng thời xã hội tiếp
nhận giáo dục như là công việc của Minh, do Minh và vI Minh. Đó là mối quan
hệ biện chứng.
Nói cách khác, xã hội hóa hoạt động giáo dục là quá trình làm cho sự
nghiệp giáo dục, một mặt thâm nhập sâu vào các ngành, các cấp, mọi gia đình
và mỗi cá nhân; mặt khác giáo dục trở thành hoạt động chuns của toàn xã hội,
tạo ra một xã hội học tập.
Xã hội hóa hoạt động giáo dục (nói gọn là xã hội hóa giáo dục) là tư
tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng nhằm huy động sức mạnh của toàn xã hội
trong việc xây dựng và phát triển giáo dục. Tư tưởng đó được xuyên suốt trong
toàn bộ quá trình giáo dục nhằm phát triển giáo dục một cách lâu dài. cần nhấn
mạnh rằng, đây là giải pháp tổng thể, chủ lực để phát triển giáo dục kể cả khi
nhân dân có mức thu nhập cao, ngân sách Nhà nước dồi dào chứ không phải là
một biện pháp tạm thời có ý nghĩa tình thế khi Nhà nước thiếu thốn ngân sách.
Từ định hướng chiến lược này, đặt ra yêu cầu phải làm chuyển biến hoạt
động giáo dục (vốn là hoạt động có tính chuyên môn, nghiệp vụ của một thiết
chế xã hội là ngành giáo dục) trở thành một hoạt động rộng lớn, sâu sắc thâm
nhập và tác động vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thúc đẩy sự phát triển
và tiến bộ không ngừng của xã hội. Xã hội hóa giáo dục đòi hỏi phải huy động
mọi nguồn tài lực, vật lực của xã hội tham gia giải quyết mọi nhiệm vụ, vấn đề
của giáo dục, và đây được xem là con đường, biện pháp tiên quyết để thực hiện
trọn vẹn, lâu dài các chức năng, nhiệm vụ của giáo dục theo mục tiêu đã xác
định.
Ý nghĩa phổ biến nhất của xã hội hóa giáo dục là tổ chức cho toàn xã hội
làm giáo dục. Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa VIII đã thể hiện một quan niệm cụ thể về xã hội hóa giáo dục là huy động
xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền
giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước.
Như vậy, tiến hành xã hội hóa hoạt động giáo dục là thực hiện bản chất xã
hội của sự nghiệp giáo dục, huy động các lực lượng xã hội làm giáo dục, tạo
môi trường cho bản chất xã hội của giáo dục phát huy tối đa vai trò của Minh,
làm cho giáo dục đáp ứng có hiệu quả nhu cầu thực tế của xã hội, gắn với xã
hội.
1.3. CƠ CHẾ CỦA XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
Trước khi nói tới cơ chế tổ chức tham gia của xã hội làm giáo dục, cần
xác định lực lượng tham gia xã hội hóa giáo dục. Giáo dục-đào tạo chỉ có thể
đạt hiệu quả khi kết hợp tốt 3 môi trường: giáo dục nhà trường, giáo dục gia
đình và giáo dục xã hội. Ngành giáo dục, nhà trườnơ là lực lượng giữ vai trò
trung tâm, nòng cốt, chủ động trong việc huy động cộng đồng làm giáo dục.
Ngoài ngành giáo dục còn có các nhóm đối tượng sau tham gia vào hoạt động
xã bội hóa giáo dục: Các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương (Hội đồng
nhân dân và ủy ban nhân dân); các cơ quan chuyên môn Ủy ban nhân dân (ban,
ngành chức năng); các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội; các cơ sở sản xuất
kinh doanh, phục vụ; xã, phường và các tổ chức cộng đồng ở cơ sở.
Bên cạnh đó, một đối tượng không thể thiếu khi tiến hành xã hội hóa giáo
dục là gia đình-một thiết chế cơ bản của xã hội thực hiện một trong những chức
năng của nó là giáo dục.
Thực chất của xã hội hóa giáo dục như Nghị quyết Hội nghị lần thứ II
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định là tổ chức sự phối hợp
chặt chẽ và thường xuyên giữa các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục đào
tạo với Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể quần chúng để vận động nhân dân tham
gia có hiệu quả vào sự nghiệp giáo dục. "Xã hội hóa công tác giáo dục không
có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm và vai trò của Nhà nước. Trái lại, xã hội hóa
công tác siáo dục chỉ có thể thực hiện thành công khi có sự lãnh đạo trực tiếp,
thường xuyến của Đảng, sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước và vai trò chủ động,
nòng cốt của ngành giáo dục." [32-Tr.8]
Nói đến tổ chức sự phối hợp tức là nói về cơ chế. Để huy động và phối
hợp được các lực lượng xã hội, các ngành, các giới tham gia vào sự nghiệp giáo
dục, cần có cơ chế và hình thức phù hợp với chức năng, tính chất của từng
ngành. Cơ chế là sự vận hành của các mối quan hệ giữa các thành tố (bộ phận)
trong một cấu trúc (tổ chức) nhằm đạt hiệu quả của hoạt động.
Đây là sự vận hành trong cơ chế tất yếu và tự động. Trong đó, các bộ
phận ở đây là các lực lượng xã hội; cấu trúc (tổ chức) ở đây là toàn bộ sự IIến
kết sư phạm-xã hội trong một tập hợp có tính toàn bộ ổn định hoặc cơ động tùy
theo vụ việc; hiệu quả ở đây là hiệu quả của xã hội hóa hoạt động giáo dục;
quan hệ ở đây là quan hệ phối hợp. Sự phối hợp của các lực lượng trong cộng
đồng được coi là một phương hướng hoạt động lâu dài, có mục tiêu, có nội
dung và biện pháp thích hợp.
Như vậy, cơ chế tổ chức xà hội hóa giáo dục bao gồm các vấn đề xác định
các thành tố trong hệ thống các mối quan hệ trong quản lý, các hình thức quan
hệ, lề lối quan hệ, đặc biệt là sự phối hợp các lực lượng xã hội cùng làm giáo
dục.
Sự vận hành của cơ chế xã hội hóa giáo dục đương nhiên cũng nằm trong
cơ chế phổ quát của xã hội ta là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và phát huy
quyền làm chủ của nhân dân. Các nguyên tắc này cũng đồng thời chỉ ra vai trò
quyết định của Đảng bộ và chính quyền địa phương ương hệ thống các quan hệ
quản lý xã hội hóa giáo dục. Các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương cần
xác định được vai trò này.
Ngành giáo dục, nhà trường giữ vai trò trung tâm, nòng cốt, chủ động
trong việc huy động cộng đồng làm giáo dục. Trong cơ chế tổ chức xã hội hóa
giáo dục, nếu nhà trường không tự thân vận động thI cũng không tạo ra sự vận
động của các lực lượng khác.
Nhà trường phải giữ vai trò trung tâm trong mối liên kết xã hội-giáo dục,
tức là trong các hình thức cộng tác, phối hợp, cam kết, thỏa thuận Liên kết, hợp
đồng...Nếu không như thế thI không thể tổ chức sự tham gia của các lực lượng
xã hội có hiệu quả.
Với vị trí trung tâm của các tổ chức trong cơ chế xã hội hóa giáo dục, nhà
trường, ngành giáo dục phải là người thật sự chủ động trong tổ chức thực hiện
các chủ trương, giải pháp do chính Minh đề ra. Đã là hoạt động giáo dục thI
người có chuyên môn giáo dục phải có trách nhiệm. Hơn ai hết, ngành giáo
dục, nhà trường hiểu rõ những yêu cầu của Minh về hoạt động xã hội hóa giáo
dục để thực hiện mục đích, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục, nhằm
đáp ứng nhu cầu của giáo dục vI mục đích chung là phát triển kinh tế-xã hội
của đất nước.
Để đảm bảo cho cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm
chủ" được vận hành thuận lợi trong xã hội hóa giáo dục-hoạt động vừa có tính
chất Nhà nước, vừa có tính chất xã hội-cần phải thể chế hóa. Thể chế hóa trong
xã hội hóa giáo dục là làm cho sự tham gia của xà hội vào công tác giáo dục
được thực hiện theo nhưng quy định, luật lệ, chế định. phép tắc ổn định mang
tính chất pháp lý, có chính sách chế độ rõ ràng, dân chủ và công bằng.
Thể chế hóa gắn với cơ chế và thống nhất với nhau về mục đích là nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý trong việc huy động, khuyến khích và tổ chức sự
tham gia của xã hội vào công tác giáo dục, làm cho sự tham gia đó có nề nếp ,
đồng bộ, ổn định và đạt hiệu quả cao, tránh nhưng sai lầm khuyết điểm, ảnh
hưởng đến cuộc vận động mà hiệu quả gánh chịu nhiều nhất là nhà trường và
ngành giáo dục. (Chẳng hạn như tránh sử dụng không đúng sự đóng góp của
nhân dân khiến phụ huynh, xã hội kêu ca làm mất uy tín nhà trường). Sự thể
chế hóa thể hiện bằng hai hình thức:
+Bằng tổ chức (thiết chế, cơ cấu, bộ máy, cơ quan), trong đó Đại hội Giáo
dục các cấp có ý nghĩa quan trọng. Một trong nhưng ý nghĩa đó là thể chế hóa
bằng tổ chức bầu ra Hội đồng giáo dục, các tiểu ban của Hội đồng Giáo dục,
Hội Cha mẹ học sinh của các trường... Ngoài ra còn có những tổ chức được lập
ra trong từng giai đoạn để thực hiện các chương trình mục tiêu của giáo dục
như Ban Phổ cập và xóa mù chữ...
+Bằng hệ thống văn bản luật pháp, những quy định dưới luật, nói chung
là những quy phạm mans tính pháp luật.
Đặc trưng của quản lý Nhà nước là quản lý bằng luật pháp. Vận dụng vào
xã hội hóa giáo dục, cần phải có cơ sở pháp luật giúp cho tiến trình được ổn
định và phát triển bền vững, không hình thức, lúc lên, lúc xuống. Ngoài những
đạo luật như Luật Phổ cập Giáo dục Tiểu học, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo
dục trẻ em, Luật Giáo dục, còn có những hình thức dưới luật như những điều
lệ, nghị quyết, những quy định mang tính xã hội, kể cả những quy ước, cam
kết, thỏa thuận. VI thế, ở những nơi làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục,
ngành giáo dục đều tham mứu với cấp ủy và chính quyền địa phương để có
những nghị quyết, kế hoạch, chương trình về siáo dục hoặc đưa chương trình,
kế hoạch về giáo dục thành một bộ phận kế hoạch của Ủy ban nhân dân. Đặc
biệt, nghị quyết của Đại hội Giáo dục, của Hội đồng Giáo dục các cấp phản ánh
ý nguyện của quần chúng, những cam kết của các tổ chức...trở thành cơ sở
pháp lý cho sự điều hành của các cơ quan và các tổ chức ở địa phương. Điều lệ
Hội cha mẹ học sinh, Điều lệ tổ chức và hoạt động của Hội đồng Giáo dục các
cấp, các nghị quyết, thông tư Liên tịch giữa các ngành từ Trung ương đến cơ sở
có Liên quan đến giáo dục đều biểu hiện sự thể chế hóa bằng văn bản.
Tóm lại, để xã hội hóa giáo dục có kết quả, cần quan tâm đến thể chế hóa
về mặt tổ chức, cơ cấu, chức năng đối với các ngành, các tổ chức, cộng đồng và
cá nhân, về mặt quan hệ quản lý giữa các thành tố tham gia vào công tác giáo
dục.
1.4.VAI TRÒ XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Đối VỚI
VIỆC PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO NÓI
CHƯNG VÀ VỚI VIỆC HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CON
NGƯỜI NÓI RIÊNG
1.4.1.Vai trò của xã hội hóa hoạt động giáo dục đối với việc phát
triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo
Như phần trên đã đề cập, xã hội hóa giáo dục là yêu cầu xuất phát từ bản
chất xã hội vốn có của giáo dục, một tư tưởng chiến lược lâu dài, một bộ phận
của đường lối giáo dục, một con đường phát triển dáo dục ở nước ta. Xã hội
hóa giáo dục là động lực để vừa mở rộng quy mô phát triển, vừa nâng cao chất
lượng dáo dục đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước. Xã hội hóa
giáo dục thực chất là một cuộc vận động lớn có tính chất toàn xã hội để xây
dựng một nền giáo dục Việt Nam chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, đào tạo
nên những con người có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực đáp ứng yêu cầu
của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Xã hội hóa giáo dục vừa là tư tưởng chỉ đạo, vừa là giải pháp có tính khả
thi để đưa giáo dục Việt Nam phát triển.
Ở đây, chúng tôi nhấn mạnh vai trò của xã hội hóa hoạt động giáo dục đối
với việc phát triển quy mô giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục, xây dựng
một xã hội học tập.
a) Xã hội hóa hoạt động giáo dục góp phần phát triền quy mô giáo dục
Thực hiện đa dạng hóa các hình thức giáo dục, các loại hình trường lớp,
quy mô giáo dục ngày càng phát triển. Việc mở rộng các hình thức giáo dục phi
chính quy bên cạnh các hình thức chính quy, phát triển các loại hình bán công,
dân lập, tư thục bên cạnh trường công lập vốn là hình thức độc tôn trước đây đã
mở ra khả năng huy động nhiều lực lượng xã hội tham gia vào công tác giáo
dục, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển mạnh mè hơn, thực hiện có hiệu quả
hơn nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
b) Xã hội hóa hoạt động giáo dục góp phần nâng cao chất lượng giáo dục-
đào tạo.
Trong rất nhiều tồn tại của giáo dục Việt Nam hiện nay, vấn đề chất
lượng giáo dục luôn là nỗi bức xúc, gây mối quan tâm sâu sắc trong dư luận xã
hội. Xã hội hóa giáo dục là một giải pháp quan trọng sấp phần nâng cao chất
lượng 2Iáo dục-đào tạo. Xã hội hóa giáo dục tạo nên nhừns thuận lợi cho việc
tổ chức quá trình giáo dục của nhà trường để làm nên chất lượng. Điều này thể
hiện bằng việc huy động toàn xã hội tham gia vào việc cụ thể hóa mục tiêu dáo
dục, việc cải tiến nội dung và phương pháp giáo dục, việc xây dựng môi trường
giáo dục thuận lợi cho sự phát triển nhân cách trẻ, tạo điều kiện tăng cường vật
chất để nâng cao chất lượng giáo dục. Trong lúc ngành giáo dục đang gặp khó
khăn thI thực hiện xã hội hóa giáo dục bằng việc đa dạng hóa các nguồn lực
nhằm xây dựng, phát triển cơ sở vật chất trường lớp, mua sắm trang thiết bị dạy
học, xây dựng các quỹ khuyến học, khuyến tài...thực sự tác động đến chất
lượns giáo dục. Đặc biệt, xà hội hóa giáo dục sẽ góp phần tăng cường lực
lượng của người dạy và người học, phát triển yếu tố con người trong giáo dục,
phát huy tiềm năng giáo dục ở người dạy và người học. [32-tr.26]
c) Xã hội hóa hoạt động giáo dục để xây dựng một xã hội học tập
Xã hội hóa giáo dục tạo lập một phong trào học tập sâu rộng trons toàn xã
hội, vận động toàn dân, trước hết là thế hệ trẻ và những người trong độ tuổi lao
động, thực hiện học tập thường xuyên, học tập Liên tục, học tập suốt đời, làm
cho xã hội ta trở thành một xã hội học tập, mọi người làm việc tốt hơn, có thu
nhập cao hơn và có cuộc sống tốt hơn. Xã hội hóa giáo dục nhằm mục tiêu
"giáo dục cho mọi người". Muốn giáo dục cho mọi người thI mọi người phải
tham gia công tác giáo dục.
Xã hội hóa giáo dục tạo ra xã hội học tập, thực hiện sự bình đẳng về cơ
hội học tập, cơ hội hưởng thụ giáo dục cho tất cả mọi người, giúp cho con em
các gia đình nghèo khó, các gia đình chính sách được đi học, khắc phục tình
trạng bỏ học vI những lý do tài chính, đảm bảo cho những ai muốn đi học đều
có cơ hội đến trường, có nơi học tập, mọi người đều được học, được nâng cao
trình độ, tiếp cận với những vấn đề mới, áp dụng được tiến bộ khoa học vào đời
sống hàng ngày .
Tóm lại, xã hội hóa giáo dục là xu thế phát triển tất yếu phù hợp với quá
trình xã hội hóa, quốc tế hóa nền kinh tế, phù hợp với cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần vận động trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam. Thực hiện xã hội hóa giáo dục đảm bảo cho giáo dục thực sự là sự
nghiệp của toàn dân, toàn xã hội, đảm bảo huy động được mọi nguồn lực của
xã hội để giáo dục phát triển mạnh mẽ.
1.4.2. Vai trò của xã hội hóa đối với việc hình thành nhân cách
con người
Xã hội hóa không chỉ có vai trò thúc đẩy sự nghiệp giáo dục-đào tạo phát
triển mà còn có vai trò tích cực trong việc hình thành nhân cách con người. Bản
chất của giáo dục mang tính xã hội sâu sắc. Con người là tổns hòa của các mối
quan hệ xã hội. Nhân cách của con người hình thành và chịu tác động của cả 3
môi trường là nhà trường, gia đình và xã hội. Xã hội hóa giáo dục, huy động
toàn xã hội làm giáo dục chính là để trả lại chức năng giáo dục của xã hội cho
xã hội, thúc đây tiên trình xã hội hóa cá nhân, làm cho mọi người có đủ năng
lực. phàm chất tham gia vào các mặt hoạt động xã hội. Nói cách khác, xà hội
hóa giáo dục là quá trình xã hội nhIn nhận giáo dục như là một nhu cầu tự thân
của xã hội, do xã hội quy định, xã hội cung cấp nguồn lực trên tình thần cộng
đồng trách nhiệm và giáo dục đào tạo ra những con người trở thành nhân tố-
người, trở thành nguồn nhân lực phục vụ tích cực cho xã hội, vI xã hội.
1.5.NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC
Giáo dục -đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu để phát triển kinh tế-xã
hội. Thực hiện xã hội hóa giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của xã hội đối với
vị trí vô cùns quan trọng của giáo dục. Các cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn
thể phải dành sự chăm lo, đầu tư "trước hết và trên hết" cho sự phát triển giáo
dục. Sự chăm lo, đầu tư này thể hiện bằng các chính sách cụ thể: ưu tiên dành
quỹ đất để phát triển trường học; tôn vinh và có chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho
các thầy cô giáo...
Cần liên kết các lực lượng xã hội, phát huy vai trò tích cực của gia đình,
nhà trường, xã hội vào sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Thực hiện xã hội hóa giáo
dục nhằm khơi dậy truyền thống hiếu học của dân tộc, làm cho mỗi gia đình,
mỗi dòng họ, làng bản, xóm thôn hiểu rõ trách nhiệm và quyền lợi của Minh
trong sự nghiệp "trồng người", từ đó tạo mọi điều kiện cho con cháu đến
trường, đóng góp sức Minh vào sự phát triển giáo dục ở địa phương.
Thực hiện xã hội hóa giáo dục cũng nhằm huy động các nguồn đầu tư
trong xã hội để phát triển sự nghiệp giáo dục. Cùng với ngân sách Nhà nước,
các nguồn đóng góp, đầu tư này được sử dụng để xây dựng, phát triển cơ sở vật
chất trường học, hỗ trợ điểu kiện cho học sinh nghèo hiêu học, góp phân chăm
lo ôn định đời sống vật chất và tình thần cho các thầy cô giáo...
Xã hội hóa giáo dục là một cuộc vận động lớn dưới sự lãnh đạo của
Đảns, sự quản lý của Nhà nước và vai trò nòng cốt của ngành giáo dục. Như
vậy, tiến hành xã hội hóa giáo dục, cần thực hiện có hiệu quả các nội dung sau:
1.5.1.Giáo dục hóa xã hội:
Phát động một phong trào toàn xã hội học tập, mọi người đi học, đi học
thường xuyên, đi học suốt đời. Học tập là quyền lợi đồng thời là trách nhiệm,
nghĩa vụ của mỗi người đối với bản thân, gia đình, cộng đồn2 và đất nước. Mọi
người trong xã hội đều nỗ lực học tập để nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp CNH,HĐH đất nước.
1.5.2.Cộng đồng hóa trách nhiệm đối với hoạt động giáo dục:
Tạo lập một môi trường giáo dục lành mạnh, vận động toàn dân chăm sóc
thế hệ trẻ; phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với gia đình và xã
hội; tăng cường trách nhiệm của cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân
dân, các tổ chức đoàn thể với sự nghiệp giáo dục.
1.5.3.Đa dạng hóa các loại hình đào tạo:
Bên cạnh việc củng cố loại hình trường công lập, lấy đó làm nòng cốt giữ
vai trò chủ đạo, tích cực mở ra nhiều hình thức giáo dục, phát triển các loại
hình trường ngoài công lập, tạo cơ hội cho các tầng lớp nhân dân nâng cao
trình độ, tiếp cận những vấn đề mới, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
cuộc sống hàng ngày.
Như vậy, cùng với hệ thống các trường công lập của Nhà nước, các lực
lượng xã hội và cá nhân đêu có thê tham gia hoạt động giáo dục băng cách tô
chức các cơ sở, trường lớp bán công, dân lập, tư thục. Điều này góp phần quan
trọng vào sự phát triển giáo dục, giảm gánh nặng đầu tư của Nhà nước, tạo
thêm nhiều chỗ học cho con em nhân dân lao động.
1.5.4.Đa phương hóa nguồn đầu tư:
Tăng dần nguồn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và mở rộng các nguồn đầu
tư khác, khai thác triệt để các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã
hội phục vụ cho sự phát triển giáo dục. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục phát triển
nhanh hơn, có chất lượng cao hơn.
1.5.5. Thể chế hóa sự quản lý Nhà nước về trách nhiệm:
Đó trách nhiệm, quyền lợi của các lực lượng xã hội, của nhân dân trong
việc tham gia xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo.
1.6.CON ĐƯỜNG ĐỂ THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC
1.6.1. Xây dựng và củng cố mối quan hệ giữa nhà trường và các
lực lượng xã hội trong việc tham gia công tác giáo dục
Để tổ chức sự tham gia của các lực lượng xã hội cùng làm giáo dục, cần
tùy vào tính chất và tiềm năng, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức xã hội,
các đối tác nhằm xác định các mối quan hệ với nhà trường-lực lượng giữ vai
trò trung tâm, nòng cốt, chủ động trong việc huy động cộng đồng làm giáo dục.
Việc duy trI và củng cố những mối quan hệ này dựa trên những quy định có
tính nguyên tắc đảm bảo sự phát triển bền vững. Trong đó, cần đặc biệt xây
dựng và củng cố mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình. Đây là mối quan hệ
cơ bản nhất, là cọn đường chính yếu làm cho giáo dục gắn với sự phát triển
lành tế-xã hội và huy động mọi lực lượng xã hội tham gia công tác giáo dục.
Một trong những điểm quan trọng được coi là thuận lợi cơ bản để nhà
trường và gia đình dễ dàng thống nhất với nhau về mục đích, nội dung và
phương pháp giáo dục trẻ em là cả gia đình và nhà trường đều có một nhu cầu
và lợi ích : vI tương lai thế hệ trẻ. Gia đình nào cũng mong muốn con cái chăm
ngoan, học giỏi. Nhà trường nào cũng muốn học sinh học giỏi, ngoan ngoãn.
Từ xưa, cha ông ta đã dạy:
Muốn sang thI bắc cầu kiều Muốn con hay chữ thI yêu lấy thầy
Trong quan niệm của người Việt Nam. dù nghèo cũng cố cho con học
dăm ba chữ để thành người. Muốn con cái thành người, ngoài giáo dục của gia
đình, không thể không coi trọng công sức của thầy cô giáo và nhà trường. Với
truyền thống hiếu học, luôn coi trọng và biết ơn thầy cô giáo và nhà trường, các
bậc cha mẹ học sinh sẵn sàng tham gia vào các nội dung xã hội hóa giáo dục
mà nhà trường giữ vai trò nòng cốt.
Để thực hiện tốt sự phối hợp giữa nhà ưườns và gia đình trong xã hội hóa
giáo dục, cần phải củng cố và phát huy vai trò của gia đình đối với sự nghiệp
giáo dục. Như trên đã đề cập, gia đình là tế bào của xã hội, một thiết chế cơ bản
của xã hội. Xà hội nói chung và giáo dục nói riêns đều tồn tại và phát triển trên
cơ sở bền vững của gia đình. Gia đình là môi trường để trẻ thực hành những
điều đã học ở trường, rèn luyện hành vi...Gia đình có ý nghĩa đặc biệt trong
cuộc sống của mỗi cá nhân. về phương diện giáo dục, gia đình tạo ra môi
trường đảm bảo sự giáo dục. truyền lại cho thế hệ sau những giá trị văn hóa
truyền thống. Gia đình là môi trườns giáo dục đầu tiên của mỗi người, có ý
nghĩa sâu sắc không chỉ khi họ còn bé mà ngay cả khi họ đã trưởng thành.
Song, môi trường gia đình cũng có những hạn chế của nó và hạn chế đó tùy
thuộc vào từng gia cảnh. Một trong những khó khăn lớn của các gia đình là sự
lúng túng về phương pháp giáo dục con cái. Chính vI thế, nhà trường nhất thiết
phải chủ động kết hợp chặt chẽ với gia đình để giải quyết khó khăn này. Nhà
trường phải chủ động phối hợp với gia đình tạo điều kiện tốt nhất để giáo dục
trẻ. Trong quan hệ với gia đình để phối hợp giáo dục trẻ, nhà trường thể hiện
vai trò chủ động của Minh: đi bước đầu tiên đến với gia đình, bước thứ hai là
gia đình đến với nhà trường và bước thứ ba là gia đình cùng nhà trường phối
hợp song song và đồng thời tác động thống nhất đến trẻ theo nội dung và mục
tiêu hai bên đã thỏa thuận.
Để củng cố và phát huy vai trò của gia đình ương xã hội hóa giáo dục, cần
chăm lo xâv dựng, củng cố và phát huy vai ưò của Hội Cha mẹ học sinh. Xã
hội hóa giáo dục chỉ có thể đạt được kết quả khi phát huv được sức mạnh của
cha mẹ học sinh. Hội Cha mẹ học sinh là tổ chức tự nguyện của cha mẹ học
sinh, được thành lập và hoạt động theo Điều lệ Hội Cha mẹ học sinh nhằm đảm
bảo sự cộnơ tác giữa nhà trường và gia đình học sinh được thường xuyên và kết
quả. Hội Cha mẹ học sinh là hình thức tổ chức phối hợp có tầm quan trọng đặc
biệt. Hội Cha mẹ học sinh không chỉ là cầu nối giữa nhà trường và gia đình mà
trong nhiều trường hợp còn là điểm tựa trong quan hệ giữa nhà trường với các
lực lượng xã hội khác ngoài nhà trường. Hội Cha mẹ học sinh là lực lượng xã
hội gần gũi, gắn bó, quan trọng nhất của nhà trường tiểu học, trung học cơ sở,
trung học phổ thông. Hội giúp đỡ rất đắc lực cho sự phát triển của nhà trường.
Cơ sở của sự kết dính này là nhu cầu và lợi ích của gia đình trong việc giáo dục
con cái của các bậc cha mẹ.
Nhiệm vụ của Hội Cha mẹ học sinh là huy động các thành viên tham gia
tích cực vào công tác giáo dục học sinh và thực hiện các nhiệm vụ của gia đình
mà luật pháp quy định. Điều 82 Luật Giáo dục đã khẳng định: cha mẹ hoặc
người giám hộ có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, tạo điều kiện cho con em
hoặc người được giám hộ học tập, rèn luyện, tham gia các hoạt động của nhà
trường. Mọi người trong gia đình có trách nhiệm xây dựng gia đình văn hóa,
tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể
chất, thẩm mỹ của con em; người lớn tuổi có trách nhiệm giáo dục, làm gương
cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.
Để thực hiện nhiệm vụ của Minh, Hội Cha mẹ học sinh phải cùng nhà
trường tuyên truyền phổ biến đường lối, chủ ưương, chính sách giáo dục, làm
cho các hội viên là cha mẹ học sinh hiểu rõ vai trò, nhiệm vụ của Minh trong
công tác giáo dục và quan hệ với nhà trường. Hội cha mẹ học sinh vận động
cha mẹ học sinh, các lực ỉượng xã hội cùng nhà trường quản lý việc học của
con em Minh ở nhà; chăm lo giáo dục đạo đức, nề nếp cho con em khi sống ở
gia đình và địa phương; tham gia xây dựng, bảo vệ cơ sở vật chất, thiết bị của
nhà trường; góp phần cải thiện đời sốns vật chất, tình thần cho thầy cô giáo.
Ngoài ra, Hội Cha mẹ học sinh còn phải đóng góp ý kiến cho nhà trường cũng
như ý kiến về các chủ trương, chính sách giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả
Luật Giáo dục, Luật Chăm sóc và Bảo vệ trẻ em.
Luật Giáo dục cũng chỉ rõ quyền của cha mẹ học sinh là yêu cầu nhà
trường cho biết kết quả học tập, rèn luyện của con em; tham gia các hoạt động
giáo dục theo kế hoạch của nhà trường và các hoạt độn? của cha mẹ học sinh
do nhà trường tổ chức; yêu cầu nhà trường, cơ quan quản lý giáo dục giải quyết
theo pháp luật những vấn đề có liên quan đến việc giáo dục con em.
Như vậy, sự phối hợp tốt giữa nhà trường và Hội Cha mẹ học sinh sẽ làm
tăng tình thần trách nhiệm của các bậc cha mẹ, tăng mối Liên kết giữa nhà
trường-gia đình trong việc giáo dục, tạo động lực cho lao động sư phạm của
giáo viên và tình thần học tập của học sinh, đạt được sự thống nhất tác động
giáo dục của nhà trường và gia đình, huy động các nguồn lực khác nhau từ cha
mẹ học sinh để xây dựng và phát triển nhà trường.
1.6.2. Dân chủ hóa giáo dục
Dân chủ hoa giáo dục là một nội dung rất cơ bản của sự nghiệp đổi mới
giáo dục, biến hệ thống giáo dục và trường học như một thiết chế hành chính
thành một thiết chế hoàn toàn của dân, do dân và vI dân. Dân chủ hóa giáo dục
nhằm xóa bỏ tính khép kín của hệ thống giáo dục trường học, để mọi người có
cơ hội được học tập theo nhu cầu chính đáng của Minh, đồng thời tạo điều kiện
để mọi người thực hiện quyền làm chủ của Minh đối với sự nghiệp dáo dục-đào
tạo.
Dân chủ hóa giáo dục có hai nội dung chính:
-Dân chủ hóa quá trình giáo dục, tức dân chủ hóa mục tiêu, nội dung,
phương pháp, đánh giá giáo dục, thực hiện dân chủ của người dạy và người
học. -Dân chủ hóa quản lý giáo dục, tức là thực hiện quyền dân chủ của nhân
dân trong việc tham gia quản lý sự nghiệp giáo dục.
Theo tình thần dân chủ, trong nhà trường phải đề cao trách nhiệm của tập
thể giáo viên, tôn trọng ý kiến của thầy cô giáo đóng góp vào công tác quản lý
trường học. Mỗi nhà giáo cần nhận thức được rằng, sự lao động sáng tạo và
phát huy tính tích cực của Minh trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh
là nhiệm vụ quan trọng của cuộc vận động dân chủ hóa trường học. Thầy giáo
tôn trọng nhân cách học sinh, lấy việc hình thành nhân cách học sinh làm mục
tiêu cơ bản của quá trình giáo dục-đào tạo, từ đó tích cực đổi mới phương pháp
giảng dạy để phát huy hết năng lực, sở trường của học sinh.
Về phía người học, tình thần dân chủ thể hiện trong việc lựa chọn con
đường học tập, con đường đi đến học vấn, trau dồi nghề nghiệp theo xu hướng
lập thân, lập nghiệp của Minh. Người học tự xác định mục tiêu giáo dục, tự
chọn trường, chọn lớp, chọn thầy, lựa chọn nội dung học vấn và tài IIệu, lựa
chọn phương pháp học tập thích hợp, tham gia vào quá trình đánh giá kết quả
học tập và rèn luyện của Minh. Người học tích cực, chủ động tham gia học tập,
biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. Dân chủ nhưng người học
phải tôn trọng thầy giáo, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy nhà trường, như lời
dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "dân chủ nhưng trò phải kính thầy, thầy phải
quý trò". [11-tr.258]
Tư tưởng dân chủ hóa giáo dục đã được thể hiện từ rất sớm trong các chủ
trương, đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước. Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã mong ước làm sao để " ...đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc,
ai cũng được học hành". Nghị quyết TƯ II khóa 8 khẳng định: Thực hiện nền
giáo dục của dân, do dân và vI dân.
Dân chủ hóa giáo dục và xã hội hóa giáo dục có mối quan hệ gắn bó mật
thiết với nhau. Có thể nói rằng, xã hội hóa giáo dục là một con đường để thực
hiện dân chủ hóa giáo dục và nội dung dân chủ hóa giáo dục chỉ ra con đường
xã hội hóa giáo dục. Dân chủ hóa giáo dục sẽ tạo điều kiện để mỗi người dân
có điều kiện biết rõ các thông tin về hoạt động giáo dục, tham gia tích cực vào
sự nghiệp giáo dục; xã hội hóa giáo dục làm cho quá trình dân chủ hóa giáo
dục thuận lợi hơn. Dân chủ hóa dáo dục đảm bảo quyền được học của tất cả
mọi người dân; phổ cập giáo dục đúng độ tuổi cho nhân dân; phát huy tối đa
năng lực, sức sáng tạo, khả năng đóng góp tình thần, vật chất của mọi người
cho sự nghiệp phát triển giáo dục.
Dân chủ hóa giáo dục đảm bảo quyền làm chủ nhà trường của thầy giáo
và học sinh, làm cho hoạt động dạy và học của thầy và trò ngày càng chất
lượng và hiệu quả.
1.6.3. Đa dạng hóa giáo dục
Trước xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật thế giới và yêu
cầu đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, sự nghiệp giáo dục cũng phải phát triển theo hướng mở rộng quy mô,
nâng cao chất lượng, hiệu quả, thực hiện mục tiêu dân trí, nhân lực, nhân tài.
Yêu cầu của giáo dục-đào tạo trong điều kiện xây dựng kinh tế thị trường là
đào tạo những người có đầy đủ năng lực để đáp ứng những yêu cầu nghiêm
khắc của thị trường. Đó là những người có năng lực cạnh tranh, năng lực khoa
học công nghệ, năng lực tIm tòi, sáng chế, phát Minh, có lối sống năng động,
tự chủ, sáng tạo, có khả năng tIm việc làm và làm việc với năng suất, chất
lượng và hiệu quả cao, phấn đấu vI mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn Minh". Giáo dục trong điều kiện xây dựng kinh tế thị
trường là đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho tất cả các thành phần kinh tế.
Nước ta từ chỗ chủ yếu chỉ có hai thành phần kinh tế là kinh tế Nhà nước và
kinh tế tập thể đã chuyển sang nền kinh tế có nhiều thành phần. Giáo dục-đào
tạo cũng phải hướng đến đào tạo nguồn nhân lực cho tất cả các thành phần kinh
tế, phải tạo ra thị trường lao động có chất lượng cao về mọi mặt. "Đầu ra" của
giáo dục không phải chỉ vào "biên chế", thành "công chức" Nhà nước mà là đội
ngũ lao động chủ lực ở mọi thành phần kinh tế khác nhau. Điều đó tất yếu dẫn
đến sự đa dạng hóa các loại hình đào tạo.
Có hai nội dung cơ bản nhất của đa dạng hóa giáo dục là đa dạng hóa mục
tiêu đào tạo và đa dạng hóa nguồn đầu tư cho giáo dục. Bên cạnh các trường
học công lập là hệ thống trường bán công dân lập, tư thục. Ngoài hệ thốnơ
trường dạy nghề công lập, là các trung tâm dạy nghề tại các địa phương của các
đoàn thê, tô chức, xã hội, tư nhân. Cùng với các trung tâm giáo dục thường
xuyên là sự hình thành và phát triển các trung tâm học tập cộng đồng... Các
hình thức học tại chức, học từ xa, tự học trên mạng, tự học qua các hệ thống
thông tin cũns nsày càng phát triển, tiến tới xây dựng một xã hội học tập, nhà
nhà học tập, hình thành ý thức học tập thường xuyên, học tập suốt đời trong
nhân dân.
1.6.4. Đại hội Giáo dục các cấp
Thực hiện xã hội hóa giáo dục bằng con đường Đại hội Giáo dục các cấp
nhằm tạo lập phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội, vận động toàn dân
thực hiện học tập suốt đời, tiến tới xây dựng một xã hội học tập. Bằng Đại hội
giáo dục, các quan điểm đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà nước đã đến với
từng gia đình, từng người dân ngay tại phường, xã. Truyền thống hiếu học, tôn
sư trọng đạo của dân tộc được khơi dậy và phát huy. Nhận thức của mọi thành
viên trong xã hội về vị trí, vai trò của giáo dục-đào tạo đối với sự phát triển của
đất nước, của địa phương, của mỗi dòng họ, mỗi gia đình được nâng cao.
Người dân càng thấy rõ hơn đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, chất
lượns nsuồn lực con người là nhân tố quyết định tạo ra nội lực cho sự phát triển
của đất nước. Muốn phát triển giáo dục phải huy động: mọi nguồn lực của xã
hội, phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục nhà trường, dáo dục gia đình và
giáo dục xã hội.
Đại hội giáo dục các cấp làm cho cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành,
đoàn thể và nhân dân hiểu rõ thực trạng của giáo dục địa phương, thấy rõ hơn
mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển giáo dục với điều kiện, khả năng có hạn cho
sự phát triển giáo dục. Qua đó, nhân dân càng hiểu rõ: muốn phát triển giáo
dục, bên cạnh ngân sách Nhà nước, cần huy động sự đóng góp về nhân lực, tài
lực, vật lực của toàn dân.
Đại hội giáo dục cũng là diễn đàn để nhân dân địa phương tham gia xây
dựng và phát triển giáo dục, làm cho giáo dục đáp ứng nhu cầu của nhân dân,
phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế-xã hội. Tại diễn đàn này, người dân được
biết về chương trình, kế hoạch giáo dục-đào tạo và tham gia, góp ý, kiểm tra
các chương trình, kế hoạch đó.
Đại hội giáo dục các cấp là một biện pháp tổng hợp để thực hiện xã hội
hóa giáo dục. So với các con đường thực hiện xã hội hóa giáo dục đã nêu trên,
việc thực hiện xà hội hóa giáo dục bằng con đường Đại hội giáo dục các cấp có
ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Nó không chỉ phát huy được quyền làm chủ của nhân
dân trong xây dựng, phát triển giáo dục địa phương, thực hiện "Dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra" trong giáo dục, mà còn đảm bảo tính dân chủ xã
hội chủ nghĩa trong giáo dục, phá thế đơn độc của giáo dục, phù hợp với hoàn
cảnh thực tế hiện nay của các địa phương, phù hợp với tính xã hội của công tác
giáo dục và cơ chế "Đảng lãnh đạo-Nhà nước quản lý- Nhân dân làm chủ"
trong xây dựng và phát triển giáo dục.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC Ở QUẬN 12
2.1.VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN QUẬN 12
Quận 12 thành phố Hồ Chí Minh được thành lập theo Nghị định 03-CP
ngày 6-1-1997 của Chính phủ trên cơ sở toàn bộ diện tích của các xã Thạnh
Lộc, An Thơi Đông, Tân Thơi Hiệp, Đông Hưng Thuận, Tân Thơi Nhất và một
phần của hai xã Tân Chánh Hiệp, Trung Mỹ Tây thuộc huyện Hóc Môn trước
đây. Hiện nay quận 12 có 10 phường là An Phú Đông, Đông Hưng Thuận, Tân
Thơi Nhất, Tân Chánh Hiệp, Thạnh Lộc, Thạnh Xuân, Tân Thơi Hiệp, Hiệp
Thành, Thơi An và Trung Mỹ Tây. Tổng diện tích đất tự nhiên là 5.205 ha, dân
số 176.797 người.
Trong lịch sử mở cõi của người Việt, vùng đất Hóc Môn-Bà Điểm được
khai phá từ rất sớm. Ngay từ năm 1623, khi Chúa Nguyễn lập đồn thu thuế thI
cư dân sống tại vùng này đã khá đông. Dưới thời chúa Nguyễn và triều
Nguyễn, Hóc Môn thuộc huyện Tân Bình vào năm 1698. Khi huyện Tân Bình
đổi thành phủ (vào năm 1808) gồm 4 huyện thI Hóc Môn thuộc huyện Bình
Dương. Năm 1841, khi nhà Nguyễn lập huyện Bình Long thI Hóc Môn thuộc
huyện mới này. Sau khi chiếm Nam Bộ, thực dân Pháp đặt ra các đơn vị hành
chính mới trên vùng đất chúng cai trị gọi là hạt rồi hạt tham biện. Hóc Môn
thuộc hạt tham biện Sài Gòn. Dù thuộc hạt tham biện Sài Gòn nhưns Hóc Môn
vẫn là vùng nông thôn. Chính quyền thuộc địa xây dựng quốc lộ 22 chạy qua
Hóc Môn lên Tây Ninh, sang Phnôm Pênh phục vụ chính sách bóc lột thuộc
địa. Khi Mỹ xâm lược nước ta bằng chính sách thực dân mới tại miền Nam,
chúng cho xây dựng xa lộ Đại Hàn (ngày nay gọi là xa lộ vành đai ngoài) chạy
ngang qua huyện Hóc Môn từ Đông sang Tây. Nhiều Liên tỉnh lộ nối Sài Gòn
với các tỉnh miền Đông cũng được xây dựng nhưng tất cả các công trình dao
thôns này chỉ nhằm phục vụ các mục tiêu chiến lược của Mỹ và chính quyền
ngụy chứ không phải để đô thị hóa và phát triển kinh tế vùng Tây Bắc Sài Gòn.
Lịch sử của vùng đất này trong hơn 100 năm qua đã khẳng định truyền thống
anh hùng cách mạng và truyền thống hiếu học của nhân dân địa phương. Đây là
vành đai đỏ của cách mạng với nhiều địa danh đã đi vào lịch sử như Bà Điểm-
An Phú Đông... [74- Tr.340]
Nằm ở cửa ngõ Tây Bắc thành phố Hồ Chí Minh, quận 12 đang trên đà đô
thị hóa nhanh chóng. Khi chuyển từ một vùng nông thôn nghèo sang quận nội
thành, quận 12 gặp không ít khó khăn. Riêng về mặt giáo dục-đào tạo, quận 12
đứng trước mâu thuẫn rất lớn là sự mất cân đối nghiêm trọng về mạng lưới
trường lớp so với yêu cầu phát triển giáo dục ngày một tăng, phù hợp với sự
phát triển kinh tế-xã hội của địa phương và thành phố. Hệ thống trường lớp, cơ
sở vật chất, thiết bị dạy học... thiếu thốn và xuống cấp nghiêm trọng. Nhiều
trường học không có thư viện, phòng thí nghiệm, phòng bộ môn và các phòng
chức năns khác. Cơ sở vật chất không đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
2.2. NHẬN THỨC CỦA CÁC CÁP, CÁC NGÀNH TRONG QUẬN
12 VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
Xác định chọn giáo dục là khâu đột phá then chốt, là nền tảng phát triển
kinh tế-xã hội của một quận đang trên đà đô thị hóa, Đảng bộ và nhân dân quận
12 đã nhận thức rõ: đê giải quyết bài toán giáo dục, cần đẩy mạnh xã hội hóa
giáo dục. Sau khi thành lập quận, một trong những nghị quyết sớm nhất của
Quận ủy quận 12 là Nghị quyết về Chương trình hành động của toàn Đảng bộ
và nhân dân quận thực hiện Nghị quyết TƯ II về công tác giáo dục-đào tạo.
Căn cứ vào tình hình thực tiễn của một quận mới thành lập, Quận ủy, Hội đồng
nhân dân, ủy ban nhân dân quận 12 đã xác định 4 chương trình trọng tâm:
chương trình phổ cập trung học cơ sở; chươns trình bồi dưỡng, nâng cao chất
lượng giảng dạy của giáo viên; chương trình bồi dưỡng, nâng cao chất lượng
giáo dục và học tập; chương trình nâng cấp, sửa chữa, xây dựng mới cơ sở vật
chất trường học.
Chương trình hành động vI giáo dục-đào tạo của quận 12 vào tháng 6-
1997 khẳng định nhận thức sâu sắc của cấp ủy Đảng, chính quyền quận về vai
trò của giáo dục-đào tạo đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, về sự phát triển
của giáo dục trong xu thế phát triển của đất nước, của thời đại. Từ quan điểm
chỉ đạo của Đảng bộ quận 12, nhận thức của các đoàn thể, các tầng lớp nhân
dân về xã hội hóa giáo dục ngày càng sâu rộng và đồng bộ. Nhân dân thấy rõ
tầm quan trọng của giáo dục đối với tương lai, hạnh phúc của dân tộc và mỗi
người phải chủ động, tự nguyện tham gia đóng góp tài lực, vật lực để phát triển
giáo dục.
Kết quả khảo sát 100 phiếu trưng cầu ý kiến, trong đó có 62 cán bộ quản
lý giáo dục đang công tác tại quận 12 (từ Trưởng, Phó Phòng GD-ĐT quận,
chuyên viên phụ trách các ngành học của Phòng GD-ĐT, đến Hiệu trưởng,
Hiệu phó các trường Trung học phổ thông, Trung học cơ sở, Tiểu học, Mầm
non, Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trường Khuyết tật, Trung tâm dạy
nghề); lo nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đã nghỉ hưu; 16 đồng chí lãnh đạo
các đoàn thể (Công đoàn giáo dục, Hội Khuyến học, Hội cha mẹ học sinh, Hội
Phụ nữ, Hội Cựu chiến bình);12 đồns chí lãnh đạo Đảng và chính quyền quận
12 cho thấy:
2.2.1. Nhận thức về xã hội hóa giáo dục
Khảo sát về quan niệm thế nào là xã hội hóa hoạt động giáo dục:
Qua số liệu khảo sát cho thấy, đại đa số ý kiến được hỏi cho rằng xã hội
hóa giáo dục không chỉ là huy động đóng góp tiền của xây dựng cơ sở vật chất
cho giáo dục, mà là phát huy mọi khả năng có thể của toàn dân, toàn xã hội
tham gia làm giáo dục; tổ chức tốt mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã
hội; phát huy trách nhiệm, vai trò của nhà trường đối với xã hội.
Khảo sát về ý nghĩa, tầm quan trọng của xã hội hóa hoạt động giáo dục:
Như vậy có thể thấy, đa số đối tượng được khảo sát cho rằng xã hội hóa
giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với phát triển kinh tế-xã hội của địa
phương quận 12.
2.2.2. Nhận xét về các giải pháp thực hiện xã hội hóa hoạt động
giáo dục
Đa số các đối tượng được khảo sát cho rằng 6 biện pháp có tác dụns nhất
để thực hiện xã hội hóa giáo dục có hiệu quả. bao gồm:
Trong những giải pháp trên, các giải pháp 1,2.3.4 được nhiều ý kiến cho
rằng hiệu quả nhất.
2.3.THỰC TRẠNG VIỆC TRIỂN KHAI XÃ HỘI HÓA HOẠT
ĐỘNG GIÁO DỤC TẠI QUẬN 12, THÀNH PHÔ Hồ CHÍ MINH
Hơn 4 năm qua, dưới sự quan tâm, lãnh đạo của Quận ủy và Hội đồng
Nhân dân, sự chỉ đạo trực tiếp sát sao của ủy ban Nhân dân quận 12, sự chủ
động tích cực tham mưu làm nòng cốt của ngành giáo dục-đào tạo địa phương,
xã hội hóa giáo dục ở quận 12 đã trở thành phong trào sâu rộng lôi cuốn sự
tham gia nhiệt tình của các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể, các tổ chức xã hội,
các cộng đồng dân cư, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, gia đình, cha mẹ học
sinh ...(Chúng tôi sẽ phân tích cụ thể kết quả xã hội hóa hoạt động giáo dục ở
quận 12 trong phần dưới của luận án). Đã xuất hiện nhiều nhân tố mới. sáng tạo
trong việc tIm tòi cách thức tổ chức thực hiện nhằm phát huy nội lực của nhân
dân để mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng giáo dục: Hội Khuyên học
phường Thạnh Xuân tổ chức Liên hoan ca nhạc gây quỹ khuyến học, khuyến
tài; Ban Điều hành khu phố 4 phường Đông Hưng Thuận giúp 2 học sinh
nghèo mỗi tháns 5 kg gạo; Đoàn Thanh niên phường Thạnh Lộc vận động 187
học sinh bỏ học trở lại lớp; nhóm "Huynh đệ bằng hữu" ở khu phố I phường An
Phú Đông xây dựng lớp học tình thương, hỗ trợ tập viết cho trẻ em nghèo;
phường Hiệp Thành nêu quyết tâm xây dựng phường đạt chuẩn "5 không"
(không có trẻ em không được chăm sóc, không có trẻ em mẫu giáo không được
đến trường, không có học sinh lưu ban bỏ học, không có học sinh nghiện ma
túy và mắc tệ nạn xã hội, không có người trên địa bàn không biết chữ)...
Nhiều cá nhân, tập thể không chỉ góp tiền của xây dựng quỹ giáo dục, mà
còn hiến cả chục ngàn m2 đất xây dựng trường học như các cựu chiến bình ở
phường Thơi An hiến 5.430 m , ông Nguyễn Văn Ngữ hiến 6.000 m2... Đó là
những biểu hiện sinh động phát huy truyền thống hiếu học, tôn sư trong đạo
của dân tộc, tạo nên hình ảnh đẹp trong cuộc sống đang có nhiều thách thức
gay gắt của cơ chế thị trường hiện nay.
2.3.1. Những giải pháp đã và đang thực hiện
Như phần trên đã đề cập, là một quận mới thành lập, đang trên đà đô thị
hóa với tốc độ cao, giáo dục-đào tạo quận 12 đứng trước nhiều thử thách rất
lớn: đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân với điều
kiện cơ sở vật chất trường lớp vừa thiếu thốn vừa xuống cấp nghiêm trọng;
mâu thuẫn giữa yêu cầu phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học
cơ sở, phổ cập giáo dục trung học phổ thông với điều kiện thực hiện các yêu
cầu đó; mâu thuẫn giữa cơ cấu kinh tế-xã hội và cơ cấu giáo dục, giữa đòi hỏi
phát triển cơ cấu lao động và cơ cấu đào tạo, giữa đào tạo và sử dụng, giữa yêu
cầu giáo dục toàn diện với số lượng và cơ cấu đội ngũ giáo viên, giữa mong
muốn phát triển giáo dục thật nhanh và chính sách đầu tư cho giáo dục, giữa
yêu cầu phát triển số người đi học và khả năng đảm bảo chất lượng giáo dục.
Từ thực tế như vậy, Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân quận
12 và các phường đã ra các văn bản chỉ đạo phát triển giáo dục địa phương với
mục tiêu, biện pháp thiết thực, đẩy mạnh phong trào xã hội hóa giáo dục, động
viên toàn xã hội tham gia, chăm lo phát triển giáo dục.
a) Ngành giáo dục-đào tạo quận 12 làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy
và chính quyền:
Để cấp ủy Đảng, chính quyển địa phương nắm sát tình hình, lãnh đạo và
chỉ đạo tốt công tác giáo dục, ngành giáo dục-đào tạo đóng vai trò nòng cốt,
tích cực tham mưu cho Quận ủy, ƯBND quận đưa mục tiêu phát triển giáo dục
địa phương vào nghị quyết và chương trình hành động cụ thể. vấn đề giáo dục
ưở thành một trong những nội dung quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch
phát triển kinh tế-xã hội của các cấp ủy Đảng và chính quyền, thường xuyên
được đưa vào các hội nghị, giao ban thường kỳ của cấp ủy, chính quyền địa
phương. Một số phường trong quận 12 đã duy trI chế độ kiểm điểm đánh 2Iá
việc thực hiện lãnh đạo của các chi bộ, đảng bộ đối với giáo dục, coi nhiệm vụ
thực hiện các chỉ tiêu trong các nghị quyết về giáo dục-đào tạo là tiêu chuẩn
đánh giá xếp loại đảng viên và các chi bộ, đảng bộ.
Để chủ động tích cực thực hiện nhiệm vụ chính trị của Minh, biến sự
chăm lo của toàn xã hội với giáo dục thành hiệu quả thiết thực, đem lại niềm
tin cho nhân dân, ngành giáo dục phối hợp với Ban tuyên giáo giúp cấp ủy
trong việc ra nghị quyết về giáo dục cũng như hướng dẫn, quán triệt, triển khai
nghị quyết trên địa bàn quận. Mỗi khi Đảng bộ bàn và ra nghị quyết về giáo
dục thI ngành giáo dục quận 12 chuẩn bị báo cáo và dự thảo nghị quyết, trong
đó nêu rõ phương hướng, giải pháp lớn về từng mặt chuyên môn, tư tưởng, tể
chức cán bộ. công tác Đảng, công tác quần chúng. Để đảm bảo Nghị quyết
được thực hiện, ngành giáo dục cũng nêu rõ các điều kiện về nhân tài, vật lực,
các chính sách, chế độ... đồng thời kiên nghị các chủ trương, giải pháp mà Uy
ban Nhân dân, Hội đôns Nhân dân, các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội
cần bàn bạc, cụ thể hóa. Dưới sự chỉ đạo, điều hành của ủy ban nhân dân,
ngành giáo dục chịu trách nhiệm thực hiện các quyết định về giáo dục của cấp
ủy và chính quyền địa phương theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của
Minh.
Để thực hiện tốt hoạt động xã hội hóa giáo dục, ủy ban nhân dân quận 12
đã ra chỉ thị về việc "Tổ chức và hoạt động của hội đồng giáo dục các cấp",
"Về việc tổ chức Đại hội giáo dục cấp cơ sở", "Hội nghị xã hội hóa giáo dục
lần thứ I", "Hội nghị xã hội hoa giáo dục lần thứ II", "Về việc thành lập Hội
Khuyến học quận 12"...
b) Ngành giáo dục-đào tạo quận 12 vận động các lực lượng trong xã hội
tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục-đào tạo:
Phát huy vai trò nòng cốt của Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và
chính quyền quận, Phòng Giáo dục-đào tạo quận 12 đã chủ động Liên kết, phối
hợp với các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội thực hiện các mục tiêu
nhiệm vụ đề ra.
* Phối hợp với Hội Cha mẹ học sinh, huy động được đông đảo cha mẹ học
sinh tham gia vào các hoạt động kết hợp với nhà trường, đóng góp tình thần và
vật chất cho công tác giáo dục, đáp ứng yếu cầu thiết thực của nhà trường. Bên
cạnh công việc quan trọng nhất là cộng đồng trách nhiệm với nhà trường về
việc học hành, rèn luyện nhân cách đạo đức và chăm lo điều kiện học tập cho
con em, Hội cha mẹ học sinh là lực lượng nòng cốt trong việc vận động thực
hiện Quỹ Bảo trợ giáo dục quận 12 nhằm khen thưởng học sinh giỏi, khuyến
khích tài năng trẻ, hỗ trợ học sinh nghèo, khen thưởng động viên các nhà giáo
tận tụy với nghề. Mỗi năm, Hội cha mẹ học sinh quận 12 và Hội cha mẹ học
sinh các trường trong quận huy động và sử dụng hơn 1 tỷ đồng tiền đóng góp
của cha mẹ học sinh.
* Phối hợp với Hội Phụ nữ trong việc huy động trẻ đến trường, thực hiện
phổ cập Tiểu học, Trung học cơ sở, vận động nhân dân, chị em phụ nữ thực
hiện nếp sống văn Minh, gia đình văn hóa, biểu dương các gương điển hình
trong việc chăm sóc, nuôi dạy con tốt. Hội phụ nữ quận 12 và Hội phụ nữ các
phường trong quận tích cực tham gia vận động, tổ chức các lớp phổ cập cho
các em học sinh khó khăn phải bỏ học được tiếp tục đi học, đồng thời vận động
thanh thiếu niên đến các lớp xóa mù chữ. Nhằm mục đích giúp đỡ các gia đình
có hoàn cảnh khó khăn có điều kiện cho con em đi học, giảm tỷ lệ học sinh bỏ
học, Hội Phụ nữ quận 12 đi sâu đi sát từng gia đình, kịp thời đề xuất chính sách
miễn giảm học phí, đóng góp quỹ xây dựng cơ sở vật chất...đồng thời tạo điều
kiện giúp đỡ chị em phụ nữ làm kinh tế gia đình, góp phần xóa đói giảm nghèo,
nâng cao mức sống cho các gia đình. Ngoài ra, các cấp Hội Phụ nữ còn tạo điều
kiện cho hàng nghIn học sinh nghèo hiếu học được tiếp tục đến trường thông
qua việc cấp học bổng mang tên Nguyễn Thị Minh Khai...
* Phối hợp ủy ban Dân số, gia đình và trẻ em vận động toàn xã hội bảo vệ,
chăm sóc trẻ em, tuyên truyền sâu rộng đến từng hộ gia đình về Luật Bảo vệ,
Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, Luật Giáo dục, Quyền trẻ em; quan tâm đảm bảo
quyền lợi học tập của các em, chăm lo sức khỏe của trẻ em, chống suy dinh
dưỡng, chống béo phI ở độ tuổi mầm non, mẫu giáo, tổ chức vận động giúp đỡ
trẻ lang thang cơ nhờ theo học trong các lớp học tình thương, góp phần thực
hiện xóa mù chữ, phổ cập Tiểu học và Trung học cơ sở, tiến tới phổ cập giáo
dục phổ thông.
* Phối hợp Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tuyên truyền tác
động tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức của Đoàn viên và thanh niên
trong quận 12 về ý nghĩa, chủ trương xã hội hóa giáo dục; phát động phong
trào tự học sâu rộng trong các tầng lớp thanh niên, thực hiện cuộc vận động
Thanh thiếu niên hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục, xóa mù chữ cho
thanh niên nghèo, tuyên dương và nhân rộng các điển hình xuất sắc trong học
tập. Nhiều hoạt động của tổ chức Đoàn đã bước đầu khai thác và sử dụng có
hiệu quả những nguồn lực vốn có của thanh niên trong các hoạt động giáo dục.
"Chiến dịch tình nguyện mùa hè xanh" đã thu hút nhiều bạn trẻ tham gia đứng
lớp phổ cập, xóa mù chừ cho hàng trăm thanh niên nghèo thất học. Đoàn thanh
niên vận động chăm lo các đối tượng thanh niên nghèo, thất học, hoàn cảnh
khó khăn có điều kiện đi học; tổ chức các hoạt động tư vấn, hướng nghiệp
trong thanh niên phù hợp với cơ cấu kinh tế và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát
triển kinh tế-xã hội của địa phương, thành phố và đất nước trong thời gian tới.
Ngành giáo dục phối hợp với Đoàn Thanh niên giáo dục truyền thống hiếu học
của dân tộc, ý chí tự lực, tự cường không cam chịu đói nghèo, lạc hậu của nhân
dân ta nhằm thúc đẩy động cơ học tập và động viên tình thần nỗ lực học tập
của thanh thiếu niên trong quận. Công trình "Bê tông hóa cầu khỉ ở chiến khu
An Phú Đông" của Đoàn thanh niên quận 12 có ý nghĩa rất thiết thực, tạo điều
kiện thuận lợi cho các em học sinh tới trường.
* Phối hợp Hội Cựu chiến bình thực hiện tốt công tác giáo dục truyền
thống, làm nòng cốt cho các hoạt động giáo dục trẻ trên địa bàn tổ dân phố, khu
phố. Đến quận 12, nhiều người được nghe nói về những "tấm lòng vàng" của
những người lính già đà cốns hiến tuổi xuân cho độc lập tự do của Tổ quốc.
nay lại tiếp tục cống hiến hết sức Minh cho sự nghiệp giáo dục. Để góp phần
phát triển cơ sở vật chất trường học cho các cháu học sinh, tập thể 20 sĩ quan
quân đội định cư ở phường Thơi An đã hiến 5.430 m2 đất xây trường học cho
các cháu mẫu giáo...
Như phần trên đã đề cập, sau khi thành lập quận mới, cơ sở vật chất
trường lớp của quận 12, trong đó đặc biệt là phường Thới An rất thiếu thốn.
Toàn phường Thới An không có một trường phổ thông nào nên học sinh tiểu
học và trung học cơ sở phải sang các trường tân Thới Hiệp1 và Tân Thơi Hiệp
2 ở phường Tân Thơi Hiệp và Hiệp Thành để học. ở bậc mầm non thI Trường
mầm non Họa Mi 1 cũ đã quá tải, không đủ chỗ cho các cháu. Để tặng khu đất
rộng xây trường mới cho các cháu mầm non, các cựu chiến bình phường Thới
An đã không ngần ngại chặt đi cả vườn cây ăn trái đang mùa ra quả. Trường
Mầu giáo Họa Mi I mới khang trang đã được xây dựng, là một trong những
ngôi trường mầm non đẹp và hiện đại nhất của quận 12 và thành phố Hồ Chí
Minh.
* Phối hợp Liên đoàn Lao động nâng cao trình độ văn hóa, tay nghề, cho
công nhân; thực hiện kế hoạch đào tạo và đào tạo lại đội ngũ công nhân lao
động trên địa bàn quận; huy động Quỹ học bổng Nguyễn Đức Cảnh chăm lo
con em công nhân viên, người lao động tại các tổ chức công đoàn cơ sở khắc
phục khó khăn, học giỏi. Nhằm tạo cơ hội cho công nhân viên nghèo, trong đó
có đội ngũ giáo viên có thu nhập thấp có nhà ở, Liên đoàn Lao động quận 12
kiến nghị quận 12 dành quỹ đất, huy động nhiều nguồn tài chính thực hiện đề
án bán nhà trả góp cho giáo viên, công nhân nghèo để họ có điều kiện chăm lo,
giáo dục con em tốt.
* Phối hợp Hội Khuyến học tổ chức nhiều hoạt động toàn diện và có hiệu
quả, thực hiện tốt việc Liên kết hoạt động với các đoàn thể, các tổ chức xã hội,
tạo sức mạnh tổng hợp trong việc hỗ trợ các hoạt động giáo dục. Hội Khuyến
học tích cực vận động các nguồn tài trợ trong và ngoài nước hỗ trợ cho các
hoạt động giáo dục: xây dựng trường, lớp; vận động trẻ em đến trường, hỗ trợ
các gia đình khó khăn để học sinh không bỏ học, tổ chức các lớp học tình
thương; cấp học bổng khuyến học, khuyến tài cho học sinh, sinh viên; hỗ trợ
thầy cô giáo có hoàn cảnh khó khăn học tập nâng cao trình độ... Hội Khuyến
học tổ chức vận động từng gia đình, từng người dân, từng tổ chức xã hội tham
gia và đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, tiến tới xây dựng một xã hội học tập.
Thực tế, khuyến học với từng gia đình, từng dòng họ là mô hình tối ưu để tiến
hành xã hội hóa giáo dục ở quận 12. Hoạt động khuyến học tạo ra sự nhất trí
trong mỗi dòng họ, trong sự hòa hợp cộng đồng, là sức mạnh đảm bảo cho sự
bình yên xóm làns. cho khối đoàn kết xã hội, giữ gIn an ninh địa phương, góp
phần khôi phục và chấn hưng văn hóa dân tộc.
* Phối hợp các cơ sở sản xuất kinh doanh, các nhà đầu tư, đơn vị kinh tế
hỗ trợ kinh phí xây dựng phát triển cơ sở vật chất trường lớp, hỗ trợ học bổng
cho học sinh, thanh niên nghèo có điều kiện học tập. học nshề. Nhiều công ty,
xí nghiệp rít hăng hái đóng góp vật chất xây dựng trường lớp như Công ty bia
Việt Nam tài trợ 500 triệu đồng xây dựng trường mẫu giáo; Công ty Dệt Thái
Tuấn ủng hộ 100 triệu đồng; công ty Xây dựng Thanh niên xây tặns quận 7
phòns học trị giá hơn 500 triệu đồng; Công ty Đông Hưng xây tặng 7 phòng
học ở Trường Phan Bội Châu và Trườns Đông Hưng Thuận 1; Công ty Minh
Trung tặng 500 triệu đồng xây 1 trường tiểu học...
* Phối hợp ngành y tế phát triển hoạt động y tế học đường, tích cực kiểm
tra đôn đốc việc thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm, chống ngộ độc thực
phẩm trong nhà trường và công tác chăm sức khỏe cho các cháu nhà trẻ, mẫu
giáo, giáo viên và học sinh.
* Phối hợp ngành văn hóa thông tin và thể dục thể thao tổ chức các lớp
nâng cao trình độ, chuẩn hóa giáo viên thể dục để phát triển toàn diện cho học
sinh; tổ chức các hội thao, Hội khỏe Phù Đổng, các hoạt động văn hóa trong
học đường để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa và rèn luyện thân thể cho học
sinh; thông tin tuyên truyền vận độns nhân dân tham gia CÔĨ12 tác dáo dục-
đào tạo, đặc biệt tuyên truyền đến học sinh tác hại của ma tuy, tệ nạn xã hội,
văn hóa độc hại.
* Phối hợp ngành công an trong việc giáo dục, uốn nắn những học sinh cá
biệt, chậm tiến, chưa ngoan nhằm hạn chế tối đa tỷ lệ lưu ban, bỏ học. Ngành
công an tổ chức các lớp tập huấn về công tác bảo vệ giữ gìn an ninh, trật tự
trong nhà trường, phòng chống cháy nổ cho các trường học.
* Phối hợp ngành tư pháp tổ chức các chuyên đề pháp luật sinh động để
giáo dục pháp luật cho học sinh một cách có hiệu quả, từ đó ảnh hưởng tích cực
đến toàn xã hội.
* Phối hợp với ngành lao động-thương bình và xã hội quan tâm chăm lo
con em gia đình diện chính sách, gia đình có hoàn cảnh khó khăn lập thủ tục
miễn giảm học phí và các khoản đóng góp cho các em.
* Phối hợp với Ban Chỉ đạo xóa đói giảm nghèo tham mưu cho ủy ban
Nhân dân quận chỉ đạo các phường, các trường học lập danh sách học sinh
thuộc hộ xóa đói giảm nghèo, thực hiện chế độ miễn giảm học phí, các khoản
đóng góp, giúp trẻ em nghèo được đến trường .
* Phối hợp Mặt trận Tổ quốc thực hiện tốt cuộc vận động "Toàn dân đoàn
kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư" nhằm tạo môi trường xã hội lành
mạnh cho xã hội hóa và phát triển giáo dục. Mặt trận tổ quốc vận động các tổ
chức đoàn thể và các tầng lớp nhân dân tích cực chăm lo xây dựng, phát triển
sự nghiệp giáo dục-đào tạo.
* Phối hợp với Hội Nông dân tuyên truyền trong nông dân về yêu cầu của
công tác giáo dục, hô trợ học bống cho học sinh lớp phố cập lớn tuổi, thực hiện
chương trình trợ vốn, xóa đói giảm nghèo cho nông dân, góp phần tạo điều
kiện cho con em nông dân đi học.
* Phối hợp các tổ dân phố thực hiện tốt côns tác quản lý trẻ em ở địa
phương, vận động các gia đình cho con em đến trường, tạo điều kiện cho các
em học tập tốt, giữ gIn đạo đức, xây dựng nếp sống văn Minh tại gia đình và
khu phố. Đây là đòn bẩy làm chuyển biến giáo dục gia đình phù hợp với nếp
sống đô thị, thực hiện tiến độ phổ cập giáo dục trên địa bàn dân cư, đảm bảo
việc huy động trẻ đến trường đúng độ tuổi, giảm tỷ lệ lưu ban, bỏ học, phòng
chống các tệ nạn xà hội, nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ.
c) Góp phần vào việc tổ chức thực hiện dân chủ hóa nhà trường, dân chủ
hóa quá trình đào tạo:
Thực hiện Chỉ thị của Bộ Giáo dục-Đào tạo và công văn hướng dẫn của
Công Đoàn ngành giáo dục Việt Nam về việc mở Đại hội công nhân viên chức,
dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phòng GD - ĐT quận 12, hàng năm các trường
học trên địa bàn quận đều tổ chức đại hội công nhân viên chức. Tại các đại hội
công nhân viên chức, lãnh đạo các trường học đã chú trọng phát huy dân chủ
trong quản lý giáo dục, đặc biệt trong quản lý thu chi, sử dụng và bảo quản cơ
sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị giáo dục, quản lý và xây dựng môi trường
giáo dục lành mạnh; huy động sự tham gia của tập thể sư phạm nhà trường
trong việc xây dựng kế hoạch, đề xuất các giải pháp khả thi để giải quyết các
vấn đề có Liên quan đến nhà trường cũng như quyền lợi, nghĩa vụ của các thầy
cô giáo, nhân viên trong trường học; chăm lo cải thiện đời sống tình thần, vật
chất để đảm bảo cuộc sống cho đội ngũ giáo viên, giúp họ tập trung sức lực, trí
tuệ cho việc nâng cao chất lượng dạy và học.
Ngoài việc đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động nhà
trường, công tác bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, công tác giáo dục
chính trị tư tưởng cũng được quan tâm nhằm nâns cao nhận thức, niềm tin và
hướng hành độns ctâIầội ngũ giáo viên, cán bộ công chức trong ngành giáo dục
tại địa phương vào việc thực hiện mục tiêu, định hướng phát triển sự nghiệp
giáo dục của Đảng và Nhà nước.
Thực hiện xã hội hóa giáo dục, cuộc vận động dân chủ hóa nhà trường,
dân chủ hóa quá trình đào tạo ngày càng được đẩy mạnh. Các địa phươns trong
quận 12 đà biết khơi dậy sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân chăm lo cho sự
nghiệp giáo dục, tô chức các diên đàn đế nhân dân địa phương tham gia xây
dựng phát triển giáo dục. Các chương trình, kế hoạch, mục tiêu giáo dục được
thông báo rộng rãi qua tô dân phố và sinh hoạt của các chi bộ khu phố. Nhân
dân đã tích cực đóng góp ý kiến về các vấn đề của giáo dục như xây dựnơ Quỹ
khuyến học, Quỹ giáo dục, giúp đỡ học sinh nghèo hiếu học...Nhiều ý kiến
đóng góp của nhân dân đã giúp cấp ủy Đảng, chính quyền chỉ đạo phù hợp với
tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa của địa phương, phù hợp với nhu cầu và
nguyện vọng của nhân dân.
d) Tổ chức Đại hội Giáo dục các cấp:
Thực tế cho thấy, việc tổ chức Đại hội Giáo dục từ phường đến quận là
giải pháp quan trọng, giải pháp chính, giải pháp chủ yếu để thực hiện xã hội
hoa giáo dục tại quận 12. Đại hội giáo dục đã xây dựng cơ chế Liên kết, hợp
đồng trách nhiệm giữa các lực lượng xã hội, nhà trường và gia đình để thực
hiện mục tiêu kế hoạch phát triển giáo dục địa phương.
Đại hội giáo dục quận 12 đã được tổ chức, lần thứ nhất vào tháng 10-1997
và lần thứ hai vào tháng 11-2001. Đến nay, 10/10 phường của quận 12 đã tổ
chức Đại hội giáo dục cấp cơ sở lần thứ hai. Qua việc tổ chức Đại hội giáo dục,
Đảns bộ và nhân dân nhiều phường đã đặt công tác giáo dục đúng vị trí trong
quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội của từng địa phương và của toàn quận. Các
Đại hội này đã thể hiện rõ sức dân theo phương thức "Dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra" và dân hưởng thụ kết quả giáo dục trực tiếp, cùng tham gia
công tác giáo dục, cộns đồng trách nhiệm lo toan cho sự phát triển giáo dục.
Qua các lần tố chức Đại hội giáo dục cấp cấp, tư tưởng xã hội hóa công tác
giáo dục được quán triệt sâu sắc trong các cấp ủy và chính quyền, ban ngành,
đoàn thể của địa phương, trong tất cả các lực lượng xã hội, các trường học.
Nhiều phường trong quận đã có kế hoạch cụ thể cho đến từng khu phố, từng tổ
dân phố. Xã hội hóa hoạt động giáo dục không còn ở ngoài cửa ngõ của khu
phố, của tổ dân phố mà đã đi vào từns hộ gia đình. Công tác giáo dục không
còn là việc riêng của ngành giáo dục mà là sự kết hợp đồng bộ, nhịp nhàng của
các ngành, đoàn thể.
Đại hội giáo dục các cấp đã hình thành được Hội đồng Giáo dục từ quận
đến các phường. Hội đồng giáo dục mỗi cấp đã phát huy tác dụng, thực hiện
được vai trò vừa tư vấn, vừa phối hợp triển khai thực hiện Nghị quyết của Đại
hội giáo dục. Ngay sau đại hội giáo dục cấp quận và cấp phường, Hội đồng
giáo dục đã xây dựng thể chế hoạt động của Hội đồng giáo dục các cấp, quy
định trách nhiệm của Đảng, chính quyền, các ban ngành đoàn thể, các tổ chức
kinh tế, xã hội đối với công tác giáo dục, khắc phục quan niệm coi giáo dục là
hoạt động phi sản xuất, tham gia công tác giáo dục như kiểu tham gia hoạt
động từ thiện, đầu tư cho giáo dục là đầu tư không có lãi...đồng thời cũng tránh
tâm lý ỷ lại chờ sự đầu tư của Nhà nước, hoặc chưa thấy trách nhiệm, vai trò
nòng cốt của ngành giáo dục đối với việc chủ động sáng tạo, vượt khó, nâng
cao chất lượng hiệu quả đào tạo, nâns cao uy tín và vị trí của người thầy giáo,
vị trí của ngành giáo dục trong xã hội. Quận ủy, UBND quận 12 đã chỉ đạo và
tổ chức cho các ban ngành, đoàn thể ký kết hợp đồng trách nhiệm với ngành
giáo dục; hàng năm sơ kết tổng kết việc thực hiện các cam kết này, đánh giá
khen thưởng và rút kinh nghiệm khắc phục, đặc biệt xây dựng một số mô hình
xã hội hóa giáo dục cấp phường, tổ chức chỉ đạo, tổng kết kinh nghiệm điển
hình và mở rộng áp dụng đại trà trong quận. Tại quận 12, đã xuất hiện những
bài học kinh nghiệm đáng quý về cách làm năn2 động, sáng tạo trong việc tập
hợp lực lượng cùng làm giáo dục của Hội đồng giáo dục cấp phường như Hội
đồng giáo dục các phường Tân Thới Hiệp, Đông Hưng Thuận, Trung Mỹ Tây,
Thơi An, Hiệp Thành...Tại các phường này, Hội đồng giáo dục đã dồn sức tập
trung vào việc Liên kết các lực lượng thực hiện phổ cập giáo dục, huy động
học sinh ra lớp, xây dựng trường học. Các doanh nghiệp, các mạnh thường
quân như Xí nghiệp Cao su Hóc Môn, Công ty cổ phần Thực phẩm Thiên
Hương, Công ty A-one, Công ty Đông Hưng, nhóm sĩ quan quân khu I... đã hỗ
trợ, đầu tư phát triển cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị dạy học, hiến đất
xây trường. Tại các phường Thạnh Xuân, Tân Thơi Hiệp, Tân Chánh Hiệp hình
thành bản giao ước về công tác giáo dục, quy định trách nhiệm của nhà trường.
Gia đình, từng ban ngành, đoàn thể, khu phố, tổ dân phố...đối với công
tác giáo dục. Các phường Tân Thơi Hiệp, Tân Chánh Hiệp còn có quyết định
công nhận các cộng tác viên tham gia công tác giáo dục ở địa phương (mỗi tổ
dân phố 1 người).
Một trong những phường có Hội đồng Giáo dục thể hiện rõ vai trò Liên
kết, tập hợp các lực lượng tham gia xã hội hóa giáo dục là phường Tân Thới
Hiệp.
Hội đồng Giáo dục của phường Tân Thới Hiệp đã xây dựng cơ chế hoạt
động năng động, kịp thời nắm bắt và đề xuất những biện pháp giải quyết những
nhu cầu của từng trường trong địa bàn như phát triển cơ sở vật chất (xây dựng,
sửa chữa một số công trình ở Trường Tiểu học Tân Thơi Hiệp, Trường Mẩu
giáo Sơn Ca 6, Trường THCS Nguyễn Hiền...), hỗ trợ Hội Cha mẹ học sinh
phối hợp với các trường tổ chức hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp THCS cho con
em, tổ chức Ngày hội toàn dân đưa trẻ đến trường, phối hợp với các lực lượng
xã hội trong côns tác phổ cập THCS...
Hội đồng Giáo dục của phường Tân Thơi Hiệp có 4 tiểu ban gồm: Tiểu
ban Quy hoạch mạng lưới trường lớp và cơ sở vật chất; Tiểu ban Phổ cập giáo
dục và chống lưu ban bỏ học; Tiểu ban Truyền thông giáo dục và phối hợp các
lực lượng giáo dục; Tiểu ban Chăm lo đời sống các thầy cô giáo. Các tiểu ban
này hoạt động rất đồng bộ, bám sát với quy trình hoạt động trong năm học của
nhà trường. Nhờ sự hoạt động rát tích cực của Uy ban Kiêm tra Đảng ủy
phường theo dõi việc thực hiện Nghị quyết về công tác giáo dục ở từng chi bộ
nến đã tạo ra lực đẩy cho Hội đồng Giáo dục của phường phát huy được vai trò
của từns thành viên trong việc Liên kết, phối hợp các lực lượng xã hội trên địa
bàn tham gia công tác giáo dục.
Ở phường Tân Thơi Hiệp, Hội đồng Giáo dục đã làm rất tốt công tác tư
tưởng, đẩy mạnh việc truyền thông tuyên truyền nhằm nâng cao hơn nữa nhận
thức của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục-đào tạo. Thường trực Hội đồng
Giáo dục phường Tân Thơi Hiệp đã tham mưu Hội đồng Nhân dân phường xây
dựng Nghị quyết đề ra những việc phải làm theo từng quý gắn với quy trình
hoạt động của ngành giáo dục. Trong tất cả các kỳ họp tiếp xúc cử tri và kiểm
tra việc thực hiện Nghị quyết, Thường trực Hội đồng Nhân dân phường đều
yêu cầu các vị đại biểu Hội đồng Nhân dân phải quan tâm chú ý hàng đầu đến
công tác giáo dục.
Công tác truyền thông về giáo dục được tiến hành đến tận khu phố và các
tổ dân phố nên được nhân dân rất quan tâm. Cả 3 khu phố 1,2,3 trong phường
đều đã tổ chức học tập, thảo luận về Luật Giáo dục, Luật phổ cập giáo dục cho
nhân dân. Theo đề xuất của Hội đồng Giáo dục phường, từ tháng 1-2000, tất cả
các khu phố trong phường đã chọn mỗi tổ dân phố một người là tổ trưởng hoặc
tổ phó tổ dân phố phụ trách những việc có Liên quan đến giáo dục. Hiện nay,
toàn phường đã có 57 cộng tác viên thuộc hệ thống của Hội đồng Giáo dục đến
tận các tổ dân phố.
Nhờ thực hiện tốt hệ thống quy ước giáo dục đã được ký kết, các lực
lượng trong xã hội như Hội Cựu chiến bình, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, công
an phường, nhóm bằng hữu, Đoàn TNCS phường, ủy ban Dân số, gia đình và
trẻ em, Hội Cha mẹ học sinh đã thể hiện rõ ý thức trách nhiệm cùng tham gia
các hoạt động giáo dục với nhà trường và đạt hiệu quả rõ rệt. Nhóm bằng hữu
của phường đã đỡ đầu 11 lớp phổ cập tiểu học và THCS, thường xuyên tổ chức
thăm và tặng quà cho các em thuộc gia đình khó khăn. Các mạnh thường quân
trong phường đã đã tặng hàng chục triệu đồng cho lớp học tình thương, Quỹ
Nụ cười hồns, xây vườn trường cho Trường Mẩu giáo Sơn Ca 9...Quỹ Xã hội
hóa giáo dục của phường đã huy động được hơn 100 triệu đồng chi cho các
hoạt động phát triển giáo dục.
Hội đồng Giáo dục phường đã để xuất với các doanh nghiệp đóng trên địa
bàn phường như Xí nghiệp Cao su Hóc Môn, Công ty Thực phẩm Thiên
Hương ký giao ước kết nghĩa với Trường Tiểu học Tân Thơi Hiệp và Trường
THCS Nguyễn Hiền để cùng với nhà trường tổ chức chăm lo các hoạt động
giáo dục. Đặc biệt, với tác động của Hội Cha mẹ học sinh và các cộng tác viên
giáo dục ở từng tổ dân phố, việc chăm lo điều kiện học tập, quản lý con em
trong gia đình tại từns tổ dân phố đã trở thành tiêu chuẩn hàng đầu trong việc
xét công nhận danh hiệu Gia đình Văn hóa, Tổ dân phố loại A, Khu phố Văn
hóa...
Một điểm nổi bật là lãnh đạo phường Tân Thơi Hiệp rất quan tâm việc
chăm lo đời sống tình thần, vật chất cho đội ngũ thầy cô giáo để thầy cô nào
cũng được tôn vinh, phấn khởi và yên tâm với nghề nghiệp của Minh. Đảng ủy,
Úy ban Nhân dân phường đã có chủ trương không để bất cứ thầy cô giáo nào
phải nghỉ dạy vI quá khó khăn về đời sống.
Cùng với Phòng Giáo dục quận 12, Hội đồng Giáo dục phường Tân Thơi
Hiệp đã làm tốt việc quy hoạch mạng lưới trường lớp. Với sự tham mưu của
2 quyền ở đây đã dành 4.000 mP
P đất tại khu phố 3 để xây Trường Mẫu giáo Sơn
2 Ca 6. thống nhất dành 15.000 mP
2 P đất để xây trường tiểu học và 18.000 mP
P đất
Phòng Giáo dục quận 12, Hội đồng Giáo dục phường Tân Thơi Hiệp, chính
xây trường THCS mới. Phường đã có đầy đủ địa điểm mở các lớp phổ cập tại
địa bàn dân cư, tạo thuận lợi cho các em có hoàn cảnh khó khăn học tại lớp học
tình thương, lớp phổ cập buổi tối.
Nhờ làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, chất lượng giáo dục của các
trường học trên địa bàn phường không ngừng được nâng cao. Phường đã huy
động 98,89(7 trẻ 5 tuổi đến lớp. Hiệu suất đào tạo bậc tiểu học đạt 90,8%;
THCS đạt 86,8%.
Tóm lại, do làm tốt công tác tuyên truyền trước, trong và sau Đại hội giáo
dục nên tại quận 12, cán bộ, nhân dân nhất là thanh niên đã thấy được tầm quan
trọng của việc học tập nâng cao trình độ. Việc học tập đã thực sự có mặt ở mọi
gia đình tại các phường trong quận.
Đại hội giáo dục các phường cũng gắn chặt với việc giải quyết những vấn
đề bức xúc của giáo dục như dạy thêm học thêm tràn lan, thi cử chưa nghiêm
túc. phân luồng học sinh chưa hợp lý...do vậy đã góp phần nâng cao tình thần
trách nhiệm của đội ngũ giáo viên, xây dựng nề nếp kỷ cương học đường, tạo
môi trường sư phạm lành mạnh.
Việc tổ chức thành công các Đại hội giáo dục ở các phường trong quận 12
đã thể hiện bước trưởng thành của các địa phương trong quận về nhận thức và
khả năng tổ chức thực hiện công cuộc phát triển giáo dục theo đúng đường lối,
định hướng của Đảng và Nhà nước.
e) Xây dựng Ban thường trực Hội Cha mẹ học sinh năng động và hoạt
động có hiệu quả:
Sau ngày 1.4.1997, cùng với sự ra đời của Phòng Giáo dục-đào tạo quận
12, với nhận thức gia đình là một trong ba môi trường góp phần quan trọng vào
quá trình 2Iáo dục, Hội Cha mẹ học sinh quận 12 đã được thành lập. Hội gồm
những người là cha mẹ có con đang theo học tại các nhà trẻ, mẫu giáo, trường
phổ thông và những người có nhiệt tâm với sự nghiệp giáo dục, tự nguyện tổ
chức nhau lại để phối hợp, hỗ trợ nhà trường và ngành giáo dục trong việc giáo
dục thế hệ trẻ. Cùng với Hội Cha mẹ học sinh quận, Hội cha mẹ học sinh các
trường đã gắn bó chặt chẽ với nhà trường, ổọng đồng trách nhiệm với nhà
trường về việc học hành. rèn luyện nhân cách, đạo đức cho con em, chăm lo
điều kiện dạy và học. cùng chia sẻ, lo toan với nhưng khó khăn của nhà trường.
Hội cha mẹ học sinh cũng tuyên truyền vận động thực hiện chủ trương toàn dân
đưa trẻ đến trường, hỗ trợ nhà trường hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng trẻ
lưu ban, bỏ học bằns các biện pháp cụ thể như: gây quỹ học bổng cho trẻ em
nghèo hiếu học; hỗ trợ điều kiện dạy và học cho giáo viên và học sinh các lớp
học tình thương, các lớp phổ cập; vận động thuyết phục và giúp đỡ các gia đình
gặp hoàn cảnh khó khăn có điều kiện cho con em tiếp tục đến lớp. Hội cha mẹ
học sinh chủ động, tích cực phối hợp cùng với các cấp chính quyền, đoàn thể
vận động cha mẹ học sinh thực hiện các phong trào "Toàn dân thực hiện nếp
sống văn Minh, xây dựng gia đình văn hóa mới", "Xây dựng và giữ gIn môi
trường văn hóa trong sạch", chống tệ nạn xã hội tại địa phương, ngăn không
cho tệ nạn xã hội xâm nhập vào nhà trường. Với phương châm "Nhà nước và
nhân dân cùng làm", Hội cha mẹ học sinh các trường đã có các loại hình hoạt
động phong phú và đa dạng, tùy theo điều kiện, tình hình thực tế để vận động
mọi ngành, mọi người tham gia vào việc xây dựng, sửa chữa cơ sở vật chất
trường học, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng dạy học, chăm lo xây dựng môi
trường sư phạm ngày càng trong sạch (như: xây dựng phòng vi tính, xây dựng
bếp ăn bán trú, nhà vệ sinh, làm hệ thống thoát nước trong sân trường, chống
dột, mua sắm bàn ghế, dụng cụ tập luyện thể dục thể thao, các loại nhạc cụ...
giúp học sinh phát triển toàn diện). Hội cùng thường xuyên hỗ trợ nhà trường
trong việc phụ đạo học sinh kém, bồi dưỡng học sinh giỏi, kịp thời khen
thưởng các giáo viên, học sinh đạt thành tích xuất sắc qua các kỳ thi "Viên
phấn vàng", học sinh giỏi đạt giải Lê Quý Đôn...
Thường xuyên nắm bắt kịp thời các hoạt động của ngành giáo dục, cử các
thành viên tham gia vào Hội đồng giáo dục các cấp, Hội Cha mẹ học sinh đã
trở thành tổ chức gần gũi, gắn bó không thể thiếu trong tất cả các nếp sinh hoạt
của nhà trường.
g) Xây dựng và phát triển Hội Khuyến học:
Đầu tháng 5-1999, Hội Khuyến học quận 12 ra đời và đến nay, tất cả 10
phường trong quận đã đã có tổ chức Hội Khuyến học. Các cấp hội khuyến học
đã phối hợp với Hội Cha mẹ học sinh, tranh thủ sự hỗ trợ của các ban, ngành
đoàn thể, các mạnh thường quân triển khai Chương trình học bổng khuyến học,
khuyến tài; xây dựng Quỹ Khuyến học, khuyến tài, khuyến sư...Đặc biệt, Hội
Khuyến học quận phối hợp Hội Sinh vật cảnh xây dựng môi trường xanh tại
Trường THCS Quang Trung ở phường Trung Mỹ Tây; phối hợp Hội Y học cổ
truyền và Chùa Tường Quang khám và phát thuốc miễn phí cho giáo viên; tạo
điều kiện cho học sinh thuộc diện chính sách tiếp tục được đến trường...Thông
qua hoạt động của Hội Khuyến học, các gia đình, dòng họ trong quận ngày
càng quan tâm phát triển sự nghiệp giáo dục, phát huy truyền thống "tôn sư
trọng đạo" của dân tộc, xây dựng phong trào người người học tập, nhà nhà học
tập, tiến tới xây dựng một xà hội học tập.
Một trong những điển hình của truyền thống hiếu học ở quận 12 là ông
Dư Ngọc Hải ở số 1537/1 E phường An Phú Đông- một nông dân nuôi 9 người
con học đại học. Với 9 người con gồm 4 trai, 5 gái, ông Dư Ngọc Hải luôn trăn
trở về tương lai của các con Minh. Công việc nhà nông sớm nắng, chiều mưa
càng thôi thúc ông Dư Ngọc Hải quyết tâm phải cho con ăn học đến nơi đến
chốn. Vượt lên mọi gian khó. ông Hải đã đầu tư thời gian, sức lực và vật chất
cho các con. Cảm nhận sự lo lắng tận tâm hết mực của cha mẹ, các con của ông
luôn cố gắng học tốt, tất cả đều thành đạt: 2 người phục vụ ngành y, 3 người
trong ngành giáo dục, I người đang học cao học Hóa ở Malaixia, 1 người là cử
nhân kinh tế đang làm việc ở Công ty Kinh Đô, người con trai áp út là sinh
viên năm 4 Trường Đại học Kinh tế, người con gái út đang là sinh viên năm 2
Trường Cao đẳng Sư phạm.
Ông Hải rất hạnh phúc, sung sướng khi thấy các con lần lượt bước vào
đời vững vàng bằng tri thức và tình cảm mà họ đã có được từ mái ấm gia đình
và nhà trường. Người nông dân nuôi 9 người con học đại học nên người chỉ
bộc bạch rằng: muốn có cuộc sống tốt hơn thI phải học. Gia đình, các bậc cha
mẹ phải dành mọi điêu tốt đẹp nhất cho con trẻ, phối hợp cùng nhà trường giáo
dục chúng thành người có ích. Ở quận 12, ngày càng có nhiều những nông dân
như ông Hải biết đầu tư cho giáo dục bằng cách thiết thực: chăm lo cho con cái
học hành. h) Xây dựng quy hoạch mạng lưới trường lớp:
Để chuẩn bị tốt các điều kiện cơ bản cho việc thực hiện các mục tiêu phát
triển giáo dục-đào tạo đến năm 2010 theo định hướng chung của thành phố Hồ
Chí Minh, ngành giáo dục-đào tạo quận 12 đã xây dựng quy hoạch mạng lưới
trông lớp.
Khó khăn nhất đối với ngành giáo dục các quận huyện trong thành phố
Hồ Chí Minh là quỹ đất dành cho phát triển giáo dục. Trong thực hiện quy
hoạch trường lớp, quận 12 xác định ưu tiên dành đất cho các công trình giáo
dục trước khi đưa quỹ đất vào đầu tư các côns trình kinh tế-xã hội khác nên
mặc dù là một quận đang trên đà đô thị hóa, đất rất có giá, quận 12 đã dành 116
ha đất cho giáo dục, chiếm 2.24% diện tích tự nhiên (trong khi quy định của
thành phố là 0,69% diện tích tự nhiên). Tất cả các phường trong quận đã xác
định diện tích cần thiết và định vị cụ thể quỹ đất dành cho giáo dục.
i) Xây dựng và phát triển Trung tâm giáo dục thường xuyên:
Trung tâm giáo dục thường xuyên quận 12 là một nét thể hiện nổi bật của
xã hội hóa giáo dục. Đã có hàng chục ngàn học viên theo học lớp ban ngày và
ban đêm tại đây. Tại các lớp học này, Nhà nước đầu tư một phần kinh phí và
chủ yếu quản lý về chuyên môn, còn hầu hết các vấn đề về cơ sở vật chất, thiết
bị, tổ chức dạy học đều học người học đóng góp. Hiện nay, Trung tâm giáo dục
Thường xuyên có 141 lớp và 3.292 học sinh, tăng 3,8% học sinh/năm. Hoạt
động của Trung tâm giáo dục Thường xuyên quận 12 đã góp phần đáng kể
trong việc phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, đưa quận 12 trở thành quận đầu tiên
hoàn thành phổ cập THCS ở TPHCM, tiến tới phổ cập THPT trong những năm
tới.
k) Xây dựng và phát triển các Trung tâm học tập cộng đồng:
Một mô hình học tập mới với các hoạt động thực chất của việc xã hội hóa
giáo dục được hình thành ở quận 12 là Trung tâm học tập cộng đồns
(TTHTCĐ). Quận 12 là mọt'trong 5 quận, huyện đầu tiên ở thành phố Hồ Chí
Minh xây dựng Trung tâm học tập cộng đồng. Từ tháng 11-2001, Trung tâm
học tập cộng đồng đầu tiên của thành phố tại phường Thạnh Lộc, quận 12 đã
bắt đầu đi vào hoạt động. Đây là một tổ chức học tập theo phương thức không
chính quy thực hiện theo nguyên tắc toàn bộ các vấn đề giáo dục đều bắt nguồn
từ cộng đồng, từ nhu cầu người dân và quay trở lại phục vụ cộng đồng nhằm
nâng cao chất lượng cuộc sốns của nhân dân và phục vụ cho việc phát triển
kinh tế-xã hội của địa phương.
TTHTCĐ cung cấp cơ hội học tập cho tất cả các đối tượng, đáp ứng tất cả
các nhu cầu của cá nhân; giúp địa phương phát triển giáo dục thường xuyên
một cách chủ động, góp phần xây dựng xã hội học tập. Bằng việc tổ chức các
loại hình giáo dục phù hợp như: chương trình xóa mù chữ cho trẻ em và người
lớn; các chương trình sau xóa mù chữ; các chương trình nâng cao chất lượng
cuộc sống như các chuyên đề an toàn thực phẩm, tiêm chủng trẻ em, kế hoạch
hóa gia đình v.v. TTHTCĐ phường Thạnh Lộc đã cho thấy một mô hình thực
hiện xã hội hóa giáo dục rất hiệu quả.
Một trong những nét nổi bật của TTHTCĐ phường Thạnh Lộc là mở lớp
phổ cập THCS. Trung tâm đã dành hẳn một lớp học khang trang khoảng 50 chỗ
ngồi đầy đủ bàn ghế, sách giáo khoa...để động viên trẻ em nghèo đến lớp. Hoạt
động tích cực của TTHTCĐ phường Thạnh Lộc góp phần đưa quận 12 trở
thành quận đầu tiên của TPHCM hoàn thành phổ cập THCS theo chuẩn mới
(ngày 19-2-2002). Từ đầu tháng 4-2002, Trung tâm HTCĐ phường Thạnh Lộc
đã khai giảng lớp phổ cập THPT, dạy miễn phí cho 62 học viên của phường
nhằm chuẩn bị tiền đề để đến năm 2005 toàn quận hoàn thành phổ cập THPT.
Ngoài việc tổ chức các hoạt động học tập, đọc sách báo, thể thao, văn nghệ...
thu hút đông đảo trẻ em tham gia, TTHTCĐ phường Thạnh Lộc còn tổ chức
các hoạt động thu hút các bậc phụ huynh học sinh và các tầng lớp nhân dân
như: phổ biến kinh nghiệm nuôi ba ba, kinh nghiệm lai ghép cây sầu riêng cho
năng suất cao, kinh nghiệp lai ghép cây mai kiểng; tổ chức trao đổi để nhân dân
góp ý các biện pháp giải quvặt nước sạch cho 20% hộ dân còn lại trong phường
chưa có nước sạch sinh hoạt...Ban quản lý TT HTCĐ phường Thạnh Lộc đã
năng động tIm các chuyên gia, các nhà khoa học đề nghị học giúp đỡ, tham gia
các hoạt động của Minh. Nhiều điển hình vượt nghèo, làm ăn khá từ sự tham
gia các hoạt động của TTHTCĐ phường Thạnh Lộc thể hiện rõ một cơ chế vận
hành rất IInh hoạt, hiệu quả: nội lực của dân
+khoa học kỹ thuật
+tổ chức thực hiện của Ban quản lý trung tâm= chất lượng công trình.
Ông Nguyễn Văn Trân ngụ ở tổ 9, khu phố 3, phường Thạnh Lộc là một tronơ
hàng trăm hộ dân thoát nghèo nhờ tham gia các hoạt động của TT HTCĐ
phường. Được TTHTCĐ phường trao đổi kinh nghiệm, tư vấn về cách áp dụng
khoa học kỹ thuật, chọn cây trồng, vật nuôi, ông đã vay vốn trồnơ lài, nuôi heo
nái thành công, có thu nhập khá và cuộc sống ổn định. Hiện nay, ông đang đầu
tư nuôi ba ba. Dự kiến sau một năm, trừ các khoản chi phí, lợi nhuận ông thu
được khoảng 30 triệu đến 40 triệu đồng.
Từ hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ, phường Thạnh Lộc đã có kế hoạch
xây dựng một trường THPT, một trường mầm non và một trường dạy nghề. Dự
án này đã được phê duyệt.
Qua thực tiễn ở phường Thạnh Lộc cho thấy, TTHTCĐ đã thực hiện chức
năng chính của Minh là tể chức các hoạt động giáo dục và đào tạo cho bà con
tại địa phương; cung cấp thông tin và phân phối các nguồn nhân lực góp phần
vào sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Tất cả mọi tầng lớp nhân dân
có nhu cầu học tập tại địa phương đều có thể tham gia TTHTCĐ hoàn toàn
miễn phí. Là một hình thức học tập của cộng đồng dân cư nên cơ chế hoạt động
của TTHTCĐ chủ yếu là dựa trên cộng đồng. Ban quản lý trung tâm gồm
những người đại diện cho những lợi ích cộng đồng địa phương tham gia. trong
đó có đại diện của lãnh đạo địa phương, các tô chức đoàn thể như đoàn thanh
niên, hội phụ nữ...và đại diện của ngành giáo dục. Từ thành công của TTHTCĐ
phường Thạnh Lộc, các phường trons quận 12 đang xây dựng các TTHTCĐ ở
địa phương. 2.3.2. Thành tựu và hạn chế của việc triển khai xã hội hóa hoạt
động giáo dục ở quận 12
a) Một số thành tựu:
Nhờ thực hiện các giải pháp trên đây, diện mạo giáo dục ở quận 12 đã có
nhiều chuyển biến, khẳng định những kết quả đáng ghi nhận: Mở rộng quy mô
phát triển giáo dục.
Như phần trên đã đề cập, sau khi thành lập quận, quy mô trường lớp quận
12 mất cân đối nghiêm trọng. Việc xây dựng trường lớp và phát triển các ngành
học, bậc học là một áp lực rất lớn. Bằng nỗ lực trong đa dạng hóa và đa phương
hóa các nguồn lực đầu tư cho giáo dục, quận 12 đã giải quyết tương đối tốt nhu
cầu học tập của nhân dân địa phương. So với tỷ lệ tăng trưởng dân số từ 6,97%
đến 8,75%, tỷ lệ tăng trưởng số học sinh và phòng học đã được giải quvết rất
căn bản.
Năm học 2001-2002, quận 12 có 5.768 học sinh bậc mầm non tại 27
trường với 170 phòng học (so với năm học 1997-1998, các số IIệu tương ứng là
3.774 học sinh; 18 trường với 83 phòng học); 15.766 học sinh tiểu học tại 15
trường với 242 phòng học (so với 12.8854 học sinh tại lo trường với 174 phòng
học); 10.371 học sinh THCS tại 9 trường với 160 phòng học (so với 7.846 học
sinh tại 5 trường với 85 phòng học); 2.215 học sinh THPT tại 2 trường với 42
phòng học (so với 558 học sinh tại 1 trường với 7 phòng học). Tỷ lệ tăng
trưởng số học sinh và phòng học như sau:
Bên cạnh đó, quận đã xây dựng các trường chuyên biệt: Trường nuôi dạy
trẻ khuyết4ầt với 7 lớp học và 69 học sinh, tăng bình quân mỗi năm là 14,5%;
Trường Bồi dưỡng giáo dục; Trung tâm ngoại ngữ và Tin học...Đã có 3.384
học sinh Tiểu học (chiếm tỷ lệ 21,4%%) được học 2 buổi/ngày.
Thực hiện xã hội hóa giáo dục, huy động được nhiều nguồn lực, quận 12
đã đạt được mục tiêu hàng đầu về quy mô phát triển giáo dục. Từ năm 1997
đến 2001, quận 12 đã xây thêm 10 trường học mới với 245 phòng học khans
trang. Các tầng lớp nhân dân trong quận đã đóng góp 3,7 tỷ đồng và hiến hơn
11.000 m2 đất để xây trường học. Đặc biệt, đây là quận đầu tiến trons 22 quận,
huyện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hoàn thành phổ cập THCS theo
chuẩn mới.
*Nâng cao chất lượng giáo dục
Trên nền cơ sở vật chất được tăng cường, sự nhiệt tình tham gia công tác
giáo dục của các lực lượng trong xã hội, chất lượng giáo dục quận 12 cũng
ngày càng được nâng cao. Tất cả những sự chuyển động của tình hình giáo dục,
từ phường đến quận, từ ngành giáo dục đến các lực lượng xã hội, từ giáo viên
đến học sinh và người dân đã mang lại hiệu quả rõ nét. 98,7% người dân từ 15
đến 35 tuổi biết chữ. 10/10 phường trong quận hoàn thành phổ cập Tiểu học
đúng độ tuổi và phổ cập THCS theo chuẩn mới, đưa quận 12 trở thành quận
đầu tiên trên địa bàn thành phố hoàn thành công tác này. Tỷ lệ lưu ban bỏ học
được hạn chế, hiệu suất đào tạo Tiểu học đạt 89,3%, THCS đạt 86,4%, tỷ lệ
học sinh tốt nghiệp Tiểu học và THCS đạt hơn 99% (năm học 2000-2001 là
99,7% cả hai bậc Tiểu học và THCS). Chất lượng chăm sóc và nuôi dưỡng của
giáo dục mầm non ngày càng tiến bộ. Bản thân ngành giáo dục quận 12 đã có
những bước cải tiến mạnh mẽ về giáo dục chính trị tư tưởng cho giáo viên, chỉ
đạo việc đổi mới quản lý, đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với yếu cầu
của công cuộc đổi mới giáo dục.
* Phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
Cơ cấu đội ngũ giáo viên quận 12 đã có bước chuyển biến đáng kể về số
lượng và chất lượng:
Đội ngũ giáo viên trong quận được tham gia các chươna trình bồi dưỡng
thường xuyên, bồi dường nâng cao, bồi dường tại chỗ. theo học các lớp đại học
hóa (đào tạo giáo viên tiểu học và THCS có trình độ cử nhân). Phong trào tự
học, tự bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục được đông đảo đội
ngũ giáo viên hưởng ứng. Trong các hội thi Viên phấn vàng của Công đoàn
ngành giáo dục, nhiều giáo viên của quận đã đạt giải. Tổng kết giai đoạn 1 cuộc
vận động "Kỷ cương-Tình thương-Trách nhiệm", có hơn 80 giáo viên quận 12
đạt loại A.
* Tăng cường cơ sở vật chất, tài chính
Mặc dù Ngân sách Nhà nước cho giáo dục tăng dần hàng năm nhưng do
đất nước còn nghèo nên ngành giáo dục vẫn gặp nhiều khó khăn. Khó khăn đó
sẽ càng lớn nếu chúng ta không huy động các nguồn lực trong xã hội đầu tư
cho giáo dục. Quận 12 cũng vậy. Khó khăn về tài chính và cơ sở vật chất từng
bước được giải quyết nhờ sự đóng góp hết lòng của nhân dân. Tính đến cuối
năm học 2001-2002, Quỹ Giáo dục tại các phường trong quận 12 đã huy động
được gần 1,9 tỷ đồng để hỗ trợ cho các trường học. Quỹ của Hội Cha mẹ học
sinh quận và các trường mỗi năm học đã sử dụng hơn 1 tỷ đồng. Mạng lưới
trường học không ngừng phát triển. Đến nay, toàn quận có 57 trường học (từ
mầm non đến THPT) và cơ sở giáo dục. Tổng diện tích khuôn viên trường học
là 14,9 ha chiếm 0,29% diện tích đất tự nhiên của quận. Nhiều trường đạt tiêu
chuẩn mái trường xanh--¬sạch-đẹp. Cùng với việc xây mới các phòng học. một
số trường đầu tư sửa chữa nâng cấp phòng học, phòng chức năng, phòng bộ
môn. Thư viện trường học tại các trường cũng được củng cố, bổ sung các loại
sách, báo, phục vụ cho nhu cầu học tập và giảng dạy của giáo viên và học sinh.
* Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục
Xã hội hóa giáo dục đã góp phần đáng kể trong quá trình đổi mới công tác
quản lý giáo dục ở quận 12. Công tác quản lý giáo dục được tăng cường, triển
khai đồng bộ và có hiệu quả trên mọi mặt: quản lý bằng văn bản, chỉ thị pháp
quy của Đảng và Nhà nước, tăng cường quản lý thu chi ngân sách và ngoài
ngân sách theo quy định của pháp luật; quản lý bằng chương trình kế hoạch,
bằng thanh tra, kiểm tra và quản lý thông qua phong trào thi đua. Với 1.548 học
sinh mầm non đang học tại tác trường dân lập, tư thục (chiếm tỷ lệ 26,8%),
ngành giáo dục quận 12 đặc biệt coi trọng công tác quản lý về chương trình
giảng dạy, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và trình độ chuyên môn giáo viên ở
các trường mầm non dân lập, tư thục, nhóm trẻ gia đình. Nhờ vậy, nhiều trường
đã tạo được mối Liên kết gắn bó giữa nhà trường với cha mẹ học sinh, huy
động được năng lực của đội ngũ giáo viên, nâng cao chất lượng đào tạo, cạnh
tranh và thi đua lành mạnh với các trường mầm non công lập.
b) Những mặt hạn chế:
Hoạt động xã hội hóa giáo dục ở quận 12 tuy đạt được những thành tựu
đáng chú ý nêu trên, song qua thực tế và kết quả điều tra cho thấy vẫn còn
những hạn chế sau đây:
* Về đa dạng hóa các loại hình đào tạo
Đến nay, tại quận 12 , mới chỉ có ngành học mầm non có trường dân lập,
tư thục, nhóm trẻ gia đình, các cấp học khác vẫn chưa có loại hình trường ngoài
công lập. Quận 12 hiện có 57 trường từ mầm non đến THPT và các đơn vị trực
thuộc. Trên địa bàn quận 12 hiện có 7 trường mầm non dân lập, tư thục và 14
nhóm, lớp trẻ gia đình hoạt động có xin phép.
Theo Phòng GD-ĐT quận 12, trong 7 trường mầm non dân lập, tư thục có
4 trường hoạt động có giấy phép, 3 trường đang hoàn thành thủ tục xin cấp
phép. ISỊgoài 14 nhóm. lớp trẻ gia đình có xin phép, ước tính có khoảng hơn 20
nhóm lớp hoạt động không xin phép. Nhìn chung, sự ra đời của các trường
mầm non dân lập, tư thục và nhóm, lớp trẻ gia đình đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của
bà con tại địa phương. Các nhóm, lớp trẻ gia đình do chính quyền địa phương
cấp phép, ngành giáo dục chỉ quản lý về mặt chuyên môn. Bên cạnh một số
nhóm lớp chấp hành nghiêm chỉnh quy định nuôi dạy trẻ của ngành, một số
đơn vị chưa thật sự quan tâm đến chất lượng nuôi dạy trẻ.
Trong tình hình các trường phổ thông dân lập, tư thục tại thành phố Hồ
Chí Minh đang gặp nhiều khó khăn, nhất là về cơ sở vật chất, không tuyển
được học sinh (một phần do sự phát triển của các lớp bán công trong trường
công) cũng là một trở ngại không nhỏ về mặt tâm lý cho các nhà đầu tư muốn
xây trường dân lập ở các quận ven ngoại thành nói chung, quận 12 nói riêng.
* Về hoạt động của các Hội đồng giáo dục quận và phường
Bên cạnh một số phường có Hội đồng Giáo dục đề ra được cơ chế, quy
chế rõ ràng cụ thể, hoạt động rất chủ động và mang lại hiệu quả cao, một số
phường chưa phát huy hết khả năng phong phú, đa dạng của các lực lượng xã
hội phối hợp với nhà trường để phát triển giáo dục. Do vậy, ở một số nơi, các
ngành, đoàn thể chưa có những ký kết liên tịch với ngành giáo dục theo đúng
tính chất xã hội của công tác giáo dục.
Việc xây dựng phong trào học tập trong toàn xã hội với tình thần vận
động toàn dân, trước hết là trong độ tuổi lao động thực hiện học tập thường
xuyên, học tập suốt đời, với tình thần ai thiếu gI học cái nấy làm cho xã hội trở
thành một xã hội học tập, mọi người đều học tập chưa được đặt ra một cách
tích cực, chưa sâu rộng.
* Về việc nâng cao chất lượng giáo dục
Để đảm bảo yêu cầu phát triển thì yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục
là một trong những vấn đề quan trọng nhất của ngành siáo dục, là cái đích mà
toàn ngành phải nhắm tới. Qua thực tế ở quận 12 cho thấy, chất lượng giáo dục
đại trà của quận tuy đã được nâng cao, song tỷ lệ học sinh khá giỏi vẫn còn
khiêm tốn, nhất là số học sinh giỏi thành phố và quốc gia. vẫn còn khoảng cách
về chất lượng giáo dục mũi nhọn ở quận 12 so các quận trung tâm nội thành
thành phố Hồ Chí Minh. Còn nhiều lúng túng trong việc đưa ra những giải
pháp đồng bộ để giải quyết vững chắc việc tạo ra những cơ hội và điều kiện
cho trẻ em nghèo được học tập. ơ một bộ phận các em nghèo, chất lượng giáo
dục còn thấp.
Hiệu quả giáo dục-đào tạo là phải góp phần nâng cao mặt bằng dân trí,
đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội quận 12 và
thành phố. Thế nhưng ở quận 12 thời gian qua còn nổi lên một vấn đề là nguồn
lực lao động của quận chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội ở địa
phương. Trong thời gian qua, vấn đề dạy nghề và hướng nghiệp, phân luồng
học sinh chưa được quan tâm đúng mức, chưa được xác định cụ thể và đưa vào
thành một chương trình mục tiêu phát triển giáo dục. Cũng vI thế, tại quận 12
chưa có nhiều lao động có trình độ văn hóa và trình độ nghề đáp ứng nhu cầu
tuyển dụng tại các côns ty, xí nghiệp trên địa bàn quận. Chính vI vậy, bản chất
xã hội hóa giáo dục chưa được phát huy đầy đủ.
2.3.3. Những bài học từ thực tiễn xã hội hóa hoạt động giáo dục
ở quận 12
Có thể khẳng định rằng, những năm qua, việc thực hiện xã hội hóa giáo
dục trên địa bàn quận 12 thành phố Hồ Chí Minh bước đầu đạt được những kết
quả rất tốt, với một số kinh nghiệm đáng quý.
Đạt được kết quả đó trước hết là nhờ có đường lối, chủ trương và những
chính sách đúng đắn của Đảng đối với sự nghiệp phát triển giáo dục, nhờ sự
quan tâm đầy trách nhiệm của Đảng bộ và chính quyền quận 12 trong lãnh đạo,
chỉ đạo, sự năng động. nỗ lực, tích cực của đội ngũ quản lý giáo dục và giáo
viên, sự phối hợp và hỗ ượ hiệu quả của các ban, ngành, đoàn thể và lực lượng
xã hội vI mục tiêu "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài".
Tuy nhiên, việc thực hiện xã hội hoa giáo dục ở quận 12 vẫn còn một số mặt
hạn chế như đã đề cập. Nguyên nhân chính trước hết là do điều kiện khách
quan về vị trí địa lý của một quận ven nghèo vừa thành lập, cơ sở vật chất,
trang thiết bị thiếu thốn. xuống cấp. Nhân dân ở đây tuy có truyền thống cách
mạng, hiếu học nhưng còn nghèo, trình độ dân trí thấp nên việc huy động sự
đóng góp, đầu tư cho con em ăn học còn hạn chế. Ngoài ngành mầm non, các
trườns dân lập, tư thục chưa phát triển ở các bậc học khác. Bên cạnh đó, xã hội
hóa giáo dục là một cuộc vận động rộng lớn có tính chất toàn xã hội nhưng
hiện nay Nhà nước vẫn chưa có cơ chế phân định rõ trách nhiệm của từng
thành viên trong xã hội tham gia xây dựng sự nghiệp giáo dục, còn tùy ở nhận
thức và sự tự giác của mỗi người. Vì vậy, hiệu quả xã hội hóa hoạt động giáo
dục còn hạn chế.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và qua điều tra khảo sát, tổng kết thực tiễn
hoạt động giáo dục ở quận 12 thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi mạnh dạn đề
xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm thực hiện có hiệu quả hơn chủ
trương xã hội hóa giáo dục trên địa bàn quận 12.
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP TẰNG CƯỜNG XÃ
HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ở QUẬN 12
3.1. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP GIÁO
DỤC-ĐÀO TẠO Ở QUẬN 12 ĐẾN NĂM 2005 VÀ 2010
3.1.1. Mục tiêu và nhiệm vụ phát triển sự nghiệp giáo dục-đào
tạo và hoạt động xã hội hóa giáo dục ồ thành phố Hồ Chí Minh
đến năm 2005 và 2010
Ngày 28-12-2001, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số
201/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010
với các chỉ tiêu và giải pháp cơ bản nhằm xây dựng một nền giáo dục phát
triển, đổi mới. chuẩn hóa, hiện đại hóa theo hướng tiếp cận với nền giáo dục
hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm đô thị lớn, có ảnh hưởns trong
khu vực và cả nước về mọi lĩnh vực khoa học kỹ thuật, chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội. Đây là nơi có nhiều điều kiện tiếp xúc với thế giới và các nước
ASEAN, là nơi diễn ra cuộc đấu tranh chống nguy cơ tụt hậu gay gắt hiện nay
của đất nước. Với vị trí trung tâm truyền thống năng động của mình, Trung
ương đã giao nhiệm vụ cho thành phố Hồ Chí Minh phải "đi trước và về đích
trước" trons công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, do đó đòi hỏi
giáo dục-đào tạo thành phố phải khơi dậy được các tiềm năng, xác định những
định hướng và bước đi phù hợp. nhất là trong những năm đầu thế kỷ 21 để tạo
nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội bền vững trong những năm
tiếp theo. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ vu năm
2002 đã đề cập đến việc chăm lo nguồn nhân lực của thành phố đi vào thế kỷ
21, trong đó giáo dục-đào tạo phải có những bước chuyển cơ bản mới đáp ứng
được yêu cầu. Để xây dựng mô hình dáo dục- đào tạo thành phố Hồ Chí Minh
theo hướng chuẩn hóa và hiện đại hóa, mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục-đào
tạo đến năm 2005 và 2010 là:
Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, phát triển giáo dục mầm
non; củng cố chất lượng phổ cập Tiểu học, hoàn thành phổ cập THCS vào năm
2002 và tiến hành phổ cập THPT, phấn đấu hoàn thành phổ cập THPT tại đại
bộ phận quận nội thành cù vào năm 2005; nâng cao chất lượng giáo dục hướng
nghiệp và chuyên nghiệp dạy nghề.
Đến năm 2010, nâng mặt bằng học vấn của người dân thành phố lên lớp
9.
Huy động trẻ trong độ tuổi (1-2 tuổi) đến nhà trẻ đạt 20% vào năm 2005
và 25% vào năm 2010; tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi (3-5 tuổi) đến mẫu giáo
đạt 75% vào năm 2005 và 80% vào năm 2010, trong đó tỷ lệ học sinh 5 tuổi
đến lớp mẫu giáo là 97% vào năm 2005 và 98% năm 2010. Đến năm 2010, huy
động 100% trẻ trong từ 6 tuổi vào lớp 1; thu hút 100% học sinh tốt nghiệp tiểu
học vào lớp 6; hơn 80% học sinh tốt nghiệp THCS vào học lớp 10, còn lại vào
các trường THCN, trường nghề.
Mạng lưới trường lớp được xây dựng cân đối giữa các ngành học. bậc học
đáp ứng yêu cầu đào tạo của xã hội từ đại trà đến mũi nhọn, từ phổ thông đến
chuyên nghiệp, dạy nghề. Đảm bảo ít nhất mỗi quận, huyện xây dựng thành
công mỗi cấp học một trường đạt chuẩn quốc gia trons năm học 2001-2002 và
nhanh chóng mở rộng trong những năm tiếp theo. Đến năm 2005, hầu hết học
sinh tiểu học và 20% học sinh trung học học tập và hoạt động cả ngày trong
trường. Nâng cấp các trường trung học chuyên nghiệp hiện có, đảm bảo mỗi
quận, huyện có một trung tâm giáo dục thường xuyên, trường giáo dục khuyết
tật và trung tâm tổng hợp-hướng nghiệp-dạy nghề.
Triển khai tốt chủ trương xã hội hóa giáo dục, xây dựng quy chế thực hiện
chủ trương xã hội hóa giáo dục; mở rộng, củng cố chất lượng hoạt động của
các trường ngoài công lập; huy động các nguồn lực để tiếp tục thực hiện phổ
cập dáo dục, nâng cấtTdân trí tại các quận, huyện. [15-16]
3.1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ phát triển sự nghiệp giáo dục-đào
tạo và hoạt động xã hội hóa giáo dục đến năm 2005 tại quận 12
Nhằm thực hiện những định hướng Đại hội đảng bộ thành phố Hồ Chí
Minh đã đề ra, chuẩn bị tốt các điều kiện cơ bản thực hiện các mục tiêu phát
triển giáo dục-đào tạo của thành phố đến năm 2010, nsành giáo dục quận 12
xây dựng kế hoạch phát triển với các chỉ tiêu cần đạt được như sau:
a) về quy mô phát triển giáo dục:
Đến năm 2005, đảm bảo 30% trẻ trong độ tuổi 1-2 tuổi đi nhà trẻ; 80% trẻ
từ 3-5 tuổi học mẫu giáo, trong đó 98% trẻ 5 tuổi học mẫu dáo các loại hình
trường lớp.
Huy động 1005 trẻ từ 6-11 tuổi học tiểu học đúng độ tuổi, trong đó có
50% trẻ học 2 buổi/ngày.
Huy động 95% trẻ 11-14 tuổi học trung học cơ sở, 100% tốt nghiệp tiểu
học vào lớp 6.
Huy động 90% trẻ từ 15-17 tuổi học THPT. trong đó 80% học phổ thông,
20% học bô túc, trung học chuyên nghiệp, nghê ngăn hạn (theo mô hình trung
tâm học tập cộng đồng). Xây dựng 50% số phườns hình thành trung tâm học
tập cộng đồng có hiệu quả .[25]
b) về chất lượng giáo dục:
Đảm bảo 90% trẻ mầm non đạt yêu cầu về nuôi dạy, không còn trẻ suy
dinh dưỡng, hạn chế trẻ béo phI; 100% học sinh tốt nghiệp tiểu học và THCS,
trong đó 70% đạt loại khá giỏi; 95% học sinh tốt nghiệp THPT. Toàn quận xây
dựng 6 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 3 ưườns tiểu học, 2 trường
THCS và I trường THPT.[25] c) về hiệu quả giáo dục: 10/10 phường duy trì và
nâng cao chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và THCS; 5 phường và
70% khu phố chuẩn phổ cập THPT. Nâng cao mặt bằng dân trí đạt đến lớp
8.[25]
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG XÃ HỘI HÓA HOẠT
ĐỘNG GIÁO DỤC Ở QUẬN 12
Trên tinh thần Nghị quyết 90/CP của Chính phủ, xuất phát từ thực tế hoạt
động xã hội hóa giáo dục của quận 12, tổng hợp ý kiến đề xuất của các đối
tượng tham gia khảo sát gồm các nhà lãnh đạo Đảng và chính quvền đĩa
phương, cán bộ quản lý giáo dục, các nhà hoạt động xã hội tại quận 12, các giải
pháp sau đây được coi là hiệu quả nhằm thúc đẩy hoạt động xã hội hoa giáo
dục ở quận 12 TPHCM:
3.2.1.Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng
cao nhận thức của các lực lượng xã hội về vai trò, vị trí của giáo
dục
Qua kết quả khảo sát 100 phiếu trưng cầu ý kiến của các cán bộ quản lý
giáo dục, các nhà giáo đã nghỉ hưu; các đồng chí lãnh đạo Đảng. chính quyền
và các đoàn thể quận 12 cho thấy, 90% ý kiến cho rằng đây là giải pháp có tác
dụng cao nhất. a) Nội dung:
Qua nghiên cứu và khảo sát thực tiễn, chúng tôi thấy có một số vấn đề
cần quan tâm sau:
-Một là, đây là trách nhiệm của cấp ủy Đảng và chính quyền trước nhân
dân. Nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng
kinh tế nhanh và bền vừng. Các cấp ủy Đảng và chính quyền có trách nhiệm
lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành xã hội đào tạo đội ngũ nhân lực có phẩm chất đạo
đức, có trình độ chuyên môn, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Và
cũng không ai khác hơn, các cấp ủy Đảng và chính quyền có đủ vai trò, tư cách
và điều kiện để lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý việc tập hợp các lực lượng xã hội
tham gia công tác giáo dục. Giáo dục là quốc sách hàng đầu nên phải là trọng
tâm trong nội dung kế hoạch xây dựng phát triển kinh tế-xã hội của cấp ủy
Đảng và chính quyền địa phương. Thực tế thời gian qua cho thấy, ở nơi nào
cấp ủy Đảng và chính quyền nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác xã
hội hóa giáo dục. Nơi đó sự nghiệp giáo dục phát triển mạnh và đúng hướng.
Hiệu quả hoạt động của Hội đồng giáo dục các cấp luôn tỷ lệ thuận với mức độ
sâu sát, chặt chẽ trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền cấp đó.
Việc triển khai các chương trình phát triển giáo dục ở một số phường trong
quận 12 đạt kết quả tốt là nhờ cấp ủy Đảng và chính quyền quan tâm lãnh đạo,
tổ chức thực hiện. Diện mạo giáo dục ở những nơi này đã có nhiều đổi mới,
qua đó tạo sự chuyển biến trong nhận thức của các lực lượng xã hội đối với
giáo dục.
-Hai là, đối với các lực lượng xã hội và nhân dân, cần làm cho mỗi cá
nhân, tập thể nhận thức sâu sắc giáo dục là sự nghiệp của toàn dân. Chỉ khi nào
toàn Đảng, toàn dân thực sự chăm lo cho công tác giáo dục thI giáo dục đào tạo
mới phát triển, hoàn thành được sứ mệnh là "quốc sách hàng đầu". Tất cả mọi
người đều có quyền được học tập. Giáo dục không có quyền ưu đãi một người
nào để bỏ rơi một người nào. Nhưng ngược lại, mỗi người, mỗi tổ chức đều có
trách nhiệm, nhiệm vụ của mình trong việc xây dựng và phát triển nền siáo dục
quốc dân. Giáo dục không đứng ngoài bất cứ một cá nhân. tổ chức, tập thể nào,
không phải là việc riêng của ai. Ai cũng có trách nhiệm chấn hưng nền giáo
dục đất nước. Ai cùng phải tham gia vào công tác giáo dục. Xã hội hóa giáo
dục là thể hiện sự bình đẳng trong hưởng thụ và góp phần xây dựng sự nghiệp
giáo dục-đào tạo của mọi người.
- Ba là. phải làm cho mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi côns dân, các cơ quan.
đoàn thể hiểu rõ vị trí, vai trò quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển đất
nước, hiểu biết về quan điểm giáo dục của Đảng, về mục tiêu giáo dục trong
việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng và phát triển nhân tài. Làm
rõ trong nhân dân rằng "đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển". "Việc
"đầu tư" này cần được hiểu không chỉ ở phương diện vật chất mà bao hàm cả
giá trị tình thần. Phải đầu tư nuôi dường tình cảm, đạo lý làm người, bồi dường
tư tưởng nhân văn, đoàn kết, thân ái, sống có trách nhiệm với nhau, với cộng
đồng và xã hội, coi trọng và đề cao trí tuệ. Đầu tư toàn diện để sản phẩm của
giáo dục phải là những người có kiến thức, có đạo đức, biết làm giàu cho bản
thân, gia đình và quê hương, sống lành mạnh và có văn hóa.
Để phát triển, chấn hưng nền giáo dục nước nhà, phải xã hội hóa giáo
dục. Xã hội hóa giáo dục là giải pháp mang tính chiến lược của Đảng và Nhà
nước. Mỗi người phải có trách nhiệm đối với sự nghiệp giáo dục, có thái độ
đúng đắn với giáo dục, tôn trọng các nhà giáo, tôn trọng và tuân theo những
điều đã quy định trong Luật giáo dục. Trên cơ sở nhận thức đó, mọi người sẵn
sàng, nhiệt tình tham gia vào những việc làm cụ thể, thiết thực để phát triển sự
nghiệp giáo dục tại địa phương.
-Bốn là, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, các cấp ủy Đảng và chính
quyền phải quán triệt các yêu cầu của quá trình xã hội hóa giáo dục, tránh chỉ
đạo phiến diện, thiên lệch. Cùng với yêu cầu huy động nguồn lực để tăng
cường cơ sở vật chất, phải rất coi trọng yêu cầu xây dựng môi trường giáo dục
nhà trường-gia đình-xã hội trong sạch và nâng cao năng lực, tình thần trách
nhiệm của đội ngũ giáo viên. Có như vậy mới làm cho hoạt động xã hội hóa
giáo dục phát triển bền vững.
b) Cách làm:
Thực hiện bằng nhiều biện pháp tổng hợp, nhiều con đường như tổ chức
tốt các đợt học tập các Nghị quyết của Đảng về giáo dục như Nghị quyết TƯ n
khóa VIII, Nghị quyết TƯ IV khóa IX...Tuyên truyền vận động, tổ chức quán
triệt đến từng cán bộ, đảng viên, mỗi người dân những nội dung cụ thể về
đường lối đổi mới giáo dục của Đảng, phổ biến các Luật giáo dục, Luật phổ
cập giáo dục. Xác định trách nhiệm cho các cấp, các ngành, các đoàn thể quần
chúng và mọi người, khai thác tiềm năng nội lực của dân, đảm bảo dân chủ,
công khai vừa sức dân, kiểm tra giám sát chặt chẽ trong quá trình thực hiện, tạo
và giữ được niềm tin trong nhân dân, từ đó làm cho mọi người tự giác, tự
nguyện, đồng lòng hưởng ứng mọi hoạt động nhằm phát triển giáo dục.
3.2.2.Tổ chức đại hội giáo dục các cấp
a) Nội dung:
Đây là một giải pháp quan trọng mà thời gian qua quận 12 đã thực hiện để
xã hội hóa giáo dục. Qua kết quả khảo sát, có 88% ý kiến cho rằng việc tổ chức
Đại hội giáo dục các cấp là giải pháp mang lại hiệu quả cao nhằm xây dựng
cộng đồng trách nhiệm trong phát triển giáo dục-đào tạo. Trước yêu cầu đẩy
mạnh hơn nữa công tác xã hội hóa giáo dục ở quận 12 trong thời gian tới, việc
tổ chức đại hội giáo dục các cấp phải thực sự là hoạt động vừa mang tính khoa
học, vừa có tính quần chúng sâu sắc, là sự kết hợp nhuần nhuyễn những quan
điểm của Đảng trong chỉ đạo sự nghiệp giáo dục sát với tình hình thực tiễn của
địa phươns. Đại hội giáo dục các cấp phải là một diễn đàn dân chủ, một "hội
nghị Diên Hồng" bàn cách làm giáo dục của mọi tầng lớp nhân dân, mọi lực
lượng xã hội ở quận 12.
Tổ chức đại hội giáo dục các cấp làm cho xã hội nhận thức đúng vị trí, vai
trò quan trọng của giáo dục-đào tạo đối với sự phát triển của đất nước; mọi
người hiểu rõ thực trạng giáo dục của đĩa phương, từ đó tìm ra biện pháp khắc
phục những tồn tại, phát huy những mặt tích cực để phát triển giáo dục.
Đại hội giáo dục các cấp xây dựng mục tiêu, kế hoạch phát triển giáo dục
của địa phương phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hội; đề ra chươns
trình hành động với nội dung cụ thể; tạo thêm nguồn đầu tư cho giáo dục; nâng
cao tình thần trách nhiệm của đội ngũ thầy cô giáo và ngành giáo dục, nâng cao
chất lượng giáo dục; nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng giáo dục cấp;
huy động mọi lực lượng xã hội tham gia công tác giáo dục.
b) Cách làm:
Phải coi trọng cả 3 khâu: chuẩn bị đại hội, tổ chức đại hội và thực hiện
nghị quyết sau đại hội.
Khâu chuẩn bị đại hội rất quan trọng, chưa chuẩn bị tốt, chưa nên tổ chức
đại hội. Phải chuẩn bị nhận thức của xã hội về vai trò, lợi ích của giáo dục đối
với sự hưng thịnh của quốc gia, dân tộc và mỗi gia đình. Phải dự kiến các hình
thức nhân dân tham gia công tác giáo dục phù hợp với tình hình thực tế của địa
phương. Chuẩn bị dự thảo báo cáo đánh giá đúng thực trạng giáo dục của địa
phương, xác định đúng mục tiêu, kế hoạch phát triển giáo dục từ quy hoạch
mạng lưới trường lớp đến đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị, xây
dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên trước mắt và lâu dài,
giải quyết tốt các mâu thuẫn trong giáo dục, đề ra biện pháp phổ cập giáo dục
Trung học phổ thông (quận 12 đã hoàn thành phổ cập Trung học cơ sở) và phấn
đấu xây dựng một xã hội học tập tại quận 12. Trong dự thảo này cũng cần
chuẩn bị dự báo được những khó khăn và triển vọng của giáo dục quận 12
trong giai đoạn tới, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng ủy, chính quyền
về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Đặc biệt chú ý xây dựng các quy định, cơ
chế liên kết cộng đồng trách nhiệm chăm lo cho giáo dục, giới thiệu những
gương điển hình để động viên, khen thưởng tại đại hội.
Trong quá trình tổ chức đại hội, cần chọn những nội dung cụ thể, thiết
thực của địa phương như xóa mù chữ, phổ cập giáo dục, xây dựng cơ sở vật
chất trang thiết bị dạy học, vấn đề dạy thêm học thêm tràn lan, vấn đề thu tiền
trường đầu năm học, lập quỹ giáo dục...để đưa ra thảo luận, trao đổi, tIm cách
giải quyết. Hội đồng giáo dục đóng vai trò chính trong khâu thực hiện nghị
quyết đại hội. Cần chọn người có đủ uy tín, khả năng, nhiệt tình vào Hội đồng
giáo dục. cần thành lập các tiểu ban của Hội đồng giáo dục, xây dựng quy chế
hoạt động của Hội đồng giáo dục, đảm bảo điều kiện để Hội đồng giáo dục
hoạt động hiệu quả, tránh tình trạng "hữu sinh vô dưỡng".
Sau mỗi kỳ Đại hội giáo dục, phải đặc biệt coi trọng khâu chỉ đạo, thực
hiện. Cần tránh kiểu làm xã hội hóa giáo dục chỉ dừng lại ở tổ chức đại hội mà
không dẫn đến hoạt động thực tế. Phải nâng cao trách nhiệm và hiệu quả hoạt
động của Hội đồng giáo dục các cấp dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, sự tham mưu
tích cực, sáng tạo của ngành giáo dục. Việc thực hiện các nghị quyết, cam kết
sau đại hội phải được phân công, phân nhiệm rõ ràng, đôn đốc kiểm tra chặt
chẽ, có sơ kết, thông báo động viên kịp thời trong các hội nghị Đảns, Hội đồng
nhân dân. Uy ban nhân dân, hội nghị Liên tịch các ban, ngành, đoàn thế, các
lực lượng xà hội...
3.2.3. Thu hút các lực lượng xã hội tham gia hoạt động giáo dục
87% phiếu điều tra đánh giá đây là giải pháp có hiệu quả cao nhằm nâng
cao nhận thức của các lự c lượng xã hội về vai trò, vị trí của giáo dục.
a) Nội dung:
Xã hội hóa giáo dục không chỉ là vận động mọi người đóng góp tiền bạc,
vật chất để xây trường, mua sắm trang thiết bị, đồ dùns dạy học mà thực chất
hơn. sâu xa hơn là vận động toàn xã hội tham gia vào công tác giáo dục, cùng
"đứng trên con thuyền của giáo dục" để giải quyết các vấn đề giáo dục đang đặt
ra. Mỗi người dân, mỗi tổ chức, tất cả mọi lực lượng xã hội, tùy theo sức của
Minh đóng góp tài lực, vật lực, trí tuệ cho công tác giáo dục, từ việc góp ý về
nội duns chương trình giảng dạy, cụ thể hóa mục tiêu giáo dục đến việc tổ chức
các chương trình phát triển giáo dục. Thực hiện xã hội hóa giáo dục, tham gia
công tác giáo dục tức là tham gia sự nghiệp "trồng người", đào tạo những con
người có đạo đức và năns lực phục vụ phát triển xã hội. Để giáo dục-đào tạo
đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội, công tác xã hội hóa giáo dục phải được
nâng lên một trình độ mới. thể hiện rõ cơ chế "Đảns lành đạo, chính quyền
quản lý, nhân dân làm chủ sự nghiệp giáo dục-đào tạo". Yêu cầu về đào tạo
nguồn nhân lực trong tương lai có đủ sức mạnh để làm chủ xã hội, giành thắng
lợi trong cuộc chạy đua về trí tuệ của nền kinh tế tri thức đặt ra cho công tác xã
hội hóa giáo dục ở quận 12 phải ngày càng nâng cao về chất lượng. Muốn vậy,
phải thu hút mọi lực lượng cùng tham gia vào công tác giáo dục. b) Cách làm:
* Vận động các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình giáo dục theo các
nội dung. chương trình của ngành giáo dục.
Hiện nay, ngành giáo dục cả nước đang thực hiện đổi mới chương trình
giáo dục phổ thông, khởi động bằng việc triển khai đại trà chươns trình và sách
giáo khoa bậc tiểu học và trung học cơ sở. Đây thật sự là một cuộc cách mạng
trong giáo dục nhằm xây dựng một nền giáo dục chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã
hội hóa. Để công cuộc đổi mới giáo dục thành công, cần huy động sự đóng góp
trí tuệ, sức lực của cả xã hội. Qua nội dung, chương trình và sách giáo khoa
mới của con em, các bậc cha mẹ học sinh, các nhà giáo, các tầnơ lớp nhân dân
nhận xét, đánh giá những chỗ được và chưa được, góp những ý kiến sát thực để
ngành giáo dục kịp thời sửa chữa.
Không chỉ đóng góp ý kiến, trong quá trình triển khai chương trình mới,
rất nhiều khó khăn thách thức đặt ra mà một Minh ngành giáo dục không thể
giải quyết, nên rất cần sự góp sức trực tiếp của cả xã hội. Đó là khó khăn về cơ
sở vật chất, trang thiết bị thiếu thốn, lạc hậu, đội ngũ giáo viên còn bất cập,
trong đó chế độ đãi ngộ để ổn định đời sống các thầy cô giáo là một vấn đề nan
giải. Hiện nay, đội ngũ giáo viên nói chung, giáo viên quận 12 nói riêng có thu
nhập thật sự chưa đủ tái tạo lại lao động sư phạm rất nặng nhọc của họ. Nhiều
giáo viên có thu nhập thấp không thể tự kiếm được một chỗ ở ổn định cho
Minh. Chăm lo ổn định đời sống các thầy cô giáo như xây nhà bán trả góp cho
giáo viên nghèo, hỗ trợ cho giáo viên ngoại thành, vùng ven vay vốn lãi suất
thấp để chăn nuôi, sản xuất kinh tế phụ để họ vén tâm đứng trên bục giảng là
trách nhiệm của các ban, ngành chức năng và cả cộng đồng.
* Tùy khả năng, trách nhiệm của Minh, các lực lượng xã hội tham gia vào
quá trình giáo dục bên cạnh các hoạt động chính khóa của các thầy cô giáo
trong nhà trường.
Các ngành văn hóa thông tin, thể dục thể thao, Đoàn thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh tham gia tổ chức các hoạt động hè cho học sinh, mở các ]ớp năng
khiếu, câu lạc bộ, tổ chức thi đấu thể thao, thi văn nghệ, thi kể chuyện...tạo ra
sân chơi bổ ích cho các em. Phons trào xâv dựng gia đình văn hóa, khu phố văn
hóa, phường văn hóa của ngành văn hóa thông tin vừa tạo môi trường văn hóa
lành mạnh ngoài nhà trường, vừa nâng cao trách nhiệm của gia đình, làng xóm
trong việc giáo dục trẻ.
Các ngành Y tế- Hội Chữ thập đỏ chăm lo sức khỏe cho giáo viên và học
sinh, nhằm thực hiện mục tiêu cơ bản về y tế học đường thône qua các chương
trình nước sạch, vệ sinh học đường, vệ sinh thực phẩm, vệ sinh răng miệng,
phòng chống suy dinh dưỡng, béo phI, thực hiện tiêm chủng mờ rộng cho trẻ
em, các chương trình tuyên truyền phòng chống AIDS và các tệ nạn xã hội.
Các ngành tư pháp, công an triển khai chương trình pháp luật nói chung, luật
giao thông nói riêng cho học sinh, thực hiện cam kết trách nhiệm nsăn ngừa tệ
nạn xã hội xâm nhập học đường, kết hợp với ngành giáo dục giải tỏa các hàng
quán xung quanh trường hoặc trước cổng trường, xây dựng cổng trường sạch
đẹp.
Các đơn vị bộ đội, Hội Cựu chiến bình phối hợp với ngành giáo dục huấn
luyện quân sự, giáo dục ý thức quốc phòng toàn dân, giáo dục truyền thống
quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, truyền thống cách mạng. truyền thống
dân tộc cho giáo viên và học sinh.
Ủy ban Mặt trận Tô quốc và các đoàn thê vận độns nhân dân góp công,
góp của chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, đẩy mạnh cuộc vận động "Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống mới ở khu dân cư".
ủy ban Dân số, gia đình và trẻ em chủ trì phối hợp với các cấp, các ngành
trong công tác bảo vệ trẻ em, tổ chức câu lạc bộ những người Yêu trẻ, tuyên
truyền vận động toàn xã hội thực hiện Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Luật
Phổ cập giáo dục Tiểu học...nhằm nâng cao ý thức bảo vệ và chăm sóc trẻ em
trong nhân dân.
Các cán bộ hưu trí, trong đó có các nhà nhà giáo đã nghỉ hưu tham gia các
buổi nói chuyện chuyên đề tại khu phố, tại các trung tâm học tập cộng đồng,
các trường dân lập, tư thục, trung tâm giáo dục thường xuyên...
Các xí nghiệp, doanh nghiệp, công ty tham gia hướng nghiệp, dạy nshề
cho học sinh và lực lượng lao động trẻ tại địa phương, tạo điều kiện nâng cao
trình độ cho cán bộ công nhân viên của đơn vị, cùng chung sức với ngành giáo
dục để đào tạo và đào tạo lại lực lượng lao động.
Như vậy, tất cả các lực lượng trong xã hội đều tham gia công tác giáo
dục, đều học tập và rèn luyện, cả xã hội trở thành một xã hội học tập. 3.2.4.
Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh
a) Nội dung:
Giáo dục có hai nhiệm vụ là truyền giảng kiến thức và góp phần (chính
yếu) tạo nến nhân cách cho người học. Thực hiện xã hội hóa giáo dục tức là
vận động toàn xã hội tham gia vào công tác giáo dục. Như thế, rất cần thiết
phải tạo dựns một môi trường giáo dục tốt. Đó là môi trường xã hội thuận lợi
cho việc giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ. Trẻ em ngay từ đầu phải được sống trong
môi trường trons sạch, lành mạnh. Không chỉ trong nhà trường, trẻ cần được
giáo dục tốt, có mối quan hệ tốt với thầy giáo và bạn bè, mà cả bên ngoài xã
hội, trong cuộc sốns gia đình, trên địa bàn khu phố...cũng cần xây dựng một
bầu không khí lành mạnh, mối quan hệ đoàn kết, giúp đỡ nhau bởi tất cả những
điều đó có tác động rất lớn đến việc hình thành nhân cách trẻ.
b) Cách làm:
Phối hợp với các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội như Mặt trận Tổ
quốc, Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên tạo môi trường giáo dục lành mạnh
qua các hoạt động phong phú như thể dục thể thao, vIII chơi giải trí, các sinh
hoạt Đoàn, Đội theo chủ đề giáo dục cụ thể "Ngày chủ nhật xanh", "Về
nguồn"... Giáo dục không chỉ bó hẹp trong cánh cửa nhà trường. Các lực lượng
xã hội, các nsành, các tổ chức xã hội, đặc biệt là các bậc cha mẹ học sinh đều
tham gia vào quá trình giáo dục trẻ. Trẻ sẽ được giáo dục không chỉ trong nhà
trường, bởi các thầy cô giáo, mà được siáo dục ở khắp mọi nơi, bởi những
người lớn trong gia đình và ngoài xã hội. Để giáo dục trẻ tốt, mọi người lớn cần
luôn được giáo dục làm tấm gương cho trẻ. Như vậy là tất cả mọi người đều
được dáo dục để giáo dục lại cho lớp trẻ. Trong xã hội, mọi người đều không
nsừnă học tập, rèn luyện để hoàn thiện nhân cách của Minh. Đó cũng có nghĩa
là thực hiện mục tiêu "giáo dục cho mọi người" của hoạt động xã hội hóa giáo
dục.
3.2.5. Thực hiện có hiệu quả cuộc vận động dân chủ hóa nhà
trường
a) Nội dung:
Nhà trường phải giữ vai trò nòng cốt, chủ động trons mọi hoạt động của
quá trình xã hội hóa giáo dục. Xã hội hóa giáo dục phải gắn IIền với đổi mới
giáo dục, đổi mới từ công tác quản lý đến nội dung chương trình, phương pháp
giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh. Muốn vậy, phải thực hiện tốt
cuộc vận động dân chủ hóa trường học.
Dân chủ hóa trường học là bộ phận hữu cơ của dân chủ hóa xã hội theo
chủ trương đổi mới của Đảng nhằm xây dựng nền dân chủ xà hội chủ nghĩa,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Nội
dung của dân chủ hóa trường học là dân chủ hóa quá trình đào tạo và dân chủ
hóa quản lý nhà trường, cốt lõi của dân chủ hóa trường học là thực hiện ngày
càng đầy đủ sự tự quản xã hội chủ nghĩa của tập thể sư phạm và tập thể học
sinh trên cơ sở thu hút cán bộ, giáo viên tham gia tích cực và hiệu quả vào giải
quyết mọi vấn đề của đời sống trường học, phát huy tính tích cực, tự giác của
học sinh trong quá trình giáo dục-đào tạo. Trong đó, mỗi tổ chức, mỗi tập thể
cần tham gia vào những lĩnh vực phù hợp với chức năng của họ.
Để thực hiện dân chủ hóa nhà trường, cần giải quyết các vấn đề sau đây:
-Trước hết cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý trường học
nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động của các tổ chức chính trị-xã hội
trong nhà trường như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên trong việc
xây dựng. phát triển nhà trường.
-Thứ hai, cần phát huy vai trò nòng cốt của hiệu trưởng. Nhà trường là
đơn vị cơ sở của ngành giáo dục, có tư cách pháp nhân, hiệu trưởng là đại diện
tư cách pháp nhân của nhà trường thực hiện chế độ thủ trưởng, cá nhân chịu
trách nhiệm. Hiệu trưởng phải là IInh hồn của tập thể sư phạm nhà trường, có
vai trò quyết định trong mọi hoạt động của trường học. Hiệu trưởng cùng với
các phó hiệu trưởng phải huy động được sự tham gia tích cực của các đoàn thể
trong nhà trường như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên, tập thể sư
phạm và tập thể học sinh vào quá trình giáo dục, đổi mới giáo dục, xây dựn2 và
phát triển nhà trường... Hiệu trưởng phải phát huy tính năng động, chủ động
của Minh trons việc thực hiện xã hội hóa giáo dục, tạo ra mối liên kết giữa nhà
trường với các ban. ngành, đoàn thể ở địa phương tham gia và vận động mọi
tầng lớp nhân dân cùns tham gia công tác giáo dục.
-Thứ ba, cần phát huy tính tích cực của học sinh, coi học sinh là đối tượns
chính của hoạt động dạy-học. làm cho quá trình dạy-học thực sự là quá trình
hợp tác tích cực giữa thầy và trò. Nhà trường tạo điều kiện để học sinh rèn
luyện, phát triển mọi khả năng của Minh. đồng thời mỗi học sinh tự siác học
tập, tham gia các phong trào hoạt động của trường, chấp hành nghiêm túc mọi
nội quy của nhà trường, biến quá trình giáo dục của nhà trường thành quá trình
tự giáo dục của bản thân mỗi học sinh.
b) Cách làm:
Thực hiện dân chủ hóa nhà trường là nhằm tạo môi trường thu hút tập thê
giáo viên và học sinh, các đoàn thể trong và ngoài nhà trường (kết hợp có hiệu
quả với Hội Cha mẹ học sinh cũng như sức mạnh tổng hợp của Hội đồng giáo
dục) tham gia vào quá trình quản lý nhà trường nhằm phát huy tiềm năng của
từng người, từng lực lượng giáo dục, góp phần mang lại hiệu quả cao cho hoạt
động của nhà trường và cho sự phát triển của sự nghiệp giáo dục-đào tạo. Qua
nghiên cứu thực tiễn tại một số trường phổ thông trên địa bàn quận 12, chúns
tồi nhận thấy, ở nơi nào thực hiện tốt cuộc vận động dân chủ hóa trường học, ở
đổ xây dựng được mối quan hệ tốt giữa thầy và trò, xây dựns môi trường sư
phạm lành mạnh trong trường học; công khai hóa công tác kế hoạch, công tác
tài chính.
Công tác kiểm tra, đánh giá, xếp loại giáo viên và học sinh, cải tiến thi cử.
Đặc biệt là công khai các khoản thu chi phát triển cơ sở vật chất trường học.
Một khi đã huy động được sự đóng góp của cán bộ, nhân dân thI phải đưa vào
sử dụng có hiệu quả, đúng mục đích theo kế hoạch đã đề ra. Kết thúc việc thu
chi phải công khai cho mọi cán bộ giáo viên, học sinh và nhân dân biết. Làm
thế nào để mọi người tin tưởng rằng: tiền của, công sức mà họ bỏ ra đã được sử
dụng có hiệu quả, đúng mục đích. Được như vậy, niềm tin của nhân dân sẽ mỗi
ngày một tăng và sự đóng góp của họ ngày càng nhiều hơn.
Để đẩy mạnh việc thực hiện dân chủ hóa nhà trường, cần không ngừng
nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội trong nhà trường như Công
đoàn, Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên, đặc biệt là Công đoàn giáo dục. Đây
là người đại diện cho tiếng nói của giáo viên, công nhân viên, chỗ dựa tin cậy
của mọi đoàn viên trong quá trình thực hiện quyền dân chủ của Minh. Hoạt
động của công đoàn giáo dục phải đảm bảo sự thống nhất nhận thức và hành
động của đoàn viên trong nhà trường nhằm thực hiện đúng đường lối của Đảng
về giáo dục-đào tạo, góp phần thực hiện dân chủ hóa nhà trường.
3.2.6. Đa dạng hóa các loại hình giáo dục-đào tạo
a) Nội dung:
Cùng với việc củng cố hoạt động của các trường công lập, để đẩy mạnh
hoạt động xã hội hóa giáo dục, phải phát triển các loại hình trường dân lập, tư
thục. Chuyển một số trường phổ thông sang bán công. Thực hiện tốt việc phân
luồng học sinh sau trung học sơ sở và trung học phổ thông. Quan tâm công tác
hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh. Mở rộng các hình thức dạy nghề, khuyến
khích mở các trường dạy nghề dân lập, tư thục.
b) Cách làm:
Thực tế ở quận 12-một quận vùng ven mới thành lập, điều kiện kinh tế xã
hội, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, việc đa dạng hóa các loại
hình đào tạo mới chỉ là bước khởi động ở bậc học mầm non và công tác dạy
nghề. Do vậy, trong quy hoạch phát triển mạng lưới trường lớp của quận 12
cần xác định rõ tỷ lệ hợp lý giữa các trường công lập và ngoài công lập cho
từng ngành học, cấp học phù hợp với từng khu vực trên địa bàn, tránh tình
trạng khi xây dựng thI xây dựng ồ ạt, có phường, có con đường có tới 2-3
trường dân lập mới xây, có phường không có trường nào. Đặc biệt, trong việc
tuyển sinh các lớp đầu cấp hàng năm, ngành giáo dục địa phương lên kế hoạch
cụ thể tỷ lệ tuyển sinh hợp lý giữa các trường côns lập và ngoài côns lập, tránh
tình trạng "có trường, có lớp, có thầy nhưng không có học sinh" như một số
trường dân lập ở các quận nội thành TPHCM, đến mức một số trường đã phải
đóns cửa. Có như vậy mới huy động được sự đầu tư lâu dài của các lực lượns
xà hội cho giáo dục.
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để đi đến mục tiêu
"dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn Minh" theo con đường
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục thúc đẩy quá trình xã hội
hóa giáo dục.
Xã hội hóa giáo dục là một quy luật khách quan, phản ánh xu thế phát
triển tất yếu của các nước trên thế giới. Đó là quá trình làm cho giáo dục trở
thành sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và cả dân tộc. Nó làm cho giáo dục
trở thành động lực nội tại của chính Minh và của toàn xã hội.
Xã hội hóa giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và toàn cầu hóa cần
được thực hiện bằng những phương thức thích hợp để tận dụng tối đa các
nguồn lực phát triển giáo dục, đồng thời hạn chế tới mức thấp nhất những tác
động tiêu cực do kinh tế thị trường và toàn cầu hóa mang lại.
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc tầm quan trọng, nội dung và ý nghĩa thực
tiễn của việc xã hội hóa giáo dục, quận 12 TPHCM đã có nhiều giải pháp thích
hợp, năng động phát huy mọi nguồn lực, huy động các lực lượng xã hội tham
gia vào công tác giáo dục, bước đầu đã có những kinh nghiệm quý và đạt được
thành công nhất định về cách tổ chức thực hiện xã hội hóa giáo dục. Từ việc
nghiên cứu những nội dung và biện pháp xã hội hóa giáo dục đã thực hiện ở
quận 12, những thành tựu và hạn chế của công tác này, căn cứ vào những đặc
điểm có tính đặc thù về vị trí địa lý, điều kiện kinh tế-xã hội của một quận mới
thành lập đang trên đà đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi mạnh
dạn đề xuất một số giải pháp có tính khả thi được trình bày trên đây với hy
vọng rằng, nếu những giải pháp trong luận văn này được các cấp, các ngành
lưu tâm thực hiện thI chắc chắn công tác xã hội hóa giáo dục ở quận 12
TPHCM sẽ mang lại những hiệu quả hơn nữa, góp phần đưa sự nghiệp giáo
dục ở quận 12 và thành phố Hồ Chí Minh ngày càng phát triển theo hướng
chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã hội hóa.
2. KHUYẾN NGHỊ
2.1. Đối với Nhà nước và Bộ Giáo dục-Đào tạo:
-Sớm có qui định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Giáo dục các cấp
cho phù hợp với tình hình thực tế. Qua thực tiễn xã hội hóa hoạt động giáo dục
ở quận 12 cho thấy, vai trò của Hội đồng giáo dục rất quan trọng, nhiều Hội
đồng Giáo dục của phường hoạt động rất tốt, bên cạnh đó, ở một số phường
Hội đồng Giáo dục đã không thể hiện được vai trò của Minh, hoạt động lúng
túng, hình thức, không thật sự mang lại hiệu quả cho giáo dục. Nguyên nhân
chính của tình trạng này là do Nhà nước chưa có quy định rõ về quy chế hoạt
động của Hội đồng giáo dục các cấp. Trong Nghị quyết 90/CP có đề ra một
mục tiêu, yêu cầu của xã hội hóa giáo dục là "Xây dựng cộng đồng trách nhiệm
của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế,
xã hội lành mạnh, thuận lợi cho các hoạt động giáo dục ở mỗi địa phương. Đây
là cộng đồng trách nhiệm của Đảng bộ, HĐND,ƯBND, các cơ quan Nhà nước,
các đoàn thể, quần chúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa
phương và của từng người dân". Như vậy, Nghị quyết 90/CP mới chỉ ra đối
tượng cụ thể phải thực hiện cộng đồng trách nhiệm nhưng ai và cơ quan nào là
chủ thể để phối hợp, đôn đốc các đối tượng, các thành viên thể hiện hết trách
nhiệm của Minh? Phải chăng, đó chính là Hội đồng Giáo dục các cấp. Trong
thực tế, Hội đồng Giáo dục các cấp không phải là cơ quan trung gian mà nó
phải trở thành một tổ chức cao nhất, mạnh nhất của mỗi địa phương để chuyên
trách việc chăm lo và huy động các lực lượng xã hội, các cơ quan, đoàn thể,
các tổ chức kinh tế, xã hội đóng tại địa phương tham gia công tác giáo dục.
Mỗi thành viên đều có trách nhiệm và nghĩa vụ, được kiểm điểm, đánh giá
hàng năm chứ không phải là tham gia làm giáo dục theo kiểu làm thêm, kiểu
"ban ơn" hay là làm "từ thiện", ở quận 12, nhưng phường có Hội đồng giáo dục
năng động là những nơi tự đề ra được cơ chế. quy chế rõ ràng cụ thể, hoạt động
chủ động và mans lại hiệu quả cao, còn thI ngược lại. Do đó, cần tạo hành lang
pháp lý cho hoạt động của Hội đồng giáo dục các cấp, chính hội đồng này sẽ là
cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện tốt nhất công tác xã hội hóa giáo dục ở địa
phương.
- Nhà nước nhanh chóng có quy định cụ thể hóa trách nhiệm đóng góp
một phần chi phí đào tạo đối với những đơn vị kinh tế, xí nghiệp có sử dụng lao
động được đào tạo. Nghị quyết 90/CP của Chính phủ đề cập đến vấn đề "Quy
định nghĩa vụ đóng góp của các doanh nghiệp cho hoạt động giáo dục-đào tạo,
căn cứ vào doanh thu, số lượng và trình độ đào tạo của đội ngũ lãnh đạo trong
doanh nghiệp". Tuy nhiên, đến nay, vẫn chưa có một quy định cụ thể nào về
vấn đề này. Để tăng nguồn lực cho phát triển giáo dục, góp phần nâng cao chất
lượng hoạt động xã hội hóa giáo dục, quy định này cần nhanh chóng ra đời, đặc
biệt tại quận 12-một địa phương đang đô thị hóa có nhiều công ty, xí nghiệp,
khu chế xuất hoạt động.
-Để đảm bảo sự công bằng trong giáo dục, chế độ phụ cấp ưu đãi nến áp
dụng đối với tất cả những người làm công tác giáo dục. Đối với siáo viên mầm
non ngoài biên chế đang giảng dạy tại các trường mầm non dân lập, bán công,
tư thục, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ thêm kinh phí từ ngân sách Nhà
nước nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho họ. Những giáo viên mầm non
nsoài công lập cũng rất thiệt thòi về đời sống tình thần như sinh hoạt đoàn thể,
công đoàn, phát triển Đảng...do đó Nhà nước có quy định rõ các cơ sở giáo dục
ngoài công lập phải đảm bảo các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chăm
lo đời sống tinh thần cho đội ngũ giáo viên.
-Cùng với các chính sách khuyến khích mở rộng và phát triển các cơ sở
giáo dục ngoài công lập, cần nhanh chóng có các quy định về xử phạt hành
chính cụ thể những trường, đơn vị nào hoạt động sai quy định, vì mục tiêu lợi
nhuận. Thực tế, thời gian qua, có một số trường dân lập, cơ sở giáo dục tư nhân
hoạt động bất chấp quy định của Nhà nước và Bộ GD-ĐT. Tuy nhiên cho đến
nay.
Nhà nước vẫn chưa có quy định cụ thể xử phạt hành chính trong lĩnh vực
giáo dục-đào tạo. Đây là một trong những việc cần làm ngay trong quá trình
xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
2.2. Đối với thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giáo dục-Đào tạo:
-Trong quá trình triển khai thực hiện quy định của Chính phủ về quy chế
đặc biệt cho thành phố Hồ Chí Minh, thành phố cần tạo điều kiện và khuyên
khích các thành phần xã hội đầu tư xây dựng trường ngoài công lập trên các địa
bàn dân cư mới đô thị hóa.
-Thành phố phải coi trọng vai trò chủ động của ngành giáo dục-đào tạo,
đặc biệt là vai trò của cơ quan quản lý giáo dục-đào tạo. Các cấp quản lý giáo
dục phải gắn chức năng quản lý Nhà nước với vai trò chủ động trong tham
mưu, đề xuất và phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể để thực hiện có hiệu
quả công tác xã hội hóa giáo dục. cần tích cực xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý
giỏi, có bản lĩnh nghề nghiệp vừng vàng để vừa làm tốt chức năng quản lý, vừa
thực hiện tốt chức năns tham mưu. Đây là những cán bộ quản lý trẻ, năng độns
giàu tri thức và thông tin để đáp ứng yêu cầu, vững vàng điều hành công việc
trước sự phát triển đa dạng và phức tạp của thực tiễn giáo dục nước nhà trong
tình hình hiện nay. Ngành giáo dục và các trường phải nhận thức được vị trí
truns tâm của Minh, tích cực phấn đấu đổi mới phương pháp dạy học để đạt
hiệu quả cao. Có như vậy mới tạo uy tín của bản thân ngành giáo dục trong
lòng nhân dân nhằm tác động trở lại để phong trào xã hội hóa giáo dục phát
triển. Chất lượng dạy và học chịu tác động từ nhiều phía và phải được giải
quyết một cách đồnơ bộ các mối quan hệ gia đình-nhà trường-xã hội-thầy giáo-
học sinh-cha mẹ học sinh. Đó vừa là mục tiêu, vừa là biện pháp, động lực để
phát triển giáo dục.
-Khi cho ra đời các trường dân lập, tư thục, sở Giáo dục-Đào tạo thành
phố Hồ Chí Minh cần có kế hoạch cụ thể, tránh tình trạng "hữu sinh vô dưỡng"
dẫn đến sự "chết mòn" của một số trường dân lập như hiện nay tại các quận nội
thành ở thành phố Hồ Chí Minh. Chỉ cấp phép các trường nào đủ điều kiện
hoạt động và phát triển. Có như vậy mới tạo được sự cạnh tranh lành mạnh
giữa các trường công lập và ngoài công lập, giữa các trường ngoài công lập với
nhau để nâng cao chất lượng giáo dục.
-Sở Giáo dục-Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh cần hạn chế, tiến tới xóa
bỏ hoàn toàn các lớp bán công trong trường công lập. Thực tế, đây là một việc
không phù hợp với chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước.
Cách đầy 15 năm, việc mở các lớp bán công trong các trường phổ thông công
lập (còn gọi là hệ B) ở thành phố Hồ Chí Minh được coi là giải tình thế khi chủ
trương xã hội hóa giáo dục, đa dạng các loại hình trường lớp chưa phát triển
sâu rộng như hiện nay. Lúc ấy, các trường dân lập, tư thục chưa được phép
hoạt động. Việc mở các lớp hệ B trong thời gian đó đã tận dụng được nguồn
lực của xã hội góp phần giải quyết được việc làm cho một số giáo viên dư thừa
nhưng dạy chưa đủ số giờ quy định. Ngoài ra, hệ B do được thu học phí cao
hơn hệ A (tức các lớp công lập) nên đã góp phần điều tiết thu nhập, giải quyết
một phần khó khăn trong đời sống của các thầy cô giáo.
Thế nhưng, sau một thời gian tồn tại, dư luận xã hội đã đặt vấn đề về sự
''không chính danh" của loại hình đào tạo này. Bởi vì hoạt động của các lớp bán
công trong trường côns lập đã làm nảy sinh hàng loạt vấn đề, đặc biệt về mặt
quản lý trong thu chi tài chính, nhân sự... Hiện nay, khi các trường dân lập đã
phá' triển, chính các lớp bán công trong trường công lập đã hút hết số học sinh
không đủ điểm vào hệ công lập trong các kỳ tuyển sinh lớp 10, khiến cho các
trường dân lập lao đao vì không có học sinh về mặt quản lý Nhà nước, các lớp
bán côns trong trường công lập tạo nên sự không rạch ròi, nhập nhằns giữa
công và tư. Trường thI là công lập, cơ sở vật chất, trang thiết bị là công, con
người cũng là lao động thuộc biên chế Nhà nước, nghĩa là mọi cái đều công chỉ
riêns việc "đóng tiền" học phí của học sinh lại là ngoài công lập (bán công). Sự
phân công lao động sư phạm chính của các thầy cô giáo trường công lập là ở
các lớp công lập, song do phải đảm đương thêm việc dạy các ỉớp bán công nên
không thể không ảnh hưởng đến các lớp công lập. Về bản chất của giáo dục.
hoàn toàn trong một môi trường giáo dục như nhau, không nên có bất cứ một
sự phân biệt nào đối với học sinh. Thế nhưng, sự tồn tại của lớp bán công trong
trường công lập cho thấy: cùng học trong một trường, cùng thầy cô, cùng phấn
trắns, bảng đen, có em thI phải nộp tiền cao, em lại nộp tiền thấp và như vậy,
rất đáng tiếc, chính đồng tiền đã tạo nên khoảng cách giữa các học sinh cùng
một trường, một thầy với nhau.
Việc mở các lớp bán công trong trường công cũng gây bất lợi đối với đội
ngũ quản lý giáo dục ở cơ sở. Họ rất khó toàn tâm toàn ý cho cái lợi chung của
giáo dục mà dễ bị phân tâm bởi những mối lợi nhỏ trước mắt. Bởi vI quản lý
trường công lập khác với quản lý trường ngoài công lập. Quy chế hoạt động,
điều phối chương trình chung cũng khác nhau.
Sự tồn tại của các lớp bán công trong các trường công lập hiện nay tại
thành phố Hồ Chí Minh đang là lực cản hoạt động và sự cạnh tranh lành mạnh
của các trường dân lập.
Ngành giáo dục thành phố cần xác định rõ: đến lúc nào thI cần chấm dứt
các lớp bán công trong trường công lập. Cùng với việc này, thành phố cần có
những chính sách cụ thể hơn, hợp lý hơn cho các nhà giáo để họ an tâm đứng
trên bục giảng, tái tạo lại lao động sư phạm nặng nhọc của Minh mà không bị
phàn tâm bởi hệ nọ, hệ kia trong cùng một môi trường sư phạm. Giải quyết dứt
điểm vấn đề này cũng là nhằm thúc đẩy xà hội hóa giáo dục, phát triển giáo dục
phù hợp với xu hướng tất yếu của giáo dục thế giới.
2.3.Đối với chính quyền và ngành giáo dục-đào tạo quận 12:
-Nhà nước đã có chủ trương hỗ trợ các trường ngoài cồns lập về mọi mặt.
Tuy nhiên đến nay rất ít trường dân lập nhận được sự hỗ trợ cụ thể để giải
quyết khó khăn của Minh, trong đó khó khăn nhất của các trường dân lập là
không có mặt bằng. Để phát triển hệ thống trường phổ thông dân lập, tư thục
trên địa bàn, chính quyền quận 12 cần có chỉ đạo cụ thể để hỗ trợ các nhà giáo
mở trườns dân lập. chẳng hạn có thể mua đất đấu thầu công khai để xây trường.
Đây là một cách làm theo phương châm " Nhà nước và nhân dân cùng làm"
nên khuyến khích phát triển.
-Nhằm đạo tạo lực lượng lao động có tay nahề đáp ứng yêu cầu phát triển
của địa phương, cần có chính sách hỗ trợ (về đất, về vốn, đội ngũ giáo viên...)
để mở rộng và phát triển các trung tâm, các trường đào tạo nghề dân lập, tư
thục . Các trường, trung tâm dạy nghề tăng cường sự liên kết, phối hợp chặt
chẽ với các nhà máy, xí nghiệp, công ty thuộc các thành phần kinh tế đào tạo
nghề theo phương thức "đặt hàng", gắn đào tạo nghề với thị trường, với doanh
nghiệp, tạo nguồn nhân lực cho các đơn vị này.
-Khi phê duyệt các dự án phát triển đô thị tại địa phương, chính quyền
quận 12 có quy định bắt buộc các chủ đầu tư phải có các công trình giáo dục.
-Chú trọng công tác chỉ đạo hoạt động của các trường học nâng cao vai
trò của hiệu trưởng trong việc huy động các lực lượng xã hội làm giáo dục. Nhà
trường có vai trò trung tâm, nòng cốt trong quá trình thực hiện xã hội hóa hoạt
động giáo dục. Trách nhiệm của nhà trường rất lớn và toàn bộ trách nhiệm đó
đặt lên vai người hiệu trưởng- con chim đầu đàn của tập thể sư phạm, người
thực hiện chức trách quản lý Nhà nước về giáo dục tại cơ sở trường học. Người
hiệu trưởng cần có nhận thức đúng đắn, sâu sắc về bản chất của xã hội hóa giáo
dục. Cần tránh và uốn nắn những lệch lạc trong nhận thức và trong hành động
chưa đúng như: chỉ quan tâm huy động để đóng góp tài chính.
-Trong chỉ đạo chuyên môn, ngành giáo dục quận thường xuyên quan tâm
công tác giáo viên chủ nhiệm lớp.
Thực tế cho thấy, để nhà trường Liên kết, phối hợp tốt với các lực lượng
xã hội. đặc biệt là xây dựng tốt mối quan hệ nhà ưường-gia đình-xã hội phụ
thuộc rất nhiều vào đội ngũ giáo viên chủ nhiệm. Đây là những thầy giáo trực
tiếp xây dựng quan hệ, tổ chức Liên kết với gia đình học sinh để tiến hành các
hoạt động giáo dục. Nsành giáo dục phải chú ý đúng mức công tác giáo viên
chủ nhiệm lớp, tổ chức các lớp bồi dường nghiệp vụ... để đội ngũ này là lực
lượnn chủ chốt của nhà trường thực hiện xã hội hóa giáo dục, nhằm đưa công
tác xã hội hóa giáo dục đi đúng bản chất của nó là đi sâu, đi trực tiếp vào quá
trình giáo dục, quá trình hình thành và phát triển nhân cách học sinh.
- Để thúc đẩy hơn nữa hoạt động xã hội hóa giáo dục, mỗi trường học cần
nâng cao vai trò chủ động, trung tâm và nòng cốt của Minh. lôi cuốn các lực
lượng trong xã hội tham gia công tác giáo dục. Trong tình hình chung hiện nay,
khi chất lượng giáo dục đang là vấn khiến dư luận xã hội đặc biệt lo lắng, mỗi
trường học cần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục để tạo niềm tin trong
nhân dân, phụ huynh và xã hội. Chất lượng, hiệu quả giáo dục chủ yếu phụ
thuộc vào đội ngũ giáo viên. Do vậy, mỗi thầy, cô giáo cần thường xuyên đổi
mới phương pháp giảng dạy, nâng cao tình thần "tất cả vì học sinh thân yêu"
vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ của mình.
TÀI IIỆU THAM KHẢO
A. VĂN KIỆN, NGHỊ QUYẾT, TÀI IIỆU CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ
NƯỚC
1.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI,
NXB Sự thật, Hà Nội, 1987.
2.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VII, NXB Sự thật, Hà Nội 1991.
3.Đảng Cộng sản Việt Nam ,Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
4.Đảng Cộng sản Việt Nam ,Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
5.Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Hội nghị lần thứ hai, BCH TƯ
Đảng khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.
6.Nghị quyết 90/CP ngày 21-8-1997 của Chính phủ về phương hướng và
chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa.
7.Nghị định số 73/1999/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến
khích xã hội hóa đối với các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao.
8.Chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo 2001-2010 ban hành kèm theo
Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28-12-2001
9.Luật Giáo dục, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 1999.
B. CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN:
10.Các Mác, Ph.Ăngghen, V.LLênin, LV.XtaIIn, về giáo dục, NXB Sự
thật, Hà Nội, 1978.
11.Hồ Chí Minh, về vấn đề giáo dục, NXBGD Hà Nội, 1990.
12.Hồ Chí Minh, về giáo dục thanh niên, NXBGD Hà Nội, 1997.
C. VĂN KIỆN VÀ TÀI LIỆU CỦA ĐỊA PHƯƠNG:
13.Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh, Văn kiện
Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VII, tháng 12-2000.
14.Sở Giáo dục-Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo về việc thực
hiện xã hội hoa công tác giáo dục trong bậc học mầm non tại thành phố Hồ Chí
Minh (1994-1999).
15.Sở Giáo dục-Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, Dự án quy hoạch phát
triển mạng lưới ngành giáo dục-đào tạo thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010
và 2020.
16.Sở Giáo dục-Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, Chiến lược Phát triển
giáo dục phổ thông thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 và những chỉ tiêu
thực hiện 5 năm 2001-2005.
17.Ủy ban Nhân dân Nhân quận 9 thành phô Hô Chí Minh, Báo cáo sơ
két vê xã hội hóa giáo dục, tháng 11-2001.
18.Ủy ban Nhân dân quận 12 thành phố Hồ Chí Minh, Đại hội Giáo dục
quận 12 nhiệm kỳ 2 (2001-2005).
19.Ủy ban Nhân dân quận 12 thành phố Hồ Chí Minh, Nhân dân quận 12
chăm sóc sự nghiệp giáo dục-Tài IIệu lưu hành nội bộ 1997.
20.Ủy ban Nhân dân quận 12 thành phố Hô Chí Minh, Quận 12 đẩy mạnh
xã hội hóa giáo dục để tạo đà phát triển-Tài liệu lưu hành nội bộ, 1999.
21.Ủy ban Nhân dân quận Gò Vấp thành phồ Hồ Chí Minh. Báo cáo tổng
kết 5 năm công tác xã hội hóa giáo dục (1995-2000).
22.Phòng Giáo dục-Đào tạo quận 12 thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo
tổng kết năm học 1997-1998, phương hướng nhiệm vụ năm học 1998-1999
ngành giáo dục-đào tạo quận 12.
23.Phòng Giáo dục-Đào tạo quặn 12 thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo
tổng kết năm học 1999-2000, phương hướng nhiệm vụ năm học 2000-2001
ngành giáo dục-đào tạo quận 12.
24.Phòng Giáo dục-Đào tạo quận 12 thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo
tổng kết năm học 2000-2001, phương hướng nhiệm vụ năm học 2001-2002
ngành giáo dục-đào tạo quận 12.
25.Phòng Giáo dục-Đào tạo quận 12 thành phố Hồ Chí Minh, Định
hướng phát triển giáo dục quận 12 trong giai đoạn 2001-2005.
D. SÁCH, BÁO, TÀI IIỆU KHOA HỌC:
I. TRONG NƯỚC:
26.Đặng Quốc Bảo, Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục, Tài liệu
dùng cho lớp cao học quản lý giáo dục- Hà Nội, 1996.
27.Phan Bình, Văn hóa giáo dục con người và xã hội, NXBGD, Hà Nội,
2000.
28.Nguyễn Thanh Bình (Chủ biên), Giáo dục giới tính cho con, NXBGD,
Hà Nội, 1999.
29.Bộ GD&ĐT, 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945-
1995), NXBGD, Hà Nội, 1995.
30.Bộ GD-ĐT, Công đoàn giáo dục Việt Nam, Báo cáo tham luận tại hội
nghị đánh giá 10 năm thực hiện xã hội hóa giáo dục thông qua tổ chức đại hội
giáo dục các cấp, tháng 5-2000.
31.Bộ GD&ĐT, Mười năm đổi mới giáo dục và đào tạo. Báo cáo tổng kết
10 năm đổi mới GD-ĐT, Hà Nội 1997.
32.Bộ Giáo dục-Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục, Xã hội hóa công tác
giáo dục Nhận thức và hành động, Viện Khoa học Giáo dục xuất bản, Hà Nội,
1999.
33.Lê Thị Bừng, Gia đình Trường học đầu tiên của lòng nhân ái,
NXBGD, Hà Nội, 1998.
34.Vũ Đình Cự (Chủ biên), Giáo dục hướng tới thế kỷ 21, NXBGD Hà
Nội 1997.
35.Nguyễn Thị Doãn (Chủ biên), Các học thuyết quản lý, NXB Chính tri
quốc gia, Hà Nội, 1996.
36.Nguyễn Tiến Doãn, Nguyễn Trãi nhà giáo dục Việt Nam, NXBGD, Hà
Nội,1997.
37.Kim Dung, "Xã hội hóa giáo dục-Mối quan hệ nhân quả", Báo Nhân
Dãn ngày 5-9-1994.
38.Nguyễn Minh Đạo, Cơ sở khoa học quản lý, NXB Chính trị quốc gia
Hà Nội, 1997.
39.Phạm Văn Đồng, Sự nghiệp giáo dục trong chế độ xã hội chủ nghĩa,
NXB Sự thật, Hà Nội, 1979.
40.Phạm Minh Hạc, Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục,
NXB Giáo dục, Hà Nội, 1986.
41.Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào
CNH,HĐH, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001.
42.Phạm Minh Hạc, Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ
phát triển xã hội-kinh tế, NXB KHXH, Hà Nội, 1996.
43.Phạm Minh Hạc (Tổng chủ biên), Xã hội hóa công tác giáo dục, NXB
Giáo dục, Hà Nội, 1997.
44.Nguyễn Thị Hằng, "Chính sách xã hội trong công cuộc đổi mới và
phát triển đất nước", Tạp chí Cộng sản, số 2-2000.
45.Nguyễn Văn Hiệu, "Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài để thực
hiện CNH,HĐH đất nước", Tạp chí Cộng sản, số 1-1997.
46.Học viện Hành chính quốc gia, Quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực
xã hội, NXBGD, Hà Nội, 1997.
47.Học viện Hành chính quốc gia, Quản lý nguồn nhân lực, NXBGD, Hà
Nội, 1997.
48.Tố Hữu, Cồng tác giáo dục và sự nghiệp bồi dưỡng thế hệ cách mạng
cho đời sau, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1980.
49.Nguyễn Sinh Huy, Giáo dục học đại cương, NXBGD, Hà Nội, 1998.
50.Đặng Bá Lãm-Phạm Thành Nghị, Chính sách và kế hoạch trong quản
lý Giáo dục, NXBGD Hà Nội, 1999.
51.Nguyễn Văn Lê, Nghề thầy giáo- Chuyên đề quản lý ưường học,
NXBGD, Hà Nội, 1997.
52.Nguyễn Văn Lê, Bùi Văn Huệ, Hiểu con mới dạy được con. 35 điều
cần biết về tâm lý trẻ em và giáo dục gia đình, NXBGD,Hà Nội, 1995.
53.Tâm Linh. "Hiệu quả từ xã hội hóa" , Báo Hà Nội Mới, ngày 25-10-
2001.
54.Hoàng Như Mai, Hồi ức và suy nghĩ văn hóa giáo dục. NXBGD, Hà
Nội, 1998.
55.Hoàng Đức Nhuận (Chủ biên), Một số phương pháp tiếp cận giáo dục
môi trường, NXBGD, Hà Nội, 1999.
56.Nguyễn ThếNghĩa-Lê Hồng Liêm (Chủ biên), Văn hóa và phát triển ở
thành phố Hồ Chí Minh, Sở Văn hóa Thông tin TP. Hồ Chí Minh-1988
57.Nguyễn Lê Phong, Thử đi tìm phương pháp giáo dục hiệu quả,
NXBGD, Hà Nội,1999.
58.Võ Quang Phúc, Mấy vấn đề cấp bách của lý luận dạy học. Trường
CBQL Giáo dục và Đào tạo -TPHCM, 1996.
59.Võ Quang Phúc, Nghiên cứu khoa học giáo dục, Trường CBQL Giáo
dục và Đào tạo II-TPHCM, 2001.
60.Võ Quang Phúc, Giáo dục đổi mới dưới góc nhIn của khoa học giao
dục, Trường CBQL Giáo dục và Đào tạo II-TPHCM, 1998.
61.Huỳnh Phước, Thực trạng và những biện pháp xã hội hoa giáo dục trên
địa bàn Đà Nẵng-Luận văn Thạc sĩ cao học, ĐH Sư phạm Hà Nội.
62.Nguyễn Ngọc Quang, Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo
dục, Trường CBQL Giáo dục TƯ 1, 1989.
63.Hồng Quân, "Bán công trong trường công-Giải pháp tình thế đến bao
giờ?", Báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 24-6-2002.
64.Hồng Quân, "Một số vấn đề về xã hội hóa giáo dục ở TP. Hồ chí
Minh", Tạp chí Khoa học Xã hội, số 1-2002.
65.Hồng Quân, "Vì sao nhiều trường dân lập đang chết mòn?". Báo Sài
Gòn giải Phóng, 7-2002.
66.Hồng Quân, "Xã hội hóa giáo dục ở một phường mới", Báo Sài Gòn
Giải Phóng, ngày 20-11-1998.
67.Hồng Quân, "Ba chuyện đáng nhớ về giáo dục ở quận 12", Báo Sài
gòn giải Phóng, số Xuân Quý Mùi 2003.
68.Trần Hồng Quân, Một số vấn đề đổi mới trons lĩnh vực giáo dục và
đào tạo, NXBGD, Hà Nội, 1995.
69.Trần Hồng Quân, 'Thực hiện xã hội hóa giáo dục", Báo Lao Động,
ngày 6-9-1994.
70.Trần Lê Sáng, Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp ba
bậc thầy của nền giáo dục Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997.
71.Lê Thanh Sinh, "Một số suy nghĩ về triết lý giáo dục nhằm góp phần
phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam", Hội thảo khoa học "Phát triển văn hóa. con người và nguồn nhân lực
trong thời kỳ CNH.HĐH", Viện Nghiên cứu con người và Viện Khoa học Xã
hội tại TP. Hồ Chí Minh tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh, tháng 7-2002.
72.Vũ Văn Tảo (dịch), Học tập: Một kho báu tiềm ẩn, Báo cáo của Hội
đồng quốc tế về "Giáo dục cho thế kỷ 21" gửi UNESCO, NXBGD Hà Nội,
1997.
73.Đỗ Thiết Thạch, Xã hội hóa giáo dục và công tác phối hợp của Hiệu
trưởng với các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường, Trường Cán bộ
quản lý giáo dục và đào tạo II, 2001.
74.Thành phố Hồ Chí Minh tự giới thiệu-tập 2, Nhà xuất bản Thành phố
Hồ Chí Minh, 2000.
75.Hà Nhật Thăng, Giáo dục hệ thốns giá trị đạo đức nhân văn, NXBGD,
Hà NỘU998.
76.Lê Thi (Chủ biên), Gia đình Việt Nam ngày nay, Trung tâm Khoa học
Xã hội và nhân văn quốc gia, Hà Nội 1996.
77.Nguyễn Khánh Toàn, Một số vấn đề giáo dục của Việt Nam, NXBGD,
Hà Nội, 1995.
78.Nguyễn Phan Toàn, " Xã hội hóa giáo dục ở thành phố Hồ Chí Minh",
Nhân Dân, ngày 24-8-2001.
79.Lê Văn Trúc, Võ Quang Phúc dịch, Giáo dục con trong gia đình không
toàn vẹn, NXBGD, Hà Nội, 1991.
80.Trung tâm đào tạo tư vấn- Thông tin kinh tế, Những vấn đề kinh tế
trong quá trình xã hội hóa giáo dục-đào tạo theo hướng CNH, HĐH đất nước,
Hà Nội tháng 4-1998.
81.Nguyễn Trung (sưu tầm, biên soạn) Những quy định về chính sách xã
hội hóa các hoạt động giáo dục, văn hóa, y tế, thể thao, NXB Lao Động, Hà
Nội, 2001.
82.Dương Tùng, "Con người và cốt lõi của chính sách xã hội vI con
người", Tạp chí Cộng sản, số 14-1997.
83.Trần Văn Tùng, Nền kinh tế tri thức và yêu cầu đổi mới giáo dục Việt
Nam, NXB Thế Giới, Hà Nội, 2001.
84.Trần Văn Tùng, Lê Ai Lâm, Phát triền nguôn nhấn lực Kinh nghiệm
thế giới và thực tiễn nước ta, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
85.Thái Duy Tuyên, Những vấn đề cơ bản giáo dục học hiện đại,
NXBGD Hà Nội, 1999.
86.Viện Khoa học xã hội tại TP.HỒ Chí Minh, sở Văn hóa Thông tin TP.
Hồ Chí Minh, Sài Gòn-TP. Hồ Chí Minh thế kỷ XX- Những vấn đề lịch sử-văn
hóa, Nhà Xuất bản trẻ, 2000.
87.Viện Khoa học Giáo dục, Phương pháp điều tra, đánh giá và tổng kết
công tác giáo dục, NXBGD, Hà Nội, 1997.
88.Viện Nghiên cứu con người, Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ
Chí Minh, Kỷ yếu hội thảo Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực
trons thời kỳ côns nghiệp hóa, hiện đại hóa, thành hồ Chí Minh ngày 11-7-
2002.
89.Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, Những vân đe ve chiên lược phát
niên giáo dục trong thời kỳ CNH,HĐH: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng
chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, NXB Giáo dục, Hà Nội. 1998.
90.Nguyễn Như Ý, Đại Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, Hà
Nội.1999...
II. NƯỚC NGOÀI:
91.A.M. Lee, Marriage anh the family second education, Barner anh
Noble, New York, 1996.
92.A.s. Macarencô, Tuyển tập các tác phẩm sư phạm tập I, NXBGD Hà
Nội, 1984.
93.Harold Kooontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich, Những vấn đề cốt
yếu của quản lý, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội 1998.
94.Raja Roy Singh, Nền giao dục cho thế kỷ 21: Những triển vọng của
châu Á-Thái Bình Dương, Cơ quan chính của ƯNESCO khu vực châu Á và
Thái Bình Dương, Băng cốc 1991- bản tiếng Việt do Viện Khoa học Giáo dục
Việt Nam xuất bản, 1994.
95.P.V. Zimin, M.I. Kôndakốp, Ni. Saxerđôlốp, Những vấn đề quản lý
trường học, Trường CBQLGD-BỘ Giáo dục 1985.
PHỤ LỤC
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN VỀ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN XÃ HỘI
HÓA GIÁO DỤC Ở QUẬN 12 TPHCM
Kính gửi...
Kính thưa đồng chí,
Để giúp cho việc lựa chọn các giải pháp tổ chức thực hiện có hiệu quả
chủ trương xã hội hóa giáo dục ở quận 12 TPHCM, kính mong đồng chí đánh
giá tác dụng của các giải pháp sau đây theo thang điểm từ 1 đến 6 (tác dụng
càng lớn, điểm càng cao), bằng cách đánh dấu X vào cột ứng với điểm được
cho.
Kính mong đồng chí bỏ chút thời gian và tâm huyết đóng góp vào việc
xây dựng chủ trương quan trọng và cấp bách nhằm phát triển sự nghiệp giáo
dục-đào tạo địa phương. Xin trân trọng cảm ơn.
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
Để góp phần thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục trên điạ bàn quận 12
TPHCM, xin ông (bà) vIII lòng cho biết ý kiến của Minh về những vấn đề sau:
I.VỀ Ý NGHĨA, TẦM QUAN TRỌNG CỦA XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC
Câu 1: Có người cho rằng, xã hội hóa giáo dục là không cần thiết Ý kiến
của ông (bà) thế nào?
-Đúng [ ]
-Không đúng [ ]
-Không có ý kiến [ ]
Câu 2: Ông (bà) đánh giá như thế nào về tầm quan trọng của xã hội hóa
giáo dục
-Rất quan trọng [ ]
-Quan trọng [ ]
-Không quan trọng [ ]
-Không có ý kiến [ ]
II. VỀ KHÁI NIỆM XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC
Câu 1: Ông (bà)quan niệm xã hội hóa giáo dục như thế nào?
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………….……
………………………………………………………………………………….
Câu 2: Có người cho rằng, xã hội hóa giáo dục là huy động tiền của và cơ
sở vật chất cho giáo dục. Ý kiến của ông (bà) như thế nào?
-Đúng [ ]
-Không đúng [ ]
-Không có ý kiến [ ]
Câu 3: Theo ý kiến của ông (bà), xã hội hóa giáo dục là gì?
-Huy động toàn dân tham gia làm giáo dục [ ]
-Đóng góp tiền của cho nhà trường [ ]
-Tổ chức các mối quan hệ giữa gia đình-nhà trường-xã hội [ ]
-Phát huy trách nhiệm của nhà trường đối với xã hội [ ]
-Cả 4 nội dung trên [ ]
-Có ý kiến khác (nếu có)…………………………………………..
III.VỀ NỘI DUNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC:
Câu 1: Để thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, theo ý kiến của ông
(bà), trong những giải pháp sau đây, giải pháp nào là quan trọng nhất (giải pháp
quan trọng nhất thì ghi số 1, giải pháp quan trọng thứ hai thì ghi số 2, cứ thế
cho đến hết).
-Đa dạng hóa các loại trường lớp, phát triển mạnh trường bán công, dân
lập, tư thục [ ]
-Kết hợp tốt các lực lượng giáo dục trong nhà trường [ ]
-Tổ chức đại hội giáo dục, xây dựng mối quan hệ tốt trong nội bộ nhà
trường và giữa nhà trường-gia đình-xã hội [ ]
-Sự gương mẫu của Hội đồng sư phạm nhà trường [ ]
-Cả 4 giải pháp trên đều quan trọng và cần thiết [ ]
Câu 2: Ông (bà) hãy nêu 3 lực lượng có vai trò quan trọng nhất đối với
việc thực hiện xã hội hóa giáo dục
[ ] -Ban giám hiệu -Đảng ủy
[ ] -Ban Chấp hành Công đoàn
[ ] -Đoàn Thanh niên (đội thiếu niên)
[ ] -Hội phụ huynh học sinh
[ ] -Các lực lượng khác (nếu có)
Câu 3: Theo ông (bà), mở trường bán công, dân lập, tư thục có phải nhằm
thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục ở địa phương không?
-Đúng [ ]
Lý do vì sao?
……………………………………………………………………………........
-Không [ ]
Lý do vì sao?
Câu 4: Theo ông (bà), nội dung và hình thức đại hội giáo dục ở địa
phương cần thay đổi như thế nào để góp phần thực hiện tốt xã hội hóa giáo
dục?
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………....
IV.VỀ THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ở ĐỊA PHƯƠNG
Câu 7: Theo ông (bà) địa phương đã làm gì để thực hiện xã hội hóa giáo
dục?
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
Câu 2: Nhận xét của ông (bà) về việc phát huy vai trò của nhà trường đối
với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của địa phương?
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
Câu 3: Ai là những người chịu trách nhiộm chính trong việc thực hiện xã
hội hóa giáo dục ở địa phương?
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
V. ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở ĐỊA
PHƯƠNG
Câu 1: Ông (bà) đánh giá như thế nào về những ưu điểm, nhược điểm
trong việc thực hiện xã hội hóa giáo dục ở địa phương?
-Ưu điểm:
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
-Nhược điểm:
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
Câu 2: Những nguyên nhân đưa đến việc thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục
ở địa phương?
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
Câu 3: Những nguyên nhân nào làm cho việc thực hiện xã hội hóa giáo
dục ở địa phương chưa tốt?
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
VI. VỀ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC
Câu 1: Theo ông (bà) cần làm gI để thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục?
-Về phía nhà trường:
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
-Về phía gia đình:
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
-Về phía xã hội:
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
Câu 2: Thèo ông (bà), để thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục ở địa phương,
cần giải quyết những vấn đề gì?
-Trách nhiệm của nhà trường đối với xã hội?
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
-Trách nhiệm của các tổ chức xã hội đối với sự nghiệp giáo dục-đào tạo
của địa phương?
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
-Cha mẹ học sinh có thê đóng góp được gI đế thực hiện xã hội hóa giáo
dục?
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
Câu 3: Xin ông (bà) vui lòng đề xuất những giải pháp mà ông (bà) cho là
hiệu quả nhằm triển khai xã hội hóa giáo dục tại quận 12 TPHCM?
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
Câu 4: Xin ông (bà) cho biết đôi nét về bản thân?
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
Họ và tên (nếu được thì ghi)
-Tuổi:
-Nam Nữ:
-Chức vụ công tác hiện nay:
-Trình độ văn hóa:
-Trình độ chuyên môn:
Xin cám ơn những ý kiến quý báu của ông (bà).