BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH- TRƯỜNG

CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO II

ĐỖ THỊ LAN ANH

XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở

QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC VĂN HÓA,

GIÁO DỤC

MÃ SỐ : 5.07.03

NGƯỜI HƯỚNG DẨN KHOA HỌC: TS. ĐÀO QUANG TRUNG

TP. HỒ CHÍ MINH-2003

MỤC LỤC

4TMỤC LỤC4T .................................................................................................. 3

4TLỜI CẢM ƠN4T ............................................................................................ 7

4TPHẦN I. MỞ ĐẦU4T .................................................................................... 8

4T1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI4T .............................................................................. 8

4T2.MỤC ĐÍCH VÀ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI4T .............................................. 12

4T3.KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI4T............. 12

4T4.GIẢ THUYẾT KHOA HỌC4T ..................................................................... 13

4T5.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU4T ..................................................................... 13

4T6.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU4T ............................................................. 13

4T7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN4T ........................................................................ 14

4TCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI4T ................................... 15

4T1.1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU4T...................................................... 15

4T1.2.KHÁI NIỆM VÀ NỘI DƯNG CỦA XÃ HỘI HÓA VÀ XÃ HỘI HÓA

4T1.2.1. Xã hội hóa và xã hội hóa cá nhân4T .................................................. 18

4T1.2.2. Xã hội hóa hoạt động giáo dục4T ....................................................... 22

4T1.3. CƠ CHẾ CỦA XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC4T ................. 24

4T1.4.VAI TRÒ XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Đối VỚI VIỆC

HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC4T .......................................................................... 18

PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO NÓI CHƯNG VÀ

4T1.4.1.Vai trò của xã hội hóa hoạt động giáo dục đối với việc phát triển sự

VỚI VIỆC HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CON NGƯỜI NÓI RIÊNG 4T ..... 28

4T1.4.2. Vai trò của xã hội hóa đối với việc hình thành nhân cách con người 4T

nghiệp giáo dục-đào tạo4T ........................................................................... 28

.................................................................................................................. 30

4T1.5.NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG

4T1.5.1.Giáo dục hóa xã hội:4T........................................................................ 31

4T1.5.2.Cộng đồng hóa trách nhiệm đối với hoạt động giáo dục:4T ............... 31

4T1.5.3.Đa dạng hóa các loại hình đào tạo:4T ................................................. 31

4T1.5.4.Đa phương hóa nguồn đầu tư:4T ......................................................... 32

4T1.5.5. Thể chế hóa sự quản lý Nhà nước về trách nhiệm:4T ........................ 32

4T1.6.CON ĐƯỜNG ĐỂ THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO

GIÁO DỤC4T ................................................................................................... 30

4T1.6.1. Xây dựng và củng cố mối quan hệ giữa nhà trường và các lực lượng

DỤC4T .............................................................................................................. 32

4T1.6.2. Dân chủ hóa giáo dục4T ..................................................................... 35

4T1.6.3. Đa dạng hóa giáo dục4T ..................................................................... 37

4T1.6.4. Đại hội Giáo dục các cấp4T................................................................ 38

4TCHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO

xã hội trong việc tham gia công tác giáo dục4T ........................................... 32

DỤC Ở QUẬN 124T .................................................................................... 40

4T2.1.VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN QUẬN 124T .................................. 40

4T2.2. NHẬN THỨC CỦA CÁC CÁP, CÁC NGÀNH TRONG QUẬN 12 VỀ

4T2.2.1. Nhận thức về xã hội hóa giáo dục4T .................................................. 42

4T2.2.2. Nhận xét về các giải pháp thực hiện xã hội hóa hoạt động giáo dục 4T

VẤN ĐỀ XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC4T ................................. 41

4T2.3.THỰC TRẠNG VIỆC TRIỂN KHAI XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG

.................................................................................................................. 43

4T2.3.1. Những giải pháp đã và đang thực hiện4T ........................................... 44

4T2.3.3. Những bài học từ thực tiễn xã hội hóa hoạt động giáo dục ở quận

GIÁO DỤC TẠI QUẬN 12, THÀNH PHÔ Hồ CHÍ MINH4T ....................... 44

4TCHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP TẰNG CƯỜNG XÃ HỘI HÓA

124T .............................................................................................................. 68

HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ở QUẬN 124T ............................................... 69

4T3.1. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC-

4T3.1.1. Mục tiêu và nhiệm vụ phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo và hoạt

ĐÀO TẠO Ở QUẬN 12 ĐẾN NĂM 2005 VÀ 20104T .................................. 69

động xã hội hóa giáo dục ồ thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2005 và

4T3.1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo và hoạt

20104T .......................................................................................................... 69

4T3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG

động xã hội hóa giáo dục đến năm 2005 tại quận 124T ............................... 71

4T3.2.1.Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận

GIÁO DỤC Ở QUẬN 124T ............................................................................. 72

4T3.2.2.Tổ chức đại hội giáo dục các cấp4T .................................................... 74

4T3.2.3. Thu hút các lực lượng xã hội tham gia hoạt động giáo dục4T ........... 76

4T3.2.5. Thực hiện có hiệu quả cuộc vận động dân chủ hóa nhà trường4T ..... 80

4T3.2.6. Đa dạng hóa các loại hình giáo dục-đào tạo4T .................................. 83

4TPHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ4T ..................................... 84

4T1. KẾT LUẬN4T .............................................................................................. 84

4T2. KHUYẾN NGHỊ4T ...................................................................................... 85

4T2.1. Đối với Nhà nước và Bộ Giáo dục-Đào tạo:4T .................................... 85

4T2.2. Đối với thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giáo dục-Đào tạo:4T ............... 87

4T2.3.Đối với chính quyền và ngành giáo dục-đào tạo quận 12:4T ................. 89

4TTÀI IIỆU THAM KHẢO4T ....................................................................... 92

4TA. VĂN KIỆN, NGHỊ QUYẾT, TÀI IIỆU CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC 4T92

thức của các lực lượng xã hội về vai trò, vị trí của giáo dục4T ................... 72

4TB. CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN:4T ............................................................. 92

4TC. VĂN KIỆN VÀ TÀI LIỆU CỦA ĐỊA PHƯƠNG:4T ................................. 93

4TD. SÁCH, BÁO, TÀI IIỆU KHOA HỌC:4T ................................................... 94

4TPHỤ LỤC4T ............................................................................................... 100

LỜI CẢM ƠN

Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:

Cô Hiệu trưởng, Phòng Đào tạo và Quản lý khoa học Trường Cán bộ

Quản lý Giáo dục và Đào tạo II,

Thầy Hiệu trưởng, Phòng Khoa học công nghệ-sau Đại học Trường Đại

học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh,

Sở Giáo dục-Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh,

Phòng Giáo dục-Đào tạo quận 12 thành phố Hồ Chí Minh, đã tận tình

giúp đỡ chúng tôi hoàn thành luận án này.

Chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS. Đào Quang Trung, người

trực tiếp hướng dẫn chúng tôi suốt quá trình thực hiện luận án.

Chân thành cám ơn bạn bè cùng lớp Cao học nữ, đồng nghiệp và gia đình

đã động viên, nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi vượt mọi khó khăn để hoàn thành

luận án này.

Tác giả

PHẦN I. MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nhân loại đang bước vào những năm đầu của thế kỷ 21- thế kỷ có rất

nhiều cơ may và thách thức. Mỗi quốc gia, cộng đồng, dân tộc có vượt qua

được mọi thách thức, nắm lấy những cơ may để phát triển bền vững hay không-

điều này phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố con người và vấn đề giáo dục.

Giáo dục có vai trò vô cùng to lớn trong sự nghiệp đào tạo và phát huy

nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Những con

người có học vấn, trung thực, có phẩm chất cao đẹp là tài sản quý báu nhất, là

nguyên khí của quốc gia. Những con người ấy chỉ có được thông qua quá trình

giáo dục. Giáo dục là sự nghiệp của quẫn chúng, trực tiếp Liên quan đến cuộc

sống, tương lai của mọi người, mọi gia đình và toàn xã hội.

Hơn nửa thế kỷ qua, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng

ta luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám

thành công, một trong những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước là xóa nạn mù

chữ và xây dựng nền giáo dục mới của nước Việt Nam độc lập.

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và thời gian sau

chiến tranh, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, sự nghiệp giáo dục của nhân dân ta

vẫn được duy trI, ổn định và phát triển, tạo nên đội ngũ trí thức và lao động có

kỹ thuật, góp phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong

thời kỳ đổi mới hiện nay, Đảng ta càng quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đào

tạo con người và nguồn nhân lực.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ vu khẳng định giáo dục-đào tạo là quốc

sách hàng đầu, đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ

nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo

nàn và lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới. Cùng với việc khẳng

định vị trí, vai trò vô cùng quan trọng của giáo dục-đào tạo trong sự nghiệp đổi

mới, Đảng ta cũng cho rằng, giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng,

toàn dân nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII chỉ rõ: "Các vấn đề chính

sách xã hội đều giải quyết theo tình thần xã hội hóa. Nhà nước giữ vai trò nòng

cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong

xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những

vấn đề xã hội".[3- tr.114]

Văn kiện Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII

đã khẳng định: "Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước

và mỗi cộng đồng, của từng gia đình và mỗi công dân. Kết hợp tốt giáo dục học

đường với giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, xây dựng môi trường giáo dục

lành mạnh; người lớn làm gương cho trẻ con noi theo. Phát động phong trào

rộng khắp toàn dân học tập, người người đi học, học ở trường, lớp và tự học

suốt đời"[5-Tr.11-12]

Tại phiên họp thường kỳ tháng 3-1997, Chính phủ đã thông qua Nghị

quyết số 90/CP về "Phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo

dục, y tế, văn hóa". Theo đó, xã hội hóa hoạt động giáo dục được hiểu là một

cuộc vận động quần chúng rộng rãi nhằm làm cho mỗi người được hưởng đầy

đủ quyền lợi, đồng thời nâng cao vai trò, trách nhiệm của Minh đối với hoạt

động giáo dục-đào tạo.

Thực chất của xã hội hóa hoạt động giáo dục-đào tạo theo Nghị quyết

90/CP của Chính phủ là: "Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các

tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của

Nhà nước".[6-Tr.5]

Giáo dục-đào tạo không phải là công việc của riêng những người làm

công tác giáo dục mà mọi cán bộ, đảng viên, mọi thành viên của các to chức

đoàn the xã hội và mọi người dân đều có trách nhiệm đóng góp tài lực, vật lực,

nhân lực nhằm phát triển giáo dục "thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước

trở thành một xã hội học tập" như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng

định.

Quan điểm trên đây của Đảng một mặt khẳng định trách nhiệm của các tổ

chức xã hội đối với giáo dục; mặt khác, nêu rõ mục đích, chức năng của giáo

dục.

Trước đây cũng như hiện nay, xu thế chung trong phát triển giáo dục tại

nhiều nước trên thế giới là xã hội hóa hoạt động giáo dục. Không chỉ ở các

nước đang phát triển mà cả các nước phát triển cũng tIm các biện pháp đẩy

mạnh xã hội hóa hoạt động giáo dục. Bởi vI, thực hiện xã hội hóa hoạt động

giáo dục cũng tức là trả lại bản chất xã hội của giáo dục cho giáo dục, đồng

thời trả lại nhiệm vụ giáo dục của xã hội cho chính nó, hướng tới xây dựng một

xã hội học tập.

Thế giới ngày nay đang dậy lên làn sóng cách mạng kỹ thuật mới, vừa

rộng rãi, vừa vô cùng sâu sắc, đặc biệt nhất là sự phát triển ồ ạt của công nghệ

thông tin. Xã hội hiện đại đòi hỏi mọi người phải có tri thức để xử lý nhanh

nhạy các thông tin và hòa nhập vào cộng đồng. Nhữns thay đổi nhanh chóng

của xã hội đặt ra cho giáo dục những yêu cầu mới: về mặt thời gian, giáo dục

phải kéo dài suốt đời người; về mặt không gian, giáo dục phải mở rộng khắp

toàn xã hội. Việc học tập trở thành quá trình không ngừng nâng cao năng lực

của mỗi cá nhân. Mỗi người không chỉ học ở trong nhà trường, mà học cả ở

trong gia đình, ngoài xã hội, học bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu, học những gI

cần thiết cho cuộc sống, học Liên tục, học suốt đời. Và như vậy, cả xã hội đều

phải gánh vác chức năng giáo dục chứ không chỉ riêng ngành giáo dục.

Với quan niệm như vậy, có thể thấy rõ nội hàm cơ bản của xã hội hóa

hoạt động giáo dục là hệ thống định hướng các hoạt động cá nhân, lực lượng xã

hội nhằm thúc đẩy tiến trình xã hội hóa cá nhân, nâng cao mặt bằng dân trí, xây

dựng cơ chế tổ chức quản lý giáo dục mới.

Quán triệt tư tưởng xã hội hóa hoạt động giáo dục được định hướng từ các

Nghị quyết Đại hội Đảng, những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và

chính quyền quận 12, bằng nhiều giải pháp thích hợp, ngành giáo dục ở đây đã

tích cực đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động giáo dục với nhiều nội dung phong

phú. Cùng với việc vận động xã hội đóng góp nhân lực, tài lực, vật lực, huy

động các nguồn đầu tư cho giáo dục, đa dạng hóa các loại hình trường lớp,

quận 12 đà tổ chức Đại hội giáo dục các cấp, vận động xã hội tham gia xây

dựng môi trường lành mạnh cho giáo dục, gắn kết giáo dục nhà trường với

cộng đồng xã hội. Nhờ vậy, từ một quận gặp rất nhiều khó khăn. đặc biệt là sự

mất cân đối nghiêm trọng về mạng lưới trường lớp, đến nay quận 12 đã giải

quyết một cách cơ bản chỗ học cho học sinh các cấp; chất lượng và hiệu quả

giáo dục không ngừng nâng cao. Đặc biệt, đây là quận đầu tiên trong 22 quận.

huyện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hoàn thành phổ cập THCS theo

chuẩn mới. Từ nguồn vốn ngân sách và nhân dân đóng góp, quận 12 đã xây

2 đóng góp 3,7 tỷ đồng và hơn 11.000 mP

P đất để xây trường học.

thêm 10 trường học mới với 245 phòng học khang trang. Nhân dân quận 12 đã

Thực tế cho thấy xã hội hóa hoạt động dáo dục đã làm cho sự nghiệp giáo

dục phát triền mạnh mẽ, phục vụ đắc lực cho các mục tiêu phát triển kinh tê -xã

hội. Xã hội hóa hoạt động giáo dục đã làm thay đổi căn bản phương pháp đào

tạo của giáo dục nhà trường, tạo điều kiện kết hợp dạy chừ, dạy người, dạy

nghề, kết hợp giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Xã

hội hóa hoạt động giáo dục làm cho giáo dục và nhà trường thực sự là bộ phận

khăng khít của xã hội, công tác giáo dục là nhiệm vụ của toàn xã hội. Ngoài ra,

xã hội hóa hoạt động giáo dục cũng tạo điều kiện cho giáo dục phát triển nhân

cách con người và tạo điều kiện cho con người tạo ra giá trị của Minh để phục

vụ xã hội.

Thời gian qua, trên thế giới và trons nước đã có nhiều nhà nghiên cứu đề

cập các khía cạnh khác nhau của xã hội hóa hoạt động giáo dục. Song các

nghiên cứu này chỉ dừng lại ở tầm vĩ mô và khái quát. Đến nay, chưa có công

trình nghiên cứu nào đi sâu vào tình hình cụ thể về xã hội hóa hoạt động giáo

dục tại quận 12-một trong những quận có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất ở thành

phố Hồ Chí Minh. Đảng bộ và chính quyền ở đây đã xác định xã hội hóa hoạt

động giáo dục là giải pháp cơ bản đê phát triển giáo dục nhằm phục vụ cho các

mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của quận. Là một phóng viên chuyên trách

theo dõi mảng giáo dục-đào tạo của Báo Sài Gòn Giải Phóng-cơ quan ngôn

luận của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, tiếng nói của nhân dân thành phố

mang tên Bác- ngoài việc thông tin kịp thời, đầy đủ các hoạt động giáo dục trên

báo, tôi cảm thấy rất thú vị khi đi sâu nghiến cứu vấn đề xã hội hóa hoạt động

giáo dục ở thành phố Hồ Chí Minh nói chung, quận 12 nói riêng. Tôi hy vọng

rằng, nghiên cứu này sẽ góp phần nhỏ bé thúc đẩy sự nghiệp giáo dục ở quận

12 và thành phố Hồ Chí Minh ngày càng phát triển.

2.MỤC ĐÍCH VÀ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

* Mục đích của đề tài:

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng xã hội hóa hoạt động giáo dục ở quận

12 thành phố Hồ Chí Minh, luận văn cố gắng đưa ra một số giải pháp thúc đẩy

sự phát triển hơn nữa công tác xã hội hóa hoạt động giáo dục nhằm nâns cao

chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội quận 12 nói

riêng và thành phố Hồ Chí Minh nói chung.

* Giới hạn của đề tài:

Xã hội hóa nói chung, xã hội hoa hoạt động giáo dục nói riêng là vấn đề

rất phức tạp, rộng lớn. Do điều kiện thời gian và khuôn khổ của một luận văn

cao học, đề tài chỉ:

- TIm hiểu một số nội dung cơ bản về xã hội hóa hoạt động giáo dục.

- Phân tích, đánh giá thực trạng xã hội hóa hoạt động giáo dục của quận

12 thành phố Hồ Chí Minh, từ đó cố gắng đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy

mạnh công tác xã hội hóa hoạt động giáo dục ở địa bàn này.

3.KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

* Khách thể nghiên cứu:

Xã hội hóa hoạt động giáo dục và những vấn đề có Liên quan như nội

dung hoạt động giáo dục, nguồn lực và môi trường giáo dục...

* Đối tượng nghiên cứu:

Phướng hướng, thực trạng, giải pháp xã hội hóa hoạt động giáo dục ở

quận 12 thành phố Hồ Chí Minh.

4.GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Xã hội hóa là một quy luật diễn ra trên mọi lĩnh vực của cuộc sống. Xã

hội hóa hoạt động giáo dục là tư tưởng chỉ đạo chiến lược, là giải pháp tổng

thể, chủ lực để giải quyết bài toán giáo dục của Đảng và Nhà nước. Thực tế tại

thành phố Hồ Chí Minh nói chung, quận 12 nói riêng, xã hội hóa giáo dục đã

có những thành công nhất định. Tuy nhiên, trong thực hiện xã hội hóa hoạt

động giáo dục tại quận 12, còn rất nhiều vấn đề đang đặt ra cần nhanh chóng

giải quyết. Từ việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi cho rằng, có thể và cần thiết

phải xây dựng những giải pháp trên cơ sở phát huy vai trò của các lực lượng xã

hội có tính đặc thù của địa phương quận 12 nhằm góp phần thúc đẩy sự nghiệp

phát triển giáo dục.

5.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau: Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận

về vấn đề xà hội hóa hoạt động giáo dục làm định hướng cho việc nghiên cứu

đề tài.

Thứ hai, phân tích thực trạng xã hội hóa hoạt động giáo dục ở quận 12.

Thứ ba, đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm thúc đẩy quá trình

xã hội hóa hoạt động giáo dục ở quận 12.

6.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đề tài được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về con

người, về giáo dục đào tạo và xã hội hóa hoạt động giáo dục.

Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết sử dụns các phương pháp sau

để nghiên cứu:

* Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Sưu tầm, phân tích các tài IIệu Liên quan đến giáo dục và xã hội hóa hoạt

động giáo dục như các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII,VIII,IX;

Nghị quyết Hội nghị lần thứ II BCHTƯ Đảng khóa VIII; Báo cáo của Bộ

Chính trị kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ II BCHTƯ

Đảng khóa VIII và phương hướng phát triển giáo dục từ nay đến năm 2005 và

2010; Chương trình hành động vI giáo dục-đào tạo của Đảng bộ và ƯBND

quận 12; Nghị quyết số 90/CP của Chính phủ về "Phương hướng và chủ ưương

xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa"...

Ngoài ra, người viết cũng sưu tầm và nghiên cứu nhiều bài báo, các báo

cáo tổng kết kinh nghiệm thực hiện xã hội hóa hoạt động giáo dục của nhiều

tỉnh, thành phố trong cả nước và ở các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hồ

Chí Minh.

* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Tổng kết kinh nghiệm qua khảo sát bằng phiếu dưới dạng câu hỏi về

những vấn đề Liên quan đến xã hội hóa hoạt động giáo dục. Đặc biệt, chúng tôi

đã đi thực tế gặp gỡ, nghiên cứu những điển hình tiên tiến trong việc thực hiện

xã hội hóa hoạt động giáo dục tại quận 12 để từ đó rút ra những bài học thành

công và đề xuất hướng giải quyết những mặt tồn tại.

Ngoài ra, chúng tôi còn dự nhiều hội thảo khoa học, Đại hội giáo dục các

cấp ở quận 12 và các quận, huyện trong thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi

cũng gặp gỡ, thăm dò ý kiến của các cá nhân, tập thể, các nhà quản lý giáo dục,

các nhà hoạt động xã hội có kinh nghiệm về vấn để này.

7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Luận văn gồm 3 phần: Phần I: Mở đầu Phần II: Nội dung nghiên cứu

Gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng xã hội hóa hoạt động giáo dục ở quận 12

Chương 3: Những giải pháp tăng cường xã hội hóa hoạt động giáo dục ở

quận 12

Phần II: Kết luận và khuyến nghị

PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tại các quốc gia trên thế giới, mặc dù bản chất xã hội, thể chế chính trị,

mục đích và tính chất của các nền giáo dục khác nhau, song xã hội hóa hoạt

động giáo dục là xu thế chung trong phát triển giáo dục của các nước. Không

chỉ những nước đang phát triển mà cả những nước phát triển như Mỹ, Pháp,

Anh, Nhật, Nga... cũng tIm các biện pháp của Minh nhằm huy động mọi nguồn

lực và điều kiện để phát triển giáo dục. ở nước ta, xã hội hóa hoạt động giáo

dục không phải là một quan điểm mới xuất hiện trons thời kỳ đổi mới mà là sự

thể hiện đường lối vận động quần chúng, huy động sức mạnh của toàn xã hội

vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đảng ta luôn coi trọng trong suốt quá

trình lãnh đạo đấu tranh cách mạng. Đại hội lần thứ VIII của Đảng chính thức

sử dụng thuật nsữ "xã hội hóa" thể hiện quan điểm chỉ đạo không những nhằm

phát triển sự nghiệp giáo dục nói riêng, mà để hoạch định hệ thống các chính

sách xã hội nói chung: "Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tình

thần xã hội hóa. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người

dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và các tổ chức

nước ngoài cùng tham sia giải quyết những vấn đề xã hội."[3-tr. 114]

Điều 11 Luật Giáo dục quy định: Mọi tổ chức, gia đình và công dân có

trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi

trường giáo dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo

dục. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển sự nghiệp giáo dục thực

hiện đa dạng hóa các loại hình nhà trường và hình thức giáo dục; khuyến khích,

huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp

giáo dục.

Nghị quyết 90/CP của Chính phủ khẳng định: Xã hội hóa hoạt động giáo

dục, y tế, văn hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân,

của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao

mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hóa và sự phát triển về thể chất và tình

thần của nhân dân.

Trong công trình nghiên cứu "Xã hội hóa công tác giáo dục- Nhận thức và

hành động", các giáo sư Bùi Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình

(Viện Khoa học Giáo dục xuất bản năm 1999) nhấn mạnh: Xã hội hóa hoạt

động giáo dục không phải là cách làm giáo dục chỉ có ở riêng nước ta mà là

cách làm giáo dục phổ biến trên thế giới, kể cả những nước công nghiệp hiện

đại, có nền kinh tế phát triển cao. Tuy thuật ngữ họ dùng không phải là xã hội

hóa hoạt động giáo dục mà là sự tham gia của cộng đồng vào giáo dục nhưng

về mặt ngữ nghĩa đã thể hiện được rõ ràng nội dung cơ bản của xã hội hóa hoạt

động giáo dục.

Xã hội hóa hoạt động giáo dục không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm

và vai trò của Nhà nước. Trái lại, xã hội hóa hoạt động giáo dục chỉ có thể thực

hiện thành công khi có sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Đảng, sự quản

lý chặt chẽ của Nhà nước và vai trò chủ động, nòng cốt của ngành giáo dục. Tại

TPHCM, Báo cáo số 991/GD-ĐT "Tổng kết 4 năm thực hiện Nghị quyết TƯ II

(khóa VIII), Chương trình hành động 05 của Thành ủy và mục tiêu, phương

hướng nhiệm vụ phát triển giáo dục-đào tạo thành phố từ 2001-2005" khẳng

định: Những năm gần đây, nhờ đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, làm tốt việc đa

dạng hóa các loại hình trường lớp nên không những đã góp phần ổn định, phát

triển quy mô mạng lưới các bậc học, ngành học theo cơ cấu mới của hệ thống

giáo dục quốc dân mà còn nâng cao được chất lượng và hiệu quả giáo dục.

Nhiều giải pháp đa dạng mang tính khả thi như huy động các thành phần kinh

tế đầu tư xây dựng trường dân lập, tư thục; sử dụng tốt nguồn vốn vay kích

cầu; chuyển sang bán công các trường mầm non, trung học cơ sở và trung học

phổ thông ... đã góp phần ổn định tình hình của ngành giáo dục thành phố, tạo

thêm nhiều chỗ học cho con em nhân dân lao động, đồng thời cũng góp phần

từng bước hướns tới xây dựng một xã hội học tập. Thực hiện xã hội hóa giáo

dục, sự phối hợp giữa ngành giáo dục với chính quyền và các tổ chức xã hội

ngày càng chặt chẽ, tạo nên một môi trường giáo dục lành mạnh, góp phần làm

tốt công tác giáo dục và quản lý học sinh, tránh cho các em nhiễm những thói

hư tật xấu do tác động tiêu cực của cơ chế thị trường đang ngày càng phát triển

trong xã hội những năm qua. Bằng việc thực hiện xã hội hóa hoạt động giáo

dục, huy động nhiều nguồn lực đóng góp cho giáo dục, thành phố cũng đã có

nhiều chính sách ưu tiên, hỗ trợ cho giáo viên và học sinh vùng xa, vùns khó

khăn ngoại thành, đặc biệt là đối với giáo viên giảng dạy tại cần Giờ, Nhà Bè...

Sở GD-ĐT thành phố Hồ Chí Minh đã đề ra Chiến lược phát triển giáo

dục phổ thông thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 và những chỉ tiêu thực

hiện 5 năm 2001-2005. Chiến lược này nhấn mạnh các giải pháp pháp phát

triển giáo dục phổ thông ở TPHCM đến năm 2005 và những năm tiếp theo

gồm: nhóm giải pháp về tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học;

nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo; nhóm

giải pháp xây dựng đội ngũ; nhóm giải pháp về xã hội hóa giáo dục; nhóm giải

pháp về cải tiến công tác quản lý giáo dục.

Mục tiêu cơ bản của nhóm giải pháp về xã hội hóa giáo dục được thành

phố Hồ Chí Minh xác định là: huy động các thành phần xã hội cùng ngành giáo

dục-đào tạo xây dựng môi trường giáo dục, gắn kết nhà trường với xã hội để

tiến tới xã hội học tập. Phát huy tiềm năng các nguồn lực xã hội để tăng cường

cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học, huy động tối đa trẻ 5 tuổi đi học mẫu

giáo, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, hoàn thành phổ cập THCS, tiến

tới phổ cập THPT.

Tổng kết 5 năm (1995-2000) công tác xã hội hóa giáo dục tại một số quận

huyện ở TPHCM như quận 12, quận Gò vấp, quận 10, quận Bình Thạnh... cho

thấy: xã hội hóa giáo dục thể hiện tư tưởng chiến lược, coi sức mạnh của toàn

xã hội là điều kiện không thể thiếu để phát triển có chất lượng và hiệu quả sự

nghiệp giáo dục, có giá trị chỉ đạo quá trình phát triển giáo dục một cách lâu

dài chứ không phải là một ý đồ chiến thuật được vận dụng một cách nhất thời

cho một giải pháp tình thế.

Vấn đề xà hội hóa hoạt động giáo dục đã được nhiều nhà nghiên cứu quan

tâm. Bên cạnh những công trình nghiên cứu đã xuất bản thành sách như Xã hội

hóa công tác giáo dục của GS.TS Phạm Minh Hạc (Tổng chủ biên), NXB Giáo

dục- Hà Nội xuất bản năm 1997; "Xã hội hóa công tác giáo dục- Nhận thức và

hành động" Viện Khoa học Giáo dục xuất bản năm 1999...có một số luận văn

thạc sĩ về quản lý giáo dục cũng đã nghiên cứu về xã hội hóa hoạt động giáo

dục của các địa phương như Thực trạng và những biện pháp xã hội hoa giáo

dục trên địa bàn Đà Nấng (Luận văn Thạc sĩ cao học của Huỳnh Phước, Đại

học Sư phạm Hà Nội).... Hàng loạt các bài viết trên các báo, tạp chí cũng đề

cập đến các khía cạnh khác nhau của xã hội hóa hoạt động giáo dục...

Như vậy, xã hội hóa hoạt động giáo dục là con đường rất quan trọng để

phát triển giáo dục. Đây cũng là đề tài đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu, trao

đổi, học hỏi, đúc rút kinh nghiệm giữa các nước trong quá trình giao lưu, hợp

tác quốc tế về lĩnh vực giáo dục; giữa các địa phương trong nước, các cơ sở

giáo dục để đưa giáo dục đát nước ngày càng phát triển.

1.2.KHÁI NIỆM VÀ NỘI DƯNG CỦA XÃ HỘI HÓA VÀ XÃ HỘI

HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

Dựa trên lịch sử phát triển của con người, loài người và bằng thế giới

quan duy vật kết hợp với phương pháp biện chứng khoa học, C. Mác đã chỉ ra

rằng, bản thân đời sống xã hội về thực chất là hoạt động thực tiễn; con người

muốn tồn tại và phát triển trước hết cần phải ăn, mặc, ở, sau đó mới có thể làm

chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo...Muốn có cái để ăn, mặc, ở thI con

người phải sản xuất. Để sản xuất, con người cần có điều kiện tự nhiên và điều

kiện xã hội, đồns thời phải quan hệ với tự nhiên và quan hệ với nhau. Tất cả

những yếu tố và quan hệ đó hợp thành cái mà C. Mác gọi là "xã hội", tức là

toàn bộ đời sống hiện thực của con người. Nói cách khác, xã hội là tổng hợp

hoạt động và quan hệ của con người, còn bản chất của con người là tổng hòa

các quan hệ xã hội như C.Mác đã khẳng định.

1.2.1. Xã hội hóa và xã hội hóa cá nhân

a) Khái niệm

* Xã hội hóa

Xã hội hóa là khái niệm chỉ quá trình làm cho một cái gI đó mang tính xã

hội, hay trở thành cái chung của xã hội. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, xã hội

hóa là "làm cho thành của chung xã hội: xã hội hóa tư IIệu sản xuất".[90 - tr.

1.848]

Xã hội hóa là một quy luật diễn ra trên mọi lĩnh vực của cuộc sống. Xã

hội càng phát triển bao nhiêu thI càng cần xã hội hóa bấy nhiêu. Tuy nhiên, khi

xã hội càng phát triển thI phương thức xã hội hóa cũng sẽ khác.

* Xã hội hóa cá nhân

Xã hội hóa cá nhân là quá trình chuyển hóa từ "con người sinh học" trở

thành "con người xã hội", hay nói cách khác, đó là quá trình phát triển nhân

cách. Xã hội hóa cá nhân là quá trình giáo dục mỗi cá nhân từ một thực thể sinh

vật-người trở thành một thành viên xã hội có năng lực, có phẩm chất tham gia

vào các mặt hoạt động như học tập, lao động, hoạt động xã hội, chính trị, thể

thao, giải trí...biết cách ứng xử với tự nhiên, xã hội, con người, công việc, bản

thân Minh để hợp tác và hòa nhập được với cộng đồng, xã hội.

Xã hội hóa cá nhân là quá trình tương tác giữa cá nhân và xà hội, trong đó

cá nhân học hỏi và thực hành các tri thức, kỹ năng, phương thức cần thiết để

hội nhập vào xã hội. Nói cách khác, xã hội hóa cá nhân là quá trình cá nhân gia

nhập vào cộng đồng xã hội, đồng thời xã hội tiếp nhận cá nhân như một thành

viên, một phần tử tích cực của Minh. Quá trình này gồm 3 mặt:

-Học hỏi, học tập tri thức và các phương cách để cá nhân tham gia vào xã

hội, được xã hội chấp nhận và thừa nhận cách ứng xử của Minh.

-Phát triển năng lực cá nhân để đáp ứng các yêu cầu của xã hội, phù hợp

với những thay đổi của xã hội.

-Thích nghi với các nhóm xã hội khác nhau, với môi trường xung quanh.

Xã hội hóa cá nhân là một quá trình kéo dài suốt đời và được chia thành 3

giai đoạn: gia đình, nhà trường và xã hội. Để có thể xã hội hóa cá nhân, cần các

thiết chế xã hội nhất định. Nói cách khác, các thiết chế xã hội giữ vai trò quan

trọng trong quá trình hình thành con người xã hội.

Tóm lại, xã hội hóa không phải là một quá trình thụ động, bắt buộc, mà là

một quá trình hội nhập và có vai trò tích cực, tự giác, sáng tạo của cá nhân. Khi

xã hội thay đổi thI xã hội hóa cũng thay đổi. Ngược lại, xã hội hóa thay đổi tức

là xã hội đã thay đổi cả về cơ cấu, mối Liên hệ và nhịp độ.

b) Các thiết chế xã hội và vai trò của nó trong xã hội hóa cá nhân

Các thiết chế xã hội là một tổ chức với những con người cụ thể (tổ chức

Nhà nước, đoàn thể, gia đình, nhà trường...) và những quan hệ tương tác giữa

chúng ít nhiều có tính cách ổn định nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của

con người trong xã hội. Ví dụ, nhà trường là tổ chức kết hợp giữa thầy và trò,

hình thành nền một hệ thống nhưng quan hệ xã hội và thông qua đó tạo nên

hoạt động siáo dục-đào tạo.

Thiết chế xà hội theo một nghĩa nhất định là tập hợp các tương quan, các

ứng xử, các chuẩn mực..với những con người cụ thể thực hiện chúng. Trong

đời sống xã hội, người ta thường nói đến các thiết chế gia đình, giáo dục, kinh

tế, chính trị, văn hóa...Thiết chế xã hội còn được dùng để chỉ một thói quen hay

một tập tục, tập quán, một tổng thể các chuẩn mực được áp dụng trong một hệ

thống xã hội. Các chuẩn mực ấy sẽ không được áp dụng nếu thiếu những tổ

chức và con người thực hiện chúng.

Ở đây, chúng tôi xin đề cập đến 2 thiết chế xã hội có vai trò tác động trực

tiếp đến tiến trình xã hội hóa cá nhân:

-Gia đình:

Gia đình là tế bào cơ bản của xã hội để phát triển nhận thức của mỗi cá

nhân. Sự hình thành và phát triển nhân cách bao gồm những quá trình giáo dục

tổng thể; trong đó gia đình đóng vai trò quan trọng. Những tiền đề tốt đẹp nhất

của sự giáo dục được tạo ra ở mái ấm gia đình, nơi có mối quan hệ tốt đẹp của

tình yêu thương và tôn trọng giữa các thành viên của nó. Trong môi trường gia

đình êm đềm hạnh phúc, đứa trẻ được sống tốt đẹp, vIII vẻ và nhân cách của nó

sẽ được hình thành ngay từ tuổi ấu thơ trên một cơ sở lành mạnh và hài hòa.

Đối với đứa trẻ, cha mẹ là người thầy đầu tiên trong cuộc đời, sau đó là những

thành viên khác, trường học, đoàn thể và môi trường văn hóa. Vừa được sinh

ra, đứa trẻ đã được mẹ dạy cho cách bú dòng sữa ngọt ngào. Bằng dòng sữa ấy,

đứa trẻ lớn dần trong câu ca, lời ru êm đềm của mẹ. Việc giáo dục được hình

thành từ những ngày đầu tiên của đời người. Trong gia đình, đứa trẻ được phát

triển tốt về thể chất và tình thần. Sự gắn bó với những người thân yêu trong gia

đình hình thành nên tình đồng loại, tạo nên niềm tin, các giá trị và chuẩn

mực...Dần dần ở đứa trẻ sẽ xuất hiện ý niệm đầu tiên về "mái nhà" và hình

thành những cơ sở của đời sống tình cảm mà sau này sẽ giúp nó trong quan hệ

với mọi người và mọi vật. Cơ sở của những thái độ, những đức tính sau đây sẽ

được hình thành: sự đồng cảm với người khác, ý thức về sự công bằng và hài

lòng khi được cộng tác với người khác trong công việc, tình đoàn kết, lòng tận

tụy, đức hy sinh...Trên con đường phát triển của Minh, tính cách của đứa trẻ

được mài giũa, sẽ trở nên phong phú hơn, sẽ được điều chỉnh và phát triển

nhưng chính từ những ngày đầu tiên của tuổi ấu thơ, các giá trị nhân cách của

nó đã được hình thành.

Ảnh hưởng tích cực của gia đình được thực hiện qua môi trường gia đình:

môi trường văn hóa gia đình, môi trường giáo dục gia đình... Gia thế, gia cảnh,

giáo dục gia đình...tất cả đều tác động đến nhân cách còn non nớt của đứa trẻ.

Những đứa trẻ có hoàn cảnh gia đình không êm ấm sẽ ảnh hưởng không nhỏ

đến cuộc sống sau này.

-Nhà trường: Trường học đóng vai trò chủ đạo trong quá trình giáo dục,

phát triển nhân cách và xã hội hóa cá nhân.

Giáo dục là một hoạt động xã hội, là hiện tượng lịch sử, tồn tại trong mọi

thời đại. Nhưng cũng chính trong tiến trình phát triển của lịch sử, sự phân công

lao động, chuyên môn hóa đã làm xuất hiện hệ thống giáo dục và nhà trường.

Công việc giáo dục, đặc biệt là giáo dục thế hệ trẻ được giao cho một thiết chế

chuyên biệt, đó là thiết chế giáo dục. Thiết chế này bao gồm một hệ thống các

ngành học, bậc học mà đơn vị cơ sở là nhà trường. Nhà trường trở thành một

hình thức, thiết chế mang tính tổ chức cao với một hệ thống các thành tố: mục

tiêu, nội dung, phương pháp, điều kiện, hình thành tổ chức, quy chế đánh giá

đối với các hoạt động đào tạo. Nhà trường hoạt động theo chương trình, kế

hoạch, có đội ngũ những nhà chuyên môn-những nhà giáo dục được đào tạo

một cách có hệ thống. Nhà trường có những phương tiện chuyên môn bao gồm

cơ sở trường lớp và trang thiết bị dạy học tương ứng với từng bộ môn để

chuyển tải nội dung giáo dục bằng những phương pháp khoa học, hợp lý, nhằm

thực hiện một hệ thống những mục tiêu, mục đích giáo dục đã xác định. Nhà

trường là nơi cung cấp nền học vấn một cách hệ thống, đầy đủ, phong phú để

phát triển nhân cách, phát triển tư duy và trí tuệ của con người. Nhà trường nào

cũng gắn với cộng đồng, hoạt động theo mục tiêu phát triển cộng đồng. Một

nhà trường đích thực, chân chính là nhà trường tổ chức được quá trình đào tạo

mang tính lao động dân chủ, nhân văn hiện thực. Hiểu nhà trường là như vậy

để đặt nó trong hệ thống xã hội và làm rõ vai trò của nó trong xã hội hóa hoạt

động giáo dục.

1.2.2. Xã hội hóa hoạt động giáo dục

Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống xã hội của loài người. Triết học

Mác đã khẳng định: Trong quá trình tồn tại, con người bao giờ cũng cải tạo tự

nhiên, chình phục tự nhiên để tự nhiên phục vụ cho Minh. Trong quá trình tồn

tại, con nsười cũng nhận thức chính Minh, cải tạo chính Minh và chình phục

chính Minh để phục vụ cho Minh. Con người luôn sống trong các hoàn cảnh xã

hội nhất định, và khi nói đến con người tức là phải xem đó là con-người-xã-

hội.

Xã hội luôn phát triển và tiến bộ không ngừng. Trong quá trình phát triển

của xã hội, giáo dục là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất, là động lực của mọi sự

phát triển. Điều này có nghĩa là không thể tách rời giáo dục ra khỏi đời sống xà

hội, hay nói cách khác, không có giáo dục đứng ngoài xã hội, không có xà hội

nào có thể phát triển mà không gắn IIền với vai trò lịch sử của một nền giáo

dục. Sự tồn tại và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ

phát triển kinh tế-xã hội và ngược lại. Điều này phản ánh tính chất xã hội của

giáo dục. Giáo dục mang bản chất xã hội. Xã hội càng phát triển thI vai trò của

giáo dục càng to lớn. Tuy nhiên, tính chất xã hội của giáo dục và xã hội hóa

giáo dục không phải la một. Bởi vI tự thân hoạt động giáo dục luôn có tính chất

xã hội nhưng không thể tạo nên động lực mạnh mẽ, mới mẻ của hoạt động giáo

dục trong một xã hội năng động luôn phát triển.

Vậy xã hội hóa hoạt động giáo dục là gI?

Nếu như "xã hội hóa" là làm cho một cái gI đó mang tính xã hội và trở

thành cái chung của xã hội, thI "xã hội hóa hoạt động giáo dục" là quá trình

giáo dục gia nhập và hòa nhập vào xã hội, vào cộng đồng, đồng thời xã hội tiếp

nhận giáo dục như là công việc của Minh, do Minh và vI Minh. Đó là mối quan

hệ biện chứng.

Nói cách khác, xã hội hóa hoạt động giáo dục là quá trình làm cho sự

nghiệp giáo dục, một mặt thâm nhập sâu vào các ngành, các cấp, mọi gia đình

và mỗi cá nhân; mặt khác giáo dục trở thành hoạt động chuns của toàn xã hội,

tạo ra một xã hội học tập.

Xã hội hóa hoạt động giáo dục (nói gọn là xã hội hóa giáo dục) là tư

tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng nhằm huy động sức mạnh của toàn xã hội

trong việc xây dựng và phát triển giáo dục. Tư tưởng đó được xuyên suốt trong

toàn bộ quá trình giáo dục nhằm phát triển giáo dục một cách lâu dài. cần nhấn

mạnh rằng, đây là giải pháp tổng thể, chủ lực để phát triển giáo dục kể cả khi

nhân dân có mức thu nhập cao, ngân sách Nhà nước dồi dào chứ không phải là

một biện pháp tạm thời có ý nghĩa tình thế khi Nhà nước thiếu thốn ngân sách.

Từ định hướng chiến lược này, đặt ra yêu cầu phải làm chuyển biến hoạt

động giáo dục (vốn là hoạt động có tính chuyên môn, nghiệp vụ của một thiết

chế xã hội là ngành giáo dục) trở thành một hoạt động rộng lớn, sâu sắc thâm

nhập và tác động vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thúc đẩy sự phát triển

và tiến bộ không ngừng của xã hội. Xã hội hóa giáo dục đòi hỏi phải huy động

mọi nguồn tài lực, vật lực của xã hội tham gia giải quyết mọi nhiệm vụ, vấn đề

của giáo dục, và đây được xem là con đường, biện pháp tiên quyết để thực hiện

trọn vẹn, lâu dài các chức năng, nhiệm vụ của giáo dục theo mục tiêu đã xác

định.

Ý nghĩa phổ biến nhất của xã hội hóa giáo dục là tổ chức cho toàn xã hội

làm giáo dục. Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng

khóa VIII đã thể hiện một quan niệm cụ thể về xã hội hóa giáo dục là huy động

xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền

giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước.

Như vậy, tiến hành xã hội hóa hoạt động giáo dục là thực hiện bản chất xã

hội của sự nghiệp giáo dục, huy động các lực lượng xã hội làm giáo dục, tạo

môi trường cho bản chất xã hội của giáo dục phát huy tối đa vai trò của Minh,

làm cho giáo dục đáp ứng có hiệu quả nhu cầu thực tế của xã hội, gắn với xã

hội.

1.3. CƠ CHẾ CỦA XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

Trước khi nói tới cơ chế tổ chức tham gia của xã hội làm giáo dục, cần

xác định lực lượng tham gia xã hội hóa giáo dục. Giáo dục-đào tạo chỉ có thể

đạt hiệu quả khi kết hợp tốt 3 môi trường: giáo dục nhà trường, giáo dục gia

đình và giáo dục xã hội. Ngành giáo dục, nhà trườnơ là lực lượng giữ vai trò

trung tâm, nòng cốt, chủ động trong việc huy động cộng đồng làm giáo dục.

Ngoài ngành giáo dục còn có các nhóm đối tượng sau tham gia vào hoạt động

xã bội hóa giáo dục: Các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương (Hội đồng

nhân dân và ủy ban nhân dân); các cơ quan chuyên môn Ủy ban nhân dân (ban,

ngành chức năng); các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội; các cơ sở sản xuất

kinh doanh, phục vụ; xã, phường và các tổ chức cộng đồng ở cơ sở.

Bên cạnh đó, một đối tượng không thể thiếu khi tiến hành xã hội hóa giáo

dục là gia đình-một thiết chế cơ bản của xã hội thực hiện một trong những chức

năng của nó là giáo dục.

Thực chất của xã hội hóa giáo dục như Nghị quyết Hội nghị lần thứ II

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định là tổ chức sự phối hợp

chặt chẽ và thường xuyên giữa các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục đào

tạo với Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể quần chúng để vận động nhân dân tham

gia có hiệu quả vào sự nghiệp giáo dục. "Xã hội hóa công tác giáo dục không

có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm và vai trò của Nhà nước. Trái lại, xã hội hóa

công tác siáo dục chỉ có thể thực hiện thành công khi có sự lãnh đạo trực tiếp,

thường xuyến của Đảng, sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước và vai trò chủ động,

nòng cốt của ngành giáo dục." [32-Tr.8]

Nói đến tổ chức sự phối hợp tức là nói về cơ chế. Để huy động và phối

hợp được các lực lượng xã hội, các ngành, các giới tham gia vào sự nghiệp giáo

dục, cần có cơ chế và hình thức phù hợp với chức năng, tính chất của từng

ngành. Cơ chế là sự vận hành của các mối quan hệ giữa các thành tố (bộ phận)

trong một cấu trúc (tổ chức) nhằm đạt hiệu quả của hoạt động.

Đây là sự vận hành trong cơ chế tất yếu và tự động. Trong đó, các bộ

phận ở đây là các lực lượng xã hội; cấu trúc (tổ chức) ở đây là toàn bộ sự IIến

kết sư phạm-xã hội trong một tập hợp có tính toàn bộ ổn định hoặc cơ động tùy

theo vụ việc; hiệu quả ở đây là hiệu quả của xã hội hóa hoạt động giáo dục;

quan hệ ở đây là quan hệ phối hợp. Sự phối hợp của các lực lượng trong cộng

đồng được coi là một phương hướng hoạt động lâu dài, có mục tiêu, có nội

dung và biện pháp thích hợp.

Như vậy, cơ chế tổ chức xà hội hóa giáo dục bao gồm các vấn đề xác định

các thành tố trong hệ thống các mối quan hệ trong quản lý, các hình thức quan

hệ, lề lối quan hệ, đặc biệt là sự phối hợp các lực lượng xã hội cùng làm giáo

dục.

Sự vận hành của cơ chế xã hội hóa giáo dục đương nhiên cũng nằm trong

cơ chế phổ quát của xã hội ta là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và phát huy

quyền làm chủ của nhân dân. Các nguyên tắc này cũng đồng thời chỉ ra vai trò

quyết định của Đảng bộ và chính quyền địa phương ương hệ thống các quan hệ

quản lý xã hội hóa giáo dục. Các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương cần

xác định được vai trò này.

Ngành giáo dục, nhà trường giữ vai trò trung tâm, nòng cốt, chủ động

trong việc huy động cộng đồng làm giáo dục. Trong cơ chế tổ chức xã hội hóa

giáo dục, nếu nhà trường không tự thân vận động thI cũng không tạo ra sự vận

động của các lực lượng khác.

Nhà trường phải giữ vai trò trung tâm trong mối liên kết xã hội-giáo dục,

tức là trong các hình thức cộng tác, phối hợp, cam kết, thỏa thuận Liên kết, hợp

đồng...Nếu không như thế thI không thể tổ chức sự tham gia của các lực lượng

xã hội có hiệu quả.

Với vị trí trung tâm của các tổ chức trong cơ chế xã hội hóa giáo dục, nhà

trường, ngành giáo dục phải là người thật sự chủ động trong tổ chức thực hiện

các chủ trương, giải pháp do chính Minh đề ra. Đã là hoạt động giáo dục thI

người có chuyên môn giáo dục phải có trách nhiệm. Hơn ai hết, ngành giáo

dục, nhà trường hiểu rõ những yêu cầu của Minh về hoạt động xã hội hóa giáo

dục để thực hiện mục đích, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục, nhằm

đáp ứng nhu cầu của giáo dục vI mục đích chung là phát triển kinh tế-xã hội

của đất nước.

Để đảm bảo cho cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm

chủ" được vận hành thuận lợi trong xã hội hóa giáo dục-hoạt động vừa có tính

chất Nhà nước, vừa có tính chất xã hội-cần phải thể chế hóa. Thể chế hóa trong

xã hội hóa giáo dục là làm cho sự tham gia của xà hội vào công tác giáo dục

được thực hiện theo nhưng quy định, luật lệ, chế định. phép tắc ổn định mang

tính chất pháp lý, có chính sách chế độ rõ ràng, dân chủ và công bằng.

Thể chế hóa gắn với cơ chế và thống nhất với nhau về mục đích là nhằm

nâng cao hiệu quả quản lý trong việc huy động, khuyến khích và tổ chức sự

tham gia của xã hội vào công tác giáo dục, làm cho sự tham gia đó có nề nếp ,

đồng bộ, ổn định và đạt hiệu quả cao, tránh nhưng sai lầm khuyết điểm, ảnh

hưởng đến cuộc vận động mà hiệu quả gánh chịu nhiều nhất là nhà trường và

ngành giáo dục. (Chẳng hạn như tránh sử dụng không đúng sự đóng góp của

nhân dân khiến phụ huynh, xã hội kêu ca làm mất uy tín nhà trường). Sự thể

chế hóa thể hiện bằng hai hình thức:

+Bằng tổ chức (thiết chế, cơ cấu, bộ máy, cơ quan), trong đó Đại hội Giáo

dục các cấp có ý nghĩa quan trọng. Một trong nhưng ý nghĩa đó là thể chế hóa

bằng tổ chức bầu ra Hội đồng giáo dục, các tiểu ban của Hội đồng Giáo dục,

Hội Cha mẹ học sinh của các trường... Ngoài ra còn có những tổ chức được lập

ra trong từng giai đoạn để thực hiện các chương trình mục tiêu của giáo dục

như Ban Phổ cập và xóa mù chữ...

+Bằng hệ thống văn bản luật pháp, những quy định dưới luật, nói chung

là những quy phạm mans tính pháp luật.

Đặc trưng của quản lý Nhà nước là quản lý bằng luật pháp. Vận dụng vào

xã hội hóa giáo dục, cần phải có cơ sở pháp luật giúp cho tiến trình được ổn

định và phát triển bền vững, không hình thức, lúc lên, lúc xuống. Ngoài những

đạo luật như Luật Phổ cập Giáo dục Tiểu học, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo

dục trẻ em, Luật Giáo dục, còn có những hình thức dưới luật như những điều

lệ, nghị quyết, những quy định mang tính xã hội, kể cả những quy ước, cam

kết, thỏa thuận. VI thế, ở những nơi làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục,

ngành giáo dục đều tham mứu với cấp ủy và chính quyền địa phương để có

những nghị quyết, kế hoạch, chương trình về siáo dục hoặc đưa chương trình,

kế hoạch về giáo dục thành một bộ phận kế hoạch của Ủy ban nhân dân. Đặc

biệt, nghị quyết của Đại hội Giáo dục, của Hội đồng Giáo dục các cấp phản ánh

ý nguyện của quần chúng, những cam kết của các tổ chức...trở thành cơ sở

pháp lý cho sự điều hành của các cơ quan và các tổ chức ở địa phương. Điều lệ

Hội cha mẹ học sinh, Điều lệ tổ chức và hoạt động của Hội đồng Giáo dục các

cấp, các nghị quyết, thông tư Liên tịch giữa các ngành từ Trung ương đến cơ sở

có Liên quan đến giáo dục đều biểu hiện sự thể chế hóa bằng văn bản.

Tóm lại, để xã hội hóa giáo dục có kết quả, cần quan tâm đến thể chế hóa

về mặt tổ chức, cơ cấu, chức năng đối với các ngành, các tổ chức, cộng đồng và

cá nhân, về mặt quan hệ quản lý giữa các thành tố tham gia vào công tác giáo

dục.

1.4.VAI TRÒ XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Đối VỚI

VIỆC PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO NÓI

CHƯNG VÀ VỚI VIỆC HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CON

NGƯỜI NÓI RIÊNG

1.4.1.Vai trò của xã hội hóa hoạt động giáo dục đối với việc phát

triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo

Như phần trên đã đề cập, xã hội hóa giáo dục là yêu cầu xuất phát từ bản

chất xã hội vốn có của giáo dục, một tư tưởng chiến lược lâu dài, một bộ phận

của đường lối giáo dục, một con đường phát triển dáo dục ở nước ta. Xã hội

hóa giáo dục là động lực để vừa mở rộng quy mô phát triển, vừa nâng cao chất

lượng dáo dục đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước. Xã hội hóa

giáo dục thực chất là một cuộc vận động lớn có tính chất toàn xã hội để xây

dựng một nền giáo dục Việt Nam chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, đào tạo

nên những con người có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực đáp ứng yêu cầu

của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Xã hội hóa giáo dục vừa là tư tưởng chỉ đạo, vừa là giải pháp có tính khả

thi để đưa giáo dục Việt Nam phát triển.

Ở đây, chúng tôi nhấn mạnh vai trò của xã hội hóa hoạt động giáo dục đối

với việc phát triển quy mô giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục, xây dựng

một xã hội học tập.

a) Xã hội hóa hoạt động giáo dục góp phần phát triền quy mô giáo dục

Thực hiện đa dạng hóa các hình thức giáo dục, các loại hình trường lớp,

quy mô giáo dục ngày càng phát triển. Việc mở rộng các hình thức giáo dục phi

chính quy bên cạnh các hình thức chính quy, phát triển các loại hình bán công,

dân lập, tư thục bên cạnh trường công lập vốn là hình thức độc tôn trước đây đã

mở ra khả năng huy động nhiều lực lượng xã hội tham gia vào công tác giáo

dục, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển mạnh mè hơn, thực hiện có hiệu quả

hơn nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

b) Xã hội hóa hoạt động giáo dục góp phần nâng cao chất lượng giáo dục-

đào tạo.

Trong rất nhiều tồn tại của giáo dục Việt Nam hiện nay, vấn đề chất

lượng giáo dục luôn là nỗi bức xúc, gây mối quan tâm sâu sắc trong dư luận xã

hội. Xã hội hóa giáo dục là một giải pháp quan trọng sấp phần nâng cao chất

lượng 2Iáo dục-đào tạo. Xã hội hóa giáo dục tạo nên nhừns thuận lợi cho việc

tổ chức quá trình giáo dục của nhà trường để làm nên chất lượng. Điều này thể

hiện bằng việc huy động toàn xã hội tham gia vào việc cụ thể hóa mục tiêu dáo

dục, việc cải tiến nội dung và phương pháp giáo dục, việc xây dựng môi trường

giáo dục thuận lợi cho sự phát triển nhân cách trẻ, tạo điều kiện tăng cường vật

chất để nâng cao chất lượng giáo dục. Trong lúc ngành giáo dục đang gặp khó

khăn thI thực hiện xã hội hóa giáo dục bằng việc đa dạng hóa các nguồn lực

nhằm xây dựng, phát triển cơ sở vật chất trường lớp, mua sắm trang thiết bị dạy

học, xây dựng các quỹ khuyến học, khuyến tài...thực sự tác động đến chất

lượns giáo dục. Đặc biệt, xà hội hóa giáo dục sẽ góp phần tăng cường lực

lượng của người dạy và người học, phát triển yếu tố con người trong giáo dục,

phát huy tiềm năng giáo dục ở người dạy và người học. [32-tr.26]

c) Xã hội hóa hoạt động giáo dục để xây dựng một xã hội học tập

Xã hội hóa giáo dục tạo lập một phong trào học tập sâu rộng trons toàn xã

hội, vận động toàn dân, trước hết là thế hệ trẻ và những người trong độ tuổi lao

động, thực hiện học tập thường xuyên, học tập Liên tục, học tập suốt đời, làm

cho xã hội ta trở thành một xã hội học tập, mọi người làm việc tốt hơn, có thu

nhập cao hơn và có cuộc sống tốt hơn. Xã hội hóa giáo dục nhằm mục tiêu

"giáo dục cho mọi người". Muốn giáo dục cho mọi người thI mọi người phải

tham gia công tác giáo dục.

Xã hội hóa giáo dục tạo ra xã hội học tập, thực hiện sự bình đẳng về cơ

hội học tập, cơ hội hưởng thụ giáo dục cho tất cả mọi người, giúp cho con em

các gia đình nghèo khó, các gia đình chính sách được đi học, khắc phục tình

trạng bỏ học vI những lý do tài chính, đảm bảo cho những ai muốn đi học đều

có cơ hội đến trường, có nơi học tập, mọi người đều được học, được nâng cao

trình độ, tiếp cận với những vấn đề mới, áp dụng được tiến bộ khoa học vào đời

sống hàng ngày .

Tóm lại, xã hội hóa giáo dục là xu thế phát triển tất yếu phù hợp với quá

trình xã hội hóa, quốc tế hóa nền kinh tế, phù hợp với cơ cấu kinh tế nhiều

thành phần vận động trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam. Thực hiện xã hội hóa giáo dục đảm bảo cho giáo dục thực sự là sự

nghiệp của toàn dân, toàn xã hội, đảm bảo huy động được mọi nguồn lực của

xã hội để giáo dục phát triển mạnh mẽ.

1.4.2. Vai trò của xã hội hóa đối với việc hình thành nhân cách

con người

Xã hội hóa không chỉ có vai trò thúc đẩy sự nghiệp giáo dục-đào tạo phát

triển mà còn có vai trò tích cực trong việc hình thành nhân cách con người. Bản

chất của giáo dục mang tính xã hội sâu sắc. Con người là tổns hòa của các mối

quan hệ xã hội. Nhân cách của con người hình thành và chịu tác động của cả 3

môi trường là nhà trường, gia đình và xã hội. Xã hội hóa giáo dục, huy động

toàn xã hội làm giáo dục chính là để trả lại chức năng giáo dục của xã hội cho

xã hội, thúc đây tiên trình xã hội hóa cá nhân, làm cho mọi người có đủ năng

lực. phàm chất tham gia vào các mặt hoạt động xã hội. Nói cách khác, xà hội

hóa giáo dục là quá trình xã hội nhIn nhận giáo dục như là một nhu cầu tự thân

của xã hội, do xã hội quy định, xã hội cung cấp nguồn lực trên tình thần cộng

đồng trách nhiệm và giáo dục đào tạo ra những con người trở thành nhân tố-

người, trở thành nguồn nhân lực phục vụ tích cực cho xã hội, vI xã hội.

1.5.NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG

GIÁO DỤC

Giáo dục -đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu để phát triển kinh tế-xã

hội. Thực hiện xã hội hóa giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của xã hội đối với

vị trí vô cùns quan trọng của giáo dục. Các cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn

thể phải dành sự chăm lo, đầu tư "trước hết và trên hết" cho sự phát triển giáo

dục. Sự chăm lo, đầu tư này thể hiện bằng các chính sách cụ thể: ưu tiên dành

quỹ đất để phát triển trường học; tôn vinh và có chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho

các thầy cô giáo...

Cần liên kết các lực lượng xã hội, phát huy vai trò tích cực của gia đình,

nhà trường, xã hội vào sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Thực hiện xã hội hóa giáo

dục nhằm khơi dậy truyền thống hiếu học của dân tộc, làm cho mỗi gia đình,

mỗi dòng họ, làng bản, xóm thôn hiểu rõ trách nhiệm và quyền lợi của Minh

trong sự nghiệp "trồng người", từ đó tạo mọi điều kiện cho con cháu đến

trường, đóng góp sức Minh vào sự phát triển giáo dục ở địa phương.

Thực hiện xã hội hóa giáo dục cũng nhằm huy động các nguồn đầu tư

trong xã hội để phát triển sự nghiệp giáo dục. Cùng với ngân sách Nhà nước,

các nguồn đóng góp, đầu tư này được sử dụng để xây dựng, phát triển cơ sở vật

chất trường học, hỗ trợ điểu kiện cho học sinh nghèo hiêu học, góp phân chăm

lo ôn định đời sống vật chất và tình thần cho các thầy cô giáo...

Xã hội hóa giáo dục là một cuộc vận động lớn dưới sự lãnh đạo của

Đảns, sự quản lý của Nhà nước và vai trò nòng cốt của ngành giáo dục. Như

vậy, tiến hành xã hội hóa giáo dục, cần thực hiện có hiệu quả các nội dung sau:

1.5.1.Giáo dục hóa xã hội:

Phát động một phong trào toàn xã hội học tập, mọi người đi học, đi học

thường xuyên, đi học suốt đời. Học tập là quyền lợi đồng thời là trách nhiệm,

nghĩa vụ của mỗi người đối với bản thân, gia đình, cộng đồn2 và đất nước. Mọi

người trong xã hội đều nỗ lực học tập để nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu

của sự nghiệp CNH,HĐH đất nước.

1.5.2.Cộng đồng hóa trách nhiệm đối với hoạt động giáo dục:

Tạo lập một môi trường giáo dục lành mạnh, vận động toàn dân chăm sóc

thế hệ trẻ; phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với gia đình và xã

hội; tăng cường trách nhiệm của cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân

dân, các tổ chức đoàn thể với sự nghiệp giáo dục.

1.5.3.Đa dạng hóa các loại hình đào tạo:

Bên cạnh việc củng cố loại hình trường công lập, lấy đó làm nòng cốt giữ

vai trò chủ đạo, tích cực mở ra nhiều hình thức giáo dục, phát triển các loại

hình trường ngoài công lập, tạo cơ hội cho các tầng lớp nhân dân nâng cao

trình độ, tiếp cận những vấn đề mới, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào

cuộc sống hàng ngày.

Như vậy, cùng với hệ thống các trường công lập của Nhà nước, các lực

lượng xã hội và cá nhân đêu có thê tham gia hoạt động giáo dục băng cách tô

chức các cơ sở, trường lớp bán công, dân lập, tư thục. Điều này góp phần quan

trọng vào sự phát triển giáo dục, giảm gánh nặng đầu tư của Nhà nước, tạo

thêm nhiều chỗ học cho con em nhân dân lao động.

1.5.4.Đa phương hóa nguồn đầu tư:

Tăng dần nguồn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và mở rộng các nguồn đầu

tư khác, khai thác triệt để các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã

hội phục vụ cho sự phát triển giáo dục. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các

nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục phát triển

nhanh hơn, có chất lượng cao hơn.

1.5.5. Thể chế hóa sự quản lý Nhà nước về trách nhiệm:

Đó trách nhiệm, quyền lợi của các lực lượng xã hội, của nhân dân trong

việc tham gia xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo.

1.6.CON ĐƯỜNG ĐỂ THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG

GIÁO DỤC

1.6.1. Xây dựng và củng cố mối quan hệ giữa nhà trường và các

lực lượng xã hội trong việc tham gia công tác giáo dục

Để tổ chức sự tham gia của các lực lượng xã hội cùng làm giáo dục, cần

tùy vào tính chất và tiềm năng, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức xã hội,

các đối tác nhằm xác định các mối quan hệ với nhà trường-lực lượng giữ vai

trò trung tâm, nòng cốt, chủ động trong việc huy động cộng đồng làm giáo dục.

Việc duy trI và củng cố những mối quan hệ này dựa trên những quy định có

tính nguyên tắc đảm bảo sự phát triển bền vững. Trong đó, cần đặc biệt xây

dựng và củng cố mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình. Đây là mối quan hệ

cơ bản nhất, là cọn đường chính yếu làm cho giáo dục gắn với sự phát triển

lành tế-xã hội và huy động mọi lực lượng xã hội tham gia công tác giáo dục.

Một trong những điểm quan trọng được coi là thuận lợi cơ bản để nhà

trường và gia đình dễ dàng thống nhất với nhau về mục đích, nội dung và

phương pháp giáo dục trẻ em là cả gia đình và nhà trường đều có một nhu cầu

và lợi ích : vI tương lai thế hệ trẻ. Gia đình nào cũng mong muốn con cái chăm

ngoan, học giỏi. Nhà trường nào cũng muốn học sinh học giỏi, ngoan ngoãn.

Từ xưa, cha ông ta đã dạy:

Muốn sang thI bắc cầu kiều Muốn con hay chữ thI yêu lấy thầy

Trong quan niệm của người Việt Nam. dù nghèo cũng cố cho con học

dăm ba chữ để thành người. Muốn con cái thành người, ngoài giáo dục của gia

đình, không thể không coi trọng công sức của thầy cô giáo và nhà trường. Với

truyền thống hiếu học, luôn coi trọng và biết ơn thầy cô giáo và nhà trường, các

bậc cha mẹ học sinh sẵn sàng tham gia vào các nội dung xã hội hóa giáo dục

mà nhà trường giữ vai trò nòng cốt.

Để thực hiện tốt sự phối hợp giữa nhà ưườns và gia đình trong xã hội hóa

giáo dục, cần phải củng cố và phát huy vai trò của gia đình đối với sự nghiệp

giáo dục. Như trên đã đề cập, gia đình là tế bào của xã hội, một thiết chế cơ bản

của xã hội. Xà hội nói chung và giáo dục nói riêns đều tồn tại và phát triển trên

cơ sở bền vững của gia đình. Gia đình là môi trường để trẻ thực hành những

điều đã học ở trường, rèn luyện hành vi...Gia đình có ý nghĩa đặc biệt trong

cuộc sống của mỗi cá nhân. về phương diện giáo dục, gia đình tạo ra môi

trường đảm bảo sự giáo dục. truyền lại cho thế hệ sau những giá trị văn hóa

truyền thống. Gia đình là môi trườns giáo dục đầu tiên của mỗi người, có ý

nghĩa sâu sắc không chỉ khi họ còn bé mà ngay cả khi họ đã trưởng thành.

Song, môi trường gia đình cũng có những hạn chế của nó và hạn chế đó tùy

thuộc vào từng gia cảnh. Một trong những khó khăn lớn của các gia đình là sự

lúng túng về phương pháp giáo dục con cái. Chính vI thế, nhà trường nhất thiết

phải chủ động kết hợp chặt chẽ với gia đình để giải quyết khó khăn này. Nhà

trường phải chủ động phối hợp với gia đình tạo điều kiện tốt nhất để giáo dục

trẻ. Trong quan hệ với gia đình để phối hợp giáo dục trẻ, nhà trường thể hiện

vai trò chủ động của Minh: đi bước đầu tiên đến với gia đình, bước thứ hai là

gia đình đến với nhà trường và bước thứ ba là gia đình cùng nhà trường phối

hợp song song và đồng thời tác động thống nhất đến trẻ theo nội dung và mục

tiêu hai bên đã thỏa thuận.

Để củng cố và phát huy vai trò của gia đình ương xã hội hóa giáo dục, cần

chăm lo xâv dựng, củng cố và phát huy vai ưò của Hội Cha mẹ học sinh. Xã

hội hóa giáo dục chỉ có thể đạt được kết quả khi phát huv được sức mạnh của

cha mẹ học sinh. Hội Cha mẹ học sinh là tổ chức tự nguyện của cha mẹ học

sinh, được thành lập và hoạt động theo Điều lệ Hội Cha mẹ học sinh nhằm đảm

bảo sự cộnơ tác giữa nhà trường và gia đình học sinh được thường xuyên và kết

quả. Hội Cha mẹ học sinh là hình thức tổ chức phối hợp có tầm quan trọng đặc

biệt. Hội Cha mẹ học sinh không chỉ là cầu nối giữa nhà trường và gia đình mà

trong nhiều trường hợp còn là điểm tựa trong quan hệ giữa nhà trường với các

lực lượng xã hội khác ngoài nhà trường. Hội Cha mẹ học sinh là lực lượng xã

hội gần gũi, gắn bó, quan trọng nhất của nhà trường tiểu học, trung học cơ sở,

trung học phổ thông. Hội giúp đỡ rất đắc lực cho sự phát triển của nhà trường.

Cơ sở của sự kết dính này là nhu cầu và lợi ích của gia đình trong việc giáo dục

con cái của các bậc cha mẹ.

Nhiệm vụ của Hội Cha mẹ học sinh là huy động các thành viên tham gia

tích cực vào công tác giáo dục học sinh và thực hiện các nhiệm vụ của gia đình

mà luật pháp quy định. Điều 82 Luật Giáo dục đã khẳng định: cha mẹ hoặc

người giám hộ có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, tạo điều kiện cho con em

hoặc người được giám hộ học tập, rèn luyện, tham gia các hoạt động của nhà

trường. Mọi người trong gia đình có trách nhiệm xây dựng gia đình văn hóa,

tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể

chất, thẩm mỹ của con em; người lớn tuổi có trách nhiệm giáo dục, làm gương

cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.

Để thực hiện nhiệm vụ của Minh, Hội Cha mẹ học sinh phải cùng nhà

trường tuyên truyền phổ biến đường lối, chủ ưương, chính sách giáo dục, làm

cho các hội viên là cha mẹ học sinh hiểu rõ vai trò, nhiệm vụ của Minh trong

công tác giáo dục và quan hệ với nhà trường. Hội cha mẹ học sinh vận động

cha mẹ học sinh, các lực ỉượng xã hội cùng nhà trường quản lý việc học của

con em Minh ở nhà; chăm lo giáo dục đạo đức, nề nếp cho con em khi sống ở

gia đình và địa phương; tham gia xây dựng, bảo vệ cơ sở vật chất, thiết bị của

nhà trường; góp phần cải thiện đời sốns vật chất, tình thần cho thầy cô giáo.

Ngoài ra, Hội Cha mẹ học sinh còn phải đóng góp ý kiến cho nhà trường cũng

như ý kiến về các chủ trương, chính sách giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả

Luật Giáo dục, Luật Chăm sóc và Bảo vệ trẻ em.

Luật Giáo dục cũng chỉ rõ quyền của cha mẹ học sinh là yêu cầu nhà

trường cho biết kết quả học tập, rèn luyện của con em; tham gia các hoạt động

giáo dục theo kế hoạch của nhà trường và các hoạt độn? của cha mẹ học sinh

do nhà trường tổ chức; yêu cầu nhà trường, cơ quan quản lý giáo dục giải quyết

theo pháp luật những vấn đề có liên quan đến việc giáo dục con em.

Như vậy, sự phối hợp tốt giữa nhà trường và Hội Cha mẹ học sinh sẽ làm

tăng tình thần trách nhiệm của các bậc cha mẹ, tăng mối Liên kết giữa nhà

trường-gia đình trong việc giáo dục, tạo động lực cho lao động sư phạm của

giáo viên và tình thần học tập của học sinh, đạt được sự thống nhất tác động

giáo dục của nhà trường và gia đình, huy động các nguồn lực khác nhau từ cha

mẹ học sinh để xây dựng và phát triển nhà trường.

1.6.2. Dân chủ hóa giáo dục

Dân chủ hoa giáo dục là một nội dung rất cơ bản của sự nghiệp đổi mới

giáo dục, biến hệ thống giáo dục và trường học như một thiết chế hành chính

thành một thiết chế hoàn toàn của dân, do dân và vI dân. Dân chủ hóa giáo dục

nhằm xóa bỏ tính khép kín của hệ thống giáo dục trường học, để mọi người có

cơ hội được học tập theo nhu cầu chính đáng của Minh, đồng thời tạo điều kiện

để mọi người thực hiện quyền làm chủ của Minh đối với sự nghiệp dáo dục-đào

tạo.

Dân chủ hóa giáo dục có hai nội dung chính:

-Dân chủ hóa quá trình giáo dục, tức dân chủ hóa mục tiêu, nội dung,

phương pháp, đánh giá giáo dục, thực hiện dân chủ của người dạy và người

học. -Dân chủ hóa quản lý giáo dục, tức là thực hiện quyền dân chủ của nhân

dân trong việc tham gia quản lý sự nghiệp giáo dục.

Theo tình thần dân chủ, trong nhà trường phải đề cao trách nhiệm của tập

thể giáo viên, tôn trọng ý kiến của thầy cô giáo đóng góp vào công tác quản lý

trường học. Mỗi nhà giáo cần nhận thức được rằng, sự lao động sáng tạo và

phát huy tính tích cực của Minh trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh

là nhiệm vụ quan trọng của cuộc vận động dân chủ hóa trường học. Thầy giáo

tôn trọng nhân cách học sinh, lấy việc hình thành nhân cách học sinh làm mục

tiêu cơ bản của quá trình giáo dục-đào tạo, từ đó tích cực đổi mới phương pháp

giảng dạy để phát huy hết năng lực, sở trường của học sinh.

Về phía người học, tình thần dân chủ thể hiện trong việc lựa chọn con

đường học tập, con đường đi đến học vấn, trau dồi nghề nghiệp theo xu hướng

lập thân, lập nghiệp của Minh. Người học tự xác định mục tiêu giáo dục, tự

chọn trường, chọn lớp, chọn thầy, lựa chọn nội dung học vấn và tài IIệu, lựa

chọn phương pháp học tập thích hợp, tham gia vào quá trình đánh giá kết quả

học tập và rèn luyện của Minh. Người học tích cực, chủ động tham gia học tập,

biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. Dân chủ nhưng người học

phải tôn trọng thầy giáo, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy nhà trường, như lời

dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "dân chủ nhưng trò phải kính thầy, thầy phải

quý trò". [11-tr.258]

Tư tưởng dân chủ hóa giáo dục đã được thể hiện từ rất sớm trong các chủ

trương, đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước. Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã mong ước làm sao để " ...đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc,

ai cũng được học hành". Nghị quyết TƯ II khóa 8 khẳng định: Thực hiện nền

giáo dục của dân, do dân và vI dân.

Dân chủ hóa giáo dục và xã hội hóa giáo dục có mối quan hệ gắn bó mật

thiết với nhau. Có thể nói rằng, xã hội hóa giáo dục là một con đường để thực

hiện dân chủ hóa giáo dục và nội dung dân chủ hóa giáo dục chỉ ra con đường

xã hội hóa giáo dục. Dân chủ hóa giáo dục sẽ tạo điều kiện để mỗi người dân

có điều kiện biết rõ các thông tin về hoạt động giáo dục, tham gia tích cực vào

sự nghiệp giáo dục; xã hội hóa giáo dục làm cho quá trình dân chủ hóa giáo

dục thuận lợi hơn. Dân chủ hóa dáo dục đảm bảo quyền được học của tất cả

mọi người dân; phổ cập giáo dục đúng độ tuổi cho nhân dân; phát huy tối đa

năng lực, sức sáng tạo, khả năng đóng góp tình thần, vật chất của mọi người

cho sự nghiệp phát triển giáo dục.

Dân chủ hóa giáo dục đảm bảo quyền làm chủ nhà trường của thầy giáo

và học sinh, làm cho hoạt động dạy và học của thầy và trò ngày càng chất

lượng và hiệu quả.

1.6.3. Đa dạng hóa giáo dục

Trước xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật thế giới và yêu

cầu đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước, sự nghiệp giáo dục cũng phải phát triển theo hướng mở rộng quy mô,

nâng cao chất lượng, hiệu quả, thực hiện mục tiêu dân trí, nhân lực, nhân tài.

Yêu cầu của giáo dục-đào tạo trong điều kiện xây dựng kinh tế thị trường là

đào tạo những người có đầy đủ năng lực để đáp ứng những yêu cầu nghiêm

khắc của thị trường. Đó là những người có năng lực cạnh tranh, năng lực khoa

học công nghệ, năng lực tIm tòi, sáng chế, phát Minh, có lối sống năng động,

tự chủ, sáng tạo, có khả năng tIm việc làm và làm việc với năng suất, chất

lượng và hiệu quả cao, phấn đấu vI mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội

công bằng, dân chủ, văn Minh". Giáo dục trong điều kiện xây dựng kinh tế thị

trường là đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho tất cả các thành phần kinh tế.

Nước ta từ chỗ chủ yếu chỉ có hai thành phần kinh tế là kinh tế Nhà nước và

kinh tế tập thể đã chuyển sang nền kinh tế có nhiều thành phần. Giáo dục-đào

tạo cũng phải hướng đến đào tạo nguồn nhân lực cho tất cả các thành phần kinh

tế, phải tạo ra thị trường lao động có chất lượng cao về mọi mặt. "Đầu ra" của

giáo dục không phải chỉ vào "biên chế", thành "công chức" Nhà nước mà là đội

ngũ lao động chủ lực ở mọi thành phần kinh tế khác nhau. Điều đó tất yếu dẫn

đến sự đa dạng hóa các loại hình đào tạo.

Có hai nội dung cơ bản nhất của đa dạng hóa giáo dục là đa dạng hóa mục

tiêu đào tạo và đa dạng hóa nguồn đầu tư cho giáo dục. Bên cạnh các trường

học công lập là hệ thống trường bán công dân lập, tư thục. Ngoài hệ thốnơ

trường dạy nghề công lập, là các trung tâm dạy nghề tại các địa phương của các

đoàn thê, tô chức, xã hội, tư nhân. Cùng với các trung tâm giáo dục thường

xuyên là sự hình thành và phát triển các trung tâm học tập cộng đồng... Các

hình thức học tại chức, học từ xa, tự học trên mạng, tự học qua các hệ thống

thông tin cũns nsày càng phát triển, tiến tới xây dựng một xã hội học tập, nhà

nhà học tập, hình thành ý thức học tập thường xuyên, học tập suốt đời trong

nhân dân.

1.6.4. Đại hội Giáo dục các cấp

Thực hiện xã hội hóa giáo dục bằng con đường Đại hội Giáo dục các cấp

nhằm tạo lập phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội, vận động toàn dân

thực hiện học tập suốt đời, tiến tới xây dựng một xã hội học tập. Bằng Đại hội

giáo dục, các quan điểm đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà nước đã đến với

từng gia đình, từng người dân ngay tại phường, xã. Truyền thống hiếu học, tôn

sư trọng đạo của dân tộc được khơi dậy và phát huy. Nhận thức của mọi thành

viên trong xã hội về vị trí, vai trò của giáo dục-đào tạo đối với sự phát triển của

đất nước, của địa phương, của mỗi dòng họ, mỗi gia đình được nâng cao.

Người dân càng thấy rõ hơn đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, chất

lượns nsuồn lực con người là nhân tố quyết định tạo ra nội lực cho sự phát triển

của đất nước. Muốn phát triển giáo dục phải huy động: mọi nguồn lực của xã

hội, phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục nhà trường, dáo dục gia đình và

giáo dục xã hội.

Đại hội giáo dục các cấp làm cho cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành,

đoàn thể và nhân dân hiểu rõ thực trạng của giáo dục địa phương, thấy rõ hơn

mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển giáo dục với điều kiện, khả năng có hạn cho

sự phát triển giáo dục. Qua đó, nhân dân càng hiểu rõ: muốn phát triển giáo

dục, bên cạnh ngân sách Nhà nước, cần huy động sự đóng góp về nhân lực, tài

lực, vật lực của toàn dân.

Đại hội giáo dục cũng là diễn đàn để nhân dân địa phương tham gia xây

dựng và phát triển giáo dục, làm cho giáo dục đáp ứng nhu cầu của nhân dân,

phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế-xã hội. Tại diễn đàn này, người dân được

biết về chương trình, kế hoạch giáo dục-đào tạo và tham gia, góp ý, kiểm tra

các chương trình, kế hoạch đó.

Đại hội giáo dục các cấp là một biện pháp tổng hợp để thực hiện xã hội

hóa giáo dục. So với các con đường thực hiện xã hội hóa giáo dục đã nêu trên,

việc thực hiện xà hội hóa giáo dục bằng con đường Đại hội giáo dục các cấp có

ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Nó không chỉ phát huy được quyền làm chủ của nhân

dân trong xây dựng, phát triển giáo dục địa phương, thực hiện "Dân biết, dân

bàn, dân làm, dân kiểm tra" trong giáo dục, mà còn đảm bảo tính dân chủ xã

hội chủ nghĩa trong giáo dục, phá thế đơn độc của giáo dục, phù hợp với hoàn

cảnh thực tế hiện nay của các địa phương, phù hợp với tính xã hội của công tác

giáo dục và cơ chế "Đảng lãnh đạo-Nhà nước quản lý- Nhân dân làm chủ"

trong xây dựng và phát triển giáo dục.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG

GIÁO DỤC Ở QUẬN 12

2.1.VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN QUẬN 12

Quận 12 thành phố Hồ Chí Minh được thành lập theo Nghị định 03-CP

ngày 6-1-1997 của Chính phủ trên cơ sở toàn bộ diện tích của các xã Thạnh

Lộc, An Thơi Đông, Tân Thơi Hiệp, Đông Hưng Thuận, Tân Thơi Nhất và một

phần của hai xã Tân Chánh Hiệp, Trung Mỹ Tây thuộc huyện Hóc Môn trước

đây. Hiện nay quận 12 có 10 phường là An Phú Đông, Đông Hưng Thuận, Tân

Thơi Nhất, Tân Chánh Hiệp, Thạnh Lộc, Thạnh Xuân, Tân Thơi Hiệp, Hiệp

Thành, Thơi An và Trung Mỹ Tây. Tổng diện tích đất tự nhiên là 5.205 ha, dân

số 176.797 người.

Trong lịch sử mở cõi của người Việt, vùng đất Hóc Môn-Bà Điểm được

khai phá từ rất sớm. Ngay từ năm 1623, khi Chúa Nguyễn lập đồn thu thuế thI

cư dân sống tại vùng này đã khá đông. Dưới thời chúa Nguyễn và triều

Nguyễn, Hóc Môn thuộc huyện Tân Bình vào năm 1698. Khi huyện Tân Bình

đổi thành phủ (vào năm 1808) gồm 4 huyện thI Hóc Môn thuộc huyện Bình

Dương. Năm 1841, khi nhà Nguyễn lập huyện Bình Long thI Hóc Môn thuộc

huyện mới này. Sau khi chiếm Nam Bộ, thực dân Pháp đặt ra các đơn vị hành

chính mới trên vùng đất chúng cai trị gọi là hạt rồi hạt tham biện. Hóc Môn

thuộc hạt tham biện Sài Gòn. Dù thuộc hạt tham biện Sài Gòn nhưns Hóc Môn

vẫn là vùng nông thôn. Chính quyền thuộc địa xây dựng quốc lộ 22 chạy qua

Hóc Môn lên Tây Ninh, sang Phnôm Pênh phục vụ chính sách bóc lột thuộc

địa. Khi Mỹ xâm lược nước ta bằng chính sách thực dân mới tại miền Nam,

chúng cho xây dựng xa lộ Đại Hàn (ngày nay gọi là xa lộ vành đai ngoài) chạy

ngang qua huyện Hóc Môn từ Đông sang Tây. Nhiều Liên tỉnh lộ nối Sài Gòn

với các tỉnh miền Đông cũng được xây dựng nhưng tất cả các công trình dao

thôns này chỉ nhằm phục vụ các mục tiêu chiến lược của Mỹ và chính quyền

ngụy chứ không phải để đô thị hóa và phát triển kinh tế vùng Tây Bắc Sài Gòn.

Lịch sử của vùng đất này trong hơn 100 năm qua đã khẳng định truyền thống

anh hùng cách mạng và truyền thống hiếu học của nhân dân địa phương. Đây là

vành đai đỏ của cách mạng với nhiều địa danh đã đi vào lịch sử như Bà Điểm-

An Phú Đông... [74- Tr.340]

Nằm ở cửa ngõ Tây Bắc thành phố Hồ Chí Minh, quận 12 đang trên đà đô

thị hóa nhanh chóng. Khi chuyển từ một vùng nông thôn nghèo sang quận nội

thành, quận 12 gặp không ít khó khăn. Riêng về mặt giáo dục-đào tạo, quận 12

đứng trước mâu thuẫn rất lớn là sự mất cân đối nghiêm trọng về mạng lưới

trường lớp so với yêu cầu phát triển giáo dục ngày một tăng, phù hợp với sự

phát triển kinh tế-xã hội của địa phương và thành phố. Hệ thống trường lớp, cơ

sở vật chất, thiết bị dạy học... thiếu thốn và xuống cấp nghiêm trọng. Nhiều

trường học không có thư viện, phòng thí nghiệm, phòng bộ môn và các phòng

chức năns khác. Cơ sở vật chất không đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

2.2. NHẬN THỨC CỦA CÁC CÁP, CÁC NGÀNH TRONG QUẬN

12 VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

Xác định chọn giáo dục là khâu đột phá then chốt, là nền tảng phát triển

kinh tế-xã hội của một quận đang trên đà đô thị hóa, Đảng bộ và nhân dân quận

12 đã nhận thức rõ: đê giải quyết bài toán giáo dục, cần đẩy mạnh xã hội hóa

giáo dục. Sau khi thành lập quận, một trong những nghị quyết sớm nhất của

Quận ủy quận 12 là Nghị quyết về Chương trình hành động của toàn Đảng bộ

và nhân dân quận thực hiện Nghị quyết TƯ II về công tác giáo dục-đào tạo.

Căn cứ vào tình hình thực tiễn của một quận mới thành lập, Quận ủy, Hội đồng

nhân dân, ủy ban nhân dân quận 12 đã xác định 4 chương trình trọng tâm:

chương trình phổ cập trung học cơ sở; chươns trình bồi dưỡng, nâng cao chất

lượng giảng dạy của giáo viên; chương trình bồi dưỡng, nâng cao chất lượng

giáo dục và học tập; chương trình nâng cấp, sửa chữa, xây dựng mới cơ sở vật

chất trường học.

Chương trình hành động vI giáo dục-đào tạo của quận 12 vào tháng 6-

1997 khẳng định nhận thức sâu sắc của cấp ủy Đảng, chính quyền quận về vai

trò của giáo dục-đào tạo đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, về sự phát triển

của giáo dục trong xu thế phát triển của đất nước, của thời đại. Từ quan điểm

chỉ đạo của Đảng bộ quận 12, nhận thức của các đoàn thể, các tầng lớp nhân

dân về xã hội hóa giáo dục ngày càng sâu rộng và đồng bộ. Nhân dân thấy rõ

tầm quan trọng của giáo dục đối với tương lai, hạnh phúc của dân tộc và mỗi

người phải chủ động, tự nguyện tham gia đóng góp tài lực, vật lực để phát triển

giáo dục.

Kết quả khảo sát 100 phiếu trưng cầu ý kiến, trong đó có 62 cán bộ quản

lý giáo dục đang công tác tại quận 12 (từ Trưởng, Phó Phòng GD-ĐT quận,

chuyên viên phụ trách các ngành học của Phòng GD-ĐT, đến Hiệu trưởng,

Hiệu phó các trường Trung học phổ thông, Trung học cơ sở, Tiểu học, Mầm

non, Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trường Khuyết tật, Trung tâm dạy

nghề); lo nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đã nghỉ hưu; 16 đồng chí lãnh đạo

các đoàn thể (Công đoàn giáo dục, Hội Khuyến học, Hội cha mẹ học sinh, Hội

Phụ nữ, Hội Cựu chiến bình);12 đồns chí lãnh đạo Đảng và chính quyền quận

12 cho thấy:

2.2.1. Nhận thức về xã hội hóa giáo dục

Khảo sát về quan niệm thế nào là xã hội hóa hoạt động giáo dục:

Qua số liệu khảo sát cho thấy, đại đa số ý kiến được hỏi cho rằng xã hội

hóa giáo dục không chỉ là huy động đóng góp tiền của xây dựng cơ sở vật chất

cho giáo dục, mà là phát huy mọi khả năng có thể của toàn dân, toàn xã hội

tham gia làm giáo dục; tổ chức tốt mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã

hội; phát huy trách nhiệm, vai trò của nhà trường đối với xã hội.

Khảo sát về ý nghĩa, tầm quan trọng của xã hội hóa hoạt động giáo dục:

Như vậy có thể thấy, đa số đối tượng được khảo sát cho rằng xã hội hóa

giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với phát triển kinh tế-xã hội của địa

phương quận 12.

2.2.2. Nhận xét về các giải pháp thực hiện xã hội hóa hoạt động

giáo dục

Đa số các đối tượng được khảo sát cho rằng 6 biện pháp có tác dụns nhất

để thực hiện xã hội hóa giáo dục có hiệu quả. bao gồm:

Trong những giải pháp trên, các giải pháp 1,2.3.4 được nhiều ý kiến cho

rằng hiệu quả nhất.

2.3.THỰC TRẠNG VIỆC TRIỂN KHAI XÃ HỘI HÓA HOẠT

ĐỘNG GIÁO DỤC TẠI QUẬN 12, THÀNH PHÔ Hồ CHÍ MINH

Hơn 4 năm qua, dưới sự quan tâm, lãnh đạo của Quận ủy và Hội đồng

Nhân dân, sự chỉ đạo trực tiếp sát sao của ủy ban Nhân dân quận 12, sự chủ

động tích cực tham mưu làm nòng cốt của ngành giáo dục-đào tạo địa phương,

xã hội hóa giáo dục ở quận 12 đã trở thành phong trào sâu rộng lôi cuốn sự

tham gia nhiệt tình của các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể, các tổ chức xã hội,

các cộng đồng dân cư, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, gia đình, cha mẹ học

sinh ...(Chúng tôi sẽ phân tích cụ thể kết quả xã hội hóa hoạt động giáo dục ở

quận 12 trong phần dưới của luận án). Đã xuất hiện nhiều nhân tố mới. sáng tạo

trong việc tIm tòi cách thức tổ chức thực hiện nhằm phát huy nội lực của nhân

dân để mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng giáo dục: Hội Khuyên học

phường Thạnh Xuân tổ chức Liên hoan ca nhạc gây quỹ khuyến học, khuyến

tài; Ban Điều hành khu phố 4 phường Đông Hưng Thuận giúp 2 học sinh

nghèo mỗi tháns 5 kg gạo; Đoàn Thanh niên phường Thạnh Lộc vận động 187

học sinh bỏ học trở lại lớp; nhóm "Huynh đệ bằng hữu" ở khu phố I phường An

Phú Đông xây dựng lớp học tình thương, hỗ trợ tập viết cho trẻ em nghèo;

phường Hiệp Thành nêu quyết tâm xây dựng phường đạt chuẩn "5 không"

(không có trẻ em không được chăm sóc, không có trẻ em mẫu giáo không được

đến trường, không có học sinh lưu ban bỏ học, không có học sinh nghiện ma

túy và mắc tệ nạn xã hội, không có người trên địa bàn không biết chữ)...

Nhiều cá nhân, tập thể không chỉ góp tiền của xây dựng quỹ giáo dục, mà

còn hiến cả chục ngàn m2 đất xây dựng trường học như các cựu chiến bình ở

phường Thơi An hiến 5.430 m , ông Nguyễn Văn Ngữ hiến 6.000 m2... Đó là

những biểu hiện sinh động phát huy truyền thống hiếu học, tôn sư trong đạo

của dân tộc, tạo nên hình ảnh đẹp trong cuộc sống đang có nhiều thách thức

gay gắt của cơ chế thị trường hiện nay.

2.3.1. Những giải pháp đã và đang thực hiện

Như phần trên đã đề cập, là một quận mới thành lập, đang trên đà đô thị

hóa với tốc độ cao, giáo dục-đào tạo quận 12 đứng trước nhiều thử thách rất

lớn: đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân với điều

kiện cơ sở vật chất trường lớp vừa thiếu thốn vừa xuống cấp nghiêm trọng;

mâu thuẫn giữa yêu cầu phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học

cơ sở, phổ cập giáo dục trung học phổ thông với điều kiện thực hiện các yêu

cầu đó; mâu thuẫn giữa cơ cấu kinh tế-xã hội và cơ cấu giáo dục, giữa đòi hỏi

phát triển cơ cấu lao động và cơ cấu đào tạo, giữa đào tạo và sử dụng, giữa yêu

cầu giáo dục toàn diện với số lượng và cơ cấu đội ngũ giáo viên, giữa mong

muốn phát triển giáo dục thật nhanh và chính sách đầu tư cho giáo dục, giữa

yêu cầu phát triển số người đi học và khả năng đảm bảo chất lượng giáo dục.

Từ thực tế như vậy, Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân quận

12 và các phường đã ra các văn bản chỉ đạo phát triển giáo dục địa phương với

mục tiêu, biện pháp thiết thực, đẩy mạnh phong trào xã hội hóa giáo dục, động

viên toàn xã hội tham gia, chăm lo phát triển giáo dục.

a) Ngành giáo dục-đào tạo quận 12 làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy

và chính quyền:

Để cấp ủy Đảng, chính quyển địa phương nắm sát tình hình, lãnh đạo và

chỉ đạo tốt công tác giáo dục, ngành giáo dục-đào tạo đóng vai trò nòng cốt,

tích cực tham mưu cho Quận ủy, ƯBND quận đưa mục tiêu phát triển giáo dục

địa phương vào nghị quyết và chương trình hành động cụ thể. vấn đề giáo dục

ưở thành một trong những nội dung quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch

phát triển kinh tế-xã hội của các cấp ủy Đảng và chính quyền, thường xuyên

được đưa vào các hội nghị, giao ban thường kỳ của cấp ủy, chính quyền địa

phương. Một số phường trong quận 12 đã duy trI chế độ kiểm điểm đánh 2Iá

việc thực hiện lãnh đạo của các chi bộ, đảng bộ đối với giáo dục, coi nhiệm vụ

thực hiện các chỉ tiêu trong các nghị quyết về giáo dục-đào tạo là tiêu chuẩn

đánh giá xếp loại đảng viên và các chi bộ, đảng bộ.

Để chủ động tích cực thực hiện nhiệm vụ chính trị của Minh, biến sự

chăm lo của toàn xã hội với giáo dục thành hiệu quả thiết thực, đem lại niềm

tin cho nhân dân, ngành giáo dục phối hợp với Ban tuyên giáo giúp cấp ủy

trong việc ra nghị quyết về giáo dục cũng như hướng dẫn, quán triệt, triển khai

nghị quyết trên địa bàn quận. Mỗi khi Đảng bộ bàn và ra nghị quyết về giáo

dục thI ngành giáo dục quận 12 chuẩn bị báo cáo và dự thảo nghị quyết, trong

đó nêu rõ phương hướng, giải pháp lớn về từng mặt chuyên môn, tư tưởng, tể

chức cán bộ. công tác Đảng, công tác quần chúng. Để đảm bảo Nghị quyết

được thực hiện, ngành giáo dục cũng nêu rõ các điều kiện về nhân tài, vật lực,

các chính sách, chế độ... đồng thời kiên nghị các chủ trương, giải pháp mà Uy

ban Nhân dân, Hội đôns Nhân dân, các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội

cần bàn bạc, cụ thể hóa. Dưới sự chỉ đạo, điều hành của ủy ban nhân dân,

ngành giáo dục chịu trách nhiệm thực hiện các quyết định về giáo dục của cấp

ủy và chính quyền địa phương theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của

Minh.

Để thực hiện tốt hoạt động xã hội hóa giáo dục, ủy ban nhân dân quận 12

đã ra chỉ thị về việc "Tổ chức và hoạt động của hội đồng giáo dục các cấp",

"Về việc tổ chức Đại hội giáo dục cấp cơ sở", "Hội nghị xã hội hóa giáo dục

lần thứ I", "Hội nghị xã hội hoa giáo dục lần thứ II", "Về việc thành lập Hội

Khuyến học quận 12"...

b) Ngành giáo dục-đào tạo quận 12 vận động các lực lượng trong xã hội

tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục-đào tạo:

Phát huy vai trò nòng cốt của Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và

chính quyền quận, Phòng Giáo dục-đào tạo quận 12 đã chủ động Liên kết, phối

hợp với các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội thực hiện các mục tiêu

nhiệm vụ đề ra.

* Phối hợp với Hội Cha mẹ học sinh, huy động được đông đảo cha mẹ học

sinh tham gia vào các hoạt động kết hợp với nhà trường, đóng góp tình thần và

vật chất cho công tác giáo dục, đáp ứng yếu cầu thiết thực của nhà trường. Bên

cạnh công việc quan trọng nhất là cộng đồng trách nhiệm với nhà trường về

việc học hành, rèn luyện nhân cách đạo đức và chăm lo điều kiện học tập cho

con em, Hội cha mẹ học sinh là lực lượng nòng cốt trong việc vận động thực

hiện Quỹ Bảo trợ giáo dục quận 12 nhằm khen thưởng học sinh giỏi, khuyến

khích tài năng trẻ, hỗ trợ học sinh nghèo, khen thưởng động viên các nhà giáo

tận tụy với nghề. Mỗi năm, Hội cha mẹ học sinh quận 12 và Hội cha mẹ học

sinh các trường trong quận huy động và sử dụng hơn 1 tỷ đồng tiền đóng góp

của cha mẹ học sinh.

* Phối hợp với Hội Phụ nữ trong việc huy động trẻ đến trường, thực hiện

phổ cập Tiểu học, Trung học cơ sở, vận động nhân dân, chị em phụ nữ thực

hiện nếp sống văn Minh, gia đình văn hóa, biểu dương các gương điển hình

trong việc chăm sóc, nuôi dạy con tốt. Hội phụ nữ quận 12 và Hội phụ nữ các

phường trong quận tích cực tham gia vận động, tổ chức các lớp phổ cập cho

các em học sinh khó khăn phải bỏ học được tiếp tục đi học, đồng thời vận động

thanh thiếu niên đến các lớp xóa mù chữ. Nhằm mục đích giúp đỡ các gia đình

có hoàn cảnh khó khăn có điều kiện cho con em đi học, giảm tỷ lệ học sinh bỏ

học, Hội Phụ nữ quận 12 đi sâu đi sát từng gia đình, kịp thời đề xuất chính sách

miễn giảm học phí, đóng góp quỹ xây dựng cơ sở vật chất...đồng thời tạo điều

kiện giúp đỡ chị em phụ nữ làm kinh tế gia đình, góp phần xóa đói giảm nghèo,

nâng cao mức sống cho các gia đình. Ngoài ra, các cấp Hội Phụ nữ còn tạo điều

kiện cho hàng nghIn học sinh nghèo hiếu học được tiếp tục đến trường thông

qua việc cấp học bổng mang tên Nguyễn Thị Minh Khai...

* Phối hợp ủy ban Dân số, gia đình và trẻ em vận động toàn xã hội bảo vệ,

chăm sóc trẻ em, tuyên truyền sâu rộng đến từng hộ gia đình về Luật Bảo vệ,

Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, Luật Giáo dục, Quyền trẻ em; quan tâm đảm bảo

quyền lợi học tập của các em, chăm lo sức khỏe của trẻ em, chống suy dinh

dưỡng, chống béo phI ở độ tuổi mầm non, mẫu giáo, tổ chức vận động giúp đỡ

trẻ lang thang cơ nhờ theo học trong các lớp học tình thương, góp phần thực

hiện xóa mù chữ, phổ cập Tiểu học và Trung học cơ sở, tiến tới phổ cập giáo

dục phổ thông.

* Phối hợp Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tuyên truyền tác

động tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức của Đoàn viên và thanh niên

trong quận 12 về ý nghĩa, chủ trương xã hội hóa giáo dục; phát động phong

trào tự học sâu rộng trong các tầng lớp thanh niên, thực hiện cuộc vận động

Thanh thiếu niên hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục, xóa mù chữ cho

thanh niên nghèo, tuyên dương và nhân rộng các điển hình xuất sắc trong học

tập. Nhiều hoạt động của tổ chức Đoàn đã bước đầu khai thác và sử dụng có

hiệu quả những nguồn lực vốn có của thanh niên trong các hoạt động giáo dục.

"Chiến dịch tình nguyện mùa hè xanh" đã thu hút nhiều bạn trẻ tham gia đứng

lớp phổ cập, xóa mù chừ cho hàng trăm thanh niên nghèo thất học. Đoàn thanh

niên vận động chăm lo các đối tượng thanh niên nghèo, thất học, hoàn cảnh

khó khăn có điều kiện đi học; tổ chức các hoạt động tư vấn, hướng nghiệp

trong thanh niên phù hợp với cơ cấu kinh tế và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát

triển kinh tế-xã hội của địa phương, thành phố và đất nước trong thời gian tới.

Ngành giáo dục phối hợp với Đoàn Thanh niên giáo dục truyền thống hiếu học

của dân tộc, ý chí tự lực, tự cường không cam chịu đói nghèo, lạc hậu của nhân

dân ta nhằm thúc đẩy động cơ học tập và động viên tình thần nỗ lực học tập

của thanh thiếu niên trong quận. Công trình "Bê tông hóa cầu khỉ ở chiến khu

An Phú Đông" của Đoàn thanh niên quận 12 có ý nghĩa rất thiết thực, tạo điều

kiện thuận lợi cho các em học sinh tới trường.

* Phối hợp Hội Cựu chiến bình thực hiện tốt công tác giáo dục truyền

thống, làm nòng cốt cho các hoạt động giáo dục trẻ trên địa bàn tổ dân phố, khu

phố. Đến quận 12, nhiều người được nghe nói về những "tấm lòng vàng" của

những người lính già đà cốns hiến tuổi xuân cho độc lập tự do của Tổ quốc.

nay lại tiếp tục cống hiến hết sức Minh cho sự nghiệp giáo dục. Để góp phần

phát triển cơ sở vật chất trường học cho các cháu học sinh, tập thể 20 sĩ quan

quân đội định cư ở phường Thơi An đã hiến 5.430 m2 đất xây trường học cho

các cháu mẫu giáo...

Như phần trên đã đề cập, sau khi thành lập quận mới, cơ sở vật chất

trường lớp của quận 12, trong đó đặc biệt là phường Thới An rất thiếu thốn.

Toàn phường Thới An không có một trường phổ thông nào nên học sinh tiểu

học và trung học cơ sở phải sang các trường tân Thới Hiệp1 và Tân Thơi Hiệp

2 ở phường Tân Thơi Hiệp và Hiệp Thành để học. ở bậc mầm non thI Trường

mầm non Họa Mi 1 cũ đã quá tải, không đủ chỗ cho các cháu. Để tặng khu đất

rộng xây trường mới cho các cháu mầm non, các cựu chiến bình phường Thới

An đã không ngần ngại chặt đi cả vườn cây ăn trái đang mùa ra quả. Trường

Mầu giáo Họa Mi I mới khang trang đã được xây dựng, là một trong những

ngôi trường mầm non đẹp và hiện đại nhất của quận 12 và thành phố Hồ Chí

Minh.

* Phối hợp Liên đoàn Lao động nâng cao trình độ văn hóa, tay nghề, cho

công nhân; thực hiện kế hoạch đào tạo và đào tạo lại đội ngũ công nhân lao

động trên địa bàn quận; huy động Quỹ học bổng Nguyễn Đức Cảnh chăm lo

con em công nhân viên, người lao động tại các tổ chức công đoàn cơ sở khắc

phục khó khăn, học giỏi. Nhằm tạo cơ hội cho công nhân viên nghèo, trong đó

có đội ngũ giáo viên có thu nhập thấp có nhà ở, Liên đoàn Lao động quận 12

kiến nghị quận 12 dành quỹ đất, huy động nhiều nguồn tài chính thực hiện đề

án bán nhà trả góp cho giáo viên, công nhân nghèo để họ có điều kiện chăm lo,

giáo dục con em tốt.

* Phối hợp Hội Khuyến học tổ chức nhiều hoạt động toàn diện và có hiệu

quả, thực hiện tốt việc Liên kết hoạt động với các đoàn thể, các tổ chức xã hội,

tạo sức mạnh tổng hợp trong việc hỗ trợ các hoạt động giáo dục. Hội Khuyến

học tích cực vận động các nguồn tài trợ trong và ngoài nước hỗ trợ cho các

hoạt động giáo dục: xây dựng trường, lớp; vận động trẻ em đến trường, hỗ trợ

các gia đình khó khăn để học sinh không bỏ học, tổ chức các lớp học tình

thương; cấp học bổng khuyến học, khuyến tài cho học sinh, sinh viên; hỗ trợ

thầy cô giáo có hoàn cảnh khó khăn học tập nâng cao trình độ... Hội Khuyến

học tổ chức vận động từng gia đình, từng người dân, từng tổ chức xã hội tham

gia và đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, tiến tới xây dựng một xã hội học tập.

Thực tế, khuyến học với từng gia đình, từng dòng họ là mô hình tối ưu để tiến

hành xã hội hóa giáo dục ở quận 12. Hoạt động khuyến học tạo ra sự nhất trí

trong mỗi dòng họ, trong sự hòa hợp cộng đồng, là sức mạnh đảm bảo cho sự

bình yên xóm làns. cho khối đoàn kết xã hội, giữ gIn an ninh địa phương, góp

phần khôi phục và chấn hưng văn hóa dân tộc.

* Phối hợp các cơ sở sản xuất kinh doanh, các nhà đầu tư, đơn vị kinh tế

hỗ trợ kinh phí xây dựng phát triển cơ sở vật chất trường lớp, hỗ trợ học bổng

cho học sinh, thanh niên nghèo có điều kiện học tập. học nshề. Nhiều công ty,

xí nghiệp rít hăng hái đóng góp vật chất xây dựng trường lớp như Công ty bia

Việt Nam tài trợ 500 triệu đồng xây dựng trường mẫu giáo; Công ty Dệt Thái

Tuấn ủng hộ 100 triệu đồng; công ty Xây dựng Thanh niên xây tặns quận 7

phòns học trị giá hơn 500 triệu đồng; Công ty Đông Hưng xây tặng 7 phòng

học ở Trường Phan Bội Châu và Trườns Đông Hưng Thuận 1; Công ty Minh

Trung tặng 500 triệu đồng xây 1 trường tiểu học...

* Phối hợp ngành y tế phát triển hoạt động y tế học đường, tích cực kiểm

tra đôn đốc việc thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm, chống ngộ độc thực

phẩm trong nhà trường và công tác chăm sức khỏe cho các cháu nhà trẻ, mẫu

giáo, giáo viên và học sinh.

* Phối hợp ngành văn hóa thông tin và thể dục thể thao tổ chức các lớp

nâng cao trình độ, chuẩn hóa giáo viên thể dục để phát triển toàn diện cho học

sinh; tổ chức các hội thao, Hội khỏe Phù Đổng, các hoạt động văn hóa trong

học đường để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa và rèn luyện thân thể cho học

sinh; thông tin tuyên truyền vận độns nhân dân tham gia CÔĨ12 tác dáo dục-

đào tạo, đặc biệt tuyên truyền đến học sinh tác hại của ma tuy, tệ nạn xã hội,

văn hóa độc hại.

* Phối hợp ngành công an trong việc giáo dục, uốn nắn những học sinh cá

biệt, chậm tiến, chưa ngoan nhằm hạn chế tối đa tỷ lệ lưu ban, bỏ học. Ngành

công an tổ chức các lớp tập huấn về công tác bảo vệ giữ gìn an ninh, trật tự

trong nhà trường, phòng chống cháy nổ cho các trường học.

* Phối hợp ngành tư pháp tổ chức các chuyên đề pháp luật sinh động để

giáo dục pháp luật cho học sinh một cách có hiệu quả, từ đó ảnh hưởng tích cực

đến toàn xã hội.

* Phối hợp với ngành lao động-thương bình và xã hội quan tâm chăm lo

con em gia đình diện chính sách, gia đình có hoàn cảnh khó khăn lập thủ tục

miễn giảm học phí và các khoản đóng góp cho các em.

* Phối hợp với Ban Chỉ đạo xóa đói giảm nghèo tham mưu cho ủy ban

Nhân dân quận chỉ đạo các phường, các trường học lập danh sách học sinh

thuộc hộ xóa đói giảm nghèo, thực hiện chế độ miễn giảm học phí, các khoản

đóng góp, giúp trẻ em nghèo được đến trường .

* Phối hợp Mặt trận Tổ quốc thực hiện tốt cuộc vận động "Toàn dân đoàn

kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư" nhằm tạo môi trường xã hội lành

mạnh cho xã hội hóa và phát triển giáo dục. Mặt trận tổ quốc vận động các tổ

chức đoàn thể và các tầng lớp nhân dân tích cực chăm lo xây dựng, phát triển

sự nghiệp giáo dục-đào tạo.

* Phối hợp với Hội Nông dân tuyên truyền trong nông dân về yêu cầu của

công tác giáo dục, hô trợ học bống cho học sinh lớp phố cập lớn tuổi, thực hiện

chương trình trợ vốn, xóa đói giảm nghèo cho nông dân, góp phần tạo điều

kiện cho con em nông dân đi học.

* Phối hợp các tổ dân phố thực hiện tốt côns tác quản lý trẻ em ở địa

phương, vận động các gia đình cho con em đến trường, tạo điều kiện cho các

em học tập tốt, giữ gIn đạo đức, xây dựng nếp sống văn Minh tại gia đình và

khu phố. Đây là đòn bẩy làm chuyển biến giáo dục gia đình phù hợp với nếp

sống đô thị, thực hiện tiến độ phổ cập giáo dục trên địa bàn dân cư, đảm bảo

việc huy động trẻ đến trường đúng độ tuổi, giảm tỷ lệ lưu ban, bỏ học, phòng

chống các tệ nạn xà hội, nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ.

c) Góp phần vào việc tổ chức thực hiện dân chủ hóa nhà trường, dân chủ

hóa quá trình đào tạo:

Thực hiện Chỉ thị của Bộ Giáo dục-Đào tạo và công văn hướng dẫn của

Công Đoàn ngành giáo dục Việt Nam về việc mở Đại hội công nhân viên chức,

dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phòng GD - ĐT quận 12, hàng năm các trường

học trên địa bàn quận đều tổ chức đại hội công nhân viên chức. Tại các đại hội

công nhân viên chức, lãnh đạo các trường học đã chú trọng phát huy dân chủ

trong quản lý giáo dục, đặc biệt trong quản lý thu chi, sử dụng và bảo quản cơ

sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị giáo dục, quản lý và xây dựng môi trường

giáo dục lành mạnh; huy động sự tham gia của tập thể sư phạm nhà trường

trong việc xây dựng kế hoạch, đề xuất các giải pháp khả thi để giải quyết các

vấn đề có Liên quan đến nhà trường cũng như quyền lợi, nghĩa vụ của các thầy

cô giáo, nhân viên trong trường học; chăm lo cải thiện đời sống tình thần, vật

chất để đảm bảo cuộc sống cho đội ngũ giáo viên, giúp họ tập trung sức lực, trí

tuệ cho việc nâng cao chất lượng dạy và học.

Ngoài việc đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động nhà

trường, công tác bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, công tác giáo dục

chính trị tư tưởng cũng được quan tâm nhằm nâns cao nhận thức, niềm tin và

hướng hành độns ctâIầội ngũ giáo viên, cán bộ công chức trong ngành giáo dục

tại địa phương vào việc thực hiện mục tiêu, định hướng phát triển sự nghiệp

giáo dục của Đảng và Nhà nước.

Thực hiện xã hội hóa giáo dục, cuộc vận động dân chủ hóa nhà trường,

dân chủ hóa quá trình đào tạo ngày càng được đẩy mạnh. Các địa phươns trong

quận 12 đà biết khơi dậy sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân chăm lo cho sự

nghiệp giáo dục, tô chức các diên đàn đế nhân dân địa phương tham gia xây

dựng phát triển giáo dục. Các chương trình, kế hoạch, mục tiêu giáo dục được

thông báo rộng rãi qua tô dân phố và sinh hoạt của các chi bộ khu phố. Nhân

dân đã tích cực đóng góp ý kiến về các vấn đề của giáo dục như xây dựnơ Quỹ

khuyến học, Quỹ giáo dục, giúp đỡ học sinh nghèo hiếu học...Nhiều ý kiến

đóng góp của nhân dân đã giúp cấp ủy Đảng, chính quyền chỉ đạo phù hợp với

tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa của địa phương, phù hợp với nhu cầu và

nguyện vọng của nhân dân.

d) Tổ chức Đại hội Giáo dục các cấp:

Thực tế cho thấy, việc tổ chức Đại hội Giáo dục từ phường đến quận là

giải pháp quan trọng, giải pháp chính, giải pháp chủ yếu để thực hiện xã hội

hoa giáo dục tại quận 12. Đại hội giáo dục đã xây dựng cơ chế Liên kết, hợp

đồng trách nhiệm giữa các lực lượng xã hội, nhà trường và gia đình để thực

hiện mục tiêu kế hoạch phát triển giáo dục địa phương.

Đại hội giáo dục quận 12 đã được tổ chức, lần thứ nhất vào tháng 10-1997

và lần thứ hai vào tháng 11-2001. Đến nay, 10/10 phường của quận 12 đã tổ

chức Đại hội giáo dục cấp cơ sở lần thứ hai. Qua việc tổ chức Đại hội giáo dục,

Đảns bộ và nhân dân nhiều phường đã đặt công tác giáo dục đúng vị trí trong

quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội của từng địa phương và của toàn quận. Các

Đại hội này đã thể hiện rõ sức dân theo phương thức "Dân biết, dân bàn, dân

làm, dân kiểm tra" và dân hưởng thụ kết quả giáo dục trực tiếp, cùng tham gia

công tác giáo dục, cộns đồng trách nhiệm lo toan cho sự phát triển giáo dục.

Qua các lần tố chức Đại hội giáo dục cấp cấp, tư tưởng xã hội hóa công tác

giáo dục được quán triệt sâu sắc trong các cấp ủy và chính quyền, ban ngành,

đoàn thể của địa phương, trong tất cả các lực lượng xã hội, các trường học.

Nhiều phường trong quận đã có kế hoạch cụ thể cho đến từng khu phố, từng tổ

dân phố. Xã hội hóa hoạt động giáo dục không còn ở ngoài cửa ngõ của khu

phố, của tổ dân phố mà đã đi vào từns hộ gia đình. Công tác giáo dục không

còn là việc riêng của ngành giáo dục mà là sự kết hợp đồng bộ, nhịp nhàng của

các ngành, đoàn thể.

Đại hội giáo dục các cấp đã hình thành được Hội đồng Giáo dục từ quận

đến các phường. Hội đồng giáo dục mỗi cấp đã phát huy tác dụng, thực hiện

được vai trò vừa tư vấn, vừa phối hợp triển khai thực hiện Nghị quyết của Đại

hội giáo dục. Ngay sau đại hội giáo dục cấp quận và cấp phường, Hội đồng

giáo dục đã xây dựng thể chế hoạt động của Hội đồng giáo dục các cấp, quy

định trách nhiệm của Đảng, chính quyền, các ban ngành đoàn thể, các tổ chức

kinh tế, xã hội đối với công tác giáo dục, khắc phục quan niệm coi giáo dục là

hoạt động phi sản xuất, tham gia công tác giáo dục như kiểu tham gia hoạt

động từ thiện, đầu tư cho giáo dục là đầu tư không có lãi...đồng thời cũng tránh

tâm lý ỷ lại chờ sự đầu tư của Nhà nước, hoặc chưa thấy trách nhiệm, vai trò

nòng cốt của ngành giáo dục đối với việc chủ động sáng tạo, vượt khó, nâng

cao chất lượng hiệu quả đào tạo, nâns cao uy tín và vị trí của người thầy giáo,

vị trí của ngành giáo dục trong xã hội. Quận ủy, UBND quận 12 đã chỉ đạo và

tổ chức cho các ban ngành, đoàn thể ký kết hợp đồng trách nhiệm với ngành

giáo dục; hàng năm sơ kết tổng kết việc thực hiện các cam kết này, đánh giá

khen thưởng và rút kinh nghiệm khắc phục, đặc biệt xây dựng một số mô hình

xã hội hóa giáo dục cấp phường, tổ chức chỉ đạo, tổng kết kinh nghiệm điển

hình và mở rộng áp dụng đại trà trong quận. Tại quận 12, đã xuất hiện những

bài học kinh nghiệm đáng quý về cách làm năn2 động, sáng tạo trong việc tập

hợp lực lượng cùng làm giáo dục của Hội đồng giáo dục cấp phường như Hội

đồng giáo dục các phường Tân Thới Hiệp, Đông Hưng Thuận, Trung Mỹ Tây,

Thơi An, Hiệp Thành...Tại các phường này, Hội đồng giáo dục đã dồn sức tập

trung vào việc Liên kết các lực lượng thực hiện phổ cập giáo dục, huy động

học sinh ra lớp, xây dựng trường học. Các doanh nghiệp, các mạnh thường

quân như Xí nghiệp Cao su Hóc Môn, Công ty cổ phần Thực phẩm Thiên

Hương, Công ty A-one, Công ty Đông Hưng, nhóm sĩ quan quân khu I... đã hỗ

trợ, đầu tư phát triển cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị dạy học, hiến đất

xây trường. Tại các phường Thạnh Xuân, Tân Thơi Hiệp, Tân Chánh Hiệp hình

thành bản giao ước về công tác giáo dục, quy định trách nhiệm của nhà trường.

Gia đình, từng ban ngành, đoàn thể, khu phố, tổ dân phố...đối với công

tác giáo dục. Các phường Tân Thơi Hiệp, Tân Chánh Hiệp còn có quyết định

công nhận các cộng tác viên tham gia công tác giáo dục ở địa phương (mỗi tổ

dân phố 1 người).

Một trong những phường có Hội đồng Giáo dục thể hiện rõ vai trò Liên

kết, tập hợp các lực lượng tham gia xã hội hóa giáo dục là phường Tân Thới

Hiệp.

Hội đồng Giáo dục của phường Tân Thới Hiệp đã xây dựng cơ chế hoạt

động năng động, kịp thời nắm bắt và đề xuất những biện pháp giải quyết những

nhu cầu của từng trường trong địa bàn như phát triển cơ sở vật chất (xây dựng,

sửa chữa một số công trình ở Trường Tiểu học Tân Thơi Hiệp, Trường Mẩu

giáo Sơn Ca 6, Trường THCS Nguyễn Hiền...), hỗ trợ Hội Cha mẹ học sinh

phối hợp với các trường tổ chức hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp THCS cho con

em, tổ chức Ngày hội toàn dân đưa trẻ đến trường, phối hợp với các lực lượng

xã hội trong côns tác phổ cập THCS...

Hội đồng Giáo dục của phường Tân Thơi Hiệp có 4 tiểu ban gồm: Tiểu

ban Quy hoạch mạng lưới trường lớp và cơ sở vật chất; Tiểu ban Phổ cập giáo

dục và chống lưu ban bỏ học; Tiểu ban Truyền thông giáo dục và phối hợp các

lực lượng giáo dục; Tiểu ban Chăm lo đời sống các thầy cô giáo. Các tiểu ban

này hoạt động rất đồng bộ, bám sát với quy trình hoạt động trong năm học của

nhà trường. Nhờ sự hoạt động rát tích cực của Uy ban Kiêm tra Đảng ủy

phường theo dõi việc thực hiện Nghị quyết về công tác giáo dục ở từng chi bộ

nến đã tạo ra lực đẩy cho Hội đồng Giáo dục của phường phát huy được vai trò

của từns thành viên trong việc Liên kết, phối hợp các lực lượng xã hội trên địa

bàn tham gia công tác giáo dục.

Ở phường Tân Thơi Hiệp, Hội đồng Giáo dục đã làm rất tốt công tác tư

tưởng, đẩy mạnh việc truyền thông tuyên truyền nhằm nâng cao hơn nữa nhận

thức của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục-đào tạo. Thường trực Hội đồng

Giáo dục phường Tân Thơi Hiệp đã tham mưu Hội đồng Nhân dân phường xây

dựng Nghị quyết đề ra những việc phải làm theo từng quý gắn với quy trình

hoạt động của ngành giáo dục. Trong tất cả các kỳ họp tiếp xúc cử tri và kiểm

tra việc thực hiện Nghị quyết, Thường trực Hội đồng Nhân dân phường đều

yêu cầu các vị đại biểu Hội đồng Nhân dân phải quan tâm chú ý hàng đầu đến

công tác giáo dục.

Công tác truyền thông về giáo dục được tiến hành đến tận khu phố và các

tổ dân phố nên được nhân dân rất quan tâm. Cả 3 khu phố 1,2,3 trong phường

đều đã tổ chức học tập, thảo luận về Luật Giáo dục, Luật phổ cập giáo dục cho

nhân dân. Theo đề xuất của Hội đồng Giáo dục phường, từ tháng 1-2000, tất cả

các khu phố trong phường đã chọn mỗi tổ dân phố một người là tổ trưởng hoặc

tổ phó tổ dân phố phụ trách những việc có Liên quan đến giáo dục. Hiện nay,

toàn phường đã có 57 cộng tác viên thuộc hệ thống của Hội đồng Giáo dục đến

tận các tổ dân phố.

Nhờ thực hiện tốt hệ thống quy ước giáo dục đã được ký kết, các lực

lượng trong xã hội như Hội Cựu chiến bình, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, công

an phường, nhóm bằng hữu, Đoàn TNCS phường, ủy ban Dân số, gia đình và

trẻ em, Hội Cha mẹ học sinh đã thể hiện rõ ý thức trách nhiệm cùng tham gia

các hoạt động giáo dục với nhà trường và đạt hiệu quả rõ rệt. Nhóm bằng hữu

của phường đã đỡ đầu 11 lớp phổ cập tiểu học và THCS, thường xuyên tổ chức

thăm và tặng quà cho các em thuộc gia đình khó khăn. Các mạnh thường quân

trong phường đã đã tặng hàng chục triệu đồng cho lớp học tình thương, Quỹ

Nụ cười hồns, xây vườn trường cho Trường Mẩu giáo Sơn Ca 9...Quỹ Xã hội

hóa giáo dục của phường đã huy động được hơn 100 triệu đồng chi cho các

hoạt động phát triển giáo dục.

Hội đồng Giáo dục phường đã để xuất với các doanh nghiệp đóng trên địa

bàn phường như Xí nghiệp Cao su Hóc Môn, Công ty Thực phẩm Thiên

Hương ký giao ước kết nghĩa với Trường Tiểu học Tân Thơi Hiệp và Trường

THCS Nguyễn Hiền để cùng với nhà trường tổ chức chăm lo các hoạt động

giáo dục. Đặc biệt, với tác động của Hội Cha mẹ học sinh và các cộng tác viên

giáo dục ở từng tổ dân phố, việc chăm lo điều kiện học tập, quản lý con em

trong gia đình tại từns tổ dân phố đã trở thành tiêu chuẩn hàng đầu trong việc

xét công nhận danh hiệu Gia đình Văn hóa, Tổ dân phố loại A, Khu phố Văn

hóa...

Một điểm nổi bật là lãnh đạo phường Tân Thơi Hiệp rất quan tâm việc

chăm lo đời sống tình thần, vật chất cho đội ngũ thầy cô giáo để thầy cô nào

cũng được tôn vinh, phấn khởi và yên tâm với nghề nghiệp của Minh. Đảng ủy,

Úy ban Nhân dân phường đã có chủ trương không để bất cứ thầy cô giáo nào

phải nghỉ dạy vI quá khó khăn về đời sống.

Cùng với Phòng Giáo dục quận 12, Hội đồng Giáo dục phường Tân Thơi

Hiệp đã làm tốt việc quy hoạch mạng lưới trường lớp. Với sự tham mưu của

2 quyền ở đây đã dành 4.000 mP

P đất tại khu phố 3 để xây Trường Mẫu giáo Sơn

2 Ca 6. thống nhất dành 15.000 mP

2 P đất để xây trường tiểu học và 18.000 mP

P đất

Phòng Giáo dục quận 12, Hội đồng Giáo dục phường Tân Thơi Hiệp, chính

xây trường THCS mới. Phường đã có đầy đủ địa điểm mở các lớp phổ cập tại

địa bàn dân cư, tạo thuận lợi cho các em có hoàn cảnh khó khăn học tại lớp học

tình thương, lớp phổ cập buổi tối.

Nhờ làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, chất lượng giáo dục của các

trường học trên địa bàn phường không ngừng được nâng cao. Phường đã huy

động 98,89(7 trẻ 5 tuổi đến lớp. Hiệu suất đào tạo bậc tiểu học đạt 90,8%;

THCS đạt 86,8%.

Tóm lại, do làm tốt công tác tuyên truyền trước, trong và sau Đại hội giáo

dục nên tại quận 12, cán bộ, nhân dân nhất là thanh niên đã thấy được tầm quan

trọng của việc học tập nâng cao trình độ. Việc học tập đã thực sự có mặt ở mọi

gia đình tại các phường trong quận.

Đại hội giáo dục các phường cũng gắn chặt với việc giải quyết những vấn

đề bức xúc của giáo dục như dạy thêm học thêm tràn lan, thi cử chưa nghiêm

túc. phân luồng học sinh chưa hợp lý...do vậy đã góp phần nâng cao tình thần

trách nhiệm của đội ngũ giáo viên, xây dựng nề nếp kỷ cương học đường, tạo

môi trường sư phạm lành mạnh.

Việc tổ chức thành công các Đại hội giáo dục ở các phường trong quận 12

đã thể hiện bước trưởng thành của các địa phương trong quận về nhận thức và

khả năng tổ chức thực hiện công cuộc phát triển giáo dục theo đúng đường lối,

định hướng của Đảng và Nhà nước.

e) Xây dựng Ban thường trực Hội Cha mẹ học sinh năng động và hoạt

động có hiệu quả:

Sau ngày 1.4.1997, cùng với sự ra đời của Phòng Giáo dục-đào tạo quận

12, với nhận thức gia đình là một trong ba môi trường góp phần quan trọng vào

quá trình 2Iáo dục, Hội Cha mẹ học sinh quận 12 đã được thành lập. Hội gồm

những người là cha mẹ có con đang theo học tại các nhà trẻ, mẫu giáo, trường

phổ thông và những người có nhiệt tâm với sự nghiệp giáo dục, tự nguyện tổ

chức nhau lại để phối hợp, hỗ trợ nhà trường và ngành giáo dục trong việc giáo

dục thế hệ trẻ. Cùng với Hội Cha mẹ học sinh quận, Hội cha mẹ học sinh các

trường đã gắn bó chặt chẽ với nhà trường, ổọng đồng trách nhiệm với nhà

trường về việc học hành. rèn luyện nhân cách, đạo đức cho con em, chăm lo

điều kiện dạy và học. cùng chia sẻ, lo toan với nhưng khó khăn của nhà trường.

Hội cha mẹ học sinh cũng tuyên truyền vận động thực hiện chủ trương toàn dân

đưa trẻ đến trường, hỗ trợ nhà trường hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng trẻ

lưu ban, bỏ học bằns các biện pháp cụ thể như: gây quỹ học bổng cho trẻ em

nghèo hiếu học; hỗ trợ điều kiện dạy và học cho giáo viên và học sinh các lớp

học tình thương, các lớp phổ cập; vận động thuyết phục và giúp đỡ các gia đình

gặp hoàn cảnh khó khăn có điều kiện cho con em tiếp tục đến lớp. Hội cha mẹ

học sinh chủ động, tích cực phối hợp cùng với các cấp chính quyền, đoàn thể

vận động cha mẹ học sinh thực hiện các phong trào "Toàn dân thực hiện nếp

sống văn Minh, xây dựng gia đình văn hóa mới", "Xây dựng và giữ gIn môi

trường văn hóa trong sạch", chống tệ nạn xã hội tại địa phương, ngăn không

cho tệ nạn xã hội xâm nhập vào nhà trường. Với phương châm "Nhà nước và

nhân dân cùng làm", Hội cha mẹ học sinh các trường đã có các loại hình hoạt

động phong phú và đa dạng, tùy theo điều kiện, tình hình thực tế để vận động

mọi ngành, mọi người tham gia vào việc xây dựng, sửa chữa cơ sở vật chất

trường học, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng dạy học, chăm lo xây dựng môi

trường sư phạm ngày càng trong sạch (như: xây dựng phòng vi tính, xây dựng

bếp ăn bán trú, nhà vệ sinh, làm hệ thống thoát nước trong sân trường, chống

dột, mua sắm bàn ghế, dụng cụ tập luyện thể dục thể thao, các loại nhạc cụ...

giúp học sinh phát triển toàn diện). Hội cùng thường xuyên hỗ trợ nhà trường

trong việc phụ đạo học sinh kém, bồi dưỡng học sinh giỏi, kịp thời khen

thưởng các giáo viên, học sinh đạt thành tích xuất sắc qua các kỳ thi "Viên

phấn vàng", học sinh giỏi đạt giải Lê Quý Đôn...

Thường xuyên nắm bắt kịp thời các hoạt động của ngành giáo dục, cử các

thành viên tham gia vào Hội đồng giáo dục các cấp, Hội Cha mẹ học sinh đã

trở thành tổ chức gần gũi, gắn bó không thể thiếu trong tất cả các nếp sinh hoạt

của nhà trường.

g) Xây dựng và phát triển Hội Khuyến học:

Đầu tháng 5-1999, Hội Khuyến học quận 12 ra đời và đến nay, tất cả 10

phường trong quận đã đã có tổ chức Hội Khuyến học. Các cấp hội khuyến học

đã phối hợp với Hội Cha mẹ học sinh, tranh thủ sự hỗ trợ của các ban, ngành

đoàn thể, các mạnh thường quân triển khai Chương trình học bổng khuyến học,

khuyến tài; xây dựng Quỹ Khuyến học, khuyến tài, khuyến sư...Đặc biệt, Hội

Khuyến học quận phối hợp Hội Sinh vật cảnh xây dựng môi trường xanh tại

Trường THCS Quang Trung ở phường Trung Mỹ Tây; phối hợp Hội Y học cổ

truyền và Chùa Tường Quang khám và phát thuốc miễn phí cho giáo viên; tạo

điều kiện cho học sinh thuộc diện chính sách tiếp tục được đến trường...Thông

qua hoạt động của Hội Khuyến học, các gia đình, dòng họ trong quận ngày

càng quan tâm phát triển sự nghiệp giáo dục, phát huy truyền thống "tôn sư

trọng đạo" của dân tộc, xây dựng phong trào người người học tập, nhà nhà học

tập, tiến tới xây dựng một xà hội học tập.

Một trong những điển hình của truyền thống hiếu học ở quận 12 là ông

Dư Ngọc Hải ở số 1537/1 E phường An Phú Đông- một nông dân nuôi 9 người

con học đại học. Với 9 người con gồm 4 trai, 5 gái, ông Dư Ngọc Hải luôn trăn

trở về tương lai của các con Minh. Công việc nhà nông sớm nắng, chiều mưa

càng thôi thúc ông Dư Ngọc Hải quyết tâm phải cho con ăn học đến nơi đến

chốn. Vượt lên mọi gian khó. ông Hải đã đầu tư thời gian, sức lực và vật chất

cho các con. Cảm nhận sự lo lắng tận tâm hết mực của cha mẹ, các con của ông

luôn cố gắng học tốt, tất cả đều thành đạt: 2 người phục vụ ngành y, 3 người

trong ngành giáo dục, I người đang học cao học Hóa ở Malaixia, 1 người là cử

nhân kinh tế đang làm việc ở Công ty Kinh Đô, người con trai áp út là sinh

viên năm 4 Trường Đại học Kinh tế, người con gái út đang là sinh viên năm 2

Trường Cao đẳng Sư phạm.

Ông Hải rất hạnh phúc, sung sướng khi thấy các con lần lượt bước vào

đời vững vàng bằng tri thức và tình cảm mà họ đã có được từ mái ấm gia đình

và nhà trường. Người nông dân nuôi 9 người con học đại học nên người chỉ

bộc bạch rằng: muốn có cuộc sống tốt hơn thI phải học. Gia đình, các bậc cha

mẹ phải dành mọi điêu tốt đẹp nhất cho con trẻ, phối hợp cùng nhà trường giáo

dục chúng thành người có ích. Ở quận 12, ngày càng có nhiều những nông dân

như ông Hải biết đầu tư cho giáo dục bằng cách thiết thực: chăm lo cho con cái

học hành. h) Xây dựng quy hoạch mạng lưới trường lớp:

Để chuẩn bị tốt các điều kiện cơ bản cho việc thực hiện các mục tiêu phát

triển giáo dục-đào tạo đến năm 2010 theo định hướng chung của thành phố Hồ

Chí Minh, ngành giáo dục-đào tạo quận 12 đã xây dựng quy hoạch mạng lưới

trông lớp.

Khó khăn nhất đối với ngành giáo dục các quận huyện trong thành phố

Hồ Chí Minh là quỹ đất dành cho phát triển giáo dục. Trong thực hiện quy

hoạch trường lớp, quận 12 xác định ưu tiên dành đất cho các công trình giáo

dục trước khi đưa quỹ đất vào đầu tư các côns trình kinh tế-xã hội khác nên

mặc dù là một quận đang trên đà đô thị hóa, đất rất có giá, quận 12 đã dành 116

ha đất cho giáo dục, chiếm 2.24% diện tích tự nhiên (trong khi quy định của

thành phố là 0,69% diện tích tự nhiên). Tất cả các phường trong quận đã xác

định diện tích cần thiết và định vị cụ thể quỹ đất dành cho giáo dục.

i) Xây dựng và phát triển Trung tâm giáo dục thường xuyên:

Trung tâm giáo dục thường xuyên quận 12 là một nét thể hiện nổi bật của

xã hội hóa giáo dục. Đã có hàng chục ngàn học viên theo học lớp ban ngày và

ban đêm tại đây. Tại các lớp học này, Nhà nước đầu tư một phần kinh phí và

chủ yếu quản lý về chuyên môn, còn hầu hết các vấn đề về cơ sở vật chất, thiết

bị, tổ chức dạy học đều học người học đóng góp. Hiện nay, Trung tâm giáo dục

Thường xuyên có 141 lớp và 3.292 học sinh, tăng 3,8% học sinh/năm. Hoạt

động của Trung tâm giáo dục Thường xuyên quận 12 đã góp phần đáng kể

trong việc phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, đưa quận 12 trở thành quận đầu tiên

hoàn thành phổ cập THCS ở TPHCM, tiến tới phổ cập THPT trong những năm

tới.

k) Xây dựng và phát triển các Trung tâm học tập cộng đồng:

Một mô hình học tập mới với các hoạt động thực chất của việc xã hội hóa

giáo dục được hình thành ở quận 12 là Trung tâm học tập cộng đồns

(TTHTCĐ). Quận 12 là mọt'trong 5 quận, huyện đầu tiên ở thành phố Hồ Chí

Minh xây dựng Trung tâm học tập cộng đồng. Từ tháng 11-2001, Trung tâm

học tập cộng đồng đầu tiên của thành phố tại phường Thạnh Lộc, quận 12 đã

bắt đầu đi vào hoạt động. Đây là một tổ chức học tập theo phương thức không

chính quy thực hiện theo nguyên tắc toàn bộ các vấn đề giáo dục đều bắt nguồn

từ cộng đồng, từ nhu cầu người dân và quay trở lại phục vụ cộng đồng nhằm

nâng cao chất lượng cuộc sốns của nhân dân và phục vụ cho việc phát triển

kinh tế-xã hội của địa phương.

TTHTCĐ cung cấp cơ hội học tập cho tất cả các đối tượng, đáp ứng tất cả

các nhu cầu của cá nhân; giúp địa phương phát triển giáo dục thường xuyên

một cách chủ động, góp phần xây dựng xã hội học tập. Bằng việc tổ chức các

loại hình giáo dục phù hợp như: chương trình xóa mù chữ cho trẻ em và người

lớn; các chương trình sau xóa mù chữ; các chương trình nâng cao chất lượng

cuộc sống như các chuyên đề an toàn thực phẩm, tiêm chủng trẻ em, kế hoạch

hóa gia đình v.v. TTHTCĐ phường Thạnh Lộc đã cho thấy một mô hình thực

hiện xã hội hóa giáo dục rất hiệu quả.

Một trong những nét nổi bật của TTHTCĐ phường Thạnh Lộc là mở lớp

phổ cập THCS. Trung tâm đã dành hẳn một lớp học khang trang khoảng 50 chỗ

ngồi đầy đủ bàn ghế, sách giáo khoa...để động viên trẻ em nghèo đến lớp. Hoạt

động tích cực của TTHTCĐ phường Thạnh Lộc góp phần đưa quận 12 trở

thành quận đầu tiên của TPHCM hoàn thành phổ cập THCS theo chuẩn mới

(ngày 19-2-2002). Từ đầu tháng 4-2002, Trung tâm HTCĐ phường Thạnh Lộc

đã khai giảng lớp phổ cập THPT, dạy miễn phí cho 62 học viên của phường

nhằm chuẩn bị tiền đề để đến năm 2005 toàn quận hoàn thành phổ cập THPT.

Ngoài việc tổ chức các hoạt động học tập, đọc sách báo, thể thao, văn nghệ...

thu hút đông đảo trẻ em tham gia, TTHTCĐ phường Thạnh Lộc còn tổ chức

các hoạt động thu hút các bậc phụ huynh học sinh và các tầng lớp nhân dân

như: phổ biến kinh nghiệm nuôi ba ba, kinh nghiệm lai ghép cây sầu riêng cho

năng suất cao, kinh nghiệp lai ghép cây mai kiểng; tổ chức trao đổi để nhân dân

góp ý các biện pháp giải quvặt nước sạch cho 20% hộ dân còn lại trong phường

chưa có nước sạch sinh hoạt...Ban quản lý TT HTCĐ phường Thạnh Lộc đã

năng động tIm các chuyên gia, các nhà khoa học đề nghị học giúp đỡ, tham gia

các hoạt động của Minh. Nhiều điển hình vượt nghèo, làm ăn khá từ sự tham

gia các hoạt động của TTHTCĐ phường Thạnh Lộc thể hiện rõ một cơ chế vận

hành rất IInh hoạt, hiệu quả: nội lực của dân

+khoa học kỹ thuật

+tổ chức thực hiện của Ban quản lý trung tâm= chất lượng công trình.

Ông Nguyễn Văn Trân ngụ ở tổ 9, khu phố 3, phường Thạnh Lộc là một tronơ

hàng trăm hộ dân thoát nghèo nhờ tham gia các hoạt động của TT HTCĐ

phường. Được TTHTCĐ phường trao đổi kinh nghiệm, tư vấn về cách áp dụng

khoa học kỹ thuật, chọn cây trồng, vật nuôi, ông đã vay vốn trồnơ lài, nuôi heo

nái thành công, có thu nhập khá và cuộc sống ổn định. Hiện nay, ông đang đầu

tư nuôi ba ba. Dự kiến sau một năm, trừ các khoản chi phí, lợi nhuận ông thu

được khoảng 30 triệu đến 40 triệu đồng.

Từ hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ, phường Thạnh Lộc đã có kế hoạch

xây dựng một trường THPT, một trường mầm non và một trường dạy nghề. Dự

án này đã được phê duyệt.

Qua thực tiễn ở phường Thạnh Lộc cho thấy, TTHTCĐ đã thực hiện chức

năng chính của Minh là tể chức các hoạt động giáo dục và đào tạo cho bà con

tại địa phương; cung cấp thông tin và phân phối các nguồn nhân lực góp phần

vào sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Tất cả mọi tầng lớp nhân dân

có nhu cầu học tập tại địa phương đều có thể tham gia TTHTCĐ hoàn toàn

miễn phí. Là một hình thức học tập của cộng đồng dân cư nên cơ chế hoạt động

của TTHTCĐ chủ yếu là dựa trên cộng đồng. Ban quản lý trung tâm gồm

những người đại diện cho những lợi ích cộng đồng địa phương tham gia. trong

đó có đại diện của lãnh đạo địa phương, các tô chức đoàn thể như đoàn thanh

niên, hội phụ nữ...và đại diện của ngành giáo dục. Từ thành công của TTHTCĐ

phường Thạnh Lộc, các phường trons quận 12 đang xây dựng các TTHTCĐ ở

địa phương. 2.3.2. Thành tựu và hạn chế của việc triển khai xã hội hóa hoạt

động giáo dục ở quận 12

a) Một số thành tựu:

Nhờ thực hiện các giải pháp trên đây, diện mạo giáo dục ở quận 12 đã có

nhiều chuyển biến, khẳng định những kết quả đáng ghi nhận: Mở rộng quy mô

phát triển giáo dục.

Như phần trên đã đề cập, sau khi thành lập quận, quy mô trường lớp quận

12 mất cân đối nghiêm trọng. Việc xây dựng trường lớp và phát triển các ngành

học, bậc học là một áp lực rất lớn. Bằng nỗ lực trong đa dạng hóa và đa phương

hóa các nguồn lực đầu tư cho giáo dục, quận 12 đã giải quyết tương đối tốt nhu

cầu học tập của nhân dân địa phương. So với tỷ lệ tăng trưởng dân số từ 6,97%

đến 8,75%, tỷ lệ tăng trưởng số học sinh và phòng học đã được giải quvết rất

căn bản.

Năm học 2001-2002, quận 12 có 5.768 học sinh bậc mầm non tại 27

trường với 170 phòng học (so với năm học 1997-1998, các số IIệu tương ứng là

3.774 học sinh; 18 trường với 83 phòng học); 15.766 học sinh tiểu học tại 15

trường với 242 phòng học (so với 12.8854 học sinh tại lo trường với 174 phòng

học); 10.371 học sinh THCS tại 9 trường với 160 phòng học (so với 7.846 học

sinh tại 5 trường với 85 phòng học); 2.215 học sinh THPT tại 2 trường với 42

phòng học (so với 558 học sinh tại 1 trường với 7 phòng học). Tỷ lệ tăng

trưởng số học sinh và phòng học như sau:

Bên cạnh đó, quận đã xây dựng các trường chuyên biệt: Trường nuôi dạy

trẻ khuyết4ầt với 7 lớp học và 69 học sinh, tăng bình quân mỗi năm là 14,5%;

Trường Bồi dưỡng giáo dục; Trung tâm ngoại ngữ và Tin học...Đã có 3.384

học sinh Tiểu học (chiếm tỷ lệ 21,4%%) được học 2 buổi/ngày.

Thực hiện xã hội hóa giáo dục, huy động được nhiều nguồn lực, quận 12

đã đạt được mục tiêu hàng đầu về quy mô phát triển giáo dục. Từ năm 1997

đến 2001, quận 12 đã xây thêm 10 trường học mới với 245 phòng học khans

trang. Các tầng lớp nhân dân trong quận đã đóng góp 3,7 tỷ đồng và hiến hơn

11.000 m2 đất để xây trường học. Đặc biệt, đây là quận đầu tiến trons 22 quận,

huyện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hoàn thành phổ cập THCS theo

chuẩn mới.

*Nâng cao chất lượng giáo dục

Trên nền cơ sở vật chất được tăng cường, sự nhiệt tình tham gia công tác

giáo dục của các lực lượng trong xã hội, chất lượng giáo dục quận 12 cũng

ngày càng được nâng cao. Tất cả những sự chuyển động của tình hình giáo dục,

từ phường đến quận, từ ngành giáo dục đến các lực lượng xã hội, từ giáo viên

đến học sinh và người dân đã mang lại hiệu quả rõ nét. 98,7% người dân từ 15

đến 35 tuổi biết chữ. 10/10 phường trong quận hoàn thành phổ cập Tiểu học

đúng độ tuổi và phổ cập THCS theo chuẩn mới, đưa quận 12 trở thành quận

đầu tiên trên địa bàn thành phố hoàn thành công tác này. Tỷ lệ lưu ban bỏ học

được hạn chế, hiệu suất đào tạo Tiểu học đạt 89,3%, THCS đạt 86,4%, tỷ lệ

học sinh tốt nghiệp Tiểu học và THCS đạt hơn 99% (năm học 2000-2001 là

99,7% cả hai bậc Tiểu học và THCS). Chất lượng chăm sóc và nuôi dưỡng của

giáo dục mầm non ngày càng tiến bộ. Bản thân ngành giáo dục quận 12 đã có

những bước cải tiến mạnh mẽ về giáo dục chính trị tư tưởng cho giáo viên, chỉ

đạo việc đổi mới quản lý, đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với yếu cầu

của công cuộc đổi mới giáo dục.

* Phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên

Cơ cấu đội ngũ giáo viên quận 12 đã có bước chuyển biến đáng kể về số

lượng và chất lượng:

Đội ngũ giáo viên trong quận được tham gia các chươna trình bồi dưỡng

thường xuyên, bồi dường nâng cao, bồi dường tại chỗ. theo học các lớp đại học

hóa (đào tạo giáo viên tiểu học và THCS có trình độ cử nhân). Phong trào tự

học, tự bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục được đông đảo đội

ngũ giáo viên hưởng ứng. Trong các hội thi Viên phấn vàng của Công đoàn

ngành giáo dục, nhiều giáo viên của quận đã đạt giải. Tổng kết giai đoạn 1 cuộc

vận động "Kỷ cương-Tình thương-Trách nhiệm", có hơn 80 giáo viên quận 12

đạt loại A.

* Tăng cường cơ sở vật chất, tài chính

Mặc dù Ngân sách Nhà nước cho giáo dục tăng dần hàng năm nhưng do

đất nước còn nghèo nên ngành giáo dục vẫn gặp nhiều khó khăn. Khó khăn đó

sẽ càng lớn nếu chúng ta không huy động các nguồn lực trong xã hội đầu tư

cho giáo dục. Quận 12 cũng vậy. Khó khăn về tài chính và cơ sở vật chất từng

bước được giải quyết nhờ sự đóng góp hết lòng của nhân dân. Tính đến cuối

năm học 2001-2002, Quỹ Giáo dục tại các phường trong quận 12 đã huy động

được gần 1,9 tỷ đồng để hỗ trợ cho các trường học. Quỹ của Hội Cha mẹ học

sinh quận và các trường mỗi năm học đã sử dụng hơn 1 tỷ đồng. Mạng lưới

trường học không ngừng phát triển. Đến nay, toàn quận có 57 trường học (từ

mầm non đến THPT) và cơ sở giáo dục. Tổng diện tích khuôn viên trường học

là 14,9 ha chiếm 0,29% diện tích đất tự nhiên của quận. Nhiều trường đạt tiêu

chuẩn mái trường xanh--¬sạch-đẹp. Cùng với việc xây mới các phòng học. một

số trường đầu tư sửa chữa nâng cấp phòng học, phòng chức năng, phòng bộ

môn. Thư viện trường học tại các trường cũng được củng cố, bổ sung các loại

sách, báo, phục vụ cho nhu cầu học tập và giảng dạy của giáo viên và học sinh.

* Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục

Xã hội hóa giáo dục đã góp phần đáng kể trong quá trình đổi mới công tác

quản lý giáo dục ở quận 12. Công tác quản lý giáo dục được tăng cường, triển

khai đồng bộ và có hiệu quả trên mọi mặt: quản lý bằng văn bản, chỉ thị pháp

quy của Đảng và Nhà nước, tăng cường quản lý thu chi ngân sách và ngoài

ngân sách theo quy định của pháp luật; quản lý bằng chương trình kế hoạch,

bằng thanh tra, kiểm tra và quản lý thông qua phong trào thi đua. Với 1.548 học

sinh mầm non đang học tại tác trường dân lập, tư thục (chiếm tỷ lệ 26,8%),

ngành giáo dục quận 12 đặc biệt coi trọng công tác quản lý về chương trình

giảng dạy, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và trình độ chuyên môn giáo viên ở

các trường mầm non dân lập, tư thục, nhóm trẻ gia đình. Nhờ vậy, nhiều trường

đã tạo được mối Liên kết gắn bó giữa nhà trường với cha mẹ học sinh, huy

động được năng lực của đội ngũ giáo viên, nâng cao chất lượng đào tạo, cạnh

tranh và thi đua lành mạnh với các trường mầm non công lập.

b) Những mặt hạn chế:

Hoạt động xã hội hóa giáo dục ở quận 12 tuy đạt được những thành tựu

đáng chú ý nêu trên, song qua thực tế và kết quả điều tra cho thấy vẫn còn

những hạn chế sau đây:

* Về đa dạng hóa các loại hình đào tạo

Đến nay, tại quận 12 , mới chỉ có ngành học mầm non có trường dân lập,

tư thục, nhóm trẻ gia đình, các cấp học khác vẫn chưa có loại hình trường ngoài

công lập. Quận 12 hiện có 57 trường từ mầm non đến THPT và các đơn vị trực

thuộc. Trên địa bàn quận 12 hiện có 7 trường mầm non dân lập, tư thục và 14

nhóm, lớp trẻ gia đình hoạt động có xin phép.

Theo Phòng GD-ĐT quận 12, trong 7 trường mầm non dân lập, tư thục có

4 trường hoạt động có giấy phép, 3 trường đang hoàn thành thủ tục xin cấp

phép. ISỊgoài 14 nhóm. lớp trẻ gia đình có xin phép, ước tính có khoảng hơn 20

nhóm lớp hoạt động không xin phép. Nhìn chung, sự ra đời của các trường

mầm non dân lập, tư thục và nhóm, lớp trẻ gia đình đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của

bà con tại địa phương. Các nhóm, lớp trẻ gia đình do chính quyền địa phương

cấp phép, ngành giáo dục chỉ quản lý về mặt chuyên môn. Bên cạnh một số

nhóm lớp chấp hành nghiêm chỉnh quy định nuôi dạy trẻ của ngành, một số

đơn vị chưa thật sự quan tâm đến chất lượng nuôi dạy trẻ.

Trong tình hình các trường phổ thông dân lập, tư thục tại thành phố Hồ

Chí Minh đang gặp nhiều khó khăn, nhất là về cơ sở vật chất, không tuyển

được học sinh (một phần do sự phát triển của các lớp bán công trong trường

công) cũng là một trở ngại không nhỏ về mặt tâm lý cho các nhà đầu tư muốn

xây trường dân lập ở các quận ven ngoại thành nói chung, quận 12 nói riêng.

* Về hoạt động của các Hội đồng giáo dục quận và phường

Bên cạnh một số phường có Hội đồng Giáo dục đề ra được cơ chế, quy

chế rõ ràng cụ thể, hoạt động rất chủ động và mang lại hiệu quả cao, một số

phường chưa phát huy hết khả năng phong phú, đa dạng của các lực lượng xã

hội phối hợp với nhà trường để phát triển giáo dục. Do vậy, ở một số nơi, các

ngành, đoàn thể chưa có những ký kết liên tịch với ngành giáo dục theo đúng

tính chất xã hội của công tác giáo dục.

Việc xây dựng phong trào học tập trong toàn xã hội với tình thần vận

động toàn dân, trước hết là trong độ tuổi lao động thực hiện học tập thường

xuyên, học tập suốt đời, với tình thần ai thiếu gI học cái nấy làm cho xã hội trở

thành một xã hội học tập, mọi người đều học tập chưa được đặt ra một cách

tích cực, chưa sâu rộng.

* Về việc nâng cao chất lượng giáo dục

Để đảm bảo yêu cầu phát triển thì yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục

là một trong những vấn đề quan trọng nhất của ngành siáo dục, là cái đích mà

toàn ngành phải nhắm tới. Qua thực tế ở quận 12 cho thấy, chất lượng giáo dục

đại trà của quận tuy đã được nâng cao, song tỷ lệ học sinh khá giỏi vẫn còn

khiêm tốn, nhất là số học sinh giỏi thành phố và quốc gia. vẫn còn khoảng cách

về chất lượng giáo dục mũi nhọn ở quận 12 so các quận trung tâm nội thành

thành phố Hồ Chí Minh. Còn nhiều lúng túng trong việc đưa ra những giải

pháp đồng bộ để giải quyết vững chắc việc tạo ra những cơ hội và điều kiện

cho trẻ em nghèo được học tập. ơ một bộ phận các em nghèo, chất lượng giáo

dục còn thấp.

Hiệu quả giáo dục-đào tạo là phải góp phần nâng cao mặt bằng dân trí,

đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội quận 12 và

thành phố. Thế nhưng ở quận 12 thời gian qua còn nổi lên một vấn đề là nguồn

lực lao động của quận chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội ở địa

phương. Trong thời gian qua, vấn đề dạy nghề và hướng nghiệp, phân luồng

học sinh chưa được quan tâm đúng mức, chưa được xác định cụ thể và đưa vào

thành một chương trình mục tiêu phát triển giáo dục. Cũng vI thế, tại quận 12

chưa có nhiều lao động có trình độ văn hóa và trình độ nghề đáp ứng nhu cầu

tuyển dụng tại các côns ty, xí nghiệp trên địa bàn quận. Chính vI vậy, bản chất

xã hội hóa giáo dục chưa được phát huy đầy đủ.

2.3.3. Những bài học từ thực tiễn xã hội hóa hoạt động giáo dục

ở quận 12

Có thể khẳng định rằng, những năm qua, việc thực hiện xã hội hóa giáo

dục trên địa bàn quận 12 thành phố Hồ Chí Minh bước đầu đạt được những kết

quả rất tốt, với một số kinh nghiệm đáng quý.

Đạt được kết quả đó trước hết là nhờ có đường lối, chủ trương và những

chính sách đúng đắn của Đảng đối với sự nghiệp phát triển giáo dục, nhờ sự

quan tâm đầy trách nhiệm của Đảng bộ và chính quyền quận 12 trong lãnh đạo,

chỉ đạo, sự năng động. nỗ lực, tích cực của đội ngũ quản lý giáo dục và giáo

viên, sự phối hợp và hỗ ượ hiệu quả của các ban, ngành, đoàn thể và lực lượng

xã hội vI mục tiêu "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài".

Tuy nhiên, việc thực hiện xã hội hoa giáo dục ở quận 12 vẫn còn một số mặt

hạn chế như đã đề cập. Nguyên nhân chính trước hết là do điều kiện khách

quan về vị trí địa lý của một quận ven nghèo vừa thành lập, cơ sở vật chất,

trang thiết bị thiếu thốn. xuống cấp. Nhân dân ở đây tuy có truyền thống cách

mạng, hiếu học nhưng còn nghèo, trình độ dân trí thấp nên việc huy động sự

đóng góp, đầu tư cho con em ăn học còn hạn chế. Ngoài ngành mầm non, các

trườns dân lập, tư thục chưa phát triển ở các bậc học khác. Bên cạnh đó, xã hội

hóa giáo dục là một cuộc vận động rộng lớn có tính chất toàn xã hội nhưng

hiện nay Nhà nước vẫn chưa có cơ chế phân định rõ trách nhiệm của từng

thành viên trong xã hội tham gia xây dựng sự nghiệp giáo dục, còn tùy ở nhận

thức và sự tự giác của mỗi người. Vì vậy, hiệu quả xã hội hóa hoạt động giáo

dục còn hạn chế.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và qua điều tra khảo sát, tổng kết thực tiễn

hoạt động giáo dục ở quận 12 thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi mạnh dạn đề

xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm thực hiện có hiệu quả hơn chủ

trương xã hội hóa giáo dục trên địa bàn quận 12.

CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP TẰNG CƯỜNG XÃ

HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ở QUẬN 12

3.1. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP GIÁO

DỤC-ĐÀO TẠO Ở QUẬN 12 ĐẾN NĂM 2005 VÀ 2010

3.1.1. Mục tiêu và nhiệm vụ phát triển sự nghiệp giáo dục-đào

tạo và hoạt động xã hội hóa giáo dục ồ thành phố Hồ Chí Minh

đến năm 2005 và 2010

Ngày 28-12-2001, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số

201/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010

với các chỉ tiêu và giải pháp cơ bản nhằm xây dựng một nền giáo dục phát

triển, đổi mới. chuẩn hóa, hiện đại hóa theo hướng tiếp cận với nền giáo dục

hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới.

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm đô thị lớn, có ảnh hưởns trong

khu vực và cả nước về mọi lĩnh vực khoa học kỹ thuật, chính trị, kinh tế, văn

hóa, xã hội. Đây là nơi có nhiều điều kiện tiếp xúc với thế giới và các nước

ASEAN, là nơi diễn ra cuộc đấu tranh chống nguy cơ tụt hậu gay gắt hiện nay

của đất nước. Với vị trí trung tâm truyền thống năng động của mình, Trung

ương đã giao nhiệm vụ cho thành phố Hồ Chí Minh phải "đi trước và về đích

trước" trons công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, do đó đòi hỏi

giáo dục-đào tạo thành phố phải khơi dậy được các tiềm năng, xác định những

định hướng và bước đi phù hợp. nhất là trong những năm đầu thế kỷ 21 để tạo

nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội bền vững trong những năm

tiếp theo. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ vu năm

2002 đã đề cập đến việc chăm lo nguồn nhân lực của thành phố đi vào thế kỷ

21, trong đó giáo dục-đào tạo phải có những bước chuyển cơ bản mới đáp ứng

được yêu cầu. Để xây dựng mô hình dáo dục- đào tạo thành phố Hồ Chí Minh

theo hướng chuẩn hóa và hiện đại hóa, mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục-đào

tạo đến năm 2005 và 2010 là:

Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, phát triển giáo dục mầm

non; củng cố chất lượng phổ cập Tiểu học, hoàn thành phổ cập THCS vào năm

2002 và tiến hành phổ cập THPT, phấn đấu hoàn thành phổ cập THPT tại đại

bộ phận quận nội thành cù vào năm 2005; nâng cao chất lượng giáo dục hướng

nghiệp và chuyên nghiệp dạy nghề.

Đến năm 2010, nâng mặt bằng học vấn của người dân thành phố lên lớp

9.

Huy động trẻ trong độ tuổi (1-2 tuổi) đến nhà trẻ đạt 20% vào năm 2005

và 25% vào năm 2010; tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi (3-5 tuổi) đến mẫu giáo

đạt 75% vào năm 2005 và 80% vào năm 2010, trong đó tỷ lệ học sinh 5 tuổi

đến lớp mẫu giáo là 97% vào năm 2005 và 98% năm 2010. Đến năm 2010, huy

động 100% trẻ trong từ 6 tuổi vào lớp 1; thu hút 100% học sinh tốt nghiệp tiểu

học vào lớp 6; hơn 80% học sinh tốt nghiệp THCS vào học lớp 10, còn lại vào

các trường THCN, trường nghề.

Mạng lưới trường lớp được xây dựng cân đối giữa các ngành học. bậc học

đáp ứng yêu cầu đào tạo của xã hội từ đại trà đến mũi nhọn, từ phổ thông đến

chuyên nghiệp, dạy nghề. Đảm bảo ít nhất mỗi quận, huyện xây dựng thành

công mỗi cấp học một trường đạt chuẩn quốc gia trons năm học 2001-2002 và

nhanh chóng mở rộng trong những năm tiếp theo. Đến năm 2005, hầu hết học

sinh tiểu học và 20% học sinh trung học học tập và hoạt động cả ngày trong

trường. Nâng cấp các trường trung học chuyên nghiệp hiện có, đảm bảo mỗi

quận, huyện có một trung tâm giáo dục thường xuyên, trường giáo dục khuyết

tật và trung tâm tổng hợp-hướng nghiệp-dạy nghề.

Triển khai tốt chủ trương xã hội hóa giáo dục, xây dựng quy chế thực hiện

chủ trương xã hội hóa giáo dục; mở rộng, củng cố chất lượng hoạt động của

các trường ngoài công lập; huy động các nguồn lực để tiếp tục thực hiện phổ

cập dáo dục, nâng cấtTdân trí tại các quận, huyện. [15-16]

3.1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ phát triển sự nghiệp giáo dục-đào

tạo và hoạt động xã hội hóa giáo dục đến năm 2005 tại quận 12

Nhằm thực hiện những định hướng Đại hội đảng bộ thành phố Hồ Chí

Minh đã đề ra, chuẩn bị tốt các điều kiện cơ bản thực hiện các mục tiêu phát

triển giáo dục-đào tạo của thành phố đến năm 2010, nsành giáo dục quận 12

xây dựng kế hoạch phát triển với các chỉ tiêu cần đạt được như sau:

a) về quy mô phát triển giáo dục:

Đến năm 2005, đảm bảo 30% trẻ trong độ tuổi 1-2 tuổi đi nhà trẻ; 80% trẻ

từ 3-5 tuổi học mẫu giáo, trong đó 98% trẻ 5 tuổi học mẫu dáo các loại hình

trường lớp.

Huy động 1005 trẻ từ 6-11 tuổi học tiểu học đúng độ tuổi, trong đó có

50% trẻ học 2 buổi/ngày.

Huy động 95% trẻ 11-14 tuổi học trung học cơ sở, 100% tốt nghiệp tiểu

học vào lớp 6.

Huy động 90% trẻ từ 15-17 tuổi học THPT. trong đó 80% học phổ thông,

20% học bô túc, trung học chuyên nghiệp, nghê ngăn hạn (theo mô hình trung

tâm học tập cộng đồng). Xây dựng 50% số phườns hình thành trung tâm học

tập cộng đồng có hiệu quả .[25]

b) về chất lượng giáo dục:

Đảm bảo 90% trẻ mầm non đạt yêu cầu về nuôi dạy, không còn trẻ suy

dinh dưỡng, hạn chế trẻ béo phI; 100% học sinh tốt nghiệp tiểu học và THCS,

trong đó 70% đạt loại khá giỏi; 95% học sinh tốt nghiệp THPT. Toàn quận xây

dựng 6 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 3 ưườns tiểu học, 2 trường

THCS và I trường THPT.[25] c) về hiệu quả giáo dục: 10/10 phường duy trì và

nâng cao chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và THCS; 5 phường và

70% khu phố chuẩn phổ cập THPT. Nâng cao mặt bằng dân trí đạt đến lớp

8.[25]

3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG XÃ HỘI HÓA HOẠT

ĐỘNG GIÁO DỤC Ở QUẬN 12

Trên tinh thần Nghị quyết 90/CP của Chính phủ, xuất phát từ thực tế hoạt

động xã hội hóa giáo dục của quận 12, tổng hợp ý kiến đề xuất của các đối

tượng tham gia khảo sát gồm các nhà lãnh đạo Đảng và chính quvền đĩa

phương, cán bộ quản lý giáo dục, các nhà hoạt động xã hội tại quận 12, các giải

pháp sau đây được coi là hiệu quả nhằm thúc đẩy hoạt động xã hội hoa giáo

dục ở quận 12 TPHCM:

3.2.1.Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng

cao nhận thức của các lực lượng xã hội về vai trò, vị trí của giáo

dục

Qua kết quả khảo sát 100 phiếu trưng cầu ý kiến của các cán bộ quản lý

giáo dục, các nhà giáo đã nghỉ hưu; các đồng chí lãnh đạo Đảng. chính quyền

và các đoàn thể quận 12 cho thấy, 90% ý kiến cho rằng đây là giải pháp có tác

dụng cao nhất. a) Nội dung:

Qua nghiên cứu và khảo sát thực tiễn, chúng tôi thấy có một số vấn đề

cần quan tâm sau:

-Một là, đây là trách nhiệm của cấp ủy Đảng và chính quyền trước nhân

dân. Nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng

kinh tế nhanh và bền vừng. Các cấp ủy Đảng và chính quyền có trách nhiệm

lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành xã hội đào tạo đội ngũ nhân lực có phẩm chất đạo

đức, có trình độ chuyên môn, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Và

cũng không ai khác hơn, các cấp ủy Đảng và chính quyền có đủ vai trò, tư cách

và điều kiện để lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý việc tập hợp các lực lượng xã hội

tham gia công tác giáo dục. Giáo dục là quốc sách hàng đầu nên phải là trọng

tâm trong nội dung kế hoạch xây dựng phát triển kinh tế-xã hội của cấp ủy

Đảng và chính quyền địa phương. Thực tế thời gian qua cho thấy, ở nơi nào

cấp ủy Đảng và chính quyền nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác xã

hội hóa giáo dục. Nơi đó sự nghiệp giáo dục phát triển mạnh và đúng hướng.

Hiệu quả hoạt động của Hội đồng giáo dục các cấp luôn tỷ lệ thuận với mức độ

sâu sát, chặt chẽ trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền cấp đó.

Việc triển khai các chương trình phát triển giáo dục ở một số phường trong

quận 12 đạt kết quả tốt là nhờ cấp ủy Đảng và chính quyền quan tâm lãnh đạo,

tổ chức thực hiện. Diện mạo giáo dục ở những nơi này đã có nhiều đổi mới,

qua đó tạo sự chuyển biến trong nhận thức của các lực lượng xã hội đối với

giáo dục.

-Hai là, đối với các lực lượng xã hội và nhân dân, cần làm cho mỗi cá

nhân, tập thể nhận thức sâu sắc giáo dục là sự nghiệp của toàn dân. Chỉ khi nào

toàn Đảng, toàn dân thực sự chăm lo cho công tác giáo dục thI giáo dục đào tạo

mới phát triển, hoàn thành được sứ mệnh là "quốc sách hàng đầu". Tất cả mọi

người đều có quyền được học tập. Giáo dục không có quyền ưu đãi một người

nào để bỏ rơi một người nào. Nhưng ngược lại, mỗi người, mỗi tổ chức đều có

trách nhiệm, nhiệm vụ của mình trong việc xây dựng và phát triển nền siáo dục

quốc dân. Giáo dục không đứng ngoài bất cứ một cá nhân. tổ chức, tập thể nào,

không phải là việc riêng của ai. Ai cũng có trách nhiệm chấn hưng nền giáo

dục đất nước. Ai cùng phải tham gia vào công tác giáo dục. Xã hội hóa giáo

dục là thể hiện sự bình đẳng trong hưởng thụ và góp phần xây dựng sự nghiệp

giáo dục-đào tạo của mọi người.

- Ba là. phải làm cho mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi côns dân, các cơ quan.

đoàn thể hiểu rõ vị trí, vai trò quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển đất

nước, hiểu biết về quan điểm giáo dục của Đảng, về mục tiêu giáo dục trong

việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng và phát triển nhân tài. Làm

rõ trong nhân dân rằng "đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển". "Việc

"đầu tư" này cần được hiểu không chỉ ở phương diện vật chất mà bao hàm cả

giá trị tình thần. Phải đầu tư nuôi dường tình cảm, đạo lý làm người, bồi dường

tư tưởng nhân văn, đoàn kết, thân ái, sống có trách nhiệm với nhau, với cộng

đồng và xã hội, coi trọng và đề cao trí tuệ. Đầu tư toàn diện để sản phẩm của

giáo dục phải là những người có kiến thức, có đạo đức, biết làm giàu cho bản

thân, gia đình và quê hương, sống lành mạnh và có văn hóa.

Để phát triển, chấn hưng nền giáo dục nước nhà, phải xã hội hóa giáo

dục. Xã hội hóa giáo dục là giải pháp mang tính chiến lược của Đảng và Nhà

nước. Mỗi người phải có trách nhiệm đối với sự nghiệp giáo dục, có thái độ

đúng đắn với giáo dục, tôn trọng các nhà giáo, tôn trọng và tuân theo những

điều đã quy định trong Luật giáo dục. Trên cơ sở nhận thức đó, mọi người sẵn

sàng, nhiệt tình tham gia vào những việc làm cụ thể, thiết thực để phát triển sự

nghiệp giáo dục tại địa phương.

-Bốn là, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, các cấp ủy Đảng và chính

quyền phải quán triệt các yêu cầu của quá trình xã hội hóa giáo dục, tránh chỉ

đạo phiến diện, thiên lệch. Cùng với yêu cầu huy động nguồn lực để tăng

cường cơ sở vật chất, phải rất coi trọng yêu cầu xây dựng môi trường giáo dục

nhà trường-gia đình-xã hội trong sạch và nâng cao năng lực, tình thần trách

nhiệm của đội ngũ giáo viên. Có như vậy mới làm cho hoạt động xã hội hóa

giáo dục phát triển bền vững.

b) Cách làm:

Thực hiện bằng nhiều biện pháp tổng hợp, nhiều con đường như tổ chức

tốt các đợt học tập các Nghị quyết của Đảng về giáo dục như Nghị quyết TƯ n

khóa VIII, Nghị quyết TƯ IV khóa IX...Tuyên truyền vận động, tổ chức quán

triệt đến từng cán bộ, đảng viên, mỗi người dân những nội dung cụ thể về

đường lối đổi mới giáo dục của Đảng, phổ biến các Luật giáo dục, Luật phổ

cập giáo dục. Xác định trách nhiệm cho các cấp, các ngành, các đoàn thể quần

chúng và mọi người, khai thác tiềm năng nội lực của dân, đảm bảo dân chủ,

công khai vừa sức dân, kiểm tra giám sát chặt chẽ trong quá trình thực hiện, tạo

và giữ được niềm tin trong nhân dân, từ đó làm cho mọi người tự giác, tự

nguyện, đồng lòng hưởng ứng mọi hoạt động nhằm phát triển giáo dục.

3.2.2.Tổ chức đại hội giáo dục các cấp

a) Nội dung:

Đây là một giải pháp quan trọng mà thời gian qua quận 12 đã thực hiện để

xã hội hóa giáo dục. Qua kết quả khảo sát, có 88% ý kiến cho rằng việc tổ chức

Đại hội giáo dục các cấp là giải pháp mang lại hiệu quả cao nhằm xây dựng

cộng đồng trách nhiệm trong phát triển giáo dục-đào tạo. Trước yêu cầu đẩy

mạnh hơn nữa công tác xã hội hóa giáo dục ở quận 12 trong thời gian tới, việc

tổ chức đại hội giáo dục các cấp phải thực sự là hoạt động vừa mang tính khoa

học, vừa có tính quần chúng sâu sắc, là sự kết hợp nhuần nhuyễn những quan

điểm của Đảng trong chỉ đạo sự nghiệp giáo dục sát với tình hình thực tiễn của

địa phươns. Đại hội giáo dục các cấp phải là một diễn đàn dân chủ, một "hội

nghị Diên Hồng" bàn cách làm giáo dục của mọi tầng lớp nhân dân, mọi lực

lượng xã hội ở quận 12.

Tổ chức đại hội giáo dục các cấp làm cho xã hội nhận thức đúng vị trí, vai

trò quan trọng của giáo dục-đào tạo đối với sự phát triển của đất nước; mọi

người hiểu rõ thực trạng giáo dục của đĩa phương, từ đó tìm ra biện pháp khắc

phục những tồn tại, phát huy những mặt tích cực để phát triển giáo dục.

Đại hội giáo dục các cấp xây dựng mục tiêu, kế hoạch phát triển giáo dục

của địa phương phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hội; đề ra chươns

trình hành động với nội dung cụ thể; tạo thêm nguồn đầu tư cho giáo dục; nâng

cao tình thần trách nhiệm của đội ngũ thầy cô giáo và ngành giáo dục, nâng cao

chất lượng giáo dục; nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng giáo dục cấp;

huy động mọi lực lượng xã hội tham gia công tác giáo dục.

b) Cách làm:

Phải coi trọng cả 3 khâu: chuẩn bị đại hội, tổ chức đại hội và thực hiện

nghị quyết sau đại hội.

Khâu chuẩn bị đại hội rất quan trọng, chưa chuẩn bị tốt, chưa nên tổ chức

đại hội. Phải chuẩn bị nhận thức của xã hội về vai trò, lợi ích của giáo dục đối

với sự hưng thịnh của quốc gia, dân tộc và mỗi gia đình. Phải dự kiến các hình

thức nhân dân tham gia công tác giáo dục phù hợp với tình hình thực tế của địa

phương. Chuẩn bị dự thảo báo cáo đánh giá đúng thực trạng giáo dục của địa

phương, xác định đúng mục tiêu, kế hoạch phát triển giáo dục từ quy hoạch

mạng lưới trường lớp đến đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị, xây

dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên trước mắt và lâu dài,

giải quyết tốt các mâu thuẫn trong giáo dục, đề ra biện pháp phổ cập giáo dục

Trung học phổ thông (quận 12 đã hoàn thành phổ cập Trung học cơ sở) và phấn

đấu xây dựng một xã hội học tập tại quận 12. Trong dự thảo này cũng cần

chuẩn bị dự báo được những khó khăn và triển vọng của giáo dục quận 12

trong giai đoạn tới, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng ủy, chính quyền

về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Đặc biệt chú ý xây dựng các quy định, cơ

chế liên kết cộng đồng trách nhiệm chăm lo cho giáo dục, giới thiệu những

gương điển hình để động viên, khen thưởng tại đại hội.

Trong quá trình tổ chức đại hội, cần chọn những nội dung cụ thể, thiết

thực của địa phương như xóa mù chữ, phổ cập giáo dục, xây dựng cơ sở vật

chất trang thiết bị dạy học, vấn đề dạy thêm học thêm tràn lan, vấn đề thu tiền

trường đầu năm học, lập quỹ giáo dục...để đưa ra thảo luận, trao đổi, tIm cách

giải quyết. Hội đồng giáo dục đóng vai trò chính trong khâu thực hiện nghị

quyết đại hội. Cần chọn người có đủ uy tín, khả năng, nhiệt tình vào Hội đồng

giáo dục. cần thành lập các tiểu ban của Hội đồng giáo dục, xây dựng quy chế

hoạt động của Hội đồng giáo dục, đảm bảo điều kiện để Hội đồng giáo dục

hoạt động hiệu quả, tránh tình trạng "hữu sinh vô dưỡng".

Sau mỗi kỳ Đại hội giáo dục, phải đặc biệt coi trọng khâu chỉ đạo, thực

hiện. Cần tránh kiểu làm xã hội hóa giáo dục chỉ dừng lại ở tổ chức đại hội mà

không dẫn đến hoạt động thực tế. Phải nâng cao trách nhiệm và hiệu quả hoạt

động của Hội đồng giáo dục các cấp dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, sự tham mưu

tích cực, sáng tạo của ngành giáo dục. Việc thực hiện các nghị quyết, cam kết

sau đại hội phải được phân công, phân nhiệm rõ ràng, đôn đốc kiểm tra chặt

chẽ, có sơ kết, thông báo động viên kịp thời trong các hội nghị Đảns, Hội đồng

nhân dân. Uy ban nhân dân, hội nghị Liên tịch các ban, ngành, đoàn thế, các

lực lượng xà hội...

3.2.3. Thu hút các lực lượng xã hội tham gia hoạt động giáo dục

87% phiếu điều tra đánh giá đây là giải pháp có hiệu quả cao nhằm nâng

cao nhận thức của các lự c lượng xã hội về vai trò, vị trí của giáo dục.

a) Nội dung:

Xã hội hóa giáo dục không chỉ là vận động mọi người đóng góp tiền bạc,

vật chất để xây trường, mua sắm trang thiết bị, đồ dùns dạy học mà thực chất

hơn. sâu xa hơn là vận động toàn xã hội tham gia vào công tác giáo dục, cùng

"đứng trên con thuyền của giáo dục" để giải quyết các vấn đề giáo dục đang đặt

ra. Mỗi người dân, mỗi tổ chức, tất cả mọi lực lượng xã hội, tùy theo sức của

Minh đóng góp tài lực, vật lực, trí tuệ cho công tác giáo dục, từ việc góp ý về

nội duns chương trình giảng dạy, cụ thể hóa mục tiêu giáo dục đến việc tổ chức

các chương trình phát triển giáo dục. Thực hiện xã hội hóa giáo dục, tham gia

công tác giáo dục tức là tham gia sự nghiệp "trồng người", đào tạo những con

người có đạo đức và năns lực phục vụ phát triển xã hội. Để giáo dục-đào tạo

đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội, công tác xã hội hóa giáo dục phải được

nâng lên một trình độ mới. thể hiện rõ cơ chế "Đảns lành đạo, chính quyền

quản lý, nhân dân làm chủ sự nghiệp giáo dục-đào tạo". Yêu cầu về đào tạo

nguồn nhân lực trong tương lai có đủ sức mạnh để làm chủ xã hội, giành thắng

lợi trong cuộc chạy đua về trí tuệ của nền kinh tế tri thức đặt ra cho công tác xã

hội hóa giáo dục ở quận 12 phải ngày càng nâng cao về chất lượng. Muốn vậy,

phải thu hút mọi lực lượng cùng tham gia vào công tác giáo dục. b) Cách làm:

* Vận động các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình giáo dục theo các

nội dung. chương trình của ngành giáo dục.

Hiện nay, ngành giáo dục cả nước đang thực hiện đổi mới chương trình

giáo dục phổ thông, khởi động bằng việc triển khai đại trà chươns trình và sách

giáo khoa bậc tiểu học và trung học cơ sở. Đây thật sự là một cuộc cách mạng

trong giáo dục nhằm xây dựng một nền giáo dục chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã

hội hóa. Để công cuộc đổi mới giáo dục thành công, cần huy động sự đóng góp

trí tuệ, sức lực của cả xã hội. Qua nội dung, chương trình và sách giáo khoa

mới của con em, các bậc cha mẹ học sinh, các nhà giáo, các tầnơ lớp nhân dân

nhận xét, đánh giá những chỗ được và chưa được, góp những ý kiến sát thực để

ngành giáo dục kịp thời sửa chữa.

Không chỉ đóng góp ý kiến, trong quá trình triển khai chương trình mới,

rất nhiều khó khăn thách thức đặt ra mà một Minh ngành giáo dục không thể

giải quyết, nên rất cần sự góp sức trực tiếp của cả xã hội. Đó là khó khăn về cơ

sở vật chất, trang thiết bị thiếu thốn, lạc hậu, đội ngũ giáo viên còn bất cập,

trong đó chế độ đãi ngộ để ổn định đời sống các thầy cô giáo là một vấn đề nan

giải. Hiện nay, đội ngũ giáo viên nói chung, giáo viên quận 12 nói riêng có thu

nhập thật sự chưa đủ tái tạo lại lao động sư phạm rất nặng nhọc của họ. Nhiều

giáo viên có thu nhập thấp không thể tự kiếm được một chỗ ở ổn định cho

Minh. Chăm lo ổn định đời sống các thầy cô giáo như xây nhà bán trả góp cho

giáo viên nghèo, hỗ trợ cho giáo viên ngoại thành, vùng ven vay vốn lãi suất

thấp để chăn nuôi, sản xuất kinh tế phụ để họ vén tâm đứng trên bục giảng là

trách nhiệm của các ban, ngành chức năng và cả cộng đồng.

* Tùy khả năng, trách nhiệm của Minh, các lực lượng xã hội tham gia vào

quá trình giáo dục bên cạnh các hoạt động chính khóa của các thầy cô giáo

trong nhà trường.

Các ngành văn hóa thông tin, thể dục thể thao, Đoàn thanh niên Cộng sản

Hồ Chí Minh tham gia tổ chức các hoạt động hè cho học sinh, mở các ]ớp năng

khiếu, câu lạc bộ, tổ chức thi đấu thể thao, thi văn nghệ, thi kể chuyện...tạo ra

sân chơi bổ ích cho các em. Phons trào xâv dựng gia đình văn hóa, khu phố văn

hóa, phường văn hóa của ngành văn hóa thông tin vừa tạo môi trường văn hóa

lành mạnh ngoài nhà trường, vừa nâng cao trách nhiệm của gia đình, làng xóm

trong việc giáo dục trẻ.

Các ngành Y tế- Hội Chữ thập đỏ chăm lo sức khỏe cho giáo viên và học

sinh, nhằm thực hiện mục tiêu cơ bản về y tế học đường thône qua các chương

trình nước sạch, vệ sinh học đường, vệ sinh thực phẩm, vệ sinh răng miệng,

phòng chống suy dinh dưỡng, béo phI, thực hiện tiêm chủng mờ rộng cho trẻ

em, các chương trình tuyên truyền phòng chống AIDS và các tệ nạn xã hội.

Các ngành tư pháp, công an triển khai chương trình pháp luật nói chung, luật

giao thông nói riêng cho học sinh, thực hiện cam kết trách nhiệm nsăn ngừa tệ

nạn xã hội xâm nhập học đường, kết hợp với ngành giáo dục giải tỏa các hàng

quán xung quanh trường hoặc trước cổng trường, xây dựng cổng trường sạch

đẹp.

Các đơn vị bộ đội, Hội Cựu chiến bình phối hợp với ngành giáo dục huấn

luyện quân sự, giáo dục ý thức quốc phòng toàn dân, giáo dục truyền thống

quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, truyền thống cách mạng. truyền thống

dân tộc cho giáo viên và học sinh.

Ủy ban Mặt trận Tô quốc và các đoàn thê vận độns nhân dân góp công,

góp của chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, đẩy mạnh cuộc vận động "Toàn dân

đoàn kết xây dựng đời sống mới ở khu dân cư".

ủy ban Dân số, gia đình và trẻ em chủ trì phối hợp với các cấp, các ngành

trong công tác bảo vệ trẻ em, tổ chức câu lạc bộ những người Yêu trẻ, tuyên

truyền vận động toàn xã hội thực hiện Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Luật

Phổ cập giáo dục Tiểu học...nhằm nâng cao ý thức bảo vệ và chăm sóc trẻ em

trong nhân dân.

Các cán bộ hưu trí, trong đó có các nhà nhà giáo đã nghỉ hưu tham gia các

buổi nói chuyện chuyên đề tại khu phố, tại các trung tâm học tập cộng đồng,

các trường dân lập, tư thục, trung tâm giáo dục thường xuyên...

Các xí nghiệp, doanh nghiệp, công ty tham gia hướng nghiệp, dạy nshề

cho học sinh và lực lượng lao động trẻ tại địa phương, tạo điều kiện nâng cao

trình độ cho cán bộ công nhân viên của đơn vị, cùng chung sức với ngành giáo

dục để đào tạo và đào tạo lại lực lượng lao động.

Như vậy, tất cả các lực lượng trong xã hội đều tham gia công tác giáo

dục, đều học tập và rèn luyện, cả xã hội trở thành một xã hội học tập. 3.2.4.

Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh

a) Nội dung:

Giáo dục có hai nhiệm vụ là truyền giảng kiến thức và góp phần (chính

yếu) tạo nến nhân cách cho người học. Thực hiện xã hội hóa giáo dục tức là

vận động toàn xã hội tham gia vào công tác giáo dục. Như thế, rất cần thiết

phải tạo dựns một môi trường giáo dục tốt. Đó là môi trường xã hội thuận lợi

cho việc giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ. Trẻ em ngay từ đầu phải được sống trong

môi trường trons sạch, lành mạnh. Không chỉ trong nhà trường, trẻ cần được

giáo dục tốt, có mối quan hệ tốt với thầy giáo và bạn bè, mà cả bên ngoài xã

hội, trong cuộc sốns gia đình, trên địa bàn khu phố...cũng cần xây dựng một

bầu không khí lành mạnh, mối quan hệ đoàn kết, giúp đỡ nhau bởi tất cả những

điều đó có tác động rất lớn đến việc hình thành nhân cách trẻ.

b) Cách làm:

Phối hợp với các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội như Mặt trận Tổ

quốc, Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên tạo môi trường giáo dục lành mạnh

qua các hoạt động phong phú như thể dục thể thao, vIII chơi giải trí, các sinh

hoạt Đoàn, Đội theo chủ đề giáo dục cụ thể "Ngày chủ nhật xanh", "Về

nguồn"... Giáo dục không chỉ bó hẹp trong cánh cửa nhà trường. Các lực lượng

xã hội, các nsành, các tổ chức xã hội, đặc biệt là các bậc cha mẹ học sinh đều

tham gia vào quá trình giáo dục trẻ. Trẻ sẽ được giáo dục không chỉ trong nhà

trường, bởi các thầy cô giáo, mà được siáo dục ở khắp mọi nơi, bởi những

người lớn trong gia đình và ngoài xã hội. Để giáo dục trẻ tốt, mọi người lớn cần

luôn được giáo dục làm tấm gương cho trẻ. Như vậy là tất cả mọi người đều

được dáo dục để giáo dục lại cho lớp trẻ. Trong xã hội, mọi người đều không

nsừnă học tập, rèn luyện để hoàn thiện nhân cách của Minh. Đó cũng có nghĩa

là thực hiện mục tiêu "giáo dục cho mọi người" của hoạt động xã hội hóa giáo

dục.

3.2.5. Thực hiện có hiệu quả cuộc vận động dân chủ hóa nhà

trường

a) Nội dung:

Nhà trường phải giữ vai trò nòng cốt, chủ động trons mọi hoạt động của

quá trình xã hội hóa giáo dục. Xã hội hóa giáo dục phải gắn IIền với đổi mới

giáo dục, đổi mới từ công tác quản lý đến nội dung chương trình, phương pháp

giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh. Muốn vậy, phải thực hiện tốt

cuộc vận động dân chủ hóa trường học.

Dân chủ hóa trường học là bộ phận hữu cơ của dân chủ hóa xã hội theo

chủ trương đổi mới của Đảng nhằm xây dựng nền dân chủ xà hội chủ nghĩa,

phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Nội

dung của dân chủ hóa trường học là dân chủ hóa quá trình đào tạo và dân chủ

hóa quản lý nhà trường, cốt lõi của dân chủ hóa trường học là thực hiện ngày

càng đầy đủ sự tự quản xã hội chủ nghĩa của tập thể sư phạm và tập thể học

sinh trên cơ sở thu hút cán bộ, giáo viên tham gia tích cực và hiệu quả vào giải

quyết mọi vấn đề của đời sống trường học, phát huy tính tích cực, tự giác của

học sinh trong quá trình giáo dục-đào tạo. Trong đó, mỗi tổ chức, mỗi tập thể

cần tham gia vào những lĩnh vực phù hợp với chức năng của họ.

Để thực hiện dân chủ hóa nhà trường, cần giải quyết các vấn đề sau đây:

-Trước hết cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý trường học

nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động của các tổ chức chính trị-xã hội

trong nhà trường như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên trong việc

xây dựng. phát triển nhà trường.

-Thứ hai, cần phát huy vai trò nòng cốt của hiệu trưởng. Nhà trường là

đơn vị cơ sở của ngành giáo dục, có tư cách pháp nhân, hiệu trưởng là đại diện

tư cách pháp nhân của nhà trường thực hiện chế độ thủ trưởng, cá nhân chịu

trách nhiệm. Hiệu trưởng phải là IInh hồn của tập thể sư phạm nhà trường, có

vai trò quyết định trong mọi hoạt động của trường học. Hiệu trưởng cùng với

các phó hiệu trưởng phải huy động được sự tham gia tích cực của các đoàn thể

trong nhà trường như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên, tập thể sư

phạm và tập thể học sinh vào quá trình giáo dục, đổi mới giáo dục, xây dựn2 và

phát triển nhà trường... Hiệu trưởng phải phát huy tính năng động, chủ động

của Minh trons việc thực hiện xã hội hóa giáo dục, tạo ra mối liên kết giữa nhà

trường với các ban. ngành, đoàn thể ở địa phương tham gia và vận động mọi

tầng lớp nhân dân cùns tham gia công tác giáo dục.

-Thứ ba, cần phát huy tính tích cực của học sinh, coi học sinh là đối tượns

chính của hoạt động dạy-học. làm cho quá trình dạy-học thực sự là quá trình

hợp tác tích cực giữa thầy và trò. Nhà trường tạo điều kiện để học sinh rèn

luyện, phát triển mọi khả năng của Minh. đồng thời mỗi học sinh tự siác học

tập, tham gia các phong trào hoạt động của trường, chấp hành nghiêm túc mọi

nội quy của nhà trường, biến quá trình giáo dục của nhà trường thành quá trình

tự giáo dục của bản thân mỗi học sinh.

b) Cách làm:

Thực hiện dân chủ hóa nhà trường là nhằm tạo môi trường thu hút tập thê

giáo viên và học sinh, các đoàn thể trong và ngoài nhà trường (kết hợp có hiệu

quả với Hội Cha mẹ học sinh cũng như sức mạnh tổng hợp của Hội đồng giáo

dục) tham gia vào quá trình quản lý nhà trường nhằm phát huy tiềm năng của

từng người, từng lực lượng giáo dục, góp phần mang lại hiệu quả cao cho hoạt

động của nhà trường và cho sự phát triển của sự nghiệp giáo dục-đào tạo. Qua

nghiên cứu thực tiễn tại một số trường phổ thông trên địa bàn quận 12, chúns

tồi nhận thấy, ở nơi nào thực hiện tốt cuộc vận động dân chủ hóa trường học, ở

đổ xây dựng được mối quan hệ tốt giữa thầy và trò, xây dựns môi trường sư

phạm lành mạnh trong trường học; công khai hóa công tác kế hoạch, công tác

tài chính.

Công tác kiểm tra, đánh giá, xếp loại giáo viên và học sinh, cải tiến thi cử.

Đặc biệt là công khai các khoản thu chi phát triển cơ sở vật chất trường học.

Một khi đã huy động được sự đóng góp của cán bộ, nhân dân thI phải đưa vào

sử dụng có hiệu quả, đúng mục đích theo kế hoạch đã đề ra. Kết thúc việc thu

chi phải công khai cho mọi cán bộ giáo viên, học sinh và nhân dân biết. Làm

thế nào để mọi người tin tưởng rằng: tiền của, công sức mà họ bỏ ra đã được sử

dụng có hiệu quả, đúng mục đích. Được như vậy, niềm tin của nhân dân sẽ mỗi

ngày một tăng và sự đóng góp của họ ngày càng nhiều hơn.

Để đẩy mạnh việc thực hiện dân chủ hóa nhà trường, cần không ngừng

nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội trong nhà trường như Công

đoàn, Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên, đặc biệt là Công đoàn giáo dục. Đây

là người đại diện cho tiếng nói của giáo viên, công nhân viên, chỗ dựa tin cậy

của mọi đoàn viên trong quá trình thực hiện quyền dân chủ của Minh. Hoạt

động của công đoàn giáo dục phải đảm bảo sự thống nhất nhận thức và hành

động của đoàn viên trong nhà trường nhằm thực hiện đúng đường lối của Đảng

về giáo dục-đào tạo, góp phần thực hiện dân chủ hóa nhà trường.

3.2.6. Đa dạng hóa các loại hình giáo dục-đào tạo

a) Nội dung:

Cùng với việc củng cố hoạt động của các trường công lập, để đẩy mạnh

hoạt động xã hội hóa giáo dục, phải phát triển các loại hình trường dân lập, tư

thục. Chuyển một số trường phổ thông sang bán công. Thực hiện tốt việc phân

luồng học sinh sau trung học sơ sở và trung học phổ thông. Quan tâm công tác

hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh. Mở rộng các hình thức dạy nghề, khuyến

khích mở các trường dạy nghề dân lập, tư thục.

b) Cách làm:

Thực tế ở quận 12-một quận vùng ven mới thành lập, điều kiện kinh tế xã

hội, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, việc đa dạng hóa các loại

hình đào tạo mới chỉ là bước khởi động ở bậc học mầm non và công tác dạy

nghề. Do vậy, trong quy hoạch phát triển mạng lưới trường lớp của quận 12

cần xác định rõ tỷ lệ hợp lý giữa các trường công lập và ngoài công lập cho

từng ngành học, cấp học phù hợp với từng khu vực trên địa bàn, tránh tình

trạng khi xây dựng thI xây dựng ồ ạt, có phường, có con đường có tới 2-3

trường dân lập mới xây, có phường không có trường nào. Đặc biệt, trong việc

tuyển sinh các lớp đầu cấp hàng năm, ngành giáo dục địa phương lên kế hoạch

cụ thể tỷ lệ tuyển sinh hợp lý giữa các trường côns lập và ngoài côns lập, tránh

tình trạng "có trường, có lớp, có thầy nhưng không có học sinh" như một số

trường dân lập ở các quận nội thành TPHCM, đến mức một số trường đã phải

đóns cửa. Có như vậy mới huy động được sự đầu tư lâu dài của các lực lượns

xà hội cho giáo dục.

PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. KẾT LUẬN

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để đi đến mục tiêu

"dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn Minh" theo con đường

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục thúc đẩy quá trình xã hội

hóa giáo dục.

Xã hội hóa giáo dục là một quy luật khách quan, phản ánh xu thế phát

triển tất yếu của các nước trên thế giới. Đó là quá trình làm cho giáo dục trở

thành sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và cả dân tộc. Nó làm cho giáo dục

trở thành động lực nội tại của chính Minh và của toàn xã hội.

Xã hội hóa giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và toàn cầu hóa cần

được thực hiện bằng những phương thức thích hợp để tận dụng tối đa các

nguồn lực phát triển giáo dục, đồng thời hạn chế tới mức thấp nhất những tác

động tiêu cực do kinh tế thị trường và toàn cầu hóa mang lại.

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc tầm quan trọng, nội dung và ý nghĩa thực

tiễn của việc xã hội hóa giáo dục, quận 12 TPHCM đã có nhiều giải pháp thích

hợp, năng động phát huy mọi nguồn lực, huy động các lực lượng xã hội tham

gia vào công tác giáo dục, bước đầu đã có những kinh nghiệm quý và đạt được

thành công nhất định về cách tổ chức thực hiện xã hội hóa giáo dục. Từ việc

nghiên cứu những nội dung và biện pháp xã hội hóa giáo dục đã thực hiện ở

quận 12, những thành tựu và hạn chế của công tác này, căn cứ vào những đặc

điểm có tính đặc thù về vị trí địa lý, điều kiện kinh tế-xã hội của một quận mới

thành lập đang trên đà đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi mạnh

dạn đề xuất một số giải pháp có tính khả thi được trình bày trên đây với hy

vọng rằng, nếu những giải pháp trong luận văn này được các cấp, các ngành

lưu tâm thực hiện thI chắc chắn công tác xã hội hóa giáo dục ở quận 12

TPHCM sẽ mang lại những hiệu quả hơn nữa, góp phần đưa sự nghiệp giáo

dục ở quận 12 và thành phố Hồ Chí Minh ngày càng phát triển theo hướng

chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã hội hóa.

2. KHUYẾN NGHỊ

2.1. Đối với Nhà nước và Bộ Giáo dục-Đào tạo:

-Sớm có qui định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Giáo dục các cấp

cho phù hợp với tình hình thực tế. Qua thực tiễn xã hội hóa hoạt động giáo dục

ở quận 12 cho thấy, vai trò của Hội đồng giáo dục rất quan trọng, nhiều Hội

đồng Giáo dục của phường hoạt động rất tốt, bên cạnh đó, ở một số phường

Hội đồng Giáo dục đã không thể hiện được vai trò của Minh, hoạt động lúng

túng, hình thức, không thật sự mang lại hiệu quả cho giáo dục. Nguyên nhân

chính của tình trạng này là do Nhà nước chưa có quy định rõ về quy chế hoạt

động của Hội đồng giáo dục các cấp. Trong Nghị quyết 90/CP có đề ra một

mục tiêu, yêu cầu của xã hội hóa giáo dục là "Xây dựng cộng đồng trách nhiệm

của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế,

xã hội lành mạnh, thuận lợi cho các hoạt động giáo dục ở mỗi địa phương. Đây

là cộng đồng trách nhiệm của Đảng bộ, HĐND,ƯBND, các cơ quan Nhà nước,

các đoàn thể, quần chúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa

phương và của từng người dân". Như vậy, Nghị quyết 90/CP mới chỉ ra đối

tượng cụ thể phải thực hiện cộng đồng trách nhiệm nhưng ai và cơ quan nào là

chủ thể để phối hợp, đôn đốc các đối tượng, các thành viên thể hiện hết trách

nhiệm của Minh? Phải chăng, đó chính là Hội đồng Giáo dục các cấp. Trong

thực tế, Hội đồng Giáo dục các cấp không phải là cơ quan trung gian mà nó

phải trở thành một tổ chức cao nhất, mạnh nhất của mỗi địa phương để chuyên

trách việc chăm lo và huy động các lực lượng xã hội, các cơ quan, đoàn thể,

các tổ chức kinh tế, xã hội đóng tại địa phương tham gia công tác giáo dục.

Mỗi thành viên đều có trách nhiệm và nghĩa vụ, được kiểm điểm, đánh giá

hàng năm chứ không phải là tham gia làm giáo dục theo kiểu làm thêm, kiểu

"ban ơn" hay là làm "từ thiện", ở quận 12, nhưng phường có Hội đồng giáo dục

năng động là những nơi tự đề ra được cơ chế. quy chế rõ ràng cụ thể, hoạt động

chủ động và mans lại hiệu quả cao, còn thI ngược lại. Do đó, cần tạo hành lang

pháp lý cho hoạt động của Hội đồng giáo dục các cấp, chính hội đồng này sẽ là

cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện tốt nhất công tác xã hội hóa giáo dục ở địa

phương.

- Nhà nước nhanh chóng có quy định cụ thể hóa trách nhiệm đóng góp

một phần chi phí đào tạo đối với những đơn vị kinh tế, xí nghiệp có sử dụng lao

động được đào tạo. Nghị quyết 90/CP của Chính phủ đề cập đến vấn đề "Quy

định nghĩa vụ đóng góp của các doanh nghiệp cho hoạt động giáo dục-đào tạo,

căn cứ vào doanh thu, số lượng và trình độ đào tạo của đội ngũ lãnh đạo trong

doanh nghiệp". Tuy nhiên, đến nay, vẫn chưa có một quy định cụ thể nào về

vấn đề này. Để tăng nguồn lực cho phát triển giáo dục, góp phần nâng cao chất

lượng hoạt động xã hội hóa giáo dục, quy định này cần nhanh chóng ra đời, đặc

biệt tại quận 12-một địa phương đang đô thị hóa có nhiều công ty, xí nghiệp,

khu chế xuất hoạt động.

-Để đảm bảo sự công bằng trong giáo dục, chế độ phụ cấp ưu đãi nến áp

dụng đối với tất cả những người làm công tác giáo dục. Đối với siáo viên mầm

non ngoài biên chế đang giảng dạy tại các trường mầm non dân lập, bán công,

tư thục, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ thêm kinh phí từ ngân sách Nhà

nước nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho họ. Những giáo viên mầm non

nsoài công lập cũng rất thiệt thòi về đời sống tình thần như sinh hoạt đoàn thể,

công đoàn, phát triển Đảng...do đó Nhà nước có quy định rõ các cơ sở giáo dục

ngoài công lập phải đảm bảo các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chăm

lo đời sống tinh thần cho đội ngũ giáo viên.

-Cùng với các chính sách khuyến khích mở rộng và phát triển các cơ sở

giáo dục ngoài công lập, cần nhanh chóng có các quy định về xử phạt hành

chính cụ thể những trường, đơn vị nào hoạt động sai quy định, vì mục tiêu lợi

nhuận. Thực tế, thời gian qua, có một số trường dân lập, cơ sở giáo dục tư nhân

hoạt động bất chấp quy định của Nhà nước và Bộ GD-ĐT. Tuy nhiên cho đến

nay.

Nhà nước vẫn chưa có quy định cụ thể xử phạt hành chính trong lĩnh vực

giáo dục-đào tạo. Đây là một trong những việc cần làm ngay trong quá trình

xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

2.2. Đối với thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giáo dục-Đào tạo:

-Trong quá trình triển khai thực hiện quy định của Chính phủ về quy chế

đặc biệt cho thành phố Hồ Chí Minh, thành phố cần tạo điều kiện và khuyên

khích các thành phần xã hội đầu tư xây dựng trường ngoài công lập trên các địa

bàn dân cư mới đô thị hóa.

-Thành phố phải coi trọng vai trò chủ động của ngành giáo dục-đào tạo,

đặc biệt là vai trò của cơ quan quản lý giáo dục-đào tạo. Các cấp quản lý giáo

dục phải gắn chức năng quản lý Nhà nước với vai trò chủ động trong tham

mưu, đề xuất và phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể để thực hiện có hiệu

quả công tác xã hội hóa giáo dục. cần tích cực xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý

giỏi, có bản lĩnh nghề nghiệp vừng vàng để vừa làm tốt chức năng quản lý, vừa

thực hiện tốt chức năns tham mưu. Đây là những cán bộ quản lý trẻ, năng độns

giàu tri thức và thông tin để đáp ứng yêu cầu, vững vàng điều hành công việc

trước sự phát triển đa dạng và phức tạp của thực tiễn giáo dục nước nhà trong

tình hình hiện nay. Ngành giáo dục và các trường phải nhận thức được vị trí

truns tâm của Minh, tích cực phấn đấu đổi mới phương pháp dạy học để đạt

hiệu quả cao. Có như vậy mới tạo uy tín của bản thân ngành giáo dục trong

lòng nhân dân nhằm tác động trở lại để phong trào xã hội hóa giáo dục phát

triển. Chất lượng dạy và học chịu tác động từ nhiều phía và phải được giải

quyết một cách đồnơ bộ các mối quan hệ gia đình-nhà trường-xã hội-thầy giáo-

học sinh-cha mẹ học sinh. Đó vừa là mục tiêu, vừa là biện pháp, động lực để

phát triển giáo dục.

-Khi cho ra đời các trường dân lập, tư thục, sở Giáo dục-Đào tạo thành

phố Hồ Chí Minh cần có kế hoạch cụ thể, tránh tình trạng "hữu sinh vô dưỡng"

dẫn đến sự "chết mòn" của một số trường dân lập như hiện nay tại các quận nội

thành ở thành phố Hồ Chí Minh. Chỉ cấp phép các trường nào đủ điều kiện

hoạt động và phát triển. Có như vậy mới tạo được sự cạnh tranh lành mạnh

giữa các trường công lập và ngoài công lập, giữa các trường ngoài công lập với

nhau để nâng cao chất lượng giáo dục.

-Sở Giáo dục-Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh cần hạn chế, tiến tới xóa

bỏ hoàn toàn các lớp bán công trong trường công lập. Thực tế, đây là một việc

không phù hợp với chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước.

Cách đầy 15 năm, việc mở các lớp bán công trong các trường phổ thông công

lập (còn gọi là hệ B) ở thành phố Hồ Chí Minh được coi là giải tình thế khi chủ

trương xã hội hóa giáo dục, đa dạng các loại hình trường lớp chưa phát triển

sâu rộng như hiện nay. Lúc ấy, các trường dân lập, tư thục chưa được phép

hoạt động. Việc mở các lớp hệ B trong thời gian đó đã tận dụng được nguồn

lực của xã hội góp phần giải quyết được việc làm cho một số giáo viên dư thừa

nhưng dạy chưa đủ số giờ quy định. Ngoài ra, hệ B do được thu học phí cao

hơn hệ A (tức các lớp công lập) nên đã góp phần điều tiết thu nhập, giải quyết

một phần khó khăn trong đời sống của các thầy cô giáo.

Thế nhưng, sau một thời gian tồn tại, dư luận xã hội đã đặt vấn đề về sự

''không chính danh" của loại hình đào tạo này. Bởi vì hoạt động của các lớp bán

công trong trường côns lập đã làm nảy sinh hàng loạt vấn đề, đặc biệt về mặt

quản lý trong thu chi tài chính, nhân sự... Hiện nay, khi các trường dân lập đã

phá' triển, chính các lớp bán công trong trường công lập đã hút hết số học sinh

không đủ điểm vào hệ công lập trong các kỳ tuyển sinh lớp 10, khiến cho các

trường dân lập lao đao vì không có học sinh về mặt quản lý Nhà nước, các lớp

bán côns trong trường công lập tạo nên sự không rạch ròi, nhập nhằns giữa

công và tư. Trường thI là công lập, cơ sở vật chất, trang thiết bị là công, con

người cũng là lao động thuộc biên chế Nhà nước, nghĩa là mọi cái đều công chỉ

riêns việc "đóng tiền" học phí của học sinh lại là ngoài công lập (bán công). Sự

phân công lao động sư phạm chính của các thầy cô giáo trường công lập là ở

các lớp công lập, song do phải đảm đương thêm việc dạy các ỉớp bán công nên

không thể không ảnh hưởng đến các lớp công lập. Về bản chất của giáo dục.

hoàn toàn trong một môi trường giáo dục như nhau, không nên có bất cứ một

sự phân biệt nào đối với học sinh. Thế nhưng, sự tồn tại của lớp bán công trong

trường công lập cho thấy: cùng học trong một trường, cùng thầy cô, cùng phấn

trắns, bảng đen, có em thI phải nộp tiền cao, em lại nộp tiền thấp và như vậy,

rất đáng tiếc, chính đồng tiền đã tạo nên khoảng cách giữa các học sinh cùng

một trường, một thầy với nhau.

Việc mở các lớp bán công trong trường công cũng gây bất lợi đối với đội

ngũ quản lý giáo dục ở cơ sở. Họ rất khó toàn tâm toàn ý cho cái lợi chung của

giáo dục mà dễ bị phân tâm bởi những mối lợi nhỏ trước mắt. Bởi vI quản lý

trường công lập khác với quản lý trường ngoài công lập. Quy chế hoạt động,

điều phối chương trình chung cũng khác nhau.

Sự tồn tại của các lớp bán công trong các trường công lập hiện nay tại

thành phố Hồ Chí Minh đang là lực cản hoạt động và sự cạnh tranh lành mạnh

của các trường dân lập.

Ngành giáo dục thành phố cần xác định rõ: đến lúc nào thI cần chấm dứt

các lớp bán công trong trường công lập. Cùng với việc này, thành phố cần có

những chính sách cụ thể hơn, hợp lý hơn cho các nhà giáo để họ an tâm đứng

trên bục giảng, tái tạo lại lao động sư phạm nặng nhọc của Minh mà không bị

phàn tâm bởi hệ nọ, hệ kia trong cùng một môi trường sư phạm. Giải quyết dứt

điểm vấn đề này cũng là nhằm thúc đẩy xà hội hóa giáo dục, phát triển giáo dục

phù hợp với xu hướng tất yếu của giáo dục thế giới.

2.3.Đối với chính quyền và ngành giáo dục-đào tạo quận 12:

-Nhà nước đã có chủ trương hỗ trợ các trường ngoài cồns lập về mọi mặt.

Tuy nhiên đến nay rất ít trường dân lập nhận được sự hỗ trợ cụ thể để giải

quyết khó khăn của Minh, trong đó khó khăn nhất của các trường dân lập là

không có mặt bằng. Để phát triển hệ thống trường phổ thông dân lập, tư thục

trên địa bàn, chính quyền quận 12 cần có chỉ đạo cụ thể để hỗ trợ các nhà giáo

mở trườns dân lập. chẳng hạn có thể mua đất đấu thầu công khai để xây trường.

Đây là một cách làm theo phương châm " Nhà nước và nhân dân cùng làm"

nên khuyến khích phát triển.

-Nhằm đạo tạo lực lượng lao động có tay nahề đáp ứng yêu cầu phát triển

của địa phương, cần có chính sách hỗ trợ (về đất, về vốn, đội ngũ giáo viên...)

để mở rộng và phát triển các trung tâm, các trường đào tạo nghề dân lập, tư

thục . Các trường, trung tâm dạy nghề tăng cường sự liên kết, phối hợp chặt

chẽ với các nhà máy, xí nghiệp, công ty thuộc các thành phần kinh tế đào tạo

nghề theo phương thức "đặt hàng", gắn đào tạo nghề với thị trường, với doanh

nghiệp, tạo nguồn nhân lực cho các đơn vị này.

-Khi phê duyệt các dự án phát triển đô thị tại địa phương, chính quyền

quận 12 có quy định bắt buộc các chủ đầu tư phải có các công trình giáo dục.

-Chú trọng công tác chỉ đạo hoạt động của các trường học nâng cao vai

trò của hiệu trưởng trong việc huy động các lực lượng xã hội làm giáo dục. Nhà

trường có vai trò trung tâm, nòng cốt trong quá trình thực hiện xã hội hóa hoạt

động giáo dục. Trách nhiệm của nhà trường rất lớn và toàn bộ trách nhiệm đó

đặt lên vai người hiệu trưởng- con chim đầu đàn của tập thể sư phạm, người

thực hiện chức trách quản lý Nhà nước về giáo dục tại cơ sở trường học. Người

hiệu trưởng cần có nhận thức đúng đắn, sâu sắc về bản chất của xã hội hóa giáo

dục. Cần tránh và uốn nắn những lệch lạc trong nhận thức và trong hành động

chưa đúng như: chỉ quan tâm huy động để đóng góp tài chính.

-Trong chỉ đạo chuyên môn, ngành giáo dục quận thường xuyên quan tâm

công tác giáo viên chủ nhiệm lớp.

Thực tế cho thấy, để nhà trường Liên kết, phối hợp tốt với các lực lượng

xã hội. đặc biệt là xây dựng tốt mối quan hệ nhà ưường-gia đình-xã hội phụ

thuộc rất nhiều vào đội ngũ giáo viên chủ nhiệm. Đây là những thầy giáo trực

tiếp xây dựng quan hệ, tổ chức Liên kết với gia đình học sinh để tiến hành các

hoạt động giáo dục. Nsành giáo dục phải chú ý đúng mức công tác giáo viên

chủ nhiệm lớp, tổ chức các lớp bồi dường nghiệp vụ... để đội ngũ này là lực

lượnn chủ chốt của nhà trường thực hiện xã hội hóa giáo dục, nhằm đưa công

tác xã hội hóa giáo dục đi đúng bản chất của nó là đi sâu, đi trực tiếp vào quá

trình giáo dục, quá trình hình thành và phát triển nhân cách học sinh.

- Để thúc đẩy hơn nữa hoạt động xã hội hóa giáo dục, mỗi trường học cần

nâng cao vai trò chủ động, trung tâm và nòng cốt của Minh. lôi cuốn các lực

lượng trong xã hội tham gia công tác giáo dục. Trong tình hình chung hiện nay,

khi chất lượng giáo dục đang là vấn khiến dư luận xã hội đặc biệt lo lắng, mỗi

trường học cần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục để tạo niềm tin trong

nhân dân, phụ huynh và xã hội. Chất lượng, hiệu quả giáo dục chủ yếu phụ

thuộc vào đội ngũ giáo viên. Do vậy, mỗi thầy, cô giáo cần thường xuyên đổi

mới phương pháp giảng dạy, nâng cao tình thần "tất cả vì học sinh thân yêu"

vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ của mình.

TÀI IIỆU THAM KHẢO

A. VĂN KIỆN, NGHỊ QUYẾT, TÀI IIỆU CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ

NƯỚC

1.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI,

NXB Sự thật, Hà Nội, 1987.

2.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

VII, NXB Sự thật, Hà Nội 1991.

3.Đảng Cộng sản Việt Nam ,Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.

4.Đảng Cộng sản Việt Nam ,Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

5.Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Hội nghị lần thứ hai, BCH TƯ

Đảng khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.

6.Nghị quyết 90/CP ngày 21-8-1997 của Chính phủ về phương hướng và

chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa.

7.Nghị định số 73/1999/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến

khích xã hội hóa đối với các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao.

8.Chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo 2001-2010 ban hành kèm theo

Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28-12-2001

9.Luật Giáo dục, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 1999.

B. CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN:

10.Các Mác, Ph.Ăngghen, V.LLênin, LV.XtaIIn, về giáo dục, NXB Sự

thật, Hà Nội, 1978.

11.Hồ Chí Minh, về vấn đề giáo dục, NXBGD Hà Nội, 1990.

12.Hồ Chí Minh, về giáo dục thanh niên, NXBGD Hà Nội, 1997.

C. VĂN KIỆN VÀ TÀI LIỆU CỦA ĐỊA PHƯƠNG:

13.Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh, Văn kiện

Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VII, tháng 12-2000.

14.Sở Giáo dục-Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo về việc thực

hiện xã hội hoa công tác giáo dục trong bậc học mầm non tại thành phố Hồ Chí

Minh (1994-1999).

15.Sở Giáo dục-Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, Dự án quy hoạch phát

triển mạng lưới ngành giáo dục-đào tạo thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010

và 2020.

16.Sở Giáo dục-Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, Chiến lược Phát triển

giáo dục phổ thông thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 và những chỉ tiêu

thực hiện 5 năm 2001-2005.

17.Ủy ban Nhân dân Nhân quận 9 thành phô Hô Chí Minh, Báo cáo sơ

két vê xã hội hóa giáo dục, tháng 11-2001.

18.Ủy ban Nhân dân quận 12 thành phố Hồ Chí Minh, Đại hội Giáo dục

quận 12 nhiệm kỳ 2 (2001-2005).

19.Ủy ban Nhân dân quận 12 thành phố Hồ Chí Minh, Nhân dân quận 12

chăm sóc sự nghiệp giáo dục-Tài IIệu lưu hành nội bộ 1997.

20.Ủy ban Nhân dân quận 12 thành phố Hô Chí Minh, Quận 12 đẩy mạnh

xã hội hóa giáo dục để tạo đà phát triển-Tài liệu lưu hành nội bộ, 1999.

21.Ủy ban Nhân dân quận Gò Vấp thành phồ Hồ Chí Minh. Báo cáo tổng

kết 5 năm công tác xã hội hóa giáo dục (1995-2000).

22.Phòng Giáo dục-Đào tạo quận 12 thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo

tổng kết năm học 1997-1998, phương hướng nhiệm vụ năm học 1998-1999

ngành giáo dục-đào tạo quận 12.

23.Phòng Giáo dục-Đào tạo quặn 12 thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo

tổng kết năm học 1999-2000, phương hướng nhiệm vụ năm học 2000-2001

ngành giáo dục-đào tạo quận 12.

24.Phòng Giáo dục-Đào tạo quận 12 thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo

tổng kết năm học 2000-2001, phương hướng nhiệm vụ năm học 2001-2002

ngành giáo dục-đào tạo quận 12.

25.Phòng Giáo dục-Đào tạo quận 12 thành phố Hồ Chí Minh, Định

hướng phát triển giáo dục quận 12 trong giai đoạn 2001-2005.

D. SÁCH, BÁO, TÀI IIỆU KHOA HỌC:

I. TRONG NƯỚC:

26.Đặng Quốc Bảo, Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục, Tài liệu

dùng cho lớp cao học quản lý giáo dục- Hà Nội, 1996.

27.Phan Bình, Văn hóa giáo dục con người và xã hội, NXBGD, Hà Nội,

2000.

28.Nguyễn Thanh Bình (Chủ biên), Giáo dục giới tính cho con, NXBGD,

Hà Nội, 1999.

29.Bộ GD&ĐT, 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945-

1995), NXBGD, Hà Nội, 1995.

30.Bộ GD-ĐT, Công đoàn giáo dục Việt Nam, Báo cáo tham luận tại hội

nghị đánh giá 10 năm thực hiện xã hội hóa giáo dục thông qua tổ chức đại hội

giáo dục các cấp, tháng 5-2000.

31.Bộ GD&ĐT, Mười năm đổi mới giáo dục và đào tạo. Báo cáo tổng kết

10 năm đổi mới GD-ĐT, Hà Nội 1997.

32.Bộ Giáo dục-Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục, Xã hội hóa công tác

giáo dục Nhận thức và hành động, Viện Khoa học Giáo dục xuất bản, Hà Nội,

1999.

33.Lê Thị Bừng, Gia đình Trường học đầu tiên của lòng nhân ái,

NXBGD, Hà Nội, 1998.

34.Vũ Đình Cự (Chủ biên), Giáo dục hướng tới thế kỷ 21, NXBGD Hà

Nội 1997.

35.Nguyễn Thị Doãn (Chủ biên), Các học thuyết quản lý, NXB Chính tri

quốc gia, Hà Nội, 1996.

36.Nguyễn Tiến Doãn, Nguyễn Trãi nhà giáo dục Việt Nam, NXBGD, Hà

Nội,1997.

37.Kim Dung, "Xã hội hóa giáo dục-Mối quan hệ nhân quả", Báo Nhân

Dãn ngày 5-9-1994.

38.Nguyễn Minh Đạo, Cơ sở khoa học quản lý, NXB Chính trị quốc gia

Hà Nội, 1997.

39.Phạm Văn Đồng, Sự nghiệp giáo dục trong chế độ xã hội chủ nghĩa,

NXB Sự thật, Hà Nội, 1979.

40.Phạm Minh Hạc, Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục,

NXB Giáo dục, Hà Nội, 1986.

41.Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào

CNH,HĐH, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001.

42.Phạm Minh Hạc, Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ

phát triển xã hội-kinh tế, NXB KHXH, Hà Nội, 1996.

43.Phạm Minh Hạc (Tổng chủ biên), Xã hội hóa công tác giáo dục, NXB

Giáo dục, Hà Nội, 1997.

44.Nguyễn Thị Hằng, "Chính sách xã hội trong công cuộc đổi mới và

phát triển đất nước", Tạp chí Cộng sản, số 2-2000.

45.Nguyễn Văn Hiệu, "Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài để thực

hiện CNH,HĐH đất nước", Tạp chí Cộng sản, số 1-1997.

46.Học viện Hành chính quốc gia, Quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực

xã hội, NXBGD, Hà Nội, 1997.

47.Học viện Hành chính quốc gia, Quản lý nguồn nhân lực, NXBGD, Hà

Nội, 1997.

48.Tố Hữu, Cồng tác giáo dục và sự nghiệp bồi dưỡng thế hệ cách mạng

cho đời sau, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1980.

49.Nguyễn Sinh Huy, Giáo dục học đại cương, NXBGD, Hà Nội, 1998.

50.Đặng Bá Lãm-Phạm Thành Nghị, Chính sách và kế hoạch trong quản

lý Giáo dục, NXBGD Hà Nội, 1999.

51.Nguyễn Văn Lê, Nghề thầy giáo- Chuyên đề quản lý ưường học,

NXBGD, Hà Nội, 1997.

52.Nguyễn Văn Lê, Bùi Văn Huệ, Hiểu con mới dạy được con. 35 điều

cần biết về tâm lý trẻ em và giáo dục gia đình, NXBGD,Hà Nội, 1995.

53.Tâm Linh. "Hiệu quả từ xã hội hóa" , Báo Hà Nội Mới, ngày 25-10-

2001.

54.Hoàng Như Mai, Hồi ức và suy nghĩ văn hóa giáo dục. NXBGD, Hà

Nội, 1998.

55.Hoàng Đức Nhuận (Chủ biên), Một số phương pháp tiếp cận giáo dục

môi trường, NXBGD, Hà Nội, 1999.

56.Nguyễn ThếNghĩa-Lê Hồng Liêm (Chủ biên), Văn hóa và phát triển ở

thành phố Hồ Chí Minh, Sở Văn hóa Thông tin TP. Hồ Chí Minh-1988

57.Nguyễn Lê Phong, Thử đi tìm phương pháp giáo dục hiệu quả,

NXBGD, Hà Nội,1999.

58.Võ Quang Phúc, Mấy vấn đề cấp bách của lý luận dạy học. Trường

CBQL Giáo dục và Đào tạo -TPHCM, 1996.

59.Võ Quang Phúc, Nghiên cứu khoa học giáo dục, Trường CBQL Giáo

dục và Đào tạo II-TPHCM, 2001.

60.Võ Quang Phúc, Giáo dục đổi mới dưới góc nhIn của khoa học giao

dục, Trường CBQL Giáo dục và Đào tạo II-TPHCM, 1998.

61.Huỳnh Phước, Thực trạng và những biện pháp xã hội hoa giáo dục trên

địa bàn Đà Nẵng-Luận văn Thạc sĩ cao học, ĐH Sư phạm Hà Nội.

62.Nguyễn Ngọc Quang, Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo

dục, Trường CBQL Giáo dục TƯ 1, 1989.

63.Hồng Quân, "Bán công trong trường công-Giải pháp tình thế đến bao

giờ?", Báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 24-6-2002.

64.Hồng Quân, "Một số vấn đề về xã hội hóa giáo dục ở TP. Hồ chí

Minh", Tạp chí Khoa học Xã hội, số 1-2002.

65.Hồng Quân, "Vì sao nhiều trường dân lập đang chết mòn?". Báo Sài

Gòn giải Phóng, 7-2002.

66.Hồng Quân, "Xã hội hóa giáo dục ở một phường mới", Báo Sài Gòn

Giải Phóng, ngày 20-11-1998.

67.Hồng Quân, "Ba chuyện đáng nhớ về giáo dục ở quận 12", Báo Sài

gòn giải Phóng, số Xuân Quý Mùi 2003.

68.Trần Hồng Quân, Một số vấn đề đổi mới trons lĩnh vực giáo dục và

đào tạo, NXBGD, Hà Nội, 1995.

69.Trần Hồng Quân, 'Thực hiện xã hội hóa giáo dục", Báo Lao Động,

ngày 6-9-1994.

70.Trần Lê Sáng, Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp ba

bậc thầy của nền giáo dục Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997.

71.Lê Thanh Sinh, "Một số suy nghĩ về triết lý giáo dục nhằm góp phần

phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt

Nam", Hội thảo khoa học "Phát triển văn hóa. con người và nguồn nhân lực

trong thời kỳ CNH.HĐH", Viện Nghiên cứu con người và Viện Khoa học Xã

hội tại TP. Hồ Chí Minh tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh, tháng 7-2002.

72.Vũ Văn Tảo (dịch), Học tập: Một kho báu tiềm ẩn, Báo cáo của Hội

đồng quốc tế về "Giáo dục cho thế kỷ 21" gửi UNESCO, NXBGD Hà Nội,

1997.

73.Đỗ Thiết Thạch, Xã hội hóa giáo dục và công tác phối hợp của Hiệu

trưởng với các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường, Trường Cán bộ

quản lý giáo dục và đào tạo II, 2001.

74.Thành phố Hồ Chí Minh tự giới thiệu-tập 2, Nhà xuất bản Thành phố

Hồ Chí Minh, 2000.

75.Hà Nhật Thăng, Giáo dục hệ thốns giá trị đạo đức nhân văn, NXBGD,

Hà NỘU998.

76.Lê Thi (Chủ biên), Gia đình Việt Nam ngày nay, Trung tâm Khoa học

Xã hội và nhân văn quốc gia, Hà Nội 1996.

77.Nguyễn Khánh Toàn, Một số vấn đề giáo dục của Việt Nam, NXBGD,

Hà Nội, 1995.

78.Nguyễn Phan Toàn, " Xã hội hóa giáo dục ở thành phố Hồ Chí Minh",

Nhân Dân, ngày 24-8-2001.

79.Lê Văn Trúc, Võ Quang Phúc dịch, Giáo dục con trong gia đình không

toàn vẹn, NXBGD, Hà Nội, 1991.

80.Trung tâm đào tạo tư vấn- Thông tin kinh tế, Những vấn đề kinh tế

trong quá trình xã hội hóa giáo dục-đào tạo theo hướng CNH, HĐH đất nước,

Hà Nội tháng 4-1998.

81.Nguyễn Trung (sưu tầm, biên soạn) Những quy định về chính sách xã

hội hóa các hoạt động giáo dục, văn hóa, y tế, thể thao, NXB Lao Động, Hà

Nội, 2001.

82.Dương Tùng, "Con người và cốt lõi của chính sách xã hội vI con

người", Tạp chí Cộng sản, số 14-1997.

83.Trần Văn Tùng, Nền kinh tế tri thức và yêu cầu đổi mới giáo dục Việt

Nam, NXB Thế Giới, Hà Nội, 2001.

84.Trần Văn Tùng, Lê Ai Lâm, Phát triền nguôn nhấn lực Kinh nghiệm

thế giới và thực tiễn nước ta, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.

85.Thái Duy Tuyên, Những vấn đề cơ bản giáo dục học hiện đại,

NXBGD Hà Nội, 1999.

86.Viện Khoa học xã hội tại TP.HỒ Chí Minh, sở Văn hóa Thông tin TP.

Hồ Chí Minh, Sài Gòn-TP. Hồ Chí Minh thế kỷ XX- Những vấn đề lịch sử-văn

hóa, Nhà Xuất bản trẻ, 2000.

87.Viện Khoa học Giáo dục, Phương pháp điều tra, đánh giá và tổng kết

công tác giáo dục, NXBGD, Hà Nội, 1997.

88.Viện Nghiên cứu con người, Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ

Chí Minh, Kỷ yếu hội thảo Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực

trons thời kỳ côns nghiệp hóa, hiện đại hóa, thành hồ Chí Minh ngày 11-7-

2002.

89.Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, Những vân đe ve chiên lược phát

niên giáo dục trong thời kỳ CNH,HĐH: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng

chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, NXB Giáo dục, Hà Nội. 1998.

90.Nguyễn Như Ý, Đại Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, Hà

Nội.1999...

II. NƯỚC NGOÀI:

91.A.M. Lee, Marriage anh the family second education, Barner anh

Noble, New York, 1996.

92.A.s. Macarencô, Tuyển tập các tác phẩm sư phạm tập I, NXBGD Hà

Nội, 1984.

93.Harold Kooontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich, Những vấn đề cốt

yếu của quản lý, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội 1998.

94.Raja Roy Singh, Nền giao dục cho thế kỷ 21: Những triển vọng của

châu Á-Thái Bình Dương, Cơ quan chính của ƯNESCO khu vực châu Á và

Thái Bình Dương, Băng cốc 1991- bản tiếng Việt do Viện Khoa học Giáo dục

Việt Nam xuất bản, 1994.

95.P.V. Zimin, M.I. Kôndakốp, Ni. Saxerđôlốp, Những vấn đề quản lý

trường học, Trường CBQLGD-BỘ Giáo dục 1985.

PHỤ LỤC

PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN VỀ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN XÃ HỘI

HÓA GIÁO DỤC Ở QUẬN 12 TPHCM

Kính gửi...

Kính thưa đồng chí,

Để giúp cho việc lựa chọn các giải pháp tổ chức thực hiện có hiệu quả

chủ trương xã hội hóa giáo dục ở quận 12 TPHCM, kính mong đồng chí đánh

giá tác dụng của các giải pháp sau đây theo thang điểm từ 1 đến 6 (tác dụng

càng lớn, điểm càng cao), bằng cách đánh dấu X vào cột ứng với điểm được

cho.

Kính mong đồng chí bỏ chút thời gian và tâm huyết đóng góp vào việc

xây dựng chủ trương quan trọng và cấp bách nhằm phát triển sự nghiệp giáo

dục-đào tạo địa phương. Xin trân trọng cảm ơn.

PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN

Để góp phần thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục trên điạ bàn quận 12

TPHCM, xin ông (bà) vIII lòng cho biết ý kiến của Minh về những vấn đề sau:

I.VỀ Ý NGHĨA, TẦM QUAN TRỌNG CỦA XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC

Câu 1: Có người cho rằng, xã hội hóa giáo dục là không cần thiết Ý kiến

của ông (bà) thế nào?

-Đúng [ ]

-Không đúng [ ]

-Không có ý kiến [ ]

Câu 2: Ông (bà) đánh giá như thế nào về tầm quan trọng của xã hội hóa

giáo dục

-Rất quan trọng [ ]

-Quan trọng [ ]

-Không quan trọng [ ]

-Không có ý kiến [ ]

II. VỀ KHÁI NIỆM XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC

Câu 1: Ông (bà)quan niệm xã hội hóa giáo dục như thế nào?

…………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………….……

………………………………………………………………………………….

Câu 2: Có người cho rằng, xã hội hóa giáo dục là huy động tiền của và cơ

sở vật chất cho giáo dục. Ý kiến của ông (bà) như thế nào?

-Đúng [ ]

-Không đúng [ ]

-Không có ý kiến [ ]

Câu 3: Theo ý kiến của ông (bà), xã hội hóa giáo dục là gì?

-Huy động toàn dân tham gia làm giáo dục [ ]

-Đóng góp tiền của cho nhà trường [ ]

-Tổ chức các mối quan hệ giữa gia đình-nhà trường-xã hội [ ]

-Phát huy trách nhiệm của nhà trường đối với xã hội [ ]

-Cả 4 nội dung trên [ ]

-Có ý kiến khác (nếu có)…………………………………………..

III.VỀ NỘI DUNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC:

Câu 1: Để thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, theo ý kiến của ông

(bà), trong những giải pháp sau đây, giải pháp nào là quan trọng nhất (giải pháp

quan trọng nhất thì ghi số 1, giải pháp quan trọng thứ hai thì ghi số 2, cứ thế

cho đến hết).

-Đa dạng hóa các loại trường lớp, phát triển mạnh trường bán công, dân

lập, tư thục [ ]

-Kết hợp tốt các lực lượng giáo dục trong nhà trường [ ]

-Tổ chức đại hội giáo dục, xây dựng mối quan hệ tốt trong nội bộ nhà

trường và giữa nhà trường-gia đình-xã hội [ ]

-Sự gương mẫu của Hội đồng sư phạm nhà trường [ ]

-Cả 4 giải pháp trên đều quan trọng và cần thiết [ ]

Câu 2: Ông (bà) hãy nêu 3 lực lượng có vai trò quan trọng nhất đối với

việc thực hiện xã hội hóa giáo dục

[ ] -Ban giám hiệu -Đảng ủy

[ ] -Ban Chấp hành Công đoàn

[ ] -Đoàn Thanh niên (đội thiếu niên)

[ ] -Hội phụ huynh học sinh

[ ] -Các lực lượng khác (nếu có)

Câu 3: Theo ông (bà), mở trường bán công, dân lập, tư thục có phải nhằm

thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục ở địa phương không?

-Đúng [ ]

Lý do vì sao?

……………………………………………………………………………........

-Không [ ]

Lý do vì sao?

Câu 4: Theo ông (bà), nội dung và hình thức đại hội giáo dục ở địa

phương cần thay đổi như thế nào để góp phần thực hiện tốt xã hội hóa giáo

dục?

…………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………....

IV.VỀ THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ở ĐỊA PHƯƠNG

Câu 7: Theo ông (bà) địa phương đã làm gì để thực hiện xã hội hóa giáo

dục?

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………….

Câu 2: Nhận xét của ông (bà) về việc phát huy vai trò của nhà trường đối

với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của địa phương?

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………….

Câu 3: Ai là những người chịu trách nhiộm chính trong việc thực hiện xã

hội hóa giáo dục ở địa phương?

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………….

V. ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở ĐỊA

PHƯƠNG

Câu 1: Ông (bà) đánh giá như thế nào về những ưu điểm, nhược điểm

trong việc thực hiện xã hội hóa giáo dục ở địa phương?

-Ưu điểm:

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………….

-Nhược điểm:

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………….

Câu 2: Những nguyên nhân đưa đến việc thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục

ở địa phương?

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………….

Câu 3: Những nguyên nhân nào làm cho việc thực hiện xã hội hóa giáo

dục ở địa phương chưa tốt?

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………….

VI. VỀ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC

Câu 1: Theo ông (bà) cần làm gI để thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục?

-Về phía nhà trường:

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………….

-Về phía gia đình:

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………….

-Về phía xã hội:

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………….

Câu 2: Thèo ông (bà), để thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục ở địa phương,

cần giải quyết những vấn đề gì?

-Trách nhiệm của nhà trường đối với xã hội?

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………….

-Trách nhiệm của các tổ chức xã hội đối với sự nghiệp giáo dục-đào tạo

của địa phương?

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………….

-Cha mẹ học sinh có thê đóng góp được gI đế thực hiện xã hội hóa giáo

dục?

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………….

Câu 3: Xin ông (bà) vui lòng đề xuất những giải pháp mà ông (bà) cho là

hiệu quả nhằm triển khai xã hội hóa giáo dục tại quận 12 TPHCM?

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………….

Câu 4: Xin ông (bà) cho biết đôi nét về bản thân?

…………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………….

Họ và tên (nếu được thì ghi)

-Tuổi:

-Nam Nữ:

-Chức vụ công tác hiện nay:

-Trình độ văn hóa:

-Trình độ chuyên môn:

Xin cám ơn những ý kiến quý báu của ông (bà).