
LUẬN VĂN:
Thực trạng về vấn đề đưa KTNN giữ vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế ở nước ta hiện
nay đó đạt được thành quả gì và những
tồn tại, yếu kém nào cần khắc phục -
nguyên nhân của thực trạng đó

MỞ ĐẦU
Việt nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xó hội (CNXH) và theo lý
luận của Lenin về nền kinh tế trong thời kỳ quỏ độ vận dụng vào kinh tế, có phải
nó ý nghĩa là chế độ hiện nay có những mảnh của cả chủ nghĩa tư bản (CNTB) lẫn
CNXH không? Bất cứ ai cũng thừa nhận là có, song cũng không phải bất cứ ai
cũng thừa nhận điểm ấy đều suy nghĩ xem các thành phần của kết cấu kinh tế - xó
hội hiện cú ở Nga là như thế nào mà tất cả then chốt cả vấn đề lại chính là ở đó.
Áp dụng vào nền kinh tế Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đó chủ trương xây dựng
một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng XHCN. Đó là một chủ trương đúng đắn và phù hợp với quy luật phát triển
khách quan, bởi thông qua chủ trương này một nền kinh tế mới được mở ra,các
thành kinh tế mới hỡnh thành được lập ra từ chính nguồn vốn trước đây nằm phân
tán trong các tầng lớp dân cư,do đó mà huy động được tối đa của cải vật chất
trong xó hội để xây dựng đất nước. Từ khi có chính sách đổi mới (1986) đến nay,
các thành phần kinh tế đó đóng góp nhất định của mỡnh vào xõy dựng vào nền
kinh tế quốc dõn, thỳc đẩy sự phát triển của đất nước,qua so sánh giữa hai thời kỳ
kinh tế (Kinh tế cũ kế hoạch hoá tập trung và kinh tế hàng hóa) ta thấy một bước
phát triển vượt bậc của nền kinh tế nước ta .
Tuy nhiờn, theo lý luận Mac: ”Trong bất cứ hỡnh thỏi kinh tế xó hội nào
cũng cú phương thức sản xuất (PTSX) giữ vị trí chi phối”. Có nghĩa là trong mỗi
chế độ xó hội cần cú một thành phần kinh tế giữ vai trũ chủ đạo, có nghĩa là trong
mỗi chế độ XHCN cần có một thành phần kinh tế giữ vai trũ chủ đạo, dẫn dắt các
thành phần kinh tế khác đi theo một định hướng xó hội nhất định. Ngay từ đầu lập
nước, đảng ta đó xỏc định đưa nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xó hội, mà cơ sở
hỡnh thành nên CNXH đó chính là chế độ công hữu về tư liệu sản suất (TLSX),
tức là TLSX thuộc sở hữu toàn dân. Kinh tế nhà nước (KTNN) là thành phần kinh
tế được hỡnh thành trờn hỡnh thức sở hữu toàn dõn vỡ vậy một tất yếu khỏch quan
là KTNN phải là thành phần kinh tế nắm vai trũ chủ đạo nhằm hướng toàn bộ nền
kinh tế đi theo định hướng XHCN.

Đảng và nhà nước ta đó xỏc định rằng thời kỳ quá độ lên CNXH đũi hỏi một
thời gian rất lõu dài và sẽ gặp nhiều khú khăn thách thức đặc biệt Việt Nam lại đi
lên từ chế độ phong kiến bỏ qua chế độ TBCN. Ta biết rằng “chính trị là tập trung
của kinh tế”, do đó kinh tế là con đường để hỡnh thành một thể chế chớnh trị. Ta
định hướng xây dựng CNXH thỡ phải phỏt triển thành phần kinh tế nhà nước thật
vững chắc ,làm sao để nó thể hiện vai trũ chủ đạo của KTNN, nắm được quy luật
vận động khách quan của kinh tế để từ đó có cách tác động để KTNN thể hiện
được vai trũ trọng yếu của nú, để đất nước ta đi đúng theo định hướng đó chọn.
Việc nhiờn cứu (NC), tỡm hiểu rồi đến nắm bắt bản chất cũng như vai trũ của
KTNN sẽ giỳp mỗi chỳng ta thấy được tầm quan trọng, tính thiết yếu phải phát
triển KTNN ở nước ta hiện nay nhận thức được những đường lối, chính sách phát
triển mà đảng và chính phủ đưa ra nhằm cải tổ và xây dựng nền kinh tế XHCN
tiến kịp với thế giới, nhưng cũng đồng thời thôi thúc mỗi chúng ta cần phải góp
sức mỡnh vào cụng cuộc đất nước bằng cách dựa trên những gỡ mà ta đó đạt
được và chưa làm được để đưa ra những giải pháp kiến nghị hữu ích cho việc đưa
KTNN lên nắm vai trũ chủ đạo cũng là để xây dựng nền kinh tế nước nhà ổn định,
phát triển và bền vững.
Đồ án của tôi sẽ đi sâu vào NC về một số vấn đề sau:
Phần I: Khát quát về một số vấn đề lý luận về KTNN, vai trũ chủ đạo của
KTNN, giải thích vỡ sao sự hỡnh thành KTNN là một tất yếu và sự cần thiết của
vai trũ chủ đạo của KTNN trong chế độ của chúng ta hiện nay.
Phần II: Thực trạng về vấn đề đưa KTNN giữ vai trũ chủ đạo trong nền kinh
tế ở nước ta hiện nay đó đạt được thành quả gỡ và cũn những tồn tại, yếu kộm nào
cần khắc phục - nguyên nhân của thực trạng đó.
Phần III: Một số giải phỏp và kiến nghị nhằm phỏt huy những gỡ đó đạt
được ,khắc phục những hạn chế ,thiếu sót trong việc đưa KTNN lên nắm vai trũ
chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

NỘI DUNG
I. Một số vấn đề lý luận về KTNN:
1. Một số khái quát chung về KTNN:
1.1 Khái niệm chung về thành phần KTNN:
Để hiểu đầy đủ về thành phần KTNN, trước hết ta phải tỡm hiểu thành phần
kinh tế nhà nước là gỡ và thành phần KTNN xuất hiện ở nước ta khi nào.
Là một nước đi sau trong tiến trỡnh xõy dựng CNXH, chỳng ta được học hỏi
rất nhiều kinh nghiệm từ những nước đi trước mà tiên phong là Nga (Liên Xô cũ).
Từ luận điển Lenin về nền kinh tế trong thời kỳ quá độ - đó phải là nền kinh tế
nhiều thành phần. Đảng và nhà nước ta đó ỏp dụng vào thực tiển ở nước ta và đưa
ra chủ trương xây dựng một nền kinh tế đa phần mang tính đặc trưng của thời kỳ
giao thời giữa kinh tế TBCN và XHCN.
Trước hết ta hiểu thế nào là một thành phần kinh tế? Thành phần kinh tế hay
đơn vị kinh tế hay đơn vị kinh tế cơ sở của nền kinh tế quốc dân là một kiểu tổ
chức kinh tế dựa trên một hỡnh thức sở hữu nhất định có quan hệ quản lý và quan
hệ phân phối riêng của nó. Trong nền kinh tế nước ta có ba hỡnh thức sở hữu cơ
bản là: Sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Từ đó mà hỡnh thành
nờn cỏc thành phần kinh tế khỏc nhau.
Thành phần KTNN đó xuất hiện như thế nào trong nền kinh tế Việt Nam? Ta
sẽ trở lại từ những ngày đầu giai cấp vô sản giành được chính quyền và bắt tay vào
xó hội mới với một nền kinh tế mới. Đảng ta đó lónh đạo nhân xây dựng đất nước
theo con đường XHCN, thực hiện mục tiêu “Dân giàu nước mạnh, xó hội cụng
bằng, dõn chủ và văn minh”. Để xây dựng nền chính trị XHCN thỡ đũi hỏi phải cú
nền kinh tế đặc trưng cho hỡnh thỏi chớnh trị ấy - một nền kinh tế cú thành phần
chớnh hỡnh thành trờn chế độ công hữu. Trong lúc bấy giờ, nền kinh tế Việt Nam
dựa trên chế độ tư hữu, đó là sở hữu tư nhân của những người sản xuất nhỏ và sở
hữu tư nhân của CNTB. Đối với hỡnh thức này, Nhà nước đó tiến hành cải tổ, sắp
xếp để phát triển thành phần kinh tế cá thể tiểu thủ công nghiệp và thành phần
kinh tế tư bản tư nhân - là đại diện của quan hệ sản xuất cũ CNTB. Vậy để xây
dựng một nền kinh tế mới XHCN, nhà nước đó đầu tư xây dựng các doanh nghiệp

của mỡnh trong cỏc nghành kinh tế, kết quả là hỡnh thành nờn một thành phần
kinh tế mới – KTNN.
Từ đó ta khái niệm được thành phần KTNN là gỡ? Đó là thành phần kinh tế
dựa trên sở hữu toàn dân (hay sở hữu nhà nước). Việc tổ chức kinh doanh tiến
hành theo nguyên tắc hoạch toán kinh tế và thực hiện phân phối theo lao động.
Như vậy, đặc điểm cơ bản của thành phần KTNN với các thành phần kinh tế
khác đó là hỡnh thức sở hữu và nguồn vốn hỡnh thành. Cú thể toàn bộ vốn đều
thuộc sở hữu nhà nước hoặc có thể phần vốn đóng góp của nhà nước chiếm tỷ lệ
khống chế (>50% vốn).
1.2 Phân loại KTNN:
KTNN bao gồm ba thành phần cơ bản đó là: các doanh nghiệp nhà nước
(DNNN), các tổ chức nhà nước, những tài sản thuộc sở hữu toàn dân.
*Về Doanh nghiệp nhà nước (DNNN)
Khái niệm: DNNN là doanh nghiệp 100% vốn của nhà nước hoặc Doanh
nghiệp cổ phần trong đó vốn của nhà nước chiếm tỷ trọng chi phối.
Trong ba nhõn tố cấu thành KTNN ở trờn thỡ DNNN là nhõn tố (hay thành
phần) giữ tỷ lệ cao nhất và vai trũ quan trọng nhất trong việc đảm bảo cho KTNN
giữ được vai trũ chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Bởi vậy khi đề cập đến vai
trũ chủ đạo của KTNN thỡ người ta thường đề cập đến DNNN là chủ yếu. Ngay
trong nghị quyết hội nghị lần thứ ba ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX về
tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN. Hội nghị đó
khẳng định rừ quan điểm “KTNN cú vai trũ quan trọng trong việc giữ vững định
hướng XHCN. DNNN giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất
quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nũng cốt,
gúp phần quan trọng để KTNN thực hiện vai trũ chủ đạo trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN”.
DNNN cũng được chia ra làm hai loại: Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và
hoạt động công ích. Cả hai loại doanh nghiệp này đều mang các đặc điểm của các
thành phần của KTNN và thông thường chúng được chia làm hai loại nhỏ: các
doanh nghiệp do nhà nước giữ 100% và một loại doanh nghiệp do nhà nước giữ
cổ phần chi phối.

