Một số vấn đề về chuẩn mực hoá ngôn ngữ
Nhu cuợn từ
Nhu cun t
Hành động mượn từ có thể chẳng có lí do gì chính đáng, chng đáp ứng một nhu
cầu thực sự nào về ngôn ngữ, mà nhiều khi, chỉ là biểu hin của ý thức không tôn
trọng, không nghiêm túc đối với ngôn ngữ ca dân tộc. Ở đâu cũng có sự tình này.
Ở ta, rõ ràng là khi đã như như thế. Thực ra, cái cớ lúc đầu là chưa có sẵn từ
trong bn ngữ để đáp ứng ngay mt nội dung mới, còn có tính chất ngoại. T d,
chừng nửa thế kỉ trước, cái xe đạp là một trường hợp như thế và có người đã gọi nó
là t hành xa! Thí d này đáng chú ý, vì trước đây có lắm người thông tiếng Hán
hễ gặp một nội dung mi từ phương Tây đến (đặc biệt là khái niệm trừu tượng v
văn hoá, chính trnhưng cả khi là svật cụ thể cũng thế) thì một mặt, cự tuyệt
chất liệu Pháp; mt khác cũng không chịu tìm chất liệu Việt mà sẵn sàng dùng
ngay chất liu Hán, tức Hán Việt. Sự tình này, như đã nói, có nguyên nhân lịch sử
trong quá trình tiếp xúc quá dài giữa tiếng Việt và “chữ Hán”, tức là dng ngôn
ngviết của tiếng Hán được tiếp tục dùng Việt Nam, từ khi c ta thoát khi
ách thng tr của Trung Hoa. Sự tình y đã ảnh hưởng khá rõ đến trạng thái chung
của từ vựng tiếng Vit. Mặc dù thế, nếu dùng lm từ Hán Việt, tức là n gốc
Hán là vn gây ra phnng chống đối của người Việt Nam. Thành xa đã tự lúc
đầu tỏ ra là một sự kém cỏi học giả, không chp nhn được và đã nhanh chóng b
thay thế bằng xe đạp. Tmượn gốc Pháp cũng có thể gây ra phn ứng đó. Tủ lạnh
đã được hoan nghênh để thay thế fri-gi-de. Ti vi chắc chắn rồi sẽ chịu số phận như
fri-gi-de tự hành xa thôi.
Những t dụ trên đây về sự thay thế từ mượn bằng từ Việt chứng tỏ rằng bản ngữ
là một nguồn chất liệu hình thc để thay thế, và xu hướng sử dụng chất liệu đó,
một cách trit để và sáng tạo, có ý nghĩa và tác dụng quan trọng trong sự chuẩn
mực hoá bản ngữ. Tuy vậy, những t dụ như thế trong tiếng Việt còn cho thấy là,
tự khi mượn nó tới khi không n nữa, tức là tới khi thay thế được từ n bằng
bản ngữ, thường là có thời gian, để ni dung đủ mc đi sâu vào đời sống và để tìm
ra hình thức bn ngữ đáp ứng nội dung đó một cách đáng hài lòng. Sự thực, có khi
phải tiếp tc dùng tmượn, vì lẽ đơn giản chưa có khả năng thay thế. Không
dẫn thí d nhưng rất dễ thấy là trong tiếng Việt,những bộ phn của cái xe đạp
hay xe máy đã được gọi bằng từ sẵn có, hoặc từ đặt ra để thay thế từ n, hoặc từ
mượn đồng hoá, nhưng rõ ràng là còn có những bộ phận phi tiếp tc gi bằng từ
mượn. Đó là những sự vt cụ thể. Khi là những khái niệm, những tư tưởng thì s
thay thế li càng không phi đơn giản.
Cho nên, trong nh động mượn từ, và thái độ tiếp tục dùng tn, còn phi
thấy rằng có trường hợp, nhu cầu là thực sự.
Thường có hai nhu cầu chính: nhu cầu định danh chính xác và nhu cầu gi cảm.
Tất nhiên, hoàn toàn không có căn cứ để nói rằng từ bản ngữ không đủ sức đáp
ứng nhu cầu định danh chính xác. Tuy vậy, có những trường hp, những phạm vi,
khi nội dung có tính cht đặc biệt thì mượn, do chỉ một nghĩa nên đáp ứng được
tốt nhất đòi hi phải gọi tên cái nội dung ấy mà không gây ra ln ln. Đó là, chng
hạn trường hợp từ công-tây- dẫn ra ở trên trong tiếng Việt: từ n này, vốn ở
tiếng Anh là “containerchỉ cái chứa, cái đựng nói chung, và chỉ một loại thùng
đặc biệt chuyên dùng trong vận tải; nếu thay thế nó bằng từ thùng cho đơn giản thì
không thoả mãn nhu cu định danh nói trên, bởi vì không phi loại thùng nào cũng
là công-tây- cả. Ging như trường hợp từ can cũng có nghĩa như là thùng và gốc
ở tiếng Anh là từ “can; nhưng để đựng dầu hoả của người này là cái can bng kim
khí hay bng nhựa hẳn hoi, mà của người khác có th tạm bợ một cái thùng nào đó
không gi là can được. Cái khác nhau là: chuyn can, chuyện đời sống bình
thường, còn chuyn công-tây- quan trng n nhiều; đây là chuyện vận tải hàng
hoá, theo tiêu chun quốc tế của một ngành hoạt động kinh tế. Từ n công-tây-
một thuật ngữ khoa học, mt danh từ chuyên môn hay chuyên danh.
Thiết nghĩ đối vi thut ngữ thì giá trị định danh chính xác mà nó phi có là một
yêu cu cần để lên hàng đầu. Điu mà các nhà khoa học trong các nnh khoa học
tnhiên, khoa học kĩ thuật và khoa học xã hội đều muốn tránh, là tình trạng một
khái nim được định danh bằng những từ khác nhau, và một từ dùng để định danh
những khái nim không giống nhau. Cho nên, một mặt, nhà khoa học không thể
không thấy yêu cu của xã hội là chớ làm cho ngôn ngữ khoa học trở thành một
thngôn ngữ quá tách biệt khỏi ngôn ngữ chung can tộc; nhưng mặc khác, xã
hội cũng không thể không thấy yêu cu của nhà khoa học là ch gây ra, bằng một
quan nim quá dễ dãi về thuật ngữ, những sự hiu lmthể ảnh hưởng không tốt
đến sự phát triển của khoa học. Trong tình hình hin nay, ngành khoa học nào cũng
có trình độ chuyên môn hoá sâu của nó cho nên tiếng nói quyết định trong việc xây
dựng h thống thuật ngữ của mỗi ngành nói chung, vài riêng, việc nên hay
không nên dùng từ mượn, thay thế hay không thay thế tmượn bằng từ ca bản
ngữ cần được dành cho các nhà khoa học của mi ngành. Tất nhiên, các nhà khoa
học nên có sự cố gắng nhìn đến các nguyên tắc chun mc hoá ngôn ngữ, trong
khuôn khổ chuẩn mực hoá từ vựng.
Giá trị định danh chính xác của thut ngữ, hiện nay, cũng có ý nghĩa quốc tế. Một
trong các hoạt động của “Hội thuật ngữ học quốc tế” là thu thập thuật ngữ mới, của
một số thứ tiếng trên thế giới (trong đó có tiếng Vit) để so sánh và phát hiện
những hiu lm có thể sinh ra giữa các nhà khoa học ở những nước khác nhau
nhưng hoạt động trong cùng một ngành. Tuy vy, ở din quốc tế, vn đề thống nhất
hoá hay quốc tế hoá thuật ngữ lại một ka cạnh tư tưởng đáng chú ý là một số
nước đã đi những bước trước trong mt ngành khoa học nht định, có ý muốn dùng
thuật ngữ của nước mình là cái cơ sở cho thuật ngữ của những nước khác. Thí dụ,
không ít người cho rằng các khái niệm của điều khiển học đã sinh ra và được hoàn
chỉnh hoá trước ở Mĩ, cho nên đồng bộ thuật ngữ của ngành này bất cứ nước nào
cũng nên mượn của Mĩ. Quan điểm ấy không phải đã đượcn thành một cách dễ
dàng, và cũng không ít người những nước khác, những nước có vai vế như Mĩ về
mặt khoa học, cho rằng sự tràn lan của những “americanisme” ấy là vô lối, và cn
phải nhìn li. Những quan niệm như thế ở góc độ này hay góc độ kia, ở góc độ
nào cũng thể hin quan điểm tư tưởng, với ít hay nhiều màu sắc dân tộc chủ nghĩa,
thm c sô-vanh chủ nghĩa. Vì thế, một nước đang phát triển v khoa học và đang
làm ng tác thuật ngữ học, như nước ta, không nên mắc vào stranh cãi như thế,
và trong trường hợp cần phi dùng tmượn làm thuật ngữ thì mượn của tiếng nào
là chủ động lựa chọn theo tiêu chuẩn về tính chất hệ thống có thể đạt được trong
tiếng Việt và theo quan đim, như đã nói, về sự tiếp xúc ngôn ngữ càng ngày càng
rộng m giữa tiếng Việt với các thứ tiếng khác…
Về nhu cầu gợi cảm, cũng cần thấy rằng không phải chỉ từ mượn có khả năng đáp
ứng, mà trái lại, ưu thế ở mặt này nói chung thuộc về từ bản ngữ. Nhưng thế nào là
sự gợi cảm của từ? Có thể tạm nói rằng từ mà có sức gợi cảm là khi ngoài chức
năng định danh, nó cònthể tạo nên những mối liên hệ đặc bit giữa ý thức vi
thực tế, trong một hoàn cnh nhất định. Như vậy, nhu cầu gợi cảm một từ cũng có