
LUẬN VĂN:
Một số vấn đề cơ bản về
KTTT định hướng XHCN

A/ lời mở đầu
Như chúng ta đã biết nước ta là một nước tiến lên con đường XHCN ,đã bỏ
qua giai đoạn phát triển lên tư bản chu nghĩa .Có nghĩa là chúng ta đã bỏ qua cơ sở
vật chất kỹ thuật tư bản chủ nghĩa với tư cách là cơ sở vật chất kỹ thuật tiến bộ nhất
,do đó nước ta đi lên con đường XHCN với cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém lạc
hậu .Mặt khác, đất nước trải qua hai cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt trong suốt 30
năm làm cho nền kinh tế đất nước ngày càng kiệt quệ. Cũng trong một thời gian dài
của chiến tranh nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế bao cấp các quy luật kinh tế
,các nhân tố thúc đẩy kinh tế không có.Sự trầm trọng của nền kinh tế nước ta cuối
cùng đã có giải pháp tháo gỡ. Năm 1986 đảng và nhà nước ta đã quyết định chuyển
từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh té thị trường định hướng
XHCN có sự quản lý của nhà nước. Các quy luật kinh tế được áp dụng một cách hợp
lý vào nền kinh tế nước nhà đã tạo nên động lực thúc đẩy nền kinh tế .Nhưng KTTT
còn rất nhiều cái cần phải bàn tới để áp dụng ngày càng có hiệu quả vào nền kinh tế
nước nhà. Do đó tôi chọn đề tài “ Một số vấn đề cơ bản về KTTT định hướng
XHCN ở Việt Nam ” với mong muốn được tìm sâu hơn nền kinh tế thị trường theo
định hướng XHCN

B/ nội dung
I. Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã
hội chủ nghĩa (XHCN )
1.Quan niệm về kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá, trong đó
toàn bộ các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất đều thông qua thị trường kinh tế thị
trường và kinh tế hàng hoá không đồng nhất với nhau chúng khác nhau về trình độ
phát triển về cơ bản chúng có cùng nguồn gốc và cùng bản chất.
Kinh tế thị trường là thể chế kinh tế vận hành nó có thể thực hiện dưới chủ
nghĩa tư bản cũng dưới chủ nghĩa xã hội không nên đồng nhất kinh tế thị trường với
chủ nghĩa tư bản , bởi những lý do sau đây.
Một là, kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản.
Kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá đã từng tồn tại
trước chủ nghĩa tư bản.
Hai là, kinh tế thị trường là thể chế kinh tế vận hành, nó không phải là cơ sở
kinh tế của một chế độ xã hội.Nếu quan niệm kinh tế thị trường như là cơ sở kinh tế
thì sẽ đi đến kết luận đã xây dựng kinh tế thị trường,thì chế dộ tương ứng với nó phải
là chế độ tư bản.Dĩ nhiên kinh tế thị trường và chế độ xã hội có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau.Nhưng nó không phải là mối quan hệ giữa cơ sở kinh tế với kiến trúc
thượng tầng.Cơ sở kinh tế của một chế độ xã hội là hệ thống quan hệ sản xuất thống
trị .Trước hết là chế độ xã hội quyết định .Cơ sở kinh tế của CNXH là hệ thống
QHSXXHCN dựa trên chế độ công hữu XHCN về TLSX
Ba là , kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội có thể dung hoà
KTTT là một thể chế kinh tế vận hành mà theo một số nhà nghiên cứu chế độ sở
hữu không quyết định trực tiếp thể chế kinh tế , mà thông qua cơ cấu quyền sở hữu
Tài sản được hình thành bởi một chế độ sở hữu nào đó tác động gián tiêp dến chế độ
kinh tế .Vấn đề căn bản để hình thành KTTT là sự tồn tại những chủ thể kinh tế độc
lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh , có lợi ích riêng để họ có quyền ra quýet định
phi tập trung hoá .Vì vậy , trong điều kiên chế độ công hữu XHCN cũng có thể thực
hiện được thể chế KTTT.

2.Sự cần thiết khác quan phát triển KTTT định hướng XHCN.
2.1.Phát triển kinh tế thị trường là sự lựa chon đúng đắn.
Trước năm 1986 ở VN cũng như các nước XHCN đã có những nhận thưc không
đúng về KTTT và XHCN vì cho rằng chúng đối lập với nhau không thể cùng tồn tại
cùng phát triển được.KTTT là sản phẩm của CNTB,vì vậỹCNXH không thể xây
dựng trên nền tảng của KTTT mà phải XHCNây dựng trên cơ sở của nền kinh tế
không thị trường.Do những quan niệm trên trong một thời kỳ dài. KTTT không thể
tồn tại trong ý thức hệ cũng như trong thực tế của việt nam.
Trong thời kỳ này mọi hoạt fdộng kinh tế không diẽn ra trên thị trường quan hệ hàng
hoá,tiền tệ bị xem nhẹ các quy luật của KTTT không được nhận thức vận dụng các
đòn bẩy kinh tế như lợi nhuận,tiền lương,giá cả,thuế bị xem nhẹ,thay vào đó là quan
hệ cấp phát hiện vật,sản xuất theo kế hoạch nhà nước,các chi tiêu kinh tế,được soạn
thảo từ nhà nước,làm cho thị trường bị biến dạng đã dần đếnlàm triệt tiêu động lực
phát triển kinh tế ,đã dẫn đến khủng hoảng kinh tế
Chính thực tiễn đó buộc việt nam phải có nhận thức mới về nền kinh tế XHCN.Đó là
KTTT theo định hướng XHCN ,có sự quản lý của nhà nước,Vấn đề dặt ra là tại sao
thừa nhận KTTT có thể tồn tại và phát tiển trong hình thái kinh tế xã hội XHCN.Đại
hội VI của đảng cộng sản việt nam và các văn kiện tiếp theo của đại hội VII,VIII,IX
cũng như các bài viết của các nhà lý luận đã xác định KTTT định hướng XHCN
không đối lập nhau mà có thể bổ xung cho nhau trong quá trình phát triển kinh tế
theo định hướng XHCN .Là vì :
KTTT là sản phẩm chung của nền kinhtế thế giới của sự phát triển lâu dài của nền
kinh tế thế giới phản ánh các nấc tiến hoá trong mỗi giai đoạn cụ thể của nền kinh tế
thế giới.
Sự phù hợp của KTTT và định hướng XHCN.Thể hiện ở chỗ kinh tế hàng hoá KTTT
có nhiều mặt tích cực đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung trong đó có nền
kinh té XHCN .Còn nền kinh tế XHCN kế thừa mặt tích cực của KTTT để blàm cho
nền kinh tế phát triên nhanh hơn,như vậy chúng bổ xung cho nhau.Nền kinh tế ciệt
nam hiện tại và tương lai cần có sự hỗ trợ tích cực đó của nền KTTT .

Như vậy,KTTT nảy sinh là tất yếu khách quan của quá trình vận động của nền kinh
tế thế giới nó sẽ biến đổi trong qua trình đó,nó khong phải là sản phẩm của một
phương thức sản xuất mà sẽ tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất .
Luận điểm đó cho thấy ,XHCN mà việt nam định xây dựng hoàn toàn có thể dung
hợp với kinh tế hàng hoá mà đỉnh cao là KTTT ,có như vậy mới có điều kiện chẩn bị
các tiền đề kinh tế,xã hội cho sự vận động ở trình độ cao hơn những ý tưởng đối lập
với luận điểm này sẽ là lực cản cho quá trình phát triển kinh tế việt nam hiện tại và
tượng lai
2.2.KTTT không những tồn tại khách quan mà còn cần thiết cho công cuộc xây dựng
XHCN
Cơ sở khách quan :KTTT tồn tại khách quan vì vẫn còn cơ sở cho nó tồn tại
Phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở chung của sản xuất hàng hoá chẳng
những không mất đi mà trái lại mà còn được phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu
phân công lao động trong từng khu vực từng địa phương cũng ngày càng phát triển
.Sự phát triển của phân công lao động được thể hiện ở tính phong phú đa dạng và
chất lượng ngày càng cao của sản phẩm đưa ra trao đổi trên thị trường .
Trong nền kinh tế nước ta,tồn tại nhiều hình thức sở hữu đó là sở hữu toàn dân,sở
hữu tập thể sở hữu tư nhân(gồm sở hữu cá nhân,sở hữu tiểu chủ,sở hữu TBTN ),sở
hữu hỗn hợp.Do đó tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập,lợi ích riêng,nên qua hệ kinh
tế giữa họ chỉ có thể thực hịên bằng quan hệ hàng hoá tìên tệ
Thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể tuy cùng dựa trên chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất,nhưng các đơn vị kinh tế vẫn có sự khác biệt nhất định có quyền
tự chủ trong sản xuất kinh doanh có lợi ích riêng.Mặt khác,các đơn vị kinh tế còn có
sự khác nhau về trình độ kỹ thuật công nghệ,về trình độ tổ chức quản lý,nên chi phí
sản suất và hiêu quả sản xuất cũng khác nhau
Quan hệ hàng hoá tiền tệ còn cần thiết trong quan hệ kinh tế đối ngoại,đặc biệt trong
điều kiên phân công lao động quốc tế ngày càng phát triển sâu sắc vì mỗi nước là một
quốc gia riêng biệt, là người sở hữu với các hàng hoá đưa ra trao đổi trên thị trường
thế giới,sự trao đổi ở đây pahỉ theo nguyên tắc ngang giá.
Như vậy, khi KTTT ở nước ta là một tất yếu khách quan thì không thể lấy ý chí chủ
quan mà có thể xoá bỏ nó được.
KTTT cần thiết cho công cuộc xây dựng XHCN.

