BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG -------------------------------------
Phan Quyết Tiến
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
Hà Nội - Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG -------------------------------------
Phan Quyết Tiến
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ : 60340201
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ ĐÔNG
Hà Nội - Năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học hoàn toàn độc
lập của tôi và không trùng lắp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công
bố.
Tôi cũng xin cam đoan toàn bộ số liệu trong luận văn là hoàn toàn
trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận văn
Phan Quyết Tiến
i
DANH MỤC VIẾT TĂT
Viết tắt Nghĩa đầy đủ
DN Doanh nghiệp
VCĐ Vốn cố định
VKD Vốn kinh doanh
ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Công ty …….…….…….36
Biểu đồ 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty một số năm gần đây
………………………………………………………………………………43
Biểu đồ 2.2: Tăng trưởng quy mô vốn của Công ty ………………………45
Biểu đồ 2.3: Vốn lưu động bình quân của Công ty qua các năm …………..49
Bảng 2.1: Thành viên Hội đồng quản trị ………………….………………37
Bảng 2.2: Thành viên Ban kiểm soát của Công ty …….…………………..38
Bảng 2.3: Thành viên Ban giám đốc của Công ty………………………… 39
Bảng 2.4: Cơ cấu tài sản của Công ty qua các năm ………………………..45
Bảng 2.5: Cơ cấu nguồn vốn của Công ty qua các năm ……………………46
Bảng 2.6: Tỷ suất lợi nhuận tổng vốn Công ty qua các năm ……………...47
Bảng 2.7: Hiệu quả sử dụng vốn lưu đồng …………………………………48
Bảng 2.8: Biến động tài sản ngắn hạn của Công ty năm 2013 …………….51
Bảng 2.9: Hiệu quả sử dụng vốn cố định ………………………………….52
Bảng 2.10: Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu…………………………….. 54
Bảng 2.11: Hiệu quả sử dụng vốn vay ……………………………………54
Bảng 2.12: Hiệu quả sử dụng tổng tài sản………………………………… 55
Bảng 2.13: Vòng quay hàng tồn kho của Công ty qua các năm ……………55
Bảng 2.14: Tỷ trọng hàng tồn kho trong tài sản ngắn hạn ………………….56
Bảng 2.15: Hiệu quả quản lý các khoản phải thu của khách hàng ………….57
Bảng 2.16: Hiệu suất sử dụng tài sản cố định ……………………………..58
Bảng 2.17: Tỷ suất lợi nhuận doanh thu ………………………………….59
iii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với đó là công cuộc cải cách nền kinh tế, tiến
tới hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, từ đó đòi hỏi nhu cầu về vốn
cho nền kinh tế nói chung và cho doanh nghiệp nói riêng đang là một vấn đề
lớn. Thực tiễn cho thấy, các doanh nghiệp nước ta hiện đang phải cạnh tranh
khốc liệt để có thể tồn tại và có được chỗ đứng vững chắc trên thương trường.
Để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải tận dụng những lợi thế
của mình, từng bước khắc phục những điểm yếu để nâng cao khả năng cạnh
tranh. Đồng thời, phải quản lý và sử dụng nguồn vốn của mình một cách hiệu
quả để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh
ngày càng quyết liệt như hiện nay.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp,
vốn đóng một vai trò hết sức quan trọng, quyết định sự ra đời, tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được
tiến hành liên tục. Để tiến hành bất cứ một quá trình sản xuất kinh doanh nào,
doanh nghiệp cũng cần phải có vốn. Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều
kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới các giai đoạn của quá trình kinh
doanh, vốn là điều kiện vật chất đầu tiên và cần thiết để thành lập một doanh
nghiệp và tiến hành các hoạt động kinh doanh.
Trong quá trình hoạt động của một doanh nghiệp thực chất là quá
trình doanh nghiệp đi tìm câu trả lời cho ba câu hỏi: Vốn cần bao nhiêu và lấy
từ đâu? Tổ chức sử dụng vốn như thế nào cho tiết kiệm và có hiệu quả? Và
phân phối thu nhập đạt được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp như thế nào? Như vậy, việc tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu
1
quả cao là vấn đề quan trọng để duy trì sự tồn tại hay phát triển của một
doanh nghiệp trong tương lai.
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu quan trọng nhất của doanh
nghiệp suy cho cùng là tối đa hoá lợi nhuận, hoạt động sản xuất kinh doanh
đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Hiệu quả sử dụng vốn phải
gắn liền với việc thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp và là vấn đề
mang tính chất sống còn đối với doanh nghiệp. Nếu không chú trọng tới quản
lý vốn, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì và mở rộng sản xuất
kinh doanh. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề rất quan trọng giúp
doanh nghiệp đứng vững và phát huy hơn nữa thế mạnh của mình. Xuất phát
từ tình hình thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
tại Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây” để nghiên
cứu.
2. Tổng quan nghiên cứu
Bài báo “ Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty Nhà nước trong
quá trình hội nhập” của Trần Văn Quảng, tạp chí kinh tế và dự báo- số
2/2005.
Bài báo đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của công ty Nhà
nước trong thời gian từ 2003 – 2004, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả hiệu quả sử dụng vốn của công ty Nhà nước trong quá trình hội
nhập thời gian tới.
- Bài nghiên cứu, “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường” của Th.S Nguyễn Văn Tạo, Tạp chí Thương
mại, (số 10) trang 10 năm 2004.
Bài nghiên cứu đánh giá và đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
2
Trong đó, bài nghiên cứu phân tích cụ thể đặc điểm vốn trong nền kinh tế thị
trường.
- Luận văn thạc sỹ, Nguyễn Thanh Nhàn (2011), Một số giải pháp nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty thương mại và sản xuất vật tư thiết bị
giao thông vận tải TMT, Luận văn tốt nghiệp, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà
Nội.
Bài luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về vốn và
hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại
Công ty thương mại và sản xuất vật tư thiết bị giao thông vận tải TMT từ năm
2008 – 2010. Trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn của Công ty trong thời gian tới.
Cùng nhiều tài liệu, đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn thạc sỹ đã
được công bố về hiệu quả hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên,
tính cho tới thời điểm hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về
giải pháp nâng cao hiệu quả hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thương
mại dịch vụ có liên quan đến điều kiện đặc thù giống như của Công ty Cổ
phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây”.
3. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa về mặt lý luận những vấn đề cơ bản về vốn và hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ
phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây.
Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho Công ty Cổ
phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
* Đối tượng nghiên cứu: Tình hình sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng
vốn tại Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây trong 3
năm 2012-2014.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: nghiên cứu thực hiện tại Công ty Cổ phần Môi trường
và Công trình đô thị Sơn Tây
- Về thời gian: Thực trạng trong vòng 3 năm 2012-2014, từ đó đề xuất
các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Môi
trường và Công trình đô thị Sơn Tây tới năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: tài liệu thứ cấp là những tài liệu
có sẵn, đã qua xử lý được tác giả thu thập. Tài liệu thứ cấp của luận văn được
thu thập từ các báo cáo tài chính của Công ty qua các năm, báo cáo thường
niên, báo cáo của Hội đồng quản trị,…. cùng các tài liệu nghiên cứu có liên
quan tới đề tài.
Trong đề tài có sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh… làm phương
pháp luận căn bản cho việc nghiên cứu. Phương pháp duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng nhằm tổng hợp, hệ
thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản liên quan. Phương pháp so sánh được
sử dụng nhằm xem xét biến động của các chỉ tiêu kinh tế giữa các thời kỳ.
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu, tổng hợp ý kiến chuyên gia tại công ty.
6. Kết quả nghiên cứu
Về mặt lý luận: luận văn góp phần hệ thống hóa và làm rõ những vấn
đề lý luận liên quan tới vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
4
Về mặt thực tiễn: luận văn đã đánh giá và làm rõ thực trạng hiệu quả sử
dụng vốn của Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây hiện
nay nhằm đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công
ty thời gian tới. Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho Ban
lãnh đạo Công ty hoặc các doanh nghiệp khác, tài liệu tham khảo cho học tập,
nghiên cứu các đề tài có liên quan.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về vốn và hiệu quả sử dụng
vốn trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Môi
trường và Công trình đô thị Sơn Tây
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ
phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN
1.1.1 Khái niệm vốn
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thừa nhận bởi pháp luật trên
một số tiêu chuẩn nào đó. Doanh nghiệp ra đời nhằm mục đích chủ yếu là
hoạt động sản xuất kinh doanh và mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp là
đạt được hiệu quả kinh tế và xã hội cao nhất.
Như ta đã biết, tư liệu lao động, đối tượng lao động và lao động sống là
3 yếu tố của một quá trình sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế hàng hoá
tiền tệ, để có được các yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh đòi
hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định. Để tiến hành bất kỳ một
quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có vốn. Vốn là điều kiện tiên
quyết, có ý nghĩa quyết định tới các bước tiếp theo của quá trình kinh doanh.
Doanh nghiệp sẽ dùng vốn này để mua sắm các yếu tố của quá trình sản xuất
kinh doanh như lao động sống, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Do sự
tác động của lao động vào đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động mà
hàng hoá dịch vụ được tạo ra và tiêu thụ trên thị trường. Cuối cùng, các hình
thái vật chất khác nhau có được chuyển hoá về hình thái tiền tệ ban đầu. Để
đảm bảo sự tồn tại phát triển của doanh nghiệp số tiền thu được do tiêu thụ
sản phẩm phải đảm bảo bù đắp toàn bộ các chi phí đã bỏ ra và có lãi. Như
vậy, số tiền đã ứng ra ban đầu không những chỉ được bảo tồn mà nó còn được
tăng thêm do hoạt động kinh doanh mang lại. Toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu
và các quá trình tiếp theo cho sản xuất kinh doanh được gọi là vốn. Vốn được
biểu hiện cả bằng tiền lẫn cả giá trị vật tư tài sản và hàng hoá của doanh
6
nghiệp, tồn tại dưới cả hình thái vật chất cụ thể và không có hình thái vật chất
cụ thể. Vốn là một phạm trù kinh tế trong lĩnh vực tài chính, nó gắn liền với
nền sản xuất hàng hoá. Vốn là tiền nhưng tiền chưa hẳn đã là vốn. Tiền chỉ trở
thành vốn khi nó được đưa vào hoạt động trong quá trình sản xuất và lưu
thông. Có được tiền vốn doanh nghiệp mới có thể đầu tư mua sắm các tài sản
cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh, trả lương cho người lao động.
Sau khi tiêu thụ sản phẩm, làm dịch vụ, doanh nghiệp thu được tiền từ bán
sản phẩm, cung cấp lao vụ, dịch vụ đó. Từ số tiền này, doanh nghiệp phải
dành một phần để bù đắp giá trị TSCĐ hao mòn, bù đắp các khoản chi phí,
một phần để lập quỹ dự trữ, đầu tư mua sắm, mở rộng quy mô cho quá trình
sản xuất kinh doanh tiếp theo.
Vậy vốn là gì?
Theo học thuyết kinh tế cổ điển và phái cổ điển mới: Vốn là một trong
các yếu tố đầu vào để sản xuất kinh doanh (đất đai, lao động...), vốn là các
sản phẩm được sản xuất ra để phục vụ cho sản xuất (máy móc, thiết bị...).
[8,tr12]
Ricardo cho rằng: Tư bản là những tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu
dùng, là một bộ phận của cải quốc gia dùng vào sản xuất như cơm ăn, áo mặc,
nhà xưởng, ...[8,tr12]
Theo giáo trình tài chính học (Học viện tài chính) thì: "Vốn trong các
doanh nghiệp là một loại quỹ tiền tệ đặc biệt". Tiền được coi là vốn phải thoả
mãn những điều kiện sau:
Thứ nhất, tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định (tiền
phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực);
Thứ hai, tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, đủ
sức để đầu tư cho một dự án kinh doanh;
7
Thứ ba, khi đã đủ về số lượng, tiền phải được vận động nhằm mục đích
sinh lời. Cách vận động và phương thức vận động của tiền lại do phương thức
đầu tư kinh doanh quyết định. Các phương thức đầu tư có thể mô phỏng theo
sơ đồ sau:
SLĐ Trường hợp đầu tư vào
T - H ..…SX…..H’ - T’ lĩnh vực sản xuất kinh
TLSX doanh
T – H – T’: Trường hợp đầu tư vào lĩnh vực thương mại.
T – T’: Trường hợp đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu, cho vay,…
Trong thực tế một doanh nghiệp có thể sử dụng đồng thời cả ba phương
thức đầu tư vốn theo các mô hình trên miễn sao đạt được mục tiêu có mức
doanh lợi cao và nằm trong khuôn khổ của pháp luật.
Theo quan điểm của Mac (trong Bộ Tư bản) thì phạm trù vốn được
khái quát qua phạm trù tư bản "Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư".
Định nghĩa này đã bao hàm đầy đủ bản chất và tác dụng của vốn.
Từ đó có thể hiểu: Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào kinh doanh
nhằm mục đích sinh lời.
Vốn trong các doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt. Vốn của doanh
nghiệp nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh tức là mục đích tích luỹ. Vốn
của doanh nghiệp có trước khi diễn ra hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn
phải đạt tới mục tiêu sinh lời và vốn luôn thay đổi hình thái biểu hiện vừa tồn
tại dưới hình thái tiền vừa tồn tại dưới hình thái vật tư hoặc tài sản vô hình,
nhưng kết thúc vòng tuần hoàn phải là hình thái tiền.
1.1.2 Vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, mọi vận hành kinh tế đều được tiền tệ
hoá, do vậy bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào dù bất cứ cấp độ
8
nào, gia đình, doanh nghiệp hay quốc gia luôn cần một lượng vốn nhất định
dưới dạng tiền tệ, tài nguyên đã được khai thác, bản quyền phát minh,…
Vốn là điều kiện tiền đề quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Vốn là cơ sở xác lập địa vị pháp lý của doanh nghiệp, vốn đảm bảo
cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo mục tiêu đã định.
Về mặt pháp lý:
Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên là doanh
nghiệp đó phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó tối thiểu phải bằng
lượng vốn pháp định (lượng vốn tối thiểu mà pháp luật quy định cho từng loại
doanh nghiệp) khi đó địa vị pháp lý mới được công nhận. Ngược lại, việc
thành lập doanh nghiệp không thể thực hiện được. Trường hợp trong quá trình
hoạt động kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không đạt điều kiện mà pháp
luật quy định, doanh nghiệp sẽ chấm dứt hoạt động như phá sản, sáp nhập vào
doanh nghiệp khác… Như vậy, vốn được xem là một trong những cơ sở quan
trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp
trước pháp luật .
Về mặt kinh tế:
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh vốn là mạch máu của doanh
nghiệp quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vốn không
những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ
phục vụ cho quá trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh
diễn ra một cách liên tục, thường xuyên.
Vốn là yếu tố quyết định đến mở rộng phạm vi hoạt động của doanh
nghiệp. Để có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh
doanh vốn của doanh nghiệp phải sinh lời, tức là hoạt động kinh doanh phải
có lãi đảm bảo cho doanh nghiệp được bảo toàn và phát triển. Đó là cơ sở để
doanh nghiệp tiếp tục đầu tư sản xuất, thâm nhập vào thị trường tiềm năng từ
9
đó mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương
trường.
Nhận thức được vai trò quan trọng của vốn doanh nghiệp mới có thể sử
dụng tiết kiệm, có hiệu quả hơn và luôn tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn.
1.1.3 Phân loại vốn
1.1.3.1 Theo nguồn hình thành
Theo tiêu thức phân loại này, vốn gồm:
Vốn chủ sở hữu: Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu
doanh nghiệp bao gồm vốn đIều lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ
lợi nhuận và từ các quỹ của doanh nghiệp, vốn do nhà nước tài trợ (nếu có).
Nợ vay phải trả: Là số vốn doanh nghiệp được sử dụng tạm thời trong
một thời gian nhất định bao gồm những khoản vốn phát sinh một cách tự
động và các khoản nợ phát sinh trong qúa trình kinh doanh mà doanh nghiệp
có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế như: Nợ tiền vay
ngân hàng và các tổ chức kinh tế khác, nợ phải trả cho người bán, phải trả
công nhân viên, phải nộp cho nhà nước...
Thông thường một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn: Vốn
chủ sở hữu và nợ vay phải trả để đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Sự kết hợp chặt chẽ 2 nguồn này phụ thuộc vào
đặc điểm của doanh nghiệp đang hoạt động cũng như quyết định của người
quản lý doanh nghiệp trên cơ sở xem xét tình hình chung của nền kinh tế và
trên tình hình thực tế tại doanh nghiệp.
1.1.3.2 Theo thời gian sử dụng
Phân loại theo thời gian sử dụng, vốn được chia thành hai loại là: vốn
ngắn hạn và vốn dài hạn
@ Vốn ngắn hạn
10
Để tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài các tư liệu lao động, các doanh
nghiệp còn cần có các đối tượng lao động. Khác với các tư liệu lao động, các
đối tượng lao động (như nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm,…) chỉ tham
gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu,
giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm.
Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được
gọi là các tài sản ngắn hạn, về hình thái giá trị được gọi là vốn ngắn hạn của
doanh nghiệp.
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ, để hình thành các tài sản
ngắn hạn sản xuất và tài sản ngắn hạn lưu thông các doanh nghiệp phải bỏ ra
một số vốn đầu tư ban đầu nhất định.
Như vậy, vốn ngắn hạn của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng
trước để đầu tư, mua sắm các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.
Vốn ngắn hạn hay vốn tạm thời bao gồm:
- Nợ ngắn hạn: Ví dụ, các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các khoản
nợ ngắn hạn khác
- Các khoản chiếm dụng: Đây còn gọi là các khoản chiếm dụng đương
nhiên của doanh nghiệp vì doanh nghiệp được sử dụng vốn của các chủ thể
khác mà không phải trả chi phí sử dụng vốn.
@ Vốn dài hạn
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp phải có
các yếu tố: sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động.
Khác với các đối tượng lao động (nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở
dang, bán thành phẩm,…) các tư liệu lao động (như máy móc thiết bị, nhà
xưởng, phương tiện vận tải,…) là những phương tiện vật chất mà con người
sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó theo mục đích của
mình.
11
Bộ phận quan trọng nhất trong các tư liệu lao động sử dụng trong quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là các tài sản dài hạn. Đó là
những tư liệu lao động chủ yếu được sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp
trong quá trình sản xuất kinh doanh như máy móc thiết bị, phương tiện vận
tải, nhà xưởng, các công trình kiến trúc, các khoản chi phí đầu tư mua sắm
các tài sản cố định vô hình,…
Tài sản dài hạn phản ánh tổng giá trị các khoản phải thu dài hạn, tài sản
cố định, bất động sản đầu tư, đầu tư tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn
khác của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, việc mua sắm, xây dựng hay lắp
đặt các TSDH của doanh nghiệp đều phải thanh toán, chi trả bằng tiền. Số vốn
đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các TSDH hữu hình và vô
hình được gọi là vốn dài hạn của doanh nghiệp. Đó là vốn đầu tư ứng trước vì
số vốn này nếu được sử dụng có hiệu quả sẽ không mất đi, doanh nghiệp sẽ
thu hồi lại được sau khi tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ của mình.
Vốn dài hạn của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng
trước về TSDH mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong
nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSDH hết thời
gian sử dụng. [8,tr71]
Vốn dài hạn của doanh nghiệp (còn gọi là nguồn vốn thường xuyên)
bao gồm:
- Vốn góp: bao gồm vốn góp ban đầu của chủ doanh nghiệp, vốn huy
động từ phát hành cổ phiếu.
- Lợi nhuận để lại trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
12
- Các khoản vay dài hạn của doanh nghiệp: bao gồm vay dài hạn của
ngân hàng, các khoản nợ dài hạn hoặc doanh nghiệp có thể phát hành trái
phiếu để huy động vốn vay.
1.1.3.3 Theo tính chất
@ Vốn cố định của doanh nghiệp
VCĐ của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về
TSCĐ mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ
sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng.
VCĐ của doanh nghiệp là bộ phận quan trọng của vốn đầu tư nói riêng và
VKD nói chung.
Là một khoản đầu tư ứng trước hình thành nên TSCĐ của doanh nghiệp
nên quy mô của VCĐ sẽ quyết định đến quy mô của TSCĐ. Song đặc điểm
vận động của TSCĐ lại quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển giá
trị của VCĐ. TSCĐ trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu
mà đặc điểm của chúng là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất. Trong qúa
trình đó, giá trị của TSCĐ không bị hao mòn hoàn toàn trong lần sử dụng đầu
tiên mà nó được chuyển dịch dần dần từng phần vào giá thành sản phẩm và
nhiều chu kỳ sản xuất tiếp theo. Sự vận động của TSCĐ trong thời gian tham
gia vào quá trình sản xuất được cụ thể hoá như sau:
Về mặt hiện vật: TSCĐ tham gia hoàn toàn và nhiều lần trong quá
trình sản xuất và bị hao mòn dần (bao gồm hao mòn hữu hình và hao mòn vô
hình). Nói cách khác là giá trị sử dụng sẽ giảm dần cho đến khi TSCĐ bị hư
hỏng hoàn toàn, phải loại khỏi quá trình sản xuất.
Về mặt giá trị: Giá trị TSCĐ được biểu hiện dưới hình thái ban đầu
gắn liền với hiện vật TSCĐ một bộ phận giá trị chuyển vào giá trị sản phẩm
mà TSCĐ đó sản xuất ra và bộ phận này sẽ chuyển hoá thành tiền khi tiêu thụ
được sản phẩm.
13
Như vậy, VCĐ là một bộ phận quan trọng chiếm tỷ lệ lớn trong toàn bộ
VKD của doanh nghiệp, đặc điểm của nó lại tuân theo quy luật riêng. Do đó
việc tổ chức và sử dụng VCĐ có ảnh hưởng lớn trực tiếp đến hiệu quả VKD
của doanh nghiệp.
@ Vốn lưu động
Vốn lưu động là số tiền ứng trước về tài sản lưu động sản xuất và tài
sản lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một
cách thường xuyên, liên tục mà đặc điểm của nó là luân chuyển không ngừng,
luôn thay đổi hình thái biểu hiện và chuyển dịch toàn bộ giá trị một lần trong
toàn bộ chu kỳ sản xuất.
Với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì TSLĐ gồm 2 loại TSLĐ
sản xuấtvà TSLĐ lưu thông. TSLĐ sản xuất bao gồm các loại nguyên vật
liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở dang... đang trong quá trình dự trữ sản
xuất hoặc chế biến. Còn TSLĐ lưu thông bao gồm các sản phẩm, thành phẩm
chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền,vốn trong thanh toán...
TSLĐ nằm trong quá trình sản xuất và TSLĐ nằm trong quá trình lưu
thông luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau đảm bảo cho quá trình
sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục.
Khác với TSCĐ, TSLĐ luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra
sản phẩm. Đặc điểm của VLĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh là luân
chuyển toàn bộ giá trị ngay 1 lần và hoàn thành 1 vòng tuần hoàn sau mỗi chu
kỳ sản xuất, nó được coi là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá
trình sản xuất. Đặc điểm này đã quyết định sự vận động của VLĐ - hình thái
giá trị của TSLĐ.
Khởi đầu của vòng tuần hoàn, doanh nghiệp dùng tiền để mua hàng
hoá, nguyên vật liệu nhằm dự trữ sản xuất kinh doanh. Lúc này VLĐ chuyển
từ hình thái tiền tệ sang hình thái vật tư hàng hoá (T - H).
14
Giai đoạn II: Là giai đoạn sản xuất: Hàng hoá, nguyên vật liệu trải qua
quá trình bảo quản sơ chế được đưa vào dây chuyền công nghệ. Trong qúa
trình này, vốn chuyển từ hình thái hàng hoá, vật tư dự trữ sang hình thái sản
phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm (H - SX - H').
Giai đoạn III: Doanh nghiệp bán hàng thu được tiền. Vốn được chuyển
từ hình thái thành phẩm sang hình thái tiền tệ tức là trở về hình thái ban đầu
(H' - T').
Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách thường xuyên liên tục
nên cùng một thời điểm VLĐ thường tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau
trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông, các giai đoạn vận động của vốn được
đan xen vào nhau và các chu kỳ sản xuất được lặp đi lặp lại. Sau mỗi chu kỳ
sản xuất VLĐ hoàn thành 1 vòng tuần hoàn.
1.2. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
1.2.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn
1.2.1.1 Hiệu quả
Thứ nhất, theo Đại từ điển tiếng việt thì: "Hiệu quả là kết quả đích
thực". Khái niệm này đã coi kết quả đồng nghĩa với hiệu quả. Trong đó, "kết
quả là đại lượng tuyệt đối có được sau một thời kỳ, không cho phép so sánh
với chi phí bỏ ra". [10]
Thứ hai, từ góc độ doanh nghiệp, một số tác giả cho rằng: "Hiệu quả
được thể hiện bằng tỷ số giữa đầu ra và đầu vào". [14] Hạn chế của quan
niệm này là nghiêng về mặt đặc trưng kinh tế kỹ thuật và coi hiệu quả đồng
nhất với năng suất. Trong đó "năng suất là hiệu quả của lao động trong quá
trình sản xuất, làm việc, được đo bằng số lượng sản phẩm hay khối lượng
công việc làm ra được trong một đơn vị nhất định".
Thứ ba, từ góc độ nền kinh tế, Bradley R. Schiller cho rằng: hiệu quả
có nghĩa là "thu được nhiều nhất từ cái mà chúng ta có" [14]. Ngược lại với
15
hiệu quả là phi hiệu quả. Hạn chế của định nghĩa là khó xác định mặt lượng
của hiệu quả và không so sánh được hiệu quả của các doanh nghiệp với nhau.
Từ các quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu: "Hiệu quả là thuật ngữ
dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của
chủ thể và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó trong những điều kiện nhất
định". Nói cách khác, hiệu quả là đại lượng tương đối, phản ánh mối quan hệ
so sánh giữa đầu ra và đầu vào xét dưới góc độ giá trị.
Nếu ký hiệu: - K: kết quả nhận được theo hướng mục tiêu,
- C: chi phí bỏ ra,
- H: hiệu quả,
Thì: - Hiệu quả tuyệt đối: H = K - C
- Hiệu quả tương đối: H = K/C
Kết quả (K) mà chủ thể nhận được theo hướng mục tiêu trong kinh
doanh càng lớn hơn chi phí (C) bỏ ra bao nhiêu thì càng có lợi bấy nhiêu.
* Ý nghĩa của hiệu quả:
- Một là, hiệu quả phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của
chủ thể kinh tế để đạt được lợi ích cao nhất với chi phí thấp nhất.
- Hai là, hiệu quả là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựa chọn
các phương án hành động.
Như vậy, hiê ̣u quả là phép so sánh dù ng để chỉ mố i quan hê ̣ giữa kết quả thực hiê ̣n các mu ̣c tiêu hoa ̣t đô ̣ng củ a chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có đươ ̣c những kết quả đó trong điều kiê ̣n nhất đi ̣nh.
Đố i vớ i tất cả các đơn vi ̣ dù sản xuất kinh doanh hay hành chính sự nghiê ̣p, vớ i các cơ chế quản lý khác nhau thì có các nhiê ̣m vu ̣ và mu ̣c tiêu hoa ̣t đô ̣ng khác nhau. Ngay trong mỗi giai đoa ̣n phát triển củ a đơn vi ̣ cũng có những mu ̣c tiêu khác nhau. Nhưng có thể nó i rằng trong cơ chế thi ̣ trườ ng ở nướ c ta hiê ̣n nay mo ̣i đơn vi ̣ sản xuất kinh doanh hay hành chính sự nghiê ̣p đều có mu ̣c tiêu bao trù m lâu dài là tố i thiểu hó a chi phí, tăng hiê ̣u quả hoa ̣t đô ̣ng củ a đơn vi ̣. Để đa ̣t đươ ̣c mu ̣c tiêu này đò i hỏ i các đơn vi ̣ phải xây dựng 16
cho mình mô ̣t chiếm lươ ̣c kinh doanh và phát triển thích ứ ng vớ i các biến đô ̣ng củ a thi ̣ trườ ng, phải xây dựng, kế hoa ̣ch hó a các hoa ̣t đô ̣ng cuaur đơn vi ̣ và đồ ng thờ i phải tổ chứ c thực hiê ̣n các kế hoa ̣ch đă ̣t ra mô ̣t cách có hiê ̣u quả. Trong quá trình tổ chức xây dựng và thực hiện cá hoạt động quản trị
trên, các doanh nghiệp phải luôn kiểm tra, đánh giá tính hiệu quả của chúng.
Muốn kiểm tra đánh giá các hoạt động sản xuất kinh doanh chung của toàn
doanh nghiệp cũng như từng lĩnh vực, từng bộ phận bên trong doanh nghiệp
thì doanh nghiệp không thể thực hiện việc tính hiệu quả kinh tế của các hoạt
động sản xuất kinh doanh đó. Vậy thì hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản
xuất kinh doanh (hiệu quả sản xuất kinh doanh) là gì? Để hiểu được phạm trù
hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh thì trước tiên chúng ta tìm
suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính
bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí.
1.2.1.2 Hiệu quả sử dụng vốn
Vốn là điều kiện cần cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của
mọi doanh nghiệp, nhưng chưa đủ để đạt được mục đích kinh doanh của
doanh nghiệp bởi lẽ trong nền kinh tế thị trường mục đích cao nhất của mọi
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chính là lợi nhuận. Điều đó đồng nghĩa với
việc doanh nghiệp phải khai thác và sử dụng triệt để mọi nguồn lực sẵn có của
mình, trong đó sử dung có hiệu quả nguồn vốn là yêu cầu bắt buộc đối với
mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Để làm rõ khái niệm hiệu quả sử dụng vốn ta đi tìm hiểu các khái niệm
liên quan như hiệu quả, hiệu quả kinh doanh.
Theo cách hiểu thông thường, hiệu quả là mối tương quan giữa đầu vào
và đầu ra của một quá trình kinh tế – kỹ thuật nhằm đạt được những mục đích
xác định.
17
Hiệu quả kỹ thuật là mối tương quan giữa đầu vào của các yếu tố sản
xuất khan hiếm và sản phẩm (hàng hoá, dịch vụ...) ở đầu ra. Mối tương quan
này có thể đo lường theo hiện vật
Hiệu quả kinh doanh là mối tương quan giữa đầu vào và đầu ra của quá
trình kinh doanh (hàng hoá, dịch vụ). Mối tương quan này được đo lường
bằng thước đo tiền tệ.
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các
yếu tố đầu vào (các nguồn nhân tài, vật lực) của doanh nghiệp để đạt được kết
quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí tiết kiệm nhất.
Khái niệm hiệu quả kinh doanh được dùng làm một tiêu chuẩn để xem
xét các tài nguyên được phân phối ở mức độ tốt như thế nào.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn được sử dụng nhằm thu
được lợi nhuận trong tương lai. Nói cách khác, mục đích của việc sử dụng
vốn là thu lợi nhuận, cho nên hiệu quả sản xuất kinh doanh thường được đánh
giá dựa trên so sánh tương đối giữa lợi nhuận và vốn bỏ ra hay hiệu quả sử
dụng vốn.
Hiệu quả sử dụng vốn là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác,
sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục
tiêu sinh lợi tối đa với chi phí hợp lý .
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không những đảm bảo cho doanh nhiệp an
toàn về mặt tài chính, hạn chế rủi do, tăng thu nhập cho cán bộ công nhân
viên, mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận mà còn giúp doanh nghiệp
tăng uy tín, nâng cao khả năng cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp trên
thương trường. Có thể nói rằng hiệu quả sử dụng vốn thực chất là thước đo
trình độ sử dụng nguồn nhân lực, tài chính của doanh nghiệp, đó là vấn đề cơ
bản gắn liền với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp .
18
Trong quá trình sử dụng vốn, để đạt hiệu quả cao doanh nghiệp cần
phải giải quyết một số vấn đề sau:
Thứ nhất: Đảm bảo tính tiết kiệm, có nghĩa là vốn của doanh nghiệp
phải được sử dụng hợp lý, đúng mục đích, tránh lãng phí vốn hoặc để vốn
không sinh lời.
Thứ hai: Phải tiến hành đầu tư, phát triển cả chiều sâu và mở rộng quy
mô sản xuất kinh doanh khi cần thiết.
Thứ ba: Doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu đề ra trong kế hoạch
SXKD, hiệu quả sử dụng vốn là mục tiêu quan trọng nhất doanh nghiệp cần
đạt tới.
1.2.2. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
1.2.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Vòng quay hàng tồn kho:
Giá vốn hàng bán (hoặc doanh thu bán hàng) Số vòng quay hàng tồn kho = Hàng tồn kho bình quân
(1.1)
Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng tồn kho bình quân luân
chuyển trong kỳ. Chỉ tiêu này phản ánh số vòng luân chuyển hàng tồn kho
trong một thời kỳ nhất định. Số vòng luân chuyển càng cao thì việc kinh
doanh được đánh giá càng tốt, bởi lẽ doanh nghiệp chỉ đầu tư cho hàng tồn
kho thấp mà vẫn đạt doanh số cao. Vòng quay hàng tồn kho càng cao thì hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp càng tốt. Tuy nhiên, tốc độ luân chuyển
hàng tồn kho này còn phụ thuộc nhiều vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh.
Vòng quay các khoản phải thu:
Doanh thu có thuế Vòng quay các khoản phải thu = Số dư bình quân các khoản phải thu
(1.2)
19
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản
phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp. Vòng quay càng lớn, chứng tỏ tốc
độ thu hồi các khoản nợ phải thu là tốt, hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp càng tốt.
Số dư bình quân các khoản phải thu được tính bằng phương pháp bình
quân các khoản phải thu trên bảng cân đối kế toán.
Kỳ thu tiền trung bình:
Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu được các
khoản phải thu (số ngày của một vòng quay các khoản phải thu). Vòng quay
các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền càng nhỏ, tốc độ luân chuyển vốn
nhanh, gia tăng hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Kỳ thu tiền 360 = trung bình Vòng quay các khoản phải thu
Số dư bình quân các khoản phải thu x 360 Hoặc = Doanh thu
(1.3)
Vòng quay vốn lưu động:
Doanh thu thuần Vòng quay vốn lưu động = Vốn lưu động bình quân
(1.4)
Vòng quay vốn lưu động phản ánh trong kỳ vốn lưu động quay được
mấy vòng. Nếu số vòng quay càng nhiều chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu
động càng cao, vốn lưu động càng tạo ra được nhiều doanh thu thuần trong kỳ
và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp càng cao.
Mức đảm nhiệm vốn lưu động:
Vốn lưu động bình quân Mức đảm nhiệm vốn lưu động = Doanh thu thuần
20
(1.5)
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu
vốn lưu động. Chỉ tiêu này càng nhỏ, càng tốt cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn lưu động:
Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất sinh lợi trên vốn lưu động = Vốn lưu động bình quân
(1.6)
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn lưu động là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh
một đồng vốn lưu động mang vào sản xuất kinh doanh trong kỳ sẽ mang lại
bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn lưu
động càng tốt và ngược lại.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = TSCĐ sử dụng bình quân trong kỳ
(1.7)
TSCĐ sử dụng bình quân trong kỳ là bình quân số học của nguyên giá
TSCĐ đầu kỳ và cuối kỳ. Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ tạo
ra bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử
dụng TSCĐ càng cao.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định có thể đảm bảo tạo ra
được bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử
dụng vốn cố định ngày càng cao.
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng vốn cố định = Vốn cố định sử dụng bình quân trong kỳ
21
(1.8)
Hàm lượng vốn cố định
Vốn cố định bình quân trong kỳ Hàm lượng vốn cố định = Doanh thu thuần trong kỳ
(1.9)
Là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định. Nó
phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu đồng vốn cố định.
Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn cố định càng cao.
Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định
Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định = Vốn cố định bình quân
(1.10)
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận trong kỳ. Chỉ tiêu này càng lớn, hiệu quả sử dụng vốn cố định càng
cao.
1.2.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá chung về hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp có ý nghĩa then chốt và quyết
định đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu hiệu quả
sử dụng tổng vốn của doanh nghiệp phản ánh kết quả tổng hợp quá trình sử
dụng toàn bộ vốn, tài sản. Các chỉ tiêu này phản ánh chất lượng và trình độ
quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm:
Hiệu suất sử dụng vốn
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng vốn = Vốn bình quân
(1.11)
Hiệu suất sử dụng tổng vốn cho biết một đồng vốn được doanh nghiệp
đầu tư vào tài sản đem lại mấy đồng doanh thu thuần. Hiệu suất sử dụng vốn
22
càng lớn, trong các điều kiện khác không đổi có nghĩa là hiệu quả quản lý
toàn bộ tài sản càng cao.
Tỷ suất lợi nhuận vốn
Chỉ tiêu này cho biết có bao nhiêu đồng lợi nhuận được tạo ra khi bỏ ra
một đồng vốn. Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ việc sử dụng vốn chủ kinh
doanh càng hiệu quả.
Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận vốn = Vốn bình quân
(1.12)
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu đánh giá mức độ tạo ra lợi
nhuận thuần cho các chủ doanh nghiệp. Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng
vốn mà chủ sở hữu bỏ vào kinh doanh thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
sau thuế. Công thức xác định như sau:
Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu bình quân
(1.13)
Khi đánh giá phân tích chỉ tiêu này ta có thể so sánh nó với chỉ tiêu tỷ suất
lợi nhuận vốn. Nếu tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu lớn hơn tỷ suất lợi nhuận
vốn thì chứng tỏ việc sử dụng cơ cấu vốn chủ sở hữu hợp lý.
Tỷ suất lợi nhuận vốn vay
Tỷ suất lợi nhuận vốn vay là chỉ tiêu đánh giá mức độ hiệu quả sử dụng
vốn vay. Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn vay bỏ vào kinh doanh thì
mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Công thức xác định
như sau:
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay Tỷ suất lợi nhuận vốn vay = Vốn vay bình quân
23
(1.14)
Hiệu suất sử dụng TSCĐ
Hiệu suất sử dụng TSCĐ phản ánh 1 đồng TSCĐ trong kỳ tạo ra được
bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần.
Doanh thu thuần trong kỳ Hiệu suất sử = dụng TSCĐ Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
(1.15)
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn
1.2.3.1. Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp
Nhân tố con người:
Đây là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn, con
người được đề cập đến ở đây là toàn bộ lực lượng lao động trong doanh
nghiệp bao gồm các nhà quản lý doanh nghiệp và những người trực tiếp thực
hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà quản lý đóng vai trò đầu tiên đối
với hiệu quả sử dụng vốn. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu nhà quản
lý không có phương án sản xuất kinh doanh hữu hiệu, không bố trí hợp lý các
khâu, các giai đoạn sản xuất, sẽ gây lãng phí về nhân lực, vốn, nguyên vật
liệu… Điều này sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung,
hiệu quả sử dụng vốn nói riêng. Trong quản lý tài chính, nhà quản lý doanh
nghiệp phải xác định nhu cầu vốn, phải bố trí cơ cấu hợp lý, không để vốn bị
ứ đọng, dư thừa, phải huy động đủ vốn cho sản xuất. Nếu vốn không đủ đáp
ứng cho nhu cầu sản xuất thì quá trình sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng. Nếu
cơ cấu vốn không hợp lý, vốn đầu tư lớn vào các tài sản không sử dụng hoặc
ít sử dụng, vốn trong quá trình thanh toán bị chiếm dụng sẽ tăng chi phí sản
xuất, làm giảm lợi nhuận, giảm hiệu quả sử dụng vốn .
Cơ cấu vốn :
24
Cơ cấu vốn thể hiện quan hệ tỷ lệ giữa các yếu tố cấu thành vốn trong
tổng vốn sử dụng. Cơ cấu vốn được xem xét theo nguồn vốn và các tiêu chí
khác nhau.
Do chịu sự ảnh hưởng của nhân tố khác nên cơ cấu vốn trong doanh
nghiệp khác nhau. Các nhân tố chính ảnh hưởng đến cơ cấu vốn bao gồm các
nhân tố sau:
- Sự ổn định của doanh thu và lợi nhuận: Ảnh hưởng trực tiếp đến quy
mô của vốn huy động. Khi doanh thu ổn định sẽ có nguồn để lập quỹ trả nợ
đến hạn, khi kết quả kinh doanh có lãi sẽ có nguồn để trả lãi vay. Trong
trường hợp này tỷ trọng của vốn huy động trong tổng số vốn của doanh
nghiệp sẽ cao và ngược lại .
- Cơ cấu tài sản: Tài sản cố định là loại tài sản có thời gian thu hồi dài,
do đó nó phải được đầu tư bằng nguồn vốn dài hạn, ngược lại, tài sản lưu
động sẽ được đầu tư vào một phần của vốn dài hạn, còn chủ yếu là vốn ngắn
hạn.
- Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành: Những doanh nghiệp nào có
chu kỳ kinh doanh dài, vòng quay vốn chậm thì cơ cấu vốn nghiêng về vốn
chủ sở hữu, ngược lại những doanh nghiệp thuộc ngành dịch vụ, bán buôn…
thì vốn tài trợ từ các khoản nợ sẽ chiếm tỷ trọng cao.
- Mức độ chấp nhận rủi do của người lãnh đạo: Trong kinh doanh phải
chấp nhận rủi do, nhưng điều đó lại đồng nghĩa với cơ hội để gia tăng lợi
nhuận. Tăng tỷ trọng của vốn vay nợ, sẽ tăng mức độ mạo hiểm.
- Doanh lợi vốn và lãi suất huy động: Khi doanh lợi vốn cao hơn lãi
suất vốn vay sẽ lựa chọn hình thức tài trợ bằng vốn vay. Ngược lại khi doanh
lợi vốn nhỏ hơn lãi suất vốn vay thì cấu trúc lại nghiêng về vốn chủ sở hữu.
25
- Thái độ của người cho vay: Thông thường người cho vay thích cơ cấu
nghiêng về vốn của chủ sở hữu, với cấu trúc này thì doanh nghiệp có khả
năng trả nợ đúng hạn, có sự an toàn về đồng vốn mà họ bỏ ra cho vay.
Cơ cấu vốn có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp, nó ảnh hưởng
đến chi phí vốn, đến khả năng kinh doanh và do đó ảnh hưởng đến khả năng
sinh lời của đồng vốn. Chính vì vậy mà cơ cấu vốn là nhân tố tuy chủ yếu tác
động gián tiếp song rất quan trọng đối với hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp.
Giải quyết tốt vấn đề cơ cấu vốn hợp lý chính là thực hiện tốt các mặt:
- Đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa vốn cố định tích cực (vốn đầu tư vào tài
sản cố định tham gia trực tiếp vào sản xuất kinh doanh như máy móc thiết bị,
phương tiện vận tải...) và vốn cố định không tích cực (kho tàng, nhà xưởng,
trụ sở văn phòng...)
- Một cơ cấu vốn hợp lý sẽ thúc đẩy đồng vốn vận động nhanh giữa các
cao độ của quá trình sản xuất kinh doanh, không bị ứ đọng hay sử dụng sai
mục đích.
Nhân tố chi phí vốn:
Vốn là nhân tố cần thiết của quá trình sản xuất. Cũng như bất kỳ yếu tố
nào khác, để sử dụng vốn, doanh nghiệp cần bỏ ra một chi phí nhất định. Có
thể hiểu chi phí vốn là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn và chi phí mà
doanh nghiệp phải trả cho việc huy động vốn như: Lãi vay vốn, chi phí phát
hành cổ phiếu, cổ tức phải trả cho cổ đông,...
Khi nói đến chi phí vốn thì mới thực sự thấy được sự quan trọng của
một cơ cấu vốn hợp lý. Cơ cấu vốn lưu động, vốn cố định phù hợp với đặc
điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm
chi phí vốn. Vốn sẽ được lưu thông, quay vòng một cách hợp lý, giúp doanh
nghiệp đạt hiệu quả cao trong sử dụng vốn. Ngược lại khi cơ cấu vốn không
26
hợp lý sẽ dẫn đến có phần vốn bị ứ đọng. Chi phí cơ hội trong việc sử dụng
vốn sẽ bị lãng phí.
Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành sản xuất kinh doanh:
Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng
không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Mỗi ngành sản xuất
kinh doanh có những đặc điểm khác nhau về mặt kinh tế kỹ thuật như: Tính
chất ngành nghề, tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Ảnh hưởng của tính chất ngành nghề đến hiệu quả sử dụng vốn thể hiện
ở quy mô, cơ cấu vốn. Quy mô, cơ cấu vốn khác nhau sẽ ảnh hưởng tới tốc độ
luân chuyển vốn, tới phương pháp đầu tư, thể thức thanh toán, chi trả... do đó
ảnh hưởng tới doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp
Ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất thể hiện ở nhu cầu vốn
và doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Những doanh nghiệp hoạt động trong ngành
sản xuất có tính thời vụ thì nhu cầu vốn lưu động giữa các quý trong năm
thường biến động lớn, doanh thu bán hàng không được đều, tình hình thanh
toán, chi trả cũng gặp khó khăn, ảnh hưởng tới chu kỳ thu tiền bình quân, tới
hệ số vòng quay vốn... do đó ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp. Những doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn thì nhu cầu
vốn trong năm thường không có biến động lớn, doanh nghiệp lại thường
xuyên thu được tiền bán hàng, điều đó giúp doanh nghiệp dễ dàng đảm bảo
cân đối thu chi bằng tiền và đảm bảo nguồn vốn trong kinh doanh, vốn được
quay nhiều vòng trong năm. Ngược lại những doanh nghiệp sản xuất ra những
loại sẩn phẩm có chu kỳ sản xuất dài phải ứng ra một lượng vốn lưu động
tương đối lớn, vốn thu hồi chậm, quay vòng ít.
1.2.3.2 Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong môi trường kinh doanh
nhất định. Môi trường kinh doanh là tất cả các điều kiện bên ngoài ảnh hưởng
27
tới hoạt động của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của một số nhân tố sau
đây:
Sự ổn định của nền kinh tế:
Sự ổn định hay không ổn định của nền kinh tế, của thị trường có ảnh
hưởng trực tiếp tới mức doanh thu của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới nhu
cầu về vốn. Những biến động của nền kinh tế có thể gây nên những rủi do
trong kinh doanh mà các nhà quản trị tài chính phải lường trước, những rủi ro
đó có ảnh hưởng tới các khoản chi phí về đầu tư, chi phí trả lãi hay tiền thuê
nhà xưởng, máy móc thiết bị hay tìm nguồn tài trợ.
Nếu nền kinh tế ổn định và tăng trưởng với một tốc độ nào đó thì doanh
nghiệp muốn duy trì và giữ vững vị trí của mình, cũng phải phấn đấu để phát
triển với nhịp độ tương đương. Khi doanh thu tăng lên, sẽ đưa đến việc gia
tăng tài sản, các nguồn phải thu và các loại tài sản khác. Khi đó, các nhà quản
trị tài chính phải tìm nguồn tài trợ cho sự mở rộng sản xuất, sự tăng tài sản đó.
Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với các doanh nghiệp:
Để tạo ra môi trường kinh tế ổn định, đảm bảo cho sự phát triển bền
vững, nhà nước điều hành và quản lý nền kinh tế vĩ mô bằng các chính sách
kinh tế vĩ mô. Với bất kỳ sự thay đổi nào trong chế độ chính sách hiện hành
sẽ ảnh huởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và hiệu
quả sử dụng vốn nói riêng. Sự nhất quán trong chủ trương đường lối cơ bản
của Nhà nuớc luôn là yếu tố tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạch định kế
hoạch sản xuất kinh doanh và có điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Hệ
thống tài chính tiền tệ, vấn đề lạm phát, thất nghiệp và các chính sách tài khoá
của chính phủ có tác động lớn đến quá trình ra quyết định kinh doanh và kết
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
28
- Chính sách lãi suất: Lãi suất tín dụng là một công cụ chủ yếu để điều
hành lượng cung tiền tệ, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc huy động vốn và
kinh doanh của doanh nghiệp. Khi lãi suất tăng làm chi phí vốn tăng, nếu
doanh nghiệp không có vốn cơ cấu hợp lý, kinh doanh không hiệu quả thì
hiệu quả sử dụng vốn nhất là phần vốn vay sẽ bị giảm sút. Trong nền kinh tế
thị trường, lãi suất là vấn đề quan trọng khi quyết định thực hiện một hoạt
động đầu tư hay một phương án sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp phải tính
toán xem liệu hoạt động đầu tư hay phương án sản xuất có đảm bảo được
doanh lợi vốn lãi suất tiền vay hay không, nếu nhỏ hơn thì có nghĩa là không
hiệu quả, doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn. Đối với hoạt động đầu tư hay phương
án sản xuất có sử dụng vốn đầu tư cũng phải tính đến chi phối vốn, nếu có
hiệu quả thì mới nên thực hiện.
- Chính sách thuế: Thuế là công cụ quan trọng của nhà nuớc để điều
tiết kinh tế vĩ mô nói chung và điều tiết hoạt động của doanh nghiệp nói riêng.
Chính sách thuế của nhà nước có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp bởi vì mức thuế cao hay thấp sẽ làm cho phần
lợi nhuận sau thuế nhiều hay ít, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Sự hoạt động của thị trường tài chính và hệ thống các hệ thống tài
chính trung gian là một nhân tố đáng kể tác động đến hoạt động của doanh
nghiệp nói chung và hoạt động tài chính nói riêng. Một thị trường tài chính và
hệ thống các tổ chức tài chính trung gian phát triển đầy đủ và đa dạng sẽ tạo
điều kiện cho doanh nghiệp tìm kiếm nguồn vốn có chi phí rẻ, đồng thời
doanh nghiệp có thể đa dạng các hình thức đầu tư và có cơ cấu vốn hợp lý và
mang lại hiệu quả cao nhất trong việc sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
Hiệu quả sử dụng vốn còn chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố khác như:
+ Khoa học kỹ thuật và công nghệ
29
+ Sự ổn định chính trị xã hội trong nước và quốc tế.
+ Những rủi ro bất thường trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà
doanh nghiệp có thể gặp phải như thiên tai, hoả hoạn, lũ lụt, chiến tranh.
Trên đây là những nhân tố chủ yếu tác động đến công tác tổ chức sản
xuất kinh doanh và sử dụng vốn của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần
nghiên cứu, xem xét một cách kỹ lưỡng, thận trọng để phát huy những lợi thế
và điều kiện thuận lợi, hạn chế đến mức thấp nhất những hậu quả xấu có thể
xảy ra, đảm bảo việc tổ chức huy động vốn kịp thời cho nhu cầu sản xuất kinh
doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
1.3. NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP.
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp được thể hiện trực tiếp thông
qua lợi nhuận thu được bởi đây chính là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng
hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Như vậy, để có định
hướng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì phải theo hướng nâng cao khả năng
thu lợi nhuận của doanh nghiệp:
- Tích cực tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.
- Đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm để tăng doanh thu.
Từ hai hướng cụ thể trên, mỗi doanh nghiệp tuỳ thuộc vào đặc điểm,
ngành nghề, hình thức hoạt động, có thể tìm ra những biện pháp cụ thể, phù
hợp để nâng cao quả sử dụng vốn. Có một số biện pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, xác định nhu cầu vốn chính xác, đầy đủ và kịp thời. Nhu cầu
vốn phải được xác định dựa trên quy mô kinh doanh, kế hoạch sản xuất làm
cơ sở đảm bảo đưa ra kế hoạch huy động và sử dụng vốn phù hợp tránh tình
trạng thiếu vốn gây ngưng trệ sản xuất hoặc thừa, thiếu vốn gây ứ đọng vốn,
làm giảm khả năng sinh lời của đồng vốn.
Thứ hai, lựa chọn cơ cấu và hình thức huy động vốn theo hướng tích
cực: Khai thác triệt để nguồn vốn bên trong để tối thiểu hoá chi phí sử dụng
30
vốn, giảm thiểu rủi ro thanh toán và đảm bảo khả năng tự chủ tài chính của
doanh nghiệp đồng thời tăng cường khai thác, huy động vốn từ nhiều nguồn
bên ngoài để nâng cao khả năng sinh lời của đồng vốn.
Thứ ba, cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát để có thể nắm
bắt được tình hình biến động về giá trị cũng như cơ cấu của tài sản nhằm hạn
chế sự mất mát, thất thoát tài sản trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh, đảm bảo vốn được bảo toàn về hiện vật.
Thứ tư, cần xây dựng cơ chế quản lý và sử dụng tài sản trong doanh
nghiệp làm cơ sở cho việc thực hiện có hiệu quả công tác bảo toàn và phát
triển vốn.
Thứ năm, thực hiện áp dụng các phương pháp phòng chống rủi ro bằng
cách chủ động mua bảo hiểm cho tài sản và trích lập các quỹ dự phòng để
đảm bảo nguồn tài chính bù đắp những rủi ro có thể xảy ra và bảo toàn được
vốn cho doanh nghiệp.
31
Kết luận chương 1
Vốn là phần thu nhập quốc dân dưới dạng tài sản vật chất và tài chính
được cá nhân, các doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm
mục đích tối đa hoá lợi ích. Hiệu quả sử dụng vốn là phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ khai thác, sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp nhằm mục tiêu sinh lợi tối đa với chi phí hợp lý. HIệu quả sử
dụng vốn được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau. Hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau.
32
Chương 2
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN
TÂY
2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG & CÔNG
TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Môi
trường & Công trình Đô thị Sơn Tây
- Tên Công ty : Công ty Cổ phần Môi trường & Công trình Đô Thị Sơn
Tây.
- Tên giao dịch: Son Tay Urban Construction And Environment Joint
Stock Company.
- Trụ sở chính của Công ty đặt tại: Số 2, Phố Phùng Hưng, Thị xã Sơn
Tây, Hà Nội.
- Website: www.moitruongdothisontay.com.vn.
- Công ty cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị Sơn Tây tiền thân
là đội vệ sinh đô thị thuộc Ban xây dựng thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội,
Ngày 22/12/1982, UBND thành phố Hà Nội ra quyết định số 5110
QĐ/UBND thành lập xí nghiệp công trình đô thị Sơn Tây là đơn vị sự nghiệp
công cộng.
- Năm 1991, thị xã Sơn Tây được chuyển về khi tái lập tỉnh Hà Tây, Xí
nghiệp công trình đô thị Sơn Tây được đổi tên là Công ty Môi trường Đô thị
Sơn Tây là đơn vị sự nghiệp công cộng (1992).
33
- Ngày 13/12/1996, UBND tỉnh Hà Tây ra quyết định số 979 chuyển
Công ty thành Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích có tên là Công ty
Môi trường và Công trình Đô thị Sơn Tây.
- Ngày 10/7/2008, UBND tỉnh Hà Tây ra quyết định số 2248/QĐ-
UBND chuyển Công ty Môi trường và Công trình Đô thị Sơn Tây thành Công
ty cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị Sơn Tây.
- Ngày 9/7/2009 công ty cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị Sơn
Tây đã trở thành công ty đại chúng.
- Ngày 19/7/2010 Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam đã cấp giấy
chứng nhận số 174/2010/GCNCP-VSD chấp thuận cho công ty được đăng ký
chứng khoán và cấp mã chứng khoán tại Trung tâm lưu ký chứng khoán.
- Ngày 17/03/2011 công ty đã tiến hành bàn giao phần vốn nhà nước là
36% về công ty TNHH nhà nước 1 thành viên Môi trường đô thị Hà Nội
(URENCO) theo quyết định số 1282 của UBND Thành phố Hà Nội.
- Ngày 29/07/2011 ủy ban chứng khoán Nhà nước đã cấp giấy chứng
nhận đăng ký chào bán CP ra công chúng cho Công ty CP Môi trường và
Công trình Đô Thị Sơn Tây, Số CP chào bán là 750.400 CP tương đương với
7.504.000.000đ (tính theo mệnh giá 10.000đ/01CP)
- Ngày 11/10/2011 HĐQT đã chính thức báo cáo tới UBCK nhà nước
và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội về kết quả phát hành CP tăng vốn điều
lệ và hoàn thiện các thủ tục để xin cấp ĐKKD công ty cổ phần và ghi nhận
phần vốn 7.504.000.000 từ ngày 01/11/2011 tăng vốn điều lệ của công ty từ
11.256.000.000đ lên 18.760.000.000đ.
- Ngày 24/02/2012 Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội đã chấp thuận
cho 750.400 CP phát hành tăng vốn điều lệ năm 2011 giao dịch phiên đầu tiên
trên thị trường Upcom.
34
- Ngày 11/04/2014, Công ty cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị
Sơn Tây tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2014 và
bầu nhiệm kỳ mới (2014-2018) thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát
Công ty.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của Công ty.
2.1.2.1. Chức năng
Chức năng kinh doanh chủ yếu của Công ty gồm các lĩnh vực như sau:
+ Thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt, chất thải rắn thông
thường đảm bảo vệ sinh môi trường.
+ Quản lý, vận hành hệ thống thoát nước đô thị
+ Quản lý, vận hành hệ thống đèn chiếu sáng, điện trang trí, đèn tín hiệu
giao thông.
+ Quản lý, duy trì công viên, vườn hoa, cây xanh, thảm cỏ, đường phố.
+ Quản lý nghĩa trang nhân dân làm các dịch vụ tang lễ.
+ Xây dựng, sửa chữa quy mô vừa và nhỏ các công trình đô thị: vỉa hè,
thoát nước, đường nội thị, điện chiếu sáng, vườn hoa, cây xanh, thảm cỏ…
+ Kinh doanh dịch vụ giải trí công viên.
+ Kinh doanh hoa, cây cảnh.
+Thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải công nghiệp, rác thải độc hại, xử
lý môi trường làng nghề
2.1.2.2. Đặc điểm về bộ máy quản lý của Công ty
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty là các phòng ban chức
năng, để đảm bảo sự thống nhất, tự chủ, phối hợp nhịp nhàng của các phòng
ban chức năng trong toàn Công ty với nhau. Với mô hình phân cấp chức năng
trong quản lý thì Công ty đã tận dụng được trí tuệ của các cá nhân giỏi trong
từng lĩnh vực cụ thể, giảm bớt được khối lượng công tác quản lý chung trong
35
toàn Công ty của Tổng giám đốc. Tuy nhiên với mô hình này, Công ty gặp
một số bất lợi trong quá trình quản lý đó là sẽ có người được giao cùng lúc
nhiều nhiệm vụ khác nhau cùng lúc do vậy hiệu quả công việc sẽ không cao,
không phù hợp với yêu cầu của người quản lý cấp cao. Bên cạnh đấy, với mô
hình phân cấp chức năng trong quản lý đã vi phạm nguyên tắc tập trung trong
một đầu mối quản lý của cấp lãnh đạo cao cấp. Cụ thể, mô hình tổ chức bộ
máy quản lý của Công ty như sau:
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
Ban kiểm soát
Ban Giám đốc công ty
Phòng Kỹ Phòng Kế Phòng Kinh
Phòng Hành chính thuật và Điều toán – Tài doanh
hành sản xuất chính
Các Đội sản xuất
Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
+ Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty,
quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn được Điều lệ và Pháp
luật liên quan quy định. Đại hội đồng cổ đông có các quyền: thông qua, sửa
đổi, bổ sung Điều lệ, thông qua kế hoạch phát triển công ty, thông qua Báo
36
cáo tài chính hàng năm, báo cáo của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và của
Kiểm toán viên; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên của HĐQT, Ban kiểm
soát và các quyền khác được quy định tại Điều lệ công ty.
+ Hội đồng quản trị (HĐQT)
HĐQT là cơ quan quản trị của Công ty cổ phần Môi trường và công
trình đô thị Sơn Tây, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định các vấn
đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc
thẩm quyền Đại hội đồng cổ đông. HĐQT có các quyền như: quyết định cơ
cấu tổ chức, bộ máy của Công ty; quyết định chiến lược đầu tư, phát triển của
Công ty trên cơ sở các mục đích chiến lược do ĐHĐCĐ thông qua; bổ nhiệm,
miễn nhiệm, cách chức, giám sát hoạt động của Ban Tổng Giám đốc; kiến
nghị sửa đổi bổ sung Điều lệ, báo cáo tình hình kinh doanh hàng năm, Báo
cáo tài chính, quyết toán năm, phương án phân phối lợi nhuận và phương
hướng phát triển, kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh và ngân sách hàng
năm trình ĐHĐCĐ; và các quyền khác được quy định tại Điều lệ.
Bảng 2.1: Thành viên Hội đồng quản trị
STT Chức vụ Họ và tên
1 Chủ tịch Hà Ngọc Tản
2 P.Chủ tịch Lê Văn Thục
3 Ủy viên Lê Văn Vũ
4 Ủy viên Nguyễn Hồng Điệp
5 Ủy viên Nguyễn Xuân Huynh
(Nguồn: Báo cáo thường niên của Công ty các năm)
37
Hiện nay HĐQT của Công ty có 05 thành viên bao gồm 01 Chủ tịch
HĐQT và 04 thành viên HĐQT. Cơ cấu Hội đồng Quản trị hiện tại như bảng
2.1
+ Ban kiểm soát (BKS)
BKS do ĐHĐCĐ bầu ra gồm 3 thành viên, thay mặt cổ đông để kiểm
soát mọi hoạt động quản trị và điều hành sản xuất kinh doanh của Công ty.
BKS chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ và Pháp luật về những công việc thực
hiện theo quyền và nghĩa vụ như: kiểm tra sổ sách kế toán và Báo cáo tài
chính của Công ty, kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của các hoạt động sản xuất
kinh doanh và tài chính của công ty; kiểm tra việc thực hiện nghị quyết,
quyết định của HĐQT; trình ĐHĐCĐ báo cáo, thẩm tra các báo cáo tài chính
của công ty; đồng thời có quyền trình bày ý kiến độc lập của mình về kết quả
thẩm tra các vấn đề liên quan tới hoạt động kinh doanh, hoạt động của
HĐQT và Ban Giám đốc; các quyền khác được quy định tại Điều lệ công ty.
Cơ cấu BKS Công ty hiện tại như sau:
Bảng 2.2: Thành viên Ban kiểm soát của Công ty
STT Chức vụ Họ và tên
1 Trưởng ban Phan Văn Tiến
2 Thành viên Khiếu Minh Đồng
3 Thành viên Nguyễn Thị Vân Anh
(Nguồn: Báo cáo thường niên của Công ty các năm)
+ Ban Giám đốc Công ty
Giám đốc do HĐQT bổ nhiệm, chịu sự giám sát của HĐQT và chịu
trách nhiệm trước ĐHĐCĐ, HĐQT, và trước pháp luật về việc thực hiện
quyền và nhiệm vụ được giao. Giám đốc là người đại diện theo luật pháp của
công ty, có quyền: tổ chức điều hành, quản lý mọi hoạt động sản xuất của
38
công ty, và trình HĐQT các quy chế quản lý điều hành nội bộ, kế hoạch sản
xuất kinh doanh, kế hoạch tài chính hàng năm và dài hạn của công ty; đề nghị
HĐQT quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với phó
giám đốc, kế toán trưởng; thực hiện ký kết các hợp đồng theo quy định của
pháp luật, báo cáo cho HĐQT về tình hình hoạt động và kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh.; chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ, HĐQT và pháp luật về
những sai phạm gây ra tổn thất cho công ty; thực hiện các nghị quyết của
HĐQT và ĐHĐCĐ về kế hoạch kinh doanh và đầu tư của công ty.
Phó giám đốc có trách nhiệm hỗ trợ giám đốc điều hành hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty.
Cơ cấu Ban giám đốc hiện nay như sau:
Bảng 2.3: Thành viên Ban giám đốc của Công ty
STT Chức vụ Họ và tên
1 Giám đốc Lê Văn Thục
2 Phó giám đốc Lê Văn Vũ
3 Phó giám đốc Phùng Thị Nhường
(Nguồn: Báo cáo thường niên của Công ty các năm)
+ Các phòng ban chức năng
Hiện tại, văn phòng công ty có 03 ban chuyên môn bao gồm:
- Bộ phận Hành chính – Tổ chức lao động – Tiền lương: tham mưu,
giúp việc cho HĐQT và Giám đốc công ty trong việc tổ chức thực hiện công
tác tuyển dụng, tổ chức cán bộ, đào tạo, lao động, tiền lương. Thừa lệnh Giám
đốc hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các đội sản xuất thực hiện chế độ chính
sách, quy định của Nhà nước trong lĩnh vực này.
- Bộ phận Tài chính – Kế toán: tham mưu cho Giám đốc trong lĩnh vực
tài chính, tổ chức công tác kế toán của toàn công ty theo đúng chính sách của
pháp luật; kiểm tra và hướng dẫn các đơn vị trực thuộc công ty triển khai thực 39
hiện các công tác nêu trên; nghiên cức và tham mưu cho lãnh đạo công ty về
kinh doanh, tài chính, tham gia thị trường chứng khoán, tìm kiếm và huy động
nguồn vốn từ trong và ngoài nước.
- Bộ phận Kế hoạch – Kỹ thuật – Quản trị dự án: phụ trách về kế
hoạch, kỹ thuật trong các mảng ngành nghề kinh doanh, các phương tiện, thiết
bị do công ty quản lý; trực tiếp quản lý, kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện
các tiêu chuẩn, quy trình quy phạm về kỹ thuật, bảo dưỡng, bảo quản, sửa
chữa phục vụ cho kinh doanh đạt kết quả cao nhất. Bên cạnh đó phải thiết lập,
bảo vệ và thực hiện các dự án kinh doanh cũng như thực hiện quản trị các dự
án để các dự án đạt kết quả tốt nhất.
Cơ cấu quản lý của Công ty theo mô hình công ty cổ phần tuy nhiên
quy mô tương đối nhỏ. Trình độ, kinh nghiệm của cán bộ quản lý còn chưa
thực sự tốt, chưa có sự phân cấp, phân công nhiệm vụ rõ ràng nên hiệu quả
quản lý tài chính, hiệu quả sử dụng vốn của Công ty chưa thực sự cao.
2.1.2.3. Đặc điểm ngành kinh doanh
Việt Nam hiện nay là một trong những nước đang phát triển và có tốc
độ tăng trưởng hàng năm cao. Từ năm 1990, cùng với những chuyển biến tích
cực về mặt kinh tế – xã hội mạng lưới đô thị quốc gia đã được mở rộng và
phát triển. Hiện nay, có hàng nghìn khu đô thi và hàng trăm khu công nghiệp
tập trung. Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa ở nước ta diễn ra mạnh nhất
ở 3 vùng trọng điểm phát triển kinh tế – xã hội Bắc, Trung, Nam.
Quá trình đô thị hóa nhanh đã có những ảnh hưởng đáng kể tới môi
trưởng và tài nguyên thiên nhiên, đến sự cân bằng sinh thái. Tài nguyên thiên
nhiên đất bị khai thác triệt để để xây dựng đô thị, làm giảm diện tích cây xanh
và mặt nước, gây ra úng ngập, cùng với như cầu nước phục vụ sinh hoạt, dịch
vụ, sản xuất, ngày càng tăng làm suy thoái tài nguyên nước; nhiều xí nghiệp,
nhà máy gây ô nhiễm môi trường lớn trước đây nằm ở ngoại thành, nay đã lọt
40
vào giữa các khu dân cư đông đúc, bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm
môi trường không khí và tiếng ồn nghiêm trọng… Chính vì vậy, các công
việc liên quan đến xây dựng, duy trì, bảo hành, bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế
các trang thiết bị công cộng và vệ sinh môi trường đóng vai trò rất quan trọng
trong sự nghiệp phát triển của khu đô thị, khu công nghiệp đó. Cùng với cuộc
sống công nghiệp hiện đại, các nhu cầu và các điều kiện vui chơi, giải trí giảm
bớt áp lực công việc, lấy lại thăng bằng, tái sản xuất sức lao động trong cuộc
sống cũng là một vấn đề người dân quan tâm. Chính phủ và chính quyền địa
phương đã đề ra nhiều giải pháp nhưng chưa đủ để xử lý các vấn đề ô nhiễm
tại các đô thị. Việc khắc phục, xử lý hậu quả do tác động xấu đến môi trường
cần rất nhiều thời gian, công sức và kinh tế. Chính vì vậy, các đơn vị hoạt
động trong lĩnh vực chuẩn bị, dự phòng, xử lý và khắc phục những ảnh hưởng
trong hiện tại và tương lại của thiên nhiên và môi trường đến con người ngày
càng được quan tâm, chú trọng phát triển lâu dài ở địa phương, lãnh thổ và
trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, do đặc thù của ngành, các công việc hiện nay phần lớn dựa
vào sức lao động trực tiếp, một số ít được trang bị máy móc chuyện dụng để
phụ giúp người lao động, việc xử lý rác thải phần lớn là dùng biện pháp chôn
lấp ở xa các khu dân cư nên đòi hỏi đầu tư nhiều về diện tích và phương tiện
chuyên chở. Công việc nặng nhọc, độc hại, lao động trực tiếp trong các công
việc không đòi hỏi trình độ cao, nên Nhà nước và người dân chưa có sự quan
tâm đúng mức đối với lực lượng lao động này. Trong khi điều kiện kinh tế để
cơ giới hóa toàn bộ và chi phí để duy trì hoạt động của các phương tiện máy
móc này là rất tốn kém.
Trong gần 30 năm qua, công ty đã phấn đấu không ngừng để tồn tại, ổn
định và phát triển. Qua mỗi giai đoạn Công ty đã vượt qua nhiều khó khăn thử
thách để từng bước khẳng định vị thế của mình trong ngành Môi trường & đô
41
thị cũng như sự tín nhiệm của các khách hàng và các địa phương lân cận.
Công ty đã nhận được nhiều phần thưởng của Chính phủ, UBND các cấp. đặc
biệt là huân chương lao động hạng 3 và hạng 2 của Nhà nước tặng năm 2002
và 2007.
So với các doanh nghiệp trong ngành Môi trường & Công trình đô thị
thì công ty là một trong những công ty có bề dày hoạt động, có kinh nghiệm
trong hoạt động, quản trị và tiên phong việc cổ phần hóa, đăng ký giao dịch
cổ phiếu.
Tính đến thời điểm 31/12/2009 đội ngũ cán bộ công nhân viên của
công ty là 309 người.
Chiến lược kinh doanh hiện nay Công ty là đa dạng hóa các loại hình
dịch vụ theo hướng hiện đại hóa, phù hợp với xu thế của thị trường trong
nước, cũng như quy hoạch phát triển của ngành Môi trường & công trình đô
thị.
2.1.3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Trong những năm gần đây, tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty nói
riêng và của các doanh nghiệp nói chung gặp nhiều khó khăn do những diễn
biến bất lợi từ tình hình bất ổn của nền kinh tế. Mặc dù vậy, nhờ sự phấn đấu,
nỗ lực của Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ nhân viên trong Công ty nên
Công ty vẫn đạt được những kết quả kinh doanh nhất định.
Tổng tài sản của Công ty những năm qua nhìn chung có xu hướng tăng
trưởng. Mặc dù năm 2014 có sự sụt giảm nhưng sự sụt giảm này không đáng
kể. Năm 2012, tổng tài sản của Công ty là 69798 triệu đồng thì tới năm 2013
tăng trưởng mạnh thêm 17,3% lên mức 81862 triệu đồng. Năm 2014 tổng tài
sản giảm nhẹ 1,4% còn 80744 triệu đồng. Nguyên nhân là do sụt giảm mạnh
tương ứng 23,4% trong giá tài sản dài hạn và đạt 10.060.038.286 đồng vào
cuối 2014. Như vậy, quy mô kinh doanh của Công ty đang được mở rộng.
42
đvt: Triệu đồng
Biểu đồ 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty một số năm gần đây
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty năm 2011-2014
Về kết quả kinh doanh qua doanh thu và lợi nhuận của Công ty các
năm qua như sau: Năm 2012, tổng doanh thu thuần đạt được là 103088 triệu
đồng và lợi nhuận kế toán trước thuế là 26232 triệu đồng. Năm 2013, tổng
doanh thu thuần tăng khá ở mức 10,2% đạt 113618 triệu đồng và lợi nhuận kế
toán trước thuế tăng thêm 18,4% đạt mức 31.060 triệu đồng. Tuy nhiên năm
2014, doanh thu của Công ty lại sụt giảm khá ở mức 18,8% chỉ còn 92.258
triệu đồng. Lợi nhuận của Công ty theo đó cũng sụt giảm mạnh mẽ với 41,7%
chỉ còn 18.102 triệu đồng.
Để có được những thành công trên, Công ty đã áp dụng nhiều biện
pháp quản trị hiệu quả:
Xây dựng kế hoạch hoạt động năm, quý, tháng
Báo cáo trong các buổi họp giao ban hàng tuần
Báo cáo lãnh đạo khi có vấn đề phát sinh cần chỉ đạo giải quyết.
HĐQT, ban điều hành đã luôn chủ động trong việc ký kết các
hợp đồng đặt hang cung cấp các dịch vụ đô thị với Thị xã Sơn Tây,
Huyện Phúc Thọ, Ban duy tu các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị
43
thành phố Hà Nội và một số cơ quan đơn vị khác. Do đó công tác điều
hành SXKD luôn chủ động tạo điều kiện mở rộng địa bàn sản xuất, thu
hút thêm lao động. HĐQT và Ban giám đốc luôn triệt để nêu cao tinh
thần triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí để góp phần giảm chi
phí, nâng cao hiệu quả SXKD.
2.2. THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY
2.2.1. Thực trạng về vốn
Trong các năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinh
doanh nhưng Công ty không ngừng gia tăng quy mô vốn nhằm tăng năng lực
kinh doanh. Cụ thể như sau:
Năm 2012, mặc dù hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn nhưng
Công ty vẫn gia tăng được quy mô kinh doanh, tổng vốn bình quân của Công
ty năm này tăng thêm 5,2% so với năm trước, đạt mức 57.244 triệu đồng.
Trong năm 2013, năng lực kinh doanh của Công ty tăng trưởng mạnh,
tổng vốn bình quân của Công ty trong năm này tăng thêm 32,5% tương ứng
với 18.586 triệu đồng. Tổng vốn vốn bình quân của Công ty trong năm này
đạt mức là 75.830 triệu đồng.
đvt: triệu đồng
44
Biểu đồ 2.2: Tăng trưởng quy mô vốn của Công ty
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)
Trong năm 2014, năng lực kinh doanh của Công ty vẫn duy trì đà tăng
trưởng nhưng tốc độ tăng trưởng đã giảm, tổng vốn bình quân của Công ty
trong năm này tăng thêm 7,2% tương ứng với 5473 triệu đồng. Tổng vốn vốn
bình quân của Công ty trong năm này đạt mức là 81303 triệu đồng.
Tăng trưởng quy mô vốn nhưng nhìn chung cơ cấu tài sản của Công ty
tương đối ổn định, tài sản ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn hơn tài sản dài
hạn. Cụ thể như sau:
Năm 2012, tài sản ngắn hạn của Công ty là 41.163 triệu đồng, chiếm tỷ
trọng 72% trong khi đó tài sản dài hạn của Công ty là 16.081 triệu đồng chỉ
chiếm tỷ trọng 28%.
Bảng 2.4: Cơ cấu tài sản của Công ty qua các năm
đvt: triệu đồng
2012 2013 2014
Chỉ tiêu Tỷ Tỷ Số Tỷ Số tiền Số tiền trọng trọng tiền trọng
Tổng tài sản bình quân 57244 100% 75830 100% 81303 100%
45
Tài sản ngắn hạn bình quân 41163 72% 60646 80% 60705 75%
Tài sản dài hạn bình quân 16081 28% 15184 20% 20598 25%
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)
Năm 2013, tổng tài sản ngắn hạn của Công ty trong năm này tăng lên
60.646 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 80%. Tài sản dài hạn bình quân là 15.184
triệu đồng, chiếm tỷ trọng 20%.
Năm 2014, tổng tài sản ngắn hạn của Công ty trong năm này hầu như
không biến động trong khi tài sản dài hạn bình quân tăng nên cơ cấu tài sản
có sự thay đổi. Tài sản ngắn hạn bình quân tỷ trọng giảm chỉ còn 75%. Tài
sản dài hạn tăng mạnh nên tỷ trọng tăng lên mức 25%.
Mặc dù, cơ cấu tài sản của Công ty có sự dịch chuyển theo hướng tích
cực hơn, gia tăng tỷ trọng tài sản dài hạn, nhằm gia tăng năng lực kinh doanh
nhưng nhìn chung quy mô tài sản dài hạn còn hạn chế nên ảnh hưởng tới đến
hiệu quả kinh doanh của Công ty.
Xem xét cơ cấu nguồn vốn huy động của Công ty, những năm qua cơ
cấu nguồn vốn của Công ty có xu hướng tăng dần tỷ trọng nguồn vốn chủ sở
hữu, gia tăng mức độ độc lập về tài chính cho Công ty. Năm 2012, vốn chủ sở
hữu chiếm 55%, ở mức 31.431 triệu đồng. Trong khi đó vốn vay là 25.813
triệu đồng, chiếm 45%.
Bảng 2.5: Cơ cấu nguồn vốn của Công ty qua các năm
đvt: triệu đồng
2012 2013 2014
Tỷ Tỷ Số Tỷ
Chỉ tiêu Số tiền trọng Số tiền trọng tiền trọng
Tổng tài sản bình quân 57244 100% 75830 100% 81303 100%
Vốn chủ sở hữu bình quân 31431 55% 51420 68% 62430 77%
Nợ vay bình quân 25813 45% 24410 32% 18873 23%
46
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)
Năm 2013, vốn chủ sở hữu bình quân tăng lên mức 51.420 triệu đồng,
chiếm 68%, nợ vay bình quân là 24.410 triệu đồng chiếm 32%. Năm 2014, tỷ
trọng vốn chủ sở hữu bình quân tiếp tục tăng lên mức 77%, đạt 62.430 triệu
đồng. Nợ vay bình quân chỉ chiếm 23%, ở mức 18.873 triệu đồng.
Mặc dù tỷ trọng vốn chủ sở hữu cao làm gia tăng mức độ tự chủ về tài
chính nhưng lại ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.
2.2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn
2.2.2.1 Hiệu quả sử dụng vốn
Thứ nhất, hiệu quả sử dụng tổng vốn
Bảng 2.6: Tỷ suất lợi nhuận tổng vốn Công ty qua các năm
đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu 2012 2013 2014
Vốn bình quân 57244 75830 81303
Lợi nhuận trước thuế 26232 31060 18102
Tỷ suất lợi nhuận vốn 45.8% 41.0% 22.3%
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)
Năm 2012, cứ 100 đồng vốn tạo ra 45,8 đồng lợi nhuận trước thuế. Tuy
nhiên, tỷ suất này giảm dần từ năm 2013. Năm 2013, tỷ suất lợi nhuận vốn
đạt 41% và đặc biệt sụt giảm mạnh theo đà giảm của lợi nhuận trước thuế
năm 2014 chỉ còn 22,3%.
Thứ hai, hiệu quả chi tiết theo cấu trúc vốn
Một là, hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khác nhau nên các năm qua hiệu
quả sử dụng vốn lưu động của Công ty đang có xu hướng giảm xuống, điều
này được biểu hiện thông qua sự sụt giảm của các chỉ tiêu vòng quay vốn lưu
47
động và tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động, sự tăng lên của chỉ tiêu hệ số đảm
nhiệm vốn lưu động.
- Vòng quay vốn lưu động: Vòng quay vốn lưu động của Công ty giảm
chứng tỏ vốn lưu động của công ty qua các năm chậm luân chuyển hơn, ít tạo
ra doanh thu hơn. Cụ thể như sau:
Năm 2012, vốn lưu động của Công ty trong năm quay được 2,5 vòng
tức là cứ 1 đồng vốn lưu động thì tạo ra 2,5 đồng doanh thu thuần.
Năm 2013, vốn lưu động trong năm này chỉ quay được 1,87 vòng, tức
là cứ 1 đồng vốn lưu động chỉ tạo ra được 1,87 đồng doanh thu thuần. (giảm
25,19%).
Năm 2014, vốn lưu động trong năm của Công ty tiếp tục giảm vòng
quay chỉ còn 1,52 vòng (tương ứng mức giảm 18,88%). Trong năm này 1
đồng vốn lưu động đưa vào sản xuất kinh doanh chỉ tạo ra 1,52 đồng doanh
thu thuần.
- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu đồng của Công ty tăng qua các năm.
Năm 2012, để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần, Công ty phải bỏ ra 0,4
đồng vốn lưu động thì tới năm 2013 phải bỏ ra 0,53 đồng vốn lưu động và
2014 phải bỏ ra 0,66 đồng vốn lưu động.
Bảng 2.7: Hiệu quả sử dụng vốn lưu đồng
đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu 2012 2013 2014
Doanh thu thuần 103088 113618 92258
Vốn lưu động bình quân 41163 60646 60705
Lợi nhuận trước thuế 26232 31060 18102
Vòng quay vốn lưu động 2.50 1.87 1.52
Mức đảm nhiệm vốn lưu động 0.40 0.53 0.66
Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động 63.7% 51.2% 29.8%
48
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)
- Tỷ suất lợi nhuận trước thuế vốn lưu động cũng sụt giảm.
Năm 2012, cứ 100 đồng vốn lưu động thì tạo ra 63,7 đồng lợi nhuận
trước thuế.
Năm 2013, cứ 100 đồng vốn lưu động thì tạo ra 51,2 đồng lợi nhuận
trước thuế.
Năm 2014, cứ 100 đồng vốn lưu động chỉ tạo ra 29, đồng lợi nhuận
trước thuế.
Sự sụt giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở trên là do sự biến động
không đồng đều của các chỉ tiêu vốn lưu động bình quân, doanh thu thuần và
lợi nhuận trước thuế.
Năm 2012, doanh thu thuần của Công ty và lợi nhuận trước thuế đều có
xu hướng gia tăng. Năm 2012, tổng doanh thu thuần đạt được là 103088 triệu
đồng (tăng 68,17%) và lợi nhuận kế toán trước thuế là 26232 triệu đồng (tăng
gấp 1,2 lần). Trong khi đó vốn lưu động bình quân của Công ty này ở mức
thấp. Điều này đã giúp cho vòng quay vốn lưu động và tỷ suất lợi nhuận vốn
lưu động trong năm này ở mức cao nhất, hệ số đảm nhiệm vốn lưu động ở
mức thấp.
đvt: triệu đồng
Biểu đồ 2.3: Vốn lưu động bình quân của Công ty qua các năm
49
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)
Năm 2013, vốn lưu động bình quân của Công ty tăng mạnh thêm 47%,
đạt mức 60.646 triệu đồng. Trong khi đó lợi nhuận trước thuế và doanh thu
thuần của Công ty chỉ tăng nhẹ (18,8% và 10,2%). Điều này đã làm cho hiệu
quả sử dụng vốn lưu động của Công ty có xu hướng giảm trong năm này. Vấn
đề bảo vệ môi trường hàng năm luôn được các cơ quan Trung Ương, các Bộ,
Các Ban ngành quan tâm và thường xuyên có các hướng chỉ đạo tới các bộ
phận ở cấp dưới, các doanh nghiệp trong ngành nâng cao ý thức giữ gìn và cải
tạo môi trường nên cơ hội để các doanh nghiệp ngành môi trường phát triển
các dịch vụ của mình là rất lớn, Đặc biệt, trong điều kiện Sơn Tây nay đã sáp
nhập vào thành phố Hà Nội thì Công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô
thị Sơn Tây nói riêng có rất nhiều thuận lợi để phát triển thị trường, gia tăng
doanh thu trong năm này. Địa bàn sản xuất kinh doanh và các nhiệm vụ thực
hiện nhìn chung ổn định, Việc quản lý duy trì Khu xử lý rác Xuân Sơn cũng
bắt đầu quen dần với phương thức nghiệm thu thanh quyết toán của Ban Duy
tu, Sở xây dựng Thành phố Hà Nội. Các gói hàng năm 2013 ký được hợp
đồng ngay từ những ngày đầu năm nên công ty đã chủ động phối hợp chặt chẽ
với chính quyền, các phòng chuyên môn ở địa phương và Ban duy tu Sở xây
dựng để tổ chức sản xuất kinh doanh theo dự kiến đặt hàng, Điều hành sản
xuất với các biện pháp tổ chức tích cực do vậy quá trình sản xuất luôn ổn định
từ đầu năm đến cuối năm không bị gián đoạn.
Tài sản lưu động của Công ty năm 2013 có sự biến động khá mạnh ở số
cuối năm so với đầu năm. Cuối năm so với đầu năm tài sản lưu động đã tăng
34,4%. Trong đó chủ yếu nguyên nhân là do tiền và các khoản tương đương
tiền tăng mạnh với 48,9%. Tiền và tương dương tiền tính đến cuối năm 2013
là 45.096 triệu đồng (chiếm tỷ trọng 63,78%). Trong đó chủ yếu là các khoản
tương đương tiền. Nợ phải thu cũng tăng khá với 22%, cuối năm ở mức
50
25.014 triệu đồng. Trong đó gia tăng chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn là nợ phải
thu của khách hàng, ngoài ra nợ phải thu khác tăng mạnh trong năm 2013
này. Trong năm 2013 này phát sinh khỏa nợ phải thu lớn của Ban đầu tư xây
dựng thị xã Sơn tây là 17.494 triệu đồng và của Ban duy tu Sở xây dựng là
1.864 triệu đồng. Công ty không phải chịu rủi ro tỷ giá ngoại hối do không
phát sinh các giao dịch mua bán sử dụng ngoại tệ khác đồng Việt Nam.
Bảng 2.8: Biến động tài sản ngắn hạn của Công ty năm 2013
đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu 31/12/2012 31/12/2013 Cuối năm/đầu năm
148.9% Tiền và tương đương tiền 30293 45096
122.0% Các khoản phải thu ngắn hạn 20506 25014
28.4% Hàng tồn kho 1637 465
83.7% Tài sản ngắn hạn khác 153 128
134.4% Tổng 52589 70703
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)
Công ty không có rủi ro lãi suất khi khoản tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn
dưới 3 tháng có lãi suất ổn định.
Năm 2014, vốn lưu động bình quân chỉ tăng nhẹ nhưng doanh thu
thuần của Công ty và lợi nhuận trước thuế trong năm này sụt giảm khá mạnh
nên làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Doanh thu của Công ty lại sụt
giảm khá ở mức 18,8% chỉ còn 92.258 triệu đồng. Lợi nhuận của Công ty
theo đó cũng sụt giảm mạnh mẽ với 41,7% chỉ còn 18.102 triệu đồng. Do chi
phí kinh doanh của Công ty trong năm này tăng khá mạnh. Mặc dù doanh thu
thuần giảm nhưng giá vốn hàng bán của Công ty lại tăng 4,05% đã làm cho
lợi nhuận trước thuế của Công ty giảm sâu. Trong năm này, giá cả nguyên vật
liệu tăng nhanh, trong khi đơn giá đặt hàng chưa thay đổi phù hợp giá cả thị
51
trường. Thời tiết diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến việc tiếp nhận và xử lý
rác.
Hai là, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty các năm qua ở mức khá.
Tuy nhiên lại có xu hướng sụt giảm mạnh trong năm 2014.
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định:
Năm 2012, hiệu suất sử dụng vốn cố định là 6,41 lần tức là 1 đồng vốn cố
định tạo ra được 6,41 đồng doanh thu thuần. Trong năm 2013, nhờ sự gia tăng
mạnh của doanh thu thuần, trong khi vốn cố định hầu như không đổi nên hiệu
suất sử dụng vốn cố định tăng khá. Trong năm này 1 đồng vốn cố định đưa
vào sản xuất kinh doanh tạo ra 7,48 đồng doanh thu thuần. Tuy nhiên năm
2014, hiệu suất sử dụng vốn cố định của Công lại giảm mạnh. Trong năm này
1 đồng vốn cố định đưa vào sản xuất kinh doanh chỉ tạo ra được 4,48 đồng
doanh thu thuần. Điều này là do doanh thu thuần trong năm sụt giảm trong
khi đó vốn cố định bình quân lại tăng khá với hơn 30%.
Bảng 2.9: Hiệu quả sử dụng vốn cố định
đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu 2012 2013 2014
Doanh thu thuần 103088 113618 92258
Vốn cố định bình quân 16081 15184 20598
Lợi nhuận trước thuế 26232 31060 18102
Hiệu suất sử dụng vốn cố định 6.41 7.48 4.48
Hàm lượng vốn cố định 0.16 0.13 0.22
Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định 163.1% 204.6% 87.9%
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)
52
- Hàm lượng vốn cố định của Công ty theo đó cũng có sự biến động
không đều giữa các năm. Năm 2012, hàm lượng vốn cố định là 0,16 lần thì
năm 2013 lại giảm còn 0,13 lần và năm 2014 lại tăng lên là 0,22 lần.
- Do sự biến động của vốn cố định bình quân và lợi nhuận nên tỷ suất
lợi nhuận vốn cố định cũng biến động không đều giữa các năm. Do vốn cố
định của Công ty chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ nên tỷ suất lợi nhuận vốn cố định
của Công ty luôn ở mức cao. Tỷ trọng vốn cố định năm 2012 là 28,1%; năm
2013 là 20% và năm 2014 là 25,3%.
Năm 2012, tỷ suất lợi nhuận vốn cố định của Công ty là 163,1% thì tới
năm 2013 do sự tăng mạnh của doanh thu thuần và lợi nhuận trong khi vốn cố
định bình quân lại giảm nên tỷ suất lợi nhuận vốn cố định tăng mạnh lên
204,6%. Tuy nhiên năm 2014, do vốn cố định bình quân tăng trong khi lợi
nhuận lại sụt giảm nên tỷ suât lợi nhuận vốn cố định giảm khá nhiều chỉ còn
87,9%.
Tài sản cố định của Công ty hiện nay chủ yếu là phương tiện vận tải.
Ngoài ra còn có nhà của vật kiến trúc và thiết bị quản lý, tài sản cố định công
cộng được Nhà nước giao quản lý. Tuy nhiên, tài sản cố định của Công ty
những năm qua nhìn chung ít được quan tâm đầu tư và mở rộng nhằm hiện
đại hóa sản xuất kinh doanh, gia tăng năng lực sản xuất.
Ba là, hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
Trong các năm qua, hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của Công ty nhìn
chung đang có xu hướng giảm sút khá mạnh. Nếu như năm 2012, cứ 100
đồng vốn chủ sở hữu tạo ra 62,6 đồng lợi nhuận sau thuế thì tới năm 2013 tỷ
lệ này chỉ còn 45 đồng lợi nhuận sau thuế. Mặc dù trong năm 2013, lợi nhuận
sau thuế của Công ty tăng khá nhưng vốn chủ sở hữu trong năm này cũng
tăng mạnh nên tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sỡ hữu đã giảm. Đặc biệt trong năm
2014, lợi nhuận sau thuế của Công ty sụt giảm khá mạnh, trong khi vốn chủ
53
sở hữu tiếp tục gia tăng nên tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sỡ hữu trong năm này
giảm mạnh chỉ còn 21.7%. Điều này cho thấy bên cạnh nguyên nhân lợi
nhuận biến động thì một nguyên nhân khác nữa tác động tới tỷ suất lợi nhuận
vốn chủ sỡ hữu của Công ty là do hệ số nợ của Công ty ở mức thấp nên không
khuếch đại được tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sỡ hữu.
Bảng 2.10: Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu 2012 2013 2014
Lợi nhuận sau thuế 19674 23295 13576.5
Vốn chủ sở hữu bình quân 31431 51420 62430
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sỡ hữu 62.6% 45% 21.7%
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)
Bốn là, hiệu quả sử dụng vốn vay
Bảng 2.11: Hiệu quả sử dụng vốn vay
đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu 2012 2013 2014
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay 26255.4 31061.9 18103.2
Nợ vay bình quân 25813 24410 18873
Tỷ suất lợi nhuận vốn vay 101.7% 127% 95.9%
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)
Do Công ty sử dụng nợ vay tương đối thấp trong vốn nên hiệu quả sử
dụng vốn vay cấc năm qua đạt được tương đối cao, tuy nhiên lại có xu hướng
biến động qua các năm do lợi nhuận biến động.
Năm 2012, cứ 100 đồng vốn vay đưa vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra
101,7 đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Năm 2013, lợi nhuận trước thuế
và lãi vay tăng khá, trong khi nợ vay bình quân giảm nhẹ nên tỷ lợi nhuận vốn
vay năm này tăng cao lên 127%. Tuy nhiên năm 2014 mặc dù nợ vay bình
54
quân tiếp tục giảm nhưng lợi nhuận trước thuế và lãi vay giảm mạnh nên tỷ
lợi nhuận vốn vay giảm chỉ còn 95,9%.
2.2.2.2 Hiệu quả sử dụng tài sản
Thứ nhất, hiệu quả sử dụng tổng tài sản
Năm 2012, tài sản của Công ty quay được 1,8 vòng, tức là 1 đồng tài sản đưa
và sản xuât kinh doanh tạo ra được 1,8 đồng doanh thu thuần.
Năm 2013, tài sản của Công ty quay được 1,5 vòng, tức là 1 đồng tài
sản đưa và sản xuât kinh doanh tạo ra được 1,5 đồng doanh thu thuần. Sự sụt
giảm này là mặc dù doanh thu thuần tăng nhưng tốc độ tăng của doanh thu
thấp hơn tốc độ tăng của tài sản bình quân (tài sản bình quân tăng 32,5%).
Năm 2014, doanh thu của Công ty sụt giảm mạnh, trong khi tài sản
bình quân vẫn tăng thêm 7,2%. Chính vì vậy 1 đồng tài sản bình quân đưa
vào sản xuất, kinh doanh chỉ tạo ra được 1,13 đồng doanh thu thuần.
Bảng 2.12: Hiệu quả sử dụng tổng tài sản
đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu 2012 2013 2014
Doanh thu thuần 103088 113618 92258
Tổng tài sản bình quân 57244 75830 81303
Vòng quay tổng tài sản 1.80 1.50 1.13
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)
Thứ hai; Hiệu quả quản lý hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho của Công ty các năm qua đều có sự gia tăng
mạnh mẽ. Điều này chứng tỏ hiệu quả quản lý hàng tồn kho của Công ty khá
tốt. Trong khi giá vốn hàng bán không ngừng gia tăng qua các năm thì hàng
tồn kho bình quân của Công ty lại giảm mạnh.
Bảng 2.13: Vòng quay hàng tồn kho của Công ty qua các năm
đvt: triệu đồng
55
Chỉ tiêu 2012 2013 2014
Giá vốn hàng bán 71630 74390 77035
Hàng tồn kho bình quân 1614 1051 613
Số vòng quay hàng tồn kho 44.4 70.8 125.7
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)
Năm 2012, giá vốn hàng bán của Công ty là 71.630 triệu đồng, hàng
tồn kho bình quân là 1.614 triệu đồng nên số vòng quay hàng tồn kho năm
này là 44,4 lần.
Năm 2013, giá vốn hàng bán của Công ty là 74390 triệu đồng, tăng
thêm 3,9%. Hàng tồn kho bình quân của Công ty giảm 34,9% còn 1.051 triệu
đồng. Do vậy, vòng quay hàng tồn kho trong năm này tăng khá mạnh lên 70,8
lần.
Bảng 2.14: Tỷ trọng hàng tồn kho trong tài sản ngắn hạn
đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu 31/12/2012 31/12/2013 31/12/2014
Hàng tồn kho 1637 465 762
Tổng tài sản ngắn hạn 52589 70703 70684
Tỷ trọng hàng tồn kho 3.1% 0.7% 1.1%
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)
Năm 2014, giá vốn hàng bán của Công ty tiếp tục tăng 3,6% lên mức
77.035 triệu đồng. Trong khi đó, hàng tồn kho bình quân tiếp tục giảm mạnh
còn 613 triệu đồng (giảm 41,7%). Chính vì vậy, vòng quay hàng tồn kho của
Công ty tăng lên 125,7 vòng.
Vòng quay hàng tồn kho của Công ty ở mức cao, một phần là do đặc
thù hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, hàng tồn kho chỉ chiếm tỷ
trọng rất nhỏ trong tài sản lưu động. Tỷ trọng hàng tồn kho chỉ dao động từ
56
0,7% tới 3,1% tùy các năm, trong đó hàng tồn kho chủ yếu tồn tại dưới dạng
là thành phẩm và nguyên vật liệu.
Thứ ba; Hiệu quả quản lý các khoản phải thu của khách hàng
Bảng 2.15: Hiệu quả quản lý các khoản phải thu của khách hàng
đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu 2012 2013 2014
Doanh thu có thuế 108242 119299 96870.9
Các khoản phải thu khách hàng bình quân 18363 20782 25644
Số vòng quay các khoản phải thu khác hàng 5.9 5.7 3.8
Kỳ thu tiền bình quân 61.07 62.71 95.30
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)
Nhìn chung, chính sách quản lý các khoản phải thu của khách hàng khá
ổn định trong năm 2013 và 2012. Điều này biểu hiện qua số vòng quay các
khoản phải thu của khách hàng và kỳ thu tiền bình quân trong hai năm này
khá ổn định.
Năm 2012, số vòng quay các khoản phải thu của khách hàng là 5,9
vòng, kỳ thu tiền trung bình là 61,07 ngày. Các khoản phải thu trong năm này
tương đối ổn định đầu năm so với cuối năm.
Năm 2013, doanh thu của Công ty tăng khá mạnh, do vậy, trong năm
này Công ty phát sinh thêm một số khoản phải thu. Trong đó, chủ yếu là
khoản phải thu từ Ban đầu tư xây dựng thị xã Sơn tây hơn 17 tỷ đồng và Ban
duy tu sở xây dựng hơn 1,8 tỷ đồng. Tuy nhiên, khoản phải thu của một số
khách hàng khác lại giảm như BQL vốn sự nghiệp thị xã Sơn Tây giảm gần
14 tỷ đồng. Chính vì vậy, vòng quay khản phải thu trong năm này chỉ biến
động nhẹ là 5,7 vòng với kỳ thu tiền trung bình là 62,71 ngày.
Năm 2014, doanh thu của Công ty giảm khá nhiều nhưng các khoản
phải thu của khách hàng bình quân lại tăng lên 25.644 triệu đồng. Trong đó,
57
có những khách hàng tiếp tục phát sinh khoản phải khá cao như Ban duy tu sở
xây dựng hơn 9,7 tỷ đồng, Phòng tài nguyên môi trường huyện Phúc Thọ 4,9
tỷ đồng,…. Có những khoản phải thu kéo dài từ năm trước mà Công ty vẫn
chưa thu được tiền như khoản nợ của Hợp tác xã Thành Công là 18 triệu
đồng. Điều này cho thấy hiệu quả quản lý khoản phải thu của khách hàng
trong năm này đã giảm. Số vòng quay khoản phải thu giảm chỉ còn 3,8 vòng
và kỳ thu tiền bình quân tăng lên 95,3 ngày.
Thứ tư, hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Do doanh thu thuần của Công ty các năm qua biến động không đều nên
hiệu suất sử dụng tài sản cố định của Công ty cũng biến động không đồng đều
và có xu hướng giảm trong năm 2014. Cụ thể như sau: Năm 2012, 1 đồng
nguyên giá TSCĐ tạo ra được 2,52 đồng doanh thu thuần thì tới năm 2013, do
doanh thu thuần tăng khá nên hiệu suất này tăng lên mức 2,58 đồng. Trong
năm 2013 này Công ty cũng chú trọng đầu tư thêm các TSCĐ phục vụ gia
tăng năng lực sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, năm 2014, không có sự biến
động nào về nguyên giá TSCĐ, trong khi doanh thù thuần của Công ty giảm
mạnh đã làm cho hiệu suất sử dụng TSCĐ của Công ty giảm chỉ còn 2,1 lần.
Bảng 2.16: Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu 2012 2013 2014
Doanh thu thuần 103088 113618 92258
Nguyên giá tài sản cố định bình quân 40963 44024 43882
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định 2.52 2.58 2.10
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)
2.2.2.3 Hiệu quả hoạt động
Thứ nhất, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
58
Nếu như năm 2012, trong 100 đồng doanh thu có 25,4 đồng lợi nhuận
trước thuế thì tới năm 2013 tỷ suất lợi nhuận doanh thu tăng khá. Trong năm
này 100 đồng doanh thu thuần có 27 đồng lợi nhuận trước thuế. Nguyên nhân
là do doanh thu thuần trong năm này tăng khá mạnh, nhưng lợi nhuận trước
thuế lại tăng với tốc độ nhanh hơn.
Tuy nhiên, tới năm 2014, do doanh thu thuần của Công ty giảm mạnh,
trong khi lợi nhuận trước thuế cũng giảm sâu nên tỷ suất lợi nhuận doanh thu
của Công ty sụt giảm thấp nhất trong ba năm chỉ còn 19,6%.
Bảng 2.17: Tỷ suất lợi nhuận doanh thu
đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu 2012 2013 2014
Lợi nhuận trước thuế 26232 31060 18102
Doanh thu thuần 103088 113618 92258
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu 25.4% 27% 19.6%
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)
Thứ hai, khả năng chi trả lãi vay
Do Công ty sử dụng tỷ trọng nợ vay trong tổng vốn tương đối thấp nên
hệ số chi trả nợ vay của Công ty rất cao trong các năm qua. Lãi vay phải trả
năm 2012 cao nhất là 23 triệu đồng, trong khi lợi nhuận trước thuế và lãi vay
là 26255.4 triệu đồng, cao gấp 1.122 lần so với lãi vay phải trả. Năm 2013 và
2014 lãi vay phải trả của Công ty giảm còn rất thấp, 1,9 triệu đồng và 1,2
triệu đồng.
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI
CÔNG TY
2.3.1. Những kết quả đạt được
- Mặc dù trong những năm qua, Công ty chịu không ít tác động của nền
kinh tế cũng như các rủi ro khác nhưng Công ty vẫn đảm bảo hoạt động sản
59
xuất kinh doanh có những kết quả khá khả quan. Công ty vẫn làm ăn có lãi,
đạt doanh thu và lợi nhuận nhất định.
- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty các năm qua đạt mức khá
trong năm 2012 và 2013. Đặc biệt năm 2013, mức tăng trưởng hiệu quả sử
dụng vốn lưu động khá cao.
- Hiệu quả sử dụng vốn vay của Công ty đạt mức tương đối cao, trong
khi đó hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu cũng ở mức khá.
- Chấp hành đúng chế độ chính sách của Nhà nước và xã hội. Thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước; đảm bảo cuộc sống cho cán bộ
công nhân viên ngày càng được nâng cao.
- Các khoản phải thu khách hàng của Công ty chiếm tỷ trọng nhỏ, điều
này cho thấy những nỗ lực và quyết tâm của công ty trong công tác thu hồi
nợ, đặc biệt là nợ khó đòi.
- Công tác tiêu thụ hàng tồn kho cũng có những biến chuyển đáng ghi
nhận. Hàng tồn kho của Côn ty ở mức thấp nên hiệu quả quản lý hàng tồn kho
của Công ty luôn ở mức cao.
- Hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty ở mức cao và đặc biệt tăng
mạnh trong năm 2013.
- Vòng quay tổng vốn của Công ty và tỷ suất lợi nhuận vốn của Công
ty đạt mức khá.
- Công ty luôn đảm bảo khả năng thanh toán lãi vay ở mức khá cao, do
tỷ trọng sử dụng vốn vay của Công ty liên tục giảm các năm qua, lãi vay phải
trả không đáng kể.
2.3.2. Những tồn tạị và nguyên nhân
2.3.2.1. Những tồn tại
Mặc dù hoạt động kinh doanh sau cổ phần hoá đang dần ổn định và đạt
được một số kết quả trên nhưng những hạn chế về quản lý và sử dụng vốn
60
trong công ty chưa được khắc phục nên hiệu quả sử dụng vốn trong thời gian
qua còn nhiều hạn chế:
- Doanh thu và lợi nhuận của Công ty biến động không đều qua các
năm. Đặc biệt năm 2014, doanh thu và lợi nhuận của Công ty đã giảm khá
nhiều.
- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty bị sụt giảm khá mạnh
trong năm 2014. Trong khi đó, quản lý tiền của Công ty còn chưa tốt. Các
khoản tiền còn chiếm tỷ trọng lớn gây nên ứ đọng vốn và giảm hiệu quả kinh
doanh của Công ty.
- Hiệu quả quản lý hàng tồn kho cũng không đều, trong năm 2014, hiệu
quả quản lý hàng tồn kho giảm.
- Hiệu quả quản lý các khoản phải thu cũng không đều giữa các năm.
Đặc biệt năm 2014, hiệu quả quản lý khoản phải thu của khách hàng sụt giảm.
Công ty có phát sinh nhiều các khoản phải thu lớn, có tồn tại khoản phải thu
khó đòi.
- Hiệu quả quản lý vốn cố định của Công ty có sự sụt giảm. Tài sản cố
định của Công ty còn chiếm tỷ trọng thấp, giá trị chưa cao, thiếu các máy móc
thiết bị tiên tiến, hiện đại, chưa được quan tâm đầu tư, đổi mới nâng cao năng
lực sản xuất kinh doanh.
- Các chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả sử dụng tổng vốn đều có xu hướng
giảm trong năm 2014.
- Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của Công ty các năm qua có xu
hướng giảm do Công ty sử dụng ít nợ vay trong tổng vốn nên mức độ tác
động của đòn bảy tài chính không lớn.
- Năm 2014, lợi nhuận sụt giảm nên tỷ suất lợi nhuận doanh thu của
Công ty cũng giảm mạnh, gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả sử dụng vốn.
2.3.2.2. Nguyên nhân
61
Thứ nhất; Nguyên nhân khách quan
- Ảnh hưởng của tình hình kinh tế
Năm 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO), do đó, những biến động của kinh tế toàn cầu sẽ
có ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam.
Năm 2013, kết thúc với những dấu hiệu được cải thiện khá hơn so với năm
2012. Tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt 5,42% gần mục tiêu 5,5% và cao hơn
con số 5,25% năm 2012. Tuy nhiên, nền kinh tế còn tồn tại nhiều khó khăn,
bất cập chưa được giải quyết gây áp lực lớn cho kinh doanh như: hàng tồn
kho ở mức cao, sức mua yếu, tỷ lệ nợ xấu ngân hàng ở mức đáng lo ngại,
nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, dừng hoạt động hoặc giải thể...
Bước sang năm 2014, Chính phủ tiếp tục xác định một trong những
mục tiêu kinh tế- xã hội năm 2014 là tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô. Theo số
liệu của Tổng cục thống kê Việt Nam công bố ngày 27/12/2014, GDP năm
2014 ước tính tăng 5,98% so với năm 2013.
Theo IMF nền kinh tế thế giới năm 2015 phục hồi mạnh hơn, tăng
trưởng toàn cầu được dự báo là 4% tăng 0,6 điểm % so với dự báo tăng
trưởng năm 2014 (cao hơn khá nhiều mức tăng trưởng của năm 2013 so với
2012).
Mặc dù vậy, tình hình vẫn còn nhiều bất định: khủng hoảng Ucraina,
kèm theo sự cấm vận của phương Tây với Nga, khủng hoảng và cuộc chiến
chống Nhà nước Hồi giáo IS ở Trung Đông... sẽ tác động đến kinh tế toàn cầu
Kinh tế Việt Nam năm 2015 có mức phục hồi cao hơn và có khả năng
đạt mức tăng trưởng từ 6%-6,2%. Lý do yêu cầu cải thiện môi trường kinh
doanh đang được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt và sẽ có chuyển
biến trên hầu hết các tiêu chí trong nửa đầu năm 2015. Nhiều khả năng hầu
hết các Hiệp định mậu dịch tư do ta đang đàm phán sẽ được hoàn thành
62
không muộn hơn 6 tháng đầu năm 2015. Điều này sẽ tạo điều kiện thu hút đầu
tư và mở rộng thị trường xuất khẩu, qua đó thúc đẩy tăng trưởng.
- Môi trường pháp luật
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vì vậy, pháp
luật và các chính sách của nước ta thường xuyên có những thay đổi để phù
hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. Doanh nghiệp trong quá trình hoạt động
luôn phải đối mặt với các rủi ro biến động chính sách và quy định pháp luật.
Mỗi sự thay đổi của chính sách pháp luật của Nhà nước, chính sách của các
hiệp hội…đều tác động ít nhiều đến quá trình thực hiện kế hoạch hoạt động
kinh doanh của Công ty.
Là doanh nghiệp hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần, hoạt động
của Công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây chịu sự điều
chỉnh chủ yếu bởi Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán ... Trong khi các
luật và các văn bản dưới luật trong lĩnh vực này đang trong quá trình hoàn
thiện, nên sự thay đổi về mặt chính sách luôn có thể xảy ra và khi xảy ra sẽ ít
nhiều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Công ty đã thực hiện đăng ký chứng khoán tại Trung tâm lưu ký Chứng
khoán Việt Nam và đăng ký giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội.
Do đó, doanh nghiệp phải thực hiện công bố thông tin theo các văn bản pháp
luật, các thông tư hướng dẫn, các văn bản này liên tục thay đổi yêu cầu
doanh nghiệp phải nắm bắt được các nội dung của các văn bản mới để
thực hiện tuân thủ nghĩa vụ Công bố thông tin đúng thời gian.
- Ảnh hưởng của đặc điểm ngành
Giá cả nguyên vật liệu là nhân tố tác động trực tiếp tới chi phí và lợi
nhuận của Công ty, chi phí nguyên vật liệu sử dụng trong hoạt động của
Công ty tăng nhanh, trong khi đơn giá đặt hàng Doanh nghiệp đã ký trước
63
với đối tác không kịp thay đổi để phù hợp với mức giá cả trên thị trường.
Do đó, điều này ảnh hưởng tới lợi nhuận của từng hợp đồng của Công ty.
Mặt khác, với hoạt động cung cấp dịch vụ vệ sinh môi trường nhằm
mục đích đảm bảo vệ sinh môi trường, chăm sóc cây xanh, cảnh quan
thành phố, hoạt động của Công ty chịu tác động trực tiếp của yếu tố khí
hậu. Từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm, trên địa bàn thành phố luôn phải
chịu ảnh hưởng từ những trận mưa bão tác động tới hệ thống cây xanh,
gây gãy đổ, hỏng hệ thống đèn đường, lề đường. Đây là một yếu tố khách
quan không thể tránh khỏi, tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty
Thứ hai; Nguyên nhân chủ quan
- Quy mô vốn tăng tỷ lệ thuận với tốc độ chu chuyển vốn là điều tất
yếu. Mặt khác, tình trạng thiếu vốn của công ty dẫn đến tăng chi phí làm kết
quả kinh doanh giảm.
- Công tác thu hồi công nợ chưa được quan tâm đúng mức và thực hiện
chưa nghiêm ngặt; nợ khó đòi, quá hạn vẫn phát sinh qua các năm. Công ty đã
thực hiện phân loại công nợ để theo dõi và quản lý nhưng chưa có những biện
pháp và giải pháp rõ ràng để giải quyết triệt để công nợ khó đòi.
- Hệ thống nội quy, quy chế quản lý các mặt hoạt động sản xuất kinh
doanh cũng như quản lý tài chính được hành nhiều nhưng không được xem
xét cập nhật theo tình hình thực tế từng giai đoạn nên việc chỉ đạo điều hành
còn mang tính chủ quan.
- Trình độ phân tích, dự báo thị trường của nhân viên kinh doanh còn
nhiều hạn chế, còn bị động trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh. Lãnh
đạo công ty chỉ dự đoán kế hoạch trong tương lai mà không chi tiết thành các
kế hoạch tài chính cụ thể.
64
- Quản lý chi phí chưa hiệu quả, đặc biệt là các chi phí phát sinh khi dự
trữ hàng tồn kho quá mức cần thiết.
- Hình thức huy động vốn của công ty chưa đa dạng, cơ cấu nguồn vốn
chỉ tập trung vào 2 nhóm: vốn chủ sở hữu và vốn vay ngân hàng (bên cạnh đó
còn nguồn vốn chiếm dụng nhưng công ty cũng bị chiếm dụng vốn nhiều),
công tác huy động vốn từ các nguồn khác còn yếu, đặc biệt là việc huy động
từ nguồn phát hành cổ phiếu.
- Mặc dù công ty đã chú ý xây dựng chiến lược kinh doanh cho năm kế
hoạch nhưng chưa sát với thực tế thực hiện, công tác nghiên cứu, dự báo thị
trường chưa thật sự được quan tâm, chú trọng, vì vậy không linh hoạt và bị
động khi thị trường có biến động lớn theo hướng bất lợi cho hoạt động kinh
doanh.
- Việc sử dụng vốn lưu động của công ty còn nhiều hạn chế. Việc quản
lý hàng tồn kho còn tồn tại những bất hợp lý và chưa hiệu quả dẫn đến kỳ
luân chuyển vốn lưu động dài, vòng quay vốn lưu động thấp làm cho vốn bị ứ
đọng.
- Hoạt động kinh doanh chưa thật sự ổn định từ sau cổ phần hoá cũng là
nguyên nhân làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của công ty.
65
Kết luận chương 2
Mặc dù trong những năm qua, Công ty chịu không ít tác động của nền
kinh tế cũng như các rủi ro khác nhưng Công ty vẫn đảm bảo hoạt động sản
xuất kinh doanh có những kết quả khá khả quan. Công ty vẫn làm ăn có lãi,
đạt doanh thu và lợi nhuận nhất định. Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty đã
được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh đó, Công ty vẫn còn tồn tại nhiều
hạn chế. Mặc dù hoạt động kinh doanh sau cổ phần hoá đang dần ổn định và
đạt được một số kết quả trên nhưng những hạn chế về quản lý và sử dụng vốn
trong công ty chưa được khắc phục nên hiệu quả sử dụng vốn trong thời gian
qua còn nhiều hạn chế:
66
Chương 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI
CÔNG TY MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN
TÂY
3.1 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ SỰ CẦN THIẾT
KHÁCH QUAN CỦA NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI
CÔNG TY MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY
3.1.1. Những định hướng của công ty trong thời gian tới
Kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2015: Căn cứ kết quả sản xuất kinh
doanh năm 2014 và dự báo, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch năm 2015,
kế hoạch sản xuất kinh doanh Ban lãnh đạo Công ty đề ra cho năm 2015 như
sau:
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý, triệt để thực hành tiết
kiệm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nâng cao năng lực tham mưu,
điều hành của các phòng chức năng và các đội sản xuất trong công ty. Sắp
xếp, kiện toàn lại các phòng chức năng, các đội sản xuất... đảm bảo chuẩn bị
tốt nhất sẵn sàng tham gia đấu thầu các gói hàng của năm 2016 và những năm
tiếp theo
Tiếp tục sửa đổi, bổ sung điều lệ, quy chế tài chính, quy chế chi tiêu nội
bộ phù hợp với quy định mới của pháp luật, định hướng phát triển SXKD của
công ty.
Xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ của
cán bộ, tay nghề của công nhân.
Đánh giá kết quả công việc thực hiện của từng cán bộ công nhân viên
trong Công ty ngày càng nghiêm túc hơn, góp phần nâng cao hiệu quả trong
67
công việc. Hằng năm mức cạnh tranh của mặt hàng lương cũng như thu nhập
cho từng vị trí công việc, trách nhiệm của từng người sẽ được đánh giá lại,
xem xét và điều chỉnh cho phù hợp.
Kiểm soát chặt chẽ quy trình thanh toán, theo dõi công nợ và quy trình
xuất- nhập khẩu vật tư phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công
ty.
Ổn định SXKD và xây dựng chiến lược phát triển công ty, bảo toàn và
phát triển vốn, phấn đấu tăng vốn điều lệ lên trên 20 tỷ đồng
Nâng cao chất lượng phục vụ dịch vụ, giữ vững thương hiệu, địa bàn
sản xuất kinh doanh của công ty.
Doanh thu phấn đấu đến năm 2018 đạt trên 130 tỷ đồng.
Cổ tức hàng năng không thấp hơn 02 lần mức lãi suất tiền gửi bình
quân liên ngân hàng ( thời hạn 12 tháng)
Khai thác sử dụng có hiệu quả phương tiện, trang thiết bị hiện có, đầu
tư trang bị thêm cơ sở vật chất trang thiết bị đáp ứng yêu cầu SXKD, đảm
bảo đủ năng lực cạnh tranh theo yêu cầu.
3.1.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là tất yếu khách quan và xuất phát
từ những nguyên nhân chủ yếu sau:
Một là, xuất phát từ mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
Mọi doanh nghiệp khi tham gia vào kinh doanh đều kỳ vọng vào việc
tối đa hoá lợi nhuận, lợi nhuận là kết quả, là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ là một
trong số các biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và là một
hướng để nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp.
68
Hai là, xuất phát từ vai trò và vị trí của vốn trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Như đã trình bày ở trên, một doanh nghiệp không thể hoạt động nếu
thiếu vốn. Hiệu quả sử dụng vốn sẽ quyết định kết quả kinh doanh cuối cùng
của doanh nghiệp. Do đó, trong quá trình hoạt động và sản xuất kinh doanh,
việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đã trở thành một trong số các
mục tiêu đặt ra cho mỗi doanh nghiệp.
Ba là, xuất phát từ yêu cầu bảo toàn vốn của doanh nghiệp.
Lợi nhuận là mục tiêu hoạt động của mọi doanh nghiệp trong nền kinh
tế thị trường. Tuy nhiên, việc bảo toàn vốn cũng là một vấn đề đặt ra đối với
các nhà quản lý doanh nghiệp. Vì vậy, yêu cầu bảo toàn vốn để từ đó không
chỉ dừng lại ở bảo toàn vốn mà còn mở rộng và phát triển quy mô vốn.
Bốn là, xuất phát từ yêu cầu hạch toán kinh doanh đầy đủ của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, bất kỳ một doanh nghiệp
nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng phải tuân theo nguyên
tắc hạch toán kinh doanh là: Kinh doanh phải lấy thu bù chi và phải có lợi
nhuận. Nếu không đạt được yêu cầu này các doanh nghiệp sẽ có nguy cơ phá
sản. Chính vì vậy, các doanh nghiệp phải luôn có những biện pháp để bảo
toàn vốn và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để khẳng định vị trí của
mình trên thị trường.
Năm là, xuất phát từ yêu cầu cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát
triển mạnh mẽ thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là vô cùng gay gắt.
Doanh nghiệp nào tận dụng tối đa năng lực sản xuất và nâng cao hiệu quả vốn
thì sẽ có điều kiện tốt để đứng vững trên thị trường. Việc nâng cao hiệu quả
69
sử dụng vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp tạo khả năng cạnh tranh và tạo những
lợi thế nhất định đến doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển.
Tóm lại, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn có vai trò quan
trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, là điều
kiện cấp thiết và là tiền đề để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
TẠI CÔNG TY MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY
Thực tiễn công tác tổ chức quản lý và sử dụng vốn tại công ty đã chứng
minh những nỗ lực trong việc đưa ra các biện pháp nhằm bảo toàn và nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong thời gian qua kết
quả sản xuất kinh doanh của công ty nhìn chung chưa có sự chuyển biến
mạnh mẽ và hiệu quả sử dụng vốn vẫn ở mức thấp và tồn tại nhiều yếu kém,
hạn chế. Từ thực tiễn trên cùng với những kiến thức được trang bị trong quá
trình học tập và nghiên cứu, tôi xin mạnh dạn đề xuất một số biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty, cụ thể như sau:
3.2.1. Giải pháp về huy động vốn
3.2.1.1. Chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh, kế hoạch huy động và sử
dụng vốn
Trong thời gian qua việc xây dựng kế hoạch kinh doanh chưa sát với
thực tế biến động của thị trường, công tác xây dựng còn cứng nhắc thiếu linh
hoạt. Vì vậy xây dựng kế hoạch kinh doanh khả thi sẽ là cơ sở quan trọng
đem lại hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh. Xây dựng kế hoạch kinh
doanh phải căn cứ vào thực tế thực hiện, phân tích và dự báo những biến động
của thị trường.
Việc lập kế hoạch huy động và sử dụng vốn là một giải pháp tài chính
hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên thực tế, công ty tiến hành lập kế hoạch sản xuất kinh doanh nhưng chưa
70
quan tâm đến việc lập các kế hoạch cụ thể về sử dụng vốn và cách thức huy
động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong cả năm.
Về nguyên tắc, kế hoạch về sử dụng và phương thức huy động vốn phải
được xây dựng trên cở sở thực tế về kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh
trong năm tiếp theo, do đó đòi hỏi phải đúng, toàn diện và đồng bộ để tạo cơ
sở cho việc tổ chức công tác sử dụng vốn một cách hiệu quả nhất. Để đảm
bảo yêu cầu của công tác lập kế hoạch, khi tiến hành thực hiện công ty cần
phải chú trọng một số vấn đề sau:
Một là: Xác định chính xác nhu cầu về vốn tối thiểu cần thiết đáp ứng
cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh
của công ty được tiến hành thường xuyên liên tục không bị gián đoán, trong
đó phải xác định được nhu cầu tăng đột biến trong những thời điểm biến động
thuận lợi trên thị trường để tăng cường hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Từ đó
có biên pháp huy động vốn phù hợp nhằm cung ứng vốn một cách đầy đủ, kịp
thời, tránh tình trạng dư thừa vốn gây lãng phí vốn không cần thiết nhưng
cũng đảm bảo không bị thiếu vốn gây ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của
công ty, đồng thời huy động vốn với chi phí sử dụng tối ưu.
Hai là: Trên cơ sở nhu cầu vốn đã lập, công ty cần xây dựng kế hoạch
cụ thể về việc huy động vốn, bao gồm việc xác định khả năng vốn hiện có, số
vốn còn thiếu để lựa chọn nguồn tài trợ thích hợp với chi phí về vốn là thấp
nhất giúp công ty có một cơ cấu vốn linh hoạt và tối ưu. Để tăng nguồn tài trợ
vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, công ty có thể thực hiện
một số biện pháp sau:
- Trước hết, trong qúa trình tìm nguồn tài trợ công ty cần khai thác triệt
để mọi nguồn vốn của mình, phát huy tối đa nội lực vì nguồn vốn từ bên trong
doanh nghiệp luôn có chi phí sử dụng vốn thấp nhất nên mang lại hiệu quả
cao nhất. Một trong những nguồn đó là vốn tích luỹ từ các lợi nhuận không
71
chia và quỹ khấu hao TSCĐ để lại với mục đích tạo nguồn vốn tái đầu tư cho
doanh nghiệp.
- Tăng cường huy động các nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho các nhu
cầu trước mắt về vốn lưu động, tận dụng tối đa các khoản nợ ngắn hạn chưa
đến hạn thanh toán như: Phải trả công nhân viên, thuế và các khoản phải nộp
NSNN chưa đến hạn nộp, áp dụng các hình thức tín dụng thương mại (mua
chịu của người cung cấp)... Việc sử dụng các nguồn này sẽ giảm đáng kể chi
phí huy động vốn do đó nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn của công ty.
Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn vốn này chỉ mang tính chất tạm thời và doanh
nghiệp cần chú ý điều hoà giữa nguồn vốn chiếm dụng được với các khoản
vốn bị khách hàng chiếm dụng sao cho công ty không bị thua thiệt và luôn có
thể đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
- Trong quá trình huy động vốn, để đạt mục tiêu tăng trưởng và phát
triển thì ngoài các nguồn vốn ngắn hạn đòi hòi công ty phải quan tâm đến
việc tìm nguồn tài trợ dài hạn, đây là nguồn vốn tài trợ ổn định và lâu dài đảm
bảo cho sự phát triển vững chắc của công ty. Hiện nay, toàn bộ tài sản cố định
của công ty được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn vốn chủ sở hữu, tuy nhiên
trong thời gian tới khi công ty triển khai xây dựng trụ sở để làm văn phòng
cho thuê sẽ cần một lượng vốn dài hạn khá lớn. Trong 02 năm gần đây, kết
quả hoạt động kinh doanh liên tục lỗ đã làm giảm đáng kể nguồn vốn chủ sở
hữu, vì vậy để bổ sung vào các quỹ của công ty thì hoạt động kinh doanh phải
hiệu quả. Trong thời gian tới có thể xem xét đến khả năng phát hành thêm cổ
phiếu để tăng nguồn vốn chủ sở hữu của công ty lên mức hợp lý.
Ba là: Sau khi lập kế hoạch huy động vốn, công ty cần chủ động trong
việc phân phối và sử dụng số vốn đã được tạo lập sao cho mang lại hiệu quả
cao nhất. Công ty cần căn cứ trên kế hoạch kinh doanh và dự báo những biến
động của thị trường để đưa ra quyết định phân bổ vốn cả về mặt số lượng và
72
thời gian, cụ thể cần dự trữ bao nhiêu hàng tồn kho là hợp lý và hiệu quả...
Đồng thời, công ty cần có sự phân bổ hợp lý nguồn vốn dựa trên chiến lược
phát triển. Từ kế hoạch tổng thể, công ty cần đưa ra các kế hoạch chi tiết. Để
làm được điều này đòi hỏi công ty phải dựa vào hoạt động kinh doanh của
những năm trước cũng như khả năng và tiềm lực của công ty trong năm tiếp
theo để có thể xây dựng một kế hoạch chi tiết, cụ thể và sát thực tế nhất.
Có thể nói việc lập kế hoạch sử dụng và huy động vốn chính xác là một
công việc khó khăn bởi ngoài các yếu tố chủ quan từ phía Ban lãnh đạo công
ty còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan như: tình hình biến động của
thị trường, sự thay đổi cơ chế chính sách của Nhà nước, khả năng, uy tín của
chính công ty... Thực tế, số vốn của công ty luôn có những sự biến động giữa
các thời điểm trong năm, vì vậy, khi thực hiện trên cơ sở những kế hoạch đã
đề ra cũng cần phải căn cứ vào tình hình thực tế để có những điều chỉnh thích
hợp khi có những thay đổi không được dự báo trước. Cụ thể, nếu thiếu vốn
công ty cần chủ động nhanh chóng tìm nguồn tài trợ bổ sung, nếu thừa vốn có
thể đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, góp vốn liên doanh... nhằm đảm bảo
cho đồng vốn không ngừng tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tóm lại, việc lập kế hoạch huy động và sử dụng vốn có ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của
công ty. Do vậy, việc lập kế hoạch luôn là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết
đối với công tác quản lý tài chính nói chung và công tác quản lý, sử dụng vốn
nói riêng. Nếu làm tốt công tác này sẽ giúp công ty có một cơ cấu vốn linh
hoạt và hiệu quả, giúp lành mạnh hoá tình hình tài chính của công ty, góp
phần quan trọng vào sự phát triển của công ty trong thời gian tới.
3.2.1.2 Tăng cường huy động các nguồn vốn nhằm bổ sung vốn, gia tăng
năng lực sản xuất
73
Xác định nhu cầu nhằm đảm bảo đủ, kịp thời và sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn mang tính quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Vì vậy,
Công ty cần xác định rõ nhu cầu, chu kỳ kinh doanh dựa trên nhiệm vụ sản
xuất, đầu tư và tiến độ thi công của các công trình. Để từ đó xác định được
nhu cầu vốn một cách tương đối chính xác nhằm huy động, sử dụng và phân
bổ nguồn vốn hợp lý tránh thừa thiếu hoặc ứ đọng vốn ở các khâu trong quá
trình sản xuất.
Hiện nay, vốn chủ sở hữu của Công ty chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn
vốn do vậy Công ty có thể gia tăng: Vay ngắn hạn của ngân hàng, ứng trước
của người mua, chiếm dụng của người bán, vay dài hạn của ngân hàng, phát
hành trái phiếu,….
Để giải quyết vấn đề này Công ty cần thực hiện các giải pháp sau:
- Cần duy trì mối quan hệ tốt với người cung cấp cũng như người mua.
Thường xuyên phân loại công nợ và có kế hoạch trả nợ sao cho đúng với các
điều khoản thanh toán của hợp đồng đã ký kết. Đồng thời, Công ty cũng cần
phải có một khoản tài chính dự phòng để chủ động hơn trong sản xuất kinh
doanh nhất là khi sức ép về tiến độ hoặc có những công việc cần phải thanh
toán ngay và phản ứng kịp thời trước những biến động của thị trường.
- Có kế hoạch trả nợ ngân hàng hợp lý, tránh tính trạng có những khoản
vay quá hạn. Giữ uy tín với ngân hàng, tổ chức tín dụng từ đó xây dựng điểm
số xếp hạng tín dụng tốt thì việc vay vốn dùng tín chấp sẽ được thuận lợi, đáp
ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty.
- Công ty là một doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán,
đây là kênh huy động vốn nhanh và hiệu quả. Công ty cũng có thể tính tới
phương án phát hành trái phiếu, cổ phiếu để huy động vốn khi thị trường
chứng khoán khởi sắc và hoạt động sôi động.
3.2.1.3. Xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên một cách hợp lý
74
Việc xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động thường xuyên sẽ giúp
công ty có kế hoạch phân bổ, sử dụng vốn lưu động phù hợp, chủ động trong
kinh doanh, tránh được tình trạng thiếu vốn trong kinh doanh, tránh để ứ đọng
vốn, góp phần tăng nhanh vòng quay vốn, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Để xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết, công ty có
thể sử dụng phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên sau:
Phương pháp gián tiếp
Đặc điểm của phương pháp gián tiếp là dựa vào kết quả thống kê kinh
nghiệm về vốn lưu động bình quân năm báo cáo, nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh năm kế hoạch và khả năng tốc độ luân chuyển vốn lưu động năm kế
hoạch để xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.
Công thức tính toán như sau:
M1
x (1+t) (3.1) Vnc = VLĐ0 x
M0
Vnc: Nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch
M1, M0: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch và năm
báo cáo.
VLĐ0: Số dư bình quân vốn lưu động năm báo cáo
t: Tỷ lệ giảm (hoặc tăng) số ngày luân chuyển vốn lưu động năm kế
hoạch so với năm báo cáo
Mức luân chuyển vốn lưu động được tính theo doanh thu bán hàng
(doanh thu thuần). Nếu năm kế hoạch tốc độ luân chuyển vốn lưu động tăng
sẽ làm cho nhu cầu vốn lưu động giảm bớt.
Trên thực tế, để ước đoán nhanh nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch
các doanh nghiệp thường sử dụng phương pháp tính toán căn cứ vào tổng
75
mức luân chuyển vốn và số vòng quay vốn lưu động dự tính năm kế hoạch.
Cách tính như sau:
M1
Vnc =
L1
Trong đó:
M1: Tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch
L1: Số vòng quay vốn lưu động năm kế hoạch
Việc dự tính tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch có thể dựa vào
tổng mức luân chuyển vốn của kỳ báo cáo có xét tới khả năng mở rộng kinh
quy mô kinh doanh trong năm kế hoạch. Tương tự số vòng quay vốn năm kế
hoạch có thể được xác định căn cứ vào số vòng quay vốn lưu động bình quân
của các doanh nghiệp trong cùng ngành hoặc số vòng quay vốn lưu động của
doanh nghiệp kỳ báo cáo có xét tới khả năng tốc độ luân chuyển vốn lưu động
kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo.
Phương pháp gián tiếp có ưu điểm là tương đối đơn giản, giúp doanh
nghiệp ước tính được nhanh chóng nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch để
xác định nguồn tài trợ phù hợp.
Việc xác định nhu cầu vốn lưu động bằng phương pháp gián tiếp chỉ
nên áp dụng trong trường hợp các mục tiêu của công ty và môi trường sản
xuất kinh doanh trong năm kế hoạch là tương đối ổn định so với năm báo cáo.
Nếu có biến động lớn về doanh thu và tình hình sản xuất kinh doanh nhu cầu
vốn lưu động có thể được xác định theo công thức sau:
NC(VLĐ) = HTK + PTh - PTr
Trong đó:
NC(VLĐ): Nhu cầu vốn lưu động
HTK: Hàng tồn kho
76
PTh: Các khoản phải thu
PTr: Các khoản phải trả
Trên cơ sở nhu cầu vốn lưu động thường xuyên trong kỳ kế hoạch và
căn cứ vào kế hoạch sản xuất, công ty xác định được kết cấu vốn lưu động
hợp lý, nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cho từng khoản mục theo xu
hướng vận động của kết cấu vốn lưu động để xây dựng kế hoạch huy động
vốn. Mỗi nguồn vốn có chi phí sử dụng vốn khác nhau, do đó việc huy động
nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh phải được tính toán cụ thể để có chi phí
huy động thấp nhất, hạn chế rủi ro và tạo ra một kết cấu vốn hợp lý. Trên cơ
sở này, phòng kế toán xác lập được kế hoạch nguồn vốn lưu động, xác định
được hạn mức tín dụng cần thiết.
Bên cạnh việc lập kế hoạch nguồn vốn lưu động, công ty cũng phải tiến
hành kiểm tra và đánh giá nhu cầu vốn lưu động, từ đó có biện pháp chấn
chỉnh công tác quản lý vốn vượt so với kế hoạch để ngăn ngừa rủi ro do sử
dụng vốn sai mục đích.
3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản
3.2.2.1. Tăng cường công tác quản lý công nợ phải thu
Do thực hiện chính sách bán hàng chậm trả nên các khoản phải thu
khách hàng chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng vốn lưu động của công ty, vì
vậy quản lý tốt các khoản phải thu là biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn lưu động của công ty:
- Cần có các ràng buộc chặt chẽ khi ký kết các hợp đồng mua bán: Cần
quy định rõ ràng thời gian và phương thức thanh toán đồng thời luôn giám sát
chặt chẽ việc khách hàng thực hiện những điều kiện trong hợp đồng. Bên
cạnh đó cũng cần đề ra những hình thức xử phạt nếu hợp đồng bị vi phạm để
nâng cao trách nhiệm của các bên khi tham gia hợp đồng; phải gắn trách
nhiệm của khách hàng thông qua các hợp đồng, thông qua các điều kiện ràng
77
buộc trong hợp đồng, các điều kiện giao nhận, điều kiện thanh toán. Bên cạnh
đó cần có những ràng buộc bán chậm trả để lành mạnh hoá các khoản nợ như:
yêu cầu ký quỹ, bảo lãnh của Bên thứ ba (ngân hàng)... đồng thời thường
xuyên thu thập các thông tin về khách hàng thông qua nhiều kênh cung cấp để
có chính sách bán hàng phù hợp, hiệu quả.
- Trong công tác thu hồi nợ: Hàng tháng, công ty nên tiến hành theo dõi
chi tiết các khoản phải thu, lập bảng phân tích các khoản phải thu để nắm rõ
về quy mô, thời hạn thanh toán của từng khoản nợ cũng như có những biện
pháp khuyến khích khách hàng thanh toán trước thời hạn bằng hình thức chiết
khấu thanh toán cũng là một biện pháp tích cực để thu hồi các khoản nợ. Cần
phân loại các khoản nợ và thường xuyên đánh giá khả năng thu hồi của các
khoản nợ đó.
- Đối với những khoản nợ quá hạn, nợ đọng: Công ty cần phân loại để
tìm nguyên nhân chủ quan và khách quan của từng khoản nợ, đồng thời căn
cứ vào tình hình thực tế để có biện pháp xử lý phù hợp như gia han nợ, thoả
ước xử lý nợ, giảm nợ hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp. Đồng
thời cũng cần có chính sách linh hoạt, mềm dẻo đối với các khoản nợ quá hạn
và đến hạn. Đối với những khách hàng uy tín, truyền thống, trong trường hợp
họ tạm thời có khó khăn về tài chính có thể áp dụng biện pháp gia hạn nợ.
Còn đối với những khách hàng cố ý không thanh toán hoặc chậm trễ trong
việc thanh toán thì công ty cần có những biện pháp dứt khoát, thậm chí có thể
nhờ đến sự can thiệp của các toà kinh tế để giải quyết các khoản nợ.
- Thường xuyên làm tốt công tác theo dõi, rà soát, đối chiếu thanh toán
công nợ để tránh bị chiếm dụng vốn, đồng thời đảm bảo khả năng thanh toán,
có như vậy mới góp phần đẩy nhanh vòng quay vốn, tăng hiệu quả sử dụng
vốn lưu động.
3.2.2.2. Tăng cường quản lý tiền và các khoản tương đương tiền
78
Tiền mặt kết nối tất cả các hoạt động liên quan đến tài chính của công
ty. Vì thế Công ty cần phải tập trung vào quản trị tiền mặt để giảm thiểu rủi ro
về khả năng thanh toán, tăng hiệu quả sử dụng tiền, đồng thời ngăn ngừa các
hành vi gian lận về tài chính trong nội bộ công ty hoặc của bên thứ ba.
Công ty cần xác định và quản lý lưu lượng tiền mặt cho từng thời kỳ.
Trong thời kỳ nghiên cứu, có những giai đoạn công ty giữ quá nhiều tiền mặt
so với nhu cầu dẫn đến việc ứ đọng vốn và làm tăng chi phí sử dụng vốn, hơn
nữa, sức mua của đồng tiền có thể giảm sút nhanh do lạm phát.
Công ty nên xây dựng mô hình phân tích và xác định lượng tiền mặt dự
trữ tối ưu, lượng tiền mặt tối ưu phải thỏa mãn được 3 nhu cầu chính: chi cho
các khoản phải trả phục vụ hoạt động sản xuất - kinh doanh hàng ngày của
công ty như trả cho nhà cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ, trả người lao động,
trả thuế; dự phòng cho các khoản chi ngoài kế hoạch khi có cơ hội đầu tư; dự
phòng cho các cơ hội phát sinh ngoài dự kiến khi thị trường có sự thay đổi đột
ngột.
Công ty nên áp dụng những chính sách, quy trình sau để giảm thiểu rủi
ro cũng như những thất thoát trong hoạt động:
- Số lượng tiền mặt tại quỹ giới hạn ở mức thấp chỉ để đáp ứng những
nhu cầu thanh toán không thể chi trả qua ngân hàng. Ưu tiên lựa chọn nhà
cung cấp có tài khoản ngân hàng. Thanh toán qua ngân hàng có tính minh
bạch cao, giảm thiểu rủi ro gian lận, đáp ứng yêu cầu pháp luật liên quan.
- Xây dựng quy trình thu chi tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, bao gồm danh
sách các mẫu bảng biểu, chứng từ (hợp đồng kinh tế, hóa đơn, phiếu nhập
kho, biên bản giao nhận...). Xác định quyền và hạn mức phê duyệt của các
cấp quản lý. Đưa ra quy tắc rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của các bộ
phận liên quan đến quá trình thanh toán để việc thanh toán diễn ra thuận lợi
và chính xác.
79
- Có kế hoạch kiểm kê quỹ thường xuyên và đột xuất, đối chiếu tiền mặt
tồn quỹ thực tế, sổ quỹ với số liệu kế toán . Đối với tiền gửi ngân hàng, định
kỳ đối chiếu số dư giữa sổ sách kế toán của công ty và số dư của ngân hàng
để phát hiện kịp thời và xử lý các khoản chênh lệch nếu có.
- Xây dựng và phát triển các mô hình dự báo tiền mặt. Tính toán và xây
dựng các bảng hoạch định ngân sách giúp công ty ước lượng được khoảng
định mức ngân quỹ là công cụ hữu hiệu trong việc dự báo thời điểm thâm hụt
ngân sách để công ty chuẩn bị nguồn bù đắp cho các khoản thiếu hụt này.
Giám đốc công ty phải dự đoán các nguồn nhập, xuất ngân quỹ theo đặc thù
về chu kỳ kinh doanh, theo mùa vụ, theo kế hoạch phát triển của công ty
trong từng thời kỳ. Ngoài ra, phương thức dự đoán định kỳ chi tiết theo tuần,
tháng, quý và tổng quát cho hàng năm cũng được sử dụng thường xuyên.
Khi xuất hiện các khoản thiếu hoặc thừa tiền, công ty có thể áp dụng các
biện pháp:
- Thứ nhất, biện pháp cần làm khi thiếu tiền mặt: đẩy nhanh tiến trình thu
nợ; giảm số lượng hàng tồn kho; giảm tốc độ thanh toán cho các nhà cung cấp
bằng cách sử dụng hối phiếu khi thanh toán hoặc thương lượng lại thời hạn
thanh toán với nhà cung cấp; bán các tài sản thừa, không sử dụng; hoãn thời
gian mua sắm tài sản cố định và hoạch định lại các khoản đầu tư; giãn thời
gian chi trả cổ tức; sử dụng dịch vụ thấu chi của ngân hàng hoặc vay ngắn
hạn; sử dụng biện pháp "bán và thuê lại" tài sản cố định.
- Thứ hai, biện pháp cần làm khi thừa tiền mặt trong ngắn hạn: thanh
toán các khoản thấu chi; sử dụng các khoản đầu tư qua đêm của ngân hàng; sử
dụng hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn với điều khoản rút gốc linh hoạt; đầu tư vào
những sản phẩm tài chính có tính thanh khoản cao (trái phiếu chính phủ); đầu
tư vào cổ phiếu quỹ ngắn hạn.
80
- Thứ ba, biện pháp cần làm khi thừa tiền mặt trong dài hạn: đầu tư vào
các dự án mới; tăng tỷ lệ cổ tức; mua lại cổ phiếu; thanh toán các khoản vay
dài hạn; mua lại công ty khác.
3.2.2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Do đặc thù kinh doanh nên tài sản cố định chiếm tỷ trọng không cao
trong tổng vốn của doanh nghiệp nhưng hiệu quả sử dụng tài sản cố định cũng
ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng tài sản nói chung.
Công ty cần có kế hoạch theo dõi tình hình sử dụng tài sản cố định để
đảm bảo tài sản có hoạt động, được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả.
Lập kế hoạch đầu tư mua sắm, tăng giảm và khấu hao tài sản cố định
hàng năm: Kế hoạch này phải xác định rõ nguồn vốn đầu tư vào TSCĐ, xác
định danh mục, số lượng, giá trị của từng loại TSCĐ tăng, giảm trong năm;
phân tích cụ thể TSCĐ do doanh nghiệp đầu tư và lựa chọn phương pháp
khấu hao thích hợp.
- Hướng đầu tư vào TSCĐ đem lại hiệu quả cao nhằm phát huy hết
hiệu suất sử dụng TSCĐ.
- Xác định loại TSCĐ chủ sở hữu và TSCĐ thuê đối với các nhu cầu
phát sinh trong thực tế.
3.2.3 Giải pháp khác
3.2.3.1. Đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới công tác tổ chức cán bộ và tăng
cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên trong công ty
Công tác quản lý, tổ chức có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh
doanh và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng. Bộ máy tổ chức, cơ chế quản lý
phải phù hợp sẽ phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các xí
nghiệp kinh doanh, các phòng ban chức năng tránh tình trạng đùn đẩy trách
nhiệm, làm hạn chế năng lực kinh doanh của công ty.
81
Đặc biệt trong thời gian tới công ty cần áp dụng cơ chế khoán kinh
doanh đến từng bộ phận, điều này sẽ tạo ra tính chủ động và động lực khuyến
khích các xí nghiệp thực hiện kinh doanh hiệu quả hơn.
Công ty cần tăng cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân
viên; nâng cao nghiệp vụ quản lý, trình độ của các cán bộ quản lý xí nghiệp.
Cần xây dựng môi trường kinh doanh thích hợp, tạo cơ hội phát triển cho mỗi
cá nhân nhằm phát huy khả năng sáng tạo, cải tiến kỹ thuật mang lại lợi ích
cho công ty. Thực hiện tốt chính sách khen thưởng bằng vật chất đối với cán
bộ công nhân viên đem lại lợi ích cho công ty.
Yếu tố con người đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh
doanh, do đó nâng cao trình độ quản lý của đội ngũ quản lý là một biện pháp
góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn:
+ Cử cán bộ đi học tập kinh nghiệm, xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn
nhân lực toàn diện.
+ Có biện pháp khuyến khích vật chất, tinh thần nhằm phát huy tối đa
năng lực của từng cán bộ; phát hiện và kịp thời bồi dưỡng tiềm năng sẵn có
phục vụ công ty.
3.2.3.2. Quản lý chặt chẽ chi phí
Trong hoạt động kinh doanh, các khoản chi phí luôn phát sinh, vì vậy
đòi hỏi công ty phải quản lý chi phí một cách chặt chẽ. Quản lý chặt chẽ chi
phí sẽ là một điều kiện tiên quyết đảm bảo hoạt động kinh doanh của công ty
đạt hiệu quả cao. Mặt khác, các khoản chi phí nếu không được quản lý chặt
chẽ sẽ gây ra chi sai chế độ, có sự móc nối giữa các khâu nhằm hưởng chênh
lệch như chi phí bồi dưỡng chế độ độc hại, chi phí bón phân, chi phí tiền
lương quản lý,.... Để quản lý chi phí đạt hiệu quả cần quan tâm đến một số
vấn đề sau:
82
- Cần quy định rõ trách nhiệm của Kế toán trưởng và Giám đốc công ty
trong việc hạch toán, chi sai so với dự toán.
- Lập dự toán chi phí hàng năm: Công ty phải tính toán trước mọi chi
phí cho sản xuất kinh doanh kỳ kế hoạch. Để làm được điều này đòi hỏi công
ty phải có được một hệ thống các định mức chi phí hoàn chỉnh và phù hợp để
làm cơ sở cho việc lập dự toán các khoản chi phí trong kỳ.
- Công ty cần tiến hành loại bỏ các chi phí bất hợp lý, hợp lệ trong quá
trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo tiết kiệm trong chi tiêu, nâng cao hiệu quả
sử dụng đồng vốn. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống định mức chi cho phù
hợp.
3.3 ĐIỀU KIỆN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI
CÔNG TY
3.3.1. Về phía Nhà nước
- Hoàn thiện chính sách tín dụng: Lãi suất ngân hàng còn nhiều bất hợp
lý, hành lang pháp chế còn chưa rõ ràng, gây không ít khó khăn cho cả ngân
hàng và doanh nghiệp. Các chính sách tín dụng cũng cần được sửa đổi đảm
bảo tăng trưởng vững chắc cho các ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho các
doanh nghiệp vay vốn.
- Khuyến khích phát triển loại hình công ty cổ phần: Cần có những
chính sách khuyến khích loại hình doanh nghiệp này dưới các hình thức cụ
thể như: miễn thuế trong thời gian cụ thể đối với các công ty cổ phần...
- Quan tâm đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời tạo điều kiện
phát triển các doanh nghiệp lơn: Tạo ra sự bình đẳng trong các khu vực kinh
tế, tránh tình trạng quá ưu tiên đến các doanh nghiệp lớn, tạo ra sự ỷ lại cho
các doanh nghiệp lớn đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước.
- Tập trung tháo gỡ những rào cản hành chính của Doanh nghiệp; điều
này sẽ góp phần đẩy nhanh sự phát triển của các doanh nghiệp, do đó gián
83
tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của
mình.
- Thiết kế các chính sách và công cụ hỗ trợ doanh nghiệp phù hợp với
các định hướng phát triển và quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt
Nam gia nhập, đây là một tất yếu khách quan vì phải tạo ra sự phù hợp với
các thể chế thì mới mong có sự hoà nhập và phát triển.
- Tạo thuận lợi cho các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, xã hội hoá các
dịch vụ công...
- Phát triển và phát huy mạnh vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp,
đặc biệt về đại diện bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp, hỗ trợ, xúc tiến thương
mại. Điều này đặc biệt cần thiết trong thời buổi cạnh tranh gay gắt như hiện
nay, các doanh nghiệp Việt Nam phải đứng trước một sự cạnh tranh ồ ạt, lấn
sân từ các công ty nước ngoài. Vì vậy, yêu cầu là phải có một hiệp hội các
doanh nghiệp trong cùng một ngành đứng ra liên kết để bảo vệ lợi ích các
doanh nghiệp.
3.3.2. Về phía Ngân hàng và các tổ chức tín dụng
Trong giai đoạn hiện nay, để mở rộng và phát triển quy mô hoạt động
sản xuất kinh doanh, công ty luôn cần một lượng vốn lớn. Ngoài việc huy
động vốn từ các nguồn bên trong, công ty cũng rất cần huy động vốn từ các
nguồn bên ngoài, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, hệ thống ngân hàng và
các tổ chức tín dụng phát triển khá mạnh cho phép công ty có thể huy động
vốn với chi phí hợp lý. Sau đây là một số giải pháp ngân hàng và các tổ chức
tín dụng có thể áp dụng để tạo ra điều kiện thuận lợi cho các công ty huy động
vốn:
- Ngân hàng và tổ chức tín dụng cần linh hoạt và nhanh chóng thực
hiện các thủ tục cho công ty vay vốn để công ty có thể chủ động vay vốn, nắm
84
bắt cơ hội kinh doanh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
- Ngân hàng và tổ chức tín dụng cần phát triển thêm nhiều sản phẩm
dịch vụ để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
- Ngân hàng và tổ chức tín dụng nên phân doanh nghiệp ra thành từng
nhóm khách hàng để có thể áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt đối với mỗi
doanh nghiệp. Cần ưu tiên hỗ trợ cho những doanh nghiệp mới thành lập
nhưng có tiềm năng hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả và những doanh
nghiệp có quy mô lớn cũng như đóng vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân.
Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO, thì rất cần có một
mối liên kết chặt chẽ giữa các ngân hàng, các tổ chức tính dụng và các doanh
nghiệp trong nước để có thể tạo ra được sức mạnh chiến thắng được sức cạnh
tranh khốc liệt của các ngân hàng quốc tế và các doanh nghiệp nước ngoài.
3.3.3 Về phía Công ty
Thứ nhất, Ban lãnh đạo Công ty cần nhận thức sâu sắc tầm quan trọng
của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tới sự tồn tại và phát triển không
ngừng của Công ty.
Thứ hai, Công ty cần chuẩn bị cơ sở vật chất và trang thiết bị. Cơ sở vật
chất cũng như các phương tiện phục vụ công tác thu thập thông tin tài chính
phục vụ quản trị kinh doanh, như: trang bị máy vi tính, nối mạng, cài đặt phần
mềm phục vụ phân tích tài chính và quản trị kinh doanh.
Thứ ba, Không ngừng bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn cũng
như nghiệp vụ cho cán bộ để Công ty có nguồn nhân lực tốt
85
Kết luận chương 3
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề rất cần thiết và quan trọng đối
với các doanh nghiệp nói chung và Công ty cổ phần môi trường và công trình
đô thị Sơn Tây. Trong các năm qua, hiệu quả kinh doanh của Công vẫn còn
đạt được chưa cao. Do vậy, trong chương 3, luận văn đi sâu đề xuất một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đối với Công ty cổ phần môi
trường và công trình đô thị Sơn Tây thời gian tới. Các giải pháp đó bao gồm
nhóm giải pháp về huy động vốn, về hiệu quả sử dụng tài sản và các giải pháp
hỗ trợ khác.
86
KẾT LUẬN
Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình hội nhập điều đó tạo ra những
cơ hội và thách thức mới cho các doanh nghiệp trong nước. Trước sức ép
cạnh tranh ngày càng lớn và khát vọng lợi nhuận đòi hỏi mỗi doanh nghiệp
Việt Nam phải có những chiến lược cũng như giải pháp trong hoạt động sản
xuất kinh doanh. Công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây
cũng là một tế bào của nền kinh tế. Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh nhằm tồn tại và phát triển bền vững thì cần phải có những thay
đổi: trong phương thức sản xuất kinh doanh, thay đổi về nguồn nhân lực, tài
lực, vật lực…
Đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần
Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây” đã giải quyết được những vấn đề
cơ bản sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về vốn và hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn là phạm trù kinh tế
phản ánh trình độ khai thác, sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp nhằm mục tiêu sinh lợi tối đa với chi phí hợp lý. Hiệu quả
sử dụng vốn được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau. Chương 1 cũng hệ
thống hóa những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp và kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của một số doanh
nghiệp.
Thứ hai, phân tích đánh giá thực trạng vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại
Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây. Luận văn chỉ rõ
những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế.
Thứ ba, trên cơ sở phân tích thực trạng, luận văn cũng đề xuất những
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Môi
trường và Công trình đô thị Sơn Tây thời gian tới.
87
Tuy nhiên, vấn đề hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một vấn
đề có quy mô lớn và đòi hỏi nghiên cứu sâu rộng. Mặt khác, Công ty Cổ phần
Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây có hoạt động phức tạp và liên quan
đến những lĩnh vực chuyên ngành đặc thù, giai đoạn nghiên cứu là giai đoạn
có những biến động trong công ty. Vì vậy, việc nghiên cứu hiệu quả sử dụng
vốn của công ty là vấn đề khó khăn và không thể tránh khỏi những khiếm
khuyết nhất định. Tác giả rất mong nhận được các ý kiến đóng góp để đề tài
được hoàn thiện hơn.
88
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Nguyễn Tấn Bình (2007), Quản trị tài chính ngắn hạn, Nxb Thống kê,
Hà Nội.
2- Công ty CP Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây, Báo cáo tài
chính, năm 2012.
3- Công ty CP Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây, Báo cáo tài
chính, năm 2013.
4- Công ty CP Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây, Báo cáo tài
chính, năm 2014.
5- PGS.TS Lưu Thị Hương (2004), Thẩm định tài chính dự án, Nxb Tài
chính, Hà Nội.
6- PGS.TS Lưu Thị Hương (2005), Giáo trình tài chính doanh nghiệp,
Nxb Thống kê, Hà Nội.
7- TS Trần Đăng Khâm (2007), Thị trường chứng khoán – Phân tích cơ
bản, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
8- PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm và TS Bạch Đức Hiền (2007), Giáo trình
tài chính doanh nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội.
9- TS Nguyễn Thanh Liêm (2007), Quản trị tài chính, Nxb Thống kê, Hà
Nội.
10- Nguyễn Thanh Nhàn (2011), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của Công ty thương mại và sản xuất vật tư thiết bị giao thông vận
tải TMT, Luận văn thạc sũ, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
11- Josette Peyrard (2005), Phân tích tài chính doanh nghiệp, Nxb Tổng
hợp, Hồ Chí Minh.
12- PGS.TS Nguyễn Năng Phúc (2007), Phân tích kinh doanh, Nxb Tài
chính, Hà Nội.
89
13- PGS.TS Nguyễn Năng Phúc (2006), Phân tích tài chính công ty cổ
phần, Nxb Tài chính, Hà Nội.
14- Trần Văn Quảng (2005), Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty
Nhà nước trong quá trình hội nhập”, tạp chí kinh tế và dự báo- số 2/2005.
15- Th.S Nguyễn Văn Tạo (2004) Bài nghiên cứu, “Nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường” Tạp chí Thương
mại, (số 10) trang 10 năm 2004.
16- TS Trần Ngọc Thơ (2003), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nxb
Thống kê, Hà Nội.
90
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP ......................... 6
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN ................................................. 6
1.1.1 Khái niệm vốn ...................................................................................... 6
1.1.2 Vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh ...................... 8
1.1.3 Phân loại vốn ...................................................................................... 10
1.1.3.1 Theo nguồn hình thành ............................................................... 10
1.1.3.2 Theo thời gian sử dụng ............................................................. 10
1.1.3.3 Theo tính chất ............................................................................ 13
1.2. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN .............................................................. 15
1.2.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn .................................................. 15
1.2.1.1 Hiệu quả ...................................................................................... 15
1.2.1.2 Hiệu quả sử dụng vốn ................................................................. 17
1.2.2. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ............................. 19
1.2.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động ............... 19
1.2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định ................. 21
1.2.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá chung về hiệu quả sử dụng vốn ............... 22
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn ...................... 24
1.2.3.1. Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp ...................................... 24
1.2.3.2 Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp ...................................... 27
1.3. NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP.
..................................................................................................................... 30
Kết luận chương 1 ......................................................................................... 32
91
Chương 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY ........ 33
2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG & CÔNG
TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY ........................................................................ 33
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Môi trường
& Công trình Đô thị Sơn Tây ...................................................................... 33
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của Công ty. ..... 35
2.1.2.1. Chức năng ................................................................................. 35
2.1.2.2. Đặc điểm về bộ máy quản lý của Công ty ................................. 35
2.1.2.3. Đặc điểm ngành kinh doanh....................................................... 40
2.1.3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty .................... 42
2.2. THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY ................ 44
2.2.1. Thực trạng về vốn ............................................................................. 44
2.2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn ....................................................... 47
2.2.2.1 Hiệu quả sử dụng vốn ................................................................. 47
2.2.2.2 Hiệu quả sử dụng tài sản ............................................................. 55
2.2.2.3 Hiệu quả hoạt động ..................................................................... 58
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI
CÔNG TY ................................................................................................... 59
2.3.1. Những kết quả đạt được .................................................................... 59
2.3.2. Những tồn tạị và nguyên nhân .......................................................... 60
2.3.2.1. Những tồn tại .............................................................................. 60
2.3.2.2. Nguyên nhân .............................................................................. 61
Kết luận chương 2 ......................................................................................... 66
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI
CÔNG TY MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY ........ 67
92
3.1 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ SỰ CẦN THIẾT
KHÁCH QUAN CỦA NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI
CÔNG TY MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY .......... 67
3.1.1. Những định hướng của công ty trong thời gian tới .......................... 67
3.1.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty ........ 68
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI
CÔNG TY MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY .......... 70
3.2.1. Giải pháp về huy động vốn .......................................................... 70
3.2.1.1. Chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh, kế hoạch huy động và
sử dụng vốn ............................................................................................. 70
3.2.1.2 Tăng cường huy động các nguồn vốn nhằm bổ sung vốn, gia tăng
năng lực sản xuất ..................................................................................... 73
3.2.1.3. Xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên một cách hợp lý74
3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản .................................... 77
3.2.2.1. Tăng cường công tác quản lý công nợ phải thu ......................... 77
3.2.2.2. Tăng cường quản lý tiền và các khoản tương đương tiền .......... 78
3.2.2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định ................ 81
3.2.3 Giải pháp khác.................................................................................... 81
3.2.3.1. Đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới công tác tổ chức cán bộ và tăng
cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên trong công ty ... 81
3.2.3.2. Quản lý chặt chẽ chi phí ............................................................. 82
3.3 ĐIỀU KIỆN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI
CÔNG TY ................................................................................................... 83
3.3.1. Về phía Nhà nước ............................................................................. 83
3.3.2. Về phía Ngân hàng và các tổ chức tín dụng ..................................... 84
3.3.3 Về phía Công ty ................................................................................. 85
Kết luận chương 3 ......................................................................................... 86
93
KẾT LUẬN .................................................................................................... 87
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................... 89

