BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG -------------------------------------

Phan Quyết Tiến

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ

Hà Nội - Năm 2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG -------------------------------------

Phan Quyết Tiến

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ

CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

MÃ SỐ : 60340201

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS. NGUYỄN THỊ ĐÔNG

Hà Nội - Năm 2015

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học hoàn toàn độc

lập của tôi và không trùng lắp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công

bố.

Tôi cũng xin cam đoan toàn bộ số liệu trong luận văn là hoàn toàn

trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

Tác giả luận văn

Phan Quyết Tiến

i

DANH MỤC VIẾT TĂT

Viết tắt Nghĩa đầy đủ

DN Doanh nghiệp

VCĐ Vốn cố định

VKD Vốn kinh doanh

ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Công ty …….…….…….36

Biểu đồ 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty một số năm gần đây

………………………………………………………………………………43

Biểu đồ 2.2: Tăng trưởng quy mô vốn của Công ty ………………………45

Biểu đồ 2.3: Vốn lưu động bình quân của Công ty qua các năm …………..49

Bảng 2.1: Thành viên Hội đồng quản trị ………………….………………37

Bảng 2.2: Thành viên Ban kiểm soát của Công ty …….…………………..38

Bảng 2.3: Thành viên Ban giám đốc của Công ty………………………… 39

Bảng 2.4: Cơ cấu tài sản của Công ty qua các năm ………………………..45

Bảng 2.5: Cơ cấu nguồn vốn của Công ty qua các năm ……………………46

Bảng 2.6: Tỷ suất lợi nhuận tổng vốn Công ty qua các năm ……………...47

Bảng 2.7: Hiệu quả sử dụng vốn lưu đồng …………………………………48

Bảng 2.8: Biến động tài sản ngắn hạn của Công ty năm 2013 …………….51

Bảng 2.9: Hiệu quả sử dụng vốn cố định ………………………………….52

Bảng 2.10: Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu…………………………….. 54

Bảng 2.11: Hiệu quả sử dụng vốn vay ……………………………………54

Bảng 2.12: Hiệu quả sử dụng tổng tài sản………………………………… 55

Bảng 2.13: Vòng quay hàng tồn kho của Công ty qua các năm ……………55

Bảng 2.14: Tỷ trọng hàng tồn kho trong tài sản ngắn hạn ………………….56

Bảng 2.15: Hiệu quả quản lý các khoản phải thu của khách hàng ………….57

Bảng 2.16: Hiệu suất sử dụng tài sản cố định ……………………………..58

Bảng 2.17: Tỷ suất lợi nhuận doanh thu ………………………………….59

iii

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trường theo định

hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với đó là công cuộc cải cách nền kinh tế, tiến

tới hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, từ đó đòi hỏi nhu cầu về vốn

cho nền kinh tế nói chung và cho doanh nghiệp nói riêng đang là một vấn đề

lớn. Thực tiễn cho thấy, các doanh nghiệp nước ta hiện đang phải cạnh tranh

khốc liệt để có thể tồn tại và có được chỗ đứng vững chắc trên thương trường.

Để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải tận dụng những lợi thế

của mình, từng bước khắc phục những điểm yếu để nâng cao khả năng cạnh

tranh. Đồng thời, phải quản lý và sử dụng nguồn vốn của mình một cách hiệu

quả để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh

ngày càng quyết liệt như hiện nay.

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp,

vốn đóng một vai trò hết sức quan trọng, quyết định sự ra đời, tồn tại và phát

triển của doanh nghiệp. Vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được

tiến hành liên tục. Để tiến hành bất cứ một quá trình sản xuất kinh doanh nào,

doanh nghiệp cũng cần phải có vốn. Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều

kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới các giai đoạn của quá trình kinh

doanh, vốn là điều kiện vật chất đầu tiên và cần thiết để thành lập một doanh

nghiệp và tiến hành các hoạt động kinh doanh.

Trong quá trình hoạt động của một doanh nghiệp thực chất là quá

trình doanh nghiệp đi tìm câu trả lời cho ba câu hỏi: Vốn cần bao nhiêu và lấy

từ đâu? Tổ chức sử dụng vốn như thế nào cho tiết kiệm và có hiệu quả? Và

phân phối thu nhập đạt được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp như thế nào? Như vậy, việc tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu

1

quả cao là vấn đề quan trọng để duy trì sự tồn tại hay phát triển của một

doanh nghiệp trong tương lai.

Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu quan trọng nhất của doanh

nghiệp suy cho cùng là tối đa hoá lợi nhuận, hoạt động sản xuất kinh doanh

đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Hiệu quả sử dụng vốn phải

gắn liền với việc thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp và là vấn đề

mang tính chất sống còn đối với doanh nghiệp. Nếu không chú trọng tới quản

lý vốn, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì và mở rộng sản xuất

kinh doanh. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề rất quan trọng giúp

doanh nghiệp đứng vững và phát huy hơn nữa thế mạnh của mình. Xuất phát

từ tình hình thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

tại Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây” để nghiên

cứu.

2. Tổng quan nghiên cứu

Bài báo “ Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty Nhà nước trong

quá trình hội nhập” của Trần Văn Quảng, tạp chí kinh tế và dự báo- số

2/2005.

Bài báo đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của công ty Nhà

nước trong thời gian từ 2003 – 2004, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng

cao hiệu quả hiệu quả sử dụng vốn của công ty Nhà nước trong quá trình hội

nhập thời gian tới.

- Bài nghiên cứu, “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

trong nền kinh tế thị trường” của Th.S Nguyễn Văn Tạo, Tạp chí Thương

mại, (số 10) trang 10 năm 2004.

Bài nghiên cứu đánh giá và đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng

cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

2

Trong đó, bài nghiên cứu phân tích cụ thể đặc điểm vốn trong nền kinh tế thị

trường.

- Luận văn thạc sỹ, Nguyễn Thanh Nhàn (2011), Một số giải pháp nâng

cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty thương mại và sản xuất vật tư thiết bị

giao thông vận tải TMT, Luận văn tốt nghiệp, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà

Nội.

Bài luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về vốn và

hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại

Công ty thương mại và sản xuất vật tư thiết bị giao thông vận tải TMT từ năm

2008 – 2010. Trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao

hiệu quả sử dụng vốn của Công ty trong thời gian tới.

Cùng nhiều tài liệu, đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn thạc sỹ đã

được công bố về hiệu quả hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên,

tính cho tới thời điểm hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về

giải pháp nâng cao hiệu quả hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thương

mại dịch vụ có liên quan đến điều kiện đặc thù giống như của Công ty Cổ

phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây”.

3. Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa về mặt lý luận những vấn đề cơ bản về vốn và hiệu quả

sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ

phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây.

Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho Công ty Cổ

phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3

* Đối tượng nghiên cứu: Tình hình sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng

vốn tại Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây trong 3

năm 2012-2014.

* Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: nghiên cứu thực hiện tại Công ty Cổ phần Môi trường

và Công trình đô thị Sơn Tây

- Về thời gian: Thực trạng trong vòng 3 năm 2012-2014, từ đó đề xuất

các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Môi

trường và Công trình đô thị Sơn Tây tới năm 2020.

5. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: tài liệu thứ cấp là những tài liệu

có sẵn, đã qua xử lý được tác giả thu thập. Tài liệu thứ cấp của luận văn được

thu thập từ các báo cáo tài chính của Công ty qua các năm, báo cáo thường

niên, báo cáo của Hội đồng quản trị,…. cùng các tài liệu nghiên cứu có liên

quan tới đề tài.

Trong đề tài có sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật

lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh… làm phương

pháp luận căn bản cho việc nghiên cứu. Phương pháp duy vật biện chứng, duy

vật lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng nhằm tổng hợp, hệ

thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản liên quan. Phương pháp so sánh được

sử dụng nhằm xem xét biến động của các chỉ tiêu kinh tế giữa các thời kỳ.

Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích các

nhân tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu, tổng hợp ý kiến chuyên gia tại công ty.

6. Kết quả nghiên cứu

Về mặt lý luận: luận văn góp phần hệ thống hóa và làm rõ những vấn

đề lý luận liên quan tới vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp.

4

Về mặt thực tiễn: luận văn đã đánh giá và làm rõ thực trạng hiệu quả sử

dụng vốn của Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây hiện

nay nhằm đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công

ty thời gian tới. Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho Ban

lãnh đạo Công ty hoặc các doanh nghiệp khác, tài liệu tham khảo cho học tập,

nghiên cứu các đề tài có liên quan.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về vốn và hiệu quả sử dụng

vốn trong doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Môi

trường và Công trình đô thị Sơn Tây

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ

phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây

5

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN

1.1.1 Khái niệm vốn

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thừa nhận bởi pháp luật trên

một số tiêu chuẩn nào đó. Doanh nghiệp ra đời nhằm mục đích chủ yếu là

hoạt động sản xuất kinh doanh và mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp là

đạt được hiệu quả kinh tế và xã hội cao nhất.

Như ta đã biết, tư liệu lao động, đối tượng lao động và lao động sống là

3 yếu tố của một quá trình sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế hàng hoá

tiền tệ, để có được các yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh đòi

hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định. Để tiến hành bất kỳ một

quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có vốn. Vốn là điều kiện tiên

quyết, có ý nghĩa quyết định tới các bước tiếp theo của quá trình kinh doanh.

Doanh nghiệp sẽ dùng vốn này để mua sắm các yếu tố của quá trình sản xuất

kinh doanh như lao động sống, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Do sự

tác động của lao động vào đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động mà

hàng hoá dịch vụ được tạo ra và tiêu thụ trên thị trường. Cuối cùng, các hình

thái vật chất khác nhau có được chuyển hoá về hình thái tiền tệ ban đầu. Để

đảm bảo sự tồn tại phát triển của doanh nghiệp số tiền thu được do tiêu thụ

sản phẩm phải đảm bảo bù đắp toàn bộ các chi phí đã bỏ ra và có lãi. Như

vậy, số tiền đã ứng ra ban đầu không những chỉ được bảo tồn mà nó còn được

tăng thêm do hoạt động kinh doanh mang lại. Toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu

và các quá trình tiếp theo cho sản xuất kinh doanh được gọi là vốn. Vốn được

biểu hiện cả bằng tiền lẫn cả giá trị vật tư tài sản và hàng hoá của doanh

6

nghiệp, tồn tại dưới cả hình thái vật chất cụ thể và không có hình thái vật chất

cụ thể. Vốn là một phạm trù kinh tế trong lĩnh vực tài chính, nó gắn liền với

nền sản xuất hàng hoá. Vốn là tiền nhưng tiền chưa hẳn đã là vốn. Tiền chỉ trở

thành vốn khi nó được đưa vào hoạt động trong quá trình sản xuất và lưu

thông. Có được tiền vốn doanh nghiệp mới có thể đầu tư mua sắm các tài sản

cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh, trả lương cho người lao động.

Sau khi tiêu thụ sản phẩm, làm dịch vụ, doanh nghiệp thu được tiền từ bán

sản phẩm, cung cấp lao vụ, dịch vụ đó. Từ số tiền này, doanh nghiệp phải

dành một phần để bù đắp giá trị TSCĐ hao mòn, bù đắp các khoản chi phí,

một phần để lập quỹ dự trữ, đầu tư mua sắm, mở rộng quy mô cho quá trình

sản xuất kinh doanh tiếp theo.

Vậy vốn là gì?

Theo học thuyết kinh tế cổ điển và phái cổ điển mới: Vốn là một trong

các yếu tố đầu vào để sản xuất kinh doanh (đất đai, lao động...), vốn là các

sản phẩm được sản xuất ra để phục vụ cho sản xuất (máy móc, thiết bị...).

[8,tr12]

Ricardo cho rằng: Tư bản là những tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu

dùng, là một bộ phận của cải quốc gia dùng vào sản xuất như cơm ăn, áo mặc,

nhà xưởng, ...[8,tr12]

Theo giáo trình tài chính học (Học viện tài chính) thì: "Vốn trong các

doanh nghiệp là một loại quỹ tiền tệ đặc biệt". Tiền được coi là vốn phải thoả

mãn những điều kiện sau:

Thứ nhất, tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định (tiền

phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực);

Thứ hai, tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, đủ

sức để đầu tư cho một dự án kinh doanh;

7

Thứ ba, khi đã đủ về số lượng, tiền phải được vận động nhằm mục đích

sinh lời. Cách vận động và phương thức vận động của tiền lại do phương thức

đầu tư kinh doanh quyết định. Các phương thức đầu tư có thể mô phỏng theo

sơ đồ sau:

SLĐ Trường hợp đầu tư vào

T - H ..…SX…..H’ - T’ lĩnh vực sản xuất kinh

TLSX doanh

T – H – T’: Trường hợp đầu tư vào lĩnh vực thương mại.

T – T’: Trường hợp đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu, cho vay,…

Trong thực tế một doanh nghiệp có thể sử dụng đồng thời cả ba phương

thức đầu tư vốn theo các mô hình trên miễn sao đạt được mục tiêu có mức

doanh lợi cao và nằm trong khuôn khổ của pháp luật.

Theo quan điểm của Mac (trong Bộ Tư bản) thì phạm trù vốn được

khái quát qua phạm trù tư bản "Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư".

Định nghĩa này đã bao hàm đầy đủ bản chất và tác dụng của vốn.

Từ đó có thể hiểu: Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của

toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào kinh doanh

nhằm mục đích sinh lời.

Vốn trong các doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt. Vốn của doanh

nghiệp nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh tức là mục đích tích luỹ. Vốn

của doanh nghiệp có trước khi diễn ra hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn

phải đạt tới mục tiêu sinh lời và vốn luôn thay đổi hình thái biểu hiện vừa tồn

tại dưới hình thái tiền vừa tồn tại dưới hình thái vật tư hoặc tài sản vô hình,

nhưng kết thúc vòng tuần hoàn phải là hình thái tiền.

1.1.2 Vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh

Trong nền kinh tế thị trường, mọi vận hành kinh tế đều được tiền tệ

hoá, do vậy bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào dù bất cứ cấp độ

8

nào, gia đình, doanh nghiệp hay quốc gia luôn cần một lượng vốn nhất định

dưới dạng tiền tệ, tài nguyên đã được khai thác, bản quyền phát minh,…

Vốn là điều kiện tiền đề quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh

nghiệp. Vốn là cơ sở xác lập địa vị pháp lý của doanh nghiệp, vốn đảm bảo

cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo mục tiêu đã định.

Về mặt pháp lý:

Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên là doanh

nghiệp đó phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó tối thiểu phải bằng

lượng vốn pháp định (lượng vốn tối thiểu mà pháp luật quy định cho từng loại

doanh nghiệp) khi đó địa vị pháp lý mới được công nhận. Ngược lại, việc

thành lập doanh nghiệp không thể thực hiện được. Trường hợp trong quá trình

hoạt động kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không đạt điều kiện mà pháp

luật quy định, doanh nghiệp sẽ chấm dứt hoạt động như phá sản, sáp nhập vào

doanh nghiệp khác… Như vậy, vốn được xem là một trong những cơ sở quan

trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp

trước pháp luật .

Về mặt kinh tế:

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh vốn là mạch máu của doanh

nghiệp quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vốn không

những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ

phục vụ cho quá trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh

diễn ra một cách liên tục, thường xuyên.

Vốn là yếu tố quyết định đến mở rộng phạm vi hoạt động của doanh

nghiệp. Để có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh

doanh vốn của doanh nghiệp phải sinh lời, tức là hoạt động kinh doanh phải

có lãi đảm bảo cho doanh nghiệp được bảo toàn và phát triển. Đó là cơ sở để

doanh nghiệp tiếp tục đầu tư sản xuất, thâm nhập vào thị trường tiềm năng từ

9

đó mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương

trường.

Nhận thức được vai trò quan trọng của vốn doanh nghiệp mới có thể sử

dụng tiết kiệm, có hiệu quả hơn và luôn tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng

vốn.

1.1.3 Phân loại vốn

1.1.3.1 Theo nguồn hình thành

Theo tiêu thức phân loại này, vốn gồm:

Vốn chủ sở hữu: Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu

doanh nghiệp bao gồm vốn đIều lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ

lợi nhuận và từ các quỹ của doanh nghiệp, vốn do nhà nước tài trợ (nếu có).

Nợ vay phải trả: Là số vốn doanh nghiệp được sử dụng tạm thời trong

một thời gian nhất định bao gồm những khoản vốn phát sinh một cách tự

động và các khoản nợ phát sinh trong qúa trình kinh doanh mà doanh nghiệp

có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế như: Nợ tiền vay

ngân hàng và các tổ chức kinh tế khác, nợ phải trả cho người bán, phải trả

công nhân viên, phải nộp cho nhà nước...

Thông thường một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn: Vốn

chủ sở hữu và nợ vay phải trả để đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp. Sự kết hợp chặt chẽ 2 nguồn này phụ thuộc vào

đặc điểm của doanh nghiệp đang hoạt động cũng như quyết định của người

quản lý doanh nghiệp trên cơ sở xem xét tình hình chung của nền kinh tế và

trên tình hình thực tế tại doanh nghiệp.

1.1.3.2 Theo thời gian sử dụng

Phân loại theo thời gian sử dụng, vốn được chia thành hai loại là: vốn

ngắn hạn và vốn dài hạn

@ Vốn ngắn hạn

10

Để tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài các tư liệu lao động, các doanh

nghiệp còn cần có các đối tượng lao động. Khác với các tư liệu lao động, các

đối tượng lao động (như nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm,…) chỉ tham

gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu,

giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm.

Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được

gọi là các tài sản ngắn hạn, về hình thái giá trị được gọi là vốn ngắn hạn của

doanh nghiệp.

Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ, để hình thành các tài sản

ngắn hạn sản xuất và tài sản ngắn hạn lưu thông các doanh nghiệp phải bỏ ra

một số vốn đầu tư ban đầu nhất định.

Như vậy, vốn ngắn hạn của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng

trước để đầu tư, mua sắm các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.

Vốn ngắn hạn hay vốn tạm thời bao gồm:

- Nợ ngắn hạn: Ví dụ, các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các khoản

nợ ngắn hạn khác

- Các khoản chiếm dụng: Đây còn gọi là các khoản chiếm dụng đương

nhiên của doanh nghiệp vì doanh nghiệp được sử dụng vốn của các chủ thể

khác mà không phải trả chi phí sử dụng vốn.

@ Vốn dài hạn

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp phải có

các yếu tố: sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động.

Khác với các đối tượng lao động (nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở

dang, bán thành phẩm,…) các tư liệu lao động (như máy móc thiết bị, nhà

xưởng, phương tiện vận tải,…) là những phương tiện vật chất mà con người

sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó theo mục đích của

mình.

11

Bộ phận quan trọng nhất trong các tư liệu lao động sử dụng trong quá

trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là các tài sản dài hạn. Đó là

những tư liệu lao động chủ yếu được sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp

trong quá trình sản xuất kinh doanh như máy móc thiết bị, phương tiện vận

tải, nhà xưởng, các công trình kiến trúc, các khoản chi phí đầu tư mua sắm

các tài sản cố định vô hình,…

Tài sản dài hạn phản ánh tổng giá trị các khoản phải thu dài hạn, tài sản

cố định, bất động sản đầu tư, đầu tư tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn

khác của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, việc mua sắm, xây dựng hay lắp

đặt các TSDH của doanh nghiệp đều phải thanh toán, chi trả bằng tiền. Số vốn

đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các TSDH hữu hình và vô

hình được gọi là vốn dài hạn của doanh nghiệp. Đó là vốn đầu tư ứng trước vì

số vốn này nếu được sử dụng có hiệu quả sẽ không mất đi, doanh nghiệp sẽ

thu hồi lại được sau khi tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ của mình.

Vốn dài hạn của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng

trước về TSDH mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong

nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSDH hết thời

gian sử dụng. [8,tr71]

Vốn dài hạn của doanh nghiệp (còn gọi là nguồn vốn thường xuyên)

bao gồm:

- Vốn góp: bao gồm vốn góp ban đầu của chủ doanh nghiệp, vốn huy

động từ phát hành cổ phiếu.

- Lợi nhuận để lại trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp

12

- Các khoản vay dài hạn của doanh nghiệp: bao gồm vay dài hạn của

ngân hàng, các khoản nợ dài hạn hoặc doanh nghiệp có thể phát hành trái

phiếu để huy động vốn vay.

1.1.3.3 Theo tính chất

@ Vốn cố định của doanh nghiệp

VCĐ của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về

TSCĐ mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ

sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng.

VCĐ của doanh nghiệp là bộ phận quan trọng của vốn đầu tư nói riêng và

VKD nói chung.

Là một khoản đầu tư ứng trước hình thành nên TSCĐ của doanh nghiệp

nên quy mô của VCĐ sẽ quyết định đến quy mô của TSCĐ. Song đặc điểm

vận động của TSCĐ lại quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển giá

trị của VCĐ. TSCĐ trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu

mà đặc điểm của chúng là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất. Trong qúa

trình đó, giá trị của TSCĐ không bị hao mòn hoàn toàn trong lần sử dụng đầu

tiên mà nó được chuyển dịch dần dần từng phần vào giá thành sản phẩm và

nhiều chu kỳ sản xuất tiếp theo. Sự vận động của TSCĐ trong thời gian tham

gia vào quá trình sản xuất được cụ thể hoá như sau:

Về mặt hiện vật: TSCĐ tham gia hoàn toàn và nhiều lần trong quá

trình sản xuất và bị hao mòn dần (bao gồm hao mòn hữu hình và hao mòn vô

hình). Nói cách khác là giá trị sử dụng sẽ giảm dần cho đến khi TSCĐ bị hư

hỏng hoàn toàn, phải loại khỏi quá trình sản xuất.

Về mặt giá trị: Giá trị TSCĐ được biểu hiện dưới hình thái ban đầu

gắn liền với hiện vật TSCĐ một bộ phận giá trị chuyển vào giá trị sản phẩm

mà TSCĐ đó sản xuất ra và bộ phận này sẽ chuyển hoá thành tiền khi tiêu thụ

được sản phẩm.

13

Như vậy, VCĐ là một bộ phận quan trọng chiếm tỷ lệ lớn trong toàn bộ

VKD của doanh nghiệp, đặc điểm của nó lại tuân theo quy luật riêng. Do đó

việc tổ chức và sử dụng VCĐ có ảnh hưởng lớn trực tiếp đến hiệu quả VKD

của doanh nghiệp.

@ Vốn lưu động

Vốn lưu động là số tiền ứng trước về tài sản lưu động sản xuất và tài

sản lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một

cách thường xuyên, liên tục mà đặc điểm của nó là luân chuyển không ngừng,

luôn thay đổi hình thái biểu hiện và chuyển dịch toàn bộ giá trị một lần trong

toàn bộ chu kỳ sản xuất.

Với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì TSLĐ gồm 2 loại TSLĐ

sản xuấtvà TSLĐ lưu thông. TSLĐ sản xuất bao gồm các loại nguyên vật

liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở dang... đang trong quá trình dự trữ sản

xuất hoặc chế biến. Còn TSLĐ lưu thông bao gồm các sản phẩm, thành phẩm

chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền,vốn trong thanh toán...

TSLĐ nằm trong quá trình sản xuất và TSLĐ nằm trong quá trình lưu

thông luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau đảm bảo cho quá trình

sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục.

Khác với TSCĐ, TSLĐ luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra

sản phẩm. Đặc điểm của VLĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh là luân

chuyển toàn bộ giá trị ngay 1 lần và hoàn thành 1 vòng tuần hoàn sau mỗi chu

kỳ sản xuất, nó được coi là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá

trình sản xuất. Đặc điểm này đã quyết định sự vận động của VLĐ - hình thái

giá trị của TSLĐ.

Khởi đầu của vòng tuần hoàn, doanh nghiệp dùng tiền để mua hàng

hoá, nguyên vật liệu nhằm dự trữ sản xuất kinh doanh. Lúc này VLĐ chuyển

từ hình thái tiền tệ sang hình thái vật tư hàng hoá (T - H).

14

Giai đoạn II: Là giai đoạn sản xuất: Hàng hoá, nguyên vật liệu trải qua

quá trình bảo quản sơ chế được đưa vào dây chuyền công nghệ. Trong qúa

trình này, vốn chuyển từ hình thái hàng hoá, vật tư dự trữ sang hình thái sản

phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm (H - SX - H').

Giai đoạn III: Doanh nghiệp bán hàng thu được tiền. Vốn được chuyển

từ hình thái thành phẩm sang hình thái tiền tệ tức là trở về hình thái ban đầu

(H' - T').

Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách thường xuyên liên tục

nên cùng một thời điểm VLĐ thường tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau

trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông, các giai đoạn vận động của vốn được

đan xen vào nhau và các chu kỳ sản xuất được lặp đi lặp lại. Sau mỗi chu kỳ

sản xuất VLĐ hoàn thành 1 vòng tuần hoàn.

1.2. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN

1.2.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn

1.2.1.1 Hiệu quả

Thứ nhất, theo Đại từ điển tiếng việt thì: "Hiệu quả là kết quả đích

thực". Khái niệm này đã coi kết quả đồng nghĩa với hiệu quả. Trong đó, "kết

quả là đại lượng tuyệt đối có được sau một thời kỳ, không cho phép so sánh

với chi phí bỏ ra". [10]

Thứ hai, từ góc độ doanh nghiệp, một số tác giả cho rằng: "Hiệu quả

được thể hiện bằng tỷ số giữa đầu ra và đầu vào". [14] Hạn chế của quan

niệm này là nghiêng về mặt đặc trưng kinh tế kỹ thuật và coi hiệu quả đồng

nhất với năng suất. Trong đó "năng suất là hiệu quả của lao động trong quá

trình sản xuất, làm việc, được đo bằng số lượng sản phẩm hay khối lượng

công việc làm ra được trong một đơn vị nhất định".

Thứ ba, từ góc độ nền kinh tế, Bradley R. Schiller cho rằng: hiệu quả

có nghĩa là "thu được nhiều nhất từ cái mà chúng ta có" [14]. Ngược lại với

15

hiệu quả là phi hiệu quả. Hạn chế của định nghĩa là khó xác định mặt lượng

của hiệu quả và không so sánh được hiệu quả của các doanh nghiệp với nhau.

Từ các quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu: "Hiệu quả là thuật ngữ

dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của

chủ thể và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó trong những điều kiện nhất

định". Nói cách khác, hiệu quả là đại lượng tương đối, phản ánh mối quan hệ

so sánh giữa đầu ra và đầu vào xét dưới góc độ giá trị.

Nếu ký hiệu: - K: kết quả nhận được theo hướng mục tiêu,

- C: chi phí bỏ ra,

- H: hiệu quả,

Thì: - Hiệu quả tuyệt đối: H = K - C

- Hiệu quả tương đối: H = K/C

Kết quả (K) mà chủ thể nhận được theo hướng mục tiêu trong kinh

doanh càng lớn hơn chi phí (C) bỏ ra bao nhiêu thì càng có lợi bấy nhiêu.

* Ý nghĩa của hiệu quả:

- Một là, hiệu quả phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của

chủ thể kinh tế để đạt được lợi ích cao nhất với chi phí thấp nhất.

- Hai là, hiệu quả là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựa chọn

các phương án hành động.

Như vậy, hiê ̣u quả là phép so sánh dù ng để chỉ mố i quan hê ̣ giữa kết quả thực hiê ̣n các mu ̣c tiêu hoa ̣t đô ̣ng củ a chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có đươ ̣c những kết quả đó trong điều kiê ̣n nhất đi ̣nh.

Đố i vớ i tất cả các đơn vi ̣ dù sản xuất kinh doanh hay hành chính sự nghiê ̣p, vớ i các cơ chế quản lý khác nhau thì có các nhiê ̣m vu ̣ và mu ̣c tiêu hoa ̣t đô ̣ng khác nhau. Ngay trong mỗi giai đoa ̣n phát triển củ a đơn vi ̣ cũng có những mu ̣c tiêu khác nhau. Nhưng có thể nó i rằng trong cơ chế thi ̣ trườ ng ở nướ c ta hiê ̣n nay mo ̣i đơn vi ̣ sản xuất kinh doanh hay hành chính sự nghiê ̣p đều có mu ̣c tiêu bao trù m lâu dài là tố i thiểu hó a chi phí, tăng hiê ̣u quả hoa ̣t đô ̣ng củ a đơn vi ̣. Để đa ̣t đươ ̣c mu ̣c tiêu này đò i hỏ i các đơn vi ̣ phải xây dựng 16

cho mình mô ̣t chiếm lươ ̣c kinh doanh và phát triển thích ứ ng vớ i các biến đô ̣ng củ a thi ̣ trườ ng, phải xây dựng, kế hoa ̣ch hó a các hoa ̣t đô ̣ng cuaur đơn vi ̣ và đồ ng thờ i phải tổ chứ c thực hiê ̣n các kế hoa ̣ch đă ̣t ra mô ̣t cách có hiê ̣u quả. Trong quá trình tổ chức xây dựng và thực hiện cá hoạt động quản trị

trên, các doanh nghiệp phải luôn kiểm tra, đánh giá tính hiệu quả của chúng.

Muốn kiểm tra đánh giá các hoạt động sản xuất kinh doanh chung của toàn

doanh nghiệp cũng như từng lĩnh vực, từng bộ phận bên trong doanh nghiệp

thì doanh nghiệp không thể thực hiện việc tính hiệu quả kinh tế của các hoạt

động sản xuất kinh doanh đó. Vậy thì hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản

xuất kinh doanh (hiệu quả sản xuất kinh doanh) là gì? Để hiểu được phạm trù

hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh thì trước tiên chúng ta tìm

suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính

bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí.

1.2.1.2 Hiệu quả sử dụng vốn

Vốn là điều kiện cần cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của

mọi doanh nghiệp, nhưng chưa đủ để đạt được mục đích kinh doanh của

doanh nghiệp bởi lẽ trong nền kinh tế thị trường mục đích cao nhất của mọi

doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chính là lợi nhuận. Điều đó đồng nghĩa với

việc doanh nghiệp phải khai thác và sử dụng triệt để mọi nguồn lực sẵn có của

mình, trong đó sử dung có hiệu quả nguồn vốn là yêu cầu bắt buộc đối với

mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Để làm rõ khái niệm hiệu quả sử dụng vốn ta đi tìm hiểu các khái niệm

liên quan như hiệu quả, hiệu quả kinh doanh.

Theo cách hiểu thông thường, hiệu quả là mối tương quan giữa đầu vào

và đầu ra của một quá trình kinh tế – kỹ thuật nhằm đạt được những mục đích

xác định.

17

Hiệu quả kỹ thuật là mối tương quan giữa đầu vào của các yếu tố sản

xuất khan hiếm và sản phẩm (hàng hoá, dịch vụ...) ở đầu ra. Mối tương quan

này có thể đo lường theo hiện vật

Hiệu quả kinh doanh là mối tương quan giữa đầu vào và đầu ra của quá

trình kinh doanh (hàng hoá, dịch vụ). Mối tương quan này được đo lường

bằng thước đo tiền tệ.

Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các

yếu tố đầu vào (các nguồn nhân tài, vật lực) của doanh nghiệp để đạt được kết

quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí tiết kiệm nhất.

Khái niệm hiệu quả kinh doanh được dùng làm một tiêu chuẩn để xem

xét các tài nguyên được phân phối ở mức độ tốt như thế nào.

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn được sử dụng nhằm thu

được lợi nhuận trong tương lai. Nói cách khác, mục đích của việc sử dụng

vốn là thu lợi nhuận, cho nên hiệu quả sản xuất kinh doanh thường được đánh

giá dựa trên so sánh tương đối giữa lợi nhuận và vốn bỏ ra hay hiệu quả sử

dụng vốn.

Hiệu quả sử dụng vốn là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác,

sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục

tiêu sinh lợi tối đa với chi phí hợp lý .

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không những đảm bảo cho doanh nhiệp an

toàn về mặt tài chính, hạn chế rủi do, tăng thu nhập cho cán bộ công nhân

viên, mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận mà còn giúp doanh nghiệp

tăng uy tín, nâng cao khả năng cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp trên

thương trường. Có thể nói rằng hiệu quả sử dụng vốn thực chất là thước đo

trình độ sử dụng nguồn nhân lực, tài chính của doanh nghiệp, đó là vấn đề cơ

bản gắn liền với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp .

18

Trong quá trình sử dụng vốn, để đạt hiệu quả cao doanh nghiệp cần

phải giải quyết một số vấn đề sau:

Thứ nhất: Đảm bảo tính tiết kiệm, có nghĩa là vốn của doanh nghiệp

phải được sử dụng hợp lý, đúng mục đích, tránh lãng phí vốn hoặc để vốn

không sinh lời.

Thứ hai: Phải tiến hành đầu tư, phát triển cả chiều sâu và mở rộng quy

mô sản xuất kinh doanh khi cần thiết.

Thứ ba: Doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu đề ra trong kế hoạch

SXKD, hiệu quả sử dụng vốn là mục tiêu quan trọng nhất doanh nghiệp cần

đạt tới.

1.2.2. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn

1.2.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động

 Vòng quay hàng tồn kho:

Giá vốn hàng bán (hoặc doanh thu bán hàng) Số vòng quay hàng tồn kho = Hàng tồn kho bình quân

(1.1)

Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng tồn kho bình quân luân

chuyển trong kỳ. Chỉ tiêu này phản ánh số vòng luân chuyển hàng tồn kho

trong một thời kỳ nhất định. Số vòng luân chuyển càng cao thì việc kinh

doanh được đánh giá càng tốt, bởi lẽ doanh nghiệp chỉ đầu tư cho hàng tồn

kho thấp mà vẫn đạt doanh số cao. Vòng quay hàng tồn kho càng cao thì hiệu

quả sử dụng vốn của doanh nghiệp càng tốt. Tuy nhiên, tốc độ luân chuyển

hàng tồn kho này còn phụ thuộc nhiều vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh.

 Vòng quay các khoản phải thu:

Doanh thu có thuế Vòng quay các khoản phải thu = Số dư bình quân các khoản phải thu

(1.2)

19

Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản

phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp. Vòng quay càng lớn, chứng tỏ tốc

độ thu hồi các khoản nợ phải thu là tốt, hiệu quả sử dụng vốn của doanh

nghiệp càng tốt.

Số dư bình quân các khoản phải thu được tính bằng phương pháp bình

quân các khoản phải thu trên bảng cân đối kế toán.

 Kỳ thu tiền trung bình:

Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu được các

khoản phải thu (số ngày của một vòng quay các khoản phải thu). Vòng quay

các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền càng nhỏ, tốc độ luân chuyển vốn

nhanh, gia tăng hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Kỳ thu tiền 360 = trung bình Vòng quay các khoản phải thu

Số dư bình quân các khoản phải thu x 360 Hoặc = Doanh thu

(1.3)

 Vòng quay vốn lưu động:

Doanh thu thuần Vòng quay vốn lưu động = Vốn lưu động bình quân

(1.4)

Vòng quay vốn lưu động phản ánh trong kỳ vốn lưu động quay được

mấy vòng. Nếu số vòng quay càng nhiều chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu

động càng cao, vốn lưu động càng tạo ra được nhiều doanh thu thuần trong kỳ

và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp càng cao.

 Mức đảm nhiệm vốn lưu động:

Vốn lưu động bình quân Mức đảm nhiệm vốn lưu động = Doanh thu thuần

20

(1.5)

Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu

vốn lưu động. Chỉ tiêu này càng nhỏ, càng tốt cho hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng vốn càng cao.

 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn lưu động:

Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất sinh lợi trên vốn lưu động = Vốn lưu động bình quân

(1.6)

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn lưu động là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh

một đồng vốn lưu động mang vào sản xuất kinh doanh trong kỳ sẽ mang lại

bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn lưu

động càng tốt và ngược lại.

1.2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định

 Hiệu quả sử dụng tài sản cố định

Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = TSCĐ sử dụng bình quân trong kỳ

(1.7)

TSCĐ sử dụng bình quân trong kỳ là bình quân số học của nguyên giá

TSCĐ đầu kỳ và cuối kỳ. Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ tạo

ra bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử

dụng TSCĐ càng cao.

 Hiệu suất sử dụng vốn cố định

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định có thể đảm bảo tạo ra

được bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử

dụng vốn cố định ngày càng cao.

Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng vốn cố định = Vốn cố định sử dụng bình quân trong kỳ

21

(1.8)

 Hàm lượng vốn cố định

Vốn cố định bình quân trong kỳ Hàm lượng vốn cố định = Doanh thu thuần trong kỳ

(1.9)

Là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định. Nó

phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu đồng vốn cố định.

Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn cố định càng cao.

 Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định

Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định = Vốn cố định bình quân

(1.10)

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tạo ra bao nhiêu đồng lợi

nhuận trong kỳ. Chỉ tiêu này càng lớn, hiệu quả sử dụng vốn cố định càng

cao.

1.2.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá chung về hiệu quả sử dụng vốn

Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp có ý nghĩa then chốt và quyết

định đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu hiệu quả

sử dụng tổng vốn của doanh nghiệp phản ánh kết quả tổng hợp quá trình sử

dụng toàn bộ vốn, tài sản. Các chỉ tiêu này phản ánh chất lượng và trình độ

quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm:

 Hiệu suất sử dụng vốn

Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng vốn = Vốn bình quân

(1.11)

Hiệu suất sử dụng tổng vốn cho biết một đồng vốn được doanh nghiệp

đầu tư vào tài sản đem lại mấy đồng doanh thu thuần. Hiệu suất sử dụng vốn

22

càng lớn, trong các điều kiện khác không đổi có nghĩa là hiệu quả quản lý

toàn bộ tài sản càng cao.

 Tỷ suất lợi nhuận vốn

Chỉ tiêu này cho biết có bao nhiêu đồng lợi nhuận được tạo ra khi bỏ ra

một đồng vốn. Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ việc sử dụng vốn chủ kinh

doanh càng hiệu quả.

Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận vốn = Vốn bình quân

(1.12)

 Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu

Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu đánh giá mức độ tạo ra lợi

nhuận thuần cho các chủ doanh nghiệp. Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng

vốn mà chủ sở hữu bỏ vào kinh doanh thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận

sau thuế. Công thức xác định như sau:

Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu bình quân

(1.13)

Khi đánh giá phân tích chỉ tiêu này ta có thể so sánh nó với chỉ tiêu tỷ suất

lợi nhuận vốn. Nếu tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu lớn hơn tỷ suất lợi nhuận

vốn thì chứng tỏ việc sử dụng cơ cấu vốn chủ sở hữu hợp lý.

 Tỷ suất lợi nhuận vốn vay

Tỷ suất lợi nhuận vốn vay là chỉ tiêu đánh giá mức độ hiệu quả sử dụng

vốn vay. Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn vay bỏ vào kinh doanh thì

mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Công thức xác định

như sau:

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay Tỷ suất lợi nhuận vốn vay = Vốn vay bình quân

23

(1.14)

 Hiệu suất sử dụng TSCĐ

Hiệu suất sử dụng TSCĐ phản ánh 1 đồng TSCĐ trong kỳ tạo ra được

bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần.

Doanh thu thuần trong kỳ Hiệu suất sử = dụng TSCĐ Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ

(1.15)

1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn

1.2.3.1. Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp

Nhân tố con người:

Đây là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn, con

người được đề cập đến ở đây là toàn bộ lực lượng lao động trong doanh

nghiệp bao gồm các nhà quản lý doanh nghiệp và những người trực tiếp thực

hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà quản lý đóng vai trò đầu tiên đối

với hiệu quả sử dụng vốn. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu nhà quản

lý không có phương án sản xuất kinh doanh hữu hiệu, không bố trí hợp lý các

khâu, các giai đoạn sản xuất, sẽ gây lãng phí về nhân lực, vốn, nguyên vật

liệu… Điều này sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung,

hiệu quả sử dụng vốn nói riêng. Trong quản lý tài chính, nhà quản lý doanh

nghiệp phải xác định nhu cầu vốn, phải bố trí cơ cấu hợp lý, không để vốn bị

ứ đọng, dư thừa, phải huy động đủ vốn cho sản xuất. Nếu vốn không đủ đáp

ứng cho nhu cầu sản xuất thì quá trình sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng. Nếu

cơ cấu vốn không hợp lý, vốn đầu tư lớn vào các tài sản không sử dụng hoặc

ít sử dụng, vốn trong quá trình thanh toán bị chiếm dụng sẽ tăng chi phí sản

xuất, làm giảm lợi nhuận, giảm hiệu quả sử dụng vốn .

Cơ cấu vốn :

24

Cơ cấu vốn thể hiện quan hệ tỷ lệ giữa các yếu tố cấu thành vốn trong

tổng vốn sử dụng. Cơ cấu vốn được xem xét theo nguồn vốn và các tiêu chí

khác nhau.

Do chịu sự ảnh hưởng của nhân tố khác nên cơ cấu vốn trong doanh

nghiệp khác nhau. Các nhân tố chính ảnh hưởng đến cơ cấu vốn bao gồm các

nhân tố sau:

- Sự ổn định của doanh thu và lợi nhuận: Ảnh hưởng trực tiếp đến quy

mô của vốn huy động. Khi doanh thu ổn định sẽ có nguồn để lập quỹ trả nợ

đến hạn, khi kết quả kinh doanh có lãi sẽ có nguồn để trả lãi vay. Trong

trường hợp này tỷ trọng của vốn huy động trong tổng số vốn của doanh

nghiệp sẽ cao và ngược lại .

- Cơ cấu tài sản: Tài sản cố định là loại tài sản có thời gian thu hồi dài,

do đó nó phải được đầu tư bằng nguồn vốn dài hạn, ngược lại, tài sản lưu

động sẽ được đầu tư vào một phần của vốn dài hạn, còn chủ yếu là vốn ngắn

hạn.

- Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành: Những doanh nghiệp nào có

chu kỳ kinh doanh dài, vòng quay vốn chậm thì cơ cấu vốn nghiêng về vốn

chủ sở hữu, ngược lại những doanh nghiệp thuộc ngành dịch vụ, bán buôn…

thì vốn tài trợ từ các khoản nợ sẽ chiếm tỷ trọng cao.

- Mức độ chấp nhận rủi do của người lãnh đạo: Trong kinh doanh phải

chấp nhận rủi do, nhưng điều đó lại đồng nghĩa với cơ hội để gia tăng lợi

nhuận. Tăng tỷ trọng của vốn vay nợ, sẽ tăng mức độ mạo hiểm.

- Doanh lợi vốn và lãi suất huy động: Khi doanh lợi vốn cao hơn lãi

suất vốn vay sẽ lựa chọn hình thức tài trợ bằng vốn vay. Ngược lại khi doanh

lợi vốn nhỏ hơn lãi suất vốn vay thì cấu trúc lại nghiêng về vốn chủ sở hữu.

25

- Thái độ của người cho vay: Thông thường người cho vay thích cơ cấu

nghiêng về vốn của chủ sở hữu, với cấu trúc này thì doanh nghiệp có khả

năng trả nợ đúng hạn, có sự an toàn về đồng vốn mà họ bỏ ra cho vay.

Cơ cấu vốn có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp, nó ảnh hưởng

đến chi phí vốn, đến khả năng kinh doanh và do đó ảnh hưởng đến khả năng

sinh lời của đồng vốn. Chính vì vậy mà cơ cấu vốn là nhân tố tuy chủ yếu tác

động gián tiếp song rất quan trọng đối với hiệu quả sử dụng vốn của doanh

nghiệp.

Giải quyết tốt vấn đề cơ cấu vốn hợp lý chính là thực hiện tốt các mặt:

- Đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa vốn cố định tích cực (vốn đầu tư vào tài

sản cố định tham gia trực tiếp vào sản xuất kinh doanh như máy móc thiết bị,

phương tiện vận tải...) và vốn cố định không tích cực (kho tàng, nhà xưởng,

trụ sở văn phòng...)

- Một cơ cấu vốn hợp lý sẽ thúc đẩy đồng vốn vận động nhanh giữa các

cao độ của quá trình sản xuất kinh doanh, không bị ứ đọng hay sử dụng sai

mục đích.

Nhân tố chi phí vốn:

Vốn là nhân tố cần thiết của quá trình sản xuất. Cũng như bất kỳ yếu tố

nào khác, để sử dụng vốn, doanh nghiệp cần bỏ ra một chi phí nhất định. Có

thể hiểu chi phí vốn là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn và chi phí mà

doanh nghiệp phải trả cho việc huy động vốn như: Lãi vay vốn, chi phí phát

hành cổ phiếu, cổ tức phải trả cho cổ đông,...

Khi nói đến chi phí vốn thì mới thực sự thấy được sự quan trọng của

một cơ cấu vốn hợp lý. Cơ cấu vốn lưu động, vốn cố định phù hợp với đặc

điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm

chi phí vốn. Vốn sẽ được lưu thông, quay vòng một cách hợp lý, giúp doanh

nghiệp đạt hiệu quả cao trong sử dụng vốn. Ngược lại khi cơ cấu vốn không

26

hợp lý sẽ dẫn đến có phần vốn bị ứ đọng. Chi phí cơ hội trong việc sử dụng

vốn sẽ bị lãng phí.

Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành sản xuất kinh doanh:

Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng

không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Mỗi ngành sản xuất

kinh doanh có những đặc điểm khác nhau về mặt kinh tế kỹ thuật như: Tính

chất ngành nghề, tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh.

Ảnh hưởng của tính chất ngành nghề đến hiệu quả sử dụng vốn thể hiện

ở quy mô, cơ cấu vốn. Quy mô, cơ cấu vốn khác nhau sẽ ảnh hưởng tới tốc độ

luân chuyển vốn, tới phương pháp đầu tư, thể thức thanh toán, chi trả... do đó

ảnh hưởng tới doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất thể hiện ở nhu cầu vốn

và doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Những doanh nghiệp hoạt động trong ngành

sản xuất có tính thời vụ thì nhu cầu vốn lưu động giữa các quý trong năm

thường biến động lớn, doanh thu bán hàng không được đều, tình hình thanh

toán, chi trả cũng gặp khó khăn, ảnh hưởng tới chu kỳ thu tiền bình quân, tới

hệ số vòng quay vốn... do đó ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh

nghiệp. Những doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn thì nhu cầu

vốn trong năm thường không có biến động lớn, doanh nghiệp lại thường

xuyên thu được tiền bán hàng, điều đó giúp doanh nghiệp dễ dàng đảm bảo

cân đối thu chi bằng tiền và đảm bảo nguồn vốn trong kinh doanh, vốn được

quay nhiều vòng trong năm. Ngược lại những doanh nghiệp sản xuất ra những

loại sẩn phẩm có chu kỳ sản xuất dài phải ứng ra một lượng vốn lưu động

tương đối lớn, vốn thu hồi chậm, quay vòng ít.

1.2.3.2 Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

Bất cứ doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong môi trường kinh doanh

nhất định. Môi trường kinh doanh là tất cả các điều kiện bên ngoài ảnh hưởng

27

tới hoạt động của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, hiệu

quả sử dụng vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của một số nhân tố sau

đây:

Sự ổn định của nền kinh tế:

Sự ổn định hay không ổn định của nền kinh tế, của thị trường có ảnh

hưởng trực tiếp tới mức doanh thu của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới nhu

cầu về vốn. Những biến động của nền kinh tế có thể gây nên những rủi do

trong kinh doanh mà các nhà quản trị tài chính phải lường trước, những rủi ro

đó có ảnh hưởng tới các khoản chi phí về đầu tư, chi phí trả lãi hay tiền thuê

nhà xưởng, máy móc thiết bị hay tìm nguồn tài trợ.

Nếu nền kinh tế ổn định và tăng trưởng với một tốc độ nào đó thì doanh

nghiệp muốn duy trì và giữ vững vị trí của mình, cũng phải phấn đấu để phát

triển với nhịp độ tương đương. Khi doanh thu tăng lên, sẽ đưa đến việc gia

tăng tài sản, các nguồn phải thu và các loại tài sản khác. Khi đó, các nhà quản

trị tài chính phải tìm nguồn tài trợ cho sự mở rộng sản xuất, sự tăng tài sản đó.

Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với các doanh nghiệp:

Để tạo ra môi trường kinh tế ổn định, đảm bảo cho sự phát triển bền

vững, nhà nước điều hành và quản lý nền kinh tế vĩ mô bằng các chính sách

kinh tế vĩ mô. Với bất kỳ sự thay đổi nào trong chế độ chính sách hiện hành

sẽ ảnh huởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và hiệu

quả sử dụng vốn nói riêng. Sự nhất quán trong chủ trương đường lối cơ bản

của Nhà nuớc luôn là yếu tố tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạch định kế

hoạch sản xuất kinh doanh và có điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Hệ

thống tài chính tiền tệ, vấn đề lạm phát, thất nghiệp và các chính sách tài khoá

của chính phủ có tác động lớn đến quá trình ra quyết định kinh doanh và kết

quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

28

- Chính sách lãi suất: Lãi suất tín dụng là một công cụ chủ yếu để điều

hành lượng cung tiền tệ, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc huy động vốn và

kinh doanh của doanh nghiệp. Khi lãi suất tăng làm chi phí vốn tăng, nếu

doanh nghiệp không có vốn cơ cấu hợp lý, kinh doanh không hiệu quả thì

hiệu quả sử dụng vốn nhất là phần vốn vay sẽ bị giảm sút. Trong nền kinh tế

thị trường, lãi suất là vấn đề quan trọng khi quyết định thực hiện một hoạt

động đầu tư hay một phương án sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp phải tính

toán xem liệu hoạt động đầu tư hay phương án sản xuất có đảm bảo được

doanh lợi vốn lãi suất tiền vay hay không, nếu nhỏ hơn thì có nghĩa là không

hiệu quả, doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn. Đối với hoạt động đầu tư hay phương

án sản xuất có sử dụng vốn đầu tư cũng phải tính đến chi phối vốn, nếu có

hiệu quả thì mới nên thực hiện.

- Chính sách thuế: Thuế là công cụ quan trọng của nhà nuớc để điều

tiết kinh tế vĩ mô nói chung và điều tiết hoạt động của doanh nghiệp nói riêng.

Chính sách thuế của nhà nước có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp bởi vì mức thuế cao hay thấp sẽ làm cho phần

lợi nhuận sau thuế nhiều hay ít, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và

hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

- Sự hoạt động của thị trường tài chính và hệ thống các hệ thống tài

chính trung gian là một nhân tố đáng kể tác động đến hoạt động của doanh

nghiệp nói chung và hoạt động tài chính nói riêng. Một thị trường tài chính và

hệ thống các tổ chức tài chính trung gian phát triển đầy đủ và đa dạng sẽ tạo

điều kiện cho doanh nghiệp tìm kiếm nguồn vốn có chi phí rẻ, đồng thời

doanh nghiệp có thể đa dạng các hình thức đầu tư và có cơ cấu vốn hợp lý và

mang lại hiệu quả cao nhất trong việc sử dụng vốn trong doanh nghiệp.

Hiệu quả sử dụng vốn còn chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố khác như:

+ Khoa học kỹ thuật và công nghệ

29

+ Sự ổn định chính trị xã hội trong nước và quốc tế.

+ Những rủi ro bất thường trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà

doanh nghiệp có thể gặp phải như thiên tai, hoả hoạn, lũ lụt, chiến tranh.

Trên đây là những nhân tố chủ yếu tác động đến công tác tổ chức sản

xuất kinh doanh và sử dụng vốn của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần

nghiên cứu, xem xét một cách kỹ lưỡng, thận trọng để phát huy những lợi thế

và điều kiện thuận lợi, hạn chế đến mức thấp nhất những hậu quả xấu có thể

xảy ra, đảm bảo việc tổ chức huy động vốn kịp thời cho nhu cầu sản xuất kinh

doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

1.3. NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP.

Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp được thể hiện trực tiếp thông

qua lợi nhuận thu được bởi đây chính là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng

hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Như vậy, để có định

hướng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì phải theo hướng nâng cao khả năng

thu lợi nhuận của doanh nghiệp:

- Tích cực tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.

- Đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm để tăng doanh thu.

Từ hai hướng cụ thể trên, mỗi doanh nghiệp tuỳ thuộc vào đặc điểm,

ngành nghề, hình thức hoạt động, có thể tìm ra những biện pháp cụ thể, phù

hợp để nâng cao quả sử dụng vốn. Có một số biện pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, xác định nhu cầu vốn chính xác, đầy đủ và kịp thời. Nhu cầu

vốn phải được xác định dựa trên quy mô kinh doanh, kế hoạch sản xuất làm

cơ sở đảm bảo đưa ra kế hoạch huy động và sử dụng vốn phù hợp tránh tình

trạng thiếu vốn gây ngưng trệ sản xuất hoặc thừa, thiếu vốn gây ứ đọng vốn,

làm giảm khả năng sinh lời của đồng vốn.

Thứ hai, lựa chọn cơ cấu và hình thức huy động vốn theo hướng tích

cực: Khai thác triệt để nguồn vốn bên trong để tối thiểu hoá chi phí sử dụng

30

vốn, giảm thiểu rủi ro thanh toán và đảm bảo khả năng tự chủ tài chính của

doanh nghiệp đồng thời tăng cường khai thác, huy động vốn từ nhiều nguồn

bên ngoài để nâng cao khả năng sinh lời của đồng vốn.

Thứ ba, cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát để có thể nắm

bắt được tình hình biến động về giá trị cũng như cơ cấu của tài sản nhằm hạn

chế sự mất mát, thất thoát tài sản trong quá trình hoạt động sản xuất kinh

doanh, đảm bảo vốn được bảo toàn về hiện vật.

Thứ tư, cần xây dựng cơ chế quản lý và sử dụng tài sản trong doanh

nghiệp làm cơ sở cho việc thực hiện có hiệu quả công tác bảo toàn và phát

triển vốn.

Thứ năm, thực hiện áp dụng các phương pháp phòng chống rủi ro bằng

cách chủ động mua bảo hiểm cho tài sản và trích lập các quỹ dự phòng để

đảm bảo nguồn tài chính bù đắp những rủi ro có thể xảy ra và bảo toàn được

vốn cho doanh nghiệp.

31

Kết luận chương 1

Vốn là phần thu nhập quốc dân dưới dạng tài sản vật chất và tài chính

được cá nhân, các doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm

mục đích tối đa hoá lợi ích. Hiệu quả sử dụng vốn là phạm trù kinh tế phản

ánh trình độ khai thác, sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp nhằm mục tiêu sinh lợi tối đa với chi phí hợp lý. HIệu quả sử

dụng vốn được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau. Hiệu quả kinh doanh

của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau.

32

Chương 2

THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN

TÂY

2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG & CÔNG

TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Môi

trường & Công trình Đô thị Sơn Tây

- Tên Công ty : Công ty Cổ phần Môi trường & Công trình Đô Thị Sơn

Tây.

- Tên giao dịch: Son Tay Urban Construction And Environment Joint

Stock Company.

- Trụ sở chính của Công ty đặt tại: Số 2, Phố Phùng Hưng, Thị xã Sơn

Tây, Hà Nội.

- Website: www.moitruongdothisontay.com.vn.

- Công ty cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị Sơn Tây tiền thân

là đội vệ sinh đô thị thuộc Ban xây dựng thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội,

Ngày 22/12/1982, UBND thành phố Hà Nội ra quyết định số 5110

QĐ/UBND thành lập xí nghiệp công trình đô thị Sơn Tây là đơn vị sự nghiệp

công cộng.

- Năm 1991, thị xã Sơn Tây được chuyển về khi tái lập tỉnh Hà Tây, Xí

nghiệp công trình đô thị Sơn Tây được đổi tên là Công ty Môi trường Đô thị

Sơn Tây là đơn vị sự nghiệp công cộng (1992).

33

- Ngày 13/12/1996, UBND tỉnh Hà Tây ra quyết định số 979 chuyển

Công ty thành Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích có tên là Công ty

Môi trường và Công trình Đô thị Sơn Tây.

- Ngày 10/7/2008, UBND tỉnh Hà Tây ra quyết định số 2248/QĐ-

UBND chuyển Công ty Môi trường và Công trình Đô thị Sơn Tây thành Công

ty cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị Sơn Tây.

- Ngày 9/7/2009 công ty cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị Sơn

Tây đã trở thành công ty đại chúng.

- Ngày 19/7/2010 Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam đã cấp giấy

chứng nhận số 174/2010/GCNCP-VSD chấp thuận cho công ty được đăng ký

chứng khoán và cấp mã chứng khoán tại Trung tâm lưu ký chứng khoán.

- Ngày 17/03/2011 công ty đã tiến hành bàn giao phần vốn nhà nước là

36% về công ty TNHH nhà nước 1 thành viên Môi trường đô thị Hà Nội

(URENCO) theo quyết định số 1282 của UBND Thành phố Hà Nội.

- Ngày 29/07/2011 ủy ban chứng khoán Nhà nước đã cấp giấy chứng

nhận đăng ký chào bán CP ra công chúng cho Công ty CP Môi trường và

Công trình Đô Thị Sơn Tây, Số CP chào bán là 750.400 CP tương đương với

7.504.000.000đ (tính theo mệnh giá 10.000đ/01CP)

- Ngày 11/10/2011 HĐQT đã chính thức báo cáo tới UBCK nhà nước

và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội về kết quả phát hành CP tăng vốn điều

lệ và hoàn thiện các thủ tục để xin cấp ĐKKD công ty cổ phần và ghi nhận

phần vốn 7.504.000.000 từ ngày 01/11/2011 tăng vốn điều lệ của công ty từ

11.256.000.000đ lên 18.760.000.000đ.

- Ngày 24/02/2012 Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội đã chấp thuận

cho 750.400 CP phát hành tăng vốn điều lệ năm 2011 giao dịch phiên đầu tiên

trên thị trường Upcom.

34

- Ngày 11/04/2014, Công ty cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị

Sơn Tây tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2014 và

bầu nhiệm kỳ mới (2014-2018) thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát

Công ty.

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của Công ty.

2.1.2.1. Chức năng

Chức năng kinh doanh chủ yếu của Công ty gồm các lĩnh vực như sau:

+ Thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt, chất thải rắn thông

thường đảm bảo vệ sinh môi trường.

+ Quản lý, vận hành hệ thống thoát nước đô thị

+ Quản lý, vận hành hệ thống đèn chiếu sáng, điện trang trí, đèn tín hiệu

giao thông.

+ Quản lý, duy trì công viên, vườn hoa, cây xanh, thảm cỏ, đường phố.

+ Quản lý nghĩa trang nhân dân làm các dịch vụ tang lễ.

+ Xây dựng, sửa chữa quy mô vừa và nhỏ các công trình đô thị: vỉa hè,

thoát nước, đường nội thị, điện chiếu sáng, vườn hoa, cây xanh, thảm cỏ…

+ Kinh doanh dịch vụ giải trí công viên.

+ Kinh doanh hoa, cây cảnh.

+Thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải công nghiệp, rác thải độc hại, xử

lý môi trường làng nghề

2.1.2.2. Đặc điểm về bộ máy quản lý của Công ty

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty là các phòng ban chức

năng, để đảm bảo sự thống nhất, tự chủ, phối hợp nhịp nhàng của các phòng

ban chức năng trong toàn Công ty với nhau. Với mô hình phân cấp chức năng

trong quản lý thì Công ty đã tận dụng được trí tuệ của các cá nhân giỏi trong

từng lĩnh vực cụ thể, giảm bớt được khối lượng công tác quản lý chung trong

35

toàn Công ty của Tổng giám đốc. Tuy nhiên với mô hình này, Công ty gặp

một số bất lợi trong quá trình quản lý đó là sẽ có người được giao cùng lúc

nhiều nhiệm vụ khác nhau cùng lúc do vậy hiệu quả công việc sẽ không cao,

không phù hợp với yêu cầu của người quản lý cấp cao. Bên cạnh đấy, với mô

hình phân cấp chức năng trong quản lý đã vi phạm nguyên tắc tập trung trong

một đầu mối quản lý của cấp lãnh đạo cao cấp. Cụ thể, mô hình tổ chức bộ

máy quản lý của Công ty như sau:

ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

Ban kiểm soát

Ban Giám đốc công ty

Phòng Kỹ Phòng Kế Phòng Kinh

Phòng Hành chính thuật và Điều toán – Tài doanh

hành sản xuất chính

Các Đội sản xuất

Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Công ty

+ Đại hội đồng cổ đông

Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty,

quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn được Điều lệ và Pháp

luật liên quan quy định. Đại hội đồng cổ đông có các quyền: thông qua, sửa

đổi, bổ sung Điều lệ, thông qua kế hoạch phát triển công ty, thông qua Báo

36

cáo tài chính hàng năm, báo cáo của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và của

Kiểm toán viên; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên của HĐQT, Ban kiểm

soát và các quyền khác được quy định tại Điều lệ công ty.

+ Hội đồng quản trị (HĐQT)

HĐQT là cơ quan quản trị của Công ty cổ phần Môi trường và công

trình đô thị Sơn Tây, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định các vấn

đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc

thẩm quyền Đại hội đồng cổ đông. HĐQT có các quyền như: quyết định cơ

cấu tổ chức, bộ máy của Công ty; quyết định chiến lược đầu tư, phát triển của

Công ty trên cơ sở các mục đích chiến lược do ĐHĐCĐ thông qua; bổ nhiệm,

miễn nhiệm, cách chức, giám sát hoạt động của Ban Tổng Giám đốc; kiến

nghị sửa đổi bổ sung Điều lệ, báo cáo tình hình kinh doanh hàng năm, Báo

cáo tài chính, quyết toán năm, phương án phân phối lợi nhuận và phương

hướng phát triển, kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh và ngân sách hàng

năm trình ĐHĐCĐ; và các quyền khác được quy định tại Điều lệ.

Bảng 2.1: Thành viên Hội đồng quản trị

STT Chức vụ Họ và tên

1 Chủ tịch Hà Ngọc Tản

2 P.Chủ tịch Lê Văn Thục

3 Ủy viên Lê Văn Vũ

4 Ủy viên Nguyễn Hồng Điệp

5 Ủy viên Nguyễn Xuân Huynh

(Nguồn: Báo cáo thường niên của Công ty các năm)

37

Hiện nay HĐQT của Công ty có 05 thành viên bao gồm 01 Chủ tịch

HĐQT và 04 thành viên HĐQT. Cơ cấu Hội đồng Quản trị hiện tại như bảng

2.1

+ Ban kiểm soát (BKS)

BKS do ĐHĐCĐ bầu ra gồm 3 thành viên, thay mặt cổ đông để kiểm

soát mọi hoạt động quản trị và điều hành sản xuất kinh doanh của Công ty.

BKS chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ và Pháp luật về những công việc thực

hiện theo quyền và nghĩa vụ như: kiểm tra sổ sách kế toán và Báo cáo tài

chính của Công ty, kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của các hoạt động sản xuất

kinh doanh và tài chính của công ty; kiểm tra việc thực hiện nghị quyết,

quyết định của HĐQT; trình ĐHĐCĐ báo cáo, thẩm tra các báo cáo tài chính

của công ty; đồng thời có quyền trình bày ý kiến độc lập của mình về kết quả

thẩm tra các vấn đề liên quan tới hoạt động kinh doanh, hoạt động của

HĐQT và Ban Giám đốc; các quyền khác được quy định tại Điều lệ công ty.

Cơ cấu BKS Công ty hiện tại như sau:

Bảng 2.2: Thành viên Ban kiểm soát của Công ty

STT Chức vụ Họ và tên

1 Trưởng ban Phan Văn Tiến

2 Thành viên Khiếu Minh Đồng

3 Thành viên Nguyễn Thị Vân Anh

(Nguồn: Báo cáo thường niên của Công ty các năm)

+ Ban Giám đốc Công ty

Giám đốc do HĐQT bổ nhiệm, chịu sự giám sát của HĐQT và chịu

trách nhiệm trước ĐHĐCĐ, HĐQT, và trước pháp luật về việc thực hiện

quyền và nhiệm vụ được giao. Giám đốc là người đại diện theo luật pháp của

công ty, có quyền: tổ chức điều hành, quản lý mọi hoạt động sản xuất của

38

công ty, và trình HĐQT các quy chế quản lý điều hành nội bộ, kế hoạch sản

xuất kinh doanh, kế hoạch tài chính hàng năm và dài hạn của công ty; đề nghị

HĐQT quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với phó

giám đốc, kế toán trưởng; thực hiện ký kết các hợp đồng theo quy định của

pháp luật, báo cáo cho HĐQT về tình hình hoạt động và kết quả hoạt động

sản xuất kinh doanh.; chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ, HĐQT và pháp luật về

những sai phạm gây ra tổn thất cho công ty; thực hiện các nghị quyết của

HĐQT và ĐHĐCĐ về kế hoạch kinh doanh và đầu tư của công ty.

Phó giám đốc có trách nhiệm hỗ trợ giám đốc điều hành hoạt động sản

xuất kinh doanh của Công ty.

Cơ cấu Ban giám đốc hiện nay như sau:

Bảng 2.3: Thành viên Ban giám đốc của Công ty

STT Chức vụ Họ và tên

1 Giám đốc Lê Văn Thục

2 Phó giám đốc Lê Văn Vũ

3 Phó giám đốc Phùng Thị Nhường

(Nguồn: Báo cáo thường niên của Công ty các năm)

+ Các phòng ban chức năng

Hiện tại, văn phòng công ty có 03 ban chuyên môn bao gồm:

- Bộ phận Hành chính – Tổ chức lao động – Tiền lương: tham mưu,

giúp việc cho HĐQT và Giám đốc công ty trong việc tổ chức thực hiện công

tác tuyển dụng, tổ chức cán bộ, đào tạo, lao động, tiền lương. Thừa lệnh Giám

đốc hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các đội sản xuất thực hiện chế độ chính

sách, quy định của Nhà nước trong lĩnh vực này.

- Bộ phận Tài chính – Kế toán: tham mưu cho Giám đốc trong lĩnh vực

tài chính, tổ chức công tác kế toán của toàn công ty theo đúng chính sách của

pháp luật; kiểm tra và hướng dẫn các đơn vị trực thuộc công ty triển khai thực 39

hiện các công tác nêu trên; nghiên cức và tham mưu cho lãnh đạo công ty về

kinh doanh, tài chính, tham gia thị trường chứng khoán, tìm kiếm và huy động

nguồn vốn từ trong và ngoài nước.

- Bộ phận Kế hoạch – Kỹ thuật – Quản trị dự án: phụ trách về kế

hoạch, kỹ thuật trong các mảng ngành nghề kinh doanh, các phương tiện, thiết

bị do công ty quản lý; trực tiếp quản lý, kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện

các tiêu chuẩn, quy trình quy phạm về kỹ thuật, bảo dưỡng, bảo quản, sửa

chữa phục vụ cho kinh doanh đạt kết quả cao nhất. Bên cạnh đó phải thiết lập,

bảo vệ và thực hiện các dự án kinh doanh cũng như thực hiện quản trị các dự

án để các dự án đạt kết quả tốt nhất.

Cơ cấu quản lý của Công ty theo mô hình công ty cổ phần tuy nhiên

quy mô tương đối nhỏ. Trình độ, kinh nghiệm của cán bộ quản lý còn chưa

thực sự tốt, chưa có sự phân cấp, phân công nhiệm vụ rõ ràng nên hiệu quả

quản lý tài chính, hiệu quả sử dụng vốn của Công ty chưa thực sự cao.

2.1.2.3. Đặc điểm ngành kinh doanh

Việt Nam hiện nay là một trong những nước đang phát triển và có tốc

độ tăng trưởng hàng năm cao. Từ năm 1990, cùng với những chuyển biến tích

cực về mặt kinh tế – xã hội mạng lưới đô thị quốc gia đã được mở rộng và

phát triển. Hiện nay, có hàng nghìn khu đô thi và hàng trăm khu công nghiệp

tập trung. Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa ở nước ta diễn ra mạnh nhất

ở 3 vùng trọng điểm phát triển kinh tế – xã hội Bắc, Trung, Nam.

Quá trình đô thị hóa nhanh đã có những ảnh hưởng đáng kể tới môi

trưởng và tài nguyên thiên nhiên, đến sự cân bằng sinh thái. Tài nguyên thiên

nhiên đất bị khai thác triệt để để xây dựng đô thị, làm giảm diện tích cây xanh

và mặt nước, gây ra úng ngập, cùng với như cầu nước phục vụ sinh hoạt, dịch

vụ, sản xuất, ngày càng tăng làm suy thoái tài nguyên nước; nhiều xí nghiệp,

nhà máy gây ô nhiễm môi trường lớn trước đây nằm ở ngoại thành, nay đã lọt

40

vào giữa các khu dân cư đông đúc, bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm

môi trường không khí và tiếng ồn nghiêm trọng… Chính vì vậy, các công

việc liên quan đến xây dựng, duy trì, bảo hành, bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế

các trang thiết bị công cộng và vệ sinh môi trường đóng vai trò rất quan trọng

trong sự nghiệp phát triển của khu đô thị, khu công nghiệp đó. Cùng với cuộc

sống công nghiệp hiện đại, các nhu cầu và các điều kiện vui chơi, giải trí giảm

bớt áp lực công việc, lấy lại thăng bằng, tái sản xuất sức lao động trong cuộc

sống cũng là một vấn đề người dân quan tâm. Chính phủ và chính quyền địa

phương đã đề ra nhiều giải pháp nhưng chưa đủ để xử lý các vấn đề ô nhiễm

tại các đô thị. Việc khắc phục, xử lý hậu quả do tác động xấu đến môi trường

cần rất nhiều thời gian, công sức và kinh tế. Chính vì vậy, các đơn vị hoạt

động trong lĩnh vực chuẩn bị, dự phòng, xử lý và khắc phục những ảnh hưởng

trong hiện tại và tương lại của thiên nhiên và môi trường đến con người ngày

càng được quan tâm, chú trọng phát triển lâu dài ở địa phương, lãnh thổ và

trên toàn thế giới.

Tuy nhiên, do đặc thù của ngành, các công việc hiện nay phần lớn dựa

vào sức lao động trực tiếp, một số ít được trang bị máy móc chuyện dụng để

phụ giúp người lao động, việc xử lý rác thải phần lớn là dùng biện pháp chôn

lấp ở xa các khu dân cư nên đòi hỏi đầu tư nhiều về diện tích và phương tiện

chuyên chở. Công việc nặng nhọc, độc hại, lao động trực tiếp trong các công

việc không đòi hỏi trình độ cao, nên Nhà nước và người dân chưa có sự quan

tâm đúng mức đối với lực lượng lao động này. Trong khi điều kiện kinh tế để

cơ giới hóa toàn bộ và chi phí để duy trì hoạt động của các phương tiện máy

móc này là rất tốn kém.

Trong gần 30 năm qua, công ty đã phấn đấu không ngừng để tồn tại, ổn

định và phát triển. Qua mỗi giai đoạn Công ty đã vượt qua nhiều khó khăn thử

thách để từng bước khẳng định vị thế của mình trong ngành Môi trường & đô

41

thị cũng như sự tín nhiệm của các khách hàng và các địa phương lân cận.

Công ty đã nhận được nhiều phần thưởng của Chính phủ, UBND các cấp. đặc

biệt là huân chương lao động hạng 3 và hạng 2 của Nhà nước tặng năm 2002

và 2007.

So với các doanh nghiệp trong ngành Môi trường & Công trình đô thị

thì công ty là một trong những công ty có bề dày hoạt động, có kinh nghiệm

trong hoạt động, quản trị và tiên phong việc cổ phần hóa, đăng ký giao dịch

cổ phiếu.

Tính đến thời điểm 31/12/2009 đội ngũ cán bộ công nhân viên của

công ty là 309 người.

Chiến lược kinh doanh hiện nay Công ty là đa dạng hóa các loại hình

dịch vụ theo hướng hiện đại hóa, phù hợp với xu thế của thị trường trong

nước, cũng như quy hoạch phát triển của ngành Môi trường & công trình đô

thị.

2.1.3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

Trong những năm gần đây, tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty nói

riêng và của các doanh nghiệp nói chung gặp nhiều khó khăn do những diễn

biến bất lợi từ tình hình bất ổn của nền kinh tế. Mặc dù vậy, nhờ sự phấn đấu,

nỗ lực của Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ nhân viên trong Công ty nên

Công ty vẫn đạt được những kết quả kinh doanh nhất định.

Tổng tài sản của Công ty những năm qua nhìn chung có xu hướng tăng

trưởng. Mặc dù năm 2014 có sự sụt giảm nhưng sự sụt giảm này không đáng

kể. Năm 2012, tổng tài sản của Công ty là 69798 triệu đồng thì tới năm 2013

tăng trưởng mạnh thêm 17,3% lên mức 81862 triệu đồng. Năm 2014 tổng tài

sản giảm nhẹ 1,4% còn 80744 triệu đồng. Nguyên nhân là do sụt giảm mạnh

tương ứng 23,4% trong giá tài sản dài hạn và đạt 10.060.038.286 đồng vào

cuối 2014. Như vậy, quy mô kinh doanh của Công ty đang được mở rộng.

42

đvt: Triệu đồng

Biểu đồ 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty một số năm gần đây

Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty năm 2011-2014

Về kết quả kinh doanh qua doanh thu và lợi nhuận của Công ty các

năm qua như sau: Năm 2012, tổng doanh thu thuần đạt được là 103088 triệu

đồng và lợi nhuận kế toán trước thuế là 26232 triệu đồng. Năm 2013, tổng

doanh thu thuần tăng khá ở mức 10,2% đạt 113618 triệu đồng và lợi nhuận kế

toán trước thuế tăng thêm 18,4% đạt mức 31.060 triệu đồng. Tuy nhiên năm

2014, doanh thu của Công ty lại sụt giảm khá ở mức 18,8% chỉ còn 92.258

triệu đồng. Lợi nhuận của Công ty theo đó cũng sụt giảm mạnh mẽ với 41,7%

chỉ còn 18.102 triệu đồng.

Để có được những thành công trên, Công ty đã áp dụng nhiều biện

pháp quản trị hiệu quả:

 Xây dựng kế hoạch hoạt động năm, quý, tháng

 Báo cáo trong các buổi họp giao ban hàng tuần

 Báo cáo lãnh đạo khi có vấn đề phát sinh cần chỉ đạo giải quyết.

 HĐQT, ban điều hành đã luôn chủ động trong việc ký kết các

hợp đồng đặt hang cung cấp các dịch vụ đô thị với Thị xã Sơn Tây,

Huyện Phúc Thọ, Ban duy tu các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị

43

thành phố Hà Nội và một số cơ quan đơn vị khác. Do đó công tác điều

hành SXKD luôn chủ động tạo điều kiện mở rộng địa bàn sản xuất, thu

hút thêm lao động. HĐQT và Ban giám đốc luôn triệt để nêu cao tinh

thần triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí để góp phần giảm chi

phí, nâng cao hiệu quả SXKD.

2.2. THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY

2.2.1. Thực trạng về vốn

Trong các năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinh

doanh nhưng Công ty không ngừng gia tăng quy mô vốn nhằm tăng năng lực

kinh doanh. Cụ thể như sau:

Năm 2012, mặc dù hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn nhưng

Công ty vẫn gia tăng được quy mô kinh doanh, tổng vốn bình quân của Công

ty năm này tăng thêm 5,2% so với năm trước, đạt mức 57.244 triệu đồng.

Trong năm 2013, năng lực kinh doanh của Công ty tăng trưởng mạnh,

tổng vốn bình quân của Công ty trong năm này tăng thêm 32,5% tương ứng

với 18.586 triệu đồng. Tổng vốn vốn bình quân của Công ty trong năm này

đạt mức là 75.830 triệu đồng.

đvt: triệu đồng

44

Biểu đồ 2.2: Tăng trưởng quy mô vốn của Công ty

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)

Trong năm 2014, năng lực kinh doanh của Công ty vẫn duy trì đà tăng

trưởng nhưng tốc độ tăng trưởng đã giảm, tổng vốn bình quân của Công ty

trong năm này tăng thêm 7,2% tương ứng với 5473 triệu đồng. Tổng vốn vốn

bình quân của Công ty trong năm này đạt mức là 81303 triệu đồng.

Tăng trưởng quy mô vốn nhưng nhìn chung cơ cấu tài sản của Công ty

tương đối ổn định, tài sản ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn hơn tài sản dài

hạn. Cụ thể như sau:

Năm 2012, tài sản ngắn hạn của Công ty là 41.163 triệu đồng, chiếm tỷ

trọng 72% trong khi đó tài sản dài hạn của Công ty là 16.081 triệu đồng chỉ

chiếm tỷ trọng 28%.

Bảng 2.4: Cơ cấu tài sản của Công ty qua các năm

đvt: triệu đồng

2012 2013 2014

Chỉ tiêu Tỷ Tỷ Số Tỷ Số tiền Số tiền trọng trọng tiền trọng

Tổng tài sản bình quân 57244 100% 75830 100% 81303 100%

45

Tài sản ngắn hạn bình quân 41163 72% 60646 80% 60705 75%

Tài sản dài hạn bình quân 16081 28% 15184 20% 20598 25%

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)

Năm 2013, tổng tài sản ngắn hạn của Công ty trong năm này tăng lên

60.646 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 80%. Tài sản dài hạn bình quân là 15.184

triệu đồng, chiếm tỷ trọng 20%.

Năm 2014, tổng tài sản ngắn hạn của Công ty trong năm này hầu như

không biến động trong khi tài sản dài hạn bình quân tăng nên cơ cấu tài sản

có sự thay đổi. Tài sản ngắn hạn bình quân tỷ trọng giảm chỉ còn 75%. Tài

sản dài hạn tăng mạnh nên tỷ trọng tăng lên mức 25%.

Mặc dù, cơ cấu tài sản của Công ty có sự dịch chuyển theo hướng tích

cực hơn, gia tăng tỷ trọng tài sản dài hạn, nhằm gia tăng năng lực kinh doanh

nhưng nhìn chung quy mô tài sản dài hạn còn hạn chế nên ảnh hưởng tới đến

hiệu quả kinh doanh của Công ty.

Xem xét cơ cấu nguồn vốn huy động của Công ty, những năm qua cơ

cấu nguồn vốn của Công ty có xu hướng tăng dần tỷ trọng nguồn vốn chủ sở

hữu, gia tăng mức độ độc lập về tài chính cho Công ty. Năm 2012, vốn chủ sở

hữu chiếm 55%, ở mức 31.431 triệu đồng. Trong khi đó vốn vay là 25.813

triệu đồng, chiếm 45%.

Bảng 2.5: Cơ cấu nguồn vốn của Công ty qua các năm

đvt: triệu đồng

2012 2013 2014

Tỷ Tỷ Số Tỷ

Chỉ tiêu Số tiền trọng Số tiền trọng tiền trọng

Tổng tài sản bình quân 57244 100% 75830 100% 81303 100%

Vốn chủ sở hữu bình quân 31431 55% 51420 68% 62430 77%

Nợ vay bình quân 25813 45% 24410 32% 18873 23%

46

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)

Năm 2013, vốn chủ sở hữu bình quân tăng lên mức 51.420 triệu đồng,

chiếm 68%, nợ vay bình quân là 24.410 triệu đồng chiếm 32%. Năm 2014, tỷ

trọng vốn chủ sở hữu bình quân tiếp tục tăng lên mức 77%, đạt 62.430 triệu

đồng. Nợ vay bình quân chỉ chiếm 23%, ở mức 18.873 triệu đồng.

Mặc dù tỷ trọng vốn chủ sở hữu cao làm gia tăng mức độ tự chủ về tài

chính nhưng lại ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.

2.2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn

2.2.2.1 Hiệu quả sử dụng vốn

Thứ nhất, hiệu quả sử dụng tổng vốn

Bảng 2.6: Tỷ suất lợi nhuận tổng vốn Công ty qua các năm

đvt: triệu đồng

Chỉ tiêu 2012 2013 2014

Vốn bình quân 57244 75830 81303

Lợi nhuận trước thuế 26232 31060 18102

Tỷ suất lợi nhuận vốn 45.8% 41.0% 22.3%

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)

Năm 2012, cứ 100 đồng vốn tạo ra 45,8 đồng lợi nhuận trước thuế. Tuy

nhiên, tỷ suất này giảm dần từ năm 2013. Năm 2013, tỷ suất lợi nhuận vốn

đạt 41% và đặc biệt sụt giảm mạnh theo đà giảm của lợi nhuận trước thuế

năm 2014 chỉ còn 22,3%.

Thứ hai, hiệu quả chi tiết theo cấu trúc vốn

Một là, hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khác nhau nên các năm qua hiệu

quả sử dụng vốn lưu động của Công ty đang có xu hướng giảm xuống, điều

này được biểu hiện thông qua sự sụt giảm của các chỉ tiêu vòng quay vốn lưu

47

động và tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động, sự tăng lên của chỉ tiêu hệ số đảm

nhiệm vốn lưu động.

- Vòng quay vốn lưu động: Vòng quay vốn lưu động của Công ty giảm

chứng tỏ vốn lưu động của công ty qua các năm chậm luân chuyển hơn, ít tạo

ra doanh thu hơn. Cụ thể như sau:

Năm 2012, vốn lưu động của Công ty trong năm quay được 2,5 vòng

tức là cứ 1 đồng vốn lưu động thì tạo ra 2,5 đồng doanh thu thuần.

Năm 2013, vốn lưu động trong năm này chỉ quay được 1,87 vòng, tức

là cứ 1 đồng vốn lưu động chỉ tạo ra được 1,87 đồng doanh thu thuần. (giảm

25,19%).

Năm 2014, vốn lưu động trong năm của Công ty tiếp tục giảm vòng

quay chỉ còn 1,52 vòng (tương ứng mức giảm 18,88%). Trong năm này 1

đồng vốn lưu động đưa vào sản xuất kinh doanh chỉ tạo ra 1,52 đồng doanh

thu thuần.

- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu đồng của Công ty tăng qua các năm.

Năm 2012, để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần, Công ty phải bỏ ra 0,4

đồng vốn lưu động thì tới năm 2013 phải bỏ ra 0,53 đồng vốn lưu động và

2014 phải bỏ ra 0,66 đồng vốn lưu động.

Bảng 2.7: Hiệu quả sử dụng vốn lưu đồng

đvt: triệu đồng

Chỉ tiêu 2012 2013 2014

Doanh thu thuần 103088 113618 92258

Vốn lưu động bình quân 41163 60646 60705

Lợi nhuận trước thuế 26232 31060 18102

Vòng quay vốn lưu động 2.50 1.87 1.52

Mức đảm nhiệm vốn lưu động 0.40 0.53 0.66

Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động 63.7% 51.2% 29.8%

48

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)

- Tỷ suất lợi nhuận trước thuế vốn lưu động cũng sụt giảm.

Năm 2012, cứ 100 đồng vốn lưu động thì tạo ra 63,7 đồng lợi nhuận

trước thuế.

Năm 2013, cứ 100 đồng vốn lưu động thì tạo ra 51,2 đồng lợi nhuận

trước thuế.

Năm 2014, cứ 100 đồng vốn lưu động chỉ tạo ra 29, đồng lợi nhuận

trước thuế.

Sự sụt giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở trên là do sự biến động

không đồng đều của các chỉ tiêu vốn lưu động bình quân, doanh thu thuần và

lợi nhuận trước thuế.

Năm 2012, doanh thu thuần của Công ty và lợi nhuận trước thuế đều có

xu hướng gia tăng. Năm 2012, tổng doanh thu thuần đạt được là 103088 triệu

đồng (tăng 68,17%) và lợi nhuận kế toán trước thuế là 26232 triệu đồng (tăng

gấp 1,2 lần). Trong khi đó vốn lưu động bình quân của Công ty này ở mức

thấp. Điều này đã giúp cho vòng quay vốn lưu động và tỷ suất lợi nhuận vốn

lưu động trong năm này ở mức cao nhất, hệ số đảm nhiệm vốn lưu động ở

mức thấp.

đvt: triệu đồng

Biểu đồ 2.3: Vốn lưu động bình quân của Công ty qua các năm

49

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)

Năm 2013, vốn lưu động bình quân của Công ty tăng mạnh thêm 47%,

đạt mức 60.646 triệu đồng. Trong khi đó lợi nhuận trước thuế và doanh thu

thuần của Công ty chỉ tăng nhẹ (18,8% và 10,2%). Điều này đã làm cho hiệu

quả sử dụng vốn lưu động của Công ty có xu hướng giảm trong năm này. Vấn

đề bảo vệ môi trường hàng năm luôn được các cơ quan Trung Ương, các Bộ,

Các Ban ngành quan tâm và thường xuyên có các hướng chỉ đạo tới các bộ

phận ở cấp dưới, các doanh nghiệp trong ngành nâng cao ý thức giữ gìn và cải

tạo môi trường nên cơ hội để các doanh nghiệp ngành môi trường phát triển

các dịch vụ của mình là rất lớn, Đặc biệt, trong điều kiện Sơn Tây nay đã sáp

nhập vào thành phố Hà Nội thì Công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô

thị Sơn Tây nói riêng có rất nhiều thuận lợi để phát triển thị trường, gia tăng

doanh thu trong năm này. Địa bàn sản xuất kinh doanh và các nhiệm vụ thực

hiện nhìn chung ổn định, Việc quản lý duy trì Khu xử lý rác Xuân Sơn cũng

bắt đầu quen dần với phương thức nghiệm thu thanh quyết toán của Ban Duy

tu, Sở xây dựng Thành phố Hà Nội. Các gói hàng năm 2013 ký được hợp

đồng ngay từ những ngày đầu năm nên công ty đã chủ động phối hợp chặt chẽ

với chính quyền, các phòng chuyên môn ở địa phương và Ban duy tu Sở xây

dựng để tổ chức sản xuất kinh doanh theo dự kiến đặt hàng, Điều hành sản

xuất với các biện pháp tổ chức tích cực do vậy quá trình sản xuất luôn ổn định

từ đầu năm đến cuối năm không bị gián đoạn.

Tài sản lưu động của Công ty năm 2013 có sự biến động khá mạnh ở số

cuối năm so với đầu năm. Cuối năm so với đầu năm tài sản lưu động đã tăng

34,4%. Trong đó chủ yếu nguyên nhân là do tiền và các khoản tương đương

tiền tăng mạnh với 48,9%. Tiền và tương dương tiền tính đến cuối năm 2013

là 45.096 triệu đồng (chiếm tỷ trọng 63,78%). Trong đó chủ yếu là các khoản

tương đương tiền. Nợ phải thu cũng tăng khá với 22%, cuối năm ở mức

50

25.014 triệu đồng. Trong đó gia tăng chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn là nợ phải

thu của khách hàng, ngoài ra nợ phải thu khác tăng mạnh trong năm 2013

này. Trong năm 2013 này phát sinh khỏa nợ phải thu lớn của Ban đầu tư xây

dựng thị xã Sơn tây là 17.494 triệu đồng và của Ban duy tu Sở xây dựng là

1.864 triệu đồng. Công ty không phải chịu rủi ro tỷ giá ngoại hối do không

phát sinh các giao dịch mua bán sử dụng ngoại tệ khác đồng Việt Nam.

Bảng 2.8: Biến động tài sản ngắn hạn của Công ty năm 2013

đvt: triệu đồng

Chỉ tiêu 31/12/2012 31/12/2013 Cuối năm/đầu năm

148.9% Tiền và tương đương tiền 30293 45096

122.0% Các khoản phải thu ngắn hạn 20506 25014

28.4% Hàng tồn kho 1637 465

83.7% Tài sản ngắn hạn khác 153 128

134.4% Tổng 52589 70703

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)

Công ty không có rủi ro lãi suất khi khoản tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn

dưới 3 tháng có lãi suất ổn định.

Năm 2014, vốn lưu động bình quân chỉ tăng nhẹ nhưng doanh thu

thuần của Công ty và lợi nhuận trước thuế trong năm này sụt giảm khá mạnh

nên làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Doanh thu của Công ty lại sụt

giảm khá ở mức 18,8% chỉ còn 92.258 triệu đồng. Lợi nhuận của Công ty

theo đó cũng sụt giảm mạnh mẽ với 41,7% chỉ còn 18.102 triệu đồng. Do chi

phí kinh doanh của Công ty trong năm này tăng khá mạnh. Mặc dù doanh thu

thuần giảm nhưng giá vốn hàng bán của Công ty lại tăng 4,05% đã làm cho

lợi nhuận trước thuế của Công ty giảm sâu. Trong năm này, giá cả nguyên vật

liệu tăng nhanh, trong khi đơn giá đặt hàng chưa thay đổi phù hợp giá cả thị

51

trường. Thời tiết diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến việc tiếp nhận và xử lý

rác.

Hai là, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định

Hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty các năm qua ở mức khá.

Tuy nhiên lại có xu hướng sụt giảm mạnh trong năm 2014.

- Hiệu suất sử dụng vốn cố định:

Năm 2012, hiệu suất sử dụng vốn cố định là 6,41 lần tức là 1 đồng vốn cố

định tạo ra được 6,41 đồng doanh thu thuần. Trong năm 2013, nhờ sự gia tăng

mạnh của doanh thu thuần, trong khi vốn cố định hầu như không đổi nên hiệu

suất sử dụng vốn cố định tăng khá. Trong năm này 1 đồng vốn cố định đưa

vào sản xuất kinh doanh tạo ra 7,48 đồng doanh thu thuần. Tuy nhiên năm

2014, hiệu suất sử dụng vốn cố định của Công lại giảm mạnh. Trong năm này

1 đồng vốn cố định đưa vào sản xuất kinh doanh chỉ tạo ra được 4,48 đồng

doanh thu thuần. Điều này là do doanh thu thuần trong năm sụt giảm trong

khi đó vốn cố định bình quân lại tăng khá với hơn 30%.

Bảng 2.9: Hiệu quả sử dụng vốn cố định

đvt: triệu đồng

Chỉ tiêu 2012 2013 2014

Doanh thu thuần 103088 113618 92258

Vốn cố định bình quân 16081 15184 20598

Lợi nhuận trước thuế 26232 31060 18102

Hiệu suất sử dụng vốn cố định 6.41 7.48 4.48

Hàm lượng vốn cố định 0.16 0.13 0.22

Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định 163.1% 204.6% 87.9%

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)

52

- Hàm lượng vốn cố định của Công ty theo đó cũng có sự biến động

không đều giữa các năm. Năm 2012, hàm lượng vốn cố định là 0,16 lần thì

năm 2013 lại giảm còn 0,13 lần và năm 2014 lại tăng lên là 0,22 lần.

- Do sự biến động của vốn cố định bình quân và lợi nhuận nên tỷ suất

lợi nhuận vốn cố định cũng biến động không đều giữa các năm. Do vốn cố

định của Công ty chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ nên tỷ suất lợi nhuận vốn cố định

của Công ty luôn ở mức cao. Tỷ trọng vốn cố định năm 2012 là 28,1%; năm

2013 là 20% và năm 2014 là 25,3%.

Năm 2012, tỷ suất lợi nhuận vốn cố định của Công ty là 163,1% thì tới

năm 2013 do sự tăng mạnh của doanh thu thuần và lợi nhuận trong khi vốn cố

định bình quân lại giảm nên tỷ suất lợi nhuận vốn cố định tăng mạnh lên

204,6%. Tuy nhiên năm 2014, do vốn cố định bình quân tăng trong khi lợi

nhuận lại sụt giảm nên tỷ suât lợi nhuận vốn cố định giảm khá nhiều chỉ còn

87,9%.

Tài sản cố định của Công ty hiện nay chủ yếu là phương tiện vận tải.

Ngoài ra còn có nhà của vật kiến trúc và thiết bị quản lý, tài sản cố định công

cộng được Nhà nước giao quản lý. Tuy nhiên, tài sản cố định của Công ty

những năm qua nhìn chung ít được quan tâm đầu tư và mở rộng nhằm hiện

đại hóa sản xuất kinh doanh, gia tăng năng lực sản xuất.

Ba là, hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu

Trong các năm qua, hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của Công ty nhìn

chung đang có xu hướng giảm sút khá mạnh. Nếu như năm 2012, cứ 100

đồng vốn chủ sở hữu tạo ra 62,6 đồng lợi nhuận sau thuế thì tới năm 2013 tỷ

lệ này chỉ còn 45 đồng lợi nhuận sau thuế. Mặc dù trong năm 2013, lợi nhuận

sau thuế của Công ty tăng khá nhưng vốn chủ sở hữu trong năm này cũng

tăng mạnh nên tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sỡ hữu đã giảm. Đặc biệt trong năm

2014, lợi nhuận sau thuế của Công ty sụt giảm khá mạnh, trong khi vốn chủ

53

sở hữu tiếp tục gia tăng nên tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sỡ hữu trong năm này

giảm mạnh chỉ còn 21.7%. Điều này cho thấy bên cạnh nguyên nhân lợi

nhuận biến động thì một nguyên nhân khác nữa tác động tới tỷ suất lợi nhuận

vốn chủ sỡ hữu của Công ty là do hệ số nợ của Công ty ở mức thấp nên không

khuếch đại được tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sỡ hữu.

Bảng 2.10: Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu

đvt: triệu đồng

Chỉ tiêu 2012 2013 2014

Lợi nhuận sau thuế 19674 23295 13576.5

Vốn chủ sở hữu bình quân 31431 51420 62430

Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sỡ hữu 62.6% 45% 21.7%

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)

Bốn là, hiệu quả sử dụng vốn vay

Bảng 2.11: Hiệu quả sử dụng vốn vay

đvt: triệu đồng

Chỉ tiêu 2012 2013 2014

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay 26255.4 31061.9 18103.2

Nợ vay bình quân 25813 24410 18873

Tỷ suất lợi nhuận vốn vay 101.7% 127% 95.9%

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)

Do Công ty sử dụng nợ vay tương đối thấp trong vốn nên hiệu quả sử

dụng vốn vay cấc năm qua đạt được tương đối cao, tuy nhiên lại có xu hướng

biến động qua các năm do lợi nhuận biến động.

Năm 2012, cứ 100 đồng vốn vay đưa vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra

101,7 đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Năm 2013, lợi nhuận trước thuế

và lãi vay tăng khá, trong khi nợ vay bình quân giảm nhẹ nên tỷ lợi nhuận vốn

vay năm này tăng cao lên 127%. Tuy nhiên năm 2014 mặc dù nợ vay bình

54

quân tiếp tục giảm nhưng lợi nhuận trước thuế và lãi vay giảm mạnh nên tỷ

lợi nhuận vốn vay giảm chỉ còn 95,9%.

2.2.2.2 Hiệu quả sử dụng tài sản

Thứ nhất, hiệu quả sử dụng tổng tài sản

Năm 2012, tài sản của Công ty quay được 1,8 vòng, tức là 1 đồng tài sản đưa

và sản xuât kinh doanh tạo ra được 1,8 đồng doanh thu thuần.

Năm 2013, tài sản của Công ty quay được 1,5 vòng, tức là 1 đồng tài

sản đưa và sản xuât kinh doanh tạo ra được 1,5 đồng doanh thu thuần. Sự sụt

giảm này là mặc dù doanh thu thuần tăng nhưng tốc độ tăng của doanh thu

thấp hơn tốc độ tăng của tài sản bình quân (tài sản bình quân tăng 32,5%).

Năm 2014, doanh thu của Công ty sụt giảm mạnh, trong khi tài sản

bình quân vẫn tăng thêm 7,2%. Chính vì vậy 1 đồng tài sản bình quân đưa

vào sản xuất, kinh doanh chỉ tạo ra được 1,13 đồng doanh thu thuần.

Bảng 2.12: Hiệu quả sử dụng tổng tài sản

đvt: triệu đồng

Chỉ tiêu 2012 2013 2014

Doanh thu thuần 103088 113618 92258

Tổng tài sản bình quân 57244 75830 81303

Vòng quay tổng tài sản 1.80 1.50 1.13

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)

Thứ hai; Hiệu quả quản lý hàng tồn kho

Vòng quay hàng tồn kho của Công ty các năm qua đều có sự gia tăng

mạnh mẽ. Điều này chứng tỏ hiệu quả quản lý hàng tồn kho của Công ty khá

tốt. Trong khi giá vốn hàng bán không ngừng gia tăng qua các năm thì hàng

tồn kho bình quân của Công ty lại giảm mạnh.

Bảng 2.13: Vòng quay hàng tồn kho của Công ty qua các năm

đvt: triệu đồng

55

Chỉ tiêu 2012 2013 2014

Giá vốn hàng bán 71630 74390 77035

Hàng tồn kho bình quân 1614 1051 613

Số vòng quay hàng tồn kho 44.4 70.8 125.7

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)

Năm 2012, giá vốn hàng bán của Công ty là 71.630 triệu đồng, hàng

tồn kho bình quân là 1.614 triệu đồng nên số vòng quay hàng tồn kho năm

này là 44,4 lần.

Năm 2013, giá vốn hàng bán của Công ty là 74390 triệu đồng, tăng

thêm 3,9%. Hàng tồn kho bình quân của Công ty giảm 34,9% còn 1.051 triệu

đồng. Do vậy, vòng quay hàng tồn kho trong năm này tăng khá mạnh lên 70,8

lần.

Bảng 2.14: Tỷ trọng hàng tồn kho trong tài sản ngắn hạn

đvt: triệu đồng

Chỉ tiêu 31/12/2012 31/12/2013 31/12/2014

Hàng tồn kho 1637 465 762

Tổng tài sản ngắn hạn 52589 70703 70684

Tỷ trọng hàng tồn kho 3.1% 0.7% 1.1%

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)

Năm 2014, giá vốn hàng bán của Công ty tiếp tục tăng 3,6% lên mức

77.035 triệu đồng. Trong khi đó, hàng tồn kho bình quân tiếp tục giảm mạnh

còn 613 triệu đồng (giảm 41,7%). Chính vì vậy, vòng quay hàng tồn kho của

Công ty tăng lên 125,7 vòng.

Vòng quay hàng tồn kho của Công ty ở mức cao, một phần là do đặc

thù hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, hàng tồn kho chỉ chiếm tỷ

trọng rất nhỏ trong tài sản lưu động. Tỷ trọng hàng tồn kho chỉ dao động từ

56

0,7% tới 3,1% tùy các năm, trong đó hàng tồn kho chủ yếu tồn tại dưới dạng

là thành phẩm và nguyên vật liệu.

Thứ ba; Hiệu quả quản lý các khoản phải thu của khách hàng

Bảng 2.15: Hiệu quả quản lý các khoản phải thu của khách hàng

đvt: triệu đồng

Chỉ tiêu 2012 2013 2014

Doanh thu có thuế 108242 119299 96870.9

Các khoản phải thu khách hàng bình quân 18363 20782 25644

Số vòng quay các khoản phải thu khác hàng 5.9 5.7 3.8

Kỳ thu tiền bình quân 61.07 62.71 95.30

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)

Nhìn chung, chính sách quản lý các khoản phải thu của khách hàng khá

ổn định trong năm 2013 và 2012. Điều này biểu hiện qua số vòng quay các

khoản phải thu của khách hàng và kỳ thu tiền bình quân trong hai năm này

khá ổn định.

Năm 2012, số vòng quay các khoản phải thu của khách hàng là 5,9

vòng, kỳ thu tiền trung bình là 61,07 ngày. Các khoản phải thu trong năm này

tương đối ổn định đầu năm so với cuối năm.

Năm 2013, doanh thu của Công ty tăng khá mạnh, do vậy, trong năm

này Công ty phát sinh thêm một số khoản phải thu. Trong đó, chủ yếu là

khoản phải thu từ Ban đầu tư xây dựng thị xã Sơn tây hơn 17 tỷ đồng và Ban

duy tu sở xây dựng hơn 1,8 tỷ đồng. Tuy nhiên, khoản phải thu của một số

khách hàng khác lại giảm như BQL vốn sự nghiệp thị xã Sơn Tây giảm gần

14 tỷ đồng. Chính vì vậy, vòng quay khản phải thu trong năm này chỉ biến

động nhẹ là 5,7 vòng với kỳ thu tiền trung bình là 62,71 ngày.

Năm 2014, doanh thu của Công ty giảm khá nhiều nhưng các khoản

phải thu của khách hàng bình quân lại tăng lên 25.644 triệu đồng. Trong đó,

57

có những khách hàng tiếp tục phát sinh khoản phải khá cao như Ban duy tu sở

xây dựng hơn 9,7 tỷ đồng, Phòng tài nguyên môi trường huyện Phúc Thọ 4,9

tỷ đồng,…. Có những khoản phải thu kéo dài từ năm trước mà Công ty vẫn

chưa thu được tiền như khoản nợ của Hợp tác xã Thành Công là 18 triệu

đồng. Điều này cho thấy hiệu quả quản lý khoản phải thu của khách hàng

trong năm này đã giảm. Số vòng quay khoản phải thu giảm chỉ còn 3,8 vòng

và kỳ thu tiền bình quân tăng lên 95,3 ngày.

Thứ tư, hiệu quả sử dụng tài sản cố định

Do doanh thu thuần của Công ty các năm qua biến động không đều nên

hiệu suất sử dụng tài sản cố định của Công ty cũng biến động không đồng đều

và có xu hướng giảm trong năm 2014. Cụ thể như sau: Năm 2012, 1 đồng

nguyên giá TSCĐ tạo ra được 2,52 đồng doanh thu thuần thì tới năm 2013, do

doanh thu thuần tăng khá nên hiệu suất này tăng lên mức 2,58 đồng. Trong

năm 2013 này Công ty cũng chú trọng đầu tư thêm các TSCĐ phục vụ gia

tăng năng lực sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, năm 2014, không có sự biến

động nào về nguyên giá TSCĐ, trong khi doanh thù thuần của Công ty giảm

mạnh đã làm cho hiệu suất sử dụng TSCĐ của Công ty giảm chỉ còn 2,1 lần.

Bảng 2.16: Hiệu suất sử dụng tài sản cố định

đvt: triệu đồng

Chỉ tiêu 2012 2013 2014

Doanh thu thuần 103088 113618 92258

Nguyên giá tài sản cố định bình quân 40963 44024 43882

Hiệu suất sử dụng tài sản cố định 2.52 2.58 2.10

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)

2.2.2.3 Hiệu quả hoạt động

Thứ nhất, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu

58

Nếu như năm 2012, trong 100 đồng doanh thu có 25,4 đồng lợi nhuận

trước thuế thì tới năm 2013 tỷ suất lợi nhuận doanh thu tăng khá. Trong năm

này 100 đồng doanh thu thuần có 27 đồng lợi nhuận trước thuế. Nguyên nhân

là do doanh thu thuần trong năm này tăng khá mạnh, nhưng lợi nhuận trước

thuế lại tăng với tốc độ nhanh hơn.

Tuy nhiên, tới năm 2014, do doanh thu thuần của Công ty giảm mạnh,

trong khi lợi nhuận trước thuế cũng giảm sâu nên tỷ suất lợi nhuận doanh thu

của Công ty sụt giảm thấp nhất trong ba năm chỉ còn 19,6%.

Bảng 2.17: Tỷ suất lợi nhuận doanh thu

đvt: triệu đồng

Chỉ tiêu 2012 2013 2014

Lợi nhuận trước thuế 26232 31060 18102

Doanh thu thuần 103088 113618 92258

Tỷ suất lợi nhuận doanh thu 25.4% 27% 19.6%

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)

Thứ hai, khả năng chi trả lãi vay

Do Công ty sử dụng tỷ trọng nợ vay trong tổng vốn tương đối thấp nên

hệ số chi trả nợ vay của Công ty rất cao trong các năm qua. Lãi vay phải trả

năm 2012 cao nhất là 23 triệu đồng, trong khi lợi nhuận trước thuế và lãi vay

là 26255.4 triệu đồng, cao gấp 1.122 lần so với lãi vay phải trả. Năm 2013 và

2014 lãi vay phải trả của Công ty giảm còn rất thấp, 1,9 triệu đồng và 1,2

triệu đồng.

2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI

CÔNG TY

2.3.1. Những kết quả đạt được

- Mặc dù trong những năm qua, Công ty chịu không ít tác động của nền

kinh tế cũng như các rủi ro khác nhưng Công ty vẫn đảm bảo hoạt động sản

59

xuất kinh doanh có những kết quả khá khả quan. Công ty vẫn làm ăn có lãi,

đạt doanh thu và lợi nhuận nhất định.

- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty các năm qua đạt mức khá

trong năm 2012 và 2013. Đặc biệt năm 2013, mức tăng trưởng hiệu quả sử

dụng vốn lưu động khá cao.

- Hiệu quả sử dụng vốn vay của Công ty đạt mức tương đối cao, trong

khi đó hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu cũng ở mức khá.

- Chấp hành đúng chế độ chính sách của Nhà nước và xã hội. Thực

hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước; đảm bảo cuộc sống cho cán bộ

công nhân viên ngày càng được nâng cao.

- Các khoản phải thu khách hàng của Công ty chiếm tỷ trọng nhỏ, điều

này cho thấy những nỗ lực và quyết tâm của công ty trong công tác thu hồi

nợ, đặc biệt là nợ khó đòi.

- Công tác tiêu thụ hàng tồn kho cũng có những biến chuyển đáng ghi

nhận. Hàng tồn kho của Côn ty ở mức thấp nên hiệu quả quản lý hàng tồn kho

của Công ty luôn ở mức cao.

- Hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty ở mức cao và đặc biệt tăng

mạnh trong năm 2013.

- Vòng quay tổng vốn của Công ty và tỷ suất lợi nhuận vốn của Công

ty đạt mức khá.

- Công ty luôn đảm bảo khả năng thanh toán lãi vay ở mức khá cao, do

tỷ trọng sử dụng vốn vay của Công ty liên tục giảm các năm qua, lãi vay phải

trả không đáng kể.

2.3.2. Những tồn tạị và nguyên nhân

2.3.2.1. Những tồn tại

Mặc dù hoạt động kinh doanh sau cổ phần hoá đang dần ổn định và đạt

được một số kết quả trên nhưng những hạn chế về quản lý và sử dụng vốn

60

trong công ty chưa được khắc phục nên hiệu quả sử dụng vốn trong thời gian

qua còn nhiều hạn chế:

- Doanh thu và lợi nhuận của Công ty biến động không đều qua các

năm. Đặc biệt năm 2014, doanh thu và lợi nhuận của Công ty đã giảm khá

nhiều.

- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty bị sụt giảm khá mạnh

trong năm 2014. Trong khi đó, quản lý tiền của Công ty còn chưa tốt. Các

khoản tiền còn chiếm tỷ trọng lớn gây nên ứ đọng vốn và giảm hiệu quả kinh

doanh của Công ty.

- Hiệu quả quản lý hàng tồn kho cũng không đều, trong năm 2014, hiệu

quả quản lý hàng tồn kho giảm.

- Hiệu quả quản lý các khoản phải thu cũng không đều giữa các năm.

Đặc biệt năm 2014, hiệu quả quản lý khoản phải thu của khách hàng sụt giảm.

Công ty có phát sinh nhiều các khoản phải thu lớn, có tồn tại khoản phải thu

khó đòi.

- Hiệu quả quản lý vốn cố định của Công ty có sự sụt giảm. Tài sản cố

định của Công ty còn chiếm tỷ trọng thấp, giá trị chưa cao, thiếu các máy móc

thiết bị tiên tiến, hiện đại, chưa được quan tâm đầu tư, đổi mới nâng cao năng

lực sản xuất kinh doanh.

- Các chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả sử dụng tổng vốn đều có xu hướng

giảm trong năm 2014.

- Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của Công ty các năm qua có xu

hướng giảm do Công ty sử dụng ít nợ vay trong tổng vốn nên mức độ tác

động của đòn bảy tài chính không lớn.

- Năm 2014, lợi nhuận sụt giảm nên tỷ suất lợi nhuận doanh thu của

Công ty cũng giảm mạnh, gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả sử dụng vốn.

2.3.2.2. Nguyên nhân

61

Thứ nhất; Nguyên nhân khách quan

- Ảnh hưởng của tình hình kinh tế

Năm 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức

Thương mại thế giới (WTO), do đó, những biến động của kinh tế toàn cầu sẽ

có ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam.

Năm 2013, kết thúc với những dấu hiệu được cải thiện khá hơn so với năm

2012. Tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt 5,42% gần mục tiêu 5,5% và cao hơn

con số 5,25% năm 2012. Tuy nhiên, nền kinh tế còn tồn tại nhiều khó khăn,

bất cập chưa được giải quyết gây áp lực lớn cho kinh doanh như: hàng tồn

kho ở mức cao, sức mua yếu, tỷ lệ nợ xấu ngân hàng ở mức đáng lo ngại,

nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, dừng hoạt động hoặc giải thể...

Bước sang năm 2014, Chính phủ tiếp tục xác định một trong những

mục tiêu kinh tế- xã hội năm 2014 là tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô. Theo số

liệu của Tổng cục thống kê Việt Nam công bố ngày 27/12/2014, GDP năm

2014 ước tính tăng 5,98% so với năm 2013.

Theo IMF nền kinh tế thế giới năm 2015 phục hồi mạnh hơn, tăng

trưởng toàn cầu được dự báo là 4% tăng 0,6 điểm % so với dự báo tăng

trưởng năm 2014 (cao hơn khá nhiều mức tăng trưởng của năm 2013 so với

2012).

Mặc dù vậy, tình hình vẫn còn nhiều bất định: khủng hoảng Ucraina,

kèm theo sự cấm vận của phương Tây với Nga, khủng hoảng và cuộc chiến

chống Nhà nước Hồi giáo IS ở Trung Đông... sẽ tác động đến kinh tế toàn cầu

Kinh tế Việt Nam năm 2015 có mức phục hồi cao hơn và có khả năng

đạt mức tăng trưởng từ 6%-6,2%. Lý do yêu cầu cải thiện môi trường kinh

doanh đang được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt và sẽ có chuyển

biến trên hầu hết các tiêu chí trong nửa đầu năm 2015. Nhiều khả năng hầu

hết các Hiệp định mậu dịch tư do ta đang đàm phán sẽ được hoàn thành

62

không muộn hơn 6 tháng đầu năm 2015. Điều này sẽ tạo điều kiện thu hút đầu

tư và mở rộng thị trường xuất khẩu, qua đó thúc đẩy tăng trưởng.

- Môi trường pháp luật

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vì vậy, pháp

luật và các chính sách của nước ta thường xuyên có những thay đổi để phù

hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. Doanh nghiệp trong quá trình hoạt động

luôn phải đối mặt với các rủi ro biến động chính sách và quy định pháp luật.

Mỗi sự thay đổi của chính sách pháp luật của Nhà nước, chính sách của các

hiệp hội…đều tác động ít nhiều đến quá trình thực hiện kế hoạch hoạt động

kinh doanh của Công ty.

Là doanh nghiệp hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần, hoạt động

của Công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây chịu sự điều

chỉnh chủ yếu bởi Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán ... Trong khi các

luật và các văn bản dưới luật trong lĩnh vực này đang trong quá trình hoàn

thiện, nên sự thay đổi về mặt chính sách luôn có thể xảy ra và khi xảy ra sẽ ít

nhiều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Công ty đã thực hiện đăng ký chứng khoán tại Trung tâm lưu ký Chứng

khoán Việt Nam và đăng ký giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội.

Do đó, doanh nghiệp phải thực hiện công bố thông tin theo các văn bản pháp

luật, các thông tư hướng dẫn, các văn bản này liên tục thay đổi yêu cầu

doanh nghiệp phải nắm bắt được các nội dung của các văn bản mới để

thực hiện tuân thủ nghĩa vụ Công bố thông tin đúng thời gian.

- Ảnh hưởng của đặc điểm ngành

Giá cả nguyên vật liệu là nhân tố tác động trực tiếp tới chi phí và lợi

nhuận của Công ty, chi phí nguyên vật liệu sử dụng trong hoạt động của

Công ty tăng nhanh, trong khi đơn giá đặt hàng Doanh nghiệp đã ký trước

63

với đối tác không kịp thay đổi để phù hợp với mức giá cả trên thị trường.

Do đó, điều này ảnh hưởng tới lợi nhuận của từng hợp đồng của Công ty.

Mặt khác, với hoạt động cung cấp dịch vụ vệ sinh môi trường nhằm

mục đích đảm bảo vệ sinh môi trường, chăm sóc cây xanh, cảnh quan

thành phố, hoạt động của Công ty chịu tác động trực tiếp của yếu tố khí

hậu. Từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm, trên địa bàn thành phố luôn phải

chịu ảnh hưởng từ những trận mưa bão tác động tới hệ thống cây xanh,

gây gãy đổ, hỏng hệ thống đèn đường, lề đường. Đây là một yếu tố khách

quan không thể tránh khỏi, tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh

doanh của Công ty

Thứ hai; Nguyên nhân chủ quan

- Quy mô vốn tăng tỷ lệ thuận với tốc độ chu chuyển vốn là điều tất

yếu. Mặt khác, tình trạng thiếu vốn của công ty dẫn đến tăng chi phí làm kết

quả kinh doanh giảm.

- Công tác thu hồi công nợ chưa được quan tâm đúng mức và thực hiện

chưa nghiêm ngặt; nợ khó đòi, quá hạn vẫn phát sinh qua các năm. Công ty đã

thực hiện phân loại công nợ để theo dõi và quản lý nhưng chưa có những biện

pháp và giải pháp rõ ràng để giải quyết triệt để công nợ khó đòi.

- Hệ thống nội quy, quy chế quản lý các mặt hoạt động sản xuất kinh

doanh cũng như quản lý tài chính được hành nhiều nhưng không được xem

xét cập nhật theo tình hình thực tế từng giai đoạn nên việc chỉ đạo điều hành

còn mang tính chủ quan.

- Trình độ phân tích, dự báo thị trường của nhân viên kinh doanh còn

nhiều hạn chế, còn bị động trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh. Lãnh

đạo công ty chỉ dự đoán kế hoạch trong tương lai mà không chi tiết thành các

kế hoạch tài chính cụ thể.

64

- Quản lý chi phí chưa hiệu quả, đặc biệt là các chi phí phát sinh khi dự

trữ hàng tồn kho quá mức cần thiết.

- Hình thức huy động vốn của công ty chưa đa dạng, cơ cấu nguồn vốn

chỉ tập trung vào 2 nhóm: vốn chủ sở hữu và vốn vay ngân hàng (bên cạnh đó

còn nguồn vốn chiếm dụng nhưng công ty cũng bị chiếm dụng vốn nhiều),

công tác huy động vốn từ các nguồn khác còn yếu, đặc biệt là việc huy động

từ nguồn phát hành cổ phiếu.

- Mặc dù công ty đã chú ý xây dựng chiến lược kinh doanh cho năm kế

hoạch nhưng chưa sát với thực tế thực hiện, công tác nghiên cứu, dự báo thị

trường chưa thật sự được quan tâm, chú trọng, vì vậy không linh hoạt và bị

động khi thị trường có biến động lớn theo hướng bất lợi cho hoạt động kinh

doanh.

- Việc sử dụng vốn lưu động của công ty còn nhiều hạn chế. Việc quản

lý hàng tồn kho còn tồn tại những bất hợp lý và chưa hiệu quả dẫn đến kỳ

luân chuyển vốn lưu động dài, vòng quay vốn lưu động thấp làm cho vốn bị ứ

đọng.

- Hoạt động kinh doanh chưa thật sự ổn định từ sau cổ phần hoá cũng là

nguyên nhân làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của công ty.

65

Kết luận chương 2

Mặc dù trong những năm qua, Công ty chịu không ít tác động của nền

kinh tế cũng như các rủi ro khác nhưng Công ty vẫn đảm bảo hoạt động sản

xuất kinh doanh có những kết quả khá khả quan. Công ty vẫn làm ăn có lãi,

đạt doanh thu và lợi nhuận nhất định. Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty đã

được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh đó, Công ty vẫn còn tồn tại nhiều

hạn chế. Mặc dù hoạt động kinh doanh sau cổ phần hoá đang dần ổn định và

đạt được một số kết quả trên nhưng những hạn chế về quản lý và sử dụng vốn

trong công ty chưa được khắc phục nên hiệu quả sử dụng vốn trong thời gian

qua còn nhiều hạn chế:

66

Chương 3

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI

CÔNG TY MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN

TÂY

3.1 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ SỰ CẦN THIẾT

KHÁCH QUAN CỦA NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI

CÔNG TY MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY

3.1.1. Những định hướng của công ty trong thời gian tới

Kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2015: Căn cứ kết quả sản xuất kinh

doanh năm 2014 và dự báo, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch năm 2015,

kế hoạch sản xuất kinh doanh Ban lãnh đạo Công ty đề ra cho năm 2015 như

sau:

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý, triệt để thực hành tiết

kiệm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nâng cao năng lực tham mưu,

điều hành của các phòng chức năng và các đội sản xuất trong công ty. Sắp

xếp, kiện toàn lại các phòng chức năng, các đội sản xuất... đảm bảo chuẩn bị

tốt nhất sẵn sàng tham gia đấu thầu các gói hàng của năm 2016 và những năm

tiếp theo

Tiếp tục sửa đổi, bổ sung điều lệ, quy chế tài chính, quy chế chi tiêu nội

bộ phù hợp với quy định mới của pháp luật, định hướng phát triển SXKD của

công ty.

Xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ của

cán bộ, tay nghề của công nhân.

Đánh giá kết quả công việc thực hiện của từng cán bộ công nhân viên

trong Công ty ngày càng nghiêm túc hơn, góp phần nâng cao hiệu quả trong

67

công việc. Hằng năm mức cạnh tranh của mặt hàng lương cũng như thu nhập

cho từng vị trí công việc, trách nhiệm của từng người sẽ được đánh giá lại,

xem xét và điều chỉnh cho phù hợp.

Kiểm soát chặt chẽ quy trình thanh toán, theo dõi công nợ và quy trình

xuất- nhập khẩu vật tư phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công

ty.

Ổn định SXKD và xây dựng chiến lược phát triển công ty, bảo toàn và

phát triển vốn, phấn đấu tăng vốn điều lệ lên trên 20 tỷ đồng

Nâng cao chất lượng phục vụ dịch vụ, giữ vững thương hiệu, địa bàn

sản xuất kinh doanh của công ty.

Doanh thu phấn đấu đến năm 2018 đạt trên 130 tỷ đồng.

Cổ tức hàng năng không thấp hơn 02 lần mức lãi suất tiền gửi bình

quân liên ngân hàng ( thời hạn 12 tháng)

Khai thác sử dụng có hiệu quả phương tiện, trang thiết bị hiện có, đầu

tư trang bị thêm cơ sở vật chất trang thiết bị đáp ứng yêu cầu SXKD, đảm

bảo đủ năng lực cạnh tranh theo yêu cầu.

3.1.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty

Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là tất yếu khách quan và xuất phát

từ những nguyên nhân chủ yếu sau:

Một là, xuất phát từ mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp

Mọi doanh nghiệp khi tham gia vào kinh doanh đều kỳ vọng vào việc

tối đa hoá lợi nhuận, lợi nhuận là kết quả, là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ là một

trong số các biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và là một

hướng để nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp.

68

Hai là, xuất phát từ vai trò và vị trí của vốn trong hoạt động sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp.

Như đã trình bày ở trên, một doanh nghiệp không thể hoạt động nếu

thiếu vốn. Hiệu quả sử dụng vốn sẽ quyết định kết quả kinh doanh cuối cùng

của doanh nghiệp. Do đó, trong quá trình hoạt động và sản xuất kinh doanh,

việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đã trở thành một trong số các

mục tiêu đặt ra cho mỗi doanh nghiệp.

Ba là, xuất phát từ yêu cầu bảo toàn vốn của doanh nghiệp.

Lợi nhuận là mục tiêu hoạt động của mọi doanh nghiệp trong nền kinh

tế thị trường. Tuy nhiên, việc bảo toàn vốn cũng là một vấn đề đặt ra đối với

các nhà quản lý doanh nghiệp. Vì vậy, yêu cầu bảo toàn vốn để từ đó không

chỉ dừng lại ở bảo toàn vốn mà còn mở rộng và phát triển quy mô vốn.

Bốn là, xuất phát từ yêu cầu hạch toán kinh doanh đầy đủ của doanh

nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, bất kỳ một doanh nghiệp

nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng phải tuân theo nguyên

tắc hạch toán kinh doanh là: Kinh doanh phải lấy thu bù chi và phải có lợi

nhuận. Nếu không đạt được yêu cầu này các doanh nghiệp sẽ có nguy cơ phá

sản. Chính vì vậy, các doanh nghiệp phải luôn có những biện pháp để bảo

toàn vốn và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để khẳng định vị trí của

mình trên thị trường.

Năm là, xuất phát từ yêu cầu cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát

triển mạnh mẽ thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là vô cùng gay gắt.

Doanh nghiệp nào tận dụng tối đa năng lực sản xuất và nâng cao hiệu quả vốn

thì sẽ có điều kiện tốt để đứng vững trên thị trường. Việc nâng cao hiệu quả

69

sử dụng vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp tạo khả năng cạnh tranh và tạo những

lợi thế nhất định đến doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển.

Tóm lại, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn có vai trò quan

trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, là điều

kiện cấp thiết và là tiền đề để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.

3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN

TẠI CÔNG TY MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY

Thực tiễn công tác tổ chức quản lý và sử dụng vốn tại công ty đã chứng

minh những nỗ lực trong việc đưa ra các biện pháp nhằm bảo toàn và nâng

cao hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong thời gian qua kết

quả sản xuất kinh doanh của công ty nhìn chung chưa có sự chuyển biến

mạnh mẽ và hiệu quả sử dụng vốn vẫn ở mức thấp và tồn tại nhiều yếu kém,

hạn chế. Từ thực tiễn trên cùng với những kiến thức được trang bị trong quá

trình học tập và nghiên cứu, tôi xin mạnh dạn đề xuất một số biện pháp nhằm

nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty, cụ thể như sau:

3.2.1. Giải pháp về huy động vốn

3.2.1.1. Chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh, kế hoạch huy động và sử

dụng vốn

Trong thời gian qua việc xây dựng kế hoạch kinh doanh chưa sát với

thực tế biến động của thị trường, công tác xây dựng còn cứng nhắc thiếu linh

hoạt. Vì vậy xây dựng kế hoạch kinh doanh khả thi sẽ là cơ sở quan trọng

đem lại hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh. Xây dựng kế hoạch kinh

doanh phải căn cứ vào thực tế thực hiện, phân tích và dự báo những biến động

của thị trường.

Việc lập kế hoạch huy động và sử dụng vốn là một giải pháp tài chính

hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Trên thực tế, công ty tiến hành lập kế hoạch sản xuất kinh doanh nhưng chưa

70

quan tâm đến việc lập các kế hoạch cụ thể về sử dụng vốn và cách thức huy

động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong cả năm.

Về nguyên tắc, kế hoạch về sử dụng và phương thức huy động vốn phải

được xây dựng trên cở sở thực tế về kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh

trong năm tiếp theo, do đó đòi hỏi phải đúng, toàn diện và đồng bộ để tạo cơ

sở cho việc tổ chức công tác sử dụng vốn một cách hiệu quả nhất. Để đảm

bảo yêu cầu của công tác lập kế hoạch, khi tiến hành thực hiện công ty cần

phải chú trọng một số vấn đề sau:

Một là: Xác định chính xác nhu cầu về vốn tối thiểu cần thiết đáp ứng

cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh

của công ty được tiến hành thường xuyên liên tục không bị gián đoán, trong

đó phải xác định được nhu cầu tăng đột biến trong những thời điểm biến động

thuận lợi trên thị trường để tăng cường hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Từ đó

có biên pháp huy động vốn phù hợp nhằm cung ứng vốn một cách đầy đủ, kịp

thời, tránh tình trạng dư thừa vốn gây lãng phí vốn không cần thiết nhưng

cũng đảm bảo không bị thiếu vốn gây ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của

công ty, đồng thời huy động vốn với chi phí sử dụng tối ưu.

Hai là: Trên cơ sở nhu cầu vốn đã lập, công ty cần xây dựng kế hoạch

cụ thể về việc huy động vốn, bao gồm việc xác định khả năng vốn hiện có, số

vốn còn thiếu để lựa chọn nguồn tài trợ thích hợp với chi phí về vốn là thấp

nhất giúp công ty có một cơ cấu vốn linh hoạt và tối ưu. Để tăng nguồn tài trợ

vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, công ty có thể thực hiện

một số biện pháp sau:

- Trước hết, trong qúa trình tìm nguồn tài trợ công ty cần khai thác triệt

để mọi nguồn vốn của mình, phát huy tối đa nội lực vì nguồn vốn từ bên trong

doanh nghiệp luôn có chi phí sử dụng vốn thấp nhất nên mang lại hiệu quả

cao nhất. Một trong những nguồn đó là vốn tích luỹ từ các lợi nhuận không

71

chia và quỹ khấu hao TSCĐ để lại với mục đích tạo nguồn vốn tái đầu tư cho

doanh nghiệp.

- Tăng cường huy động các nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho các nhu

cầu trước mắt về vốn lưu động, tận dụng tối đa các khoản nợ ngắn hạn chưa

đến hạn thanh toán như: Phải trả công nhân viên, thuế và các khoản phải nộp

NSNN chưa đến hạn nộp, áp dụng các hình thức tín dụng thương mại (mua

chịu của người cung cấp)... Việc sử dụng các nguồn này sẽ giảm đáng kể chi

phí huy động vốn do đó nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn của công ty.

Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn vốn này chỉ mang tính chất tạm thời và doanh

nghiệp cần chú ý điều hoà giữa nguồn vốn chiếm dụng được với các khoản

vốn bị khách hàng chiếm dụng sao cho công ty không bị thua thiệt và luôn có

thể đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

- Trong quá trình huy động vốn, để đạt mục tiêu tăng trưởng và phát

triển thì ngoài các nguồn vốn ngắn hạn đòi hòi công ty phải quan tâm đến

việc tìm nguồn tài trợ dài hạn, đây là nguồn vốn tài trợ ổn định và lâu dài đảm

bảo cho sự phát triển vững chắc của công ty. Hiện nay, toàn bộ tài sản cố định

của công ty được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn vốn chủ sở hữu, tuy nhiên

trong thời gian tới khi công ty triển khai xây dựng trụ sở để làm văn phòng

cho thuê sẽ cần một lượng vốn dài hạn khá lớn. Trong 02 năm gần đây, kết

quả hoạt động kinh doanh liên tục lỗ đã làm giảm đáng kể nguồn vốn chủ sở

hữu, vì vậy để bổ sung vào các quỹ của công ty thì hoạt động kinh doanh phải

hiệu quả. Trong thời gian tới có thể xem xét đến khả năng phát hành thêm cổ

phiếu để tăng nguồn vốn chủ sở hữu của công ty lên mức hợp lý.

Ba là: Sau khi lập kế hoạch huy động vốn, công ty cần chủ động trong

việc phân phối và sử dụng số vốn đã được tạo lập sao cho mang lại hiệu quả

cao nhất. Công ty cần căn cứ trên kế hoạch kinh doanh và dự báo những biến

động của thị trường để đưa ra quyết định phân bổ vốn cả về mặt số lượng và

72

thời gian, cụ thể cần dự trữ bao nhiêu hàng tồn kho là hợp lý và hiệu quả...

Đồng thời, công ty cần có sự phân bổ hợp lý nguồn vốn dựa trên chiến lược

phát triển. Từ kế hoạch tổng thể, công ty cần đưa ra các kế hoạch chi tiết. Để

làm được điều này đòi hỏi công ty phải dựa vào hoạt động kinh doanh của

những năm trước cũng như khả năng và tiềm lực của công ty trong năm tiếp

theo để có thể xây dựng một kế hoạch chi tiết, cụ thể và sát thực tế nhất.

Có thể nói việc lập kế hoạch sử dụng và huy động vốn chính xác là một

công việc khó khăn bởi ngoài các yếu tố chủ quan từ phía Ban lãnh đạo công

ty còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan như: tình hình biến động của

thị trường, sự thay đổi cơ chế chính sách của Nhà nước, khả năng, uy tín của

chính công ty... Thực tế, số vốn của công ty luôn có những sự biến động giữa

các thời điểm trong năm, vì vậy, khi thực hiện trên cơ sở những kế hoạch đã

đề ra cũng cần phải căn cứ vào tình hình thực tế để có những điều chỉnh thích

hợp khi có những thay đổi không được dự báo trước. Cụ thể, nếu thiếu vốn

công ty cần chủ động nhanh chóng tìm nguồn tài trợ bổ sung, nếu thừa vốn có

thể đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, góp vốn liên doanh... nhằm đảm bảo

cho đồng vốn không ngừng tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

Tóm lại, việc lập kế hoạch huy động và sử dụng vốn có ảnh hưởng trực

tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của

công ty. Do vậy, việc lập kế hoạch luôn là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết

đối với công tác quản lý tài chính nói chung và công tác quản lý, sử dụng vốn

nói riêng. Nếu làm tốt công tác này sẽ giúp công ty có một cơ cấu vốn linh

hoạt và hiệu quả, giúp lành mạnh hoá tình hình tài chính của công ty, góp

phần quan trọng vào sự phát triển của công ty trong thời gian tới.

3.2.1.2 Tăng cường huy động các nguồn vốn nhằm bổ sung vốn, gia tăng

năng lực sản xuất

73

Xác định nhu cầu nhằm đảm bảo đủ, kịp thời và sử dụng có hiệu quả

nguồn vốn mang tính quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Vì vậy,

Công ty cần xác định rõ nhu cầu, chu kỳ kinh doanh dựa trên nhiệm vụ sản

xuất, đầu tư và tiến độ thi công của các công trình. Để từ đó xác định được

nhu cầu vốn một cách tương đối chính xác nhằm huy động, sử dụng và phân

bổ nguồn vốn hợp lý tránh thừa thiếu hoặc ứ đọng vốn ở các khâu trong quá

trình sản xuất.

Hiện nay, vốn chủ sở hữu của Công ty chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn

vốn do vậy Công ty có thể gia tăng: Vay ngắn hạn của ngân hàng, ứng trước

của người mua, chiếm dụng của người bán, vay dài hạn của ngân hàng, phát

hành trái phiếu,….

Để giải quyết vấn đề này Công ty cần thực hiện các giải pháp sau:

- Cần duy trì mối quan hệ tốt với người cung cấp cũng như người mua.

Thường xuyên phân loại công nợ và có kế hoạch trả nợ sao cho đúng với các

điều khoản thanh toán của hợp đồng đã ký kết. Đồng thời, Công ty cũng cần

phải có một khoản tài chính dự phòng để chủ động hơn trong sản xuất kinh

doanh nhất là khi sức ép về tiến độ hoặc có những công việc cần phải thanh

toán ngay và phản ứng kịp thời trước những biến động của thị trường.

- Có kế hoạch trả nợ ngân hàng hợp lý, tránh tính trạng có những khoản

vay quá hạn. Giữ uy tín với ngân hàng, tổ chức tín dụng từ đó xây dựng điểm

số xếp hạng tín dụng tốt thì việc vay vốn dùng tín chấp sẽ được thuận lợi, đáp

ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty.

- Công ty là một doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán,

đây là kênh huy động vốn nhanh và hiệu quả. Công ty cũng có thể tính tới

phương án phát hành trái phiếu, cổ phiếu để huy động vốn khi thị trường

chứng khoán khởi sắc và hoạt động sôi động.

3.2.1.3. Xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên một cách hợp lý

74

Việc xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động thường xuyên sẽ giúp

công ty có kế hoạch phân bổ, sử dụng vốn lưu động phù hợp, chủ động trong

kinh doanh, tránh được tình trạng thiếu vốn trong kinh doanh, tránh để ứ đọng

vốn, góp phần tăng nhanh vòng quay vốn, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Để xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết, công ty có

thể sử dụng phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên sau:

Phương pháp gián tiếp

Đặc điểm của phương pháp gián tiếp là dựa vào kết quả thống kê kinh

nghiệm về vốn lưu động bình quân năm báo cáo, nhiệm vụ sản xuất kinh

doanh năm kế hoạch và khả năng tốc độ luân chuyển vốn lưu động năm kế

hoạch để xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

Công thức tính toán như sau:

M1

x (1+t) (3.1) Vnc = VLĐ0 x

M0

Vnc: Nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch

M1, M0: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch và năm

báo cáo.

VLĐ0: Số dư bình quân vốn lưu động năm báo cáo

t: Tỷ lệ giảm (hoặc tăng) số ngày luân chuyển vốn lưu động năm kế

hoạch so với năm báo cáo

Mức luân chuyển vốn lưu động được tính theo doanh thu bán hàng

(doanh thu thuần). Nếu năm kế hoạch tốc độ luân chuyển vốn lưu động tăng

sẽ làm cho nhu cầu vốn lưu động giảm bớt.

Trên thực tế, để ước đoán nhanh nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch

các doanh nghiệp thường sử dụng phương pháp tính toán căn cứ vào tổng

75

mức luân chuyển vốn và số vòng quay vốn lưu động dự tính năm kế hoạch.

Cách tính như sau:

M1

Vnc =

L1

Trong đó:

M1: Tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch

L1: Số vòng quay vốn lưu động năm kế hoạch

Việc dự tính tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch có thể dựa vào

tổng mức luân chuyển vốn của kỳ báo cáo có xét tới khả năng mở rộng kinh

quy mô kinh doanh trong năm kế hoạch. Tương tự số vòng quay vốn năm kế

hoạch có thể được xác định căn cứ vào số vòng quay vốn lưu động bình quân

của các doanh nghiệp trong cùng ngành hoặc số vòng quay vốn lưu động của

doanh nghiệp kỳ báo cáo có xét tới khả năng tốc độ luân chuyển vốn lưu động

kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo.

Phương pháp gián tiếp có ưu điểm là tương đối đơn giản, giúp doanh

nghiệp ước tính được nhanh chóng nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch để

xác định nguồn tài trợ phù hợp.

Việc xác định nhu cầu vốn lưu động bằng phương pháp gián tiếp chỉ

nên áp dụng trong trường hợp các mục tiêu của công ty và môi trường sản

xuất kinh doanh trong năm kế hoạch là tương đối ổn định so với năm báo cáo.

Nếu có biến động lớn về doanh thu và tình hình sản xuất kinh doanh nhu cầu

vốn lưu động có thể được xác định theo công thức sau:

NC(VLĐ) = HTK + PTh - PTr

Trong đó:

NC(VLĐ): Nhu cầu vốn lưu động

HTK: Hàng tồn kho

76

PTh: Các khoản phải thu

PTr: Các khoản phải trả

Trên cơ sở nhu cầu vốn lưu động thường xuyên trong kỳ kế hoạch và

căn cứ vào kế hoạch sản xuất, công ty xác định được kết cấu vốn lưu động

hợp lý, nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cho từng khoản mục theo xu

hướng vận động của kết cấu vốn lưu động để xây dựng kế hoạch huy động

vốn. Mỗi nguồn vốn có chi phí sử dụng vốn khác nhau, do đó việc huy động

nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh phải được tính toán cụ thể để có chi phí

huy động thấp nhất, hạn chế rủi ro và tạo ra một kết cấu vốn hợp lý. Trên cơ

sở này, phòng kế toán xác lập được kế hoạch nguồn vốn lưu động, xác định

được hạn mức tín dụng cần thiết.

Bên cạnh việc lập kế hoạch nguồn vốn lưu động, công ty cũng phải tiến

hành kiểm tra và đánh giá nhu cầu vốn lưu động, từ đó có biện pháp chấn

chỉnh công tác quản lý vốn vượt so với kế hoạch để ngăn ngừa rủi ro do sử

dụng vốn sai mục đích.

3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản

3.2.2.1. Tăng cường công tác quản lý công nợ phải thu

Do thực hiện chính sách bán hàng chậm trả nên các khoản phải thu

khách hàng chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng vốn lưu động của công ty, vì

vậy quản lý tốt các khoản phải thu là biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu

quả sử dụng vốn lưu động của công ty:

- Cần có các ràng buộc chặt chẽ khi ký kết các hợp đồng mua bán: Cần

quy định rõ ràng thời gian và phương thức thanh toán đồng thời luôn giám sát

chặt chẽ việc khách hàng thực hiện những điều kiện trong hợp đồng. Bên

cạnh đó cũng cần đề ra những hình thức xử phạt nếu hợp đồng bị vi phạm để

nâng cao trách nhiệm của các bên khi tham gia hợp đồng; phải gắn trách

nhiệm của khách hàng thông qua các hợp đồng, thông qua các điều kiện ràng

77

buộc trong hợp đồng, các điều kiện giao nhận, điều kiện thanh toán. Bên cạnh

đó cần có những ràng buộc bán chậm trả để lành mạnh hoá các khoản nợ như:

yêu cầu ký quỹ, bảo lãnh của Bên thứ ba (ngân hàng)... đồng thời thường

xuyên thu thập các thông tin về khách hàng thông qua nhiều kênh cung cấp để

có chính sách bán hàng phù hợp, hiệu quả.

- Trong công tác thu hồi nợ: Hàng tháng, công ty nên tiến hành theo dõi

chi tiết các khoản phải thu, lập bảng phân tích các khoản phải thu để nắm rõ

về quy mô, thời hạn thanh toán của từng khoản nợ cũng như có những biện

pháp khuyến khích khách hàng thanh toán trước thời hạn bằng hình thức chiết

khấu thanh toán cũng là một biện pháp tích cực để thu hồi các khoản nợ. Cần

phân loại các khoản nợ và thường xuyên đánh giá khả năng thu hồi của các

khoản nợ đó.

- Đối với những khoản nợ quá hạn, nợ đọng: Công ty cần phân loại để

tìm nguyên nhân chủ quan và khách quan của từng khoản nợ, đồng thời căn

cứ vào tình hình thực tế để có biện pháp xử lý phù hợp như gia han nợ, thoả

ước xử lý nợ, giảm nợ hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp. Đồng

thời cũng cần có chính sách linh hoạt, mềm dẻo đối với các khoản nợ quá hạn

và đến hạn. Đối với những khách hàng uy tín, truyền thống, trong trường hợp

họ tạm thời có khó khăn về tài chính có thể áp dụng biện pháp gia hạn nợ.

Còn đối với những khách hàng cố ý không thanh toán hoặc chậm trễ trong

việc thanh toán thì công ty cần có những biện pháp dứt khoát, thậm chí có thể

nhờ đến sự can thiệp của các toà kinh tế để giải quyết các khoản nợ.

- Thường xuyên làm tốt công tác theo dõi, rà soát, đối chiếu thanh toán

công nợ để tránh bị chiếm dụng vốn, đồng thời đảm bảo khả năng thanh toán,

có như vậy mới góp phần đẩy nhanh vòng quay vốn, tăng hiệu quả sử dụng

vốn lưu động.

3.2.2.2. Tăng cường quản lý tiền và các khoản tương đương tiền

78

Tiền mặt kết nối tất cả các hoạt động liên quan đến tài chính của công

ty. Vì thế Công ty cần phải tập trung vào quản trị tiền mặt để giảm thiểu rủi ro

về khả năng thanh toán, tăng hiệu quả sử dụng tiền, đồng thời ngăn ngừa các

hành vi gian lận về tài chính trong nội bộ công ty hoặc của bên thứ ba.

Công ty cần xác định và quản lý lưu lượng tiền mặt cho từng thời kỳ.

Trong thời kỳ nghiên cứu, có những giai đoạn công ty giữ quá nhiều tiền mặt

so với nhu cầu dẫn đến việc ứ đọng vốn và làm tăng chi phí sử dụng vốn, hơn

nữa, sức mua của đồng tiền có thể giảm sút nhanh do lạm phát.

Công ty nên xây dựng mô hình phân tích và xác định lượng tiền mặt dự

trữ tối ưu, lượng tiền mặt tối ưu phải thỏa mãn được 3 nhu cầu chính: chi cho

các khoản phải trả phục vụ hoạt động sản xuất - kinh doanh hàng ngày của

công ty như trả cho nhà cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ, trả người lao động,

trả thuế; dự phòng cho các khoản chi ngoài kế hoạch khi có cơ hội đầu tư; dự

phòng cho các cơ hội phát sinh ngoài dự kiến khi thị trường có sự thay đổi đột

ngột.

Công ty nên áp dụng những chính sách, quy trình sau để giảm thiểu rủi

ro cũng như những thất thoát trong hoạt động:

- Số lượng tiền mặt tại quỹ giới hạn ở mức thấp chỉ để đáp ứng những

nhu cầu thanh toán không thể chi trả qua ngân hàng. Ưu tiên lựa chọn nhà

cung cấp có tài khoản ngân hàng. Thanh toán qua ngân hàng có tính minh

bạch cao, giảm thiểu rủi ro gian lận, đáp ứng yêu cầu pháp luật liên quan.

- Xây dựng quy trình thu chi tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, bao gồm danh

sách các mẫu bảng biểu, chứng từ (hợp đồng kinh tế, hóa đơn, phiếu nhập

kho, biên bản giao nhận...). Xác định quyền và hạn mức phê duyệt của các

cấp quản lý. Đưa ra quy tắc rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của các bộ

phận liên quan đến quá trình thanh toán để việc thanh toán diễn ra thuận lợi

và chính xác.

79

- Có kế hoạch kiểm kê quỹ thường xuyên và đột xuất, đối chiếu tiền mặt

tồn quỹ thực tế, sổ quỹ với số liệu kế toán . Đối với tiền gửi ngân hàng, định

kỳ đối chiếu số dư giữa sổ sách kế toán của công ty và số dư của ngân hàng

để phát hiện kịp thời và xử lý các khoản chênh lệch nếu có.

- Xây dựng và phát triển các mô hình dự báo tiền mặt. Tính toán và xây

dựng các bảng hoạch định ngân sách giúp công ty ước lượng được khoảng

định mức ngân quỹ là công cụ hữu hiệu trong việc dự báo thời điểm thâm hụt

ngân sách để công ty chuẩn bị nguồn bù đắp cho các khoản thiếu hụt này.

Giám đốc công ty phải dự đoán các nguồn nhập, xuất ngân quỹ theo đặc thù

về chu kỳ kinh doanh, theo mùa vụ, theo kế hoạch phát triển của công ty

trong từng thời kỳ. Ngoài ra, phương thức dự đoán định kỳ chi tiết theo tuần,

tháng, quý và tổng quát cho hàng năm cũng được sử dụng thường xuyên.

Khi xuất hiện các khoản thiếu hoặc thừa tiền, công ty có thể áp dụng các

biện pháp:

- Thứ nhất, biện pháp cần làm khi thiếu tiền mặt: đẩy nhanh tiến trình thu

nợ; giảm số lượng hàng tồn kho; giảm tốc độ thanh toán cho các nhà cung cấp

bằng cách sử dụng hối phiếu khi thanh toán hoặc thương lượng lại thời hạn

thanh toán với nhà cung cấp; bán các tài sản thừa, không sử dụng; hoãn thời

gian mua sắm tài sản cố định và hoạch định lại các khoản đầu tư; giãn thời

gian chi trả cổ tức; sử dụng dịch vụ thấu chi của ngân hàng hoặc vay ngắn

hạn; sử dụng biện pháp "bán và thuê lại" tài sản cố định.

- Thứ hai, biện pháp cần làm khi thừa tiền mặt trong ngắn hạn: thanh

toán các khoản thấu chi; sử dụng các khoản đầu tư qua đêm của ngân hàng; sử

dụng hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn với điều khoản rút gốc linh hoạt; đầu tư vào

những sản phẩm tài chính có tính thanh khoản cao (trái phiếu chính phủ); đầu

tư vào cổ phiếu quỹ ngắn hạn.

80

- Thứ ba, biện pháp cần làm khi thừa tiền mặt trong dài hạn: đầu tư vào

các dự án mới; tăng tỷ lệ cổ tức; mua lại cổ phiếu; thanh toán các khoản vay

dài hạn; mua lại công ty khác.

3.2.2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định

Do đặc thù kinh doanh nên tài sản cố định chiếm tỷ trọng không cao

trong tổng vốn của doanh nghiệp nhưng hiệu quả sử dụng tài sản cố định cũng

ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng tài sản nói chung.

Công ty cần có kế hoạch theo dõi tình hình sử dụng tài sản cố định để

đảm bảo tài sản có hoạt động, được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả.

Lập kế hoạch đầu tư mua sắm, tăng giảm và khấu hao tài sản cố định

hàng năm: Kế hoạch này phải xác định rõ nguồn vốn đầu tư vào TSCĐ, xác

định danh mục, số lượng, giá trị của từng loại TSCĐ tăng, giảm trong năm;

phân tích cụ thể TSCĐ do doanh nghiệp đầu tư và lựa chọn phương pháp

khấu hao thích hợp.

- Hướng đầu tư vào TSCĐ đem lại hiệu quả cao nhằm phát huy hết

hiệu suất sử dụng TSCĐ.

- Xác định loại TSCĐ chủ sở hữu và TSCĐ thuê đối với các nhu cầu

phát sinh trong thực tế.

3.2.3 Giải pháp khác

3.2.3.1. Đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới công tác tổ chức cán bộ và tăng

cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên trong công ty

Công tác quản lý, tổ chức có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh

doanh và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng. Bộ máy tổ chức, cơ chế quản lý

phải phù hợp sẽ phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các xí

nghiệp kinh doanh, các phòng ban chức năng tránh tình trạng đùn đẩy trách

nhiệm, làm hạn chế năng lực kinh doanh của công ty.

81

Đặc biệt trong thời gian tới công ty cần áp dụng cơ chế khoán kinh

doanh đến từng bộ phận, điều này sẽ tạo ra tính chủ động và động lực khuyến

khích các xí nghiệp thực hiện kinh doanh hiệu quả hơn.

Công ty cần tăng cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân

viên; nâng cao nghiệp vụ quản lý, trình độ của các cán bộ quản lý xí nghiệp.

Cần xây dựng môi trường kinh doanh thích hợp, tạo cơ hội phát triển cho mỗi

cá nhân nhằm phát huy khả năng sáng tạo, cải tiến kỹ thuật mang lại lợi ích

cho công ty. Thực hiện tốt chính sách khen thưởng bằng vật chất đối với cán

bộ công nhân viên đem lại lợi ích cho công ty.

Yếu tố con người đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh

doanh, do đó nâng cao trình độ quản lý của đội ngũ quản lý là một biện pháp

góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn:

+ Cử cán bộ đi học tập kinh nghiệm, xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn

nhân lực toàn diện.

+ Có biện pháp khuyến khích vật chất, tinh thần nhằm phát huy tối đa

năng lực của từng cán bộ; phát hiện và kịp thời bồi dưỡng tiềm năng sẵn có

phục vụ công ty.

3.2.3.2. Quản lý chặt chẽ chi phí

Trong hoạt động kinh doanh, các khoản chi phí luôn phát sinh, vì vậy

đòi hỏi công ty phải quản lý chi phí một cách chặt chẽ. Quản lý chặt chẽ chi

phí sẽ là một điều kiện tiên quyết đảm bảo hoạt động kinh doanh của công ty

đạt hiệu quả cao. Mặt khác, các khoản chi phí nếu không được quản lý chặt

chẽ sẽ gây ra chi sai chế độ, có sự móc nối giữa các khâu nhằm hưởng chênh

lệch như chi phí bồi dưỡng chế độ độc hại, chi phí bón phân, chi phí tiền

lương quản lý,.... Để quản lý chi phí đạt hiệu quả cần quan tâm đến một số

vấn đề sau:

82

- Cần quy định rõ trách nhiệm của Kế toán trưởng và Giám đốc công ty

trong việc hạch toán, chi sai so với dự toán.

- Lập dự toán chi phí hàng năm: Công ty phải tính toán trước mọi chi

phí cho sản xuất kinh doanh kỳ kế hoạch. Để làm được điều này đòi hỏi công

ty phải có được một hệ thống các định mức chi phí hoàn chỉnh và phù hợp để

làm cơ sở cho việc lập dự toán các khoản chi phí trong kỳ.

- Công ty cần tiến hành loại bỏ các chi phí bất hợp lý, hợp lệ trong quá

trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo tiết kiệm trong chi tiêu, nâng cao hiệu quả

sử dụng đồng vốn. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống định mức chi cho phù

hợp.

3.3 ĐIỀU KIỆN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI

CÔNG TY

3.3.1. Về phía Nhà nước

- Hoàn thiện chính sách tín dụng: Lãi suất ngân hàng còn nhiều bất hợp

lý, hành lang pháp chế còn chưa rõ ràng, gây không ít khó khăn cho cả ngân

hàng và doanh nghiệp. Các chính sách tín dụng cũng cần được sửa đổi đảm

bảo tăng trưởng vững chắc cho các ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho các

doanh nghiệp vay vốn.

- Khuyến khích phát triển loại hình công ty cổ phần: Cần có những

chính sách khuyến khích loại hình doanh nghiệp này dưới các hình thức cụ

thể như: miễn thuế trong thời gian cụ thể đối với các công ty cổ phần...

- Quan tâm đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời tạo điều kiện

phát triển các doanh nghiệp lơn: Tạo ra sự bình đẳng trong các khu vực kinh

tế, tránh tình trạng quá ưu tiên đến các doanh nghiệp lớn, tạo ra sự ỷ lại cho

các doanh nghiệp lớn đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước.

- Tập trung tháo gỡ những rào cản hành chính của Doanh nghiệp; điều

này sẽ góp phần đẩy nhanh sự phát triển của các doanh nghiệp, do đó gián

83

tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của

mình.

- Thiết kế các chính sách và công cụ hỗ trợ doanh nghiệp phù hợp với

các định hướng phát triển và quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt

Nam gia nhập, đây là một tất yếu khách quan vì phải tạo ra sự phù hợp với

các thể chế thì mới mong có sự hoà nhập và phát triển.

- Tạo thuận lợi cho các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, xã hội hoá các

dịch vụ công...

- Phát triển và phát huy mạnh vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp,

đặc biệt về đại diện bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp, hỗ trợ, xúc tiến thương

mại. Điều này đặc biệt cần thiết trong thời buổi cạnh tranh gay gắt như hiện

nay, các doanh nghiệp Việt Nam phải đứng trước một sự cạnh tranh ồ ạt, lấn

sân từ các công ty nước ngoài. Vì vậy, yêu cầu là phải có một hiệp hội các

doanh nghiệp trong cùng một ngành đứng ra liên kết để bảo vệ lợi ích các

doanh nghiệp.

3.3.2. Về phía Ngân hàng và các tổ chức tín dụng

Trong giai đoạn hiện nay, để mở rộng và phát triển quy mô hoạt động

sản xuất kinh doanh, công ty luôn cần một lượng vốn lớn. Ngoài việc huy

động vốn từ các nguồn bên trong, công ty cũng rất cần huy động vốn từ các

nguồn bên ngoài, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, hệ thống ngân hàng và

các tổ chức tín dụng phát triển khá mạnh cho phép công ty có thể huy động

vốn với chi phí hợp lý. Sau đây là một số giải pháp ngân hàng và các tổ chức

tín dụng có thể áp dụng để tạo ra điều kiện thuận lợi cho các công ty huy động

vốn:

- Ngân hàng và tổ chức tín dụng cần linh hoạt và nhanh chóng thực

hiện các thủ tục cho công ty vay vốn để công ty có thể chủ động vay vốn, nắm

84

bắt cơ hội kinh doanh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như

nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

- Ngân hàng và tổ chức tín dụng cần phát triển thêm nhiều sản phẩm

dịch vụ để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

- Ngân hàng và tổ chức tín dụng nên phân doanh nghiệp ra thành từng

nhóm khách hàng để có thể áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt đối với mỗi

doanh nghiệp. Cần ưu tiên hỗ trợ cho những doanh nghiệp mới thành lập

nhưng có tiềm năng hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả và những doanh

nghiệp có quy mô lớn cũng như đóng vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc

dân.

Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO, thì rất cần có một

mối liên kết chặt chẽ giữa các ngân hàng, các tổ chức tính dụng và các doanh

nghiệp trong nước để có thể tạo ra được sức mạnh chiến thắng được sức cạnh

tranh khốc liệt của các ngân hàng quốc tế và các doanh nghiệp nước ngoài.

3.3.3 Về phía Công ty

Thứ nhất, Ban lãnh đạo Công ty cần nhận thức sâu sắc tầm quan trọng

của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tới sự tồn tại và phát triển không

ngừng của Công ty.

Thứ hai, Công ty cần chuẩn bị cơ sở vật chất và trang thiết bị. Cơ sở vật

chất cũng như các phương tiện phục vụ công tác thu thập thông tin tài chính

phục vụ quản trị kinh doanh, như: trang bị máy vi tính, nối mạng, cài đặt phần

mềm phục vụ phân tích tài chính và quản trị kinh doanh.

Thứ ba, Không ngừng bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn cũng

như nghiệp vụ cho cán bộ để Công ty có nguồn nhân lực tốt

85

Kết luận chương 3

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề rất cần thiết và quan trọng đối

với các doanh nghiệp nói chung và Công ty cổ phần môi trường và công trình

đô thị Sơn Tây. Trong các năm qua, hiệu quả kinh doanh của Công vẫn còn

đạt được chưa cao. Do vậy, trong chương 3, luận văn đi sâu đề xuất một số

giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đối với Công ty cổ phần môi

trường và công trình đô thị Sơn Tây thời gian tới. Các giải pháp đó bao gồm

nhóm giải pháp về huy động vốn, về hiệu quả sử dụng tài sản và các giải pháp

hỗ trợ khác.

86

KẾT LUẬN

Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình hội nhập điều đó tạo ra những

cơ hội và thách thức mới cho các doanh nghiệp trong nước. Trước sức ép

cạnh tranh ngày càng lớn và khát vọng lợi nhuận đòi hỏi mỗi doanh nghiệp

Việt Nam phải có những chiến lược cũng như giải pháp trong hoạt động sản

xuất kinh doanh. Công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây

cũng là một tế bào của nền kinh tế. Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả sản xuất

kinh doanh nhằm tồn tại và phát triển bền vững thì cần phải có những thay

đổi: trong phương thức sản xuất kinh doanh, thay đổi về nguồn nhân lực, tài

lực, vật lực…

Đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần

Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây” đã giải quyết được những vấn đề

cơ bản sau:

Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về vốn và hiệu quả

sử dụng vốn của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn là phạm trù kinh tế

phản ánh trình độ khai thác, sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp nhằm mục tiêu sinh lợi tối đa với chi phí hợp lý. Hiệu quả

sử dụng vốn được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau. Chương 1 cũng hệ

thống hóa những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh

nghiệp và kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của một số doanh

nghiệp.

Thứ hai, phân tích đánh giá thực trạng vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại

Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây. Luận văn chỉ rõ

những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế.

Thứ ba, trên cơ sở phân tích thực trạng, luận văn cũng đề xuất những

giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Môi

trường và Công trình đô thị Sơn Tây thời gian tới.

87

Tuy nhiên, vấn đề hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một vấn

đề có quy mô lớn và đòi hỏi nghiên cứu sâu rộng. Mặt khác, Công ty Cổ phần

Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây có hoạt động phức tạp và liên quan

đến những lĩnh vực chuyên ngành đặc thù, giai đoạn nghiên cứu là giai đoạn

có những biến động trong công ty. Vì vậy, việc nghiên cứu hiệu quả sử dụng

vốn của công ty là vấn đề khó khăn và không thể tránh khỏi những khiếm

khuyết nhất định. Tác giả rất mong nhận được các ý kiến đóng góp để đề tài

được hoàn thiện hơn.

88

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1- Nguyễn Tấn Bình (2007), Quản trị tài chính ngắn hạn, Nxb Thống kê,

Hà Nội.

2- Công ty CP Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây, Báo cáo tài

chính, năm 2012.

3- Công ty CP Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây, Báo cáo tài

chính, năm 2013.

4- Công ty CP Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây, Báo cáo tài

chính, năm 2014.

5- PGS.TS Lưu Thị Hương (2004), Thẩm định tài chính dự án, Nxb Tài

chính, Hà Nội.

6- PGS.TS Lưu Thị Hương (2005), Giáo trình tài chính doanh nghiệp,

Nxb Thống kê, Hà Nội.

7- TS Trần Đăng Khâm (2007), Thị trường chứng khoán – Phân tích cơ

bản, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

8- PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm và TS Bạch Đức Hiền (2007), Giáo trình

tài chính doanh nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội.

9- TS Nguyễn Thanh Liêm (2007), Quản trị tài chính, Nxb Thống kê, Hà

Nội.

10- Nguyễn Thanh Nhàn (2011), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn của Công ty thương mại và sản xuất vật tư thiết bị giao thông vận

tải TMT, Luận văn thạc sũ, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

11- Josette Peyrard (2005), Phân tích tài chính doanh nghiệp, Nxb Tổng

hợp, Hồ Chí Minh.

12- PGS.TS Nguyễn Năng Phúc (2007), Phân tích kinh doanh, Nxb Tài

chính, Hà Nội.

89

13- PGS.TS Nguyễn Năng Phúc (2006), Phân tích tài chính công ty cổ

phần, Nxb Tài chính, Hà Nội.

14- Trần Văn Quảng (2005), Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty

Nhà nước trong quá trình hội nhập”, tạp chí kinh tế và dự báo- số 2/2005.

15- Th.S Nguyễn Văn Tạo (2004) Bài nghiên cứu, “Nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường” Tạp chí Thương

mại, (số 10) trang 10 năm 2004.

16- TS Trần Ngọc Thơ (2003), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nxb

Thống kê, Hà Nội.

90

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP ......................... 6

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN ................................................. 6

1.1.1 Khái niệm vốn ...................................................................................... 6

1.1.2 Vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh ...................... 8

1.1.3 Phân loại vốn ...................................................................................... 10

1.1.3.1 Theo nguồn hình thành ............................................................... 10

1.1.3.2 Theo thời gian sử dụng ............................................................. 10

1.1.3.3 Theo tính chất ............................................................................ 13

1.2. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN .............................................................. 15

1.2.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn .................................................. 15

1.2.1.1 Hiệu quả ...................................................................................... 15

1.2.1.2 Hiệu quả sử dụng vốn ................................................................. 17

1.2.2. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ............................. 19

1.2.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động ............... 19

1.2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định ................. 21

1.2.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá chung về hiệu quả sử dụng vốn ............... 22

1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn ...................... 24

1.2.3.1. Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp ...................................... 24

1.2.3.2 Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp ...................................... 27

1.3. NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP.

..................................................................................................................... 30

Kết luận chương 1 ......................................................................................... 32

91

Chương 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY ........ 33

2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG & CÔNG

TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY ........................................................................ 33

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Môi trường

& Công trình Đô thị Sơn Tây ...................................................................... 33

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của Công ty. ..... 35

2.1.2.1. Chức năng ................................................................................. 35

2.1.2.2. Đặc điểm về bộ máy quản lý của Công ty ................................. 35

2.1.2.3. Đặc điểm ngành kinh doanh....................................................... 40

2.1.3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty .................... 42

2.2. THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ

PHẦN MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY ................ 44

2.2.1. Thực trạng về vốn ............................................................................. 44

2.2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn ....................................................... 47

2.2.2.1 Hiệu quả sử dụng vốn ................................................................. 47

2.2.2.2 Hiệu quả sử dụng tài sản ............................................................. 55

2.2.2.3 Hiệu quả hoạt động ..................................................................... 58

2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI

CÔNG TY ................................................................................................... 59

2.3.1. Những kết quả đạt được .................................................................... 59

2.3.2. Những tồn tạị và nguyên nhân .......................................................... 60

2.3.2.1. Những tồn tại .............................................................................. 60

2.3.2.2. Nguyên nhân .............................................................................. 61

Kết luận chương 2 ......................................................................................... 66

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI

CÔNG TY MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY ........ 67

92

3.1 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ SỰ CẦN THIẾT

KHÁCH QUAN CỦA NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI

CÔNG TY MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY .......... 67

3.1.1. Những định hướng của công ty trong thời gian tới .......................... 67

3.1.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty ........ 68

3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI

CÔNG TY MÔI TRƯỜNG & CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY .......... 70

3.2.1. Giải pháp về huy động vốn .......................................................... 70

3.2.1.1. Chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh, kế hoạch huy động và

sử dụng vốn ............................................................................................. 70

3.2.1.2 Tăng cường huy động các nguồn vốn nhằm bổ sung vốn, gia tăng

năng lực sản xuất ..................................................................................... 73

3.2.1.3. Xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên một cách hợp lý74

3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản .................................... 77

3.2.2.1. Tăng cường công tác quản lý công nợ phải thu ......................... 77

3.2.2.2. Tăng cường quản lý tiền và các khoản tương đương tiền .......... 78

3.2.2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định ................ 81

3.2.3 Giải pháp khác.................................................................................... 81

3.2.3.1. Đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới công tác tổ chức cán bộ và tăng

cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên trong công ty ... 81

3.2.3.2. Quản lý chặt chẽ chi phí ............................................................. 82

3.3 ĐIỀU KIỆN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI

CÔNG TY ................................................................................................... 83

3.3.1. Về phía Nhà nước ............................................................................. 83

3.3.2. Về phía Ngân hàng và các tổ chức tín dụng ..................................... 84

3.3.3 Về phía Công ty ................................................................................. 85

Kết luận chương 3 ......................................................................................... 86

93

KẾT LUẬN .................................................................................................... 87

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................... 89

94