
Cần thiết có một nền lý luận, phê bình nhiếp ảnh hiện đại
Dáng chiều xưa - Ảnh: Tam Thái
Sau hai kỳ làm việc khẩn trương ở Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nộ
i có hơn
40 bản tham luận và tiểu luận thuộc diện đầu tư sáng tác và nhi
ều ý
ki
ến phát biểu sôi nổi xoay quanh nội dung chính cuộc Hội thảo, không
khí học thuật đã d
ẫn chúng ta đến tâm điểm quan trọng của nghề
nghiệp, đó là việc khẳng định sự cần thiết có một nền lý luận, ph
ê bình
nhiếp ảnh hiện đại.
Mặc dù hiện nay lực lượng này còn m
ỏng, họ đến với công tác lý luận
phê bình nhiếp ảnh bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng v
ới tinh
thần khoa học và trách nhiệm xã hội cùng với lòng yêu nghề v
à kinh

nghiệm thực tiễn, họ đã góp ph
ần đặt nền móng cho sự phát triển của lý
luận và phê bình nhiếp ảnh, cũng như góp ph
ần thúc đẩy sự sáng tạo
trong nghệ thuật nhiếp ảnh nước ta.
Trên tinh thần nhân ái, đoàn kết, dân chủ và xây dựng, Hội thảo đ
ã
khiến người nghe tiếp nhận đư
ợc nhiều ý kiến phong phú, đa dạng khá
thống nhất và đồng thuận, cũng có một số ý kiến trái ngư
ợc nhau. Phần
lớn những ý kiến trái ngược là do d
ữ liệu thông tin không đầy đủ, hoặc
có những nhận định cũ không còn thích hợp với tình hình m
ới, hoặc có
cái mới nhưng chưa chín muồi. Tuy nhiên về cơbản chúng ta đ
ã tìm ra
m
ẫu số chung, tiếng nói chung cho những vấn đề chính của công tác lý
luận phê bình nhiếp ảnh hiện nay. Dưới đây là nh
ững thu hoạchban đầu
của chúng ta:
Về một số khái niệm cơ bản của nghệ thuật nhiếp ảnh
- Trước hết chúng ta cần xác định nhiếp ảnh là một kỹ thuật ghi h
ình
trực tiếp cụ thể, chính xác mang tính vật chất rõ ràng.
- Sự ghi hình này diễn ra trong một thời điểm rất ngắn từ phần ngh
ìn
giây tới phần chục giây (thông thường là như vậy).
- Hình ảnh mà nhiếp ảnh thu được là s
ự phản ánh vật thể có không gian
ba chiều trên một mặt phẳng hai chiều mang tính đồng hiện.
Do khả năng phản ánh đối tượng trực tiếp, cụ thể, chính xác v
à nhanh
bằng hình ảnh đồng dạng phối cảnh theo một tỷ lệ toán h
ọc mang tính

tài liệu cao nên người ta ứng dụng nhiếp ảnh rộng rãi trong nhi
ều lĩnh
vực của đời sống như khoa học kĩ thuật, quản lý nhân sự, hình s
ự, báo
chí, nghệ thuật…. từ đó đã dẫn tới sự lầm tưởng sau đây:
a/ Nhiếp ảnh chỉ là một phương tiện kỹ thuật, không bao giờ trở th
ành
nghệ thuật được.
b/ Nhiếp ảnh là một nghệ thuật bao gồm tất cả các loại hình nhi
ếp ảnh
từ ảnh dịch vụ, ảnh khoa học kỹ thuật, tới ảnh báo chí và
ảnh nghệ
thuật.
Đây là hai quan niệm đối lập nhau nhưng đều thiếu chính xác và khôn
g
hoàn chỉnh, nó có sự phiến diện. Thực chất nhiếp ảnh là một ph
ương
tiện kỹ thuật tạo hình, b
ản thân nó không thể tự tạo ra tác phẩm nghệ
thuật mà chỉ khi nhà nhi
ếp ảnh sử dụng nó nhằm mục đích cảm hóa
người xem bằng sức mạnh thẩm mỹ của hình ảnh thì bức ảnh đó mới l
à
tác phẩm nghệ thuật. Như vậy có nghĩa là nhà nhi
ếp ảnh tạo ra tác
phẩm ảnh nghệ thuật chứ không phải chiếc máy ảnh hoặc chương tr
ình
Photoshop.
Cũng vì vậy, nếu ai nói: bản chất nhiếp ảnh là phản ánh hiện thực th
ì
chưa chuẩn. Vì bản chất của nó chỉ là một kỹ thuật ghi h
ình chính xác
mà thôi. Còn nếu ta nói rằng bản chất của nghệ thuật nhiếp ảnh là ph
ản
ánh hiện thực, lại là một lẽ khác. Điều đó có nghĩa là chúng ta đ
ặt cho
nghệ thuật nhiếp ảnh một chức năng, đặt cho nhà ngh
ệ sĩ nhiệm vụ
phản ánh hiện thựcvà đòi h
ỏi ảnh nghệ thuật phải có tính hiện thực.

Như vậy vềcơ bản chúng ta phải phân biệt các hình th
ức, các lĩnh vực
nhiếp ảnh khác nhau, trước hết là hai lĩnh vực lớn:
1/ Nhiếp ảnh kỹ thuật thuần tuý, sản phẩm của nó mang tính tài li
ệu
khoa học, kỹ thuật thuần túy.
2/ Lĩnh vực nhiếp ảnh mang tính nhân văn, xã hội, sản phẩm của nó l
à
ảnh tài liệu xã hội (ảnh báo chí) và ảnh tài liệu nghệ thuật, tiếp đó l
à
ảnh kỹ thuật, kỹ xảo. Hai lĩnh vực ảnh tài liệu nghệ thuật và
ảnh kỹ
thuật, kỹ xảo được gộp lại thành ảnh nghệ thuật. Cái mà ngư
ời ta quan
tâm tranh cãi trong nhiều năm là các v
ấn đề của nhiếp ảnh mang tính
nhân văn xã hội, trong đó có ảnh nghệ thuật và ảnh báo chí.
Về khái niệm hiện thực xã hội chủ nghĩa trong nhiếp ảnh
Trong văn học, nghệ thuật khái niệm này được vận dụng ở nư
ớc ta từ
những năm 40 của thế kỷ trước, nh
ưng sau khi Liên Xô và Đông Âu
sụp đổ 1991, khái niệm này được dùng dè d
ặt. Với nhiếp ảnh cũng có
một số người nói tới khái niệm này, nhưng thực sự các tác giả đó ch
ưa
có được công trình hoàn ch
ỉnh về chủ nghĩa hiện thực XHCN trong
nhiếp ảnh. Phần lớn mới chỉ là những tiểu luận, những b
ài báo mang
tính phác thảo sơ lược, ý tứ và ngôn t
ừ giống hệt trong lĩnh vực lý luận
văn học, chưa có nét riêng, nét đặc thù của nhiếp ảnh.
Ngay trong cuộc hội thảo này c
ũng xuất hiện những quan niệm, những

nhận định chưa sâu, chưa thỏa đáng về chủ nghĩa hiện thực xã h
ội
trong nhiếp ảnh.
Có ý ki
ến cho rằng chủ nghĩa hiện thực XHCN trong nhiếp ảnh
(phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa) được đánh đồng với ph
ương
thức phóng viên
ảnh thông tấn báo chí rồi đi tới kết luận “Ảnh báo chí
là phần ngọn của những gì chụp từ phương pháp hi
ện thực XHCN. Bỏ
ảnh báo chí ra thì cũng là loại trừ nhiếp ảnh hiện thực XHCN, chỉ c
òn
lại những “khoảnh khắc đẹp” tầm phào phi hiện thực, hình th
ức phi chủ
nghĩa” (NĐC). Có ý kiến lại chủ trương rằng: ngày nay chỉ cần d
ùng
khái niệm “chủ nghĩa hiện thực” trong nhiếp ảnh là đủ, là h
ợp thời.
“…Vi
ệc có tiếp tục sử dụng thuật ngữ đó hay không (Hiện thực
XHCN) cũng có điều cần bàn” mà nên dùng khái ni
ệm chủ nghĩa hiện
thực và “Coi xu hướng này là xu hư
ớng chủ đạo trong nhiếp ảnh Việt
Nam hiện nay” (VĐT)
Có ý kiến khẳng định: Trong hai mươi năm đ
ổi mới, các văn kiện của
Đảng không nói tới khái niệm hiện thực XHCN nữa, vậy “những
gì
văn kiện Đại hội Đảng không ghi, không yêu cầu, ta phải theo mà nh
ận
thức và sáng tạo” (LC).
Có ý kiến cho rằng: Đảng chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trư
ờng
theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì văn h
ọc nghệ thuât cũng phải
theo định hướng XHCN. Cho nên văn h
ọc nghệ thuật phải sáng tác
theo phương pháp hiện thực XHCN (VH).

