
257
ĐỀ TÀI KHOA HỌC
SỐ: 10-2004
NGHIÊN CỨU CÁC CHỈ TIÊU ĐẦU VÀO, ĐẦU RA, KẾT QUẢ
ẢNH HƢỞNG VÀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG TRONG GIÁM SÁT
ĐÁNH GIÁ CHIẾN LƢỢC TOÀN DIỆN VỀ TĂNG TRƢỞNG
VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM
1. Đề tài cấp : Cơ sở
2. Thời gian nghiên cứu : 2004
3. Đơn vị chủ trì : Vụ Thống kê Tổng hợp
4. Đơn vị quản lý : Viện Khoa học Thống kê
5. Chủ nhiệm đề tài : CN. Nguyễn Thị chiến
6. Những ngƣời phối hợp nghiên cứu:
CN. Nguyễn Thị Ngọc Vân
CN. Nguyễn Động
CN. Ngô Thị Nhƣợng
CN Đậu Ngọc Hùng
7. Kết quả bảo vệ: Loại khá

258
PHẦN THỨ NHẤT
NỘI DUNG CÁC CHỈ BÁO ĐẦU VÀO, ĐẦU RA, KẾT QUẢ VÀ TÁC ĐỘNG
ĐẾN CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÚNG
Các mục tiêu lâu dài: Là những mục tiêu/mục đích mà một quốc gia
hay một xã hội muốn đạt đƣợc trong một thời gian nhất định trong tƣơng
lai, chúng thƣờng đƣợc mô tả bằng những nhóm, bằng những cụm từ mang
tính chất định tính, ví dụ nhƣ Xoá đói hoặc giảm nghèo, bình đẳng giới...
Các mục tiêu cụ thể: Là lƣợng cụ thể của mục tiêu mà một nƣớc
hoặc một xã hội muốn đạt đƣợc ở thời điểm nhất định trong tƣơng lai, ví
dụ, mục tiêu của cộng đồng quốc tế là đến 2015 giảm một nửa tỷ lệ những
ngƣời sống trong tình trạng cực nghèo hay giảm một nửa tỷ lệ ngƣời sống
dƣới mức nghèo khổ (chuẩn chung quốc tế là có thu nhập 1USD/ngày theo
sức mua tƣơng đƣơng) so với tỷ lệ đã đạt đƣợc năm 1990... Đối với Việt
Nam, mục tiêu cụ thể cho năm 2010 là GDP tăng gấp đôi GDP năm 2000;
đạt đƣợc phổ cập phổ thông trung học cho tất cả các tỉnh, thành phố…
Các chỉ báo đƣợc định nghĩa và đo lƣờng bằng những biến cụ thể.
Có 136 chỉ báo đã đƣợc sử dụng để cụ thể hoá các mục tiêu phát triển trong
Chiến lƣợc Toàn diện về Tăng trƣởng và Xoá đói giảm nghèo. Theo chúng
tôi, để thuận tiện cho các trình bày sau này, cần phân biệt chỉ báo và chỉ
tiêu. Ví dụ nhƣ chỉ báo GDP có các chỉ báo dùng trong chiến lƣợc là GDP,
sử dụng GDP, tốc độ tăng giá trị tăng thêm của công nghiệp, xây dựng; của
nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và của dịch vụ; tỷ trọng GDP nông nghiệp,
công nghiệp, dịch vụ...
Các chỉ báo, xét về mặt logic, còn có nghĩa để theo dõi và đo tiến
trình thực hiện các mục tiêu. Theo một tƣ duy logic, thông qua các chỉ báo
có thể biết rằng các mục tiêu đề ra đƣợc định nghĩa nhƣ thế nào, tác động
vào nó là gì? để tạo ra các tác động cần làm gì? Tạo ra kết quả này bằng
biện pháp gì? bằng tiền, bằng nguồn lực nào? Hoặc từ một qui trình tƣ duy
logic ngƣợc lại, là có một khoản tiền, nguồn lực khác sẽ làm gì, kết quả của
nó sẽ giúp gì? tạo ra cái gì và sản phẩm sau nó sẽ tác động đến mục tiêu
của ta đã đề ra hay không?

259
Theo logic của tiến trình thực hiện, các chỉ báo có thể đƣợc phân tổ
thành chỉ báo trung gian (phản ánh các chỉ báo đầu vào, các chỉ báo đầu ra)
và các chỉ báo cuối cùng (bao gồm các chỉ báo kết quả và các chỉ báo tác
động/ hay ảnh hƣởng đến thực hiện các mục tiêu).
1. Chỉ báo tác động hay còn gọi là chỉ báo ảnh hƣởng
Khái niệm: Chỉ báo phản ánh tác động là chỉ báo phản ánh hiệu quả
sử dụng các nguồn lực để thực thi Chiến lƣợc, chính sách kinh tế - xã hội,
chƣơng trình dự án nhằm tạo ra các biến đổi tích cực trong thu nhập, trong
tiêu dùng của hộ, của các cá nhân và cộng đồng dân cƣ, cũng nhƣ tác động
đến các điều kiện sống của dân cƣ, đến các chỉ báo về xã hội, đến các ƣu
tiên của hộ gia đình và tác động vào các nhận thức về phúc lợi.
Công cụ thu thập các thông tin về các chỉ báo tác động:
Điều tra về mức sống dân cƣ/điều tra thu chi hộ gia đình;
Điều tra về một lĩnh vực riêng biệt nhƣ điều tra lực lƣợng lao động;
Nghiên cứu có tính chất định tính.
Các cơ quan thực hiện các chỉ báo tác động: Thƣờng do cơ quan
thống kê trung ƣơng tổ chức thực hiện (tại Việt Nam là Tổng cục Thống
kê), vì thu thập thông tin từ phía ngƣời dân và hộ gia đình riêng biệt không
phụ thuộc vào các cơ quan cung cấp tài chính, nhà tài trợ
Cấp thực hiện các chỉ báo tác động: Hộ gia đình, cá nhân, cộng
đồng dân cƣ là những ngƣời, tập thể đƣợc hƣởng lợi trực tiếp từ chƣơng
trình/dự án cụ thể.
Định kỳ thu thập số liệu đánh giá tác động: Thƣờng từ 3 đến 5 năm
1 lần, vì đây là cuộc điều tra phức tạp, tốn kém và cũng liên quan đến nhiều
chỉ tiêu.
2. Chỉ báo kết quả
Khái niệm: Là chỉ báo phản ánh sự tiếp cận hay khả năng sử dụng
các dịch vụ công của ngƣời dân. Đƣợc thể hiện qua mức độ thoả mãn của
ngƣời dân về cung cấp các dịch vụ công từ phía Nhà nƣớc, từ các tổ chức
vô vị lợi, từ các tài trợ khác. Bản thân các chỉ báo kết quả không phải là

260
mục tiêu của chƣơng trình, dự án nhƣng nó có quan hệ chặt chẽ đến phúc
lợi xã hội và của ngƣời dân và do vậy có mối liên quan chặt chẽ với mục
tiêu đã đƣợc đề ra.
Công cụ thu thập các thông tin về các chỉ báo kết quả:
Các cuộc điều tra hoặc các giám sát nhanh có ƣu tiên;
Điều tra đa mục tiêu hay điều tra mức sống dân cƣ;
Các nghiên cứu mang tính chất định tính
Cơ quan thực hiện thu thập chỉ báo kết quả:
Cơ quan Thống kê trung ƣơng (Tổng cục Thống kê);
Những nhà cung cấp dịch vụ ở địa phƣơng;
Những ngƣời khác (chủ thể tham gia chƣơng trình/dự án)
Cấp thực hiện các chỉ báo kết quả:
Hộ gia đình, cá nhân, các cơ sở (ví dụ trƣờng học, phòng khám...);
Các cộng đồng dân cƣ (có thể sẽ là các đơn vị nhỏ nhất đƣợc tham
gia chƣơng trình, dự án trực tiếp mà có thể theo dõi đƣợc);
Các chủ thể tham gia vào dự án, chƣơng trình.
Định kỳ thu thập chỉ báo kết quả: năm
Chỉ báo tác động và chỉ báo kết quả hợp thành chỉ báo cuối cùng.
Chỉ báo cuối cùng dùng để đo lƣờng các tác động của các chƣơng trình,
dự án nhất định nhằm tạo ra tác động trực tiếp vào phúc lợi cá nhân. Các
chỉ báo cuối cùng là kết quả của một số yếu tố, trong đó có những yếu tố
nằm ngoài tầm kiểm soát của các nhà hoạch định chính sách và quản lý
chƣơng trình, dự án. Các chỉ báo cuối cùng thƣờng gắn với những ngƣời
hƣởng lợi và vì vậy chúng đƣợc thu thập từ những ngƣời hƣởng lợi của
chƣơng trình, dự án thông qua các cuộc điều nhƣ điều tra thu, chi của hộ
gia đình. Trong các cuộc điều tra này các thông tin thƣờng đƣợc thu thập
trực tiếp từ hộ gia đình hoặc từ các nhân, thời gian thu thập thƣờng lâu hơn
và tốn kém hơn. Giám sát thực hiện các chỉ báo cuối cùng là để đánh giá
tiến độ thực hiện các mục tiêu cụ thể xem chúng đã đƣợc thực hiện nhƣ thế

261
nào, thực hiện đến đâu và liệu các mục tiêu đã đặt ra có khả thi hay không.
Để đạt đƣợc chỉ báo cuối cùng ngƣời ta cần có các chỉ báo trung gian.
Khái niệm Chỉ báo trung gian
Chỉ báo trung gian phản ánh sự đóng góp để đạt đƣợc một kết quả cụ
thể, thƣờng là các chỉ báo cụ thể hoá các chính sách của Chính phủ, nhằm
đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra. Các chỉ báo trung gian thay đổi phụ thuộc vào
các hành động của Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách và các cơ
quan nhƣ các cơ quan tài trợ hoặc các cơ quan tham gia chƣơng trình cụ
thể. Các chỉ báo trung gian thay đổi nhanh hơn, thể hiện các biến đổi ảnh
hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các chỉ báo tác động. Chỉ báo trung gian
có thể thu thập nhanh chóng hơn chỉ báo cuối cùng và trong chừng mực
nhất định chúng là cơ sở để thực hiện các mục tiêu cụ thể. Trong trƣờng
hợp các mục tiêu cụ thể có thể vì lý do nào đó không đảm bảo đƣợc tiến
độ hoặc mức độ thực hiện thì chỉ báo trung gian có thể đƣợc điều chỉnh, và
điều chỉnh để làm sao có thể đạt đƣợc mục tiêu cụ thể nhƣ đã dự định. Các
chỉ báo trung gian thƣờng đƣợc phân chia chi tiết hơn, theo khu vực hoặc
theo thời gian để thuận tiện cho việc giám sát và đƣợc chia thành chỉ báo
đầu vào và chỉ báo đầu ra.
3. Chỉ báo đầu vào
Định nghĩa: Chỉ báo đầu vào là những chỉ báo phản ánh các nguồn
lực phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu cụ thể và các mục tiêu lâu dài. Chỉ
báo đầu vào là tiền hay một lƣợng vật chất cụ thể và sức lao động của con
ngƣời. Tiền có thể đƣợc huy động từ ngân sách nhà nƣớc, từ các nguồn vốn
ngoài ngân sách nhà nƣớc (cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức
phi chính phủ, tổ chức vô vị lợi, từ các quĩ).
Ví dụ chỉ báo đầu vào: Chi ngân sách của nhà nƣớc cho giáo dục để
xây dựng cơ sở vật chất nhƣ trƣờng học; kiên cố hoá trƣờng học nhằm xoá bỏ
trƣờng thô sơ, tranh tre, nứa lá; Chi mua sắm các phƣơng tiện phục vụ giảng
dạy, học tập, cải tiến sách giáo khoa, nâng cao trình độ của giáo viên... hay
các chỉ báo về huy động nguồn lực cho giảm nghèo.
Công cụ để thu thập các chỉ báo đầu vào:

