ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGÔ VIỆT CƯỜNG
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH DIỆN TÍCH TRỒNG CỎ VA06 PHÙ HỢP ĐỂ LÀM THỨC ĂN CHO NGỰA BẠCH TẠI CHI NHÁNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘNG VẬT BẢN ĐỊA, XÃ TỨC TRANH, HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành đào tạo : Nông lâm kết hợp
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2016 - 2020
Thái Nguyên, năm 2020
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGÔ VIỆT CƯỜNG
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH DIỆN TÍCH TRỒNG CỎ VA06 PHÙ HỢP ĐỂ LÀM THỨC ĂN CHO NGỰA BẠCH TẠI CHI NHÁNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘNG VẬT BẢN ĐỊA, XÃ TỨC TRANH, HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
: Chính quy
Hệ đạo tạo Chuyên ngành đào tạo : Nông lâm kết hợp Lớp Khoa Giáo viên hướng dẫn : NLKH 48 : Lâm nghiệp : TS. Trần Công Quân
Thái Nguyên, năm 2020
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu khẩu phần ăn của
Ngựa Bạch để xác định diện tích trồng cỏ VA06 tại Chi nhánh nghiên cứu và
phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi,
xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” là công trình nghiên
cứu của bản thân tôi, công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS.
Trần Công Quân và TS. Trần Đình Quang (Nguyên trưởng khoa
CNSH&CNTP). Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận đã
được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo. Các số liệu và kết quả nghiên cứu
trình bày trong khóa luận là quá trình theo dõi hoàn toàn trung thực, nếu có
sai sót gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật
của khoa và nhà trường đề ra.
Thái Nguyên, ngày..…tháng…..năm 2020
Xác nhận GV hướng dẫn Người viết cam đoan
TS. TRẦN CÔNG QUÂN NGÔ VIỆT CƯỜNG
Xác nhận của GV phản biện
ii
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một khâu rất quan trọng trong quá trình học tập của
mỗi sinh viên nhằm hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết
vào thực tiễn, bước đầu làm quen với các kiến thức khoa học. Qua đó, sinh viên
ra trường sẽ hoàn thiện về kiến thức lý luận, phuơng pháp làm việc, năng lực
công tác nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của công việc sau này.
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm và Ban chủ
nhiệm khoa Lâm Nghiệp, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu khẩu
phần ăn của Ngựa Bạch để xác định diện tích trồng cỏ VA06 tại Chi nhánh
nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai
khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Trong suốt quá trình thực tập, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy
cô giáo, các cô, các chú nơi tôi thực tập tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của
hai thầy giáo TS. Trần Công Quân và TS. Trần Đình Quang cùng toàn thể các
thầy, cô đã trực tiếp hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập cũng như
trong quá trình báo cáo đề tài tốt nghiệp.
Do trình độ và thời gian có hạn mặc dù đã cố gắng, song khóa luận tốt
nghiệp của tôi không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những
ý kiến chỉ bảo của các thầy cô giáo, ý kiến đóng góp của bạn bè để khóa luận tốt
nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Ngô Việt Cường
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN
Bảng 2.1. Thành phần dinh dưỡng của 1 kg cỏ hoà thảo tươi ...................................... 8
Bảng 2.2. Thành phần hoá học của một số giống cỏ hoà thảo ................................... 14
Bảng 2.3. Tình chăn nuôi động vật hoang dã của Trang trại ...................................... 35
Bảng 2.4. Số lượng Ngựa bạch phân theo mục đích chăn nuôi .................................. 36
Bảng 4.1. Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cỏ VA06 qua các thời vụ ......................... 47
Bảng 4.2. Năng suất của cỏ VA06 qua các thời vụ (tấn/ha/vụ) .................................. 49
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của thời vụ đến hiệu suất sử dụng cỏ VA06 (kg/ngày) ........... 50
Bảng 4.4 Khẩu phần ăn của Ngựa nuôi theo mục đích kinh doanh ............................ 51
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
CNSH&CNTP Công Nghệ Sinh Học và Công Nghệ Thực Phẩm
VCK Vật Chất Khô
HTNC Huyết Thanh Ngựa Chửa
TKMX Trực Khuẩn Mủ Xanh
NN&PTNT Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn
HTX Hợp Tác Xã
BCH Ban Chấp Hành
v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ..........................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. ii
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN .................................................. iii
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT ......................................................iv
MỤC LỤC .................................................................................................................... v
1.1. Đặt vấn đề .............................................................................................................. 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ............................................................................... 2
1.2.1. Mục tiêu của đề tài .............................................................................................. 2
1.2.2. Yêu cầu của đề tài ............................................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài .................................................................................................. 3
1.3.1. Ý nghĩa trong thực tập và nghiên cứu khoa học ................................................. 3
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất ......................................................................... 3
Phần 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ........................................................ 4
2.1. Cơ sở khoa học và lý luận của vấn đề nghiên cứu ................................................. 4
2.1.1. Cơ sở khoa học.................................................................................................... 4
2.1.2. Cơ sở lý luận của việc trồng và đánh giá các giống cỏ hoà thảo ........................ 9
2.1.3. Đặc điểm của giống cỏ VA06 ........................................................................... 15
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam .............................................. 19
2.2.1. Tình hình nghiên cứu cỏ và Ngựa bạch trên thế giới ....................................... 19
2.2.2. Tình hình nghiên cứu cỏ và Ngựa bạch ở Việt Nam ........................................ 23
2.2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Tỉnh Thái Nguyên ....................... 31
2.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội .................................................................. 31
2.2.2. Tình hình nghiên cứu cỏ và Ngựa bạch ở Việt Nam ........................................ 34
2.2.3. Thực trạng tình hình phát triển chăn nuôi động vật hoang dã
và bán hoang dã của Trại ............................................................................................ 34
2.2.4. Thực trạng phát triển đàn Ngựa bạch của Trại chăn nuôi động vật
bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương ...................................................... 35
vi
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................................................ 37
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 37
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu ....................................................................................... 37
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................... 37
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ........................................................................... 37
3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu ................................................................. 37
3.3.1. Cách tiếp cận của đề tài .................................................................................... 37
3.3.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể ........................................................................ 38
3.3.3. Phương pháp điều tra thực địa .......................................................................... 38
3.3.4. Phương pháp phân tích & xử lý số liệu ............................................................ 40
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................................. 44
4.1. Sơ lược về tình hình phát triển của Chi nhành Chăn nuôi động vật
bán hoang dã tại xã Tức Tranh, huyện Phú lương, tỉnh Thái Nguyên ........................ 44
4.1.1. Tình hình sản xuất của của cây thức ăn chăn nuôi ............................................ 44
4.1.2. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi ngựa ........................................................ 44
4.1.3. Công tác thú y ................................................................................................... 45
4.2. Khả năng cho năng suất của giống cỏ VA06 qua các thời vụ trong năm ........... 46
4.2.1. Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cỏ VA06 qua các thời vụ ............................... 46
4.2.2. Năng suất của cỏ VA06 qua các thời vụ khác nhau ......................................... 49
4.2.3. Ảnh hưởng của thời vụ đến hiệu suất sử dụng cỏ VA06 .................................. 49
4.3. Xác định khẩu phần ăn của 01 Ngựa bạch (kg/con/năm) tại Trại chăn nuôi
động vật bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương ........................................ 51
4.3.1. Khẩu phần ăn của Ngựa bạch ........................................................................... 51
4.3.2. Cân đối khẩu phần thức ăn của Ngựa bạch với diện tích cần trồng cỏ VA06
ở Chi nhánh chăn nuôi động vật bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương ....... 51
4.4. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong trồng cỏ nhằm phát triển chăn nuôi động
vật bán hoang dã thuộc Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa, ở
xã Tức Tranh, huyện Phú Lương .................................................................................. 55
vii
4.4.1. Đề xuất một số biện pháp khắc phục tình trạng thiếu cỏ ở một số
thời điểm trong năm .................................................................................................... 55
4.4.2. Kỹ thuật trồng một số cỏ hoà thảo thân bụi ...................................................... 56
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................................... 61
5.1 Kết luận ................................................................................................................. 61
5.2. Kiến nghị .............................................................................................................. 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 62
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Những năm gần đây, ngành chăn nuôi đại gia súc đang được chú trọng phát
triển. Số lượng đàn gia súc tăng lên một cách nhanh chóng. Trái ngược với tình
hình đó là sự giảm đi về diện tích đất trồng cỏ và diện tích bãi chăn. Người nông
dân phải mất nhiều thời gian và công sức hơn để tìm kiếm thức ăn cho đàn gia
súc của mình. Nguồn cỏ tự nhiên và nguồn phụ phẩm nông nghiệp không còn
đủ đáp ứng nhu cầu chăn nuôi nữa, đặc biệt là những hộ chăn nuôi lớn (chăn
nuôi ngựa, bò sữa, chăn nuôi bò thịt, chăn nuôi bò vỗ béo). Đối với những hộ
này, thức ăn là khâu vô cùng quan trọng quyết định trong chăn nuôi. Chính vì
vậy họ đã chọn giải pháp trồng cỏ để chủ động nguồn thức ăn thường xuyên và
có chất lượng cho đàn gia súc của mình.
Cỏ VA06 là một giống cỏ lai được lai tạo giữa giống cỏ voi và cỏ đuôi sói
của Nam Mỹ. Hiện nước ta đã có rất nhiều giống cỏ có năng suất hiệu quả kinh
tế cao, trong đó giống cỏ Varisme số 06 ( viết tắt là VA06) là cho năng suất và
chất lượng cao hơn rất nhiều, có thể đạt năng suất trên 480 tấn/ha/năm (năng suất
chất xanh trung bình của cỏ voi chỉ từ 100 tấn đến 200 tấn/ha/năm, cỏ Ghine
cho năng suất từ 80-150 tấn/ha/năm). So với các giống cỏ khác cỏ VA06 ít tốn
công chăm sóc và có hàm lượng dinh dưỡng cao, đây là loại thức ăn tốt nhất cho
các loại gia súc ăn cỏ, gia cầm và cá trắm cỏ. Cỏ VA06 vừa có thể làm thức ăn
tươi, làm thức ăn ủ chua, thức ăn hong khô hoặc làm bột cỏ khô để nuôi bò thịt,
bò sữa, dê, cá… mà không cần hoặc về cơ bản không cần cho ăn thêm thức ăn
tinh vẫn đảm bảo vật nuôi phát triển bình thường. Hơn nữa, cỏ VA06 còn có khả
năng chống chịu với nhiều điều kiện thời tiết bất lợi của môi trường như chịu
hạn, chịu rét...khả năng lưu gốc rất tốt trồng 1 năm có thể thu liên tục 6-7 năm
(cỏ voi chỉ từ 3-4 năm là phải trồng lại) chính vì vậy giống cỏ này được xem là "
2
Vua của các loại cỏ". Hiện nay, giống cỏ này đã được trồng rộng ở một số trang
trại cũng như nhiều hộ nông dân chăn nuôi đại gia súc nhưng năng suất của cỏ
qua các thời vụ, qua các tháng trong năm cũng có sự khác biệt lớn khiến người
nông dân và các trang trại chăn nuôi vẫn chưa nắm bắt được để điều chỉnh số
đầu gia súc hợp lý vì vậy dẫn đến tình trạng thiếu cỏ ở một số tháng trong năm.
Tại trung tâm nghiên cứu bảo tồn động vật hoang dã tại Phú Lương - Thái
Nguyên. Trung tâm chăn nuôi Ngựa bạch với số lượng lớn (80 con), do vậy việc
cung câp thức ăn cho ngựa hết sức được chú trọng, Trung tâm đã trồng một sô
giống cỏ nhằm đáp ứng nhu cầu thức ăn xanh cho ngựa. Giống cỏ được trồng
nhiều nhất ở đây là cỏ VA06.
Trước tình hình đó chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu: “Nghiên
cứu khẩu phần ăn của Ngựa Bạch để xác định diện tích trồng cỏ VA06 tại
Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần
khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu của đề tài
- Xác định được khẩu phần ăn của Ngựa bạch trung bình/ngày và trung
bình/năm (Kg/con/năm).
- Xác định sản lượng trung bình cỏ/ha/năm có thể cung cấp thức ăn cho
động vật.
- Cân đối lượng thức ăn (cỏ) với số lượng động vật (Ngựa bạch) để phát
triển chăn nuôi Ngựa và hươu giải pháp phát triển mô hình.
1.2.2. Yêu cầu của đề tài
Đề tài thu thập số liệu về: Khẩu phần thức ăn cỏ VA06 cho 01 Ngựa bạch
trung bình một ngày (hoặc 01 năm); Xác định sản lượng trung bình kg/ha/năm
tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần
khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.
3
Cân đối sản lượng cỏ cho 01 ha/số lượng Ngựa bạch và đề xuất một số giải
pháp phát triển tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa –
Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh
Thái Nguyên.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong thực tập và nghiên cứu khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp các dẫn liệu khoa học có giá trị
về : Khẩu phần thức ăn cỏ VA06 cho 01 Ngựa bạch trung bình một ngày (hoặc
01 năm); Xác định sản lượng trung bình kg/ha/năm tại tại Chi nhánh nghiên cứu
và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã
Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.
Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo tốt cho công tác nghiên cứu, phát
triển tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ
phần khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những giải pháp thiết thực nhằm phát
triển ngành chăn nuôi và trồng cỏ VA06 tại tại Chi nhánh nghiên cứu và phát
triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã Tức
Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.
4
Phần 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học và lý luận của vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Cơ sở khoa học
2.1.1.1 Đặc tính thực vật của cỏ hoà thảo
Cỏ hoà thảo chỉ có một họ duy nhất là họ hoà thảo (Graminea) và có 28
họ phụ, 563 giống, 6802 loài. Cỏ hoà thảo chiếm vị trí quan trọng vì nó chiếm
95 - 98% trong thảm cỏ (Từ Quang Hiển và cộng sự, 2002) [4]
* Đặc tính sinh thái
Cỏ hoà thảo chiếm vị trí quan trọng trong thảm cỏ do tính thích ứng rộng
và chúng có mặt ở tất cả các vùng khí hậu cũng như các vùng đất đai khác nhau.
Một số loài có thể sinh trưởng được ở các vùng đất khô hạn, độ ẩm trung
bình 20 - 30%, mùa đông nhiệt độ thấp nhưng chúng vẫn sinh trưởng và phát
dục tốt như: cỏ xương cá, cỏ lông đồi (Eulalia), cỏ B.decumbens...
Một số loài sinh trưởng được ở những vùng đất ẩm, độ ẩm lớn từ 60 - 80%,
mùa khô độ ẩm thấp hơn nhưng chúng vẫn sinh trưởng và phát dục bình thường như:
cỏ Paspalum atratum, cỏ đuôi bò (festucarubra), cỏ đuôi mèo (pleuin pratense)...
Có loài sống cả ở những nơi đất nhập nước, đất thụt lầy như: Cỏ môi (leersia
hexandra), cỏ bấc (juncus effusus), cỏ lồng vực (echilochloa crus - galli)...
Dựa trên cơ sở những hiểu biết về đặc tính sinh thái của từng loại cỏ mà
ta có thể chọn giống cỏ phù hợp để trồng trên các địa hình đất đai khác nhau, có
độ ẩm, độ cao khác nhau.
* Đặc tính sinh vật.
Cỏ hoà thảo là cây có một lá mầm (đơn tử diệp) thân tròn hoặc bầu dục
(tuỳ theo giống), lá mọc thành hai dãy, phần lớn không có cuống nhưng bẹ to,
có thìa lìa, phiến lá dài, vân lá song song. Thân cỏ thuộc loại thân rạ, rỗng (trừ
mấu đốt). Cũng có loài thân đặc như cỏ voi, goatemala, rễ thuộc loại rễ chùm,
5
hoa phần lớn là lưỡng tính thích ứng với lối thụ phấn nhờ gió (Võ Văn Chi và
Dương Đức Tiến,1976) [2]
Căn cứ vào hình dáng của thân và đặc điểm sinh trưởng người ta chia cỏ
hoà thảo thành các loại sau:
* Loại thân rễ: Loại thân này nằm dưới mặt đất, chia nhánh dưới mặt đất,
đại diện là cỏ tranh (imperata cylindrica) loài này yêu cầu đất tơi xốp, mật độ
cỏ thưa, độ che phủ thưa có thể trồng làm đồng cỏ chăn thả.
* Loại thân bụi: Loại này từ gốc đẻ ra nhiều nhánh tạo thành bụi như khóm
lúa, bộ rễ phát triển mạnh, nhánh có thể đẻ từ dưới mặt đất hoặc lên trên mặt đất.
Cỏ này cho năng suất cao ở những nơi đất tốt, tơi xốp và thoáng khí. Đại diện
loại cỏ này là cỏ ghinê (Panicum maximum), cỏ mộc châu (Paspalum wirvilei).
Loại cỏ này có thể trồng để thu cắt hoặc chăn thả.
* Loại thân bò: Cỏ loại này thân nhỏ và mềm chính vì vậy thường nằm
ngả trên mặt đất một số giống như dây lang, từ các đốt có thể đâm rễ xuống mặt
đất. Do thân bò lan và nằm ngả trên mặt đất nên nó có khả năng tạo nhanh thành
một thảm cỏ dầy đặc, che phủ kín mặt đất. Đại diện là cỏ pangola (Digitaria
decumbens), Lông para (Brachiaria mutica). Cỏ thân bò cho năng suất thấp, thường
dùng để chăn thả hoặc cắt làm cỏ phơi khô, dự trữ cho gia súc vào mùa đông.
* Loại thân đứng: Loại này mọc mầm từ phần gốc ở dưới mặt đất hoặc
hom trồng. Mầm vươn thẳng lên giống như cây mía, cây ngô. Thân cao, to, cho
năng suất cao. Đại diện cỏ này là cỏ VA06 (Varisme số 6).
* Đặc tính sinh lý.
- Nhu cầu về nước:
Cỏ hoà thảo yêu cầu nước cao do bộ lá lớn, hệ số toả hơi nước lớn hơn họ
đậu. Hệ số toả hơi nước vào khoảng 400 - 500 gram, trong khi cỏ họ đậu 214-
216 gram
Độ ẩm đất yêu cầu theo từng giai đoạn.
Từ nảy mầm đến lúc chia nhánh: 25 - 30%.
Giai đoạn phát triển cành: 75%
6
Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần (Trịnh Văn Thịnh và cs,
1974) ) [13].
- Nhu cầu về dinh dưỡng:
Cỏ hoà thảo đòi hỏi đất tốt, giầu mùn và đạm, lân, kali. Nhu cầu dinh
dưỡng cũng chia theo từng giai đoạn.
Giai đoạn 1 (nảy mầm - phân nhánh) cần nhiều đạm, lân, kali.
Giai đoạn 2 (phân nhánh) cần nhiều đạm, lân.
Giai đoạn 3 (ra hoa, hình thành hạt) cần nhiều lân và kali.
Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lượng phân bón càng lớn.(Nguyễn
Đăng Khôi, Dương Hữu Thời, 1981) [6].
- Nhu cầu về không khí:
+ Loại thân rễ, thân bụi, thân đứng chia nhánh dưới mặt đất thì đòi hỏi đất
phải tơi xốp, thoáng khí.
+ Loại thân bụi chia nhánh trên mặt đất và thân bò thì có thể chịu được
đất kém thoáng khí hơn.
* Đặc tính sinh trưởng.
Cỏ hoà thảo sinh trưởng và tái sinh trải qua 3 giai đoạn.
+ Giai đoạn 1: Cỏ mới gieo trồng hoặc sau khi cắt lúc này tốc độ sinh
trưởng chậm.
+ Giai đoạn 2: Sau khi gieo trồng hoặc thu cắt 15 - 20 ngày cỏ sinh trưởng
và phát triển nhanh.
+ Giai đoạn 3: Sau khi gieo trồng hoặc thu cắt 40 - 70 ngày cỏ sinh trưởng
chậm hoặc ngừng hẳn (Đoàn Ẩn,Võ Văn Trị, 1976) [1].
Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của từng giống để chúng ta định thời
gian thu hoạch hợp lý.
Tiêu chuẩn thu hoạch căn cứ vào điều kiện sinh trưởng của giống cỏ. Thu
hoạch non, năng suất sẽ thấp, thu hoạch già giá trị dinh dưỡng sẽ kém, ảnh hưởng
đến tái sinh lần sau, giảm số lứa cắt/năm. Nếu bộ phận trên đất quá mau lứa thì
7
dự trữ đường bột tích luỹ ở gốc để phát triển cành lá sẽ bị kiệt, đồng cỏ chóng
bị tàn lụi.
Đối với cỏ ghinê thu hoach khi thảm cỏ cao 60 - 90 cm, cỏ lông para 45 -
60 cm, cỏ pangola cao 35 - 50 cm (Hamphray, 1980) [14]
Theo Điền Văn Hưng (1964) [5] cho biết:
- Cỏ thân bò thu hoạch lứa đầu sau khi trồng từ 50 - 55 ngày còn sau khi
cắt 30 - 45 ngày.
- Cỏ thân bụi thu hoạch lứa đầu sau trồng 60 ngày còn lứa sau khi cắt 35
- 45 ngày.
- Cỏ thân đứng sau trồng hoặc sau khi cắt trên 60 ngày.
* Sức sống của cỏ hoà thảo.
Sức sống của cây hoà thảo không giống nhau, có loài sống lâu năm nhưng
có loài cũng chỉ sống được một năm. Vì vậy người ta chia cỏ hoà thảo ra làm 4
loại sau:
- Loại cỏ sống 1 năm thì tàn lụi và chết gọi là cỏ hàng năm như: cỏ Xu
đăng, cỏ Lồng vực...
- Loại cỏ sức sống ngắn (2 -3 năm) như: cỏ giày, cỏ mật (melinis
minutiflora)
- Loại cỏ sức sống vừa (4 - 6 năm) như: cỏ pangola, cỏ voi, cỏ ghinê,
paspalum, Brachiaria....
- Loại có sức sống lâu (6 - 10 năm) như cỏ mạch tước không râu (Quang
Ngọ, Sinh Tặng, 1976) [7].
Căn cứ vào sức sống của các loại cỏ mà người ta dự tính thời gian trồng
lại để đảm bảo năng suất.
Sau đây là bảng thành phần dinh dưỡng của một số giống cỏ hòa thảo.
8
Bảng 2.1. Thành phần dinh dưỡng của 1 kg cỏ hoà thảo tươi
Pr Tên cỏ VCK Lipit Xơ DXKĐ Khoáng Ca P NLTĐ thô
300 Cỏ Mộc Châu 14,00 1,50 1,10 5,10 5,10 1,20 0,10 0,04
313 Cỏ Goatemala 15,40 1,10 0,50 5,40 7,00 1,40 0,07 0,03
Cỏ Voi 45 18,00 1,98 0,68 6,17 7,39 1,78 0,12 0,08 374 ngày
490 Cỏ Ghinê 23,30 2,47 0,51 7,30 10,62 2,40 0,13 0,03
547 Cỏ Pangola 25,34 1,79 0,50 8,59 12,94 1,52 0,09 0,05
2.1.1.2 Giá trị kinh tế của cỏ hoà thảo trong nông nghiệp
(Viện chăn nuôi Quốc gia, 2001) [25]
Thực tiễn sản xuất chỉ rõ rằng cỏ không những là thức ăn chủ yếu và tốt
nhất của gia súc nhai lại mà nó còn là loại cây thức ăn dễ sản xuất, có năng suất
cao và tương đối ổn định, chưa kể ưu thế của các giống cỏ lâu năm là thường chỉ
cần gieo trồng một lần mà sử dụng được trong nhiều năm. Cỏ hoà thảo cho năng
suất và giá trị dinh dưỡng cao, khi chế biến dự trữ ít rơi rụng lá, ít thối mốc, tỷ
lệ cỏ độc ít, chịu đựng chăn dắt cao.
Một hecta cỏ tự nhiên cho 10 - 20 tấn chất xanh/ha/năm, 1ha cỏ trồng thân
bò cho 30 - 40 tấn, thân bụi cho 50 - 60 tấn, thân đứng cho 100 tấn/ha/năm (cỏ
voi lai, kingrass), 1kg cỏ tươi cho từ 0,1 - 0,2 đơn vị thức ăn tương đương với
250 - 500kcal ME (Từ Quang Hiển và cộng sự, 2002) [4].
Theo tài liệu nghiên cứu nước ngoài, 1 ha cỏ trồng mỗi năm có thể cung
cấp từ 5000 - 5500kg chất dinh dưỡng và 1000 - 1100kg đạm tiêu hoá. Nhiều
chuyên gia đồng cỏ cũng cho biết 1ha đồng cỏ tốt có giá trị dinh dưỡng bằng 27
- 28 tạ ngô hạt hoặc 27 - 28 tạ lúa mì (Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị, 1976) [1].
Ngoài ra, đồng cỏ còn có lợi ích là không đòi hỏi kĩ thuật phức tạp, cỏ có thể
trồng trên nhiều loại đất, cỏ trồng một lần có thể sử dụng được trong nhiều năm.
Như vậy, trồng cỏ cần đầu tư lao động ít hơn so với các loại cây trồng khác, từ đó
9
giá thành cũng tương đối hạ hơn. Trong sản xuất nông nghiệp, ngoài ý nghĩa làm
thức ăn cho gia súc, cỏ còn có tác dụng chống xói mòn, bảo vệ đất.
2.1.2. Cơ sở lý luận của việc trồng và đánh giá các giống cỏ hoà thảo
Trong quá trình nghiên cứu để đánh giá một giống cỏ có tốt hay không tốt
trước khi đưa vào sản xuất người ta thường căn cứ vào một số yếu tố chính sau:
2.1.2.1 Năng suất chất xanh
Là toàn bộ khối lượng chất xanh thu được trên đơn vị diện tích.Như chúng
ta đã biết cơ thể thực vật và ngoại cảnh có mối quan hệ hết sức khăng khít. Khi
điều kiện ngoại cảnh thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi quá trình trao đổi chất và
khả năng tích luỹ chất khô, làm thay đổi thành phần hoá học của thực vật. Những
điều kiện ngoại cảnh và yếu tố khác ảnh hưởng đến năng suất chất lượng của cỏ
hoà thảo đó là:
* Điều kiện khí hậu.
Khí hậu bao gồm lượng mưa và sự phân bố lượng mưa, ẩm độ không khí,
cường độ chiếu sáng và thời gian chiếu sáng trong năm. Những yếu tố này có
ảnh hưởng lớn đến sản lượng và chất lượng cây trồng.
Ánh sáng cung cấp năng lượng để thực vật quang hợp. Cường độ ánh sáng
và thời gian chiếu sáng có ảnh hưởng quyết định tới số năng lượng nhận được
của cây trồng.
Nhiệt độ cần cho sự sinh trưởng và phát triển của cỏ. Nhiệt độ quá cao
làm cho thực vật bốc hơi mạnh, làm cho cỏ khô héo. Nhiệt độ thấp quá làm cho
các mạch dẫn các chất dinh dưỡng co lại. Các hệ thống men hoạt động kém. Cây
không phát triển được.
Ẩm độ đất và không khí liên quan chặt chẽ đến lượng mưa, ẩm độ đất
ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của bộ rễ cỏ và khả năng hút các chất dinh
dưỡng. Ngoài ra nó còn quyết định đến sự phát triển của vi sinh vật đất và độ tơi
xốp của đất.
Như vậy điều kiện khí hậu có ảnh hưởng lớn đến các quá trình sinh hoá,
diễn biến trong thực vật, như sự hấp thụ nước, hấp thụ các chất dinh dưỡng, sự
10
trao đổi các chất khí, quang hợp, cuối cùng sẽ ảnh hưởng tới sự tích luỹ các chất
hữu cơ và chất khoáng của thực vật.
* Điều kiện đất đai.
Đất là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, do đó, tính chất vật
lý cấu tượng đất sẽ ảnh hưởng đến độ ẩm đất, sự hấp thụ các chất dinh dưỡng, sự
phát triển của các hệ vi sinh vật trong đất và ảnh hưởng tới năng suất cây trồng.
Đất giàu mùn, tỷ lệ cát, sét, sỏi thấp, rễ cỏ sẽ phát triển nhanh, mạnh, hệ
vi sinh vật hoạt động tốt cỏ sẽ cho năng suất cao, phẩm chất tốt.
Đất có hạt sét quá nhiều thì dí chặt, yếm khí, bộ rễ cỏ hoạt động kém, mặt
khác chất độc tích luỹ trong đất nhiều làm cho cỏ phát triển kém, năng suất, chất
lượng thấp.
Đất có tỷ lệ cát quá cao, sét quá ít < 5% thì không giữ được nước và các
chất dinh dưỡng cũng không đảm bảo cho sự sinh trưởng phát triển của cỏ.
* Điều kiện phân bón.
Phân bón là nguồn bổ sung cung cấp chất mầu cho đất. Lượng phân bón
cho cây trồng nhiều hay ít và các loại phân bón khác nhau sẽ ảnh hưởng tới quá
trình sinh trưởng và phát triển, quá trình trao đổi chất của cây trồng. Từ đó sẽ
dẫn đến sự khác nhau về năng suất, sản lượng, thành phần dinh dưỡng. Các nhà
khoa học đã khẳng định “Phân bón quyết định trên 50 % việc tăng năng suất cây
trồng” (FAO, Rome, 1984) [18].
+ Phân chuồng:
Phân chuồng (phân hữu cơ) là loại phân không thể thiếu đối với cây trồng.
Bón phân hữu cơ là biện pháp quan trọng cải thiện tính chất, tăng độ phì của đất,
tạo tiềm năng cho năng suất cao.
Thành phần phân chuồng có chứa nhiều nguyên tố dinh dưỡng bao gồm
dinh dưỡng đa lượng, trung lượng và vi lượng, giúp cho cây trồng phát triển cân
đối hơn.
Để đảm bảo năng suất cây trồng tăng, đất không bị suy kiệt dinh dưỡng
và nền sản suất bền vững thì sử dụng phân chuồng là điều hết sức cần thiết.
11
+ Phân đạm:
Đạm trong cây thường chiếm tỷ lệ 1 - 3% trọng lượng vật chất khô. Đạm
có nhiều nhất lúc cây còn non và giảm đi khi cây ra hoa do khả năng hút chất
dinh dưỡng lúc này của cây bị giảm đi.
Trong cây đạm ở dạng protit đơn (các amino axít), protit kép (protein) các
alcaloid và glucozit (Nguyễn Xuân Trường và cs, 2000) [15].
Đạm là thành phần chính của diệp lục, nguyên sinh chất, các loại men cần
thiết cho quá trình trao đổi chất trong cây.
Khi cây trồng thiếu đạm sẽ bị cằn cỗi, lá kém xanh, ra hoa kém và thưa
thớt, ít quả.
Khi cây quá nhiều đạm sẽ làm cho bộ rễ kém phát triển, phần trên mặt đất
phát triển um tùm, cây yếu, hay đổ lốp, dễ mắc bệnh.
Sản phẩm thu chính của cỏ là thân và lá do vậy mà đạm là yếu tố không thể
thiếu khi sản suất. Tuy nhiên khi bón đạm cho cỏ cần phải bón vừa phải, cân đối thì
sẽ làm tăng năng suất, tăng hàm lượng đạm tổng số trong cây, giảm hàm lượng xơ,
gia súc dễ ăn và tăng tính ngon miệng. Nếu bón nhiều đạm sẽ có hiện tượng cây tích
luỹ nhiều alcaloit, glucozit làm cho cỏ có vị đắng giảm tính ngon miệng của gia súc.
Trong quá trình hình thành các chất trung gian do cây bị tiêu hao năng lượng quá
nhiều cho nên hàm lượng đường bột trong cây sẽ giảm xuống.
Đạm trong đất có tỷ lệ trung bình từ 0,02 - 0,4% (Theo Seppe - Satsaben,
--) và được gọi là đạm
1960)[23]. Trong tổng số đạm trong đất có khoảng 95% ở dạng hữu cơ, còn 5%
-, NO2
ở dạng vô cơ gồm amoniac, nitrat, nitric (NH3, NO3
dễ tiêu vì cây hút đạm trong đất chủ yếu ở dạng này.
Đạm hữu cơ trong đất chủ yếu là do vi sinh vật phân giải các Prôtít thực
vật, còn đạm vô cơ được phân giải từ đạm hữu cơ. Cho nên khi đánh giá hàm
lượng đạm trong đất người ta đánh giá chủ yếu thông qua hàm lượng đạm tổng
số và đạm dễ tiêu trong đất.
12
+ Phân lân.
Lân là cần thiết bậc nhất cho quá trình trao đổi chất của cây. Có tác dụng
điều hoà phản ứng của cây khi điều kiện môi trường đột ngột thay đổi, tăng
cường sự phát triển của bộ rễ, kích thích cây bộ đậu hình thành nốt sần. Ngoài
ra lân còn làm tăng phẩm chất nông sản.
Lân trong cây chiếm tỷ lệ khoảng 0,3 - 0,4% vật chất khô, trong hạt tỷ lệ
lân cao hơn trong thân lá và rơm rạ rất nhiều.
Các dạng lân trong cây là nucleoprotit, phosphoprotit, lexithin,
- -. Ngoài ra
sacarophophat, photphatide (Nguyễn Xuân Trường và cs, 2000) [15].
-, HPO4
Cây trồng hút lân vô cơ, chủ yếu dưới dạng ion H2PO2
cây có thể hút lân ở dạng hữu cơ được nhưng rất ít và chậm. Chất Mg có tác
dụng rất mạnh đến việc hút và vận chuyển lân trong cây do vậy khi bón Mg thì
việc hút lân của cây sẽ dễ dàng hơn.
Độ di chuyển của lân trong cây cũng nhanh hơn nhiều sự di chuyển lân
trong đất, do trong đất có nhiều yếu tố có khả năng kết tủa hoặc kìm hãm sự di
động của lân thực tế mà cây cần sử dụng.
Lân trong đất chiếm tỷ lệ 0,02 - 0,08%, lân ở lớp đất mặt thường cao hơn
so với lớp đất dưới. Các dạng lân trong đất gồm dạng lân hữu cơ và dạng vô cơ.
Dạng lân hữu cơ: Chủ yếu có trong thành phần của mùn, dạng này cây ít hút.
Dạng lân vô cơ: Chủ yếu ở dạng phốt phát can xi và phốt phát sắt, nhôm
(FePO4 AlPO4....)
+ Phân kali:
Kali làm tăng vai trò quang hợp của lá, tăng cường sự hình thành bó mạch,
làm cho cây cứng cáp, góp phần vào việc chống đổ, chống lốp cho cây trồng.
Kali còn kích thích sự hoạt động của các men do đó làm tăng cường hoạt
động trao đổi chất trong cây, tăng cường sự hình thành axít hữu cơ, làm cho cây
tăng cường quá trình tổng hợp prôtít. Ngoài ra, kali còn tăng khả năng chống rét
cho cây và tăng sức đẻ nhánh của cây ngũ cốc.
13
Trong cây kali chiếm từ 0,5 - 1% VCK. Hạt ngũ cốc chiếm nhiều hơn rơm
rạ. Tro bếp có tỷ lệ kali rất cao. Tỷ lệ kali ở trên mặt đất thường cao hơn phần
dưới mặt đất và có chủ yếu trong dịch tế bào (80%), một phần bị chất keo của tế
bào hấp phụ, khoảng 1% được giữ lại trong nguyên sinh chất.
Trong đất kali chiếm tỷ lệ 0,2 - 0,4%. Đất nhiệt đới chứa kali thấp hơn đất
ôn đới vì vùng nhiệt đới mưa nhiều, các ion K+ lại dễ bị rửa trôi (Sepp Sataben,
1960) [23].
Kali trong đất ở 3 dạng sau: Kali không trao đổi > kali trao đổi > kali hoà tan.
Kali là yếu tố dinh dưỡng cây hút được từ đất nhiều hơn Can xi và Magiê, cho
nên việc bón nhiều các nguyên tố khoáng Ca++, Mg++, Na+ vào trong đất sẽ gây
ảnh hưởng đến việc hút kali của cây và ngược lại.
Khi độ pH thấp hoặc đất thiếu oxi thì việc hút kali của cây càng trở ngại.
Cường độ hút của cây khác nhau trong từng giai đoạn sinh trưởng và khác nhau
tuỳ theo loại cây trồng.
* Thời gian thu cắt.
Thời gian thu cắt có ảnh hưởng lớn đến sản lượng và chất lượng các giống cỏ.
Nếu cắt quá ít lần/năm thì cỏ sẽ bị già dẫn đến chất lượng kém và ảnh hưởng tới
lứa tái sinh sau, ảnh hưởng đến sản lượng cỏ/năm.
Nếu cắt quá nhiều lần/năm, cỏ chưa đủ thời gian tích luỹ các chất dinh dưỡng
nuôi cây, bộ rễ phát triển kém hoặc bị teo đi ít nhiều, đất trồng dễ bị xói mòn, rửa
trôi dinh dưỡng đồng cỏ chóng bị thoái hoá. Năng suất, chất lượng giảm.
Xác định thời điểm thu cắt hợp lý sẽ khắc phục được cả hai vấn đề trên.
Cỏ mềm tỷ lệ tiêu hoá của gia súc cao, hàm lượng protít thô trong VCK của cỏ
sẽ cao hơn và cỏ có khả năng tái sinh tốt.
Thời gian thu cắt phụ thuộc vào các giống cỏ và mùa vụ. Theo Nguyễn
Khánh Quắc - Từ Quang Hiển, 1995 [11] cho biết thời gian thu cắt của một số
giống cỏ hoà thảo trong mùa mưa thích hợp như sau.
Cỏ Ghine (Panicum maximum ) : 30 - 35 ngày
Cỏ Voi (Pennisetum purpureum ) : 50 ngày
Cỏ Pangola (Digitaria decumbens): 60 ngày.
14
2.1.2.2 Cơ sở đánh giá chất lượng các giống cỏ
Chất lượng của các giống cỏ được đánh giá bằng thành phần hoá học có
trong giống cỏ đó (Nguyễn Văn Thưởng và Sumilin, 1992) [14].
Đây là một chỉ tiêu hết sức quan trọng không thể thiếu khi nghiên cứu
đánh giá một giống cây thức ăn. Trên cơ sở đó giúp cho các nhà chăn nuôi tính
toán khẩu phần ăn cho gia súc một cách hợp lý để chúng sinh trưởng và phát
triển tốt.
Thành phần hoá học có trong giống cỏ tập trung chủ yếu vào 3 chỉ tiêu:
đó là Vật chất khô (VCK), protein, xơ.
Một giống cây thức ăn tốt là giống cho năng suất VCK và năng suất
protein cao, tỷ lệ xơ trong thức ăn thấp, trong đó chỉ tiêu protêin được chú ý
nhiều hơn cả.
Các giống cây họ đậu bao giờ cũng cho giá trị dinh dưỡng cao hơn cây thức
ăn hoà thảo. Điều này được thể hiện qua kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả.
Bảng 2.2. Thành phần hoá học của một số giống cỏ hoà thảo
Tên khoa học Số TT Giống (Cv) VCK (%) Xơ thô (%) Prôtêin thô (%)
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Pennisetum -purpureum - - Tripxacumlaxum Panicum maximum - - - - P.cloreatum - - Selection Kinggrass Merkeron Goatemala Uganda oxtrayliana Liconi S- 127 Trichogluna Makari Kenza Comum 15,20 16,46 16,60 21,60 20,50 21,00 22,10 24,50 23,80 20,60 19,80 23,10 10,50 10,56 9,31 8,03 9,30 8,35 8,49 8,29 10,34 10,05 - 8,57 32,48 32,10 31,80 40,69 38,10 35,06 35,60 44,70 34,60 35,00 31,00 35,50
(Nguồn: Nguyễn Ngọc Hà - Lê Hoà Bình và cs (1985)[3])
15
2.1.3. Đặc điểm của giống cỏ VA06
* Nguồn gốc, phân bố:
Cỏ VA06 thuộc họ hòa thảo có tên khoa học là Varisme số 06. Giống cỏ
này phát triển tốt ở nơi có lượng mưa cao (trên 150mm / năm) tuy nhiên do có
dễ sâu nên có thể hút nước từ dưới lòng đất nên nó cũng tồn tại ở vùng đất khô
( Russell và Webb,1976 ) [22]. Cỏ voi được nhập vào nước ta từ nhiều nguồn
khác nhau thông qua các dự án hợp tác trong và ngoài nước, hiện nay đã phát
triển ở nhiều nơi trong cả nước, chủ yếu là giống King Grass có nhiều lông và
phát triển chiều cao khá nhanh.Năng suất thâm canh có thể đạt 350 - 400
tấn/ha/năm. Trong nhưng năm gần đây có thên một số giống cỏ mới như:
Madagasca Florida, VAO6 , ...
Cỏ VA06 là giống cỏ mới có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Đã được đưa vào nước
ta từ những năm 2000, cho đến nay giống cỏ này đã được trồng phổ biến ở nhiều
nơi nhưng khả năng cho năng xuất tối đa vẫn chưa hoàn toàn được như ý muốn.
* Đặc tính thực vật
Bước đầu trồng và theo dõi tôi thấy cỏ VA06 có hình dạng như cây trúc,
thân thảo, cao lớn, họ hoà thảo, dạng bụi, mọc thẳng, năng suất cao, chất lượng
tốt, phiến lá rộng, mềm, có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, nhiều nước, khẩu vị
ngon, hệ số tiêu hoá cao, là thức ăn tốt nhất cho các loại gia súc ăn cỏ, gia cầm,
và cá trắm cỏ. Theo thông tin ở một số nước cỏ VA06 không chỉ làm thức ăn
cho gia súc mà còn được trồng để làm nguyên liệu giấy và gỗ ván nhân tạo.Giống
cỏ VA06 yêu cầu điều kiện môi trường như sau: số ngày nắng trong 1 năm trên
100 ngày, độ cao so với mực nước biển dưới 1500m, nhiệt độ bình quân năm
trên 150C, lượng mưa/ năm trên 800mm, số ngày không sương muối/ năm trên
300 ngày. Do phổ biến thích nghi rộng, sức chống chịu tốt, nên tỷ lệ sống sau
khi trồng rất cao, nói chung trên 98%, trồng ngay trên vùng đất thấp, ẩm ướt và
rét, tỷ lệ sống vẫn trên 98%.
16
Thời vụ: Tốt nhất là trồng vào vụ xuân (bắt đầu từ tháng 2 cho đến tháng
4) hàng năm, ngoài ra có thể trồng bất cứ mùa nào, khi có điều kiện khí hậu ẩm
là có thể trồng.
Làm đất: - Trước khi trồng cần phay 2-3 lần cho vỡ đất ở độ sâu 20 cm,
làm sạch cỏ dại.
- Vì địa hình bằng phẳng nên lên luống để tiện cho việc chăm sóc và tưới
tiêu nước. Bón vôi 1 - 1,5 tấn/ha vào lần phay thứ 2.
Bón phân: + Bón lót: Phân chuồng : 15 - 20 tấn/ha
Supe lân : 200 - 300 kg/ha
Kaliclorua : 100 kg/ha
+ Bón thúc: Cỏ VA06 là giống cỏ cho năng suất cao, nó đòi hỏi thâm
canh cao. Sau mỗi lứa cắt bon 500 - 100 kg đạm Ure/ha. Cày rạch hàng rải phân
đều và lấp đất.
+ Bón hàng năm vào đầu xuân: Phân chuồng : 10 - 15 tấn/ha
Supe lân : 200 - 300 kg/ha
Kaliclorua : 100 kg/ha
Đạm Ure : 80 - 100 kg/ha
Sau 3 năm bón vôi 1 tấn/ ha cùng với bòn phân hàng năm đầu xuân
* Chuẩn bị giống: - Chọn cây thành thục đạt 6 tháng tuổi, khoẻ mạnh
không sâu bệnh, bóc hết lá bẹ ở mầm nách (cây bánh tẻ).
- Dùng dao sắc cắt thành từng đoạn, cắt nghiêng mỗi đoạn một mắt,
trên mỗi mắt có một mầm nách
- Đoạn thân trên của mắt ngắn hơn, đoạn thân dưới của mắt dài hơn để
tăng tỷ lệ sống.
- Sau đó xoa tro bếp vào vết cắt, hom xử lý đến đâu thì trồng ngay đến
đó để tránh mất nước.
* Cách trồng: Có 3 cách trồng sau:
Cách 1: trồng dưới rãnh. Trên ruộng trồng, làm rãnh sâu 14cm, dưới rãnh
bón các loại phân lót, sau đó phủ 7cm đất mịn rồi nén nhẹ, đem hom đã chuẩn
17
bị sẵn đặt vào rãnh theo độ nghiêng 450, hoặc đặt hom nằm ngang dưới rãnh,
phía trên mầm phủ 7cm đất mịn.
Cách 2: trồng theo hốc. Trên ruộng trồng, cuốc hố theo khoảng cách như
trên. Nếu trồng trên đồi thì các hốc phải trồng so le theo đường đồng mức. Cách
đặt hom như phương pháp trên.
Cách 3: tách chồi để trồng. Khi đồng cỏ đã 12 năm tuổi, tách 3/4 số cây
liền rễ trong mỗi bụi, chú ý không làm hại rễ. Sau đó ngắt thân non ở phía trên,
chỉ giữ phần thân cách gốc 10-15cm. Mỗi cây có thể có tới 12 mầm nách được
đem trồng. Nếu rễ quá dài thì dùng kéo cắt bớt. Cách trồng cũng có thể trồng
theo rãnh hoặc theo hốc như trên. Cách trồng bằng cây thì tốc độ sinh trưởng
nhanh hơn, nói chung sau 2 tháng có thể cắt lứa đầu.
Tưới nước và bón thúc. Sau khi ra ngôi, nên dùng nước phân loãng để
tưới giúp cây mọc rễ nhanh. Nếu gặp hạn, cần tưới 1-2 lần cho đến khi cây có
màu xanh.
*Cách chăm sóc: - Trồng giặm. Sau khi trồng, chú ý tưới nước giữ ẩm, nếu
khuyết cây thì phải giặm bổ sung, đảm bảo mật độ giữ được trên 98%, đạt mức
30.000 -45.000 cây/ha.
- Trong thời gian ban đầu, phải chú ý làm cỏ 1-2 lần. Lần làm cỏ đầu tiên từ
sau khi trồng 1 tháng, kết hợp bón mỗi hốc 10g urê. Lần làm cỏ thứ 2 sau khi trồng
2,5 tháng, là thời kỳ cỏ phát triển nhanh nhất, mỗi cây bón 25g urê, đồng thời vun
gốc để cây khỏi bị đổ ngã.
- Tưới ẩm và bón thúc. Muốn đạt năng suất cao, nếu gặp khô hạn thì cứ mỗi
tuần phải tưới nước 1 lần, nhưng không để đọng nước. Vào mùa mưa phải tiêu thoát
nước kịp thời và phải bón thúc nhiều lần để cây đẻ sớm, đẻ khoẻ và sinh trưởng
nhanh. Khi cây cao 60cm thì bón phân hữu cơ hoặc phân hỗn hợp. Sau mỗi lần cắt
2 ngày phải xới xáo và bón thúc 1 lần. Mức bón 300-375 kg phân urê/ ha để nâng
cao năng suất. Trước khi vào vụ đông, nên bón 1 lần phân chuồng nhằm đảm bảo
mầm qua đông và tái sinh năm sau được tốt. Nơi có điều kiện thì sau khi ra ngôi
18
15 ngày cần bón thúc 1 lần bằng phân phun trên lá để nâng cao năng suất và chất
lượng cỏ.
- Chăm sóc cỏ làm giống: Với ruộng trồng cỏ để làm giống thì chỉ nên cắt
2-3 lần đầu vào trước tháng 7, sau đó không cắt tiếp mà chỉ bóc lá, nhưng phải
trừ lại 6-8 lá trên cây. Mỗi ha bón 750 kg phân lân nung chảy. Khi cây cao đến
180cm trở lên thì thu hết lá ở phần phía dưới để sử dụng, nhưng phải giữ lại lá
bao mầm nách và không làm tổn hại đến lá non. Giữ cho cây khoẻ, không sâu
bệnh để làm giống.
- Phòng trừ sâu bệnh. VA06 chống sâu bệnh rất tốt, nhưng đôi khi cũng
bị bệnh thán thư, phấn trắng, sâu xám, rệp, sâu đục thân, chủ yếu hại mầm non,
thân. Biện pháp phòng trừ chủ yếu là giữ vườn cỏ được thông thoáng. Nếu phát
sinh sâu bệnh thì dùng các biện pháp phòng trừ sinh học, hết sức tránh dùng
thuốc hoá chất.
* Cách thu hoạch và sử dụng:
- Thời vụ cắt. Nói chung vào thời vụ cắt cứ 20 - 40 ngày cắt một lần trong
các tháng 4-11 hàng năm. Nói chung, nếu nuôi bò, dê, cừu và các gia súc nhai
lại khác thì cắt vào lúc cây cao 130-170cm, mỗi năm cắt 5-6 lứa. Nếu nuôi lợn,
cá trắm cỏ thì cắt lúc cỏ còn non, ăn hợp khẩu vị. Nói chung, cắt vào lúc cỏ cao
80-120 cm, mỗi năm cắt 7-10 lứa. Khi cắt cỏ thì cắt cách mặt đất 15cm, cắt nhẹ
tay, không cắt quá thấp để tránh ảnh hưởng xấu đến tái sinh, tránh cắt vào ngày
mưa vì dễ gây sâu bệnh.
- Cách sử dụng cỏ. Có 4 cách sử dụng cỏ: dùng làm thức ăn chất lượng tốt
để chăn nuôi; trồng để bảo vệ đất chống xói mòn, làm sạch, đẹp môi trường;
dùng làm nguyên liệu giấy, ván ép và sản xuất đồ uống.
- Cắt cỏ xanh để nuôi gia súc, gia cầm. Lá cỏ tươi mềm, nhiều nước, khẩu
vị ngon, giàu dinh dưỡng, tỷ lệ tiêu hoá cao là thức ăn xanh tốt nhất để nuôi gia
súc, gia cầm ăn cỏ, hàng năm thu vào các tháng từ tháng thứ 4 đến tháng 11, cắt
vào lúc cây cao 100 - 150cm, 1 năm cắt 6-8 lứa, nếu chăm sóc tốt có thể cắt trên
10 lứa.
19
- Làm thức ăn ủ xanh. Giống cỏ VA06 có hàm lượng đường cao, ủ xanh
rất tốt. Trong thời kỳ từ tháng 6 đến tháng 8, cỏ phát triển cực nhanh, năng suất
rất cao, khi thân cao 150-200cm thì cắt phơi nắng nửa ngày đến 1 ngày, hạ độ
ẩm xuống 60%, rồi cắt thành từng đoạn 3cm để ủ xanh giành làm thức ăn trong
mùa đông. Trong khi ủ thì cho thêm 1% ure, 3% muối ăn nhằm nâng cao chất
lượng thức ăn.
- Sản xuất cỏ khô xanh. Vào vụ năng suất cao, khi cây cao 150-180cm thì
sau khi cắt đem phơi trực tiếp để làm thức ăn khô xanh. Phải chọn ngày nắng,
phơi 2-3 ngày, rồi bảo quản trong nhà râm mát, thông thoáng hoặc đánh thành
từng đống, đề phòng lên men mốc. Cỏ khô xanh cũng có thể đem nghiền thành
bột cỏ để nuôi gia súc, gia cầm.
- Chế biến thức ăn ủ nhẹ. Khi cây cao 250-300cm thì cắt thành từng đoạn
35 cm sau đó phun vi khuẩn để lên men rồi đem chứa vào bịch được nén chặt,
sau 30 ngày có thể lấy ra sử dụng để chăn nuôi.
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1. Tình hình nghiên cứu cỏ và Ngựa bạch trên thế giới
2.2.1.1 Tình hình nghiên cứu cỏ trên thế giới
Để phát triển chăn nuôi động vật nói chung và động vật nhai lại nói riêng
thì một trong những vấn đề cơ bản cần phải giải quyết là nguồn thức ăn xanh.
Có hai phương thức để cung cấp dinh dưỡng cho gia súc nhai lại, đó là nguồn
thức ăn thô xanh (trên 60% nhu cầu dinh dưỡng của gia súc nhai lại được thoả
mãn bằng thức ăn thô xanh). Chính vì vậy, nguồn thức ăn thô xanh được đặc
biệt chú ý nhất là đối với nước kinh tế còn kém phát triển cũng như các nước
phát triển.
Sau cuộc “Cách mạng về thức ăn gia súc” ở Tây Âu, mà đặc biệt là ở Anh
đã tạo điều kiện cho chăn nuôi phát triển, đồng cỏ ngày càng được phát triển
đúng với vai trò của nó.
20
- Theo Điền Văn Hưng (1974) [5], ở Pháp vào năm 1942 chỉ có 4 triệu ha
trồng cỏ và 15 triệu ha ngũ cốc thì đến năm 1974 đã thay đổi: 12 triệu ha trồng
cỏ và 8 triệu ha ngũ cốc.
Ở Liên Xô cũ đã tăng diện tích trồng từ 2,1 triệu ha (1913) lên 7,3 triệu
ha (1933) và đến năm 1961 diện tích đã lên tới 51,9 triệu ha. Diện tích cỏ không
những tăng lên mà việc nghiên cứu, chọn lọc các giống cây cỏ năng suất và giá
trị dinh dưỡng cao đã được chú trọng. Ngoài giống cỏ nguyên chủng người ta
còn lai tạo ra những giống cỏ có năng suất và chất lượng tốt. Đây là những thành
tựu đáng kể góp phần giải quyết thức ăn cho gia súc cả về số lượng và chất
lượng. Theo ước tính hiện nay trên thế giới, gia súc sử dụng khoảng 3,4 tỷ ha
đất dùng cho chăn thả và dùng cho sản xuất thức ăn gia súc diện tích này được
đánh giá là lớn hơn 2/3 diện tích sử dụng cho sản xuất nông nghiệp.
Theo nghiên cứu cỏ có thể phát triển tốt ở đất thoáng nước tốt, có tích acid
và kém màu mỡ. Tuy nhiên, cỏ cũng có khả năng phát triển tốt ở nơi đất không
thoáng nước trong thời gian ngắn. ở các nước như: Nam Phi, Nam Mỹ, Mỹ,
Tiệp… các nhà khoa học đã nghiên cứu thành công và đưa vào sử dụng nhiều
giống cỏ cho năng suất, chất lượng tốt.
2.2.1.2 Tình hình nghiên cứu Ngựa Bạch trên thế giới
Theo số liệu thống kê củ FAO, thế giới có 80 nước có ngành chăn nuôi
ngựa phát triển với số lượng năm 2000 khoảng 63.000.000 con, đến năm 2003
có khoảng 60.000.000 con. Nhằm nâng cao năng suất sản phẩm chăn nuôi ngựa,
nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu tạo ra nhiều giống ngựa có chất lượng
cao như: Giống ngựa dòng Ku-Sun có năng suất sữa 14 – 21 lít, cao 156 – 160
cm, nặng 500 – 600 kg; Giống ngựa Ả Rập cao 151 – 153 cm, nặng 450 – 500
kg, chạy nhanh 55 – 60 km/giờ; ngựa Kabardin cao 150 – 155 cm, nặng 500 –
550 kg, chạy nhanh 45 – 50 km/giờ, kéo trùng 2000 kg; Giống ngựa Ku – Su
dòng sản xuất thịt nặng 663 – 675 kg; Giống ngựa Ku – Sun dòng kéo – cưỡi
trong 1 đêm đi được 250 – 280 km.
21
Bên cạnh việc nghiên cứu tạo giống ngựa mới, nhiều nước đã tiến hành
nghiên cứu chọn lọc các giống ngựa địa phương để từng bước cải tạo, pha máu
với giống ngựa tốt có năng suất cao ở nước ngoài, phù hợp với điều kiện chăn
nuôi trong hộ gia đình.
Từ máu và huyết thanh ngựa chửa, nhiều nước đã nghiên cứu tách chiết
được thuốc kích dục tố cho gia súc, GamaGlobulin, vắc xin phòng dại và rắn
cắn, kháng huyết thanh chống lép to, băng cầm máu, enzym phát hiện nhiễm độc
thuốc trừ sâu trong nông nghiệp,... Trung Quốc là nước gần Việt Nam, ngựa
Bạch được tuyển chọn nuôi thành các trang trại gia đình, chọn lọc nhân thuần,
khai thác tinh bảo tồn ngựa bạch nhạn. Theo Hasse và cs (2007), gen quy định
màu trắng là gen trội W, khi tổ hợp gen là Ww ngựa sẽ có màu lông trắng toàn
thân, da hồng, mắt nâu hoặc xanh. Nếu ngựa cái trắng này lai với ngựa đực màu
sẽ cho đời con 50% màu trắng (Ww), 25% ngựa màu (ww) và 25% (WW) sẽ
chết thai. Tổ hợp gen gây chết (WW) đã được phát hiện từ năm 1953 và đã được
khẳng định năm 1969.
Màu lông là một tính trạng rất đặc biệt, đóng vai trò chính ngay trong thời
gian đầu của quá trình thuần hoá động vật và sự chọn lọc đã bắt đầu trong các
loài vật nuôi. Trong khi rất nhiều loài động vật hoang dã có màu lông tương đối
giống nhau, nhưng động vật nuôi, chẳng hạn như ngựa lại có rất nhiều kiểu màu
lông. Điều này phần lớn là do khác biệt trong chọn lọc động vật hoang dã khác
với quần thể giống nuôi nhốt.
Các gen ảnh hưởng đến màu lông và da của động vật có vú có thể chia
làm hai nhóm chính: Một nhóm tác động về tổng hợp các sắc tố, một nhóm tác
động vào các tế bào sinh ra sắc tố (Stefan, 2009).
Các gen kiểm soát màu lông ngựa đã được nghiên cứu từ lâu. Tuy nhiên
gần đây các alen hay marker chức năng mới được phát hiện ở mức phân tử ADN.
Ở ngựa có các màu lông cơ bản: hạt dẻ, hồng và đen được xác định bởi
bốn alen, hai trong số đó thuộc locut Extension (E), hai alen còn lại thuộc locut
22
Agouti (A). Màu hạt dẻ và đen là kiểu di truyền lặn (Ee. Ee và Aa. Aa), màu hạt
dẻ lấn át màu đen. Do đó màu đen chỉ biểu hiện khi kiểu gen Extension khác với
kiểu gen Ee. Ee. Màu hồng là kết quả của tổ hợp Aa ở locut A và các alen Ee/
EE ở locut E.
Đối với ngựa một số đột biến khác nhau quy định cho những màu lông
chính đã được phân lập: Trong gen MC1R, đầu tiên Marklund (1996) đã phân
lập được alen e quy định màu hạt dẻ của ngựa là do đột biến nucleotide đơn
(C901T, AF 2883575). Tiếp theo, Wagner và Reissmann (2000) phân lập alen
thứ hai là ea quy định màu hạt dẻ. Trong phân tích gen ASIP, Rieder (2001)
thông báo đột biến mất 11 bp được phát hiện ở dạng đồng hợp tử hoàn toàn có
liên quan tới ngựa mang kiểu gen lặn màu lông đen. Sự dịch chuyển màu của ba
màu cơ bản là do hiệu quả tương tác của các alen cùng xuất hiện.
Trong chăn nuôi, nhiều ngựa con sinh ra mang màu lông trắng là do bị
bạch tạng. Điều này sẽ gây khó khăn trong việc phân biệt giữa ngựa bạch và
ngựa bạch tạng. Ngựa bạch tạng thường không có khả năng sinh sản, ngựa con
màu trắng sinh ra thường bị chết (hội chứng OLWS). Vấn đề này đã và đang
được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Các tác giả Yang (1998),
Santschi (1998) và Metallinos (1998) cho rằng đột biến hai nucleotid (TC353-
354AG) trong gen Endothelin-B receptor (EDNRB) liên quan với hội chứng
chết của ngựa con màu trắng (OLWS-overo lethal white symdrom). Đột biến
dẫn đến thay đổi axit amin từ Isoleusine sang Lysine của G- protein couple
receptor. Hội chứng ngựa con chết được phát hiện là do đột biến đồng hợp tử,
do bố mẹ mang kiểu gen dị hợp tử.
Yang (1998) sử dụng kỹ thuật PCR-RFLP từ cặp mồi ps2/hex1 cho thấy
sản phẩm PCR là 155 bp. Cắt sản phẩm PCR bằng enzym giới hạn BfaI cho thấy
ngựa trắng mang alen chết có hai băng 136 bp và 19 bp, nhưng ngựa bình thường
sản phẩm PCR không bị cắt.
23
Nhân sản phẩm PCR từ cặp mồi ps4/ps5 sản phẩm PCR là 90 bp. Cắt sản
phẩm PCR bằng enzỵm giới hạn Sau 3AI cho thấy ngựa mang alen chết không
bị cắt, nhưng ở ngựa bình thường sản phẩm PCR được cắt thành hai băng 70 bp
và 20 bp.
Theo nghiên cứu của Santschi (1998) trên đàn ngựa 945 con màu trắng
cho thấy: tất cả ngựa con có hội chứng OLWS là dạng đồng hợp tử của đột biến
endothelin-B receptor Ile118Lys và không tìm thấy ngựa trưởng thành mang
kiểu gen đồng hợp tử này. Màu lông trắng được liên kết chặt chẽ với kiểu gen
EDNRB. Kiểm tra ADN (kiểu gen EDNRB) là cách duy nhất để xác định chắc
chắn liệu các con ngựa màu trắng có thể sinh ra ngựa con bị mắc hội chứng
OLWS hay không.
Theo nghiên cứu của Haase (2007, 2009), phát hiện có 4 đột biến độc lập
trong gen KIT ở ngựa chịu trách nhiệm về kiểu hình màu lông trắng trội trong
nhiều giống ngựa. Trong 7 họ ngựa nghiên cứu, chỉ duy nhất một họ ngựa trắng
có mang các đột biến trong kiểu gen. Những đột biến được phát hiện mới đây
gồm hai đột biến dịch khung, hai đột biến nhầm nghĩa và ba đột biến về vị trí
ghép cặp (c.338-1G>C; c.2222-1G>A; c.2684+1G>A). Thực tế, số lượng alen
của gen KIT của ngựa được mô tả đến mức độ phân tử là nhiều hơn bất kỳ các
gen nào khác ở các loài vật nuôi khác.
2.2.2 Tình hình nghiên cứu cỏ và Ngựa bạch ở Việt Nam
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu cỏ ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, nhờ chủ trương chuyển đổi cơ cấu trong nông
nghiệp và trước nhu cầu về thực phẩm protein có chất lượng cao đã thúc đẩy
ngành chăn nuôi có những bước phát triển mạnh. Mặt khác, chính sách giao đất
cho người sản xuất đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển những mô hình
chăn nuôi tập trung theo kiểu trang trại trong các hộ gia đình. Để đạt hiệu quả
cao trong chăn nuôi đại gia súc, cần đảm bảo đủ nguồn thức ăn đáp ứng nhu cầu
của chúng. Từ năm 1960 chỉ có 46 ha cỏ trồng thì năm 1961 và 1962 thì diện
24
tích này đã tăng lên tương ứng là 323 và 687 ha, năm 1976 đã có 5000-6000 ha.
Để phát triển đồng cỏ, năm 1976 Bộ Nông Nghiệp đã phát hành “Qui phạm, xây
dựng, dự trữ và quản lý đồng cỏ”, từ đó đến nay cả nước đã phát triển được hàng
nghìn ha đồng cỏ, cụ thể trong mấy năm trở lại như sau: 2003 là 10.897ha, năm
2004 là 17.292 ha, năm 2005 là 27.563 ha (Cục chăn nuôi,2006) [8] , trên cơ sở
đó mà hàng năm giống cỏ đã được nhập và bước đầu nghiên cứu ở nước ta. Hiện
nay, có nhiều trung tâm nghiên cứu, khảo sát các giống cỏ như:
- Viện chăn nuôi Quốc Gia.
- Trung tâm nghiên cứu dê và thỏ sơn tây Hà Nội.
- Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì Hà Nội.
- Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi Sông
Công Thái Nguyên.
Qua quá trình khảo nghiện và nghiên cứu, người ta thấy rằng giống cỏ VA06
sinh trưởng nhanh, năng suất cao, có khả năng thích nghi với đất cằn cỗi và acid.
Đặc biệt đây là giống cỏ cho sinh khối lớn và giá trị dinh dưỡng cao.
Giống cỏ VA06 là giống cỏ được các trang trại cũng như nghành chăn nuôi
đại gia súc đặt là mục tiêu cho sự phát triển của nghành chăn nuôi ở nước ta.
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu Ngựa bạch ở Việt Nam
a) Sơ lược về Ngựa bạch
Chữ “bạch” theo tiếng Hán-Việt nghĩa là trắng và vô tình hiểu ngựa bạch
nghĩa là ngựa màu trắng. Tuy nhiên thực tế không phải như vậy. Ngựa bạch khác
ngựa trắng.
Ngựa bạch thực tế là những con ngựa bị bệnh bạch tạng, độ biến gen. Do
đó ngựa bạch khác ngựa trắng như các lỗ tự nhiên có màu hồng đỏ, bốn chân có
móng sừng, màu cước ánh bạc.
Ngựa bạch tương đối quý hiếm do tỷ lệ xuất hiện thấp, chúng thường
được chọn giống và nhân nuôi ngựa để lấy xương làm cao ngựa bạch. Ở một số
nơi, các đàn ngựa bạch tạng này được nhân nuôi thành quần thể để bảo tồn.
Giống ngựa này ít bệnh tật, không mất nhiều công chăm sóc.
25
Trong khi đó ngựa lông trắng đơn thuần còn được gọi là ngựa kim, có
vành mắt đen. Giá trị kinh tế của loại ngựa này thấp hơn ngựa bạch tạng!
Nghiên cứu về thức ăn dinh dưỡng cho gia súc nói chung và Ngựa bạch,
Hươu nói riêng có lịch sử lâu đời. Ngày nay với sự phát triển của chăn nuôi,
khoa học về dinh dưỡng ngày càng đạt đến trình độ chuyên sâu cao.
Ngựa Bạch có đặc điểm toàn thân ngựa có lông màu trắng, da trắng hồng,
viền mắt màu hồng, con ngươi màu đỏ hồng. Nếu soi đèn vào mắt ngựa ban đêm
có màu đỏ rực. Mũi, miệng và bộ phận sinh dục của ngựa có màu hồng đỏ, bộ
móng màu trắng ngà. Ngựa Bạch là giống ngựa quý hiếm, thịt Ngựa Bạch có giá
trị dinh dưỡng rất cao, xương nấu cao để bồi bổ sức khỏe.
Kết quả điều tra đàn ngựa bạch cho thấy Ngựa Bạch là loại hiện có số
lượng rất ít ở nước ta hiện nay, được phân bố rải rác ở một số tỉnh miền núi phía
Bắc như: Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Bắc Giang,...., chỉ có
khoảng 400 – 500 con, chiếm 0,3 – 0,5%0 trong tổng đàn ngựa hiện nay (Nguyễn
Văn Thiện và cs, 1998), (Nguyễn Hữu Trà và cs, 2007). Trong nhân dân, ngựa
Bạch được coi là tài sản quý của mỗi gia đình. Ngựa Bạch chịu kham khổ tốt,
có thể phát triển tốt ở các tỉnh miền núi. Ngựa Bạch còn được coi là dược liệu
quý hiếm (hay còn gọi là thần dược) dùng vào việc bồi bổ, nâng cao thể lực,
chữa trị một số chứng bệnh nan y cho con người. Kích thước ngoại hình, đặc
điểm nhận dạng ngựa Bạch có nhiều đặc điểm khác với ngựa mầu: Toàn thân
mầu trắng, các lỗ tự nhiên mầu hồng, đặc biệt 12 giờ trưa ngựa Bạch có hiện
tượng mù mầu trong khoảng 30 phút.
Nhìn chung, cho đến hiện nay ở nước ta rất ít công trình nghiên cứu về
ngựa Bạch. Theo thời gian giống ngựa Bạch càng trở nên hiếm và có nguy cơ
tuyệt chủng cao bởi khả năng sinh sản thấp với lại giá trị dược liệu quý nên ngựa
Bạch bị khai thác rất mạnh. Nếu ngay từ lúc này mà chúng ta không có biện
pháp bảo tồn cũng như một chiến lược phát triển thì giống ngựa bạch này sẽ
tuyệt chủng trong một ngày gần đây.
26
b) Chế độ dinh dưỡng khi nuôi dưỡng Ngựa bạch
Một con ngựa bạch hàng ngày có thể ăn lượng cỏ khô nặng hơn 1% trọng
lượng cơ thể của nó. Nếu bạn chỉ sở hữu những con ngựa bạch trẻ và khỏe và
nếu cánh đồng của bạn có thể có đủ cỏ quanh năm, bạn có thể chủ yếu cho ngựa
của mình ăn cỏ tươi và cỏ khô trên đồng và không phải chi hàng trăm đô la cho
những người cung cấp thức ăn công nghiệp. Với thuật ngữ cỏ, chúng ta xác định
một loạt các loài thực vật: Cỏ VA06; cỏ, cỏ ba lá, cỏ linh lăng (Medicago sativa),
cỏ lolium, cây họ đậu, cây cải bắp, v.v. Cỏ Timothy, cỏ linh lăng và Trifolium
alexandrinum (tươi hoặc khô) là các loại cỏ cơ bản tốt đem đến dinh dưỡng tốt
ngựa. Loài lúa miến gây ra độc hại đối với ngựa và phải tránh. Người nuôi ngựa
trong tương lai sẽ thực hiện một nghiên cứu về các loài thực vật được tìm thấy
tại địa phương có thể gây độc cho ngựa.
Các quy tắc đề cập ở trên được nói chung và áp dụng cho phần lớn ngựa
bạch khỏe mạnh. Tuy nhiên, không con ngựa nào giống với con ngựa khác,
chúng cũng không có khả năng và nhu cầu thể chất như nhau. Ví dụ, ngựa bạch
già thường gặp vấn đề về răng và/hoặc di chuyển. Vì vậy, chúng không thể đi
gặm cỏ 15 giờ mỗi ngày để tìm thức ăn. Do đó, chúng ta phải luôn có sẵn các
loại thức ăn công nghiệp khác nhau. Cám, củ cải đường, hỗn hợp viên (viên thức
ăn, bột, ngô, sồi), yến mạch, lúa mạch, rơm rạ (cỏ khô xắt nhỏ) và Vitamin được
sử dụng để bổ sung dinh dưỡng cho ngựa bạch. Các loại ngũ cốc chủ yếu được sử
dụng khi chúng ta dự đoán ngựa tăng trưởng trọng lượng. Mặc dù lượng ngũ cốc
nhỏ có tác dụng tuyệt vời, chúng ta phải rất cẩn thận, bởi vì lượng thực phẩm này
quá nhiều sẽ dẫn đến các tình huống đe dọa tính mạng. Theo nguyên tắc thông
thường, những con ngựa bạch trưởng thành, khỏe và mạnh mẽ có thể tiêu thụ
nhiều cỏ khô và cỏ hơn, trong khi những con ngựa bạch già, bị thương và làm
việc nặng nhọc cần nhiều protein và có thể là vitamin hơn.
Nhìn chung, dạ dày của ngựa bạch nhỏ so với kích thước to lớn của nó.
Do đó, lý tưởng là ngựa có thể tiếp cận liên tục nhưng có kiểm soát với một
27
lượng thức ăn nhỏ, để chúng có thể thưởng thức theo bữa ăn nhỏ và thường
xuyên thay vì 2-3 bữa lớn hơn mỗi ngày.
Cuối cùng, người nuôi ngựa thường đặt khối muối bên trong chuồng ngựa.
Bằng cách này, ngựa sẽ tự do liếm khối muối và chúng sẽ đáp ứng nhu cầu về
natri và clorua. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng nhiều loại khối muối được khoáng hóa.
Chúng cũng chứa các khoáng chất khác. Phần lớn ngựa đã có đủ các khoáng
chất đó từ thức ăn công nghiệp hoặc vitamin được thêm vào. Vì thế bạn có thể
thảo luận với bác sĩ thú y được cấp phép tại địa phương về chế độ ăn cho ngựa
để quyết định có cho ngựa ăn khối muối khoáng hay không.
Người mới nuôi ngựa lần đầu tiên phải tham khảo ý kiến các chuyên gia
địa phương, bác sĩ thú y địa phương và/hoặc nhà nông nghiệp học để tạo ra
chương trình ăn uống hàng năm hợp lý và hiểu biết về các loại cây và cây bụi
độc hại thường gặp trong khu vực. Trong nhiều trường hợp, hệ thực vật của khu
vực và điều kiện thời tiết là các thông số quan trọng của phương trình cuối cùng.
Bác sĩ thú y và ngươi nuôi ngựa cũng nên kiểm tra tình trạng thể chất và răng
miệng của ngựa. Dưới sự giám sát của bác sĩ thú y được cấp phép, nông dân có
thể bổ sung một số vitamin cho chương trình cho ngựa ăn cụ thể.
Cho ngựa ăn hàng ngày là một vấn đề rất phức tạp, đặc biệt là nếu bạn có
hơn 3-4 con ngựa ở các độ tuổi khác nhau, tình trạng khác nhau, nhu cầu khác
nhau, một số trong đó có vấn đề về răng miệng, v.v … Nếu bạn chỉ dựa vào trí
nhớ tốt và bạn nuôi chúng bằng cách học thuộc lòng không ghi chú lại, bạn sẽ
sớm bối rối về mỗi chương trình ăn uống hàng ngày của mỗi chú ngựa. Chúng
tôi khuyên bạn nên đặt một chiếc bảng đen trong phòng chuẩn bị thức ăn và bạn
trộn từng loại thức ăn cho ngựa. Viết một bảng ghi tên của tất cả ngựa và các cột
ghi số lượng mỗi chương trình cho ăn khác nhau đảm bảo rằng bạn sẽ luôn theo
dõi từng chương trình cho ngựa ăn hàng ngày và hàng tuần.
c) Giá trị kinh tế và y học của Ngựa bạch
Giá của một con ngựa bạch ngựa trưởng thành vào khoảng 50 đến 70 triệu
đồng 1 con. Cứ mỗi một năm rưỡi, mỗi chú ngựa cái lại cho ra một lứa ngựa bạch mới có giá trị rất cao. Giá ngựa bạch giống khoảng 20 đến 25 triệu đồng 1 con.
28
Y học cổ truyền (Đông y) xưa và nay coi thịt ngựa, cao ngựa và các sản
phẩm từ ngựa là một vị thuốc quý. Trong sách Tuệ Tĩnh “Nam dược thần hiệu”
đã ghi: Mã Nhục (thịt ngựa) làm lớn mạnh gân xương, khí nóng, tỳ liệt, tóc hói
lở; Mã Xỉ (răng ngựa) vị ngọt, tính bình, chủ trị kinh giản, đinh sang, đau răng;
Mã Nhũ (sữa ngựa) vị ngọt, tính mát công năng bổ huyết, nhuận táo, thanh nhiệt;
Mã Cất (xương ngựa) chủ trị lở đầu, âm sang, móng né; Mã Can (gan ngựa) chủ
trị kinh nguyệt không thông, ngực, bụng đầy trướng; Mã Bì (da ngựa) vị cay,
tính nóng, chủ trị thấp nhiệt, tê bại, lở đầu rụng tóc; Sỏi ở Dạ dày và ruột ngựa
vị mặn tác dụng trấn kinh, hóa đờm, chữa co giật, điên cuồng, động kinh; Mã
Pin (dương vật ngựa) kết hợp với Nhục Dung chữa liệt dương.
Y học hiện đại (Tây y) có quan niệm thịt ngựa, cao ngựa là một loại “thực
phẩm chức năng” hay là một “Nguồn đạm cô đặc”.
Theo Dược sĩ Đỗ Huy Ích (Viện Dược liệu) thì: Cao xương ngựa có chứa
75 - 82% protein, 7 axit amin thiết yếu cho cơ thể, không có vi khuẩn Ecoli và
dư lượng kim loại nặng (Chì, Cadimi, Thủy ngân) trong sản phẩm chế biến có
xử lý nhiệt. Cao xương ngựa có chứa canxi photphat, Keratin, oscein, có vị ngọt
tính mát, tính mát, tác dụng bổ dưỡng, ích khí, mạnh gân - xương - cơ.
Theo Bác sĩ Nguyễn Lân Đính chuyên gia dinh dưỡng - TP HCM thì cứ
100gram thịt ngựa cung cấp 180 cao, 66gam nước, 21,5 gam đạm, 10 gam chất
béo, 5 - 7 gam mỡ, các muối khoáng, Vitamin A, B, C, D, E, PP và các axit
amin; thịt ngựa có vị ngọt, tác dụng bổ gân, cường cơ do có nhánh Leucine,
Isoleucine, Valine, Đây là những vi lượng cần thiết để duy trì khối lượng cơ bắp
và bảo vệ nguồn vốn Glycogen dự trữ trong cơ bắp; ngoài ra hàm lượng Arginie
cao cũng có thể giúp cho quá trình làm cho sơ bắp cường tráng có hiệu quả; Thịt
ngựa còn có các chất cần thiết cho việc mọc tóc chắc khỏe gồm Vitamin A; 1 số
Vitamin nhóm B (Biotin, axit Pantothenie…); Vitamin C và các vi chất như
đồng, kẽm, sắt; Protein; Thịt ngựa giúp cho trẻ em cứng cáp, nhanh nhẹn, thanh
niên cường tráng, người già sống lâu; Cao xương ngựa giúp nâng đỡ cơ thể suy
nhược đau nhức gân xương ở người mới ốm dậy và phụ nữ sau sinh nở, kinh
29
nguyệt không đều; người suy kiệt sức khỏe và chống loãng xương ở người cao
tuổi suy dinh dưỡng, biếng ăn, còi xương, da tái xanh xao, táo bón ở trẻ em;
Bệnh viêm tá tràng kinh niên, kém ăn mất ngủ, dễ tiêu chảy, đi kiết ở người lao
động nặng.
Theo Phan Ngọc Minh - chuyên gia huyết học (Học viện Quân y - 103)
thì trong máu huyết thanh ngựa chửa (HTNC) có thể tách chiết được thuốc kích
dục tố Gravohormon - PMSG làm giảm tỷ lệ vô sinh, chậm sinh sản ở lợn, châu
bò, làm tăng tỷ lệ sinh sản của lợn, trâu bò, làm tăng tỷ lệ thụ thai, gây động dục
đồng loạt và gây rụng trứng, thuốc PMSG có thể dùng trong chương trình cấp
gép hợp tử trên động vật.
Gamalobulin tách chiết từ HTNC có tác dụng làm tăng sức miễn dịch
cho gia súc non sau khi đẻ 24 giờ, có thể sản xuất Gamaglobulin đặc hiệu dùng
cho người.
Viên Polyamin (viên đạm thủy ngân) sản xuất từ bột hồng cầu ngựa (Sau
khi đã tách PMSG và Gamaglobulin) có chứa 15 axit amin và các nguyên tố đa,
vi lượng rất cần thiết (Na, K, Mg, Ca, P, Zn, Ni, Fe…) giúp tăng cường hồi phục
sức khỏe, ăn ngủ tốt, tăng nhanh hồng cầu và huyết sắc tố, tăng tỷ lệ Protein
trong huyết thanh, tăng sức đề kháng cơ thể, làm cho tổ chức hạt phát triển
nhanh, giúp các ca phẫu thuật ghép da do bỏng nặng rất tốt.
Huyết thanh kháng trực khuẩn mủ xanh (TKMX) được bào chế từ HTNC
có tác dụng điều trị tại chỗ vết bỏng nhiễm TKMX, thuốc có hiệu lực sau 5 ngày
điều trị.
Huyết thanh kháng Leptospirosis (LTS) được bào chế từ HTNC có hiệu giá
kháng thể cao Iri 5.000 - 1/80.000. Tỷ lệ Chữa bệnh đạt kết quả cao 95 - 98%.
Huyết thanh kháng nọc độc rắn và huyết thanh kháng dại được bào chế từ
HTNC đã được nghiên cứu thành công ở Việt Nam góp phần quan trọng trong
việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Theo Đặng Đình Hanh (Chuyên gia nghiên cứu ngựa - Viện Chăn
nuôi) cho biết thịt ngựa bạch có chứa 74 - 78% nước, 19 - 21% protein, 0,8 -
30
2,2% Lipit, 1,24 - 1,27% khoáng tổng số và có 17 axit amin trong đó có các axit
amin thiết yếu cho cơ thể, hàm lượng cao nhất là: axit Glutamic, Argrine, Lisine,
aspartri, Methionine… 100 gam cao ngựa mầu có chứa 15,3 gam nước, 70,6
gam Protein, 2,6 gam mỡ, 3,5 gam khoáng tổng số, 0,41 gam Canxi, 0,42 gam
Phosphos và 5,96 gam chất xơ.
Một số hình ảnh về ngựa bạch
31
2.2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Tỉnh Thái Nguyên
2.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội
2.2.1.1. Điều kiện tự nhiên
a. vị trí địa lý
Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa – Công ty cổ
phần khai khoáng miền núi.
Chi nhánh chăn nuôi và phát triển động thực bản địa được đống tại xóm
gốc gạo - xã Tức Tranh - Phú Lương - Thái Nguyên. Tổng diện tích tự nhiên 5,8ha.
Địa giới hành chính tiếp giáp với các xã sau:
- Phía đông bắc và đông tiếp giáp với xã Phú Đô
- Phía tây và tây bắc tiếp giáp xã Yên Lạc
- Phía nam giáp với xã Vô Tranh
b. Điều kiện về khí hậu - thủy văn
* Khí hậu:
Chi nhánh nằm trong khu vực trung du và miền núi phía bắc nên nó có đặc
điểm chung về thời tiết của khu vực. Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt đó là mùa
mưa và mùa khô.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 nhưng lượng mưa chủ yếu tập
chung vào các tháng 6,7,8. Những tháng còn lại lượng mưa thấp hơn. Lượng mưa
trung bình hàng năm khoảng 1875 mm. Cao nhất là 2390 mm, thấp nhất là 1420
mm. Nhiệt độ trung bình từ 23˚C - 28˚C. Độ ẩm tương đối từ 80 - 85 %.
Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước tới tháng 4 năm sau, đặc điểm của
những tháng này là lượng mưa ít, nhiệt độ thấp, thời tiết khô lạnh. Nhiệt độ trung
bình từ 15 - 19˚C. Có những thời điểm nhiệt độ xuống tới 4 - 7˚C, độ ẩm tương
đối 70 - 75 %.
* Thuỷ văn:
Trung tâm có dòng Sông Cầu chảy qua bao bọc phía bắc và phía đông,
thường xuyên cung cấp nước cho sản xuất.
32
Nhìn chung điều kiện thuỷ văn và thời tiết khá thuận lợi cho sản xuất của
trang trại. Tuy nhiên sự khác biệt giữa 2 mùa là điều kiện bất lợi cho sản xuất.
Lượng mưa tập chung vào tháng 6, 7, 8 cộng với địa hình đất canh tác bằng phẳng
pha cát dẫn đến hiện tượng ngập úng cây trồng. Ngược lại mùa khô kéo dài nó sẽ
ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất cây thức ăn cho đàn gia súc.
c. Điều kiện về địa hình, đất đai, giao thông, thuỷ lợi
* Điều kiện về địa hình, đất đai
Trang trại có địa hình bằng phẳng, có dòng Sông Cầu chảy qua, đất đai tương
đối màu mỡ, tầng đất canh tác khá dầy. Đây là điều kiện tương đối thuận lợi cho
việc sản xuất của Trang Trại, đặc biệt là sản xuất cây thức ăn xanh phục vụ cho đàn
gia súc. Trong những năm gần đây Trại đã đầu tư cho thử nghiệm các giống cây
thức ăn xanh có năng xuất cao và giá trị dinh dưỡng cao. Chính vì vậy, mà đã giải
quyết được nhu cầu thức ăn xanh cho gia súc vào mùa mưa và có thức dự trữ cho
mùa khô. Tổng diện tích của trang trại là 5,8 ha trong đó có 1,5 ha là diện tích cho
trồng cây thức ăn cho gia súc. Diện tích đồng cỏ chăn thả là 01 ha. Như vậy, đây là
điều kiện khá thuận lợi cho phát triển cây thức ăn gia súc.
* Giao thông
Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa – Công ty cổ
phần khai khoáng miền núi thuộc xã Tức Tranh có điều kiện giao thông thuận lợi.
Cách thành phố Thái Nguyên 30 km về phía tây nam theo tuyến quốc lộ 3. Tuyến
đường liên 3 xã Tức Tranh - Yên Lạc - Yên Đổ hiện nay đã hoàn thành con đường
bê-tông thuận tiện cho việc đi lại của người dân. Đây là con đường đi qua 17 xóm,
trong đó 1 xóm thuộc xã Tức Tranh, 1 xóm thuộc xã Yên Đổ và 15 xóm thuộc xã
Yên Lạc. Điểm đầu của tuyến đường được nối với đường liên xã Phấn Mễ - Tức
Tranh tại địa phận xóm Cầu Trắng, xã Tức Tranh, do vậy rất thuận lợi cho giao
thông. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Trang Trại.
* Thuỷ lợi
Trang trại có dòng Sông Cầu chảy qua nên thường xuyên cung cấp nước
cho trồng trọt và chăn nuôi. Trang trại còn xây dựng hệ thống thuỷ lợi gồm một
33
trạm bơm điện và hệ thống ống dẫn nước cho sản xuất. Chính vì vậy, diện tích
sản xuất của Trang trại được đảm bảo về nước tưới.
2.2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trại chăn nuôi động vật bán hoang giã tại xã Tức Tranh thuộc Chi nhánh
nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng
miền núi. Đây là một trung tâm phục vụ cho sự phát triển ngành chăn nuôi của các
tỉnh trung du và miền núi. Trang trại có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, nghiên cứu
đề tài và cải tiến khoa học kỹ thuật sáng tạo ra những phương pháp cải tiến trong
chăn nuôi và sản xuất chính vì vậy nguồn thu kinh tế từ sản xuất kinh doanh là
không nhiều. Chính vì thế mà đời sống về vật chất của trang trại còn gặp nhiều khó
khăn. Tuy nhiên, trang trại đã từng bước khẳng định mình và tạo được thế đứng
trong xã hội bằng cách ngày càng nhân rộng các mô hình, áp dụng các khoa học kỹ
thuật vào thực tiến sản xuất. Đến nay trang trại đã khẳng định được sự tồn tại, vị
thế của mình trong sự nghiệp phát triển chăn nuôi khu vực miền núi và nền kinh tế
thị trường.
2.2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn
a. Thuận lợi
Trại chăn nuôi động vật bán hoang giã tại xã Tức Tranh thuộc Chi nhánh
nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng
miền núi có các chuyên gia (thầy) chuyên ngành dầy dặn kinh nghiệm, năng động
sáng tạo trong công tác chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất.
Đội ngũ sinh viên với lòng nhiệt tình và ham học hỏi kinh của các thầy đã và đang
thực hiện các đề tài tốt nghiệp và nghiên cứu khoa học, luôn áp dụng các khoa
học kỹ thuật vào sản xuất chăn nuôi. Với nhiệm vụ nghiên cứu sản xuất, trang trại
từng bước rút ra những kinh nghiệm trong hoạt động nghiên cứu và chuyển giao
công nghệ, kế thừa những thành quả đạt được của những người đi trước.
Sau hơn 8 năm xây dựng và trưởng thành, trang trại đã khắc phục mọi khó khăn
gian khổ và từng bước trưởng thành, đồng thời có những thay đổi quản lý để phù
hợp với sự phát triển của xã hội.
34
b. Khó khăn
Sự chênh lệch về nhiệt độ giữa hai mùa là rất cao, ảnh hưởng trực tiếp đến
cây thức ăn trong mùa khô. Trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của gia súc, sự
thay đổi thời tiết đột ngột gây nhiều ảnh hưởng đến đàn gia súc. Đồng thời, một
khó khăn hiện hữu nữa là tỷ lệ đẻ của hươu và ngựa thường thấp, thời gian chửa
dài, thời gian nuôi thành con giống dài do vậy sản phẩm thu không thường xuyên,
kinh phí quay vòng sản xuất chậm. Do có dòng sông cầu bồi đắp nên đất pha
nhiều cát cho nên khi mưa thì ngập úng nhưng chưa nắng thì đất đã khô cằn chính
vì vậy tốn nhiều công, điện, nước trong công tác tưới tiêu, chăn nuôi của trại.
2.2.2 Thực trạng tình hình phát triển chăn nuôi động vật hoang dã và bán
hoang dã của Trại
Mặc dù mới đi vào hoạt động một số năm trở lại đây nhưng Trại chăn
nuôi động vật bản địa ở xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương (tỉnh
Thái Nguyên) đã xây dựng được trang trại chăn nuôi bề thế rộng trên 5 ha.
Không dừng lại ở đó, Chi nhánh còn mở thêm mô hình Hợp tác xã tại địa
bàn xóm và một số huyện bên cạnh. Cụ thể là hiện nay đã kết nạp thêm 12 xã
viên thành thành viên HTX. Thu hút các trang trại vệ tinh với quy mô hơn 1 ha,
chủ yếu nuôi lợn rừng, hươu, ngựa bạch…
Thời gian gần đây, Chi nhánh còn là nơi để ứng dụng các đề tài nghiên
cứu các cấp (cấp Quốc gia về Gà cánh củm; Dê bán chăn thả; Bưởi da xanh...),
cấp tỉnh về Phát triển đàn ngựa bạch về mặt sinh sản và số lượng con…
Số liệu bảng 4.4 cho thấy: Từ khi thành lập Chi nhánh số lượng đàn động
vật hoang dã và bán hoang dã có sự thay đổi rõ rệt theo từng năm và từng giai đoạn
phát triển. Cụ thể là can cứ theo tình hình dịch bệnh và nhu cầu của thị trường theo
đó Chi nhánh cũng đã nắm bắt và điều chỉnh số lượng đàn phù hợp với thị trường
và nhu cầu của người chăn nuôi. Theo đó, đàn hươu sinh sản của Chi nhánh và hợp
tác xã đã phát triển lên gần 400 con và đàn lợn rừng duy trì trên 500 con, tạo việc
làm ổn định cho hàng chục lao động địa phương với thu nhập 6 triệu
đồng/người/tháng.
35
Bảng 2.3 Tình chăn nuôi động vật hoang dã của Trang trại
Giai đoạn phát triển Hươu Lợn rừng
30 - 2007
35 - 2008
50 - 2009
70 40 2010
110 155 2011
148 210 2012
180 300 2013
200 320 2014
210 280 2015
250 300 2016
250 350 2017
270 400 2018
330 480 2019
380 550 2020
(Nguồn: Số liệu thừa kế và điều tra tại Chi nhánh 2020)
2.2.3 Thực trạng phát triển đàn Ngựa bạch của Trại chăn nuôi động vật bán
hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương
Số lượng Ngựa bạch phân loại mục đích chăn nuôi như sau:
Số liệu bảng trên cho thấy: Từ khi thành lập (2007- 2020) số lượng Ngựa
bạch của Trại ngày một tăng lên. Từ năm 2007 chỉ có 20 con ngừa bạch, đến
năm 2020 đã tăng lên 80 con ngựa bạch.
Mục đích của việc chăn nuôi ngựa bạch dùng để giết thịt, thịt ngựa bạch
ăn cũng giống như thịt ngựa thường; những phần lợi ích là xương nấu cao (Theo
thầy thuốc nhân dân Nguyễn Xuân Hướng – Chủ tịch BCH Trung ương Hội
Đông y Việt Nam cho biết: Cả cao ngựa bạch và cao ngựa thường đều có tác
dụng chữa đau nhức xương khớp, mạnh gân, cường cơ, phòng chống loãng
36
xương, bồi bổ cơ thể. Theo ý lý truyền thống, cao ngựa bạch có tác dụng tốt hơn
ngựa thường. Đó có thể do cấu trúc thành phần vi chất, khoáng chất trong xương
ngựa bạch khác xương ngựa thường. Tuy vậy, nhưng cao ngựa bạch vẫn chỉ là
thực phẩm chức năng không thay thế được thuốc chữa bệnh).
Sau khi trừ đi số ngựa đã được giết thịt, nấu cao thì hàng năm với 60 con
ngựa bạch nuôi sinh sản, mỗi năm tổng đàn vẫn tăng từ 3-6 cá thể cho thấy sự
phát triển bền vững.
Bảng 2.4 Số lượng Ngựa bạch phân theo mục đích chăn nuôi
Giai đoạn Tổng số Phân theo mục đích chăn nuôi
(con) Sinh sản
Giết thịt (Nấu cao)
Từ 2007- 2008 20-25 20 0
Từ 2008- 2009 25-29 23 2
Từ 2009- 2010 29-33 26 3
Từ 2010- 2011 33-38 30 3
Từ 2011- 2012 38-42 33 5
Từ 2012- 2013 42-47 36 6
Từ 2013- 2014 47-51 41 6
Từ 2014- 2015 51-56 45 6
Từ 2015- 2016 56-60 49 7
Từ 2016- 2017 60-63 53 7
Từ 2017- 2018 63-68 55 8
Từ 2018- 2019 68-74 59 9
Từ 2019- 2020 74-80 65 9
Từ 2020- nay 80 70 10
(Nguồn: Số liệu thừa kế và điều tra tại Chi nhánh 2020)
37
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giống cỏ VA06 và Ngựa bạch được
nuôi trồng tại Trại chăn nuôi động vật bán hoang giã tại xã Tức Tranh thuộc Chi
nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai
khoáng miền núi.
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Chỉ nghiên cứu khả năng cung cấp sản lượng cỏ VA06/ha/năm và khẩu
phần ăn của Ngựa bạch để cân đối diện tích trồng cỏ tại Chi nhánh.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành
-Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ tháng 01/2020 đến
tháng 06 năm 2020.
-Địa điểm nghiên cứu: Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã tại xã Tức
Tranh, huyện Phú Lương thuộc Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật
bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, tỉnh Thái Nguyên.
3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Cách tiếp cận của đề tài
- Đánh giá, tìm hiểu về tình hình sản xuất chung của trang trại
+ Cơ sở vật chất của trang trại
+ Chức năng, nhiệm vụ của trang trại
+ Tình hình khí hậu- thủy văn tại khu vực nghiên cứu
+ Sơ lược tình hình sản xuất của trang trại
- Xác định sản lượng cỏ VA06 (kg/01 ha/năm) tại Trại chăn nuôi động vật
bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương thuộc Chi nhánh nghiên cứu và
phát triển động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi.
38
- Xác định khẩu phần ăn của 01 Ngựa bạch (kg/con/năm) và Cân đối khẩu
phần thức ăn của Ngựa bạch với diện tích cần trồng cỏ VA06 tại chi nhánh nuôi
động vật bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương.
- Đề xuất một số biện pháp tăng năng suất và kỹ thuật trồng một số loại
cỏ nhằm phát triển Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện
Phú Lương.
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng cách tiếp cận như sau:
- Tiếp cận lịch sử và logic: Kế thừa các tài liệu, kết quả nghiên cứu trong
và ngoài nước, học hỏi kinh nghiệm gây trồng cỏ VA06 và kỹ thuật chăn nuôi
Ngựa bạch.
- Tiếp cận định tính và định lượng: Thông qua điều tra lựa chọn giống cỏ
VA06 chất lượng tốt đang trồng; để xác định sản lượng chất xanh/ha/năm. Khảu
phần ăn trung bình/năm của 01 con ngựa bạch và hươu tại Trại chăn nuôi động vật
bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương.
- Tiếp cận hệ thống và tiếp cận phân tích và tổng hợp: Thông qua tham
khảo các công trình nghiên cứu, kinh nghiệm trồng cở VA06 và chăn nuôi Ngựa
bạch nhằm đề xuất diện tích (số lượng Ngựa bạch) cho trang trại.
3.3.3 Phương pháp điều tra thực địa
a) Phương pháp điều tra khẩu phần ăn của Ngựa bạch tại Trại chăn nuôi
động vật bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương
Sử dụng phương pháp chuyên gia, tham khảo ý kiến của lãnh đạo địa
phương (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Chi cục kiểm lâm hai tỉnh,
Phòng NN&PTNT và Hạt kiểm lâm các huyện, các xã, các nông hộ) nơi có
người dân nuôi Ngựa bạch để tìm hiểu về các loại cỏ dùng làm thức ăn cho
Ngựa bạch....
+ Điều tra theo mẫu: Cả 3 lứa cỏ trên đều được cắt cùng độ tuổi. Ở các
lứa cỏ số lượng cỏ cho ngựa bạch ăn mỗi ngày là 200kg, chọn ra 10 con ở các
39
lứa tuổi nhốt 2 con vào 1 máng tối nay cho ăn công thức này thì ngày mai lại đổi
cho ăn công thức khác cứ như thế cho hết 10 ngày, được cắt vào buổi chiều tối
cỏ tươi không ướt. Số cỏ dư thừa được cân vào buổi sáng bằng cách nhạt toàn
bộ những cành nhỏ rơi xuống chuồng lên, dùng chổi rẽ quét sạch máng ngựa
đựng toàn bộ số cỏ dư thừa vào bao tải rồi cân lên (đã cân vỏ bao trước khi cho
cỏ vào bao). Khẩu phần ăn về cỏ (kg/con/ngày); Khẩu phần các loài dinh dưỡng
khác/con/ngày; Quy đổi ra khẩu phần ăn/con/năm
+ Tìm hiểu kinh nghiệm chăn nuôi của trại…
b) Phương pháp điều tra về kỹ thuật trồng cỏ VA06 và sản lượng chất
xanh/ha/năm
+ Phương pháp điều tra kiến thức bản địa kỹ thuật gây trồng và giá trị sử
dụng cỏ VA06: Tìm hiểu kỹ thuật trồng (trồng, chăm sóc, bón phân), sinh trưởng,
đặc điểm hình thái, đặc điểm tái sinh, ra hoa và giá trị sử dụng giống cỏ VA06
tại Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương.
+ Điều tra nguồn cây giống cỏ VA06: Tại trại tiến hành điều tra đo đếm
những nội dung sau:
- Diện tích, mật độ, lịch sử nhân giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc,…
- Điều tra đặc điểm hình thái: Chiều cao, đường kính trung bình thân cây;
Số lá (kích thước lá); thời kỳ và đặc điểm ra chồi (chồi gốc, chồi ngọn); sản
lượng chất xanh/ha/năm
- Xác định một số đặc điểm sinh thái: Độ cao so với mực nước biển, vị trí
phân bố hoặc gây trồng (chân, sườn, đỉnh, khe), độ dốc, hướng dốc.
- Điều tra tái sinh: Đo đếm thống kê tái sinh hạt (nếu có), nhân giống bằng
phương pháp giâm hom...
Mỗi hộ đào 01 phẫu diện đất, mô tả ngoài thực địa, lấy 3 mẫu tại độ sâu
(0-30 cm; 30-60 cm) xác định các chỉ tiêu thành phần cơ giới, pH, Chất hữu cơ,
Đạm, P2O5, K2O, Ca, Mg, độ ẩm, dung trọng theo phương pháp thông dụng, dự
kiến đào 60 phẫu diện. Cụ thể như sau:
+ Độ ẩm, Dung trọng đất: TCVN 6860: 2001
+ Thành phần cơ giới: TCVN 8567: 2010.
40
+ Chất hữu cơ: TCVN 4050-85
+ Đạm tổng số: TCVN 6498
+ Đạm dễ tiêu: TCVN 5255: 2009
+ pH của đất: TCVN 5979: 2007
+ Ca, Mg trao đổi: TCVN 6646: 2000
+ P2O5 dễ tiêu: 10TCN 373-1999
+ K2O dễ tiêu: TCVN 8662: 2011
3.3.4 Phương pháp phân tích & xử lý số liệu
a) Phương pháp bố trí thí nghiệm
Được bố trí theo các lứa cỏ và tiến hành chăm sóc như nhau ở cả 3 lứa cắt
khác nhau, sau đó theo dõi các chỉ tiêu đánh giá.
-Lứa 1: Là vụ đông ( từ 5/12/2013-24/01/2014)
-Lứa 2: Là vụ đông- xuân (từ 29/01-21/03/2014)
-Lứa 3: Là vụ xuân-hè (từ 26/03 -13/5/2014)
3.3.2.4 Phương pháp theo dõi
*Tốc độ tái sinh (cm/ngày ): Tốc độ tái sinh của cỏ cho biết tốc độ mọc lại
của cỏ từ lứa cắt trước cho tới lứa cắt sau. (Viện chăn nuôi,1977).[17].
+ Xác định bằng cách: Sau khi cắt lứa trước định kỳ cứ 10 ngày đo 1 lần
bằng thước gậy cho tới khi cắt lứa tiếp theo (50 ngày một lứa cắt). Tốc độ tái
sinh của cỏ trong 1 lần đo được tính bằng tốc độ tái sinh trung bình của tổng số
cây thí nghiệm (ứng với 1 vụ nghiên cứu), cứ tiếp tục như vậy cho đến khi được
cắt (50 ngày).
L - L
(2.1)
L (cm/ngày) = T
Trong đó: L: Tốc độ tái sinh
L : Chiều cao cỏ đo lần trước
L : Chiều cao cỏ đo lần sau
T: Khoảng cách giữa 2 lần đo (10 ngày)
41
* Độ cao thảm cỏ khi thu hoạch (cm)
Đánh giá sự sinh trưởng và phát triển của cỏ, đồng thời có thể dự đoán
được năng suất chất xanh của giống cỏ. Đo tất cả các lứa cắt trong năm, cách
đo tương tự như như phần đo tốc độ sinh trưởng. Mỗi ô đo 5 điểm theo
phương pháp đường chéo lập lại 3 lần và lấy số liệu trung bình (Viện chăn
nuôi, 1977) [17].
* Đo chiều cao cỏ thí nghiệm.
Cách theo dõi: Sử dụng phương pháp đường chéo hình chữ nhật, lấy ngẫu
nhiên 5 điểm trên đường chéo (như hình vẽ).
Cắm cọc đánh dấu và đo trong suốt thời gian thí nghiệm. Sau khi cắt cỏ thì
cứ 10 ngày ta đo một lần, định kỳ 10, 20, 30 , 40, 50 ngày thì đo.
Cách đo: Dùng thước thẳng có chia độ chính xác đến từng mm để đo
chiều cao cây. Khi đo đặt thước sát vào gốc cây sao cho thước vuông góc
với mặt đất, rồi đo từ mặt đất đến lá dài nhất. Đo vào buổi sáng sớm khi cỏ đã
khô sương, lá cỏ không bị héo và rủ xuống.
* Năng suất chất xanh (tấn/ha)
Được theo dõi qua các lứa cắt trong năm. đó là toàn bộ khối lượng cỏ ngay sau
khi cắt, không có nước tự do trên mặt sản phẩm. Năng suất chất xanh được tính trên toàn bộ diện tích thí nghiệm rồi tính
ra sản lượng đạt được/ha/lứa.
b) Phương pháp xử lý cho xác định sản lượng cỏ VA06
Số liệu thu được đem xử lý theo phương pháp:
Xử lý thống kê sinh vật học của Nguyễn Văn Thiện, 2000 [12], trên phần
mền Excel 2003.
42
- Số trung bình ( )
(2.2)
(i=1,2,.....,n)
Trong đó: - X: là số trung bình
- : là tổng giá trị mẫu
- x1,x2,....xn: là mẫu
- n: là dung lượng mẫu
* Năng suất chất xanh: là khối lượng chất xanh tính trên một đơn vị diện
tích là mét vuông.
Để tính dược chất xanh của cỏ chúng tôi tiến hành cắt và cân từng giống
cỏ. Mỗi ô cỏ chúng tôi lấy ngẫu nhiên 5 điểm theo phương pháp đường chéo,
mỗi điểm cắt 1 m2, cắt vào buổi sáng, cân và tính năng suất bình quân /1 m2/ lứa
như sau:
- Năng suất bình quân/1 m2 = =
- Năng suất cỏ (kg/1ha/lứa) = Năng suất cỏ bình quân/1 m2 (kg) 10.000 m2
Trong đó: : Năng suất bình quân (kg/ 1 m2/1 lứa cắt)
x1, x2,…,xn : Khối lượng của từng mẫu cắt
n : Dung lượng mẫu
* Sản lượng chất xanh của cỏ: Là tổng khối lượng của cỏ sau khi cắt mỗi lứa
tính cho đơn vị diện tích là một ha/ năm.
Sau khi tính được năng suất cỏ/1 m2 sẽ tính được năng suất xanh/ 1 ha/ lứa.
Sản lượng chất xanh/1 ha trong 01 năm được tính bằng cách cộng năng suất của
tất cả các lứa cỏ trên 1 ha trong 1 năm. Sản lượng cỏ (tấn/ha/năm) =ns lứa 1 +
ns lứa 2 +…+ns lứa n = năng suất cỏ các lứa/ năm.
c) Xử lý số liệu cho khẩu phần ăn của Ngựa Bạch
Ngựa nói chung, Ngưa bạch nói riêng thường tiêu thụ lượng thực phẩm
tương đương 1,5 đến 3% khối lượng cơ thể, trung bình 2,5%. Trung bình, ngựa
43
cần uống 20-60 lít nước mỗi ngày, nước chiếm khoảng 63% khối lượng con vật.
Ở một số bộ phận tỷ lệ nước chiếm 70-80%. Trong một ngày đêm, ngựa lớn cần
khoảng 50-60 lít nước, trong đó 12-15 lít từ thức ăn, 40-45 lít từ nước uống.
Ngựa nặng khoảng 450 kg (990 lb) nó sẽ ăn từ 7–11 kg (15-24 lb) thức ăn thô
mỗi ngày và uống 38 lít nước (8.4 imp gal; 10 US gal) đến 45 lít (9,9 imp gal,
12 US gal).
Có thể tính tổng nhu cầu trong chế độ ăn uống hằng ngày của ngựa (thức
ăn gia súc và bột) để xác định lượng thức ăn cung cấp cho ngựa hằng ngày bằng
công thức.
Cân nặng của ngựa/100 x 2,5 = Tổng số nhu cầu thức ăn thô hằng ngày
Thường cho Ngựa bạch ăn cỏ vào lúc 10 giờ sáng và 17 giờ chiều, khoảng
từ 4 – 10 kg cỏ/con/ngày; lúc 14 giờ cho thức ăn tinh (cám gạo hoặc cám ngô…)
khoảng 1,0 - 1,5kg/ngày/con.
44
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Sơ lược về tình hình phát triển của Chi nhành Chăn nuôi động vật bán
hoang dã tại xã Tức Tranh, huyện Phú lương, tỉnh Thái Nguyên
4.1.1. Tình hình sản xuất của của cây thức ăn chăn nuôi
Từ năm 2006 đến nay trang trại đã có chủ trương đưa cây thức ăn có năng
suất và giá trị dinh dưỡng cao vào sản xuất. Từ chỗ thiếu thức ăn, đến nay trang
trại đã có thể cung cấp đủ thức ăn, đến nay trang trại đã có thể cung cấp đủ thức
ăn vào mùa mưa và dự trữ vào mùa khô. Trang trại hiện có hàng chục giống cây
thức ăn như: Cỏ Mulato, VA06, voi, ghinê, , ghinê TD-58, Năng suất cỏ đạt
trung bình 4kg/m2/lứa cắt.
Hàng năm trang trại đã chuyển giao hàng chục tấn cỏ giống cho các hộ
nông dân trên địa bàn và các tỉnh trong cả nước. Trang trại không ngừng nâng
cao năng suất và chất lượng cây thức ăn. Trang trại vẫn tiếp tục nghiên cứu và
đưa vào sản xuất giống cây thức ăn có năng suất và chất lượng cao hơn. Đến nay
mô hình này đã bước đầu cho kết quả ưu việt, đã và đang được nghiên cứu và
tiếp tục phát triển.
4.1.2. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi ngựa
Nước ta có điều kiện tư nhiên đặc thù, nên ngựa là một con gia súc gắn
bó với đời sống của nhân dân và các dân tộc miền núi từ lâu đời. So với gia súc
khác con ngựa có giá trị toàn diện. Ngoài ra ngựa còn đóng vai trò quan trọng
ngựa đóng vai trọng trong lĩnh vực y học văn hoá. Thịt, xương ngựa có giá trị
dinh dưỡng cao. Tuy nhiên đàn ngựa nước ta còn phát triển chậm, số lượng ít,
tầm vóc nhỏ.
Tổng đàn ngựa của trang trại gồm: 80 con ngựa giống quốc gia
- Đực giống có 3 con.
- Ngựa cái giống có 50 con
45
- Ngựa con có 21 con trong đó có 12 con đẻ trong năm 2019, 9 con đẻ trong
năm 2020 (tính đến tháng 5 năm 2020).
-Ngựa thịt có 6 con.
4.1.3. Công tác thú y
a. Tình hình vệ sinh phòng bệnh
Để phòng tránh và hạn chế do dịch bệnh gây ra. Hàng năm trang trại đã
thực hiện nghiêm ngặt phòng bệnh trên đàn gia súc. Thường xuyên tiêu độc, vệ
sinh chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi. Vì vậy mà từ trước đến nay chưa xảy ra
dịch bệnh trên đàn gia súc, của trang trại.
Chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh phòng bệnh là việc làm hết sức quan
trọng nhằm đảm bảo sức khoẻ và khả năng chống đỡ bệnh tật ở mức cao nhất. Do
đó, vấn đề vệ sinh phòng bệnh luôn được đề cao và quan tâm hàng đầu.
Trong khu vực trại chăn nuôi, chuồng nuôi được thiết kế theo kiểu
chuồng kín có rèm che, có hệ thống đèn chiếu sáng, hệ thống nước sạch luôn
được đảm bảo. Nền chuồng luôn khô ráo và được vệ sinh sạch sẽ. Cống rãnh
xung quanh khu vực chuồng nuôi luôn được khơi thông thoáng, trước cửa
chuồng có hố sát trùng bằng vôi bột.
* Phòng bệnh:
Với phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, trang trại đã thực hiện
triệt để quy trình vệ sinh thú y nhằm ngăn chặn dịch bệnh xảy ra. Tất cả đàn gia
súc, đều được tiêm phòng đầy đủ, theo lịch phòng bệnh của trang trại thực
nghiệm và Bảo tồn vật nuôi - Viện Chăn Nuôi. Đồng thời, định kỳ cho uống
thuốc phòng một số bệnh truyền nhiễm đường tiêu hoá và hô hấp, bổ sung
Vitamin, tăng cường sức đề kháng cho đần gia súc.
- Hàng năm trang trại tiêm phòng định kỳ vào 2 đợt: đợt 1 vào tháng 3,4;
đợt 2 vào tháng 9,10.
- Tiêm phòng ký sinh trùng đường máu cho ngựa 2 lần/năm.
- Tiêm phòng cho đàn lợn rừng theo lịch phòng bệnh của trang trại.
46
b. Công tác điều trị bệnh
Hằng ngày các bộ phận quản lý luôn kiểm tra theo dõi sát sao đàn gia súc
để phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời mang lại kết quả cao.
* Những bệnh thường xảy ra ở trang trại:
- Đối với ngựa thường mắc các bệnh: đau bụng ngựa, táo bón, đau mắt, tiên
mao trùng...
- Đối với lợn thường mắc các bệnh : ỉa chảy, viêm phổi...
- Đối với hươu thường mắc bệnh chướng hơi.
* Công tác điều trị và kết quả điều trị:
- Bệnh nội khoa đạt tỷ lệ khỏi 94-97% như: Chướng bụng đầy hơi, tắc
nghẽn thực quản, cảm nắng…
- Bệnh sản khoa tỷ lệ khỏi đạt 100% như: Viêm tử cung, sát nhau…
4.2. Khả năng cho năng suất của giống cỏ VA06 qua các thời vụ trong năm
4.2.1 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cỏ VA06 qua các thời vụ
Sau một thời gian chăm sóc và theo dõi khả năng sinh trưởng về chiều cao
của giống cỏ VA06 qua 3 thời vụ khác nhau. Tôi đã thu được bảng số liệu như
bảng 4.1 dưới đây:
Qua số liệu bảng 4.1 cho thấy: Thời vụ có ảnh hưởng rõ rệt đến sự sinh
trưởng của cỏ VA06. Các vụ 1, 2, 3 trong bảng trên được thể hiện qua các mùa
vụ khác nhau. Về chỉ tiêu sinh trưởng chiều cao, ta có thể thấy sự chêch lệch khá
lớn giữa 3 lứa cắt khác khau. Ở vụ 1 tốc độ tăng trưởng chiều cao qua các độ tuổi
là thấp nhất (233,6cm ở 41-50 ngày tuổi) và đạt tối đa ở vụ thứ 3. Sở dĩ có sự khác
biệt đó là do Lứa 1 là vụ đông tháng 12 đến tháng 2 ở lứa này cỏ phát triển rất
chậm còi cọc, thân nhỏ và cứng. Chính vì vậy chiều cao của cỏ thấp hơn hẳn so
với 2 lứa còn lại.
47
Bảng 4.1. Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cỏ VA06 qua các thời vụ
Chỉ Chiều cao (cm) Số lá/thân Số nhánh/khóm tiêu
0-10 11-20 21-30 31-40 41-50 0-10 11-20 21-30 31-40 41-50 0-10 11-20 21-30 31-40 41-50
ngày ngày ngày ngày ngày ngày ngày ngày ngày ngày ngày ngày ngày ngày ngày Thời vụ
8 Lưa 1 26,6 78 107,8 180,8 233,6 5 12 15 16 6 8 9 11 3
9 Lứa 2 35,0 89,4 120,6 211,4 248 7 12 15 17 11 18 25 26 9
Lứa 3 35,9 95,6 142,7 208,4 254,1 7 10 13 16 17 15 20 26 28 9
Trung 32,5 87,6 123,7 200,2 245,2 6,3 9 12,3 15,3 16,6 10,6 15,3 16,6 21,6 7 bình 3 lứa
48
Ở vụ 2 là vào cuối tháng 2 đến tháng 4 lứa này thời tiết ấm áp hơn nên cỏ
phát triển khá nhanh, chiều cao thân của cỏ trội hơn hẳn so với cỏ vụ đông (248cm
so với 233,6 cm ở độ tuổi 41-50 ngày).Còn ở lứa thứ 3 là vào thời gian mà cỏ phát
triển mạnh mẽ nhất, nóng ẩm mưa nhiều, cường độ quang hợp cao vì vậy chiều
cao cỏ ở thời gian này so với 2 vụ trước đạt được ở mức tối đa (254,1cm ở độ tuổi
41-50 ngày). Qua đó, có thể thấy được thời vụ có ảnh hưởng khá lớn về chiều cao
của cỏ VA06.
Về chỉ tiêu số lá/thân: qua bảng ta có thể thấy ở vụ 1 (vụ đông) số lá trên
thân là thấp nhất còn ở vụ 2 và vụ 3 không có sự chêch lệch quá lớn về chỉ tiêu
này. Tuy nhiên, nếu so sánh vụ 1 với vụ 3 thì có thể thấy được sự chêch lệch
giữa 2 lứa này là khá lớn. Ở thời vụ 1 do thời tiết lạnh nên cỏ phát triển chậm và
còi cọc,vì vậy số lá trên thân cũng thấp hơn vụ 2 và 3. Ở vụ 2, thời tiết trong giai
đoạn này đã ấm áp hơn nên cỏ phát triển nhanh hơn hẳn so với vụ đông, số lá trên
thân ở vụ này cũng cao hơn ( trung bình đạt 16,4 lá). Còn ở vụ 3 là giai đoạn mà cỏ
phát triển mạnh nhất, số lá trên cây có thể đạt 16-18 lá ở độ tuổi 41-50 ngày.
Về chỉ tiêu số nhánh/khóm: Ở vụ 1 ta có thể thấy số nhánh là ít nhất,ở vụ
2 thì chỉ tiêu này ở mức trung bình so với vụ 1 và 3. Sở dĩ có sự chênh lệch lớn
như vậy là do điều kiện thời tiết giữa 2 thời vụ này có sự sự khác biệt. Vụ 1 là
vụ đông nên khả năng sinh trưởng của cỏ kém hơn và tốc độ mọc mầm cũng rất
chậm vì vậy số lượng nhánh/khóm cũng không cao do vậy mật độ cỏ ở vụ này
thấp. Còn vụ 3 là giai đoạn mà điều kiện thời tiết có lợi nhất, mưa nhiều số giờ
nắng cao, ẩm độ cũng cao cỏ sinh trưởng phát triển mạnh, từ khi vừa cắt đến giai
đoạn 10 ngày tuổi số mầm đã rất cao .Chính vì vậy số nhánh/khóm cao hơn hẳn
so với 2 vụ còn lại, mật độ cỏ ở thời vụ này cũng đạt mức tối đa.
Qua các chỉ tiêu về sinh trưởng của cỏ VA06 ở 3 lứa khác nhau, có thể
dự đoán được rằng năng suất của cỏ ở vụ 1 sẽ là thấp nhất, vụ 2 sẽ cho năng suất
trung bình và vụ 3 sẽ cho năng suất tối đa.
49
Tuy nhiên nếu xét về một số chỉ tiêu trung bình của 3 lứa cắt này thì giống
cỏ VA06 vẫn sẽ cho năng suất và chất lượng cao hơn so với một số giống cỏ tại
nước ta hiện nay ( như cỏ voi, cỏ ghi-nê...). Từ đó có thể thấy rằng, các lứa cắt
này tuy có phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thời tiết nhưng về khả năng cho năng
suất của giống cỏ này trong năm là cao hơn rất nhiều so với các giống cỏ khác.
4.2.2. Năng suất của cỏ VA06 qua các thời vụ khác nhau
Sau mỗi lứa cỏ thí nghiệm ta tiến hành cắt và tính năng suất chất xanh
từ đó tính được năng suất của cỏ tấn/ha/vụ. Kết quả được trình bày ở bảng
4.2 dưới đây:
Bảng 4.2. Năng suất của cỏ VA06 qua các thời vụ (tấn/ha/vụ)
Năng suất (tấn/ha/vụ)
Vụ 1 Vụ 2 Vụ 3
76,5 130,2 153,1
(Nguồn: Số liệu thừa kế và điều tra tại Chi nhánh 2020)
Số liệu bảng 4.2 cho thấy: Năng suất của cỏ VA06 ở các thời vụ khác
nhau cũng khác nhau. Ở lứa 1 là vào tháng 12 đến tháng 2 vài vụ đông nên năng
suất cỏ không cao như các lứa khác, lứa 2 là vào cuối tháng 2 đến tháng 4 nên
cỏ phát triển khá mạnh năng suất chất xanh tăng lên khá rõ rệt được thể hiện rõ
trong bảng 4.2. Ở lứa 3 thì cho ta thấy kêt quả rất rõ, năng suất chất xanh ở lứa
này có thể tăng gấp đôi so với lứa cỏ vụ đông.
Do tình hình thời tiết vào mùa đông năm nay có sự bất thường so với các
năm trước, mưa nhiều, ẩm độ cao vì vậy năng suất cỏ ở thời vụ 1 so với 2 vụ
còn lại không có sự chênh lệch quá lớn. Nếu điều kiện thời tiết vào vụ này khô
lạnh và độ ẩm thấp như mọi năm thì năng suất của cỏ qua 3 thời vụ sẽ cho sự
chênh lệch rõ nét hơn.
4.2.3. Ảnh hưởng của thời vụ đến hiệu suất sử dụng cỏ VA06
Trong quá trình nghiên cứu giống cỏ VA06 qua 3 lứa cắt khác nhau cho
sản lượng và năng suất khác nhau. Dưới đây là bảng so sánh hiệu quả sử dụng
cỏ VA06 trong 50 ngày tuổi.
50
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của thời vụ đến hiệu suất
sử dụng cỏ VA06 (kg/ngày)
Nội dung Tỷ lệ cỏ dư Sản lượng cỏ sử Số cỏ dư thừa thừa/ngày dụng (kg/ngày) (kg/ngày) Thời vụ (%)
Lứa 1 200 12,40 6,2
Lứa 2 200 8,14 4,07
Lứa 3 200 5,35 2,67
Trung Bình 200 8,63 4,31
(Nguồn: Số liệu thừa kế và điều tra tại Chi nhánh 2020)
Qua bảng trên ta có thể thấy hiệu suất sử dụng cỏ ở các lứa cắt khác nhau
cũng khác nhau. Ở vụ đông hiệu suất sử dụng cỏ là thấp nhất vì cỏ ở vụ này cho
thời gian thu hoạch lâu, cỏ phát triển chậm, thân bé và cứng, ngựa không ăn
được hết nên số lượng cỏ dư thừa nhiều dẫn đến hiệu suất sử dụng cỏ thấp,số
lượng cỏ thừa phải bỏ đi là rất cao (6,2%).Vì vậy số lượng cỏ cho gia súc vào
thời điểm này sẽ nhiều hơn so với 2 vụ còn lại để đảm bảo đủ khẩu phần ăn cho
ngựa trong ngày nên có thể dẫn đến tình trạng thiếu cỏ vào vụ đông. Ở lứa thứ
2, do thời tiết ấm áp, cỏ sinh trưởng phát triển nhanh nên hiệu suất sử dụng cỏ ở
lứa này tăng lên rõ rệt so với cỏ vụ đông. Còn ở lứa thứ 3, hiệu suất sử dụng cỏ
là tối đa nhất do cỏ sinh trưởng phát triển mạnh, thân mềm, nhiều dinh dưỡng
nên số lượng cỏ dư thừa là ít nhất (số cỏ phải bỏ đi chỉ chiếm 2,67%).
Tuy nhiên, số cỏ phải bỏ đi trung bình của cả 3 lứa cắt này chỉ là 4,31%
đây là một con số khá là thấp so với một số giống cỏ hiện nay như cỏ voi, cây
ngô...Từ đó có thể cho thấy ràng mức độ ưu thích của ngựa bạch với giống cỏ
này là rất cao. Qua đó, chúng ta có thể suy ra rằng cỏ VA06 rất phù hợp cho
nhiều loại vật nuôi khác như trâu, bò, dê...
51
4.3. Xác định khẩu phần ăn của 01 Ngựa bạch (kg/con/năm) tại Trại chăn
nuôi động vật bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương
4.3.1. Khẩu phần ăn của Ngựa bạch
Bảng 4.4 Khẩu phần ăn của Ngựa nuôi theo mục đích kinh doanh
Phân theo mục đích chăn nuôi
Khẩu phần ăn Sinh sản Giết thịt (Nấu cao)
(Kg/con/năm) Còn Trưởng Còn Trưởng
nhỏ thành nhỏ thành
1. Cỏ VA06 4.867 7.300 3.650 5.475
2. Chất thô khác 2.433 3.650 2.920 4.380
3. Chất tinh 1.217 1.825 1.947 2.920
Số liệu bảng trên cho thấy: Ngựa nuôi để sinh sản ở độ tuổi trưởng thành
(có thể đẻ) thì khẩu phần ăn nhiều cỏ (7.300 kg/con/năm) ít chất thô (3.650
kg/con/năm) và chất tinh (1.825 kg/con/năm); Còn ngựa nuôi để giết thịt và nấu
cao thì khẩu phần ăn nhiều chất thô (4.380 kg/con/năm) và chất tinh (2.920 kg
con/năm), ít cỏ (5.475 kg/con/năm).
Một con ngựa nuôi sinh sản và nuôi thịt khi trưởng trưởng thành sẽ ăn
trung bình một lượng cỏ VA06 là: 6.379 kg/con/năm.
4.3.2. Cân đối khẩu phần thức ăn của Ngựa bạch với diện tích cần trồng cỏ
VA06 ở Chi nhánh chăn nuôi động vật bán hoang dã ở xã Tức Tranh, huyện
Phú Lương
Phần này sẽ tính trên 01 ha cỏ VA06 đạt năng suất 200 kg/ngày, tương
đương 456,00 (tấn/ha/năm); với khẩu phần ăn trung bình 01 con Ngựa bạch
(6.379 kg/con/năm)
Công thức:
Số lượng Ngựa bạch cần nuôi = Năng suất 456.000(kg/ha/năm)/khẩu phần
01 con Ngựa bạch (6.400 kg/con/năm) = 71 con ngựa bạch thường xuyên ở Chi
nhánh trong năm.
52
Hoặc, Diện tích cỏ cần trồng của Chi nhánh = 80 con ngựa bạch X Khẩu
phần 01 con Ngựa bạch (6.4 kg/con/năm)/ 456.000 (kg/ha/năm) = 1,12 ha.
Hiện tại Chi nhanh chăn nuôi động vật hoang dã có 5,8 ha tổng diện tích;
có 1,5 ha diện tích trồng cỏ VA06, 1,0 ha diện tích dùng trồng các loại cỏ (Ghine
mombasa; Mulato; Cỏ voi lùn Đài Loan; Stylo; Paspalum; Linh lăng
alfalfa….Xung quanh Chi nhánh trồng cây Keo dậu, Sung,…) khác để chăn thả
Ngựa, Hươu, Dê để chúng ăn thêm khi chăn thả, hoạt động tự do.
Như vậy, với diện tích trồng cỏ 1,5 ha trồng cỏ VA06 và 1,0 ha trồng các
loại cỏ khác nhau để chăn nuôi bán thả thì Chi nhánh vẫn đảm bảo được nguồn
thức ăn duy trì thường xuyên cho tổng số động vật ăn cỏ của Chi nhánh, chỉ
thiếu chút ít về mùa đông, những mùa xuân và mùa hè thì lại thừa, nên có thể
tìm biện pháp tích trữ hoặc mua ngoài.
53
Một số hình ảnh về ngựa bạch tại trang trại
54
55
4.4. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong trồng cỏ nhằm phát triển chăn
nuôi động vật bán hoang dã thuộc Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động
thực vật bản địa, ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương
Cùng với phát triển chăn nuôi, tận dụng nguồn phân chuồng, các xã viên
hợp tác xã chăn nuôi động vật bản địa đang tập trung tiến hành cải tạo đất để
phát triển vùng trồng cây có múi, nhất là giống bưởi Diễn, bưởi da xanh, cam
sành... Mục tiêu của hợp tác xã không chỉ phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập
cho các xã viên, các hộ nông dân trong vùng mà còn góp phần bảo tồn nguồn
gen của các giống động vật bản địa có khả năng trở thành sản phẩm nông nghiệp
mang lại hiệu quả kinh tế cao.
4.4.1. Đề xuất một số biện pháp khắc phục tình trạng thiếu cỏ ở một số thời
điểm trong năm
Một số biện pháp chủ yếu để giải quyết tình trạng thiếu cỏ vào mùa đông:
* Tăng thêm diện tích trồng cỏ: Nên tiến hành trồng thêm cỏ vào cuối mùa
thu để kịp thời sử dụng ở thời điểm hay xảy ra tình trạng thiếu cỏ vào mùa đông.
* Sau mỗi lần cắt (hoặc chăn thả) tiến hành bón phân, tưới nước cho cỏ:
+ Bón thúc: Bón bằng đạm urê sau mỗi lứa cắt từ 50 - 100 kg/ha, sau mỗi
lần chăn thả 30 kg/ha. Cày rạch hàng, rải phân đều và lấp đất.
+ Bón hàng năm vào đầu xuân:
- Phân hữu cơ: 5 tấn/ha
- Đạm urea : 100 kg/ha
- Supe lân : 200 kg/ha
- Kaliclorua : 100 kg/ha
Có thể bón khi kết thúc mùa chăn thả (đầu mùa đông) với số lượng lớn
bằng 1/2 của bón đầu xuân.
* Ủ chua, ủ xanh cỏ ở các vụ thừa cỏ để sử dụng cho mùa đông.
+ Kỹ thuật ủ chua thức ăn thô xanh:
56
- Nguyên liệu bổ sung so với khối lượng cỏ đem ủ chua: Cám ngô, cám
gạo, bột sắn: 2 - 3%, rỉ mật: 2 - 3%, muối: 0,5 - 1%.
- Thu hoạch cỏ voi hoặc cỏ VA06 để ủ khi cỏ đạt chiều cao 1,5 m trở lên.
Không nên ủ chua cỏ quá già hoặc quá non, nếu cỏ non cần phơi héo để làm
giảm tỷ lệ nước trước khi ủ.
- Thực hiện ủ chua khi thời tiết nắng ráo
Cách ủ chua:
- Cân cỏ theo đúng tỷ lệ nêu trên và kích thước hố ủ.
- Băm, thái cỏ với độ dài từ 3 - 7 cm.
- Đưa cỏ hoặc cây ngô đã băm thái vào hố hoặc túi ủ theo từng lớp, mỗi
lớp dày 20 cm, nén chặt, rải đều cám, muối, rỉ mật theo tỷ lệ công thức, tiến hành
lần lượt theo từng lớp đến khi đầy hố hay túi ủ.
- Phủ một lớp cỏ hoặc rơm khô lên miệng hố hay túi ủ, che đậy kín hố
hoặc buộc chặt túi ủ.
- Che đậy, bảo quản nơi râm mát, tránh mưa hắt làm hỏng thức ăn ủ chua.
Kiểm tra chất lượng thức ăn sau khi ủ chua và cách cho gia súc ăn
Sau 3 tuần có thể sử dụng cho gia súc ăn, thức ăn ủ chua tốt có màu vàng
sáng, mùi chua nhẹ.
- Trước khi cho gia súc ăn cần kiểm tra thức ăn có bị thối, mốc hay có
mùi lạ không. Nếu thấy có các dấu hiệu đó thì không nên cho gia súc ăn.
- Có thể cho gia súc ăn với khẩu phần 5 kg/100 kg thể trọng/ ngày. Ban
đầu tập cho gia súc ăn bằng cách trộn lẫn với thức ăn xanh, khi gia súc ăn quen
có thể cho gia súc ăn hoàn toàn bằng thức ăn ủ chua.
* Mua thêm cỏ ở các vùng lân cận hoặc tăng thêm lượng thức ăn tinh vào
mùa thiếu cỏ…
4.4.2. Kỹ thuật trồng một số cỏ hoà thảo thân bụi
Trong thời gian làm đề tài, tôi đã trực tiếp tham gia trồng và chăm sóc một
số giống cỏ hoà thảo như: Ghinê; cỏ voi, cỏ VA-06... được đem về trồng thử
57
nghiệm trên diện tích đất của trại. Sau đây là kỹ thuật trồng và chăm sóc một số
giống cỏ đó.
* Làm đất
Cày lật sâu và phay nhiều lần cho đất tơi xốp, san phẳng, nhặt sạch cỏ dại.
Bón vôi 1- 1,5 tấn/ha trước khi cày bừa lần hai. Rạch hàng sau khi bừa, hành cách
hàng 50 - 60cm, sâu 20 - 25cm.
* Bón phân
+ Bón lót: Trước khi trồng có thể bón toàn bộ lượng phân lót bằng cách vãi
tung phân trước lần bừa cuối cùng rồi bừa bằng đĩa. Lượng phân bón như sau:
- Phân hữu cơ: 10 - 20 tấn/ha
- Supe lân : 200 - 300 kg/ha
- Kaliclorua : 100 kg/ha.
+ Bón thúc: Bón bằng đạm urê sau mỗi lứa cắt từ 50 - 100 kg/ha, sau mỗi
lần chăn thả 30 kg/ha. Cày rạch hàng, rải phân đều và lấp đất.
+ Bón hàng năm vào đầu xuân:
- Phân hữu cơ: 5 tấn/ha
- Đạm urea : 100 kg/ha
- Supe lân : 200 kg/ha
- Kaliclorua : 100 kg/ha.
Có thể bón khi kết thúc mùa chăn thả (đầu mùa đông) với số lượng lớn
bằng 1/2 của bón đầu xuân.
* Chuẩn bị giống và trồng
+ Đối với cỏ hoà thảo thân đứng nói chung (đại diện là cỏ voi...): Chọn cây
to, mập, khoẻ, bánh tẻ, chưa ra mầm. Hom chặt hai mắt, hai đầu chặt bằng hoặc
vát ống, đầu cách mắt 2 - 3cm (tránh làm dập hom). Có thể bó mỗi bó 100 hom
để vận chuyển dễ dàng.
Cách trồng: Số lượng hom giống 140.000 hom/ha tương ứng 4 - 5 tấn
hom giống.
58
- Trồng theo hàng, hàng cách hàng 70 - 80 cm. Hom đặt cách hai hàng (nếu
đủ giống) nằm song song với nhau và với mặt đất, hoặc trồng một hàng nối tiếp
nhau mắt gối mắt, rồi lấp đất sâu 5 - 6 cm giống như trồng mía.
- Trồng kiểu cắm chếch hom 10 - 15º so với mặt đất: Bón phân lót vào hàng
đã rạch, lấp đất vào rãnh cho bằng mặt. Khi trồng ôm bó hom đi thụt lùi và cắm
chếch hai hom xuống rãnh sao cho mặt đất vẫn phẳng và hom cắm ngập mặt đất.
+ Đối với cỏ hoà thảo thân bụi (đại diện là cỏ P. astratum, Decumbens,
B. Brirantha...)
- Trồng bằng gốc: Cỏ bánh tẻ đánh cả gốc, xén ngọn chỉ để lại từ 20 - 25
cm, chặt bớt rễ, xé ra thành từng khóm, mỗi khóm 5 - 7 dảnh. Trồng bằng dảnh
cần 1,5 - 2,0 tấn giống/ha.
- Trồng bằng hom: Chặt cây thành từng đoạn hom có 3 - 4 mắt, tốt nhất
chọn những cây đã nhú mầm. Mỗi ha cần 2,0 - 2,5 tấn giống. Trồng bằng hom
tỷ lệ sống thấp.
- Trồng bằng hạt: Hạt năm nào gieo năm ấy thì tỷ lệ nảy mầm cao. Gieo
15 - 20 kg hạt/ha nếu gieo thành hàng, nếu gieo vãi cần 25 - 30 kg/ha.
Cách trồng: Gốc cỏ đặt theo kiểu áp tường, lấp đất không quá 10cm, dẫm
chặt gốc, mỗi gốc đặt 5 - 7 dảnh.
- Trồng cỏ để cắt, mật độ hàng cách hàng 50 - 60cm, khóm cách khóm 15
- 20cm.
- Trồng cỏ để chăn thả, mật độ hàng cách hàng 25 - 30 cm, khóm cách
khóm 15 - 20cm.
- Trồng hom thì hom cỏ đặt song song nhau trên rãnh và lấp một lớp đất
mỏng.
- Gieo hạt: Vãi hạt theo hàng rồi lấp một lớp đất mỏng hoặc vãi tung rồi
bừa lấp hạt.
+ Đối với cỏ hoà thảo thân bò (đại diện là cỏ pangola...)
59
- Trồng theo hàng: Đặt thành từng khóm áp tường như trồng khoai lang,
hàng cách hàng 60cm, khóm cách khóm 20 - 25cm, mỗi khóm 5 - 6 dảnh và lấp
đất 2/3 hom. Lượng giống cho 1ha là 1,2 - 1,5 tấn.
- Trồng rải đều trên mặt đất đủ ẩm: Rải giống trên mặt đất đã bừa kỹ.
Dùng tay đặt rãnh . Lượng giống cần thiết là 2 - 2,5 tấn/ha.
- Có thể trồng xen băng hoặc trồng xen dải với cỏ họ đậu như cỏ ba lá, cỏ
Stylo... sẽ cho năng suất và giá trị dinh dưỡng tổng hợp cao hơn trồng thuần.
* Kỹ thuật chăm sóc
+ Đối với cỏ hoà thảo thân đứng: Sau khi trồng từ 3 - 5 ngày nếu khô hạn
thì tưới nước, sau đó 7 - 20 ngày đi kiểm tra và trồng dặm. Sau 20 - 30 ngày thì
xới xáo, diệt cỏ dại và làm cho đất tơi xốp, không vun vào gốc. Sau mỗi lứa cắt,
kết hợp với bón phân, dùng cuốc làm đất theo hàng nhằm cắt bớt rễ và làm đất
tơi xốp. Sau 4 - 5 năm sử dụng, kết hợp bón phân với cày lật đất, cỏ sẽ tái sinh
tốt giống như trồng mới và kéo dài thời gian sử dụng một cách rất kinh tế.
+ Đối với cỏ hoà thảo thân bụi: Sau trồng 1 tháng hoặc sau mỗi lứa cắt
cần xới phá váng, diệt cỏ dại kết hợp bón thúc, lượng phân bón thúc sau khi
trồng hoặc sau mỗi lứa cắt 50 - 60 kg đạm urea/ha. Sau 2 - 3 năm phải cày không
lật đất hoặc dùng cuốc cuốc đất vào đầu xuân, kết hợp bón phân. Có thể bón 5
tấn phân chuồng, 100 kg supe lân, 50 kg kaliclorua/ha vào cuối thu hàng năm.
+ Đối với cỏ hoà thảo thân bò: Đồng cỏ thâm canh để thu cắt, sau khi
trồng một tháng cần bừa phá váng diệt cỏ dại.
Chăm sóc hàng năm:
- Đồng cỏ thu cắt: Một năm cắt cỏ 4 - 5 lần. Từ năm thứ ba trở đi phải
phát dọn và bón phân, vào đầu xuân kết hợp dùng cuốc vừa là làm cỏ vừa là xới
đất tươi xốp. Sau 4 - 5 năm, cỏ có chiều hướng thoái hoá và giảm năng suất, bón
phân hàng năm và cày không lật đất để cải tạo thảm cỏ. Dùng máy nông nghiệp
với lưỡi cày tháo bỏ diệp để cày đất.
60
- Đồng cỏ chăn thả: Diệt cỏ dại 1 - 2 lần trong năm, hàng năm sử dụng 7
- 9 chu kỳ chăn thả. Sau bốn chu kỳ chăn thả dùng máy để cắt cỏ rồi dùng máy
phai đất phai 1-2 lần.
Sau 2 - 3 năm sử dụng, cày không lật đất để cải tạo thảm cỏ, kết hợp với
bón phân đầu xuân. Sau 5 - 6 năm sử dụng có thể cày bừa phục tráng hoặc phá
đi trồng mới hay trồng luân canh để cải tạo đất.
* Thu hoạch và sử dụng
Cỏ sau trồng 50 - 70 ngày thu hoạch lứa đầu sau đó cứ 30 - 50 ngày (vụ thu)
hoặc 50 - 60 ngày (vụ đông xuân) cắt lứa tiếp theo. Với cỏ VA06 hàng năm có
thể cắt 6 - 7 lứa. Nên cắt cách mặt đất 15cm, không cắt quá thấp để tránh ảnh
hưởng xấu đến khả năng tái sinh và tránh cắt vào ngày mưa vì dễ gây sâu bệnh.
Nếu thâm canh tốt sản lượng sẽ cao gấp 2 - 3 lần thậm chí lên tới 4 lần. Cỏ cho
ăn tươi không cần chế biến và có thể hỗn hợp với các cỏ khác. Cỏ có thể cắt để
ủ xanh hoặc phơi khô làm thức ăn dự trữ cho gia súc.
Giá trị dinh dưỡng 1kg hoà thảo thân bò tươi tương đương 0,21 đơn vị thức
ăn (547 Kcal ME) và có 11g protit tiêu hoá.
* Để giống và nhân giống
Cỏ chủ yếu nhân giống vô tính, do đó phải chăm sóc giữ giống tốt, không để lẫn
cỏ dại và trồng thưa hơn so với phần không phải nhân giống. Ruộng giống cần
tạo điều kiện kiện sinh trưởng tối ưu. Tỷ lệ giống bằng 2% so với trồng mới, một
năm thu hoạch trung bình hai lần giống đảm bảo tiêu chuẩn
61
Phần 5
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
5.1 Kết luận
- Trang trại vừa là một trung tâm nghiên cứu và phát triển nhiều loài
động-thực vật bản địa vừa là một trung tâm được xây dựng với mục đích sản
xuất, kinh doanh. Trang trại được chia làm 3 khu vực sản xuất chính: 1 khu chăn
nuôi lợn rừng, 1 khu trồng các dòng bưởi đặc sản và 1 khu chăn nuôi ngựa bạch
giống và hươu. Bên cạnh đó là một bãi cỏ VA06 với diện tích khoảng 1,5 ha
nhằm cung cấp cỏ cho ngựa. Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi ở đây là giống
cỏ lai VA06 nên đề tài nghiên cứu có quan hệ rất mật thiết với khu chăn nuôi
ngựa này.
- Cỏ VA06 là một giống cỏ cho năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng
sinh trưởng phát triển nhanh, thời gian thu cắt ngắn. Chiều cao trung bình của
cỏ đạt từ 2-3m, số lá trên thân có thể đạt từ 15-16 lá thậm chí có thể lên đến 18-
19 lá khi được chăm sóc tốt. Số nhánh trung bình có thể đạt từ 25-30
nhánh/năm.Qua đó, cỏ VA06 cho năng suất chất xanh rất cao tuy nhiên khả năng
cho năng suất của cỏ VA06 qua các thời vụ trong năm cũng có sự chênh lêch
khá lớn.
- Một số biện pháp chủ yếu để giải quyết tình trạng thiếu cỏ: Tăng thêm
diện tích trồng cỏ; sau mỗi lần cắt (hoặc chăn thả) tiến hành bón phân, tưới nước
cho cỏ; ủ chua, ủ xanh cỏ ở các vụ thừa cỏ để sử dụng cho mùa đông; mua thêm
cỏ hoặc tăng thêm lượng thức ăn tinh vào mùa thiếu cỏ….
5.2. Kiến nghị
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên cần tiếp tục nghiên cứu khả năng cho
năng suất của cỏ một cách đầy đủ ở từng thời vụ, từng tháng trong năm nhằm
tăng thêm độ tin cậy của đề tài.
Các nhà chăn nuôi cần nắm bắt được sự chênh lệch về năng suất của cỏ
qua từng thời vụ để có các biện pháp hợp lý khắc phục tình trạng thiếu cỏ ở từng
thời điểm trong năm.
62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I- TIẾNG VIỆT
1. Đoàn ẩn, Võ Văn Trị (1976), Cây trồng và sử dụng một số giống cỏ năng suất
cao, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 6 – 9.
2. Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1973), Phân loại thực vật, Nxb Nông nghiệp,
Hà Nội, tr.17,85.
3. Nguyễn Ngọc Hà và CS (1998 – 1999), Tính năng sản xuất và một số biện pháp
kỹ thuật tăng năng suất chất xanh và hạt cỏ, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
4. Từ Quang Hiển, Nguyễn Khánh Quắc, Trần Trang Nhung (2002), Đồng cỏ
và cây thức ăn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 8 – 38.
5. Điền Văn Hưng (1974), Cây thức ăn gia súc miền Bắc Việt Nam, Nxb Nông
Thôn, tr. 5 – 46.
6. Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời (1981), Nghiên cứu về cây thức ăn gia
súc Việt Nam, Nxb Khoa học & kỹ thuật, tập 2,tr: 6-12.
7. Quang Ngọ, Sinh Tặng (1976), Tập đoàn cây thức ăn gia súc miền núi và
trung du miền bắc Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr: 42-61.
8. Nguyễn Khánh Quắc, Từ Quang Hiển, Trần Trang Nhung ( 1995 ), Giáo trình
đồng cỏ và cây thức ăn gia súc, tài liệu nội bộ của trường Đại học Nông lâm
Thái Nguyên.
9. Nguyễn Văn Thiện (2000), Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb
Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 105 – 148.
10. Trịnh Văn Thịnh, Hoàng Phương, Nguyễn An Tường, Borget. M. Boudet;
Coopeptp (1974), Đồng cỏ và cây thức ăn gia súc nhiệt đới. Nxb Nông
nghiệp Hà Nội, tr: 55-77.
11. Nguyễn Văn Thưởng, I. S. Sumilin (1992), Sổ tay thành phần dinh dưỡng
thức ăn gia súc Việt Nam, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr: 10.
63
12. Nguyễn Xuân Trường, Lê Văn Nghĩa, Lê Quốc Phong, Nguyễn Đăng Nghĩa
(2000), Sổ tay sử dụng phân bón, Nxb Nông nghiệp TPHCM. Tr: 60-93.
13. Viên Chăn Nuôi (1977), Nội dung và phương pháp nghiên cứu trồng cỏ, tài
liệu nội bộ, tr: 15-22.
II- TIẾNG ANH
14. Hamphray (1980), Hướng dẫn thâm canh đồng cỏ nhiệt đới và á nhiệt đới,
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 10 – 25.
15. Loch, D. S (1978), Basilisk signal grass, a productive pasture grass for the
humid tropics, Queensl, Agric. J, P 104, 402-406.
III- CÁC Website
16. http://www.Cucchannuoi.gov.vn/tin-chan-nuoi-trong-nuoc/ky-thuat-chan-
nuoi-ngua.html
17. http://www.Vienchannuoi.vnn.vn/mot-so-giong-co-trong-chan-nuoi-dai-
gia-suc.html
64
Một số hình ảnh về cỏ VA06
Hình: 1 Cỏ VA06 giai đoạn 50 ngày tuổi ở thời vụ 1 (vụ đông)
Hình : 2 Cỏ VA06 giai đoạn 50 ngày tuổi ở thời vụ 2 (vụ xuân-hè)
65
Hình: 3 Cỏ VA06 giai đoạn 50 ngày tuổi ở thời vụ 3 (vụ hè)
Hình: 4 Cỏ VA06 giai đoạn 50 ngày tuổi ở vụ hè

