NGHIÊN CỨU KHUNG NĂNG LỰC VỚI NHÀ QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
TRONG MÔ HÌNH HRBP
PGS.TS. Mai Thanh Lan1
Tóm tắt: Trong thực tiễn gần đây, để đáp ứng yêu cầu của chiến lược kinh doanh trong bối cảnh mới nhiều
tổ chức/doanh nghiệp phải có những thay đổi trong mô hình cấu trúc tổ chức bộ phận quản trị nhân lực.
Một mô hình tổ chức quản trị nhân lực phù hợp với xu thế có thể được các nhà quản trị lựa chọn là mô hình
HRBP - mô hình nhân sự đối tác kinh doanh. Tuy nhiên để áp dụng được mô hình này, các nhà quản trị nhân
lực cần phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định về năng lực. Trong phạm vi của bài viết, tác giả đề cập
đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về khung năng lực của nhà quản trị nhân lực trong mô hình HRBP
(nhân sự đối tác kinh doanh). Dựa theo tiếp cận khung năng lực, từ cơ sở lý luận, tác giả tiến hành khảo sát
nhằm xác định những năng lực cần thiết với nhà quản trị nhân lực khi doanh nghiệp xây dựng và triển khai
mô hình HRBP. Trên cơ sở kết quả khảo sát, tác giả đề xuất khung năng lực cho các nhà quản trị nhân lực
tại các doanh nghiệp áp dụng mô hình HRBP và đề xuất một số khuyến nghị nhằm định hướng sử dụng mô
hình HRBP trong tổ chức/doanh nghiệp ở giai đoạn tiếp theo.
Từ khoá: Khung năng lực; Mô hình HRBP; Mô hình khung năng lực
Abstract: In practical perspective, in order to meet the new requirements of the business strategy in the
new context, many organizations/enterprises have to change the organizational structure of human
resources department. A Human Resource Business Partner can be seen as the trend in the high requirement
of business context. However, to implement this model, human resource managers need to meet certain
competence requirements. In this article, the author refers to theoretical and practical issues about the
competence framework of human resources managers in HRBP model. Author collects information from the
experts and human resource managers to propose competence framework for human resource managers
in the organizations/enterprises which apply the HRBP model and suggestions to improve effectively HRBP
in the organizations/enterprises.
Keywords: Competence; HRBP model; Competence model.
ĐẶT VẤN Đ
Nguồn lực con người mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp khi được phát huy hiệu quả.
Quản trị nhân lực có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói
chung với hoạt động quản trị kinh doanh nói riêng, giúp khai thác tối đa tiềm năng con người
nhằm đạt hiệu quả, năng suất cao hơn trong quá trình làm việc, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh
về đội ngũ nhân lực, đóng vai trò thiết yếu trong triển khai thực thi chiến lược kinh doanh, góp
phần tạo ra văn hóa, bầu không khí làm việc lành mạnh cho doanh nghiệp, giúp thúc đẩy sự thay đổi,
1 Email:mailan.tmu@gmail.com, Khoa Quản trị nhân lực, Trường Đại học Thương Mại..
30 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
đổi mới và sáng tạo trong doanh nghiệp. Để quản trị nhân lực thực hiện được các vai trò này, doanh
nghiệp rất cần một mô hình quản trị nhân lực chuyên trách phù hợp và đáp ứng xu thế hiện đại.
Trong các mô hình quản trị nhân lực, mô hình HRBP là mô hình mới, hiện đại giúp phát huy
hiệu quả nguồn nhân lực mang lại lợi thế cạnh tranh trong tổ chức. Để hình HRBP vận hành
hoạt động hiệu quả đòi hỏi nhà quản trị nhân lực cần có những năng lực nhất định. Trong nghiên
cứu này, với tiếp cận khung năng lực, tác giả xác định những năng lực cần thiết với nhà quản trị
nhân lực trong các tổ chức/doanh nghiệp sử dụng và định hướng sử dụng mô hình HRBP trong tổ
chức/doanh nghiệp ở giai đoạn tiếp theo.
1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Năng lực và khung năng lực
Nghiên cứu hình khung năng lực trong hoạt động quản trị đã được đề cập trong nhiều
nghiên cứu từ những năm 1990 khi nghiên cứu về khung năng lực của Boyatzis (1982) một trong
những người tiên phong đề cập tới thuật ngữ “năng lực”. Tác giả định nghĩa năng lực những đặc
trưng cá nhân cơ bản của người lao động gồm động cơ, tính cách, kỹ năng, khả năng tự nhìn nhận
bản thân, vai trò hội kiến thức của người lao động - những yếu tố tạo nên người lao động
xuất sắc trong công việc.
Woodruffe (1993) cho rằng năng lực tập hợp của các thức hành vi, những hành vi
những người đảm nhiệm một nhiệm vụ, chức danh cần phải có để có thể thực hiện được nhiệm vụ
chức năng của công việc đó. Thuật ngữ về năng lực được coi như một trong những thuật ngữ
có độ bao phủ rộng và có ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp tới mức độ thực hiện công việc.
Khái niệm này cho thấy năng lực của người lao động được xem xét cụ thể dưới góc độ những hành
vi được bộc lộ trong công việc của người lao động. Hơn nữa, năng lực còn được xem xét như một
thành phần không thể thiếu để người lao động thể thực hiện công việc của mình mang lại kết
quả trong công việc của họ. Như vậy, người lao động chỉ thể thực hiện tốt những nhiệm vụ được
tổ chức giao phó khi họ năng lực thực hiện công việc đó họ cũng cần phải mong muốn
để thực hiện công việc đó. Ngoài ra, dựa trên nghiên cứu của R. E. Boyatzis (2008), tác giả chỉ ra
một năng lực một khả năng nhất định của người lao động. Đây tập hợp của một chuỗi hành
động có liên quan đến nhau dựa trên ý định, mục đích của người thực hiện hành động đó. Những
hành động này biểu hiện cụ thể của một mục đích nhất định, được bộc lộ trong tình huống, hoàn
cảnh nhất định.
Cấu trúc phổ biến nhất thường được sử dụng của khung năng lực thể hiện ở hình 1.
Năng lực
cá nhân
Kiến thức
K năng
Thái độ/Phm chất
Hình 1. Cấu trúc khung năng lực theo mô hình ASK
Nguồn: (Bass & Stogdill, 1990)
31
PHẦN 1. QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP
1.2. Mô hình HRBP1
Mô hình HRBP (Human Resource Business Partner) do Giáo sư Dave Ulrich đề cập đến trong
cuốn sách Human resource champion từ năm 1997. Theo ông, ngày nay nhà quản trị nhân lực đã
nâng tầm vị trí chiến lược của họ khỏi vai trò truyền thống, trở thành đối tác chiến lược của tổ chức/
doanh nghiệp. Họ giúp tổ chức/doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh chiến lược thông qua:
(i) Kết nối xây dựng chính sách nhân sự đồng hành với chiến lược kinh doanh của tổ chức/
doanh nghiệp;
(ii) Soát xét và tái cấu trúc cơ cấu tổ chức, cấu nhân sự để tối ưu hóa hiệu suất hoạt động
của tổ chức/doanh nghiệp;
(iii) Cầu nối giữa tổ chức/doanh nghiệp và người lao động, hỗ trợ sự phát triển song hành và
gắn kết giữa tổ chức/doanh nghiệp và người lao động. Từ “Partner” có thể hiểu theo mối quan hệ
khăng khít cộng hưởng giữa nhân sự quy trình hoạch định, thực thi kiểm soát chiến lược
trong công ty.
HR Business Partner thể hiểu theo nghĩa: bộ phận chuyên trách về quản trị nhân lực cần
phải đứng cao hẳn lên vượt tầm đứng bên cạnh bộ phận hoạch định chiến lược để thể nhìn
từng chức năng trong công ty và mối liên hệ giữa các chức năng với nhau trong tổng thể.
HRBP được chia thành nhiều cấp độ khác nhau, từ mức chiến lược, chiến thuật đến tác nghiệp
để kết nối, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực của tổ chức bên cạnh các nhà quản chức năng
bộ phận khác.
Mô hình HRBP có 4 chức năng chính thể hiện trong bảng 1.
Bảng 1. Các chức năng chính trong mô hình HRBP
Các chức năng chính
theo mô hình HRBP
Nhiệm vụ
Đối tác chiến lược
(Stategic partner)
- Điều chỉnh chiến lược nhân sự đáp ứng nhu cầu thay đổi;
- Phát triển hệ thống lãnh đạo kế thừa;
- Nhận diện những thước đo nhân sự quan trọng;
- Nhận diện chiến lược kinh doanh mới;
- Nhận diện những vấn đề về con người trước khi ảnh hưởng đến DN
- Ưu tiên những nhu cầu liên quan đến nhân sự;
- Tái cấu trúc theo các mục tiêu các chiến lược;
- Thấu hiểu nhu cầu của nhân tài đối với doanh nghiệp.
Quản lý hoạt động
(Operations Manager)
- Đánh giá thái độ nhân viên;
- Truyền đạt văn hóa tổ chức đến nhân viên;
- Truyền đạt chính sách và quy trình đến nhân viên;
- Đảm bảo các chương trình nhân sự phù hợp với văn hóa DN
- Giữ cho nhân viên cập nhật các sáng kiến của HR;
- Theo dõi xu hướng hành xử của nhân viên
1 Mai Thanh Lan, Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016), Giáo trình Quản trị nhân lực căn bản, NXB Thống kê
32 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Phản ứng khẩn
cấp (Emergency
Responder)
- Chuẩn bị các tình huống khác nhau;
- Phản ứng nhanh chóng với các khiếu nại/các câu hỏi của các cấp
quản lý;
- Đáp ứng nhu cầu của cấp quản lý và nhân viên.
Người hòa giải
(Employee Mediator)
- Quản lý vấn đề cạnh tranh cá nhân trong tổ chức;
- Giải quyết mâu thuẫn;
- Ứng phó với những nhu cầu thay đổi của tổ chức;
- Giải quyết những vấn đề chính trị nội bộ trong việc triển khai các
kế hoạch kinh doanh
Nguồn: Lâm Phương Nga (2013)
1.3. Khung năng lực với nhà quản trị nhân lực trong mô hình HRBP
Khi mô hình khung năng lực được đề cập trong lĩnh vực quản trị nhân lực, sự chú ý của các
nhà nghiên cứu hướng tới mối quan hệ giữa năng lực thành tích của nhân người lao động
(Ulrich et al., 1989; Baill, 1999; Brewsteret al., 2000, Caldwell, R., (2007).
Ulrich et al. (1995) đã tiên phong đề xuất mô hình năng lực trong lĩnh vực quản trị nhân lực
được gọi với tên gọi hình Michigan (Michigan model). hình này lần đầu được đề xuất
với mục tiêu xây dựng những năng lực tổng thể với nghề nhân sự, sau đó, qua quá trình áp dụng
đã được cải thiện và hoàn chỉnh với nhiều phiên bản khác nhau. Trong mô hình đầu tiên, 3 nhóm
năng lực quyết định với những nhà quản trị nhân lực ảnh hưởng tới kết quả của những nhà
quản trị nhân lực là: kiến thức kinh doanh, năng lực chuyên môn (nhân sự) và quản trị sự thay đổi
(Caldwell, R.,2007).
Kiến thức kinh doanh: Trong mô hình được Ulrich đề xuất tác giả cho rằng nhà quản trị nhân
lực cần những kiến thức về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, nhà quản trị nhân lực thể mang
lại giá trị cho tổ chức khi họ hiểu được cách vận hành hoạt động tác nghiệp của tổ chức để điều
chỉnh các hoạt động quản trị nhân lực phù hợp với yêu cầu, quy định của tổ chức. Sự hiểu biết này
gồm có kiến thức về tài chính, chiến lược, công nghệ và năng lực cốt lõi của tổ chức.
Năng lực chuyên môn với nhà quản trị nhân lực trong tổ chức liên quan tới các hoạt động quản
trị nhân lực gồm tuyển dụng, đánh giá, đào tạo, khen thưởng, thiết kế tổ chức và giao tiếp trong tổ
chức. Năng lực chuyên môn của nhà quản trị nhân lực căn cứ để nhà quản trị nhân lực chuyển
giao các hoạt động chuyên môn quản trị nhân lực tới từng đơn vị trong tổ chức.
Quản trị sự thay đổi: Những yếu tố bên ngoài tổ chức với sự thay đổi nhanh chóng như xu thế
toàn cầu hóa, thông tin chuyển hóa, mong đợi/yêu cầu của khách hàng, thay đổi của khoa học công
nghệ… Đương đầu với những thay đổi trong tổ chức và quản trị sự thay đổi trong tổ chức là yêu
cầu quan trọng với nhà quản trị nhân lực để dẫn dắt quản trị tốt sự thay đổi trong tổ chức qua
đó nâng cao năng lực cạnh tranh của tổ chức.
Mặc hình năng lực với nhà quản trị nhân lực được nghiên cứu khẳng định ảnh
hưởng khác nhau theo thời gian nhưng hình năng lực vẫn được xem như công cụ quan trọng
để gắn kết với thành tích của những nhà quản trị nhân lực trong tổ chức. Trong hình mới của
Ulrich về vai trò đối tác chiến lược của nhân sự (Human resource business partner) với bốn chức
33
PHẦN 1. QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP
năng chính của quản trị nhân lực trong tổ chức các hoạt động tác nghiệp gồm có: (i) Đối tác
chiến lược (Strategic partner); (ii) Quản hoạt động (Operations Manager); (iii) Phản ứng khẩn
cấp (Emergency Responder); (iv) Người hòa giải (Employee Mediator).
Nghiên cứu của Corporate Leadership Coulcil đề cập tới những năng lực cần có với nhà quản
trị nhân lực theo mô hình Quản trị nhân lực - đối tác kinh doanh được thể hiện trong bảng 2.
Bảng 2. Những năng lực cần có với nhà quản trị nhân lực theo mô hình HRBP
Các chức năng chính theo mô hình HRBP Năng lực cần có
Đối tác chiến lược (Stategic partner) Sự nhạy bén trong kinh doanh
Kiến thức về kinh doanh
Phân tích và sử dụng dữ liệu
Tư duy đổi mới
Kỹ năng lãnh đạo
Quản lý hoạt động (Operations Manager) Kiến thức về thị trường lao động
Sự nhạy bén trong kinh doanh
Kiến thức về kinh doanh
Kỹ năng ghi chép
Kỹ năng tư duy đổi mới
Kỹ năng thuyết trình
Phản ứng khẩn cấp (Emergency Responder) Sự nhạy bén trong kinh doanh
Kiến thức về kinh doanh
Kỹ năng ghi chép
Giải quyết mâu thuẫn
Tư duy đổi mới
Kỹ năng hòa giải
Người hòa giải (Employee Mediator) Kiến thức về thị trường lao động
Sự nhạy bén trong kinh doanh
Giải quyết mâu thuẫn
Phân tích và sử dụng dữ liệu
Tư duy đổi mới
Nguồn: Corporate Leadership Coulcil
Nghiên cứu của Caldwell, R. (2010) đề cập tới những năng lực cần có của nhà quản trị nhân
lực trong mô hình HRBP gồm có ba nhóm chính.
Thứ nhất, những kiến thức cần có gồm: (1) Am hiểu chuyên môn, nghiệp vụ; (2) Am hiểu tổ
chức; (3) Am hiểu hoạt động kinh doanh của tổ chức; (4) Am hiểu thị trường; (5) Kiến thức phát
triển tổ chức.
Thứ hai, những kỹ năng cần có gồm: (1) Kỹ năng gây ảnh hưởng; (2) Giao tiếp; (3) Đào tạo
và hướng dẫn nhân viên; (4) Phân tích dữ liệu; (5) Tư duy giải quyết vấn đề.
Thứ ba, những yêu cầu về tính cách (thái độ trong công việc): sự độc lập, sự kiên nhẫn, khả
năng cân bằng với cuộc sống, khả năng thích nghi với công việc, tuân thủ kỷ luật.