LUẬN VĂN:
Nghiên cứu lý luận của Lê nin về
CNTB nhà nước trong thời kỳ quá độ
lên CNXH
Mở đu
Lịch sử li người đã và đang trải qua m hình thái kinh tế hội đó là: Cộng sản
nguyên thuỷ, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Chủ nghĩa bản (CNTB), Chủ nghĩa xã hội
(CNXH). Mỗi một hình thái kinh tế hội tồn tại trên một phương thức sản xuất đặc trưng
riêng, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Học thuyết kinh tế
chính trị của Mác - Lê Nin khẳng định: nếu đúng theo nguyên về hình thái kinh tế xã hội thì
tất cả các quốc gia muốn phát triển từ phương thức sản xuất này sang phương thức sản xuất
khác cao hơn thì tất yếu phải qua một bước trung gian Mác gọi đó là thời kỳ quá độ. Trong
thời kỳ quá độ lên CNXH tất yếu phải tri qua những bước trung gian để tạo lập sở vật chất
kỹ thuật. Trong những bước trung gian đó chủ nghĩa tư bản nhà nước (CNTBNN) được coi như
một “chiếc cầu nhỏ” bắc giữa xã hội cũ tới xã hội chủ nghĩa (XHCN) “chủ nghĩa bản độc
quyền nhàớc là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho CNXH, là phòng chờ đi vào CNXH, là
nấc thang lịch sgiữa với nấc thang được gọi là CNXH thì không có một nấc thang nào
ở giữa cả”.
Vit Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, đy dựng tạo lp cơ sở vật chất kỹ
thuật thì chúng ta phải những giải pháp để khai thác trit để vai trò của mọi thành phần kinh
tế tồn tại trong thời kỳ qđộ, trong đó thành phần kinh tế TBNN. vậy, việc nghiên cứu
luận của nin về CNTB nnước trong thời kỳ q độ lên CNXH, đ vận dụng vào
việc pt triển kinh tế đất nước là vô cùng hợp lý.
Nội dung
I. luận của Lê nin về CNTB nhà nước trong thời k quá đlên CNXH thực
tiễn CNTBnn thời Lê nin.
1. Lý luận về sự hình thành và phát triển của CNTB nhà nước của Lê nin.
1.1. Khái niệm về CNTB nhà nước.
Dưới chế độ TBCN, TBNN được thực hiện bằng cách chuyển các nghiệp biệt o
trong tay nhà nước sản, xây dựng các xí nghiệp mới dựa vào ngân sách nớc, nắm cổ
phiếu khống chế công ty cổ phần... CNTB nhà nước trong điều kiện chuyên chính tư sản là
hình thức biến dạng của shữu TBCN. Mặc đó quyền sở hữu của nhà nước nhưng hình
thức shữu này không làm thay đổi bản chất chế độ TBCN. các nước đế quốc, CNTBNN
mang tính chất CNTB độc quyền nhà nước.
CNTB độc quyền nhà nước là hình thức thống trị của tư bản độc quyền dựa trên cơ sở tích
tụ và tập trung tư bản cao độ, biểu hiện của trình độ sản xuấthội htrên thực tế cao độ,
hình thức mới của shữu TBCN. Dưới chế đtư bản, việc hội hoá sản xuất đã tiến một
bước dài với mức độ cao so với các hình thái xã hội trước đó và được gắn liền với sphá t triển
của sự phân công xã hội, với sự ch tụ tập trung tư bản. Các mác đã chra quy luật chung
của tích luỹ bản rằng: stập trung tư liệu sản xuất và xã hội hoá lao động đã đạt mức không
còn phù hợp với i vỏ TBCN của nữa. i vTBCN ấy phải nổ tung”. Còn nin thì
vạch rõ, CNTB độc quyền nhà nước là tiền đề vật chất đy đủ và là ngưỡng cửa của CNXH.
Ngày nay, CNTB nhà ớc ới chế đbản đang mang hình thức CNTB độc quyền
nhà nước. Lê nin đã khẳng định CNTB độc quyn nhà nước như sau: “CNTB nhà nước, theo sự
giải thích của tn bộ sách báo kinh tế CNTBới chế độ bản, khi chính quyền nhà nước
trực tiếp khống chế những nghip TBCN , sự chuẩn bị đầy đủ nhất cho sra đời của
CNXH
CNTB nhà
nước các ớc đang phát triển dưới chính quyền không thuộc về giai cấp công nhân và nông
dân. c ớc y, CNTBNN tồn tại dưới rất nhiều hình thức: liên doanh với tư bản nước
ngoài, đặc khu kinh tế, khu chế xuất, khu đầu kỹ thuật, nắm cphiếu của một số công ty cổ
phần... Trong các hình thức y thì việc y dựng các xí nghiệp quốc doanh TBCN vai trò
đặc bit quan trọng. Dựa vào thực tế một số nước, có ý kiến cho rằng, mặcvẫn thứ CNTB
nằm trong quan hệ TBCN nhưng đó một kiểu CNTB nhà nước mới, là thứ CNTB do nhà
nước trực tiếp khống chế. Một mt, nhà ớc các ớc đang phát triển vẫn chưa phải nhà
nước do giai cấp sản lãnh đạo nhưng cũng không thuộc về giai cấp sản độc quyền, mà
thuộc về giai cấp tư sản dân tộc. Vì thế, không thể tránh khỏi những tiêu cực vốncủa bất kỳ
nhà nước sản nào. Nhưng mặt khác, kiểu CNTBNN y vai trò tích cực trong việc phát
triển kỹ thuật cải tạo cơ cấu kinh tế, trong việc củng cố nền độc lập về kinh tế, chống lại thế
lực tư bản nước ngoài, đẩy mạnh sự phát triển tự chủ vì nền độc lp của những ớc đó.
CNTBNN trong điều kiện chuyên chính sản một kiểu CNTBNN chưa hề trong
lịch s. Chính bản chất mới của nhà nước này đã làm cho CNTBNN mang một nội dung mới
một vai trò mi.
Từ sự phân tích sơ lược về lịch shình thành các kiểu CNTBNN đã từng tồn tại trong
thực tế đến nay, thể rút ra một khái niệm chung vCNTBNN cho chúng tồn ti trong
điêù kiện lịch sử khác nhau như thế nào.
Theo quan niệm của Lê nin thì:
CNTBNN CNTB do nhà nước kiểm soát điều tiết sự phát triển, vấn đkhác nhau ch
chỗ kiểm st điều tiết nhằm mục đích gì, lợi cho ai, trong giới hạn nào, bằng
phương pháp gì và khả năng kiểm soát, điều tiết đạt mức độ nào.
CNTBNN chính quyền nhà nước trực tiếp khống chế những xí nghiệp TBCN. Sự khống
chế trực tiếp ấy đạt tới mức độ nào trong thực tế sẽ quyết định trình độ hình thức khác
nhau của CNTBNN.
Toàn bộ vấn đề phải hiểu với điều kiện o tphải phát triển CNTB nớc là
của ai. Cũng từ đây hiểu được tính chất đặc biệt”, không thông thường của
CNTBNN trong điều kiện chính quyền nằm trong tay nhân dân dưới slãnh đạo của Đảng
cộng sản.
1.2. CNTBNN trong hệ thống chính sách kinh tế mới của nin.
1.2.1. Chính sách cộng sản thời chiến stất yếu phải chuyển sang chính sách kinh tế
mới (NEP).
Khi cách mạng Tháng Mười vừa thành công thì chính quyền viết phải đương đầu với
cuộc nội chiến và cuộc can thiệp trang của cả chủ nghĩa đế quốc thế giới. Đứng trước nguy
một mất một còn, chính quyền viết tìm mọi cách để tập trung mọi lực lượng nhằm đánh
bại những lựcợng thù địch bên trong bên ngoài. Chính sách “Cộng sản thời chiến” ra đời
trong hoàn cảnh y. Đó chính sách kinh tế của nhà nước viết nhằm huy động mọi tài
nguyên trong nước cho nhu cu của tiền tuyến trong điều kiện nền kinh tế bị tàn phá sau cuộc
chiến tranh thế giới thứ nhất.
Nội dung cơ bản của chính sách “Cộng sản thời chiến”:
Trưng thu lương thực thừa của nhân dân
Xoá bỏ quan hệ hàng hoá - tiền t, thực hiện chế độ cung cấp hiện vật cho quân đội bộ
máy nhà nước.
Thi hành chế đ nghĩa vụ lao động phổ biến đối với tất cả mọi người có năng lc lao động.
Chính sách cộng sản thời chiến đã đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thắng lợi cho
cuộc nội chiến. Nhưng sau khi đập tan bọn vũ trang can thiệp kết thúc nội chiến, tình hình
kinh tế, chính trị, hội nước Nga rt bi đát. Đất ớc lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện
trầm trọng. Đất nước viết cần những biện pháp mới, chiến lược mới đ khôi phục
phát triển vì chính sách “Cộng sản thời chiến” không còn p hợp. Thực tế cho thấy không thể
thực hiện ngay CNXH cần phải lùi về CNTBNN, từ b biện pháp tấn công chính diện
bắt đầu một cuộc bao vây lâu dài. S chuyển đổi y được đánh dấu bằng chính sách kinh tế
mới”.
1.2.2. CNTBNN trong hệ thống chính sách kinh tế mới của Lê nin