ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG QUỐC HUY

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN MIỀN

NÚI TẠI XÃ XUÂN NỘI, HUYỆN TRÙNG KHÁNH,

TỈNH CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Phát triển nông thôn

Khoa : Kinh tế và PTNT

Khóa học : 2016 - 2020

THÁI NGUYÊN - 2020

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG QUỐC HUY

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN MIỀN

NÚI TẠI XÃ XUÂN NỘI, HUYỆN TRÙNG KHÁNH,

TỈNH CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Phát triển nông thôn

Lớp : K48 - PTNT

Khoa : Kinh tế và PTNT

Khóa học : 2016 - 2020

GV hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Hiền Thương

THÁI NGUYÊN - 2020

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận

này là trung thực và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào.

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận

này đã được cảm ơn và các thông tin được trích dẫn trong khóa luận này đã

được ghi rõ nguồn gốc. Đồng thời tôi xin cam đoan rằng trong quá trình thực

hiện đề tài này tại địa phương tôi luôn chấp hành đúng mọi quy định của địa

phương nơi thực hiện đề tài.

Sinh viên

Hoàng Quốc Huy

ii

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại khoa Kinh tế và Phát triển nông

thôn - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự giúp đỡ của các thầy

giáo, cô giáo và bạn bè, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài:

“Nghiên cứu thực trạng sinh kế của người dân miền núi tại xã Xuân

Nội”. Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin được cảm ơn tới cô giáo

ThS. Nguyễn Thị Hiền Thương, là người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình

giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Đồng thời

tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế

và Phát triển Nông thôn đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.

Tôi xin chân thành cảm ơn các cô, chú, anh, chị trong ban lãnh đạo

UBND xã Xuân Nội, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, đã tạo điều kiện

thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tại địa phương.

Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình hoàn thành khóa luận

nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót, nên tôi rất mong nhận được sự

đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông

thôn để đề tài này được hoàn thiện hơn.

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 5 tháng 10 năm 2020

Sinh viên

Hoàng Quốc Huy

iii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Chọn mẫu nhóm hộ điều tra tại xã Xuân Nội ................................. 21

Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Xuân Nội ....................................... 25

Bảng 4.2: Tình hình sản xuất một số cây trồng chính .................................... 27

của xã Xuân Nội năm 2019 ............................................................................. 27

Bảng 4.3: Thống kê vật nuôi chính của xã Xuân Nội giai đoạn 2017-2019 ... 27

Bảng 4.5: Các thông tin cơ bản về chủ hộ ...................................................... 34

Bảng 4.6. Mức độ tham gia vào các tổ chức đoàn thể, xã hội của các nhóm hộ

điều tra năm 2019 ............................................................................ 36

Bảng 4.7: Tổng diện tích đất đai và đất canh tác theo xóm và nhóm hộ ........ 37

Bảng 4.8: Một số tài sản của hộ ...................................................................... 39

Bảng 4.9: Hiện trạng nhà ở của các hộ nghiên cứu ........................................ 40

Bảng 4.10: Vốn vay chính của người dân ....................................................... 41

Bảng 4.11: Thu nhập trung bình từ nông nghiệp, phi nông nghiệp của các

nhóm hộ tại xã Xuân Nội ................................................................ 42

Bảng 4.12: Số hộ trồng và bình quân diện tích trồng từ các cây trồng chủ yếu

tại xã Xuân Nội ............................................................................... 44

Bảng 4.13: Tổng thu nhập từ các cây trồng chủ yếu tại xã Xuân Nội theo

nhóm hộ........................................................................................... 45

Bảng 4.14: Số lượng vật nuôi chính theo phân loại kinh tế hộ của xã Xuân Nội .. 46

Bảng 4.15: Tổng thu nhập về chăn nuôi theo nhóm hộ .................................. 47

Bảng 4.16. Tổng thu nhập từ phi nông nghiệp nhóm hộ ................................ 48

Bảng 4.17: Khó khăn trong sinh kế của các nhóm hộ .................................... 49

Bảng 4.18: Định hướng sinh kế cho các nhóm hộ trong 3 năm tiếp theo ....... 51

iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT Kí hiệu viết tắt Nghĩa dầy đủ

1 Bộ phát triển Quốc tế

2 DFID GTNT Giao thông nông thôn

3 NTM Nông thôn mới

4 PTNT Phát triển nông thôn

5 Ủy ban mặt trận tổ quốc UB MTTQ

6 UBND Ủy ban nhân dân

7 XHCN Xã hội chủ nghĩa

v

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i

LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii

DANH MỤC BẢNG ....................................................................................... iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT......................................................................... iv

MỤC LỤC ........................................................................................................ v

Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ ..................................................................................... 1

1.1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1

1.2. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................... 2

1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 3

1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học ...................................... 3

1.3.2. Ý nghĩa lí luận ......................................................................................... 3

1.3.3. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 3

Phần 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ................................................ 4

2.1. Cơ sở lí luận khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu ............................................. 4

2.1.1. Các khái niệm liên quan .......................................................................... 4

2.1.2. Các lí thuyết áp dụng............................................................................... 8

2.1.3. Thu nhập, hộ và kinh tế hộ .................................................................... 11

2.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 15

2.2.1. Tình hình phát triển sinh kế hộ nông dân ở các nước trên thế giới ...... 15

2.2.2. Tình hình nghiên cứu hoạt động sinh kế của Việt Nam ....................... 17

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .. 19

3.1. Đối tượng, phạm vi, địa điểm và thời gian nghiên cứu ........................... 19

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 19

3.1.2. Khách thể nghiên cứu ............................................................................ 19

3.1.3. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu ............................................................ 19

vi

3.2. Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu ............................................................. 19

3.2.1. Giả thuyết nghiên cứu ........................................................................... 19

3.2.2. Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................... 20

3.2.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 20

3.3. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 20

3.3.1. Phương pháp luận .................................................................................. 20

3.3.2. Phương pháp điều tra chọn mẫu ............................................................ 21

3.3.3. Phương pháp phân tích xử lý số liệu ..................................................... 22

3.4. Hệ thống các chỉ số .................................................................................. 22

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .............................. 24

4.1. Đặc điểm địa bàn xã Xuân Nội – huyện Trùng Khánh ............................ 24

4.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 24

4.1.2. Điều kiện Kinh tế – Xã hội ................................................................... 26

4.1.3. Văn hóa - xã hội .................................................................................... 31

4.2. Nguồn lực sinh kế của người dân tại xã Xuân Nội .................................. 32

4.2.1. Thông tin và phân loại hộ điều tra ........................................................ 32

4.2.2. Nguồn vốn con người ............................................................................ 33

4.2.3. Nguồn vốn xã hội .................................................................................. 36

4.2.4. Nguồn vốn tự nhiên ............................................................................... 37

4.2.5. Nguồn vốn vật chất ............................................................................... 39

4.2.6. Nguồn vốn tài chính .............................................................................. 40

4.3. Các hoạt động sinh kế của người dân Xã Xuân Nội, huyện Trùng Khánh,

tỉnh Cao Bằng .................................................................................................. 42

4.3.1. Hoạt động sản xuất và thu nhập từ nông nghiệp, phi nông nghiệp ...... 42

4.3.2. Hoạt động nông nghiệp ......................................................................... 43

4.3.3. Hoạt động phi nông nghiệp ................................................................... 47

vii

4.4. Khó khăn trong phát triển sinh kế và định hướng sinh kế cho người dân

xã Xuân Nội .................................................................................................... 49

4.5. Nhận xét chung về sinh kế của người dân tại xã Xuân Nội ..................... 52

4.6. Các giải pháp phát triển sinh kế bền vững, nâng cao đời sống vật chất cho

người dân xã Xuân Nội ................................................................................... 54

4.6.1. Quan điểm định hướng chiến lược sinh kế bền vững ........................... 54

4.7. Các giải pháp khả thi trong lựa chọn sinh kế bền vững cho người dân xã

Xuân Nội ......................................................................................................... 55

4.7.1. Giải pháp về phát triển nguồn lực con người ........................................ 55

4.7.2. Giải pháp về chính sách về vốn ............................................................ 56

4.7.3. Giải pháp phòng ngừa các dịch bệnh .................................................... 56

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................... 57

5.1. Kết luận .................................................................................................... 57

5.2. Kiến nghị .................................................................................................. 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 60

PHỤ LỤC

1

Phần 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Sinh kế bền vững đang là một mối quan tâm đặt lên hàng đầu hiện nay

của con người. Nó là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển, nâng cao đời

sống của con người nhưng vẫn đảm bảo được việc bảo vệ môi trường. Hiện

nay, tại các địa phương đã có nhiều chương trình, tổ chức nhằm cải thiện đời

sống của người dân. Thực tế cho thấy, việc lựa chọn những hoạt động sinh kế

của người dân chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhiều yếu tố: điều kiện tự nhiên, xã

hội, yếu tố con người, vật chất, cơ sở hạ tầng... Việc đánh giá hiệu quả các hoạt

động sinh kế trở nên quan trọng và cần thiết, biết được những mặt đã làm tốt

để phát triển và những điều chưa phù hợp với địa phương từ đó đưa ra các biện

pháp giải quyết và hướng tới những hoạt động mới phù hợp với địa phương để

đạt hiệu quả cao nhất.

Theo số liệu Tổng cục thống kê (năm 2019), nước ta là một nước nông

nghiệp với 63.149.249 người sinh sống tại nông thôn, chiếm 65,6% dân số

sống ở khu vực nông thôn và gần 70% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông

nghiệp. Khu vực nông thôn có khoảng 13 triệu hộ, trong đó có khoảng hơn 11

triệu hộ chuyên sản xuất nông nghiệp. Với trình độ dân trí và tập quán canh tác

còn hạn chế nên năng suất lao động chưa cao, thu nhập còn thấp, tình trạng đói

nghèo vẫn diễn ra rộng khắp các khu vực. Xây dựng các chiến lược sinh kế bền

vững và xóa đói giảm nghèo là những chính sách hỗ trợ cơ bản hướng vào phát

triển con người, nhất là người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vào quá trình

phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, để cho người nghèo có cơ hội và điều

kiện tiếp cận các nguồn lực để phát triển sản xuất tự vươn lên thoát khỏi đói

nghèo, có một cuộc sống ổn định hơn. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, người dân

còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực để phát triển kinh tế.

2

Họ ít có khả năng tiếp cận với các nguồn lực như tài chính, thông tin, cơ sở vật

chất để phát triển.

Để cải thiện sinh kế cho nông dân nghèo vùng núi cần có sự quan tâm của

nhà nước và các tổ chức xã hội, thông qua các hoạt động, thông qua hệ thống

cây trồng, vật nuôi tổng hợp, phát triển sản xuất bền vững và sử dụng các cây

trồng lương thực, thức ăn chăn nuôi, cần được đầu tư cả về vốn, vật tư nông

nghiệp, tiến bộ khoa học kỹ thuật, để phát triển nông nghiệp nông thôn, phát

triển các hoạt động sinh kế, giúp người nông dân cải thiện cuộc sống. Qua đó ta

thấy rằng sinh kế bền vững đang là một mối quan tâm đặt lên hàng đầu hiện nay

của con người. Nó là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển, nâng cao đời

sống của con người nhưng vẫn đáp ứng được đòi hỏi về chất lượng môi trường

tự nhiên. Xã Xuân nội là xã vùng núi còn gặp nhiều khó khan về kinh tế, đời

sống người dân còn gặp nhiều khó khăn vậy nên trong những năm qua tại xã

Xuân Nội đã có những hoạt động sinh kế mới, đạt năng suất và hiệu quả khá

lớn, rất phù hợp với tình hình và điều kiện tự nhiên của địa phương, góp phần

làm phong phú những phương thức sinh kế của người dân. Vì vậy đây là cơ sở

cho việc xây dựng một mô hình phát triển kinh tế, thu nhập cho người dân miền

núi xã Xuân Nội nói riêng cũng như người dân khác trong địa bàn sống ở miền

núi khác trong tỉnh nói chung. Xuất phát từ thực tế đó, tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Nghiên cứu thực trạng sinh kế của người dân miền núi tại xã Xuân

Nội, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tác động đến hoạt động

sinh kế của người dân.

- Phân tích hoạt động sinh kế về thu nhập từ các hoạt động sinh kế của

người dân xã Xuân Nội.

- Đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững, nâng cao đời sống vật

chất cho người dân địa phương.

3

1.3. Ý nghĩa của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Củng cố thêm kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình đi thực

tập cơ sở.

- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin của sinh viên

trong quá trình nghiên cứu.

1.3.2. Ý nghĩa lí luận

- Đây là một đề tài mới nghiên cứu về vấn đề sinh kế của người dân

miền núi tại địa phương vì vậy đây sẽ là cơ sở để xây dựng nền móng cho các

cuộc nghiên cứu sau này khi nghiên cứu đến các hoạt động sinh kế.

- Đề tài góp phần làm rõ một số vấn đề trong hoạt động sinh kế của

người dân miền núi, hiệu quả của các hoạt động sinh kế ấy mang lại.

- Bổ sung một số lý thuyết về hoạt động sinh kế, đóng góp một mẫu

nghiên cứu xã hội học làm sáng tỏ thực trạng sinh kế, đồng thời tìm hiểu đời

sống hiện nay của người dân nơi đây.

1.3.3. Ý nghĩa thực tiễn

- Đáp ứng mục đích ứng dụng, nhân rộng mô hình xóa đói giảm nghèo,

phát triển nông thôn của người dân miền núi.

- Đóng góp kiến nghị những giải pháp khả thi cho chiến lược sinh kế

bền vững của người dân miền núi xã Xuân Nội hiện nay.

- Đóng góp một mô hình sinh kế bền vững cho chiến lược sinh kế bền

vững khu vực miền núi đang chuyển biến về tỉ trọng cơ cấu ngành trong nông

nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

4

Phần 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1. Cơ sở lí luận khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu

2.1.1. Các khái niệm liên quan

Theo DFID sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: nguồn lực và khả năng

con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế. có quan niệm cho

rằng sinh kế không đơn thuần chỉ là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi

ở. Mà nó còn đề cập đến vấn đề tiếp cận các quyền sở hữu, thông tin, kĩ năng,

các mối quan hệ…(Wallmann, 1984 trích theo Nông Tuyết Phượng). Sinh kế

cũng được xem như là “sự tập hợp các nguồn lực và khả năng mà con người có

được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để sống

cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ” (DFID). Về cơ bản

các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tự quyết định dựa vào

năng lực và khả năng của họ và đồng thời chịu tác động của các thể chế chính

sách và các mối quan hệ xã hội và mỗi cá nhân và hộ gia đình tự thiết lập trong

cộng đồng. [2]

* Khái niệm sinh kế

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sinh kế. Theo một số tác

giả, sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (bao gồm các nguồn lực vật

chất và xã hội như: cửa hàng, nguồn tài nguyên, đường xá, đất đai…) cùng các

hoạt động cần thiết để làm phương tiện kiếm sống của con người (Scoones,

1998). [15]

Sinh kế của nông hộ là hoạt động kiếm sống của con người, được thể

hiện qua hai lĩnh vực chính là nông nghiệp và phi nông nghiệp.

Hoạt động nông nghiệp bao gồm: (1) trồng trọt: Lúa, ngô, khoai, sắn,

Dong giềng… (2) chăn nuôi: Trâu, bò, lợn, gà, cá, ngựa, dê… (3) lâm nghiệp:

Keo, thông, bạch đàn,…

Hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu là các dịch vụ, buôn

bán và một số ngành nghề khác.

5

Như vậy, trong phạm vi báo cáo này, sinh kế của người dân nông thôn

được hiểu là các hoạt động sản xuất nông nghiệp để nuôi sống cho chính gia

đình của họ. Vì vậy, xây dựng kế hoạch chiến lược cải thiện sinh kế chính là

việc xây dựng các thí nghiệm trình diễn hiện trường để góp phần cải thiện sinh

kế địa phương. Qua đó, góp phần phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo.

* Khái niệm tiếp cận sinh kế

Đây là khái niệm tương đối mới. Nó phản ánh bức tranh tổng hợp các

sinh kế của người dân hay cộng đồng, chứ không chỉ theo phương thức truyền

thống chú trọng đến một hoặc hai sinh kế. Tiếp cận sinh kế sẽ mang lại cho

cộng đồng cũng như những người hỗ trợ từ bên ngoài cơ hội thoát nghèo, thích

nghi với điều kiện tự nhiên xã hội và có những thay đổi tốt hơn cho chính họ

và cho những thế hệ tiếp theo.[8]

* Khái niệm sinh kế bến vững

Khái niệm sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo Brundland

(1987) tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển. Một sinh kế được cho

là bền vững khi con người có thể đố phó và khắc phục được những áp lực và

cú sốc. Đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản ở cả hiện tại

và trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên

nhiên. [12]

Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng lần đầu tiên như một khái

niệm phát triển vào những năm đầu thập niên 90. Tác giả Chamber và Conway

(1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: “Sinh kế bền vững bao gồm

con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản

của họ. Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư

nợ và cơ hội. Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa

phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào lợi ích ròng tác động đến sinh kế

khác. Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ

những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai”. [13]

6

* Khái niệm chiến lược sinh kế

Chiến lược sinh kế dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn

và quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lí các nguồn vốn

và tài sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như để đạt

được mục tiêu nguyện vọng của họ.[8]

Biến can thiệp

Biến can thiệp

Bối cảnh tổn thương - Xu hướng kinh tế, xã hội và môi trường - Dao động theo thời vụ - Sốc, khủng hoảng

Hoạt động sinh kế Vốn con người Vốn xã hội Vốn tự nhiên Biến độc lập

Vốn vật chất Vốn tài chính Biến phụ thuộc

Kết quả sinh kế - Mức thu nhập cao hơn - An ninh lương thực - Chất lượng cuộc sống nâng cao

- Luật tục, thể chế cộng đồng - Các chính sách của nhà nước và pháp luật

Hình 2.1: Sơ đồ khung phân tích sinh kế

(Sử dụng phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững)

* Nguồn vốn sinh kế

Nguồn vốn sinh kế được hiểu như là các điều kiện khách quan và chủ

quan tác động vào một sự vật hiện tượng làm cho nó thay đổi về chất hoặc

7

lượng. Trong phạm vi đề tài này, các yếu tố về con người, tự nhiên, vật chất,

tài chính, xã hội, các thể chế chính sách mà xã hội quy định. Các nguồn vốn đó

được hiểu như sau:

- Vốn tự nhiên: là những yếu tố được sử dụng trong các nguồn lực tự

nhiên. Nó cung cấp và phục vụ rất hữu ích cho phương kế kiếm sống của con

người. Có rất nhiều nguồn lực hình thành nên nguồn vốn tự nhiên. Từ các hàng

hóa công vô hình như không khí, tính đa dạng sinh học đến các tài sản có thể

phân chia được sử dụng trực tiếp trong sản xuất như: đất đai, nguồn nước, cây

trồng, vật nuôi, mùa màng…[8]

- Vốn con người: Con người là cơ sở nguồn vốn này. Vốn con người

bao gồm các yếu tố như cơ cấu nhân khẩu của hộ gia đình, kiến thức và giáo

dục của các thành viên trong gia đình (bao gồm trình độ học vấn, kiến thức

truyền được hoặc được kế thừa trong gia đình), những kĩ năng và năng khiếu

của từng cá nhân, khả năng lãnh đạo, sức khỏe, tâm sinh lí của các thành viên

trong gia đình, quỹ thời gian, hình thức phân công lao động. Đây là một yếu tố

được xem như là quan trọng nhất vì nó quyết định khả năng một cá nhân, một

hộ gia đình sử dụng và quản lí các nguồn vốn khác. [8]

- Vốn xã hội: Bao gồm các mạng lưới xã hội, các mối quan hệ với họ

hàng, người xung quanh, bao gồm ngôn ngữ, các giá trị về niềm tin tín

ngưỡng, văn hóa, các tổ chức xã hội, các nhóm chính thức cũng như phi chính

thức mà con người tham gia để có được những lợi ích và cơ hội khác nhau…

Việc con người tham gia vào xã hội và sử dụng nguồn vốn này như thế nào

cũng tác động không nhỏ đến quá trình tạo dựng sinh kế của họ. Vốn xã hội

được duy trì, phát triển và tạo ra những lợi ích mà người sở hữu nó mong

muốn như khả năng tiếp cận và huy động nguồn lực có từ các mối quan hệ,

chia sẻ thông tin, kiến thức hay các giá trị chuẩn mực. Vốn xã hội của mỗi cá

nhân được tích lũy trong quá trình xã hội hóa của họ thông qua sự tương tác

giữa các cá nhân. [8]

8

- Vốn vật chất: gồm các cơ sở hạ tầng xã hội, tài sản hộ gia đình hỗ trợ

cho sinh kế như: giao thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống tưới tiêu, cung

cấp năng lượng, nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin… [8]

- Vốn tài chính: Những khó khăn về tài chính làm cho khả năng trỗi dậy

của kinh tế nông hộ bị giảm sút, muốn cải thiện được kinh tế nông hộ thì việc

tăng đầu tư nhằm mở rộng quy mô sản xuất, tăng năng suất và chất lượng sản

phẩm là một nhu cầu tất yếu. Trong điều kiện như hiện nay, khi mà khả năng

tích luỹ của hộ nông dân rất thấp, sự hỗ trợ của Chính phủ và các tổ chức phi

chính phủ ngày càng giảm, thì việc vay vốn để đầu tư được coi là hành vi quan

trọng nhất để thoả mãn về mặt tài chính.[8]

2.1.2. Các lí thuyết áp dụng

* Quan điểm chiến lược phát triển bền vững

Đây là một quan điểm thuộc xã hội hiện đại khi quan niệm về phát triển

không đơn thuần chỉ la sự tăng trưởng về mặt kinh tế. lý thuyết này ra đời sau

một thời gian dài, sự phát triển được hiểu thiên lệch là sự tăng trưởng về mạt

kinh tế đã gây nên những hậu quả nặng nề: sự phân hóa giàu nghèo một cách

sâu sắc, biến đổi khí hậu, môi trường bị tàn phá nặng nề, sự nóng dần lên của

trái đất…những hậu quả ấy do bởi những hoạt động phát triển của con người.

Khái niệm phát triển bền vững xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi

trường những năm 70 của thế kỉ XX và được định nghĩa theo nhiều cách khác

nhau. Phát triển bền vững được hiểu như là “sự đáp ứng nhu cầu hiện tại mà

không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng

nhu cầu của bản thân họ” (Báo cáo Bruland, 1987). Hoặc là “sự cải thiện chất

9 lượng cuộc sống của con người trong khuôn khổ phạm vi sức chứa của hệ

sinh thái trợ giúp” (chăm lo trái đất )… Phát triển bền vững cũng có thể được

hiểu là một sự phát triển lâu dài, phát triển đi đôi với việc làm phong phú các

nguồn vốn sinh kế để từ đó dẫn đến các tác động tích cực tới đời sống của con

người. Sự phát triển đó làm tăng khả năng chống chọi với những cú sốc, tổn

thương do con người và tự nhiên gây ra. [12]

9

Chiến lược phát triển bền vững được xem như là những quyết định trong

việc lựa trọn, kết hợp và quản lý các nguồn vốn sinh kế của con người nhằm để

kiếm sống. Kết quả sinh kế con người hướng tới được thể hiện qua các yếu tố:

 Sự hưng thịnh hơn: bao gồm sự gia tăng về mức thu nhập, cơ hội việc

làm và nguồn vốn tài chính nâng cao.

 Đời sống được nâng cao: ngoài tiền và những thứ mua bằng tiền, mức

sống còn được đánh giá qua những giá trị của những hàng hóa phi vật chất

khác, mức độ đánh giá còn được thể hiện trên phương diện giáo dục, y tế, khả

năng sử dụng các dịnh vụ xã hội của gia đình.

 Khả năng tổn thương được giảm: người nghèo luôn phải sống trong

trạng thái dễ bị tổn thương. Bởi vậy, sự ưu tiên của họ là tập chung cho việc

bảo vệ gia đình mình thoát khỏi những mối hiểm họa tiềm ẩn, thay vì phát triển

những cơ hội của mình.

 An ninh lương thực được củng cố: an ninh lương thực là một trong

những vấn đề cốt lõi trong phát triển con người, tránh sự tổn thương và nghèo

đói. Việc tăng cường an ninh lương thực có thể được thực hiện nhiều cách như

tăng khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên đất, tăng nguồn thu nhập của người

dân…

 Sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên: việc phát triền cần đi đôi

với tái tạo và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, tránh sự ô nhiễm môi trường.

Những chỉ tiêu trên đây là những mong muốn về một kết quả con người

cần đạt được, đồng thời cũng là biểu hiện của sinh kế bền vững. Một sinh kế được

xem như là bền vững khi nó đối phó và phục hồi được những áp lực, cú sốc và có

thể duy trì, nâng cao khả năng về tài chính cũng như cơ sở hạ tầng ở cả hiện tại và

trong tương lai mà không làm tổn hại đến nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Nói tóm lại quan niệm về sinh kế bền vững đều hướng đến một thế đứng

kiềng 3 chân: “kinh tế - môi trường - xã hội”. Đây cũng được xem là mục tiêu

mà con người hướng tới trong tương lai khi tác động ngược của các quan điểm

10

phát triển sai lệch trước đây đã và đang ngày càng ảnh hưởng tiêu cực đến con

người. Lý thuyết này được áp dụng trong đề tài để phân tích hoạt động sinh kế

của người dân và xây dựng một mô hình phát triển tiến bộ hơn so với mô hình

sinh kế hiện tại – mô hình sinh kế bấp bênh và thiếu tính bền vững.

* Quan điểm lý thuyết cấu trúc chức năng

Chủ thuyết chức năng hay còn gọi là cấu trúc chức năng được nhắc đến

với tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể. Trong

hệ thống đó mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần làm nên sự tồn

tại với 2 mặt tĩnh và động, tồn tại trong sự vận động biến đổi nhưng lại là một

thực thể thống nhất trong đa dạng. H.Spencer đưa thuyết sinh vật học vào để

giải thích sự tồn tại của xã hội và cho rằng xã hội tồn tại như một cơ thể sống,

nó có đầy đủ các bộ phận và thực hiện các chức năng khác nhau trong một cơ

thể thống nhất, tiến hóa từ đơn giản đến phức tạp.

Lý thuyết này sẽ được vận dụng để giải thích các mối quan hệ kinh tế -

xã hội trong đời sống của người dân xã Xuân Nội. Từ đó đưa ra giải thích hợp

lí cho lựa chọn hợp lí các hoạt động sinh kế của họ. Việc vận dụng lý thuyết sẽ

được đưa vào trong từng phần của bài nghiên cứu. Xã Xuân Nội được xem như

là một chỉnh thể xã hội thống nhất trong hệ thống quản lí chức năng đoàn thể.

Xã Xuân Nội nằm trong sự kiểm soát và quản lí của một hệ thống xã hội lớn

hơn là UBND huyện Trùng Khánh. Xét về phạm vi tổ chức, cư dân trong xã

được quản lí trực tiếp bởi ban điều hành như Chủ tịch xã, phó chủ tịch xã, ban

công an, ban mặt trận, ban dân sự… Là một chỉnh thể thống nhất, các hộ gia

đình trong xã đều tồn tại với vai trò và chức năng riêng song đều nằm trong

mỗi liên kết chặt chẽ với những mối quan hệ hàng xóm láng giềng thân thích

và môi trường sống xung quanh.

* Quan điểm lý thuyết lựa chọn hợp lý

Lý thuyết lựa chọn hợp lý có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học, nhân

học thế kỷ XVIII – XIX đại diện là các nhà xã hội học như: G.Simmel,

Hormans, J.Elster. Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào việc cho rằng con người

11

luôn hành động có chủ đích với những hành động xã hội. Khi làm việc gì,

người ta cũng suy nghĩ để lựa chọn phương án nhằm sử dụng các nguồn lực có

được để đạt được kết quả tối đa với chi phi thấp nhất. Thuật ngữ “lựa chọn”

được dùng để nhấn mạnh sự cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng phương

tiện tối ưu nào mà đạt được kết quả cao trong một điều kiện nguồn lực khan

hiếm. Bắt nguồn từ việc vận dụng quy luật này để giải thích các hiện tượng

kinh tế, các nhà xã hội học áp dụng vào nhằm giải thích các hành động xã hội.

Vận dụng lý thuyết này vào trong đề tài nghiên cứu để giải thích cho việc tại

sao người dân ở địa bàn nghiên cứu lại lựa chọn phương thức sinh kế hiện tại

mà không phải lựa chọn phương thức sinh kế khác, với lựa chọn phương thức

đó liệu họ có đạt được hiệu quả tối đa trong cuộc sống hay không. Ngoài ra

quan điểm về lựa chọn hợp lý sẽ được lồng ghép phân tích và vận dụng trong

việc đưa ra các giải pháp cho một chiến lược sinh kế bền vững.

2.1.3. Thu nhập, hộ và kinh tế hộ

* Khái niệm về thu nhập

Thu nhập là khoản tiền thu từ việc sở hữu và cung ứng các nhân tố sản

xuất trong 1 thời kỳ nhất định. Cơ cấu thu nhập bao gồm: Thu nhập từ kết quả

lao động (tiền công, tiền lương: bao gồm lương hưu,các khoản trợ cấp và bao

gồm cả học bổng) và thu nhập tài chính (lãi do gửi tiết kiệm, lãi do mua bán

đầu tư chứng khoán, thu từ các khoản cho thuê bất động sản) và các thu nhập khác.

Thu nhập từ lao động là tổng các khoản thu mà người lao động nhận

được do đã bỏ ra sức lao động của họ trong quá trình tham gia sản xuất kinh

doanh của các đơn vị kinh tế.

Thu nhập từ lao động của người lao động bao gồm:

Tiền lương, tiền thưởng và các khoản phụ cấp, thu nhập khác có tính

chất như lương: gồm tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp thường

xuyên mang tính chất cố định và tiền thưởng trong lương; các khoản phụ cấp

và thu nhập khác của người lao động được tính vào chi phí sản xuất, vào giá

thành của sản phẩm như: phụ cấp ca 3, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp đi lại, phụ cấp

12

tiền điện thoại cố định, phụ cấp xăng xe, tiền công tác phí, ăn giữa ca, trợ cấp

thuê nhà ….và các khoản phụ cấp thường xuyên khác cho người lao động, bao

gồm các hình thức trả bằng tiền mặt, bằng hiện vật như: thực phẩm, đồ uống,

nhiên liệu, quần áo (trừ quần áo bảo hộ lao động).

Các khoản thu nhập khác không tính vào chi phí sản xuất kinh doanh:

Là các khoản chi phí trực tiếp cho người lao động nhưng không hạch

toán vào chi phí sản xuất mà nguồn chi lấy từ quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi,

lợi nhuận của chủ doanh nghiệp hoặc từ các nguồn khác (quà tặng, thưởng của

cấp trên…).[8]

Phân loại thu nhập

Phân loại theo hình thức thu nhập có:

+ Thu nhập trực tiếp: Là thu nhập của lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm.

+ Thu nhập gián tiếp từ phân phối lại: Là thu nhập của những lao động

làm công việc tiêu thụ sản phẩm như những người đi buôn…những người này

không trực tiếp tạo ra sản phẩm.

Căn cứ vào mức thu nhập nông hộ:

Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn

2016 - 2020 gồm tiêu chí về thu nhập, mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội

cơ bản:

- Hộ nghèo: Là hộ đáp ứng 1 trong 2 tiêu chí sau:

+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn nghèo chính sách

trở xuống.

+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính

sách đến chuẩn mức sống tối thiểu và từ 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các

dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

Trong đó 2 tiêu chí trên để xác định mức chuẩn nghèo mức độ thiếu hụt

tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản là:

- Tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch

và vệ sinh, tiếp cận thông tin.

13

- Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt bao gồm: trình độ giáo dục của

người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y

tế; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh

hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ

tiếp cận thông tin. Ngưỡng thiếu hụt đa chiều đối với một hộ gia đình là từ 1/3

tổng điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

+ Hộ cận nghèo: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn

chuẩn nghèo chính sách đến chuẩn mức sống tối thiểu, và dưới 1/3 tổng số

điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

+ Hộ chưa tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản: là hộ có thu nhập

bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn mức sống tối thiểu và từ 1/3 tổng

điểm thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

+ Hộ có mức sống dưới trung bình: là hộ có thu nhập bình quân đầu

người/tháng từ dưới chuẩn mức sống trung bình và cao hơn chuẩn mức sống

tối thiểu.

Tiêu chí về thu nhập là:

Hộ nghèo: 700.000 đồng/người/tháng

Hộ cận nghèo: 700.000 - 1.000.000 đồng/người/thág

Hộ trung bình: 1.000.000 - 1.500.000 đồng/người/tháng

Hộ khá; thu nhập trung bình trên 1.950.000 đồng/người/tháng.[3]

Tầm quan trọng của thu nhập

Trong thực tế cuộc sống thu nhập là một yếu tố rất quan trọng, nó biểu

hiện ở số tiền, hay các sản phẩm do quá trình lao động mà chúng ta tạo ra và

nó có giá trị cho cuộc sống. Để duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống, con

người cần phải có thu nhập và chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng trong

đời sống hàng ngày thu nhập quan trọng như thế nào. Với mỗi người, với các

mức thu nhập khác nhau thì có thể nói rằng chất lượng cuộc sống mà họ được

hưởng cũng khác nhau, với những mức thu nhập cao thì sẽ có được cuộc sống

14

với chất lượng của các dịch vụ và sự sinh hoạt hàng ngày tốt hơn chẳng hạn

như: Bữa ăn hàng ngày sẽ đủ chất dinh dưỡng hơn, các đồ dùng sinh hoạt

cũng tốt hơn, con cái được học tập trong những ngôi trường chất lượng tốt hơn,

nói tóm lại sẽ có được những thứ gần với sự mong muốn hơn, ngược lại những

người có thu nhập thấp, những người nghèo thậm chí là đói thì với thu nhập

thấp đó họ có thể ăn không đủ no, mặc không đủ ấm chứ nói gì đến việc sử

dụng các dịch vụ mà cần đến tiền mới có được.

* Khái niệm về hộ:

Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về hộ gia đình. Hộ là một tổ

chức kinh tế xã hội ra đời từ rất lâu, trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau

của đất nước. Trong bất kỳ giai đoạn nào hộ luôn là đối tượng nghiên cứu của

rất nhiều nhà khoa học trên thế giới. Theo đó cũng có nhiều khái niệm khác

nhau về hộ.

Liên hợp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một

mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.

Tác giả Frank Ellis định nghĩa “Hộ nông dân là những hộ gia đình làm

nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng sức

lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn,

nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu

hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”. [14]

Tại cuộc thảo luận Quốc tế lần thứ 4 về quản lý nông trại tại Hà Lan

năm 1980, các đại biểu nhất trí rằng: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên

quan đến sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”.

Theo Raul Ituna, một nhà nghiên cứu của trường Đại học Tổng hợp

Lisbon, khi nghiên cứu cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số

nước Châu Á đã chứng minh: “Hộ là tập hợp những người có chung huyết tộc

có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn

chính bản thân họ và cộng đồng”.

15

Theo Dương Văn Sơn và Nguyễn Trường Kháng (2010): “Hộ gia đình là

khái niệm chỉ một hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm

nền tảng. Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế có chất hành chính và

địa lý. Còn gia đình là một nhóm người, một cộng đồng người mà các thành

viên có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, vừa nhằm đáp ứng các nhu

cầu riêng tư của các cá nhân, vừa thỏa mãn nhu cầu xã hội về tái sản xuất dân

cư theo cả nghĩa về thể xác lẫn tinh thần. Gia đình là một hệ thống phức tạp

các vị trí và vai trò xã hội mà các thành viên chiếm giữ và thực hiện, là những

hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người, một thiết

chế văn hóa – xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở

của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục

… giữa các thành viên”. [4]

*Hộ nông dân

Theo tác giả Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ

chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề

các và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”. [5]

Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào

kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”. [6]

Tác giả Frank Ellis định nghĩa: “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm

nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu

sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn

hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và xu

hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”. [14]

2.2. Cơ sở thực tiễn

2.2.1. Tình hình phát triển sinh kế hộ nông dân ở các nước trên thế giới

Thực tiễn cho thấy, quá trình xây dựng và phát triển sinh kế nông hộ của

các nước đã có nhiều kinh nghiệm để chúng ta học tập.

* Thái Lan: Là một nước trong khu vực Đông Nam Á của Châu Á, chính

phủ Thái Lan đã thực hiện nhiều chính sách để đưa đất nước từ lạc hậu trở

16

thành nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến. Một số chính sách có liên quan

đến việc phát triển sinh kế vùng núi ban hành (Từ 1950 đến năm 1980).

+ Thứ nhất: Xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn. Mạng lưới

đường bộ bổ sung cho mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập.

Các vùng ở xa (Bắc, Đông bắc, Nam…), đầu tư xây dựng đập nước ở

các vùng.

+ Thứ hai: Chính sách mở rộng diện tích cánh tác và đa dạng hóa sản

phẩm như cao su ở vùng đồi phía Nam, ngô, mía, bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng

núi phía Đông Bắc.

+ Thứ ba: Đẩy mạnh công nghiệp hóa chế biến nông sản để xuất khẩu

như: Ngô, sắn… sang các thị trường Châu Âu và Nhật Bản.

+ Thứ tư: Thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và chính sách thay

thế nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ. Nhà nước cũng thực hiện chính

sách trợ giúp tài chính cho nông dân như: cho nông dân vay tiền với lãi suất

thấp, ứng trước tiền cho nông dân và cam kết mua sản phẩm với giá trị định

trước… cùng với nhiều chính sách khác đã thúc đẩy vùng núi Thái Lan phát

triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Hàng năm có khoảng 95% sản lượng cao

su, hơn 4 triệu tấn dầu cọ do nông dân sản xuất ra. Song trong quá trình thực

hiện có bộc lộ một số vấn đề còn tồn tại: đó là việc mất cân bằng sinh thái, là

hậu quả của một nền nông nghiệp làm nghèo kiệt đất đai. Kinh tế vẫn mất cân

đối giữa các vùng, xu hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành thị lâu dài

hoặc rời bỏ nông thôn theo thời vụ ngày càng gia tăng.

* Trung Quốc: Trong những năm qua phát triển rất mạnh trong lĩnh vực

đầu tư cho nông nghiệp nông thôn. Một trong những thành tựu của Trung

Quốc trong cải cách mở cửa là phát triển nông nghiệp hương trấn, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông thôn, từ đó tăng trưởng với tốc độ cao. Nguyên nhân của

thành tựu đó có nhiều, trong đó điều chỉnh chính sách đầu tư rất quan trọng,

tăng vốn đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp để tạo ra tiền đề vật chất cho sự tăng

17

trưởng trước hết là đầu tư xây dựng công trình thủy lợi, mở rộng sản xuất

lương thực, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, nghiên cứu ứng dụng cây trồng,

vật nuôi, vào sản xuất nhất là lúa, ngô, bông.

* Malaysia: Mục tiêu của Malaysia là xây dựng một nền nông nghiệp

hiện đại, sản xuất hàng hóa có giá trị cao. Vì thế chính sách nông nghiệp của

Malaysia tập chung chủ yếu vào khuyến nông và tín dụng. Bên cạnh đó chính

phủ nước này cũng chú trọng tìm kiếm thị trường xuất khẩu nông sản. Nhờ đó

một vài năm gần đây kinh tế nông hộ của người dân nước này có thu nhập cao

và ổn định hơn.[8]

2.2.2. Tình hình nghiên cứu hoạt động sinh kế của Việt Nam

Sinh kế là một đề tài được nhiều nơi trên thế giới quan tâm, đặc biệt

trong bối cảnh hiện nay người nông dân chịu sự tác động lớn từ CNH - HĐH,

sự tác động của các khu công nghiệp, sự chênh lệch giàu nghèo, hội nhập kinh

tế, sự biến đổi khí hậu và nhiều yếu tố khác.

Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, bài viết

đi sâu phân tích về hoạt động sinh kế của người dân, đặc biệt chú ý đến đời

sống của cư dân nghèo. Ý tưởng nghiên cứu về sinh kế xuất hiện nhiều trong

các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Doward, F.Eliss, Morison…

Các tác giả đều cho rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố ảnh hưởng

đến đời sống của cá nhân cũng như từng hộ gia đình. Hiện nay, các đề tài liên

quan đến hoạt động sinh kế và bàn về cách thức để xây dựng mô hình sinh kế

bền vững cũng vô cùng phong phú. Những câu hỏi tại sao, phải làm như thế

nào vẫn đang tìm câu trả lời. Làm thế nào để lựa chọn một sinh kế bền vững,

hay nguyên nhân dẫn đến đói nghèo là gì?....

Trong giới hạn đề tài cho phép, tôi xin tổng quan một số công trình

nghiên cứu thu thập được liên quan đến đề tài:

- Đánh giá hoạt động sinh kế của người dân miền núi thôn 1 - 5, Cẩm

Sơn, Anh Sơn, Nghệ An (Đại học Nông Lâm Huế) [1]

18

Đề tài này phân tích các hoạt động sinh kế của người dân miền núi. Qua

đó xem xét và rút ra những phương thức, tập quán trong lao động sản xuất của

người dân nhằm tìm ra một số giải pháp khả thi cho chiến lược sinh kế bền

vững phù hợp với điều kiện của cư dân địa phương.

- Đánh giá hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện

Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên của Lê Duy Thường, Đại học nông lâm Thái

Nguyên, 2014. [7]

Đề tại này phân tích các hoạt động sinh kế của người dân tộc thiểu số tại

huyện Võ Nhai Qua đó xem xét và rút ra những phương thức, tập quán trong lao

động sản xuất của người dân nhằm tìm ra một số giải pháp khả thi cho chiến lược

sinh kế bền vững phù hợp với điều kiện của cư dân địa phương.

Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu trên; nghiên cứu này tôi đi

sâu tìm hiểu, phân tích các nguồn lực sinh kế, các hoạt động sinh kế của đồng

bào dân tộc thiểu số huyện Trùng Khánh. Từ đó đánh giá các hoạt động sinh kế

để rút ra được những phương thức sinh kế nào là phù hợp, phương thức nào

chưa phù hợp với từng địa bàn. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phát triển

sinh kế phù hợp với điều kiện của địa phương.

19

Phần 3

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng, phạm vi, địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu

+ Hoạt động sinh kế của người dân xã Xuân Nội.

+ Nguồn lực sinh kế của người dân tại xã Xuân Nội.

3.1.2. Khách thể nghiên cứu

+ Là các hộ gia đình cùng với hoạt động sinh kế của họ tại xã Xuân Nội,

huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

3.1.3. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu

Các hoạt động sinh kế trong đề tài bao gồm hoạt động nông nghiệp

(trồng trọt, chăn nuôi) và hoạt động phi nông nghiệp. Thu nhập được tính trên

thu nhập của nông nghiệp và phi nông nghiệp. Nghiên cứu chọn mẫu 80 hộ

trong vùng tại 3 xóm: Bản Mán, Súm Dưới, Làn Hoài.

3.1.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

+ Không gian: xã Xuân Nội, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

+ Thời gian: Từ ngày 10/01/2020 đến 10/05/2020.

3.2. Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu

3.2.1. Giả thuyết nghiên cứu

- Các hoạt động sinh kế của người dân xã Xuân Nội hiện nay nhìn chung

bền vững, ổn định. Cho nên, đời sống của người dân được cải thiện đáng kể.

- Việc lựa chọn các hoạt động của người dân miền núi xã Xuân Nội

phải chịu tác động lớn của các yếu tố khách quan và chủ quan như: nguồn

vốn tự nhiên, nguồn vốn con người, nguồn vốn tài chính, nguồn vốn xã

hội... Trong đó đáng kể là sự tác động mạnh mẽ từ nguồn vốn con người và

nguồn vốn tài chính.

20

- Người dân xã Xuân Nội hiện nay để xây dựng một chiến lược sinh kế

bền vững cần có sự giúp đỡ của các tổ chức xã hội và Nhà nước.

3.2.2. Câu hỏi nghiên cứu

+ Các hoạt động sinh kế của người dân bao gồm những hoạt động gì?

+ Những nguồn vốn sinh kế mà người dân có được trong hoạt động sinh

kế?

+ Những yếu tố nào tác động đến hoạt động sinh kế của người dân? Mức

độ ảnh hưởng?

+ Hiệu quả của các hoạt động sinh kế mang lại cho người dân?

+ Thu nhập của người dân từ các hoạt động sinh kế như thế nào?

+ Khả năng chống chọi với những biến động bên ngoài tác động đến

sinh kế của người dân?

+ Những khó khăn người dân gặp phải trong hoạt động sinh kế?

3.2.3. Nội dung nghiên cứu

+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Xuân Nội, huyện Trùng

Khánh, tỉnh Cao Bằng.

+ Nguồn lực sinh kế của người dân địa phương.

+ Các giải pháp phát triển sinh kế bền vững, nâng cao đời sống vật chất

của người dân địa phương.

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Phương pháp luận

Cơ sở phương pháp luận cho đề tài nghiên cứu là việc vận dụng các lý

thuyết xã hội học vào giải thích các vấn đề gặp phải trong quá trình nghiên

cứu. Từ đó phân tích mối liên hệ giữa lí luận và thực tiễn nhằm làm sáng tỏ

mục tiêu và nội dung nghiên cứu đã đề ra.

Để làm sáng tỏ thực trạng của các hoạt động sinh kế và các nguồn vốn

mà người dân có, các lý thuyết được đưa vào áp dụng như thuyết lựa chọn hợp

lý để tìm hiểu nguyên nhân của hành động xã hội mà người dân lựa chọn để

21

đưa ra các phương án sinh kế. Ngoài ra, trong đề tài còn sử dụng thuyết cấu

trúc chức năng nhằm tiếp cận đối tượng theo lát cắt của cơ cấu xã hội. Xã

Xuân Nội là một cụm dân cư tồn tại với tư cách là một hệ thống xã hội, nằm

trong sự quản lí và kiểm soát của bộ phận quản lí xã hội. Do đó, hộ gia đình

cũng tồn tại như một thành phần của hệ thống và chịu tác động của môi trường

xung quanh. Việc lựa chọn các phương thức sinh kế phù hợp với nguồn vốn

sinh kế mà họ có, bối cảnh của họ đang sống và lựa chọn có mang lại hiệu quả

kinh tế cao, thu nhập có ổn định và cuộc sống có ổn định hay không. Để qua

đó, xây dựng mối liên hệ tác động qua lại giữa các biến số phục vụ cho đề tài

nghiên cứu.

3.3.2. Phương pháp điều tra chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu điều tra hộ, gồm các bước sau:

Chọn điểm, mẫu điều tra: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu theo các nội

dung đã xác định. Tiến hành chọn ra 80 hộ tại 3 thôn để tiến hành phỏng vấn

bằng bảng câu hỏi đã chuẩn bị trước.

Phỏng vấn chính thức: tiến hành phỏng vấn chính thức mẫu đã chọn ra

là các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu dựa trên bảng câu hỏi đã được xây dựng

theo nội dung đã đề ra.

- Chọn thôn: Được sự tư vấn của lãnh đạo xã, chọn ra 3 trong số 8 thôn

tại địa bàn xã là Bản Mán, Súm Dưới và Loàn Hoài vì 3 thôn trên có số hộ dân

và đông dân nhất trên địa bàn xã. Hơn nữa, 3 thôn trên có các đặc điểm kinh tế,

xã hội khác nhau nên có thể tiến hành điều tra, phỏng vấn rồi từ đó có thể đánh

giá chung được tình hình sinh kế và thu nhập của xã Xuân Nội.

Bảng 3.1: Chọn mẫu nhóm hộ điều tra tại xã Xuân Nội

STT Tên xóm Hộ điều tra

1 Bản Mán 25

2 Súm Dưới 25

3 Làn Hoài 30

Tổng số 80

22

Chọn mẫu nghiên cứu: sử dụng công thức Slovin.

Số lượng mẫu được lựa chọn nghiên cứu được xác định theo công thức

Slovin (1960) độ tin cậy 90%, sai số 10 %:

Trong đó:

n: cỡ mẫu

e: sai số cho phép

N: tổng thể

3.3.3. Phương pháp phân tích xử lý số liệu

- Các thông tin số liệu thứ cấp được tổng hợp, phân tích và sử dụng theo

các phương pháp phân tích tài liệu thông dụng.

- Phương pháp đánh giá phân tích thông qua lấy ý kiến của nông dân

trong điều tra hộ dân và thảo luận nhóm.

- Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng chương trình Microsoft Office

Excel trên máy tính.

3.4. Hệ thống các chỉ số

- Tình hình đất đai

+ Tổng diện tích đất tự nhiên

+ Diện tích đất canh tác

+ Diện tích đất ở

+ Bình quân đất nông nghiệp/ hộ

Bình quân đất nông nghiệp trên hộ = (ha/hộ)

+ Bình quân đất nông nghiệp/ xóm

Bình quân đất nông nghiệp trên hộ = (ha/xóm)

23

- Tinh hình dân số và lao động

+ Tổng số lao động

+ Lao động nông nghiệp

+ Lao động phi nông nghiệp

+ Bình quân lao động/ hộ

Bình quân lao động trên hộ = (lao động/ hộ)

+ Chi phí bình quân

ATC = (VNĐ)

Trong đó: Trong đó Q là sản lượng và TC là tổng chi phí của tất cả

các loại đầu vào được sử dụng để sản xuất ra sản lượng

+ Chi phí bình quân/ hộ

= (VNĐ)

+ Độ tuổi bình quân/ hộ

- Hệ thống cơ sở hạ tầng

+ Tổng số đường tỉnh, quốc lộ, đường liên thôn, xã

+ Số trường học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở

+ Cơ sở y tế

- Kết quả phát triển sản xuất - kinh doanh

+ Thu nhập từ nông nghiệp

+ Thu nhập từ phi nông nghiệp

+ Bình quân thu nhập/ người/ năm

(nghìn đồng/người/năm)

+ Bình quân thu nhập/ hộ/ năm

(nghìn đồng/ hộ/năm)

24

Phần 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đặc điểm địa bàn xã Xuân Nội – huyện Trùng Khánh

4.1.1. Điều kiện tự nhiên

a. Vị trí địa lí

Xã Xuân Nội có tổng diện tích tự nhiên là 2.939,04 ha là một vùng núi

hiểm trở (vùng cao núi đất), nằm ở phía Tây của huyện Trùng Khánh, có địa

giới hành chính tiếp giáp:

- Phía Bắc giáp xã Tri Phương và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

- Phía Nam giáp huyện Quảng Hòa.

- Phía Đông giáp xã Quang Trung và xã Trung Phúc.

- Phía Tây giáp Thị Trấn Trà Lĩnh và xã Cao Chương.

Địa hình của xã khá phức tạp, chủ yếu là đồi núi, có thể chia thành hai

tiểu vùng rõ rệt. Vùng thấp có địa hình lòng máng, chạy dọc xã theo hướng

Tây Bắc - Đông Nam. Đây là khu canh tác chính của xã, địa hình tương đối

bằng phẳng. Vùng đồi núi cao có độ cao trung bình 600 - 700m so với mặt

nước biển, độ dốc trung bình 250 - 400 xen kẽ là các thung lũng nhỏ hẹp.

b. Đất đại, địa hình

Địa hình của xã khá phức tạp, chủ yếu là đồi núi, có thể chia thành hai

tiểu vùng rõ rệt. Vùng thấp có địa hình lòng máng, chạy dọc xã theo hướng

Tây Bắc - Đông Nam. Đây là khu canh tác chính của xã, địa hình tương đối

bằng phẳng. Vùng đồi núi cao có độ cao trung bình 600 - 700m so với mặt

nước biển.

Khi tìm hiểu về hiện trạng sử dụng đất của xã Xuân Nội, tôi có được số

liệu thể hiện qua (bảng 4.1).

25

Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Xuân Nội

Tổng diện tích Tỷ lê STT Hạng mục (ha) (%)

Tổng diện tích đất tự nhiên 2.939,04 100

Đất nông nghiệp 1. 2.759,53 93,89

1.1. Đất sản xuất nông nghiệp 366,00 12,45

1.2 Đất lâm nghiệp 2.392,65 81,41

1.3 Đất nuôi trồng hải sản 0,89 0,03

1.4 Đất nông nghiệp khác 0 0,00

2 Đất phi nông nghiệp 95,34 3,24

2.1 Đất ở 12,53 0,43

2.2 Đất chuyên dùng 67,42 2,29

2.3 Đất tôn giao, tín ngưỡng 0,07 0,07

2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 3,16 0,11

2.5 Đất song, ngòi, kênh, rạch 11,9 0,41

2.6 Đất mặt nước chuyên dùng 0,15 0,01

2.7 Đất phi nông nghiệp khác 0 0,00

3 Đất chưa sử dụng 84,16 2,86

3.1 Đất bằng chưa sử dụng 73,75 2,51

3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng 10,42 0,35

3.3 Đất núi đá không có rừng cây 0 0,00

(Nguồn: UBND xã Xuân Nội)

Quan sát số liệu trên bảng 4.1 cho thấy tổng diện tích đất tự nhiên của xã

là 2.939,04 ha. Trong đó đất sử dụng trong nông nghiệp là cao nhất 2.759,53

ha (93,89%) và thấp nhất là đất phi nông nghiệp 95,34 ha chiếm (3,24%). Đất

dùng trong nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa, hoa màu... Từ phân tích trên

chứng tỏ rằng đất tự nhiên tại xã chưa được sử dụng hết, đất trồng còn nhiều

tiềm năng để mở rộng diện tích trồng mới và thâm canh đối với nhiều cây

26

trồng. Do đó cần có hướng sử dụng đất hợp lý có lợi nhất để phát triển sản xuất

nông nghiệp. Hiện nay, chính sách giao đất, giao rừng lâu dài tới từng hộ nông

dân đã tạo điều kiện thâm canh các loại cây trồng có hiệu quả sản xuất cao.

4.1.2. Điều kiện Kinh tế – Xã hội

Xã Xuân Nội là xã vùng cao biên giới, cách trung tâm thị trấn Hùng

Quốc (cũ) 8 km theo tỉnh lộ 211, Hiện nay trên địa bàn xã có 8 xóm hành

chính. Có 394 hộ sinh sống với 1.554 nhân khẩu, có 2 dân tộc Tày, Nùng cùng

sinh sống. Trong đó dân tộc tày chiếm 65%, dân tộc Nùng chiếm 35%, Mỗi

dân tộc giữ nét nét đặc trưng riêng trong đời sống văn hóa, hòa nhập làm

phong phú đa dạng bản sắc văn hóa dân tộc.

Nông nghiệp là ngành sản xuất chính của xã. Trong nông nghiệp lúa,

ngô là các sản phẩm chủ yếu, ngoài ra còn có đỗ tương, lạc, khoai tây, rau các

loại,... Chăn nuôi chủ yếu quy mô nhỏ và phân tán, với các loại gia súc, gia

cầm như: trâu, bò, ngựa, dê, lợn, gà, vịt,... sản phẩm chủ yếu là tự cung, tự cấp.

Thực trạng cơ sở hạ tầng:

- Trụ sở UBND xã, trạm Y tế đã được xây mới khang trang.

- Hệ thống giao thông: xã Xuân Nội có Tỉnh lộ 211 chạy qua. Tuyến

đường từ xóm Lũng Tung (xã Xuân Nội) đến xóm Đông Căm (xã Tri Phương)

đã được nâng cấp, mở rộng.

- Hệ thống thủy lợi: Do đặc thù là xã vùng cao, chủ yếu là núi đá vôi nên

ảnh hưởng không nhỏ đến nước sinh hoạt và tưới tiêu của nhân dân địa phương

trong mùa khô.

4.1.2.1. Trồng trọt

- Diện tích cây trồng được trồng nhiều nhất là cây Ngô rẫy với 213ha,

cây lúa 172ha, tiếp đó là cây đỗ tương 38ha. Trồng ít nhất là cây lạc 3,0ha và

khoai tây là 2,6ha.Tổng diện tích cây trồng của xã là 426,0 (ha).

- Lúa mùa gieo trồng 172ha, năng suất đạt 48,84 tạ/ha đạt 100%, sản

lượng lúa mùa đạt 840,048 tấn.

27

- Ngô rẫy gieo trồng được 207ha, năng suất đạt 42,3tạ/ha, sản lượng đạt

844,545 tấn.

- Đỗ tương diện tích gieo trồng 38,0ha năng suất đạt 8,35 tạ/ha, sản

lượng đạt 31,73 tấn.

Bảng 4.2: Tình hình sản xuất một số cây trồng chính

của xã Xuân Nội năm 2019

STT Cây trồng Năng suất Diện tích (tạ/ha) (ha) Sản lượng (tấn)

Lúa Mùa 172,0 48,84 840,048 1

Ngô Rẫy 213,0 39,65 844,545 2

Đỗ tương 38,0 8,35 31,73 3

Lạc 3,0 16,5 4,95 4

5 Tổng 426,0 113,34 1.721,273

(Nguồn: UBND xã Xuân Nội, năm 2019)

Thực hiện các chương trình, dự án nông, lâm nghiệp.

Vận động bà con thực hiện tốt công tác chăm sóc và theo dõi dịch bệnh

trên các loại cây trồng.

Chỉ đạo bà con, nhân dân trồng rau mùa vụ đông.

4.1.2.2. Chăn nuôi

Trong năm 2019 tổng số trâu, bò chết 3 con, ngựa chết 02 con do bị cảm

mạo, tổng đàn lợn chết 171 con do dịch tả lợn châu phi (đã được nhà nước hỗ trợ

trên 139 triệu đồng); Các loại vật nuôi khác phát triển bình thường.

Bảng 4.3: Thống kê vật nuôi chính của xã Xuân Nội giai đoạn 2017-2019

Đàn trâu Đàn bò Đàn lợn Đàn gia cầm

Năm (con) (con) (con) (con)

Năm 2107 596 453 1.657 6.465

Năm 2018 526 416 961 8.136

Năm 2019 543 446 678 11.757

(Nguồn: UBND xã Xuân Nội, năm 2019)

28

Kết quả thống kê chăn nuôi của xã Xuân Nội cho thấy: Đàn trâu, bò của

xã Xuân Nội giai đoạn 2017 - 2019 không có sự thay đổi quả lớn vì chủ yếu

người dân chăn nuôi mục đích là để phục vụ sản xuất nông nghiệp là chính.

Bên cạnh đó, ta thấy được rằng đàn lợn của xã giảm mạnh qua từng năm do

trong các năm vừa qua người dân chịu ảnh hưởng bởi dịch tả lợn châu phi gây

thiệt hại lớn về số lượng lợn trên địa bán xã. Về gia cầm thì lại có sự tẳng

trưởng rõ rệt qua các năm, số lượng gia cầm tăng đáng kể qua từng năm cho

thấy việc chăn nuôi gia cầm khá thuận lợi.

Do ảnh hưởng thời tiết, ý thức của người dân chưa cao, công tác tiêm

vacxin phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm chưa đạt hiệu quả. Ủy ban

nhân dân xã đã chỉ đạo thực hiện thường xuyên tổ chức tiêm phòng theo định

kỳ, các chỉ tiêu cơ bản đạt theo kế hoạch.

Ủy ban nhân dân xã đã xây dựng kế hoạch và triển khai công tác phòng

chống đói rét cho trâu, bò vụ đông xuân năm 2019: thường xuyên kiểm tra,

đôn đốc nhân dân chuẩn bị thức ăn, che chắn chuồng trại cho gia súc. Triển

khai cho các xóm thực hiện tốt công tác tiêm phòng dịch bệnh cho gia súc, gia

cầm và việc dự trữ thức ăn phòng chống đói rét cho gia súc, gia cầm. Trong

năm 2019 thực hiện tiêm phòng vacsxin THT được 919 con và tiêm vacsxin

LMLM được 908 con. Đã phun thuốc khử trùng 8/8 xóm, thu gom rơm rạ được

8/8 xóm.

c. Lâm nghiệp

Công tác phát triển, khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ rừng được quan

tâm triển khai thực hiện trên toàn xã không có vụ cháy rừng nào xảy ra. Hưởng

ứng cuộc vận động tết trồng cây được 300 cây ăn quả các loại.

* Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân:

Hiện trên địa bàn xã còn một số chỗ còn quản lý rừng chung, nên ý thức

chấp hành và quản lý của nhân dân chưa cao.

Trong năm vẫn xảy ra một số vụ khai thác trái phép cây lâm sản.

29

đ. Thủy lợi, công tác phòng chống bão lụt

Tuyên truyền, vận động nhân dân tu sửa, nạo vét kênh mương thủy lợi

nhỏ đảm bảo tưới tiêu cho sản xuất được hơn 20 km kênh mương nôi đồng.

Công tác phòng, chống thiên tai tìm kiếm cứu nạn; xã xây dựng lịch trực

khi có mưa bão xảy ra. Trong năm do ảnh hưởng cơn bão đã làm đổ cây to đổ

xuống nhà dân, xã đã tổ chức huy động lực lượng dân quân, thanh niên, phụ nữ

và bộ đội biên phòng giúp đỡ gia đình và hỗ trợ gia đình để gia đình an tâm

công việc.

e. Phát triển giao thông nông thôn

Công tác duy tu bảo dưỡng, sửa chữa các tuyến đường liên xóm được

thực hiện thường xuyên. Trong năm 2019 sửa chữa phát dọn các tuyến đường

liên thôn, ngõ xóm được 300 công.

Trong năm xã được phân bổ 1.242.000.000 đồng để hỗ trợ làm đường bê

tông cho các xóm. Xã đã lập dự toán gồm 4 tuyến đường làng ngõ xóm, đường

nội đồng.

- Tuyến đường nội đồng xóm Lũng Noọc.

- Tuyến đường GTNT xóm Bản Mán.

- Tuyến đường GTNT xóm Làn Hoài.

- Tuyến đường bê tông xóm Nà Ngỏn.

g. Các chương trình dự án

Trong năm 2019 xã chú trọng thực hiện các chương trình hỗ trợ cho

người nghèo như chương trình 135 đã được xã thực hiện nghiêm túc với tổng

số tiền 300.000.000đ xã xây dựng kế hoạch theo nhu cầu của hộ nghèo đã đăng

ký lấy cây, con giống.

Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM: Tính đến hiện nay,

xã đã hoàn thành 9 tiêu chí về xây dựng Nông thôn mới gồm: (Tiêu chí 01:

Quy hoạch; Tiêu chí 3: Thủy lợi; Tiêu chí 4: Điện; Tiêu chí 12: Lao động có

việc làm; Tiêu chí 14: Giáo dục và đào tạo; Tiêu chí 15: Trạm y tế; tiêu chí 16:

30

Văn hóa; tiêu chí 18: Hệ thống cính trị và tiếp cận pháp luật; Tiêu chí 19:

Quốc phòng - an ninh). Trong năm 2019 UBND xã đã đăng ký thực hiện 2 tiêu

chí: tiêu chí số 13: hình thức tổ chức sản xuất; tiêu chí số 8: Thông tin và

truyền thông. UBND xã đã ban hành kế hoạch số 07/KH- UBND ngày

22/01/2019 kế hoạch thực hiện tiêu chí số 13: tổ chức sản xuất; kế hoạch số

08/KH- UBND ngày 22/01/2019 kế hoạch thực hiện tiêu chí số 8 Thông tin và

truyền thông. Đến nay tiêu chí số 8: Thông tin và truyền thông.Theo yêu cầu

hiện nay đã thực hiện được 75% (xã có điểm phục vụ bưu chính; có dịch vụ

viễn thông, internet; có ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý,

điều hành; chưa có đài truyền thanh và hệ thống loa đài đến các xóm do chưa

có kinh phí để thực hiện); tiêu chí số 13: tổ chức sản xuất đã được tuyên

truyền, chỉ đạo triển khai thực hiện, tuy nhiên hiện nay xã Xuân Nội đường xã

đi lại còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao, kinh tế chưa phát

triển muốn thành lập hợp tác xã phải có nguồn kinh phí đảm bảo đáp ứng cho

hợp tác xã duy trì và phát triển bền vững. Do đó nhân dân lo ngại chưa muốn

thành lập Hợp tác xã (theo yêu cầu tiêu chí Hợp tác xã phải kinh doanh có lãi

liên tục trong 2 năm tài chính gần nhất, hàng năm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế)

nên tiêu chí hợp tác xã chưa thực hiện được theo kế hoạch.

h. Tài nguyên và môi trường

Ủy ban nhân dân xã đã tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận

động nhân dân chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của nhà nước, công

tác hiến đất để đầu tư xây dựng các công trình như đường GTNT, mương thủy

lợi…

Luôn thực hiện công tác giữ gìn vệ sinh môi trường, tổng vệ sinh xung

quanh nơi làm việc, tổ chức thực hiện hưởng ứng ngày môi trường thế giới.

Tuyên truyền vận động nhân dân và các đơn vị đóng trên địa bàn sử

dụng bền vững nguồn nước, tham gia duy tu bảo dưỡng các công trình cấp

nước, vệ sinh môi trường.

31

i. Tài chính - kế toán

Tổng thu ngân sách tính đến ngày 15 tháng 12 năm 2019 là

5.064.330.648đ/5.123.643003đ đạt 98,84% so với dự toán.

Trong đó: Thu bổ sung cân đối nhân sách cấp trên: 4.998.992.000đ.

Thu ngân sách trên địa bàn: 10.637.352đ/10.610.000đ, đạt 100,25% so với kế

hoạch. Thu chuyển nguồn năm trước sang: 17.783.225đ. Thu kết dư ngân sách

năm trước: 36.918.107đ.

Tổng chi ngân sách tính đến ngày 15 tháng 12 năm 2019 là

4.798.823.143đ/4.949.355.950, đạt 96,95% so với dự toán.

4.1.3. Văn hóa - xã hội

Công tác văn hóa, thông tin thể dục thể thao được tăng cường. Tổ chức

tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao.

Luôn tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đúng quy định việc thực

hiện nếp sống văn minh trong việc cưới việc tang và lễ hội, chỉ thị 24/CT –

TTg của thủ tướng chính phủ về việc thực hiện quy ước, hương ước của xóm

đề ra, chỉ thị 39/CT – TTg của thủ tướng chính phủ về đảy mạnh công tác văn

hóa thông tin đói với đồng bào dân tộc thiểu số.

Phối hợp với các ban ngành đoàn thể cắt dán băng zôn khẩu hiệu được 8

câu kiện toàn ban chỉ đạo phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống

văn hóa". Tổ chức tuyên truyền cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời

sống văn hóa ở khu dân cư được 8/8 xóm.

Tổ chức ngày hội Đại đoàn kết tại 8/8 xóm trên địa bàn xã.

Tổ chức bình xét danh hiệu gia đình văn hóa tại 8/8 xóm, tổng số hộ đạt

gia đình vă hóa 358/394 hộ = 90,86%, tổng số làng văn hóa đạt 7/8 xóm= 90,90%

Chỉ đạo các trường học trên địa bàn xã không ngừng nâng cao chất

lượng giáo dục, hoàn thành các chỉ tiêu từ đầu năm học, các chỉ tiêu về phổ

cập giáo dục cụ thể như sau;

Hiện nay, trên địa bàn xã có 2 Trường học (trường Mẫu giáo, trường

Tiểu học và THCS); Tổng số học sinh trường Mẫu giáo hiện nay có 61 học

sinh, trường Tiểu học & THCS có 162 học sinh.

32

Năm 2018 – 2019 chỉ đạo nhà trường tuyển sinh theo đúng quy định,

thực hiện đúng chế độ hỗ trợ học sinh theo đúng chủ trương của Chính phủ;

ngày 5 tháng 9 liên trường xã Xuân Nội tổ chức lễ khai giảng năm 2019 –

2020 theo đúng kế hoạch.

Công tác xã hội: Nhận và cấp phát tiền bảo hiểm trợ cấp xã hội thường

xuyên cho đến các đối tượng được hưởng.

4.2. Nguồn lực sinh kế của người dân tại xã Xuân Nội

4.2.1. Thông tin và phân loại hộ điều tra

Hộ gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế quốc

dân, là đơn vị sản xuất và bảo đảm cuộc sống cho tất cả thành viên trong gia

đình, là chủ thể tiêu dùng rất đa dạng của nền kinh tế. Nhưng trước xu thế quốc

tế hóa nền kinh tế đang diễn ra nhanh chóng hiện nay, phải nhận rõ những

thách thức, khó khăn để có thêm những chính sách có tính chất đột phá nhằm

tạo động lực mới thật mạnh mẽ cho kinh tế hộ phát triển. Hộ gia đình được

hiểu là tổ chức kinh tế, nó mang tính chất hành chính và địa lý. Trong thời kỳ

hiện nay, người dân đang chịu tác động của quy luật phân loại, chuyển đổi các

hoạt động lao động nghề nghiệp, mỗi gia đình và cộng đồng đều có hoạt động

kinh tế nhằm thỏa mãn nhu cầu và phúc lợi vật chất cho các thành viên trong

gia đình, hoạt động kinh tế chủ yếu là các hoạt động dựa vào sản xuất nông nghiệp.

Thông qua quá trình chọn mẫu điều tra tại địa bàn nghiên cứu, chọn ra

được tổng số 80 hộ điều tra tại 3 Xóm: Bản Mán, Súm Dưới, Làn Hoài.

Bảng 4.4: Cấu trúc phân loại hộ theo nhóm kinh tế

STT Xóm Nghèo T.Bình Khá Tổng số Cận nghèo

6 1 Bản Mán 10 6 3 25

7 2 Súm Dưới 9 6 3 25

6 3 Làn Hoài 12 8 4 30

4 19 Tổng số 31 20 10 80

(Nguồn: Số liệu điều tra năm, 2019)

33

Qua bảng số liệu ta thấy:

* Xóm có nhiều hộ nghèo nhất là Xóm Làn Hoài với 12 hộ nghèo chiếm

40% trong xóm điều tra, nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do các hộ thiếu

diện tích canh tác và nhân lực lao động, đường xá đi lại khó khăn, tiếp cận

thông tin còn chậm. Có tuyến đường liên xã Xuân Nội – xã Quang trung đi qua

địa bàn xã, tuyến đường đã xuống cấp trầm trọng, đồng thời cách thị trấn Trà

Lĩnh (cũ) 9 km. (theo tỉnh lộ 211 đoạn Trà Lĩnh (cũ) – Trùng Khánh), là điều

kiện về vị trí địa lý, giao thông thuận tiện cho phát triển kinh tế và giao lưu

văn hóa giữa các địa phương khác. Hiện nay, đa số các hộ nông dân trên địa

bàn xã vẫn sản xuất nông nghiệp theo hướng truyền thống nên năng suất đem

lại vẫn chưa cao, kinh tế chưa được cải thiện nên trên địa bàn xã nói chung và

các thôn điều tra nói riêng vẫn tồn tại nhiều hộ nghèo. Hiện nay các lao động

nông nghiệp chủ yếu là người ở độ tuổi trung niên, sản xuất nông nghiệp chủ

yếu để phục vụ cho gia đình nên sản lượng sản xuất ra chỉ đủ để gia đình sử

dụng nên không đem lại hiệu quả kinh tế nhiều. Người lao động trẻ tuổi thì đa

số đi các địa phương khác làm lao động cho các khu công nghiệp nước ngoài

để kiếm thêm thu nhập chứ không còn muốn hoạt động sản xuất nông nghiệp

tại địa phương. Từ đó dẫn đến việc thiếu lao động nên thu nhập từ nông nghiệp

không đáng kể. Cũng có những hộ gia đình đã thoát nghèo nhờ thu nhập từ việc đi học nghề và cải thiện được đáng kể kinh tế của gia đình.

4.2.2. Nguồn vốn con người

Nguồn vốn con người được xem như là một nguồn vốn quan trọng nhất

trong chiến lược phát triển sinh kế, con người là một chủ thể tạo ra các hoạt

động sinh kế. Đồng thời, các thành tố thuộc về con người như: sức khỏe, kiến

thức, kĩ năng, nhận thức đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định và phát

triển chiến lược sinh kế. Sức khỏe – là nguồn lao động là sơ sở nền tảng để con

người thực hiện các hoạt động sinh kế, trình độ học vấn, nhận thức và kĩ năng

là những yếu tố để đưa ra quyền quyết định và lựa chọn phương thức sinh kế

34

phù hợp với khả năng. Hay nói một cách khác là kết quả và hành vi sinh kế của

hộ gia đình tùy thuộc nhiều vào nguồn vốn mà con người sẵn có như: lực

lượng lao động trong gia đình, kĩ năng, kiến thức, nhu cầu và mục đích của

từng cá nhân.

Bảng 4.5: Các thông tin cơ bản về chủ hộ

Bản Mán

Súm Dưới

Làn Hoài

Tổng số

Phân loại hộ

SL

CC

SL

CC

SL

CC

SL

CC

(hộ)

(%)

(hộ)

(%)

(hộ)

(%)

(hộ)

(%)

Tổng số hộ điều tra

25

100

25

100

30

100

80

100

1. Độ tuổi trung bình

37,12

38,28

38,47

37,96

2,00

2,04

2,03

2,02

2. Số lao động

4,04

4,12

4,23

4,13

3. Số nhân khẩu

4. Giới tính

- Nam

23 92,00

22

88,00

25

83,33

70

87,5

- Nữ

2

8,00

3

12,00

5

16,66

10

12,5

5. Dân tộc

- Tày

19 76,00

19

76,00

22

73,33

60 75,00

- Nùng

6 24,00

6

24,00

8

26,66

20 25,00

6.Trình độ văn hóa

- Cấp 1

0 00,00

1

4,00

3,33

2

2,5

1

- Cấp 2

8 32,00

4

16,00

16,66

17 21,25

5

- Cấp 3

17 68,00

20

80,00

21

70,00

61 76,25

7.Theo ngành nghề

- Hộ thuần nông

19 76,00

21

84,00

25

83,33

65 81,25

5

- Hộ hỗn hợp

6 24,00

4

16,00

16,66

15 18,75

0

- Hộ phi nông

0

0,00

0

0,00

0,00

0

0,00

8.Phân loại kinh tế hộ

9

36,00

- Hộ nghèo

10 40,00

12

40,00

31 38,75

6

- Hộ cận nghèo

6 24,00

7

28,00

20,00

19 23,75

8

- Hộ trung bình

6 24,00

6

24,00

26,66

20 25,00

4

- Hộ khá

3 12,00

3

12,00

13,33

10

12,5

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2019)

35

Xét về nguồn lao động, xã Xuân Nội có một lực lượng lao động khá dồi

dào, phần lớn các hộ gia đình đều có từ 4 người trở lên, số người trong độ tuổi

lao động của mỗi hộ gia đình đều có 2 lao động chính trong gia đình còn lại

đều đang trong độ tuổi đi học hoặc người già ngoài tuổi lao động.

Độ tuổi trung bình của người dân tại xã Xuân Nội còn khá trẻ, phần lớn

vẫn trong độ tuổi lao động.

Nhìn chung người dân đều được đi học đến cấp trung học phổ thông tình

độ học vấn cũng không quá thấp tuy nhiên do điều kiền gia đình hoặc do suy

nghĩ chưa phát triển của nhiều người nên sau khi tốt nghiệp phần lớn lại hoạt

động nông nghiệp.

Nguyên nhân chủ yếu là hiện tại dân số trong xã trước đây xuất thân từ

những gia đình thuần nông nhưng đời sống gặp nhiều khó khăn nên không có

điều kiện học hành nâng cao dân trí, tuy nhiên trong những năm trở lại đây, các

bậc cha mẹ đã ý thức được tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ cho con

em mình, họ ý thức được chính trình độ dân trí thấp là nguyên nhân dẫn tới

tình trạng nghèo đói. Vì thế tất cả các gia đình trong xã đều cho con cái mình

đi học, với mục đích nâng cao trình độ cho thế hệ tương lai, tạo nguồn nhân

lực có trình độ có chuyên môn nhằm phục vụ quê hương và đất nước.

Hầu hết người dân tại xã sau khi tốt nghiệp đều đã tham gia vào hoạt

động sinh kế, tuy nhiên công việc chính chỉ dựa vào sản xuất nông nghiệp cho

nên chất lượng cuộc sống chưa được phát triển. Hơn nữa hoạt động sản xuất

nông nghiệp theo hướng truyển thống nên không đạt được hiệu quả cao về

kinh tế. Suy nghĩ còn lạc hậu, một phần không tìm hiểu các phương pháp sản

xuất nông nghiệp tiên tiến để áp dụng vào sản xuất để nâng cao hiệu quả kinh

tế, cải thiện cuộc sống gia đình.

Nguồn vốn con người là yếu tố đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng

một chiến lược sinh kế hiệu quả và phát triển lâu dài. Nguồn vốn này nếu được

trau dồi và chú trọng thì trong tương lai có thể khắc phục được những hạn chế

36

của các yếu tố khác như tài chính, vật chất, tự nhiên, xã hội… Ngược lại một

khi mà nguồn vốn con người không được chú trọng, ngày càng hạn hẹp thì đó

sẽ là bức tường cản trở gây nên khó khăn trong đời sống của người dân.

4.2.3. Nguồn vốn xã hội

Là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà con người đặt ra để

theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ. Chúng bao gồm uy tín của hộ, các mối

quan hệ xã hội của hộ.

Điều tra, nghiên cứu về nguồn lực xã hội giúp chúng ta đưa ra những

nhận xét và đánh giá được về mối quan hệ đối với làng xóm của các hộ gia

đình, mức độ tham gia các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội cũng như mức độ

ảnh hưởng của các nguồn lực xã hội đối với hộ gia đình.

Bảng 4.6. Mức độ tham gia vào các tổ chức đoàn thể, xã hội

của các nhóm hộ điều tra năm 2019

Tổng Phân theo các thôn

Các tổ chức, đoàn thể

SL (hộ) (n=80) Bản Mán Súm Dưới Làn Hoài Tỷ lệ (%)

1. Hội nông dân 65 81,25 22 20 23

2. Hội phụ nữ 60 75 20 18 22

3. Hội người cao tuổi 15 18,75 5 3 7

4. Đoàn thanh niên 20 25 8 5 7

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2019)

Về mức độ tham gia của các tổ chức đoàn thể, xã hội của các nhóm hộ

điều tra năm 2019, ta nhận thấy mức độ tham gia vào các tổ chức đoàn thể, tổ

chức xã hội của các hộ nông dân điều tra khá là cao, điển hình là việc các hộ

nông dân tham gia vào hội nông dân và hội phụ nữ chiếm tỷ trọng cơ cấu cao

nhất lần lượt là 81,25% và 75% trên tổng số 80 hộ nông dân, tiếp đến là Đoàn

thanh niên với tỷ trọng cơ cấu là 25%. Thấp nhất là hội người cao tuổi khi chỉ

chiếm 18,75% trên tổng số 80 hộ nông dân. Sở dĩ hội nông dân và hội phụ nữ

được đông đảo các hộ nông dân tham gia vì đa số các hộ nông dân điều tra đều

37

sản xuất nông nghiệp, nên hội nông dân khá là thu hút các hộ tham gia, còn hội

phụ nữ cũng rất là mạnh trong các hoạt động phong trào, lôi kéo thu hút được

rất nhiều chị em phụ nữ trong các hộ nông dân tham gia. Số lượng tham gia

Đoàn thanh niên tuỳ thuộc vào số lượng thanh niên đang là Đoàn viên của hộ

nông dân nên chỉ chỉ có tỷ lệ cơ cấu là 25%. Hội người cao tuổi chỉ thu hút

được những hộ nông dân có người cao tuổi.

Việc tham gia vào các tổ chức đoàn thể có cơ hội tiếp cận với các cá

nhân, hộ gia đình khác về những hoạt động sinh kế, trao đổi, học hỏi các kinh

nghiệm để từ đó cùng nhau đưa ra những hướng hoạt động sản xuất hiệu quả.

4.2.4. Nguồn vốn tự nhiên

Yếu tố tự nhiên có vai trò rất quan trọng đối với con người trong quá

trình tồn tại và phát triển, đặc biệt là đối với người dân xã Xuân Nội đa số các

hoạt động sinh kế của họ dựa vào nông nghiệp.

Hàng ngày, con người sử dụng nguồn nước, đất, không khí để tồn tại và

các nguồn tài nguyên khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của mình. Mỗi sự biến

đổi của tự nhiên, môi trường đều có mối quan hệ mật thiết và ảnh hưởng trực

tiếp đến hoạt động sinh kế của con người.

Bảng 4.7: Tổng diện tích đất đai và đất canh tác theo xóm và nhóm hộ

1. Tổng diện tích đất đai (m2)

STT

Xóm

Nghèo Cận nghèo

Khá

Bản Mán Súm Dưới Làn Hoài

1 2 3 4

33.500 29.000 40.000 Diện tích bình quân 34.166,7

20.000 23.000 20.000 21.000

Trung bình 13.500 21.000 12.000 20.500 27.000 15.500 22.833,3 13.666,7

Diện tích bình quân 22.000 21.125 25.625 22.916,7

2. Tổng diện tích đất canh tác (m2)

STT

Xóm

Nghèo Cận nghèo

Khá

Bản Mán Súm Dưới Làn Hoài

1 2 3 4

14.200 14.000 17.500 Diện tích bình quân 15.233,3

9.000 11.000 9.000 9.666,66

Trung bình 9.100 6.500 10.000 6.000 8.500 13.500 10.866,7 7.000,0

Diện tích bình quân 9.700 10.250 12.125 10.691,7

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2019)

38

Kết quả cho ta thấy:

Như vậy, nguồn tài nguyên thiên nhiên của xã Xuân Nội rất dồi dào và

phong phú, chính điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sinh kế

của người dân. Tuy nhiên đất canh tác của người dân vẫn còn ít để trồng trọt,

chăn nuôi. Nhìn chung thì nhóm hộ nghèo có diện tích đất canh tác lớn hơn so

với các nhóm hộ còn lại. Tuy nhiên thì do chưa sử dụng triệt để và có biện

pháp canh tác hợp lí nên chưa tận dụng được tối da diện tích đất canh tác, đem

tại hiệu quả chưa cao. Nhóm hộ khá có diện tích đất canh tác ít vì chủ yếu

nhóm hộ này chú trọng hơn về chăn nuôi nên sử dụng một phận diện tích đất

để phục vụ cho chăn nuôi. Còn về nguồn nước thì nước từ các mỏ tự nhiên

chảy quanh năm, lượng mưa cũng khác lớn đủ để phục vụ cho sản xuất và các

hoạt động sinh kế.

Trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên, có thể nói đất đai là một trong

những nguồn tài nguyên quan trọng và thiết yếu, nguồn tài nguyên này mang

lại nhiều lợi ích nếu con người biết cách khai thác và sử dung hợp lí nó một

cách bền vững.

Mặc dù nằm trong huyện trung du miền núi của tỉnh Cao Bằng nhưng

địa thế ban cho người dân xã Xuân Nội một diện tích đất khá màu mỡ và dồi

dào, trong địa bàn xã diện tích đất nông nghiệp chuyên để sản xuất hoa màu và

cây lâm nghiệp dài ngày và cây ngắn ngày chiếm hơn 80% tổng diện tích đất

tự nhiên, điều này mang lại điều kiện thuận lợi cho việc canh tác và lựa chọn

hoạt động sinh kế hiệu quả cao.

Bên cạnh nguồn đất đai thuận lợi trong việc tiếp cận và sử dụng cho hoạt

động sinh kế của người dân, các yếu tố về các nguồn tự nhiên khác cũng như

nguồn nước đều không gặp trở ngại và khó khăn trong tiếp cận. Tất cả người

dân trong xã đều được sử dụng nguồn nước sạch từ mạch nước ngầm. Ngoài

nguồn nước để phục vụ sinh hoạt cho người dân đầy đủ, thì nguồn nước để

phục vụ tưới tiêu cũng như phục vụ cho hoạt động sản xuất đáp ứng được nhu

cầu của bà con. Với nguồn nước ngầm cung cấp đầy đủ quanh năm nên người

39

dân tận dụng nguồn nước ngọt ấy để tưới tiêu phục vụ hoạt động sản xuất, còn

nguồn nước trong các ao, hồ, khe, suối người dân sử dụng vào hoạt động trồng

cây lúa, tưới tiêu trong vườn. Với các điều kiện thuận lợi như vậy, người dân

trong xã đã khai thác tốt nguồn lợi sẵn có từ thiên nhiên.

4.2.5. Nguồn vốn vật chất

Vật chất là một yếu tố thiết yếu trong cuộc sống của chúng ta, nguồn

vốn này bao gồm cơ sở hạ tầng, nhà ở, các công cụ sản xuất…

Bảng 4.8: Một số tài sản của hộ

STT 1 ĐVT Bản Mán Súm Dưới Làn Hoài Tổng số Chiếc 25 30 25 80

2 25 25 30 80 Chiếc

3 4 5 6 Xóm Máy tuốt lúa Máy làm đất (cày, bừa) Máy bơm nước Xe máy Tivi Tủ lạnh 6 20 23 12 10 18 22 14 11 24 25 17 27 62 70 43 Chiếc Chiếc Chiếc Chiếc

(Nguồn: Số liệu điều tra năm, 2019)

Qua bảng trên ta thấy:

Các hộ trong xóm đều có máy làm đất và máy tuốt lúa là 100% điều này

chứng tỏ các hộ đầu tư rất nhiều vào các máy móc thiết bị nhằm nâng cao năng

xuất và lợi nhuận cho các hộ.

Đối với máy bơm nước, có 27 hộ và chiếm 33,75% điều này cho ta biết

rằng các hộ ít tập trung đầu tư vào các máy khác.

Về phương tiện đi lại thì nhìn chung đa số các hộ dân điều có xe máy để

phụ vụ việc đi lại nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số hộ chưa đủ khả năng kinh

tế để mua xe phục vụ việc đi lại cho gia đình. Với cuộc sống ngày càng hiện

đại và phát triển thì người dân ở địa bàn xã cũng đã sắm sửa được thiết bị điện

tử như tivi để theo dõi được các thông tin truyền thông, tin tức hàng ngày. Chỉ

còn một số ít hộ là chưa có Tivi trong gia đình.

40

Qua thông tin thu thập được thì có 43 trên tổng số 80 hộ điều tra có tủ

lạnh cho thấy người dân còn khá khó khăn trong kinh tế để sắm sửa các thiết bị

phục vụ cuộc sống hàng ngày.

Bảng 4.9: Hiện trạng nhà ở của các hộ nghiên cứu

Xóm STT Bản Mán Súm Dưới Làn Hoài Loại nhà

1 2 3 Nhà kiên cố Nhà bán kiên cố Tổng số 23 2 25 22 3 25 26 4 30

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2019)

Qua điều tra ta thấy được chất lượng nhà ở của người dân đã được đảm

bảo. Ở các xóm điều tra đa số các hộ dân đã xây dựng, sửa chữa được nhà ở

kiến cố cho mình. Bên cạnh đó thì vẫn còn một số hộ dân ở nhà sàn đã được

xây dựng đã khá lâu nên chất lượng nhà ở không còn được tốt. Một phần cũng

là do điều kiện kinh tế của các hộ gia đình đó chưa đủ khả năng để xây dựng

hoặc sửa lại nhà ở.

Nguồn vốn vật chất đóng một vai trò rất quan trọng trong hoạt động sinh

kế của người dân. Là những công cụ phục vụ rất lớn cho việc hoạt động sản

xuất đem lại hiệu quả về năng suất làm việc, chất lượng về sản phẩm. Các máy

móc phục vụ sinh hoạt hàng ngày của người dân góp phần nâng cao chất lượng

cuộc sống và các hoạt động sinh kế. Nhà ở là nơi để người dân nghỉ ngơi sau

những hoạt động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày nên chất lượng nhà ở càng tốt

đồng nghĩa với chất lượng cuộc sống người dân ngày càng nâng cao, hoạt đông

sinh kế ngày càng hiệu quả.

4.2.6. Nguồn vốn tài chính

Nguồn vốn tài chính là một nguồn vốn quan trọng trong việc đầu tư các

hoạt động sinh kế tạo nguồn thu nhập. Nguồn vốn tài chính được hiểu là nguồn

tiền mặt được sử dụng trong các hoạt động sản xuất. Như chúng ta đã biết khi

không có các nguồn vốn để làm ăn sinh sống sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tới việc

quyết định và lựa chọn việc làm và nguồn thu nhập. Việc tiếp cận nguồn vốn

tài chính của người dân xã Xuân Nội từ nhiều yếu tố cả khách quan lẫn chủ

41

quan tác động. Nhưng hầu hết họ chỉ sử dụng sức lao động bằng chân tay để

tạo nguồn thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp. Chỉ có một số ít hộ

trong xã là công chức nhà nước, và buôn bán dịch vụ.

Thông thường, mức tiền mặt thường xuyên là từ các hoạt động sinh kế

tạo ra nguồn thu nhập. Hầu hết người dân có nguồn vốn tích trữ, nhưng không

nhiều, mỗi tháng chỉ tiết kiệm được khoảng 200 – 300 ngàn. Bởi vậy, người

dân không thể có khả năng đầu tư các hoạt động buôn bán, làm ăn lớn được mà

chỉ dựa vào sức lao động của bản thân. Chính nguồn vốn tài chính không dồi

dào cũng là nguyên nhân làm cho cơ hội lựa chọn các hoạt động sinh kế của

người dân trở nên hạn chế.

Có thể nói, tình trạng thiếu vốn không chỉ gặp phải ở người dân xã Xuân

Nội mà hầu hết người dân trong bộ phận hoạt động sản xuất nông nghiệp.

Thiếu vốn làm ăn, con người thiếu đi một phương tiện quan trọng để thực hiện

các hoạt động sinh kế. Đặc biệt khi nguồn vốn tài chính hạn hẹp đi kèm với

nguồn lực con người thiếu và yếu về mặt tri thức là con đường dẫn đến nghèo

đói. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của các ban ngành và các tổ chức can nhà nước

cũng như nước ngoài sẽ tạo nền tảng vững chắc cho người dân xã Xuân Nội

nói riêng và người dân cả nước nói chung góp phần tạo dựng một mô hình sinh

kế bền vững.

Bảng 4.10: Vốn vay chính của người dân

ĐVT: nghìn đồng

STT 1 2 3 3 Phân loại kinh tế hộ Nghèo Cận nghèo Trung bình Khá

Trung bình Số tiền vay vốn 390.000 195.000 175.000 0 190.000

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2019)

Do còn thiếu vốn đầu tư vào hoạt động nông nghiệp nên người dân đã

tham gia vào vay vốn để có tiền đầu tư vào sản xuất như mua phân bón, thuốc

trừ sâu cho cây trồng, thức ăn cho chăn nuôi.... Nhóm hộ nghèo có số tiền vay

42

vốn nhiều nhất. Qua đó ta thấy được sự khó khăn, thiếu vốn trong sản xuất

nông nghiệp, hoạt động chăn nuôi của người dân tại địa bàn xã. Ở nhóm hộ

khá thì người dân đã có được kinh tế ổn định, tự có nguồn vốn riêng để đầu tư

vào sản xuất nên người dân ở nhóm hộ này đã không phải vay vốn từ các

nguồn khác.

Chủ yếu người dân ở địa bàn xã đã vay vốn từ ngân hàng chính sách, tuy

nhiên cần nhiều hơn những chính sách từ nhà nước để đa dạng hơn nguồn vay

cho người dân để người dân có thể vay vốn nhiều hơn để đầu tư vào nông

nghiệp từ đó đem lại hiệu quả tốt nhất trong sản xuất.

4.3. Các hoạt động sinh kế của người dân Xã Xuân Nội, huyện Trùng

Khánh, tỉnh Cao Bằng

4.3.1. Hoạt động sản xuất và thu nhập từ nông nghiệp, phi nông nghiệp

Có thể nói xã Xuân Nội có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành nông

nghiệp, với diện tích đất nông nghiệp chiếm 366,0 (ha) chiếm 12,45% so với

tổng diện tích đất tự nhiên của cả xã. Thêm vào đó hầu hết diện tích đất để

nuôi trồng và canh tác màu mỡ thuận lợi cho việc phát triển các loại cây hoa

màu ngắn ngày. Theo thống kê, năm 2018 cả xã có tổng sản lượng lương thực

là 1.714 tấn. So với mấy năm trước đây tình hình sản xuất nông nghiệp của

người dân tăng lên rõ rệt. Đây là kết quả của sự lựa chọn hoạt động sinh kế

phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng cũng như nhu cầu lương thực, thực

phẩm của xã hội đang ngày càng nâng cao mức sống.Dưới đây là số liệu ve

mức thu nhập bình quân thu nhập về nông nghiệp:

Bảng 4.11: Thu nhập trung bình từ nông nghiệp, phi nông nghiệp

của các nhóm hộ tại xã Xuân Nội

ĐVT: Nghìn đồng/ tháng/ hộ

STT Chỉ tiêu

1 Thu nhập từ trồng trọt 2 Thu nhập từ chăn nuôi 3 Thu nhập từ phi nông nghiệp 4 Bình quân Nghèo Cận nghèo Trung bình Khá 750 769,14 1.273,92 3.225 3.141,6 0 2.372,2 681,02 920,83 1.431,25 700 1.017,36 813,42 1.464,9 0 759,4

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2019)

43

Kết quả điều tra cho thấy:

Nhóm hộ khá có thu nhập từ nông nghiệp và phi nông nghiệp cao nhất

với 2.372,2/hộ cho thấy hoạt động nông nghiệp ở nhóm hộ này tốt hơn trong

các nhóm hộ điều tra tại địa bàn xã. Nhìn chung ở cả 4 nhóm hộ thì hiệu quả

kinh tế cao nhất đem lại cho người dân là từ chăn nuôi. Vật nuôi chính mà

người dân chăn nuôi để đem lại nguồn thu nhập là từ lợn và gia cầm nhưng

quy mô chăn nuôi chưa lớn nên đem lại hiệu quả kinh tế chưa cao. Nguồn thu

nhập từ phi nông nghiệp ở 2 nhóm hộ nghèo và cận nghèo là không có vì ở 2

nhóm hộ này chưa có hoạt động phi nông nghiệp. Còn ở nhóm hộ khá có thu

nhập từ phi nông nghiệp cao nhất trong 4 nhóm hộ cho thấy nhóm hộ này hoạt

động phi nông nghiệp rất tốt. Ở nhóm hộ trung bình đã có hoạt động phi nông

nghiệp tuy nhiên thu nhập đem lại còn thấp vì chỉ có một số ít hộ gia đình có

được thu nhâp lương từ những ngành nghề mà họ đã được học.

Để có thêm thu nhập người dân cần phải cải thiện hình thức hoạt động

nông nghiệp và sản xuất chăn nuôi theo hướng phát triển để đạt được năng suất

tốt hơn, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

4.3.2. Hoạt động nông nghiệp

4.3.2.1. Trồng trọt

Xã Xuân Nội là một xã thuần nông, người dân ở đây chủ yếu hoạt động

sản xuất nông nghiệp để đem lại thương thực và thu nhập cho gia đình. Lúa,

ngô là hai loại cây trồng chính được người dân tại xã tập trung sản xuất, tuy

nhiên do diện tích đất tại địa bàn vẫn còn hạn chế nên người dân chưa mở rộng

được diện tích sản xuất. Những năm trở lại đây chính quyền địa phương

khuyến khích người dân trồng thêm cây các cây trồng khác nhưng vẫn chưa

đem lại được hiệu quả.

44

Bảng 4.12: Số hộ trồng và bình quân diện tích trồng từ các cây trồng

chủ yếu tại xã Xuân Nội

Cây trồng khác (cam, quýt,

Cây trồng

Lúa

Ngô

Đậu đỗ các loại

Rau

mận)

Diện tích

Diện tích

Phân loại

Số hộ

Số hộ

Diện tích bình

Số hộ

Diện tích bình

Số hộ

Số hộ trồng

Diện tích bình

bình quân

bình quân

kinh tế hộ

trồng (hộ)

trồng (hộ)

quân (m2/ hộ)

trồng (hộ)

quân (m2/ hộ)

trồng (hộ)

(hộ)

quân (m2/ hộ)

(m2/ hộ)

(m2/ hộ)

832

Nghèo

31

31

467,7

271

17

100

0

0

19

842

Cận nghèo

19

19

505,3

200

8

100

2

150

12

885

Trung bình

20

20

485

208,3

10

100

5

340

12

960

Khá

10

10

650

200

3

70

9

444,4

3

80

80

527

219,8

38

233,6

Bình quân

879,8

92,5

16

46

(Nguồn: Số liệu điều tra năm, 2019)

45

Lúa và ngô là loại cây trồng được bà con trồng nhiều nhất chiếm tới

100% tổng số hộ được điều tra, chứng tỏ vai trò quan trọng của loại cây này

với người dân nơi đây. Tuy nhiên diện tích trồng còn hạn chế nên người dân

chưa trồng được nhiều loại cây lương thực khác nhau nên cây trồng chính của

người dân tại xã là lúa và ngô. Do thiếu diện tích đất canh tác nên người dân

chỉ trồng các loại đậu đỗ và rau với số lượn nhỏ chỉ nhằm mục đích chủ yếu để

phục vụ cho gia đình và chăn nuôi. Trên địa bàn xã có một số hộ trồng các loại

cây khác (cam, quýt, mận) cũng đem lại được hiệu quả kinh tế nhưng diện tích

đất còn hạn chế nên chưa mở rộng được quy mô trồng.

Bảng 4.13: Tổng thu nhập từ các cây trồng chủ yếu tại xã Xuân Nội

theo nhóm hộ

ĐVT: Nghìn đồng/ tháng/ hộ

Lúa Ngô Tổng Rau Đậu, dỗ các loại Bình quân Phân loại kinh tế hộ Cây trồng khác (cam, quýt, mận)

Nghèo 13.000 7.875 2.191,67 0 23.843,34 769,14 776,6 7

7.916,67 5.205 1.666,67 375 291,67 15.455 813,42

9.541,67 6.000 916,67 375 1.583,3 18.416,64 920,83

Cận nghèo Trung bình Khá 3.041,67 1.875 333,3 83,3 2.166,67 7.499,94 750

(Nguồn: Số liệu điều tra năm, 2019)

Qua số liệu điều tra ta thấy

Tổng thu nhập bình quân cho thấy cây lúa và ngô đem lại thu nhập cao

nhất cho thấy người dân chủ yếu tập trung sản xuất hai cây trồng này để phục

vụ cho việc sử dụng và đem lại nguồn kinh tế cho gia đình. Đậu đỗ và rau cũng

đem lại thu nhập cho người dân nhưng không đáng kể do diện tích trồng còn ít

và chủ yếu sản lượng sản xuất ra để phục vụ cho gia đình sử dụng và chăn nuôi

nên đem lại hiệu quả kinh tế không cao. Các cây trồng khác đem lại thu nhập

46

khá tốt nhưng do trên địa bàn ít hộ trồng và diện tích đất không đủ cho người

dân mở rộng quy mô sản xuất nên các loại cây trồng này chưa được phát triển.

4.3.2.2. Chăn nuôi

Hoạt động chăn nuôi tại xã Xuân Nội là hoạt động đem lại nguồn thu

nhập chính cho người dân. Vật nuôi đem lại thu nhập chủ yếu cho người dân

tại xã là lợn và gia cầm. Tuy nhiên những năm trở lại đây dịch bệnh đang là trở

ngại lớn nhất cho người dân trong hoạt động chăn nuôi.

Bảng 4.14: Số lượng vật nuôi chính theo phân loại kinh tế hộ của

xã Xuân Nội

Gia súc

Gia cầm

Vật nuôi

Lợn

(trâu, bò)

(gà, vịt)

Số hộ

Bình quân

Số hộ

Bình quân

Số hộ

Bình quân

Phân loại

nuôi

số vật nuôi

nuôi

số vật nuôi

nuôi

số vật nuôi

kinh tế

(hộ)

(con)

(hộ)

(con)

(hộ)

(con)

Nghèo

31

3,45

31

1,58

31

26,3

Cận nghèo

19

3,8

19

1,73

19

26,3

Trung bình

20

4,05

20

2,05

20

28,25

Khá

10

6,3

10

3

10

27

Trung

80

4,4

80

2,07

80

26,9

bình

(Nguồn: Số liệu điều tra năm, 2019)

Qua bảng trên ta thấy:

Người dân xã Xuân Nội chủ yếu chăn nuôi chăn nuôi 3 loại vật nuôi

chính là lơn, gia súc (trâu bò) và gia cầm. Trong 80 hộ điều tra chưa có hộ nào

nuôi với số lượng lớn để làm trang trại có giá trị cao về kinh tế. Nguyên nhân

của tình trạng này theo người dân là do điều kiện về giao thông đi lại còn khó

khăn, không có vốn đầu tư ban đầu bỏ và sợ rủi ro cao, chính vì vậy mà họ chỉ

dám nuôi nhỏ lẻ.

47

Bảng 4.15: Tổng thu nhập về chăn nuôi theo nhóm hộ

ĐVT: Nghìn đồng/ tháng/hộ

Gia súc Phân loại Gia cầm Lợn (trâu, Tổng Bình quân kinh tế hộ (gà, vịt) bò)

Nghèo 29.375 10.116,67 39.491,67 1.273,92 0

Cận nghèo 19.875 2.250 5.708,3 27.833,3 1.464,9

Trung bình 21.708,3 6.916,67 28.625 1.431,25 0

Khá 21.916,3 7.250 3.083,3 32.249,6 3.225

(Nguồn: Số liệu điều tra năm, 2019)

Theo số liệu điều tra cho thấy:

Các nhóm hộ có thu nhập cao nhất từ việc chăn nuôi lợn. Tuy nhiên

những năm vừa qua xuất hiện dịch bệnh tả lợn châu phi làm thiệt hại về đàn

lợn của người dân trên địa bàn xã cho nên người dân chỉ dám nuôi số lượng ít

để tránh thiệt hại cho gia đình. Về việc chăn nuôi gia xúc thì người dân chủ

yếu chăn nuôi để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nên thu nhập từ gia xúc

đem lại là rất ít. Người dân chỉ bán trâu, bò khi chúng đã già không phục vụ

được cho việc cày bừa hoặc chỉ bán khi thật sự cần về kinh tế. Gia cầm được

người dân vừa nuôi vừa đem làm thịt phục vụ cho gia đình nên thu nhập đem

lại từ việc chăn nuôi gia cầm cũng chưa được cao. Cũng một phần có nhiều

dịch bệnh nên người dân e ngại việc nuôi gia cầm theo đàn lớn vì sợ rủi ra xảy

ra gây thiệt hại về kinh tế.

4.3.3. Hoạt động phi nông nghiệp

Hoạt động sản xuất phi nông nghiệp như: Dịch vụ, buôn bán, làm

thuê....các hoạt động khác. Thường thì những vùng mức sống của người dân

cao thì các hoạt động phi nông nghiệp phát triển mạnh hơn. Riêng với địa bàn

xã Xuân Nội thì chủ yếu người dân kiếm sống bằng hoạt động nông nghiệp,

48

các hoạt động phi nông nghiệp vẫn còn rất hạn chế. Trên địa bàn xã điều tra thì

không có chợ, người dân chỉ đi chợ giao lưu hàng hóa ở chợ phiên trên thị trấn.

Vì vậy, với mục đích phục vụ nhu cầu của người dân trên địa bàn xã về các

dịch vụ sử dụng lĩnh vực sinh hoạt hàng ngày. Tại địa bàn xã cũng có các hộ

buôn bán nhỏ lẻ các mặt hàng tạp hóa nhưng quy mô còn nhỏ lẻ, manh mún,

chỉ cung ứng đủ nhu cầu một số ít người dân trên địa bàn. Ngoài thời gian làm

nông nghiệp các hộ còn đi làm ngành nghề khác để kiếm sống như: đi làm

thuê, phụ vữa....

Bảng 4.16. Tổng thu nhập từ phi nông nghiệp nhóm hộ

ĐVT: Nghìn đồng/ tháng/ hộ

STT Dệt may Tổng Bình quân Phân loại hộ kinh tế Sửa chữa máy móc

1 Trung bình 8.500 5.500 14.000 700

2 Khá 22.083 9.333 31.416 3.141,6

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2019)

Qua số liệu điều tra ta thấy thu nhập bình quân từ phi nông nghiệp chủ

yếu là từ 2 ngành nghề sửa chữa máy móc và dệt may, cho thấy hoạt động phi

nông nghiệp ở xã còn rất hạn chế. Hai nhóm hộ nghèo và cận nghèo không có

hoạt động phi nông nghiệp, họ chỉ chủ yếu hoạt động nông nghiệp để đem lại

thu nhập chính. Trên địa bàn xã có hai nhóm hộ khá và trung bình có hoạt

động phi nông nghiệp tuy nhiên thu nhập đem lại còn chưa cao. Các hoạt dộng

phi nông nghiệp ở xã còn ít một phần do người dân đã quen với việc chỉ hoạt

động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nên có rất ít hộ dân tham gia vào các

ngành nghề sản xuất phi nông nghiệp để đem lại thu nhập cho gia đình.

49

4.4. Khó khăn trong phát triển sinh kế và định hướng sinh kế cho người

dân xã Xuân Nội

Các hoạt động sinh kế của người dân ở xã Xuân Nội đem lại thu nhập,

cải thiện đời sống, tuy nhiên trong hoạt động sinh kế của người dân vẫn còn

nhiều khó khăn và chưa đem lại hiệu quả cao. Từ những khó khăn mà người

dân mắc phải chính quyền địa phương đã đưa ra những định hướng nhằm cải

thiện tốt nhất hoạt động sinh kế cho người dân.

Bảng 4.17: Khó khăn trong sinh kế của các nhóm hộ

Phân loại STT Khó khăn trong sinh kế kinh tế hộ

- Thiếu vốn đầu tư vào trồng trọt, chăn nuôi.

- Dịch bệnh ảnh hưởng tới cây trồng vật nuôi.

- Thiếu diện tích canh tác để mở rộng quy mô trồng trọt, 1 Nghèo chăn nuôi.

- Kĩ thuật canh tác chưa cao.

- Thiếu vốn đầu tư vào trồng trọt, chăn nuôi.

- Dịch bệnh ảnh hưởng đến cây trồng vật nuôi.

2 Cận nghèo - Thiếu diện tích đất canh tác.

- Kĩ thuật canh tác chưa cao.

- Thiếu vốn đầu tư vào sản xuất nông nghiệp.

- Thiếu diện tích đất cạnh tác. 3 Trung bình

- Dịch bệnh ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi.

- Thiếu diện tích để mở rộng quy mô sản xuất.

4 Khá - Dịch bệnh ảnh hưởng đến trồng trọt, chăn nuôi.

(Nguồn: Phiếu điều tra nông hộ 2019)

50

Qua bảng trên ta thấy:

Vấn đề dịch bệnh và thiếu diện tích đất canh tác đang là khó khăn chung

mà các hộ dân trên địa bàn xã đang gặp phải trong việc phát triển sinh kế.

Những năm trở lại đây có rất nhiều dịch bệnh đang đang xảy ra cho cả cây

trồng và vật nuôi của người dân gây ảnh hưởng rất lớn đến việc sản xuất chăn

nuôi và trồng trọt. Dịch bệnh diễn biến phức tại khiến chính quyền địa phương

chưa có biện pháp triệt để để phòng ngừa dịch bệnh. Người dân lo ngại rủi ro

xảy ra nên những năm qua không dám mở rộng quy mô chăn nuôi và trồng trọt

nên năng suất và lợi nhuận đem lại chưa đạt được mức tốt nhất. Về diện dích

đất canh tác của người dân trên địa bàn xã vẫn còn ít, chưa có đủ diện tích đất

cho người dân đa dạng các loại cây trồng để phát triển kinh tế. Cũng do một

phần người dân sử dụng đất chưa hợp lí dẫn đến việc lãng phí diện tích đất.

Ở các nhóm hộ nghèo, cận nghèo và trung bình thì người dân vẫn đang

thiếu vốn để đầu tư vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Do điều kiện kinh

tế của hộ còn khó khăn nên chưa có nhiều vốn đề đầu tư vào trồng trọt chăn

nuôi dẫn đến sản lượng và năng suất đạt được chưa cao. Cần nhiều hơn những

chính sách vay vốn từ nhà nước để người dân có nguồn vốn để đầu tư vào các

hoạt động nông nghiệp từ đó phát triển kinh tế hộ.

Kĩ thuật canh tác cũng là vấn đề người dân trên địa bàn xã Xuân Nội vẫn

mắc phải. Việc người dân trên địa bàn xã đa phần vẫn hoạt động sản xuất nông

nghiệp theo hướng truyền thống, lạc hậu dẫn đến chất lượng cây trồng chưa được

tốt sản lượng thu về vẫn hiệu quả. Chính quyền địa phương cần tuyên truyền,

hướng dẫn người dân những kĩ thuật canh tác mới và hiệu quả hơn.

51

Bảng 4.18: Định hướng sinh kế cho các nhóm hộ trong 3 năm tiếp theo

STT Định hướng sinh kế trong 3 năm tới Phân loại kinh tế hộ

1 Nghèo

2 Cận nghèo

3 Trung bình

4 Khá

- Tập trung vào sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, tìm hiều tiếp thu những kiến thức, kĩ thuất mới để áp dụng vào hoạt động sản xuất. - Sử dụng tối đa hợp lí diện tích đất canh tác. Có thể áp dụng những biện pháp trồng trọt xen canh giữa các loại cây trồng để đa dạng hơn các loại cây trồng hơn trên một diện tích đất. - Tìm hiểu và tiếp cận với các nguồn vay vốn của địa phương và nhà nước để có vốn đầu tư vào hoạt động nông nghiệp để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho gia đình. - Học hỏi các biện pháp phòng và đối phó với dịch bệnh để giảm thiểu tối đa tổn thất. - Phát triển hơn những cây trồng có tiền năng, đem lại hiệu qủa kinh tế cao như các cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày. - Tiếp cận với những việc làm như sửa chữa xe máy, dệt may đã có tại địa phương để dang dạng hoá nguồn thu nhập. - Mở rộng quy mô chăn nuôi, trồng trọt để đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn nữa. - Tìm hiểu và học cách phòng ngừa dịch bệnh gây ra cho vật nuôi và cây trồng để ứng phó với rủi ro xảy ra. - Phát triển và mở rộng diện tích trồng cây ăn quả để đem lại hiệu quả kinh tế tốt hơn. - Chú trọng đầu tư vào chăn nuôi, trồng tọt từ đó đem lại năng suất, sản lượng tốt nhất. - Chia sẽ kinh nghiệm sản xuất cho các hộ gia đình khác đê cùng phát triển kinh tế.

(Nguồn: Phiếu điều tra nông hộ 2019)

52

4.5. Nhận xét chung về sinh kế của người dân tại xã Xuân Nội

Qua quá trình thu thập thông tin và điều tra ta thấy được thu nhập của

người dân tại xã Xuân Nội chủ yếu từ hoat động sản xuất nông nghiệp. Một số

hộ dân có thu nhập từ ngành nghề đã được đào tạo tuy nhiên thu nhập vẫn

chưa cao vì chủ yếu vẫn chỉ tập chung sản xuất nông nghiệp. Trên địa bàn xã

không có hộ dân nào hoàn toàn bỏ sản xuất nông nghiệp để sản xuất phi nông,

lí do là vì người dân được tiếp cận với bên ngoài chưa nhiều, chưa có những

ngành nghề khác thay thế được thu nhập từ nông nghiệp tạo ra và người dân

trên địa bàn xã có truyền thống sản xuất nông nghiệp từ lâu đời nên người

không có người dân nào bỏ hoạt động sản xuất nông nghiệp để theo hướng sản

xuất phi nông. Cần có nhiều hơn nữa hoạt động sinh kế cho người dân tại xã để

cải thiện hơn cuộc sống cho người dân.

Ở địa phương chưa có nhiều ngành nghê đa đạng để người dân có thể

vừa hoạt động sản xuất nông nghiệp vừa có thể làm nghề khác đê kiếm thêm

thu nhập cho gia đình nên số tiền thu nhập từ nghiệp nghiệp còn khá thấp dẫn

đến việc trên địa bàn xã còn tồn tại khá nhiều hộ nghèo và cận nghèo. Thu

nhập còn khá thấp nên vốn để người dân đầu tư vào phát triển nông nghiệp là

chưa cao dẫn đến hiệu quả, năng suất cây trồng vật nuôi chưa cao, cũng do một

phần kinh nghiệm của người dân chưa cao và xuất hiện nhiều bệnh dịch cho cả

vật nuôi và cây trồng gây khó khăn trở ngại rất lớn cho người dân.

Ở địa bàn xã vẫn đề thiếu diện tích đất canh tác vẫn là một khó khăn của

người dân. Việc sử dụng dất canh tác chưa hợp lí khiến cho việc sản xuất của

các hộ gia đình chưa đạt được hiệu quả tốt nhất. Người dân cần sử dụng dất

một cách triệt để và hợp lí, có thể tìm hiểu các hình thức xen canh để tận dụng

tối đa diện tích đất từ đó đem lại hiệu qủa, năng suất cao hơn. Sử dụng và phát

triển hơn nữa các thế mạnh từ tự nhiên của địa phương để phát triển đời sống

cũng như kinh tế.

53

Nhìn chung độ tuổi trung bình của người dân tại xã là khá trẻ tuy nhiên

phần lớn lại chỉ chọn hoạt động sản xuất nông nghiệp dẫn đến việc chất lượng

cuộc sống chưa được cao. Cần tìm hiểu thêm những việc làm có thể kiếm thêm

thu nhập cho bản thân và gia đình. Chính quyền cần quan tâm và thúc đẩy

người dân tham gia vào nhiều hơn những chương trình tìm kiếm cơ hội việc

làm, phát triển kĩ năng bản thân.... Cá nhân người dân cần trau dồi cho mình

những kiến thức về sản xuất chăn nuôi để từ đó ngày một phát triển kỉnh tế cho

gia đình, địa phương.

Về cơ sở hạ tầng của địa phương đã và đang được xây dựng ngày một

tốt hơn để phục vụ cho đời sống nhân dân. Xã đã sửa và làm mới các đường

làng lối xóm để thuận tiện cho việc đi lại của người dân, các hệ thống thuỷ lợi

dẫn nước cho sinh hoạt gia đình cũng như sản xuất nông nghiệp đã được đảm

bảo. Nhà ở của người dân hầu hết đã được xây dựng, sửa chữa kiên cố đảm

bảo an toàn cho người dân.

Việc các hộ nông dân trên địa bàn xã tham gia rất tích cực vào các tỏ chức

xã hội như hội nông dân, hội phụ nữ,…đã có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động

sinh kế của người dân. Các tổ chức xã hội giúp cho các hộ nông dân gắn kết với

nhau hơn, đồng thời giúp các hộ có thể học hỏi kinh nghiệm, mô hình sinh kế của

nhau để cùng phát triển. Các tổ chức xã hội sẵn sàng cho các hộ nông dân vay

vốn để mở rộng quy mô sản xuất khi cần thiết và cùng nhau phát triển mô hình

sinh kế phù hợp rất lớn mạnh. Điều trên cho ta thấy vài trò của các tổ chức xã hội

có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sinh kế của các hộ nông dân.

Nhìn chung về tình hình kinh tế của người dân trên địa bàn xã còn khó

khăn, người dân còn thiếu vốn để đầu tư vào sản xuất. Cần nhiều hơn những

chương trình hỗ trợ người dân vay vốn để người dân có vốn đầu tư vào hoạt

động sản xuất nông nghiệp để đem lại năng suất, hiệu quả kinh tế tôt hơn.

54

4.6. Các giải pháp phát triển sinh kế bền vững, nâng cao đời sống vật chất

cho người dân xã Xuân Nội

4.6.1. Quan điểm định hướng chiến lược sinh kế bền vững

Hướng tới một chiến lược sinh kế bền vững là điều thường xuyên được

nhắc đến trên các diễn đàn hội nghị quốc tế cũng như ở các hội nghị mang tầm

quốc gia, đối tượng đặc biệt ở đây là những người có hoàn cảnh đặc biệt khó

khăn, xây dựng một mô hình sinh kế bền vững nhằm hướng tới một sự phát

triển bền vững cho con người. Phát triển không đơn thuần là phát triển kinh tế

mà song song với nó là tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Ngày nay, khi con

người đang gánh chịu những hậu quả của các cuộc thảm họa của thiên nhiên,

các cuộc khủng hoảng kinh tế thì phát triển bền vững là một mục tiêu quan

trọng, việc phát triển mô hình sinh kế bền vững cũng là một phương thức trong

chiến lược xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống, chất lượng cuộc sống của

con người, đây là một hương tiếp cận mới trong phát triển nông thôn và xóa

đói giảm nghèo. Tiếp cận này nhằm mục đích phê phán quan điểm hiện đại hóa

trong lí thuyết phát triển và đặt con người trong vị trí trung tâm, hướng về cộng

đồng với sự phát triển bền vững thỏa mãn ở hiện tại và đáp ứng nhu cầu trong

tương lai.

Chiến lược sinh kế được xem như là những quyết định trong việc lựa

chọn, kết hợp và quản lý các nguồn vốn sinh kế của con người nhằm để kiếm

sống. Kết quả sinh kế con người hướng tới được thể hiện qua các yếu tố:

* Sự hưng thịnh hơn: bao gồm sự gia tăng về mức thu nhập, cơ hội việc

làm và nguồn vốn tài chính nâng cao.

* Đời sống được nâng cao: ngoài tiền và những thứ mua được bằng tiền,

mức sống còn được đánh giá bằng các giá trị của những hàng hóa phi vật chất

khác, mức độ đánh giá còn được thể hiện trên phương diện giáo dục, y tế, khả

năng sử dụng các dịch vụ xã hội của hộ gia đình.

55

* Khả năng tổn thương được giảm: người nghèo luôn phải sống trong

trạng thái dễ bị tổn thương. Bởi vây, sự ưu tiên của họ là tập trung cho việc bảo

vệ gia đình mình thoát khỏi những mối hiểm họa tiềm ẩn, thay vì phát triển

những cơ hội của mình. Việc giảm tổn thương nằm trong sự ổn định giá cả thị

trường, khả năng kiểm soát dịch bệnh, khả năng chống chọi với thiên tai.

* An ninh lương thực được củng cố: An ninh lương thực là một vấn đề

cốt lõi trong phát triển con người, tránh sự tổn thương và nghèo đói. Việc tăng

cường an ninh lương thực có thể được thực hiện nhiều cách như tăng khả năng

tiếp cận nguồn tài nguyên đất, tăng nguồn thu nhập của người dân...vv

* Sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên: việc phát triển cần đi đôi

với tái tạo và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, tránh sự ô nhiễm môi trường.

Những chỉ tiêu trên đây là những mong muốn về một kết quả con người

cần đạt được, đồng thời cũng biểu hiện của một sinh kế bền vững. Một sinh kế

được xem là bền vững khi nó đối phó và phục hồi được những áp lực, cú sốc và

có thể duy trì, nâng cao khả năng về tài chính cũng như cơ sở hạ tầng ở cả hiện tại

và trong tương lai mà không làm tổn hại đến nguồn tài nguyên thiên nhiên.

4.7. Các giải pháp khả thi trong lựa chọn sinh kế bền vững cho người dân

xã Xuân Nội

4.7.1. Giải pháp về phát triển nguồn lực con người

Thay đổi về nhận thức cho người dân tại xã Xuân Nội, cho người dân

thấy được tầm quan trọng của việc học hỏi và tiếp thu thêm kiến thức cho bản

thân để từ đó thay đổi suy nghĩ. Nâng cao trình độ dân trí cho người dân tại địa

phương, đẩy mạnh vấn đề giáo dục các thế hệ sau này. Một khi trình độ của họ

được nâng cao thì họ có cơ hội hơn trong việc lựa chọn cho mình hoạt động

sinh kế phù hợp với sở thích của bản thân đồng thời có nguồn thu nhập và có ý

thức hơn trong cách phân bổ chi tiêu hợp lý, khoa học hơn. Như vậy đời sống

được nâng cao, con người có điều kiện chăm lo cho bản thân cả phát triển toàn

diện cả thể xác lẫn tinh thần.

56

Chính quyền địa phương cũng như người dân giúp đỡ lẫn nhau trong

việc sản xuất. Chính quyền cần chỉ dẫn cho người dân những kĩ thuật canh tác

mới hiệu quả để năng xuất sản lượng cây trồng được tăng cao. Các hộ nông

dân chia sẻ lẫn nhau về kinh nghiệm sản xuất để cùng nhau phát triển.

4.7.2. Giải pháp về chính sách về vốn

Cần đa dạng hóa các loại hình hỗ trợ tín dụng cho người dân; mở rộng

hoạt động tín dụng cho hộ dân nghèo, về số lượng tiền vay, thủ tục và thời hạn

vay, phải gắn chặt với các đoàn thể, chính quyền địa phương và hệ thống

khuyến nông, để đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn của người dân; Hỗ trợ cho những

hộ dân thiếu tư liệu, thiếu đất hoặc không có đất sản xuất bằng vốn vay ưu đãi,

cấp đất sản xuất phù hợp với địa bàn, ngành nghề và điều kiện sản xuất cụ thể.

Điều này góp phần vào củng cố và hỗ trợ nguồn vốn tài chính cho người dân

không đủ năng lực và điều kiện phát triển mô hình sinh kế bền vững.

4.7.3. Giải pháp phòng ngừa các dịch bệnh

Chính quyền địa phương cần đưa ra các giải pháp phòng ngừa và xử lí

triệt để dịch bệnh, tuyền truyền cho người dân các cách thức phương pháp

phòng ngừa và ngăn chặn dịch bệnh để người dân yên tâm hơn khi đầu tư vào

sản xuất và đạt được năng suất cao hơn về sau.

57

Phần 5

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Kết luận

Xã Xuân Nội là một xã vùng cao của huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao

Bằng. với diện tích đất canh tác ít, địa hình đồi núi dốc, xen lẫn với thung lũng

bằng phẳng, đời sống của nhân dân trong xã chủ yếu trông vào sản xuất nông

nghiệp, khí hậu thời tiết thay đổi không lường trước, dịch bệnh hoành hành gây

ảnh hưởng và thiệt hại cho người dân tại xã.

* Về nguồn lực sinh kế

- Nguồn lực con người: đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sinh kế

bởi con người là chủ thể của mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh để tạo ra thu

nhập. Mà xã Xuân Nội có lực lượng lao động khá dồi dào trung bình mỗi hộ

gia đình có 2 lao động chính trở lên, số người trong độ tuổi lao động khá cao,

độ tuổi trung bình của chủ hộ từ 37 đến 38 tuổi. Trình độ học vấn của người

dân tương đối cao, phần lớn người dân được đi học hết bậc trung học. Đó là

một thế mạnh để thực hiện tốt các hoạt động sinh kế. Tuy nhiên khả nhận thức

và sáng tạo của người dân chưa được cao, cho nên vẫn hoạt động sinh kế theo

hướng truyền thống chưa tiếp cận và thực hiện các hoạt động sinh kế mới.

-Nguồn lực xã hội: Mức độ tham gia của người dân vào các tổ chức

đoàn thể là tương đối. Có hơn 70% các hộ nông dân tham gia vào hội nông

dân, và hộ phụ nữ. Bên cạnh đó hội người cao tuổi và đoàn thanh niên có mức

độ tham gia còn thấp vì vậy người dân tại xã cần tham gia nhiều hơn vào các

hoạt động tập thể để từ đó cùng nhau chia sẻ, trao đổi với nhau những hướng

sản xuất hoạt động sinh kế có hiệu quả, đem lại lợi ích lớn hơn cho gia đình và

địa phương.

- Nguồn lực tự nhiên: Diện tích đất tại địa bàn xã bình quân theo xóm và

nhóm hộ là 22.916,7m2, tuy nhiên bình quân diện tích đất canh tác theo xóm và

58

nhóm hộ còn hạn chế 10.691,7m2 nên người dân cần bố trí cây trồng hợp lý và

tận dụng tối đa diện tích đất sản xuất để đem lại hiệu quả cao nhất.

- Nguồn lực vật chất: Về cơ sở hạ tầng ở địa phương đã được cải thiện

đáng kể. Người dân đã có ý thức được việc đầu tư vào các máy móc sản xuất

có 100% số hộ đã đầu tư vào máy móc sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra người

dân cũng đầu tư thêm các máy móc, thiết bị điện tử phục vụ sinh hoạt hằng

ngày để có chất lượng cuộc sống tốt hơn và đem lại hiệu quả sản xuất cao hơn.

Chất lượng nhà ở của người dân đã được đảm bảo an toàn, không còn tình

trạng nhà ở tạm bợ và chất lượng kém.

- Nguồn lực tài chính: Trên địa bàn xã còn rất ít nguồn tài chính hỗ trợ

cho người dân vay vốn để đầu tư vào sản xuất. Chính quyền cần đang dạng

hơn các nguồn vay để người dân có được vốn đầu tư vào sản xuất.

* Về hoạt động sinh kế của người dân tại xã Xuân Nội.

- Hoạt động nông nghiệp: Người dân tại xã những năm gần đây còn gặp

nhiều khó khăn. Diện tích đất còn thiếu khiến cho người dân khó có thể mở rộng

quy mô và phát triển các loại cậy trồng khác. Bên cạnh đó, dịch bệnh trên cả cây

trồng và vật nuôi đang là mối lo ngại lớn nhất của người dân tại địa bàn xã vì nó

gây ảnh hưởng lớn đến sản lượng cây trồng và thiệt hại lớn về vật nuôi.

- Hoạt động phi nông nghiệp: Người dân tại xã Xuân Nội chủ yếu là

hoạt động nông nghiệp nên hoạt động phi nông nghiệp tại xã còn kém phát

triển và rất ít các hộ có hoạt động phi nông nghiệp.

5.2. Kiến nghị

* Đối với nhà nước

Nhà nước cần có quy hoạch, đầu tư phát triển cơ sở hạn tầng, có những

chính sách hỗ trợ và phát triển sinh kế cho người dân, đa dạng nguồn vốn vay

cho người dân đê người dân có thêm vốn đầu tư vào nông nghiệp.

* Đối với chính quyền địa phương

Triển khai các giải pháp về sinh kế cho người dân, tạo điều kiện tốt nhất

cho người nông dân ổn định và phát triển sinh kế. Đồng thời, có chính sách tạo

59

nguồn vốn và tiếp cận dễ dàng cho hộ nông dân để họ đầu tư vào hoạt động

sản xuất kinh doanh, phát triển hoạt động sinh kế.

Mở các lớp tập huấn, tuyên truyền cho người dân về các hoạt động sinh

kế mới, các hướng hoạt động sản xuất hiện đại để người dân học hỏi và thực

hiện, từ đó phát triển sinh kế và sản xuất.

* Đối với người dân:

- Để phát triển sản xuất nâng cao thu nhập thì các hộ phải biết bố trí cây

trồng, vật nuôi hợp lý, đầu tư đúng hướng để đem lại hiệu quả cao nhất. Đối với hộ

nghèo cần tận dụng nguồn vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, nâng dần mức thu lên.

- Hướng tới việc xây dựng sinh kế mang tính bền vững, đào tạo, tập huấn

nâng cao những kỹ năng, phương thức trong hoạt động sản xuất nông nghiệp nói

riêng và các hoạt động sinh kế hộ nói chung. Đồng thời tập trung nâng cao năng

lực cho tầng lớp thanh niên để thay đổi sinh kế trong thời gian gần.

- Cần hướng tới những hình thức tiên tiến hiện nay trong việc sản xuất

nông nghiệp, nên từ bỏ việc sản xuất nông nghiệp theo hướng truyền thống vì

hiệu quả kinh tế đem lại không cao, cuộc sống không được cải thiện.

- Nâng cao dân trí, tham gia vào các hoạt động chia sẻ kiến thức về việc

sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại từ đó áp dụng vào cuộc sống hàng

ngày để ngày càng phát triển hơn về kinh tế.

- Để cải thiện về thu nhập, người dân có thể học các nghành nghề được

đào tạo ở bên ngoài để kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Khi có được thu nhập

từ một nguồn khác thì lúc đó có thêm vốn để đầu tư vào trồng trọt chăn nuôi

đem năng suất cao, cải thiện hơn về kinh tế.

- Học hỏi các kiến thức về việc phòng chống dịch bệnh, thiên tai để chủ

động hơn trong việc xử lí khi gặp khó khăn.

60

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Tài liệu tiếng việt

1. Nguyễn Đức Minh (2011), Đánh giá hoạt động sinh kế của người dân miền

núi thôn 1 - 5, Cẩm Sơn, Anh Sơn, Nghệ An, Báo cáo tốt nghiệp, Đại học

Khoa Học Huế

2. Nông Tuyết Phượng, 2015. Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của

người dân xã Phong Nặm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

3. TTCP, (2015) Quyết định số 59/2015/QĐ – TTg ngày 19/11/2015 về việc

ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020.

4. Dương Văn Sơn và Nguyễn Trường Kháng (2010), giáo trình xã hội học

nông thôn, NXB Quốc Gia, Hà Nội

5. Đào Thế Tuấn, 1997, Kinh tế hộ nông dân, nhà xuất bản Quốc gia

6. Lê Đình Thắng (1993), phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hóa,

NXB nông nghiệp Hà Nội

7. Lê Duy Thường (2014), Đánh giá các hoạt động sinh kế của đồng bào dân

tộc thiểu số tại Huyện Võ Nhai-Tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ, Đại học

Nông Lâm Thái Nguyên

8. Nguyễn Thanh Tùng (2019), Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm

cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân Xã Đông Hà, Huyện Quản Bạ, Tỉnh

Hà Giang, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

9. UBND xã Xuân Nội (2017) “Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế, xã hội”.

10. UBND xã Xuân Nội (2018) "Báo cáo tổng kết tình hinh kinh tế, xã hội".

11. UBND xã Xuân Nội (2019) “Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế, xã hội”.

II. Tài liệu nước ngoài

12. Brundtland, G. (1987). Report of the World Commission on Environment

and Development: Our Common Future. United Nations General Assembly

document A/42/427

61

13. Chamber, R and R. Conway (1992) Sustainable rural livelihooods: practial

concepts for the 21st century IDS Discussion paper No 296

14. ELLIS, F. (2000), Rural Livelihoods and Diversity in Developing

Countries. Oxford: Oxford University Press.

15. Scoones, I., Sustainable Rural Livelihood : A Framework for Analysis,

Working paper 72, UK: Institute of Development Studies.

(http://www.ids.ac.uk/ids/bookshop/wp/wp72.pdf), 1998

PHỤ LỤC 01

PHIẾU ĐIỀU TRA HỘ NÔNG NGHIỆP

Ngày điều tra: .....................................

Thôn/xóm:………………………

Xã:……………………… Huyện: ........................................

I. Thông tin chung về hộ

1. Thông tin chủ hộ

Họ và tên chủ hộ:……………………Giới tính: .......................................

Tuổi: ...........................

Dân tộc:…………………………..

Trình độ học vấn:…………………

2. Thông tin chung hộ gia đình:

- Số nhân khẩu:…………………….

- Số trẻ em đi học: ...........................................

- Số người trong độ tuổi lao động:…………

- Nghề nghiệp chính (thuần nông/hỗn hợp/phi nông):……………….

- Phân loại kinh tế hộ (giàu/khá/TB/cận nghèo/nghèo):..……………

II. Thông tin về lựclượngsảnxuấtvà giá trị sảnxuấtcủahộ

1. Thông tin lực lượng sản xuất

- Số lao động trong nông – nghiệp: ……………….

- Số lao động phi nông nghiệp:……………….

- Số lao động đã được đào tạo nghề:………Ngành nghề đào tạo:………….

2. Thông tin giá trị sản xuất

-Tổng diện tích đất đai: ……………….(m2)

- Đất canh tác: ……………….(m2)

- Gia đình có vay vốn không? (có/không): ……………….

- Số tiền vay vốn:...............

- Nguồn vay: ……………….

3. Cây trồng và giá trị sản xuất

Giá trị sản xuất/năm STT Cây trồng Diện tích (m2) (1000 đ)

Lúa 1

Ngô 2

3 Đậu đỗ các loại

Rau 4

Cây khác (nêu rõ) 5 ……………….

Khó khăn, trở ngại của gia đình trong trồng trọt là gì?

…………………………………………………………………………………

4. Vật nuôi và giá trị sản xuất

Giá trị sản xuất/năm STT Vật nuôi chính Số lượng (1000 đ)

Lợn 1

2 Gia xúc (trâu, bò)

3 Gia cầm (gà, vịt)

Vật nuôi khác 4 (nêu rõ) …………

Khó khăn, trở ngại của gia đình trong chăn nuôi là gì?

………………………………………………………………………………..

5. Máy móc, thiết bị sản xuất nông nghiệp và một số tài sản của hộ

Tình trạng sử dụng Loại máy móc, Số lượng (chiếc) STT (tốt/không tốt) thiết bị

1 Máy làm đất (cày/bừa)

2 Máy tuốt lúa

Máy khác 3 (nêu rõ)…………….

4 Xe máy

Tivi 5

Tủ lạnh 6

- Tình trạng nhà ở hiện tại (kiên cố/bán kiên cố):..........

III. Thu nhập của hộ

1. Thu nhập

STT Nguồn thu Số tiền (triệu đồng)

1 Trồng trọt

2 Chăn nuôi

3 Lương

4 Nguồn khác (ghi rõ)………………..

Tổng thu nhập:…………………….

Kiến nghị, nghị mong muốn của gia đình:…………………….......................

………………………………………………………………………………..

Người phỏng vấn Người được phỏng vấn