
SCIENCE - TECHNOLOGY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 307
NGHIÊN CỨU VẢI COTTON KHÁNG KHUẨN DỰA TRÊN OXIT GRAPHENE (GO)
RESEARCH ON ANTIBACTERIAL COTTON FABRIC BASED ON GRAPHENE OXIDE Hoàng Văn Chính1, Đinh Thị Thuỳ Dung1, Nguyễn Hoàng Anh1, Nguyễn Hồng Ánh1, Ngô Thi Loan1, Nguyễn Tuấn Anh2,* TÓM TẮT Graphene oxit (GO) là một vật liệu nano có khả năng diệt vi khuẩn
và không
gây kích ứng da. Trong công trình này, bằng cách đưa các tấm GO lên trên vả
i
cotton, loại vải có đặc tính kháng khuẩn mạnh và độ bền giặt tẩy cao, đã đượ
c báo
cáo. Các loại vải bông kháng khuẩn dựa trên GO được điều chế theo cách hấp phụtrực tiếp đồng thời hiệp lực thêm than hoạt tính. Các thử nghiệm kháng khuẩ
n cho
thấy vải chứa GO này có đặc tính kháng khuẩn mạnh và có thể vô hiệ
u hóa vi
khuẩn. Đáng chú ý nhất, loại vải này vẫn có thể tiêu diệt vi khuẩn ngay cả
sau khi
được giặt. Vải bông kháng khuẩn dựa trên GO linh hoạt, có thể gập lại và có thể
tái
sử dụng này có triển vọng cao như một loại vật liệu kháng khuẩn được chế tạ
o
bằng công nghệ nano mới cho nhiều ứng dụng. Từ khóa: Graphene oxide (GO), than hoạt tính, vải cotton. ABSTRACT Graphene oxide (GO) is a nanomaterial that is bactericidal and non-
irritating
to the skin. In this work, by applying GO sheets on top of cotton fabric, the fabric
with strong antibacterial properties and high washing resistance, was reported.
GO-based anti
bacterial cotton fabrics were prepared by direct adsorption while
synergistically adding activated carbon. Antibacterial tests show that this GO-
containing fabric has strong antibacterial properties and can neutralize bacteria.
Most notably, this fabric ca
n still kill bacteria even after being washed. This
flexible, foldable and reusable GO-
based antibacterial cotton fabric holds high
promise as a novel nanotechnology-
fabricated antimicrobial material for a wide
range of applications.In this study, nanocomp
osite film materials were fabricated
based on graphene oxide (GO) and bacterial nanocellulose (BC). Keywords: Graphene oxide (GO), activated carbon, cotton fabric. 1Lớp Kỹ thuật Hóa học 01 - K16, Khoa Công nghệ Hóa, Trường Đại học Công nghiệ
p
Hà Nội 2Khoa Công nghệ Hoá, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội *Email: anhnt@haui.edu.vn 1. GIỚI THIỆU Vật liệu kháng khuẩn hiện đang được sử dụng rộng rãi để bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Nhiều loại vật liệu, bao gồm thuốc kháng sinh [1] ion kim loại [2] và hợp chất amoni bậc bốn [3] đã được biết là ngăn chặn sự bám dính và sinh sôi nảy nở của vi khuẩn trên bề mặt vật liệu. Tuy nhiên, những vật liệu này được biết là có liên quan đến mối lo ngại về kháng kháng sinh, ô nhiễm môi trường, quá trình xử lý tương đối phức tạp và chi phí cao [4]. Gần đây hơn, vật liệu nano kháng khuẩn đã được khám phá để đáp ứng những thách thức này [5-7] chẳng hạn như hạt nano bạc [8], hạt nano oxit titan [9] và ống nano carbon (CNTs) [10-12]. CNTs đã được thấy là gây độc tế bào cho cả vi khuẩn và tế bào người. Việc sử dụng vật liệu nano để kháng khuẩn là một xu hướng dựa trên những ưu điểm độc đáo của nó, nhưng rất ít ứng dụng thực tế hoặc thương mại của vật liệu kháng khuẩn làm từ vật liệu nano. Khavan đã chứng minh rằng cả GO và rGO (GO biến tính) đều có hiệu quả chống lại vi khuẩn gram âm và gram dương, và rGO thể hiện hoạt tính kháng khuẩn mạnh hơn GO [13]. Hơn nữa, họ đã chứng minh vi khuẩn có thể làm giảm GO do hoạt động trao đổi chất của vi khuẩn sống sót thông qua quá trình đường phân của chúng [14]. Tấm GO có thể ức chế sự phát triển của vi khuẩn trên bề mặt ngay cả trong môi trường rất thích hợp cho vi khuẩn sinh sôi nảy nở. Salas đã thấy rằng GO có thể hoạt động như một chất nhận điện tử cuối cùng đối với vi khuẩn môi trường, điều này mang lại triển vọng tích cực cho quá trình xử lý sinh học của nó [15]. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn thiếu ứng dụng thực tế hoặc thương mại của graphene và các dẫn xuất của nó [16-26]. Trong bài báo này, chúng tôi trình bày một phương pháp cơ bản được áp dụng để chế tạo vải cotton kháng khuẩn nhờ gắn một lớp GO bằng phương pháp hấp phụ trực tiếp có phối trộn thêm than hoạt tính. Điều thú vị là GO có thể được gắn vào vải rất dễ dàng và duy trì hoạt tính kháng khuẩn tốt. Quan trọng hơn, ngay cả sau khi giặt lặp lại một số lần, hoạt tính kháng khuẩn vẫn được duy trì. Cần lưu ý rằng độ bền giặt là một đặc điểm chính để đánh giá chất lượng của chất liệu quần áo. 2. THỰC NGHIỆM 2.1. Hoá chất Ethanol, NaOH, H2O2, CH3COOH, Than hoạt tính và acetone được mua từ Sigma Aldrich (Việt Nam). GO phân tán trong nước ở nồng độ 0,5mg.mL-1 (Sigma Aldrich Việt Nam). Vải cotton (Việt Nam). 2.2. Phương pháp nghiên cứu 2.2.1. Biến tính vải cotton Chuẩn bị 1 tấm vải cotton có kích thước 1,5m x1,5m, dùng kéo và thước 30cm cắt vải thành 4 mẫu có kích thước 20cm x 20cm.

CÔNG NGHỆ Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
308
KHOA H
ỌC
Nấu bằng xút NaOH thông thường và có bổ sung H2O2 tẩy trắng: NaOH: 8 ÷ 12 (g/L) (Với hàm lượng ≥ 3% khối lượng vải), H2O2: 3,7% khối lượng vải. Sau khi chuẩn bị hỗn hợp Vải/NaOH xong thì bổ sung thêm vào 500ml nước cất và 0,35ml H2O2. Đưa các mẫu vào trong cốc tương ứng và thực hiện quy trình nấu tẩy trên bếp điện ở nhiệt độ 95 - 100oC trong 1h. Xử lý sau nấu tẩy trắn: Giặt trung hòa bằng axit CH3COOH ở nhiệt độ 60oC trong vòng 10 phút. Giặt sạch, phơi khô bằng nhiệt độ ngoài trời. 2.2.2. Xử lý vải với GO và than hoạt tính Vải cotton/GO: Cân 3,330g GO, thêm vào cốc có chứa GO đã cân 100ml nước cất sau đó khuấy đều. Cho mẫu 3 vào cốc dung dịch vừa chuẩn bị, đun trên bếp điện trong 60 phút ở nhiệt độ 100oC. Cách 10 - 15 phút đảo vải 1 lần để dung dịch ngấm đều trên vải. Giặt trong nước nóng 80oC từ 5 - 7 phút,, sau đó giặt trong nước ấm 50oC khoảng 5 phút. Phơi khô bằng nhiệt độ ngoài trời. Vải cotton/Than hoạt tính: Cân 1,7g than hoạt tính, thêm vào cốc chứa than hoạt tính đã cân 100ml nước cất sau đó khuấy đều. Cho mẫu 4 vào cốc dung dịch vừa chuẩn bị, đun trên bếp điện trong 60 phút ở nhiệt độ 100oC. Cách 10 - 15 phút đảo vải 1 lần để dung dịch ngấm đều trên vải. Giặt trong nước nóng 80oC từ 5 - 7 phút, sau đó giặt trong nước ấm 50oC khoảng 5 phút. Phơi khô bằng nhiệt độ ngoài trời. Vải cotton/GO/Than hoạt tính: Cân 3,330g GO và 1,7g than hoạt tính, sau đó thêm vào 150ml nước cất và khuấy đều. Cho mẫu 5 vào cốc dung dịch trên, đun trên bếp điện 60 phút ở nhiệt độ 100oC. Giặt trong nước nóng 80oC từ 5 - 7 phút, sau đó giặt trong nước ấm 50oC trong khoảng 5 phút. Phơi khô bằng nhiệt độ ngoài trời. 2.2.3. Xử lý vải với Acetic axit Vải sau khi đã được xử lý với GO, AC và GO/ Than hoạt tính sẽ ngâm trong dung dịch CH3COOH loãng để giữ độ bền của GO và than hoạt tính trên vải tốt hơn. Pha 40ml CH3COOH 100% vào 1000ml nước ta được dung dịch CH3COOH 4%. Đem mẫu vải có chứa GO, than hoạt tính và GO/than hoạt tính ngâm trong dung dịch 6h sau đó giặt lại bằng nước. 2.3. Các phương pháp đánh giá Tiêu chuẩn thử nghiệm: theo tiêu chuẩn AATCC 147:2016 và tiêu chuẩn AATCC 147:1991 đã được phát triển bởi Hiệp hội các nhà hóa học và nhuộm màu Hoa Kỳ. Để giải thích một phương pháp thử nghiệm định tính được áp dụng để xác định hoạt động kháng khuẩn trong các sản phẩm dệt may. Tên đầy đủ của tiêu chuẩn này là: AATCC 147 - Đánh giá vật liệu dệt: phương pháp đường song song. Kết quả đo được thực hiện tại công ty cổ phần chứng nhận và giám định IQC, địa chỉ: Địa chỉ: Lô 6, BT 4, Khu đô thị mới Cầu Bươu, Thanh Trì, Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu cấu trúc hình thái vật liệu: Hình thái của các mẫu được tiến hành bằng kính hiển vi điện tử quét (S-4800 FE-SEM, Hitachi, Nhật Bản), Viện vệ sinh dịch tễ TW. Máy SEM (IMS-NKL) tại Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Máy SEM (SEI, 3.0kV), Viện Kỹ thuật Nhiệt đới, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR): được ghi lại bằng cách sử dụng FTS 2000 FTIR (Varian) sử dụng KBr Viên nén được tạo ra bằng cách nén bột KBr trộn với một lượng nhỏ mẫu. Mẫu vải được đo phổ hồng ngoại tại Khoa Hoá, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (19 Lê Thánh Tông, Hoàn Kiếm, TP Hà Nội). Phương pháp xác định độ bền kéo đứt và độ giãn đứt: Tiến hành thử trong điều kiện khí hậu quy định theo TCVN 1748:1991. Khoảng cách ban đầu giữa hai miệng kẹp của máy kéo đứt (độ dài làm việc của mẫu thử) bằng (100±1)mm. Sử dụng thang đo lực trên máy kéo đứt sao cho giá trị đo được nằm trong phạm vi từ 25% đến 75% giá trị lớn nhất của thang đo. Kết quả đo thực hiện tại Phòng xác định tính chất cơ lý tại Công ty Nhựa Đại Việt, Khu Công nghiệp Châu Sơn, Phủ Lý, Hà Nam. 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1. Hình thái cấu trúc của vật liệu Hình 1. Ảnh SEM của vải cotton sau khi được xử lý bằng NaOH và H2O2 Các mẫu vải sau khi chế tạo, được đánh giá về hình thái cấu trúc bằng phương pháp SEM. Kết quả hình thái cấu trúc của các vật liệu được trình bày như hình 1, 2. Từ ảnh SEM (hình 2), có thể thấy rằng việc tải GO lên vải cotton không làm thay đổi cấu trúc dệt. Nói cách khác, GO có thể được tải trên các sợi đơn và không kết nối giữa các sợi. Điều này có nghĩa là các lỗ do cấu trúc dệt tạo thành không bị GO chặn lại và đặc tính thoáng khí được giữ nguyên, điều này rất quan trọng đối với sự thoải mái khi mặc quần áo. Từ các ảnh SEM

SCIENCE - TECHNOLOGY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 309
dải cao (hình 2), có thể nhận thấy có các nếp nhăn mất trật tự tự nhiên trên sợi bông nguyên sơ, trong khi có các hình thái dạng sóng có trật tự trên sợi vải bông cải tiến GO. Hình 2. Ảnh SEM của vải cotton/GO Hình 3 cho thấy được kết quả đo hình thái cấu trúc của vải sau khi được xử lý bằng GO/ Than hoạt tính như trên. Hình 3A là ảnh chụp SEM ở độ phóng đại 500, ở độ phóng đại này ta có thể thấy GO/ Than hoạt tính liên kết với vải khá tốt. Ảnh chụp ở độ phóng đại 100k - hình 3B đã xuất hiện những mảng vụn bám trên sợi cotton. Hình 3. Ảnh SEM của vải cotton có GO và than hoạt tính Những mảng vụn này được thấy rõ hơn ở độ phóng đại 200K qua hình 3C và 3D. Ở hình 3C ta thấy được rõ các mảng vụn xếp chồng lên nhau, có những mảng vụn lớn (được khoang tròn màu đỏ) có kích thước lên đến khoảng ≈ 40nm. Một số mảng vụn có hiện tượng bong tróc được thể hiện rất rõ trên hình 3D trong vòng tròn vàng, tuy nhiên không nhiều. Hiện tượng xuất hiện các mảng vụn bám trên sợi cotton có thể giải thích là do độ mịn của than hoạt tính chưa cao dẫn tới tình trạng trên bề mặt sợi cotton vẫn còn những mảng vụn sau khi xử lý vải. Than hoạt tính có độ mịn chưa cao khi đưa lên vải thường xuất hiện hiện tượng bong tróc như vậy. 3.2. Đặc trưng phổ hồng ngoại của vật liệu Hình 4. Phổ hồng ngoại (IR) của vải cotton Hình 5. Phổ hồng ngoại (IR) của vải cotton/GO
Comment:
File name: D:\IR 2023\DH Cong nghe\Hoang Chinh\Mau 4- vai thuong1.ispd
No of Scans: 20
Intensity Mode: %Transmittance
Min: 400 cm-1 Max: 4000 cm -1
Resolution: 4 [cm-1]
Atmosphere Correction: OFF
6008001000120014001600180020002400280032003600
cm-1
30
40
50
60
70
80
90
100
%T
3 2 9 6 . 4 9
3 0 8 0 . 4 5
2927.10 2 8 5 8 . 6 3
1 7 4 7 . 5 8
1 6 3 4 . 7 4
1 5 3 8 . 3 0
1 4 6 0 . 1 8 1 4 1 7 . 7 4
1 3 7 3 . 3 8
1 2 6 0 . 5 4
1 1 9 8 . 8 1
1 1 6 9 . 8 8 1 1 1 9 . 7 3
1 0 3 2 . 9 3
958.66
9 2 8 . 7 6
8 3 3 . 2 8
7 2 6 . 2 3
6 8 2 . 8 3
5 7 5 . 7 8 5 2 0 . 8 0
4 2 7 . 2 5
Mau 4- vai thuon
g
Mau 4- vai thuon
g
4/20/2023 10:36:51 AM
Instrument: FTIR Affinity - 1S
Department of Inorganic Chemistry, HUS-VNU
Comment:
File name: D:\IR 2023\DH Cong nghe\Hoang Chinh\Mau 3- GO1.ispd
No of Scans: 20
Intensity Mode: %Transmittance
Min: 400 cm-1 Max: 4000 cm -1
Resolution: 4 [cm-1]
Atmosphere Correction: OFF
6008001000120014001600180020002400280032003600
cm-1
30
40
50
60
70
80
90
100
%T
3 3 3 2 . 1 7
3 2 8 9 . 7 4
2 9 0 1 . 0 6
1 6 5 2 . 1 0
1 5 5 8 . 5 5
1 4 5 7 . 2 8
1 4 2 3 . 5 3
1 3 6 2 . 7 7
1 3 3 7 . 6 9
1 3 1 5 . 5 1
1 2 0 4 . 6 0
1 1 5 9 . 2 7
1 1 0 7 . 1 9
1 0 5 3 . 1 8
1 0 3 0 . 0 3
1 0 0 1 . 1 0
9 8 4 . 7 0 8 9 8 . 8 7
7 0 1 . 1 5
6 6 6 . 4 3
6 0 7 . 6 0
5 5 4 . 5 6
4 2 5 . 3 2
Mau 3- GO
Mau 3- GO
4/20/2023 10:32:18 AM
Instrument: FTIR Affinity - 1S
Department of Inorganic Chemistry, HUS-VNU

CÔNG NGHỆ Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
310
KHOA H
ỌC
Để đánh giá đặc trưng hoá học của vật liệu GO/Cotton, Cotton, các mẫu được đem đi đo phổ hồng ngoại IR. Kết quả phổ hồng ngoại được trình bày ở hình 4 và 5. Loại liên kết chứa oxy trong GO tổng hợp được xác định bằng FTIR (hình 4, 5). Đối với GO, một đỉnh C=O mạnh trong gốc axit cacboxylic và cacbonyl xuất hiện vào khoảng 1652cm-1, đỉnh C-OH tại 1337cm-1, đỉnh C-O-C tại 1204cm-1, C-O kéo dài cực đại ở 1053cm-1. Từ kết quả phổ hồng ngoại của các mãu vải, cho thấy GO đã được gắn lên bề mặt sợi vải cotton được chứng minh qua việc phát hiện các pic giao động của các nhóm liên kết hoá học đặc trưng. 3.3. Tính kháng khuẩn của vải Đặc tính kháng khuẩn của mẫu vải được đánh giá bằng tiêu chuẩn với tên đầy đủ của tiêu chuẩn này là: AATCC 147 - Đánh giá vật liệu dệt: phương pháp đường song song. Trên hình 6 là kết quả đo kháng khuẩn của mẫu vải đã qua tẩy trắng và loại bỏ tạp chất. Kết quả trên hình 6 cho thấy vải hoàn toàn không có khả năng kháng khuẩn, các vệt vi khuẩn được ria lên đĩa petri trước đó vẫn phát triển bình thường, không hề có sự xuất hiện của vùng ức chế. Có thể thấy rất rõ được sự tăng trưởng của khuẩn lạc vi sinh vật dưới vùng tiếp xúc. Theo tiêu chuẩn, vật liệu được xem là không có khả năng kháng khuẩn vì có khuẩn lạc tăng trưởng dưới vùng tiếp xúc của mẫu thử nghiệm. Hình 6. Kết quả đo độ kháng khuẩn qua quá trình nấu tẩy Hình 6. Kết quả đo kháng khuẩn trên mẫu vải có GO Hình 6 là kết quả đo kháng khuẩn của mẫu vải được xử lý qua GO. Qua quan sát thấy được, trên mẫu xuất hiện những vùng màu sắc loang lổ khác nhau. Ta thấy được vải có xuất hiện vùng ức chế khuẩn lạc vi sinh. Tuy nhiên vẫn còn những vùng khuẩn lạc vi sinh tăng trưởng và phát triển được. Điều này cho thấy độ che phủ cũng như phân tán của GO trên vải chưa hoàn toàn tốt. Trong quá trình thực hiện vải chưa được đảo đều khiến cho vùng tiếp xúc với GO bị hạn chế dẫn đến hiện tượng mẫu loang lổ như trên hình. Theo tiêu chuẩn, vật liệu được xem là có khả năng kháng khuẩn vì có vùng khuẩn lạc không thể tăng trưởng dưới vùng tiếp xúc của mẫu thử nghiệm. Hình 7 là kết quả đo kháng khuẩn của mẫu vải đã được qua xử lý bằng GO và than hoạt tính. Hình ảnh thể hiện rõ phần khuẩn lạc vi sinh ở vùng có mẫu vải gần như hoàn toàn không sự tăng trưởng và phát triển. Điều đó cho thấy khả năng kháng khuẩn của mẫu vải được xử lý bằng GO và than hoạt tính tốt hơn rất nhiều lần so với mẫu vải chỉ xử lý qua GO. Theo tiêu chuẩn, vật liệu được xem là có khả năng kháng khuẩn vì không có khuẩn lạc tăng trưởng dưới vùng tiếp xúc của mẫu thử nghiệm. Hình 7. Kết quả đo kháng khuẩn trên mẫu vải có GO và than hoạt tính 3.5. Độ bền kéo đứt của các vật liệu Độ bền kéo và độ bền giãn đứt của các mẫu vải được đo trên máy đo độ bền kéo vạn năng theo theo TCVN 1748:1991. Kết quả độ bền kéo và độ bền giãn đứt được trình bày ở hình 8 và 9. Hình 8. Biểu đồ biểu diễn độ bền kéo đứt Pđ (cN) Kiểm tra độ bền kéo đứt được kết quả biểu diễn như trên biểu đồ. Nhìn vào hình 8 ta thấy được độ bền kéo đứt của mẫu vải có GO là cao nhất 269,55cN và mẫu vải có than hoạt tính là thấp nhất 251,29cN. Vải có GO có độ bền kéo đứt lớn hơn vải chưa có GO/ than hoạt tính 12,18cN, hơn vải có than hoạt tính 18,26cN và lớn hơn vải GO/than hoạt tính 7,36cN. GO có tính chất cơ học khá tốt chính vì thế sự có mặt của GO làm độ bền kéo đứt của vải tăng lên đáng kể. Bên cạnh đó, sự có mặt của than hoạt tính làm giảm độ bền của vải là do than hoạt tính có cấu trúc lỗ rỗng, vì thế sẽ làm cho vải dễ bị

SCIENCE - TECHNOLOGY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 311
kéo đứt. Đối với mẫu vải có GO và than hoạt tính độ bền kéo đứt có tăng lên so với mẫu vải chưa có GO và than hoạt tính. Tuy nhiên, có giảm so với vải có GO vì có thêm than hoạt tính. Sự có mặt của than hoạt tính và GO làm tăng độ kéo đứt của vải cotton. Từ kết quả hình 9, cho thấy độ bền giãn đứt tuyệt đối là phần chiều dài của mẫu thử tăng theo ở thời điểm đứt, tính bằng milimet. Độ giãn đứt tương đối là tỷ số của độ giãn đứt tuyệt đối so với độ dài làm việc của mẫu thử, tính bằng phần trăm. Quan sát biểu đồ trên ta thấy được độ bền giãn đứt 7,13 của vải có GO là cao nhất và mẫu có độ bền giãn đứt kém nhất là vải có than hoạt tính 6,35. Độ bề giãn đứt của vải chưa có GO, than hoạt tính và vải có GO/ than hoạt tính lần lượt là 6,45 và 6,69. Độ bền của vải có GO/ than hoạt tính có tăng 0,24 so với vải chưa có GO, than hoạt tính, tăng 0,1 so với vải có than hoạt tính và giảm 0,44 so với vải có GO. Vải có GO có độ bền giãn đứt tốt nhất do GO có tính chất cơ học rất tốt, vì vậy khi vải có thêm GO thì độ bền giãn đứt tăng thêm đáng kể. Bên cạnh cấu trúc lỗ rỗng của than hoạt tính chính là nguyên nhân dẫn đến sự kém bền giãn đứt của vải có than hoạt tính. Đối với mẫu vải có GO/than hoạt tính độ bền giãn đứt có tăng lên so với mẫu vải chưa có GO và than hoạt tính. Tuy nhiên, có giảm so với vải có GO vì có thêm than hoạt tính. Có thể nói sự có mặt của than hoạt tính và GO làm tăng độ giãn đứt của vải cotton. Hình 9. Biểu đồ biểu diễn độ bền giãn đứt E% 4. KẾT LUẬN Qua kết quả ảnh SEM về hình thái cấu trúc của vật liệu kết hợp với đặc trưng tính chất phổ hồng ngoại (IR) thì có thể bước đầu kết luận GO đã được đưa lên các sợi vải cotton. Kết quả cho thấy GO trong dung dịch huyền phù có thể kết hợp chắc chắn với vải bông bằng cách hấp phụ vật lý. Vải cotton được nấu tẩy bởi các hoá chất cơ bản như NaOH, H2O2. Sau đó kết hợp với GO và có mặt thêm than hoạt tính, vải chế tạo có đặc tính kháng khuẩn với chủng E.coli Vải cotton dựa trên GO linh hoạt, có thể gập lại và có thể tái chế có thể được sử dụng cho các ứng dụng y tế và thực phẩm, điều này cho thấy tiềm năng lớn để giảm việc sử dụng các loại kháng sinh khác. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. M. Aviv, I. Berdicevsky, M. Zilberman, J. Biomed. Mater. Res. Part A 2007, 83, 10. [2]. M. Ramstedt, N. Cheng, O. Azzaroni, D. Mossialos, H. J. Mathieu, W. T. S. Huck, 2007. Langmuir, 23, 3314. [3].B. C. Allison, B. M. Applegate, J. P. Youngblood, 2007. Biomacromolecules, 8, 2995. [4]. P. S. Stewart, J. William Costerton, 2001. The Lancet, 358, 135. [5]. X. Chen, U. C. Tam, J. L. Czlapinski, G. S. Lee, D. Rabuka, A. Zettl, C. R. Bertozzi, 2006. J. Am. Chem. Soc. 128, 6292. [6]. A. Magrez, S. Kasas, V. Salicio, N. Pasquier, J. W. Seo, M. Celio, S. Catsicas, B. Schwaller, L. Forró, 2006. Nano Lett, 6, 1121. [7]. C. W. Lam, J. T. James, R. McCluskey, R. L. Hunter, 2004. Toxicol. Sci, 77, 126. [8]. A. Kumar, P. K. Vemula, P. M. Ajayan, G. John, 2008. Nat. Mater, 7, 236. [9]. C. Wei, W. Y. Lin, Z. Zainal, N. E. Williams, K. Zhu, A. P. Kruzic, R. L. Smith, K. Rajeshwar, 1994. Environ. Sci. Technol, 28, 934. [10]. M. L. Schipper, N. Nakayama-Ratchford, C. R. Davis, N. W. S. Kam, P. Chu, Z. Liu, X. Sun, H. Dai, S. S. Gambhir, 2008. Nat. Nanotechnol, 3, 216. [11]. D. B. Warheit, B. Laurence, K. L. Reed, D. Roach, G. Reynolds, T. Webb, 2004, Toxicol Sci, 77, 117. [12]. A. K. Geim, 2009. Science, 324, 1530. [13]. O. Akhavan, E. Ghaderi, 2010. ACS nano, 4, 5731 . [15]. O. Akhavan, E. Ghaderi, 2012. Carbon, 50, 1853. [16]. Everett C. Salas, Zhengzong Sun, Andreas Luttge, J. M. Tour, 2010. ACS nano, 4, 4852. [17]. S. He, B. Song, D. Li, C. Zhu, W. Qi, Y. Wen, L. Wang, S. Song, H. Fang, C. Fan, 2010. Adv. Funct. Mater, 20, 453. [18]. X. Dong, Y. Shi, W. Huang, P. Chen, L. J. Li, 2010. Adv. Mater, 22, 1649. [19]. H. Jang, Y.K. Kim, H.M. Kwon,W.S. Yeo, D.E. Kim, D.H. Min, 2010. Angew. Chem. Int. Edit. 122, 5839. [20]. J. H. Jung, D. S. Cheon, F. Liu, K. B. Lee, T. S. Seo, 2010. Angew. Chem. Int. Edit, 49, 5708. [21]. F. Liu, J. Y. Choi, T. S. Seo, 2010. Biosens. Bioelectron, 25, 2361. [22]. C. H. Lu, C. L. Zhu, J. Li, J. J. Liu, X. Chen, H. H. 2010. Yang, Chem. Commun. 46, 3116. [23]. L. A. L. Tang, J. Wang, K. P. Loh, 2010. J. Am. Chem. Soc, 132, 10976. [24]. Y. Wang, Z. Li, D. Hu, C. T. Lin, J. Li, Y. Lin, 2010. J. Am. Chem. Soc, 132, 9274. [25]. J. Yang, C. Zang, L. Sun, N. Zhao, X. Cheng, 2011. Mater. Chem. Phys, 129, 270. [26]. F. Li, Y. Huang, Q. Yang, Z. Zhong, D. Li, L. Wang, S. Song, C. Fan, 2010. Nanoscale, 2, 1021.

